Thứ Tư, 13 tháng 12, 2023

Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc

 Nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và Phu nhân, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Võ Văn Thưởng và Phu nhân, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình và Phu nhân đã thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam từ ngày 12 đến ngày 13 tháng 12 năm 2023.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình chụp ảnh chung. Ảnh: Trí Dũng/TTXVN.

Nhân chuyến thăm, hai bên đã ra Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc về việc tiếp tục làm sâu sắc và nâng tầm hơn nữa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược.

Toàn văn Tuyên bố chung như sau:

1. Nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Võ Văn Thưởng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình đã thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam từ ngày 12 đến ngày 13 tháng 12 năm 2023.

Trong thời gian chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình đã có các cuộc hội đàm với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, các cuộc hội kiến với Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ.|

Hai bên cho rằng, Việt Nam và Trung Quốc là láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt, đều là nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo, chế độ chính trị tương đồng, lý tưởng niềm tin tương thông, con đường phát triển gần gũi, cùng chung chí hướng, chia sẻ tương lai chung, đều nỗ lực vì nhân dân hạnh phúc và đất nước giàu mạnh, nỗ lực vì sự nghiệp cao cả hòa bình và tiến bộ của nhân loại.

Nhằm kế thừa và phát huy truyền thống hữu nghị “mối tình thắm thiết Việt - Hoa, vừa là đồng chí, vừa là anh em”, tiếp tục làm sâu sắc và nâng tầm hơn nữa quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc, hai bên nhất trí xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược, nỗ lực vì hạnh phúc của nhân dân hai nước, vì sự nghiệp hòa bình và tiến bộ của nhân loại.

Phía Việt Nam ủng hộ việc xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai nhân loại, Sáng kiến Phát triển toàn cầu, Sáng kiến An ninh toàn cầu và Sáng kiến Văn minh toàn cầu. Các sáng kiến nêu trên có mục tiêu đề ra là nhằm bảo vệ lợi ích chung của toàn nhân loại, vì sự nghiệp hòa bình, chính nghĩa và tiến bộ của nhân dân thế giới, đáp ứng mong muốn xây dựng thế giới tốt đẹp của nhân dân các nước.

Hai bên nhất trí cho rằng, phát triển quan hệ giữa các nước cần tuân theo Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế và chuẩn mực cơ bản của quan hệ quốc tế, kiên trì tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng, cùng có lợi, hợp tác cùng thắng, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, kiên trì giải quyết bất đồng thông qua biện pháp hòa bình.

Theo các định hướng trên, hai bên đồng ý thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Trung Quốc bước vào giai đoạn mới với tin cậy chính trị cao hơn, hợp tác quốc phòng - an ninh thực chất hơn, hợp tác thực chất sâu sắc hơn, nền tảng xã hội vững chắc hơn, phối hợp đa phương chặt chẽ hơn, bất đồng được kiểm soát và giải quyết tốt hơn, chung tay thúc đẩy sự nghiệp xã hội chủ nghĩa thế giới phát triển, đóng góp tích cực cho sự nghiệp hòa bình và tiến bộ của nhân loại.

2. Trong bầu không khí hữu nghị, thẳng thắn, hai bên thông báo cho nhau tình hình của mỗi Đảng, mỗi nước, cũng như lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội; vui mừng trước những thành tựu to lớn, mang tính lịch sử mà mỗi Đảng, mỗi nước đã đạt được trong sự nghiệp phát triển đất nước, thực hiện hiện đại hóa và xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với tình hình đất nước mình; cho rằng điều này thể hiện đầy đủ sức sống và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc.

Phía Việt Nam nhiệt liệt chúc mừng và đánh giá cao những thành tựu to lớn mà Đảng, Chính phủ và Nhân dân Trung Quốc đạt được trong 10 năm thời đại mới và những thành quả quan trọng đã đạt được trong việc quán triệt thực hiện tinh thần Đại hội XX Đảng Cộng sản Trung Quốc. Phía Việt Nam chúc và tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo kiên cường của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc với đồng chí Tập Cận Bình là hạt nhân, dưới sự định hướng của tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc thời đại mới, Đảng, Chính phủ và Nhân dân Trung Quốc nhất định sẽ tiếp tục làm phong phú và mở mang con đường hiện đại hóa kiểu Trung Quốc, không ngừng hoàn thiện nền dân chủ nhân dân toàn quá trình, thúc đẩy mạnh mẽ công trình vĩ đại mới về xây dựng Đảng, hoàn thành đúng thời hạn các mục tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội XX Đảng Cộng sản Trung Quốc đề ra, thực hiện thắng lợi mục tiêu phấn đấu 100 năm thứ hai, xây dựng Trung Quốc thành cường quốc hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, dân chủ, văn minh, hài hòa và tươi đẹp.

Phía Trung Quốc ủng hộ và đánh giá cao những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong gần 40 năm đổi mới, 10 năm thực hiện “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung sửa đổi năm 2011)”, đặc biệt là những thành quả quan trọng, toàn diện kể từ sau Đại hội XIII Đảng Cộng sản Việt Nam đến nay, thúc đẩy sức mạnh tổng hợp và ảnh hưởng quốc tế của Việt Nam đạt tới tầm cao chưa từng có. Phía Trung Quốc chúc và tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam nhất định sẽ thực hiện thắng lợi các mục tiêu và nhiệm vụ lớn mà Đại hội XIII Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra, xây dựng Việt Nam thành nước phát triển có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 2045. Phía Trung Quốc khẳng định ủng hộ Việt Nam phát triển phồn vinh, nhân dân hạnh phúc, xây dựng nền kinh tế lớn mạnh, độc lập, tự chủ, thúc đẩy đồng bộ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế toàn diện, phát triển quan hệ đối ngoại rộng mở, hữu nghị, phát huy vai trò ngày càng quan trọng hơn cho hòa bình, ổn định, phát triển và phồn vinh của khu vực và thế giới.

3. Hai bên đã nhìn lại quá trình phát triển quan hệ hai Đảng, hai nước Việt Nam - Trung Quốc; trân trọng sự giúp đỡ quý báu và vô tư mà hai Đảng, hai nước và Nhân dân hai nước dành cho nhau trong các thời kỳ; nhất trí cho rằng tình hữu nghị truyền thống “vừa là đồng chí, vừa là anh em” do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Mao Trạch Đông cùng các nhà lãnh đạo tiền bối đích thân gây dựng và dày công vun đắp là tài sản quý báu của nhân dân hai nước, cần phải kế thừa tốt, bảo vệ tốt, phát huy tốt. Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam luôn đánh giá cao và trân trọng sự ủng hộ mạnh mẽ và giúp đỡ to lớn của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Trung Quốc trong sự nghiệp giành độc lập dân tộc và giải phóng đất nước, cũng như trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và phát triển đất nước.

Vào thời điểm chuyển giao thế kỷ, hai nước Việt Nam và Trung Quốc đã xác lập phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. 15 năm kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện vào năm 2008 đến nay, hợp tác trên các lĩnh vực đã đạt được tiến triển tích cực, toàn diện. Bước vào thời đại mới, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc không ngừng mở rộng và đi vào chiều sâu, đặc biệt là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình sau khi bế mạc Đại hội XX Đảng Cộng sản Trung Quốc đã mời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiến hành chuyến thăm mang tính lịch sử tới Trung Quốc, thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Trung Quốc lên tầm cao mới.

Hướng tới tương lai, phía Trung Quốc nhấn mạnh kiên trì chính sách hữu nghị với Việt Nam, coi Việt Nam là hướng ưu tiên trong ngoại giao láng giềng.

Phía Việt Nam khẳng định luôn coi quan hệ Việt Nam - Trung Quốc là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam. Đây là lựa chọn chiến lược của hai bên.

Hai bên nhấn mạnh, kiên định ủng hộ hai Đảng, hai nước và Nhân dân hai nước kiên trì tự chủ chiến lược, tự chủ lựa chọn con đường phát triển phù hợp với tình hình đất nước mình; kiên trì xử lý thỏa đáng và tích cực giải quyết bất đồng thông qua biện pháp hòa bình trên cơ sở hiểu biết lẫn nhau, tôn trọng lẫn nhau, phù hợp với luật pháp quốc tế, duy trì đà phát triển tốt đẹp của quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, đóng góp tích cực hơn nữa cho hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực và thế giới.

Trên cơ sở những nhận thức chung nêu trên, trong bối cảnh tình hình thế giới trải qua những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường và chưa từng có tiền lệ, hai bên đồng ý kiên trì định hướng chính trị của Lãnh đạo cao nhất hai Đảng, hai nước, nhìn nhận và phát triển quan hệ Việt Nam - Trung Quốc từ tầm cao chiến lược và tầm nhìn lâu dài, tuân theo phương châm “16 chữ” và tinh thần “4 tốt”, lấy dịp 15 năm thiết lập quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện làm thời cơ, xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược, nỗ lực vì hạnh phúc của nhân dân hai nước, vì sự nghiệp hòa bình và tiến bộ của nhân loại.

4. Để tiếp tục làm sâu sắc và nâng tầm quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, thúc đẩy vững chắc việc xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc, hai bên nhất trí phát huy tốt vai trò điều phối tổng thể của Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam - Trung Quốc, tích cực thúc đẩy hợp tác trong thời gian tới, tập trung vào 6 phương hướng hợp tác lớn dưới đây, xác định mục tiêu, hoàn thiện cơ chế, đưa ra biện pháp, đôn đốc thực hiện:

4.1. Tin cậy chính trị cao hơn

Để tập trung nắm bắt phương hướng phát triển của quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, hai bên nhất trí tăng cường trao đổi chiến lược, kiên trì đối xử bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, củng cố hơn nữa tin cậy chính trị.

(1) Hai bên nhất trí tiếp tục tăng cường hơn nữa giao lưu mật thiết giữa Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước thông qua các hình thức như thăm song phương, cử đặc phái viên, đường dây nóng, trao đổi thư điện, gặp gỡ thường niên và tiếp xúc tại các diễn đàn đa phương, kịp thời trao đổi chiến lược về các vấn đề quan trọng trong quan hệ song phương và tình hình khu vực, quốc tế mà hai bên cùng quan tâm, định hướng và chỉ đạo chiến lược đối với sự phát triển ổn định, lành mạnh của quan hệ hai Đảng, hai nước trong thời kỳ mới.

(2) Hai bên nhất trí phát huy đầy đủ vai trò đặc biệt của kênh Đảng, tăng cường hơn nữa sự chỉ đạo, điều phối của cơ chế Gặp gỡ cấp cao hai Đảng và vai trò thúc đẩy, điều phối của các cơ quan đối ngoại của hai Đảng; nâng cao hiệu quả giao lưu, hợp tác giữa các cơ quan tương ứng của hai Đảng ở Trung ương, các tổ chức đảng địa phương hai nước, đặc biệt là các tỉnh (khu) giáp biên; thông qua cơ chế Hội thảo lý luận giữa hai Đảng, kế hoạch hợp tác đào tạo cán bộ, trao đổi đoàn kênh Đảng, tăng cường giao lưu, tham khảo lẫn nhau về xây dựng Đảng và quản lý đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội và trong các lĩnh vực như tổ chức, tuyên giáo/tuyên truyền, kiểm tra kỷ luật, phòng chống tham nhũng, cải cách tư pháp, dân vận/mặt trận thống nhất, kinh tế - xã hội. Tăng cường hơn nữa giao lưu, hợp tác hữu nghị giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Trung Quốc, Quốc hội Việt Nam và Nhân đại toàn quốc Trung Quốc, Mặt trận tổ quốc Việt Nam và Chính hiệp toàn quốc Trung Quốc.

(3) Hai bên nhất trí triển khai tốt Thỏa thuận về làm sâu sắc hơn nữa hợp tác trong thời kỳ mới giữa Bộ Ngoại giao hai nước; duy trì tiếp xúc thường xuyên giữa lãnh đạo hai Bộ Ngoại giao; tiếp tục tổ chức tốt tham vấn ngoại giao thường niên, tăng cường giao lưu cấp Vụ (Cục) tương ứng, thực hiện tốt kế hoạch đào tạo cán bộ, ủng hộ và tạo thuận lợi cho việc cải thiện điều kiện trụ sở và nhà ở của cơ quan đại diện ngoại giao hai nước.

(4) Phía Việt Nam tái khẳng định kiên định thực hiện chính sách “một Trung Quốc”, công nhận Đài Loan là một phần không thể tách rời của lãnh thổ Trung Quốc, kiên quyết phản đối hành động chia rẽ “Đài Loan độc lập” dưới mọi hình thức, ủng hộ nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước, không phát triển bất cứ quan hệ cấp Nhà nước nào với Đài Loan. Phía Việt Nam cho rằng các vấn đề Hồng Kông, Tân Cương, Tây Tạng là công việc nội bộ của Trung Quốc, tin tưởng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ Trung Quốc, các khu vực trên sẽ duy trì ổn định và phát triển thịnh vượng. Phía Trung Quốc bày tỏ đánh giá cao điều này. Phía Trung Quốc ủng hộ các nỗ lực của phía Việt Nam trong việc duy trì ổn định xã hội, đảm bảo an ninh quốc gia và thúc đẩy đoàn kết dân tộc."

4.2. Hợp tác quốc phòng - an ninh thực chất hơn

Hợp tác quốc phòng - an ninh là một trong những trụ cột của quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, có vai trò quan trọng trong việc củng cố tin cậy chiến lược giữa hai Đảng, hai nước. Để bảo vệ an ninh của nước mình, góp phần duy trì hòa bình, an ninh, ổn định của khu vực và thế giới, hai bên nhất trí tăng cường các cơ chế hợp tác về quốc phòng, công an, an ninh, tòa án tối cao, viện kiểm sát tối cao, nghiên cứu xây dựng cơ chế giao lưu giữa các cơ quan tư pháp tương ứng của hai nước, thúc đẩy các hợp tác trọng điểm sau:

(1) Hai bên nhất trí tăng cường hơn nữa giao lưu cấp cao giữa quân đội hai nước; phát huy tốt vai trò của các kênh như Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới, Đối thoại chiến lược quốc phòng và Đường dây nóng giữa hai Bộ Quốc phòng; triển khai hiệu quả “Tuyên bố Tầm nhìn chung về hợp tác quốc phòng đến năm 2025” giữa Bộ Quốc phòng hai nước. Tăng cường giao lưu, hợp tác giữa quân đội hai nước trong các lĩnh vực như công tác chính trị, đào tạo cán bộ, nghiên cứu chung; tăng cường hơn nữa hợp tác về công nghiệp quốc phòng, diễn tập và huấn luyện chung, y tế hậu cần, gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc và lĩnh vực an ninh phi truyền thống. Tiếp tục đi sâu hợp tác biên phòng, thúc đẩy triển khai tuần tra chung biên giới trên đất liền, khuyến khích các đồn trạm biên phòng của hai nước thiết lập quan hệ hữu nghị, tăng cường phối hợp về quản lý và bảo vệ biên giới. Tiếp tục triển khai tốt tuần tra chung trên Vịnh Bắc Bộ và hoạt động tàu quân sự thăm nhau; làm sâu sắc cơ chế giao lưu, hợp tác giữa hải quân và cảnh sát biển hai nước.

(2) Hai bên nhất trí tăng cường trao đổi cấp cao giữa các cơ quan thực thi pháp luật hai nước; phát huy tốt vai trò của các cơ chế Hội nghị cấp Bộ trưởng về phòng chống tội phạm, Đối thoại an ninh chiến lược; thiết lập cơ chế Đối thoại cấp Thứ trưởng về An ninh chính trị và Đường dây nóng giữa Bộ Công an hai nước. Tăng cường hợp tác giữa Bộ Công an của Việt Nam và cơ quan an ninh, thực thi pháp luật của Trung Quốc trong các lĩnh vực an ninh, tình báo, đặc biệt là đi sâu hợp tác về bảo vệ an ninh chính quyền và an ninh chế độ; tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực an ninh truyền thống và phi truyền thống như phòng chống khủng bố, phòng chống tội phạm lừa đảo qua mạng, an ninh mạng, quản lý xuất nhập cảnh, di dân, vượt biên trái phép, truy bắt tội phạm bỏ trốn ra nước ngoài. Đi sâu hợp tác, trao đổi kinh nghiệm trong các lĩnh vực an ninh kinh tế, an ninh lương thực, năng lượng, nguồn nước, cải cách mở cửa. Tăng cường giao lưu tình báo giữa hai bên và phối hợp chia sẻ kinh nghiệm, hợp tác trong các vấn đề chống can thiệp, chống ly khai, phòng chống “diễn biến hòa bình”, “cách mạng màu” của các thế lực thù địch, phản động. Tăng cường hợp tác trong việc phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật về tôn giáo, quản lý các tổ chức phi chính phủ nước ngoài; thúc đẩy hợp tác đào tạo cán bộ. Tăng cường hợp tác bảo vệ an toàn của các cơ quan, doanh nghiệp và công dân của nước này ở nước kia.

(3) Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp, tạo cơ sở pháp lý cho hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Trung Quốc trên các lĩnh vực; tích cực thực hiện nghĩa vụ của các điều ước quốc tế mà hai bên là thành viên. Triển khai có hiệu quả “Hiệp định giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự và hình sự”, “Hiệp định dẫn độ giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”; thúc đẩy “Hiệp định giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về chuyển giao người bị kết án tù” đi vào thực hiện có hiệu quả; thúc đẩy Bản ghi nhớ hợp tác giữa Bộ Tư pháp hai nước đạt kết quả thực chất, cùng nhau hoàn thiện cơ chế tương trợ về tư pháp giữa hai bên; nghiên cứu việc thiết lập các phương thức giải quyết tranh chấp dân sự và thương mại biên giới; thúc đẩy hợp tác pháp luật và tư pháp địa phương có chung đường biên giới với các hình thức phù hợp.

4.3. Hợp tác thực chất sâu sắc hơn

Nhằm kiên trì hợp tác cùng thắng, phục vụ sự phát triển của hai nước, thúc đẩy kinh tế khu vực và thế giới phục hồi, tăng trưởng bền vững, hai bên sẽ tăng cường các cơ chế hợp tác tương ứng trong các lĩnh vực cơ sở hạ tầng, đầu tư ngành nghề, thương mại, nông nghiệp, tài chính tiền tệ; nghiên cứu xây dựng cơ chế hợp tác giữa các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước, cơ quan giao thông vận tải, thúc đẩy các hợp tác trọng điểm sau:

(1) Cùng xây dựng “Hai hành lang, một vành đai” và “Vành đai và Con đường”

Hai bên nhất trí thúc đẩy kết nối chiến lược phát triển giữa hai nước, thực hiện tốt “Kế hoạch hợp tác kết nối giữa khuôn khổ Hai hành lang, một vành đai với Sáng kiến Vành đai và Con đường giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”.

Thúc đẩy kết nối đường sắt khổ tiêu chuẩn qua biên giới Việt Nam - Trung Quốc, nghiên cứu thúc đẩy xây dựng đường sắt khổ tiêu chuẩn Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, nghiên cứu về các tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn Đồng Đăng - Hà Nội, Móng Cái - Hạ Long - Hải Phòng vào thời điểm phù hợp.

Đẩy nhanh việc thúc đẩy kết nối xây dựng cơ sở hạ tầng biên giới, trong đó có xây dựng Cầu đường bộ qua sông Hồng thuộc khu vực biên giới Bát Xát (Việt Nam) - Bá Sái (Trung Quốc). Khuyến khích doanh nghiệp hai nước triển khai hợp tác trong các lĩnh vực kết cấu hạ tầng đường bộ, cầu, đường sắt, điện sạch, viễn thông, logistics; tiếp tục phối hợp mật thiết, thúc đẩy và tạo thuận lợi cho hợp tác vận tải đường bộ, hàng không, đường sắt, tăng cường hợp tác logistics.

(2) Đầu tư

Hai bên nhất trí triển khai tốt khu hợp tác kinh tế - thương mại, trọng điểm tăng cường hợp tác đầu tư trong các lĩnh vực như nông nghiệp, cơ sở hạ tầng, năng lượng, kinh tế số, phát triển xanh. Khuyến khích và ủng hộ các doanh nghiệp có thực lực, uy tín, công nghệ tiên tiến sang đầu tư tại nước kia trong lĩnh vực phù hợp với nhu cầu và chiến lược phát triển bền vững của mỗi nước, tạo môi trường kinh doanh công bằng, thuận lợi cho các doanh nghiệp này. Đẩy nhanh triển khai các dự án sử dụng viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Trung Quốc cho Việt Nam, trong đó có Dự án Xây dựng mới cơ sở 2 Bệnh viện Y dược cổ truyền.

Hai bên nhất trí đi sâu trao đổi kinh nghiệm cải cách doanh nghiệp nhà nước và quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, hợp tác đào tạo nhân lực giữa hai nước, nhất là nhân lực quản lý cấp cao của các doanh nghiệp nhà nước; khuyến khích cơ quan quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp của hai nước triển khai trao đổi, kết nối, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp hai nước tăng cường hợp tác cùng có lợi. Tích cực tìm kiếm khả năng tăng cường hợp tác song phương và đa phương trong lĩnh vực khoáng sản then chốt trên nguyên tắc thị trường và tinh thần thực chất, bền vững, bảo đảm an ninh chuỗi sản xuất và cung ứng năng lượng.

 (3) Thương mại

Hai bên nhất trí áp dụng các biện pháp thiết thực nhằm mở rộng quy mô thương mại song phương theo hướng cân bằng, bền vững. Phát huy tốt vai trò của Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), Khu thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc; tăng cường hợp tác trên các nền tảng như Hội chợ Nhập khẩu quốc tế Trung Quốc (CIIE), Hội chợ triển lãm ASEAN - Trung Quốc (CAEXPO), Hội chợ hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc (Canton Fair); mở rộng xuất khẩu các mặt hàng thế mạnh của nước này sang nước kia. Hai bên nhất trí, tăng cường hợp tác trên lĩnh vực tiêu chuẩn hóa, bảo đảm hài hòa về tiêu chuẩn đối với hàng hóa và sản phẩm của Việt Nam và Trung Quốc, đặc biệt là sản phẩm nông nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác thương mại song phương. Phía Trung Quốc sẽ tích cực thúc đẩy tiến trình mở cửa thị trường đối với nông sản của Việt Nam như dừa tươi, sản phẩm trái cây đông lạnh, hoa quả có múi, bơ, na, roi, dược liệu đông y có nguồn gốc thực vật, thịt trâu, thịt bò, thịt lợn, sản phẩm từ thịt gia súc, gia cầm. Phía Việt Nam sẽ tích cực thúc đẩy nhập khẩu các loại cá tầm của Trung Quốc, tăng cường giao lưu, trao đổi giữa các tổ chức ngành nghề của hai bên, thúc đẩy các ngành nghề liên quan của hai nước phát triển lành mạnh.

Hai bên nhất trí áp dụng các biện pháp hiệu quả bảo đảm thông suốt chuỗi cung ứng hàng hóa phục vụ sản xuất và tiêu dùng giữa hai nước và trong khu vực. Nâng cao hiệu suất thông quan, thúc đẩy xây dựng thí điểm cửa khẩu thông minh tại đường chuyên dụng vận chuyển hàng hóa qua khu vực mốc 1088/2-1089 và đường chuyên dụng vận chuyển hàng hóa tại cửa khẩu Tân Thanh - Pò Chài (khu vực mốc 1090-1091) thuộc cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị (Việt Nam) - Hữu Nghị Quan (Trung Quốc); phân luồng hợp lý hàng hóa xuất nhập khẩu tại các cửa khẩu biên giới, bảo đảm các cửa khẩu biên giới trọng điểm vận hành thông suốt. Hai bên nhất trí sẽ tích cực phát huy vai trò của Nhóm công tác thuận lợi hóa thương mại Việt Nam - Trung Quốc, tiếp tục khai thác tiềm năng thương mại song phương; thúc đẩy thực hiện “Bản ghi nhớ giữa Bộ Công Thương Việt Nam và Bộ Thương mại Trung Quốc về tăng cường bảo đảm chuỗi cung ứng hàng hóa Việt Nam - Trung Quốc”, duy trì an toàn, ổn định chuỗi sản xuất và cung ứng giữa hai nước. Hai bên nhất trí, phát huy vai trò của Nhóm công tác hợp tác về thương mại điện tử, thúc đẩy doanh nghiệp hai nước triển khai hợp tác thương mại điện tử.

Hai bên nhất trí phát huy tốt vai trò của các cơ chế Ủy ban liên hợp biên giới trên đất liền, Ủy ban hợp tác quản lý cửa khẩu biên giới Việt Nam - Trung Quốc, tiếp tục thực hiện tốt 03 văn kiện pháp lý về biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc và các thỏa thuận liên quan; tăng cường quản lý an ninh trật tự khu vực biên giới; tích cực thúc đẩy mở mới, nâng cấp cửa khẩu biên giới. Tiếp tục triển khai hiệu quả “Hiệp định về tàu thuyền đi lại tại khu vực tàu thuyền đi lại tự do ở cửa sông Bắc Luân”. Nghiên cứu triển khai hợp tác cấp “Chứng nhận Doanh nghiệp ưu tiên” (AEO) của nhau, tăng cường giao lưu, hợp tác “một cửa”, tiếp tục làm sâu sắc hợp tác về thực thi pháp luật chống buôn lậu, thúc đẩy Hành động phối hợp thực thi pháp luật quốc tế “Con rồng Mê Kông” đạt được nhiều thành quả hơn nữa.

Phía Trung Quốc ủng hộ việc mở Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Trùng Khánh, các Văn phòng xúc tiến thương mại Việt Nam tại Trùng Khánh và Hàng Châu (Trung Quốc) phát huy vai trò tích cực trong hợp tác kinh tế - thương mại giữa hai nước; sẵn sàng tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho phía Việt Nam sớm mở thêm các văn phòng xúc tiến thương mại tại các địa phương liên quan của Trung Quốc.

Hai bên ủng hộ chính quyền các địa phương hai nước thiết lập cơ chế phối hợp công tác, nhất là các địa phương có quy mô kinh tế và dân số tương đối lớn trong nội địa, cùng nhau tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh của mỗi bên, tạo động lực tăng trưởng mới cho hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư giữa hai nước. Tiếp tục ủng hộ các doanh nghiệp đường sắt hai nước tăng cường hợp tác nâng hiệu suất hàng hóa Việt Nam quá cảnh Trung Quốc.

(4) Tài chính, tiền tệ

Hai bên nhất trí tiếp tục tăng cường giao lưu, hợp tác giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc và giữa các cơ quan giám sát, quản lý tài chính của hai nước. Phát huy vai trò của Nhóm công tác hợp tác về tài chính - tiền tệ, nhằm thúc đẩy hợp tác tiền tệ giữa hai nước. Ủng hộ hai bên đi sâu hợp tác tại Ngân hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á, cung cấp hỗ trợ về vốn cho các dự án liên quan theo chiến lược, chính sách và quy trình của Ngân hàng.

(5) An ninh lương thực và phát triển xanh

Hai bên nhất trí tích cực thúc đẩy hợp tác về kỹ thuật nông nghiệp và trao đổi chính sách nông nghiệp, nghiên cứu triển khai hợp tác trong các lĩnh vực như nông nghiệp các-bon thấp, nông nghiệp số, nông nghiệp xanh, bảo vệ đất và nguồn nước, thúc đẩy các sản phẩm xanh, phát thải các-bon thấp, phát triển bền vững; tăng cường trao đổi, điều phối chính sách về bảo đảm an ninh lương thực.

Hai bên nhất trí tích cực tham gia và xây dựng quan hệ đối tác hợp tác năng lượng sạch toàn cầu. Làm sâu sắc hợp tác trong các lĩnh vực như bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó biến đổi khí hậu, ô tô năng lượng mới, bao gồm quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên châu Á, bảo tồn các loài hoang dã di cư, kiểm soát loài ngoại lai xâm hại giữa khu vực biên giới. Phía Trung Quốc hoan nghênh Việt Nam tham gia vào các hoạt động liên quan của Liên minh quốc tế phát triển xanh “Vành đai và Con đường”.

Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực trồng trọt, chế biến nông sản; triển khai hợp tác nghiên cứu quản lý tổng hợp môi trường biển và hải đảo, triển khai hợp tác thả cá giống và bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong Vịnh Bắc Bộ. Sớm ký kết Hiệp định hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ; thực hiện tốt Thỏa thuận thiết lập đường dây nóng về các vụ việc phát sinh đột xuất của hoạt động nghề cá trên biển Việt Nam - Trung Quốc.

Hai bên nhất trí trao đổi số liệu thủy văn mùa lũ, triển khai hợp tác trong các lĩnh vực như quản lý tổng hợp tài nguyên nước, ngăn ngừa thiên tai lũ lụt, hạn hán, nước uống an toàn khu vực nông thôn, tưới tiêu tiết kiệm, khoa học kỹ thuật thủy lợi. Tổ chức đối thoại chính sách cấp cao về sử dụng bền vững tài nguyên nước xuyên biên giới; tăng cường phối hợp về phòng chống hạn hán, ngập lụt và bảo đảm an toàn đập thủy điện. Tăng cường trao đổi thông tin dự báo khí tượng, thời tiết, thời tiết nguy hiểm và hợp tác phát triển dịch vụ khí tượng khu vực châu Á.”

4.4. Nền tảng xã hội vững chắc hơn

Nhằm tăng cường hiểu biết và tình hữu nghị, thúc đẩy giao lưu và hiểu biết, gắn bó lẫn nhau giữa nhân dân hai nước, củng cố nền tảng xã hội của quan hệ hai Đảng, hai nước, hai bên sẽ tăng cường các cơ chế giao lưu giữa cơ quan tuyên giáo/tuyên truyền của hai Đảng, truyền thông chủ lực và các nhà xuất bản, giữa các cơ quan văn hóa, du lịch, thanh niên và địa phương; nghiên cứu xây dựng cơ chế hợp tác giữa các cơ quan giáo dục, y tế, y học cổ truyền, hàng không dân dụng, thúc đẩy các hợp tác trọng điểm sau:

(1) Tuyên truyền

Cơ quan tuyên giáo/tuyên truyền của hai Đảng đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về tình hữu nghị truyền thống giữa hai Đảng, hai nước và hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc. Khuyến khích hai nước triển khai hợp tác truyền thông, xuất bản báo chí, phát thanh, điện ảnh, truyền hình, tăng cường sự hiểu biết và tình cảm hữu nghị  giữa nhân dân hai nước, nhất là thế hệ trẻ.

(2) Văn hóa và du lịch

Phía Việt Nam ủng hộ Trung Quốc xây dựng Trung tâm Văn hóa tại Việt Nam; phía Trung Quốc hoan nghênh Việt Nam thiết lập Trung tâm Văn hóa tại Trung Quốc, vận hành tốt Cung Hữu nghị Việt - Trung. Phía Việt Nam tích cực ủng hộ Trung tâm Văn hóa Trung Quốc tại Hà Nội triển khai hoạt động.

Hai bên ủng hộ các tổ chức văn hóa, đoàn nghệ thuật, trường đào tạo văn hóa - nghệ thuật của hai nước triển khai giao lưu, hợp tác. Tăng cường phối hợp, trao đổi chính sách du lịch giữa hai nước, phối hợp khai thác các tuyến du lịch, xây dựng các sản phẩm du lịch. Thực hiện tốt Kế hoạch hợp tác Văn hóa và Du lịch Việt Nam - Trung Quốc giai đoạn 2023 - 2027, tăng cường giao lưu trao đổi đoàn các cấp về văn hóa và du lịch, thúc đẩy ngành du lịch nhanh chóng phục hồi và phát triển lành mạnh. Vận hành tốt thí điểm Khu cảnh quan thác Bản Giốc (Việt Nam) - Đức Thiên (Trung Quốc) an toàn, hiệu quả, tạo nền tảng để vận hành chính thức, khuyến khích các du khách hai bên tham quan Khu cảnh quan. Ủng hộ doanh nghiệp vận tải hàng không của hai bên tăng thêm chuyến bay giữa Việt Nam và Trung Quốc căn cứ theo nhu cầu thị trường.

(3) Giáo dục, thể thao, nguồn nhân lực và khoa học công nghệ

Hai bên nhất trí thực hiện tốt Hiệp định hợp tác giáo dục Việt Nam - Trung Quốc; khuyến khích tăng cường trao đổi lưu học sinh, cán bộ quản lý giáo dục, cán bộ giảng dạy hai nước; tăng cường bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên Việt Nam thông qua các chương trình học bổng du học tại Trung Quốc; thúc đẩy giao lưu, hợp tác giữa các cơ sở giáo dục hai nước; tích cực phát huy vai trò của Học viện Khổng Tử tại Đại học Hà Nội, làm sâu sắc hợp tác giáo dục dạy nghề, giáo dục số và thể thao. Tăng cường giao lưu giữa các trường đại học, cơ quan nghiên cứu của hai nước.

Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác trong lĩnh vực lao động trên cơ sở triển khai hiệu quả các thỏa thuận về quản lý lao động qua biên giới của các tỉnh/khu biên giới hai nước, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của lao động vùng biên giới hai nước. Thúc đẩy các chương trình giao lưu, hợp tác phát triển nguồn nhân lực và kỹ năng, an sinh xã hội và bảo hiểm xã hội đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của hai nước.

Hai bên nhất trí tiếp tục phát huy tốt vai trò của Ủy ban hỗn hợp hợp tác về khoa học công nghệ Việt Nam - Trung Quốc; tích cực tăng cường hợp tác kết nối trong các lĩnh vực về quy định quản lý pháp quy an toàn hạt nhân, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn đo lường chất lượng; tăng cường giao lưu trao đổi đoàn các cấp nhằm làm sâu sắc hợp tác trong các lĩnh vực trên.

(4) Y tế sức khỏe và phòng chống thiên tai

Hai bên nhất trí tiếp tục triển khai hợp tác, giao lưu trong các lĩnh vực y tế, sức khỏe, bao gồm bảo vệ và chăm sóc sức khỏe, phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm, y học cổ truyền, phòng chống thiên tai. Ủng hộ địa phương hai nước triển khai hợp tác về cùng chia sẻ thông tin và liên hợp phòng chống dịch bệnh qua biên giới.

(5) Giao lưu địa phương, nhân dân và thanh niên

Hai bên nhất trí ủng hộ các địa phương hai nước, đặc biệt là các tỉnh/khu biên giới triển khai giao lưu, hợp tác. Nâng cao hiệu quả của các cơ chế giao lưu định kỳ giữa các tổ chức đoàn thể Việt Nam - Trung Quốc như công đoàn, phụ nữ, thanh niên; tổ chức tốt các hoạt động như Gặp gỡ Hữu nghị thanh niên Việt Nam - Trung Quốc, Diễn đàn nhân dân Việt Nam - Trung Quốc, Liên hoan Nhân dân biên giới; tăng cường giao lưu giữa lãnh đạo trẻ, doanh nghiệp trẻ, tình nguyện viên trẻ hai nước.

4.5. Phối hợp đa phương chặt chẽ hơn

Để bảo vệ công bằng, chính nghĩa và lợi ích chung quốc tế, thúc đẩy hòa bình, ổn định và phát triển phồn vinh của khu vực, kiến tạo môi trường bên ngoài có lợi cho sự phát triển của mỗi nước và quan hệ Việt - Trung, hai bên nhất trí kiên trì phát huy chủ nghĩa đa phương, tăng cường phối hợp và hợp tác đa phương, cùng nhau bảo vệ hệ thống quốc tế lấy Liên hợp quốc làm hạt nhân và trật tự quốc tế dựa trên luật pháp quốc tế.

(1) Hai bên nhất trí tăng cường cơ chế tham vấn về nhân quyền, chính sách giữa hai Bộ Ngoại giao và giao lưu không định kỳ giữa Cơ quan đại diện thường trú tại hai nước, cũng như Phái đoàn/Văn phòng đại diện của hai nước thường trú tại nước thứ ba hoặc tổ chức quốc tế.

(2) Phía Việt Nam hoan nghênh quan điểm xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai nhân loại mà phía Trung Quốc đưa ra nhằm thúc đẩy những giá trị chung về hòa bình, phát triển, công bằng, chính nghĩa, dân chủ, tự do; ủng hộ và sẵn sàng chủ động tham gia các dự án hợp tác cụ thể trong khuôn khổ Sáng kiến Phát triển toàn cầu phù hợp với khả năng, điều kiện, nhu cầu của Việt Nam; cùng thực hiện tốt Chương trình phát triển bền vững đến năm 2030; trao đổi, điều phối chính sách, ủng hộ lẫn nhau và triển khai hợp tác thực chất trong khuôn khổ Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) và Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu.

(3) Hai bên khẳng định tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, nỗ lực vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển. Phía Việt Nam hoan nghênh và ủng hộ Sáng kiến An ninh toàn cầu, hai bên sẽ nghiên cứu triển khai hợp tác phù hợp trong khuôn khổ Sáng kiến An ninh toàn cầu. Tiếp tục duy trì trao đổi, phối hợp mật thiết trên các vấn đề an ninh khu vực và toàn cầu.

(4) Hai bên cho rằng, các nước có tiền đồ vận mệnh liên quan chặt chẽ với nhau, các nền văn minh khác nhau chung sống bao dung, giao lưu học hỏi lẫn nhau. Phía Việt Nam ủng hộ Sáng kiến Văn minh toàn cầu, vì hòa bình, phát triển, công bằng, chính nghĩa và tiến bộ của nhân loại, sẵn sàng nghiên cứu triển khai hợp tác trong khuôn khổ Sáng kiến này.

(5) Hai bên chủ trương các nước triển khai giao lưu và hợp tác trong vấn đề  nhân quyền trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, thúc đẩy việc tăng cường đối thoại, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nhân quyền, không chính trị hóa vấn đề nhân quyền, không dùng vấn đề nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác.

(6) Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác trong các tổ chức và cơ chế quốc tế và khu vực như Liên hợp quốc, Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Hội nghị Á - Âu (ASEM), ủng hộ nhau ứng cử các vị trí tại các tổ chức quốc tế.

(7) Hai bên ủng hộ ASEAN duy trì vai trò trung tâm trong cấu trúc khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang không ngừng diễn biến, thay đổi. Trung Quốc ủng hộ ASEAN xây dựng Cộng đồng ASEAN đoàn kết, thống nhất, tự cường và phát triển. Đẩy nhanh xây dựng Khu thương mại tự do Trung Quốc - ASEAN phiên bản 3.0,làm sâu sắc quan hệ đối tác chiến lược toàn diện ASEAN - Trung Quốc.

(8) Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác Mê Công - Lan Thương, nỗ lực thúc đẩy xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai vì hòa bình và thịnh vượng giữa các quốc gia Mê Công - Lan Thương. Tăng cường hợp tác trong khuôn khổ Hợp tác kinh tế khu vực tiểu vùng sông Mê Công (GMS).

(9) Hai bên nhất trí, nỗ lực bảo vệ các nguyên tắc cơ bản và giá trị cốt lõi của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), thúc đẩy cải cách cần thiết trong WTO, đặc biệt là khôi phục hoạt động bình thường cơ chế giải quyết tranh chấp xét xử hai cấp và có sức ràng buộc. Tăng cường hợp tác trong khuôn khổ WTO, hai bên cùng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên đang phát triển, thúc đẩy WTO phát huy vai trò hiệu quả hơn.

(10) Phía Việt Nam ủng hộ Trung Quốc gia nhập Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) trên cơ sở phù hợp với các tiêu chuẩn và trình tự của Hiệp định. Hai bên sẵn sàng cùng thực hiện tốt Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), thúc đẩy liên kết kinh tế khu vực.

4.6. Bất đồng được kiểm soát và giải quyết tốt hơn

Hai bên đi sâu trao đổi ý kiến chân thành, thẳng thắn về vấn đề trên biển, nhấn mạnh cần kiểm soát tốt hơn và tích cực giải quyết bất đồng trên biển, duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông và khu vực.

(1) Hai bên nhất trí tiếp tục tuân thủ nhận thức chung quan trọng giữa Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước, kiên trì thông qua hiệp thương hữu nghị, tăng cường cơ chế đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt Nam - Trung Quốc và các nhóm công tác trực thuộc; tích cực tìm kiếm các biện pháp giải quyết cơ bản, lâu dài mà hai bên có thể chấp nhận được, phù hợp với “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc”, luật pháp quốc tế trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982).

 (2) Hai bên nhất trí tích cực thúc đẩy bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển và bàn bạc về phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, thúc đẩy hai việc trên sớm đạt tiến triển thực chất. Hai bên sẽ tiếp tục tích cực triển khai hợp tác trên các lĩnh vực ít nhạy cảm trên biển. Tăng cường hợp tác thực thi pháp luật nghề cá và hợp tác nuôi trồng, bảo vệ nguồn tài nguyên sinh vật trên Biển Đông. Tăng cường hợp tác tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn trên biển.

(3) Hai bên nhất trí tiếp tục thực hiện toàn diện, hiệu quả “Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC), trên cơ sở hiệp thương, nhất trí, sớm đạt được “Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông” (COC) thực chất, hiệu lực, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982. Thực hiện cơ chế Cuộc họp quan chức cao cấp (SOM) và Cuộc họp nhóm công tác chung ASEAN - Trung Quốc về triển khai “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC); kiểm soát tốt bất đồng trên biển, không có hành động làm phức tạp tình hình và mở rộng tranh chấp, cùng duy trì ổn định trên biển.

(4) Hai bên nhất trí trong năm 2024 cùng nhau kỷ niệm 25 năm phân định biên giới trên đất liền và 15 năm ký kết 03 văn kiện pháp lý về biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc.

5. Hai bên nhất trí cho rằng, chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình đã thành công tốt đẹp, là dấu mốc quan trọng trong lịch sử quan hệ hai Đảng, hai nước, góp phần quan trọng vào phát huy tình hữu nghị truyền thống Việt Nam - Trung Quốc, nâng tầm quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong thời kỳ mới, thúc đẩy hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực và thế giới.

Lãnh đạo cao nhất hai Đảng, hai nước nhất trí chỉ đạo các ban, bộ, ngành hữu quan và địa phương hai nước Việt Nam - Trung Quốc xây dựng và hoàn thiện các cơ chế giao lưu tương ứng, xác định rõ đơn vị có trách nhiệm và phương hướng thực hiện, căn cứ theo phân công nhiệm vụ và tình hình thực tế, xây dựng phương án triển khai chi tiết, kịp thời báo cáo tiến triển hợp tác với Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam - Trung Quốc. Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương phụ trách công tác đánh giá, giám sát, đôn đốc, điều phối các công việc giai đoạn tiếp theo, báo cáo Lãnh đạo cấp cao mỗi bên về tình hình tiến triển hợp tác. Căn cứ theo nhu cầu, hai bên trao đổi, kết nối, rà soát tình hình triển khai và giải quyết các vấn đề phát sinh thông qua hiệp thương hữu nghị.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình trân trọng cảm ơn Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, các đồng chí Lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước Việt Nam và Nhân dân Việt Nam về sự tiếp đón hết sức trọng thị, thân tình và hữu nghị; trân trọng mời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng sớm thăm lại Trung Quốc. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng bày tỏ cảm ơn và vui vẻ nhận lời.

Hà Nội, ngày 13-12-2023.

Một số bài học kinh nghiệm về giải quyết tố cáo trong nội bộ Đảng, góp phần tăng cường hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

  Giải quyết hiệu quả đơn, thư tố cáo là một trong những biện pháp quan trọng để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; vì vậy, Đảng ta luôn quan tâm, chú trọng lãnh đạo công tác này. Thời gian qua, các cấp, các ngành đã thực hiện nghiêm túc, đạt được những kết quả tích cực và rút ra những bài học kinh nghiệm sâu sắc. Đó sẽ là cơ sở quan trọng giúp cho các chủ thể có trách nhiệm tiếp tục thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn nhiệm vụ này trong thời gian tới, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân, được quy định trong Hiến pháp và Luật Tố cáo. Trong nội bộ, Đảng Cộng sản Việt Nam quy định việc giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên là trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, của ủy ban kiểm tra các cấp. Công việc này được thực hiện theo quy định của Điều lệ Đảng, các quy định, hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Trần Cẩm Tú chủ trì Kỳ thứ 30 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương_Ảnh: TTXVN

Thực hiện quy định của Điều lệ Đảng về giải quyết tố cáo và các văn bản có liên quan của Trung ương Đảng, thời gian qua, việc giải quyết tố cáo trong Đảng đã đạt được kết quả quan trọng. Chỉ tính từ nhiệm kỳ Đại hội X của Đảng đến nay, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã xem xét, giải quyết tố cáo đối với 25 tổ chức đảng và 352 đảng viên là cán bộ diện Trung ương quản lý. Ủy ban kiểm tra cấp ủy các địa phương, đơn vị đã xem xét, giải quyết tố cáo đối với 1.718 tổ chức đảng và 45.705 đảng viên. Nội dung tố cáo tổ chức đảng, đảng viên bao gồm các vi phạm chỉ thị, nghị quyết, quy định của Đảng; vi phạm chính sách, pháp luật của Nhà nước; thiếu trách nhiệm trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và có hành vi bao che khuyết điểm, trù dập cá nhân; vi phạm quy định về phẩm chất đạo đức, lối sống; vi phạm những điều đảng viên không được làm; lạm dụng, lợi dụng quyền lực được giao, nhất là trong công tác cán bộ, quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản, tài chính, đấu thầu, đầu tư xây dựng cơ bản... Nội dung tố cáo phần lớn liên quan đến hành vi lạm quyền, lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ để trục lợi, tham nhũng, vì “lợi ích nhóm”.

Việc giải quyết tố cáo trong Đảng của các cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp thời gian qua về cơ bản là đúng nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời gian theo quy định. Đặc biệt, các cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp đã tập trung giải quyết kịp thời, dứt điểm đơn tố cáo đối với nhân sự cấp ủy, nhân sự ứng cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp các nhiệm kỳ, nhân sự các chức danh lãnh đạo, quản lý thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý; qua đó, góp phần quan trọng vào thành công của các kỳ đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, đại hội đại biểu đảng bộ các cấp, các cuộc bầu cử Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp... Nhiều cấp ủy, ủy ban kiểm tra đã đổi mới phương pháp công tác, chú trọng giải quyết đơn, thư tố cáo đối với các vụ việc, lĩnh vực phức tạp, tham nhũng, tiêu cực... và xử lý nghiêm minh khi có vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật, hoặc minh oan cho một số đảng viên; phát huy vai trò và trách nhiệm của nhân dân tham gia thực hiện quyền tố cáo, góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; giải quyết các tố cáo liên quan đến những tổ chức đảng, đảng viên có vi phạm, tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, suy thoái về tư tưởng chính trị, chạy chức, chạy quyền...; qua đó, góp phần củng cố và tăng cường niềm tin của đảng viên và nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng.

Từ thực tiễn giải quyết tố cáo thời gian qua của các cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp thông qua một số vụ việc phức tạp, nghiêm trọng, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều đối tượng ở một số bộ, ngành, địa phương; bước đầu, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giải quyết tố cáo như sau:

Một là, chú trọng nâng cao nhận thức, tinh thần và thái độ trong thực hiện nhiệm vụ chính trị. Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp phải có nhận thức đúng về vai trò, trách nhiệm của mình và của nhân dân trong việc tố cáo, giải quyết tố cáo nói chung và tố cáo, giải quyết tố cáo tổ chức đảng, đảng viên nói riêng. Từ đó, tăng cường tuyên truyền, giáo dục để cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tố cáo, nhằm thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ trong tố cáo nói chung, tố cáo tổ chức đảng, đảng viên nói riêng với tinh thần trách nhiệm cao để xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh. Các cấp, các ngành, các địa phương cần tích cực tuyên truyền sâu rộng và thấm nhuần, thực hiện tốt tư tưởng Hồ Chí Minh về khiếu nại, tố cáo; có biện pháp thích hợp để tuyên truyền, phổ biến cho nhân dân thấy rõ và thực hiện đúng quyền và trách nhiệm của mình trong tố cáo và giải quyết tố cáo. Điều đó sẽ khắc phục tình trạng tố cáo sai sự thật hoặc vu cáo, nhằm giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Bên cạnh đó, các cấp, các bộ phận có liên quan cần hoàn chỉnh quy trình, phương pháp tiếp nhận và giải quyết đơn, thư tố cáo để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả giải quyết tố cáo. Ủy ban kiểm tra các cấp cần tăng cường giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực toàn diện cho đội ngũ cán bộ kiểm tra; trong đó, chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn, bản lĩnh, dũng khí của người cán bộ, nêu cao tinh thần kiên quyết, thận trọng, công tâm, khách quan, dân chủ trong giải quyết tố cáo các hành vi có dấu hiệu tha hóa quyền lực, tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Hai là, trong công việc phải biết dựa vào nhân dân, tôn trọng và phát huy vai trò của nhân dân. Biết dựa vào nhân dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, đoàn thể nhân dân cùng tham gia phát hiện, phản ánh, tố cáo hành vi vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên và sự tha hóa quyền lực, tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm” sẽ bảo đảm cho cán bộ làm công tác kiểm tra thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “... chúng ta phải phát động tư tưởng của quần chúng làm cho quần chúng khinh ghét tệ tham ô, lãng phí, quan liêu; biến hàng ức, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp”(1). Theo đó, mỗi công dân, cơ quan, đơn vị phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham ô, lãng phí, tệ chạy chức, chạy quyền, chạy phiếu bầu...; đồng thời, phải nâng cao trình độ văn hóa cho toàn xã hội, để văn hóa mới xã hội chủ nghĩa được lan tỏa, thấm sâu trong các tầng lớp nhân dân. Khi đó, văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội - sẽ có vai trò quan trọng, góp phần lên án, phê phán tệ lạm quyền, lợi dụng quyền lực, tham nhũng, thói lười biếng, phù hoa, xa xỉ, thói hư, tật xấu của con người. Văn hóa sẽ tạo điều kiện, góp phần làm cho mỗi cán bộ, đảng viên, công chức có tinh thần vì nước quên thân, vì dân phục vụ, luôn vì lợi ích chung mà hy sinh cống hiến; cùng với đó, mỗi người dân Việt Nam đều nhận thức sâu sắc, hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình.

Việc phát huy mạnh mẽ vai trò của nhân dân trong tham gia phát hiện, phản ánh, tố cáo những dấu hiệu tha hóa quyền lực, tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm” có ý nghĩa hết sức quan trọng, bởi công tác đó vừa bảo đảm dân chủ được thực thi trên thực tế, vừa bảo đảm quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân. Hơn nữa, tất cả hoạt động, mối quan hệ của cán bộ, đảng viên nói chung, kể cả sự tha hóa quyền lực, hành vi tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm”... nói riêng đều khó tránh khỏi sự theo dõi, giám sát của cán bộ, đảng viên, “tai mắt” quần chúng nhân dân cả ở nơi công tác cũng như nơi cư trú. Vì thế, phát huy mạnh mẽ vai trò tham gia giám sát của quần chúng nhân dân sẽ tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho việc phát hiện và giải quyết tố cáo, mang lại hiệu quả cao.

Đồng thời, mỗi cơ quan, tổ chức và cán bộ khi thực hiện chức trách, nhiệm vụ phải có thái độ tôn trọng người tố cáo. Khi người tố cáo đến phản ánh, kiến nghị trực tiếp ở cơ quan tiếp công dân, cán bộ có chức trách, nhiệm vụ phải trân trọng lắng nghe ý kiến phản ánh của họ, ghi chép đầy đủ vào sổ theo dõi hoặc biên bản làm việc. Khi người tố cáo gửi đơn, cán bộ có trách nhiệm phải tiếp nhận, nghiên cứu, để tham mưu hoặc trực tiếp giải quyết theo đúng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; phải hướng dẫn người tố cáo thực hiện đúng quyền và trách nhiệm tố cáo của mình (không được ký đơn tập thể, không tố cáo mang tính bịa đặt, vu khống, không gửi đơn tố cáo đến nơi không có thẩm quyền giải quyết); khắc phục tình trạng thiếu thiện chí, né tránh (nếu có) đối với người tố cáo...

Ba là, nâng cao quyết tâm chính trị của cấp ủy, ủy ban kiểm tra và đoàn (tổ) giải quyết tố cáo (gọi chung là đoàn kiểm tra). Những đảng viên bị tố cáo thường là cán bộ có chức, có quyền, nên nếu ủy ban kiểm tra, đoàn kiểm tra, cán bộ kiểm tra thiếu bản lĩnh, dũng khí, trình độ và sự trong sạch, không công tâm, khách quan, trung thực thì sẽ khó vượt qua được các “sức ép”, áp lực từ nhiều phía trong quá trình giải quyết tố cáo. Vì thế, cần chú trọng nâng cao các phẩm chất cần thiết và quyết tâm chính trị của đoàn kiểm tra. Đồng thời, đoàn kiểm tra cần tổ chức nhiều kênh tiếp nhận thông tin, để đảng viên và nhân dân có điều kiện tố cáo, phản ánh về các dấu hiệu vi phạm, nhất là các hành vi lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực, tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm”. Bố trí cán bộ đủ năng lực để tiếp công dân đến tố cáo, phản ánh nhằm hạn chế tố cáo sai sự thật hoặc giấu tên, mạo tên... Lãnh đạo cấp ủy, tổ chức đảng, mà trực tiếp là bí thư cấp ủy, cần bố trí lịch tiếp dân, thực hiện việc tiếp công dân đúng quy định và có biện pháp chỉ đạo, tổ chức việc giải quyết đơn, thư phản ánh, tố cáo thuộc thẩm quyền của cấp mình. Điều đó vừa thể hiện tinh thần thực hiện nghiêm chức trách, nhiệm vụ của cá nhân và tổ chức liên quan, vừa tạo sự tin tưởng của đảng viên và nhân dân đối với công tác kiểm tra, giải quyết tố cáo của Đảng.

Lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh tiếp công dân_Ảnh: dichvucong.quangninh.gov.vn

Bốn là, bảo vệ người tố cáo đúng, xử lý nghiêm minh người tố cáo có dụng ý xấu, vu cáo hoặc tố cáo sai sự thật. Cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra và cán bộ kiểm tra phải trân trọng và bảo vệ người tố cáo có tâm huyết, vì muốn đóng góp vào sự nghiệp xây dựng Đảng nên đã phải đối mặt, vượt qua nhiều khó khăn, áp lực để dám báo cáo, tố cáo, phản ánh với Đảng những hành vi vi phạm, về hành vi lộng quyền, lạm quyền, lợi dụng quyền lực, tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm” của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, công chức. Cần có cơ chế bảo vệ, khuyến khích và khen thưởng kịp thời những người thẳng thắn, dũng cảm đấu tranh, phê bình, tố cáo đúng, tích cực góp phần vào công cuộc xây dựng Đảng, chính quyền, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Trên thực tế, việc trấn áp, trù dập người thẳng thắn, dũng cảm tố cáo, phản ánh đúng vẫn xảy ra ở một số tổ chức đảng, cơ quan nhà nước; nhiều ý kiến đóng góp, tố cáo đúng đắn, có giá trị của nhân dân bị xem nhẹ, vì nhiều nguyên nhân. Điều đó khiến cho khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên khi đã trở nên nghiêm trọng, trầm trọng thì mới được xem xét, giải quyết; dẫn đến hậu quả là vừa mất cán bộ, thiệt hại về tiền của, tài sản, vừa đánh mất uy tín của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên. Vì vậy, xây dựng cơ chế hữu hiệu, thích hợp để bảo vệ người thẳng thắn, dũng cảm phát hiện, tố cáo hành vi tha hóa quyền lực, tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm” là yêu cầu, nhiệm vụ rất quan trọng hiện nay.

Cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra, nhất là đoàn kiểm tra phải biết phân tích, nghiên cứu nắm bắt thái độ, tâm lý người tố cáo, có phong cách, phương pháp tiếp cận, ứng xử phù hợp để giúp cho họ yên tâm, nêu cao tinh thần trách nhiệm trong việc tố cáo, không lồng động cơ cá nhân vào trong tố cáo. Muốn vậy, phải phân tích thấu đáo để người tố cáo nhận thức, thấy rõ trách nhiệm chính trị, hành chính, hình sự của mình trước pháp luật, nếu những nội dung tố cáo mang tính vu cáo, bịa đặt, có dụng ý xấu; qua đó, định hướng cho họ chỉ cung cấp thông tin đúng sự thật, chứng cứ xác thực, tự điều chỉnh thông tin không xác thực, rút bỏ nội dung tố cáo vô căn cứ. Xử lý nghiêm minh đối với các trường hợp tố cáo sai sự thật, không chấp hành quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, lợi dụng tố cáo để gây rối; đặc biệt là kiên quyết xử lý tổ chức, cán bộ, đảng viên thiếu tinh thần trách nhiệm trong tiếp công dân, giải quyết tố cáo, ra quyết định giải quyết tố cáo sai trái hoặc kết luận giải quyết tố cáo không đúng, không khách quan, không chặt chẽ, không đầy đủ.

Năm là, sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy trong việc giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên có vai trò rất quan trọng. Cấp ủy, nhất là người đứng đầu cấp ủy, phải nêu cao vai trò, trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo việc giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên thuộc cấp mình quản lý. Việc Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trực tiếp chỉ đạo Ủy ban Kiểm tra Trung ương kiểm tra, giải quyết, kết luận rõ nội dung vi phạm trong một số vụ việc tố cáo nổi cộm và kiên quyết xử lý hoặc đề nghị tổ chức đảng có thẩm quyền xử lý kịp thời, nghiêm minh, đồng bộ cả kỷ luật đảng và kỷ luật chính quyền, đoàn thể, kể cả xử lý bằng pháp luật, đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Cấp ủy tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo việc kiểm tra, giám sát trách nhiệm, nhiệm vụ giải quyết tố cáo của cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra, đảng viên là thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tư pháp và cán bộ, đảng viên có thẩm quyền giải quyết tố cáo sẽ hạn chế được tố cáo phức tạp, nghiêm trọng, kéo dài gây mất đoàn kết, bất ổn trong nội bộ. Cấp ủy cần chỉ đạo sát sao việc sơ kết, đánh giá việc chấp hành quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tố cáo và thường xuyên rút ra bài học kinh nghiệm, để chấn chỉnh, khắc phục kịp thời hạn chế, khuyết điểm.

Ủy ban kiểm tra các cấp chủ động trong công tác tham mưu, giúp cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện tốt việc tiếp công dân, giải quyết tố cáo thuộc thẩm quyền của cấp ủy. Đồng thời, việc ủy ban kiểm tra cấp trên tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn, giúp đỡ và kiểm tra, giám sát ủy ban kiểm tra cấp dưới trong thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân, giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên thuộc thẩm quyền, bảo đảm đúng nguyên tắc, thủ tục, quy trình, nhất là bảo đảm đúng thời gian quy định của Điều lệ Đảng, hướng dẫn của Trung ương sẽ góp phần hạn chế và khắc phục tình trạng đơn, thư tồn đọng, kéo dài làm người tố cáo hiểu lầm, hoặc né tránh, đùn đẩy cho cấp trên giải quyết. Đối với những vụ tố cáo phức tạp, liên quan tới nhiều đối tượng, nhiều cấp, nhiều ngành, ủy ban kiểm tra cấp trên cần tăng cường hỗ trợ cấp dưới về nhân lực, nghiệp vụ khi tiến hành giải quyết thì mới mang lại hiệu lực, hiệu quả thiết thực.

Hiện nay, theo quy định của Đảng, không giải quyết đơn, thư tố cáo nặc danh, giấu tên; tuy nhiên, trong trường hợp đơn, thư tố cáo không có tên, nhưng có nội dung cụ thể, có địa chỉ và tên người bị tố cáo rõ ràng, thì khi đó ủy ban kiểm tra phải chủ động nắm chắc tình hình và xem xét chuyển sang kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm và đây cũng là một bài học kinh nghiệm quý, đã giúp giải quyết được nhiều vụ việc tham nhũng, tiêu cực trong thực tế.

Sáu là, tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan trong công tác giải quyết tố cáo. Phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm trong việc tiếp công dân, nhận đơn, thư, lắng nghe ý kiến phản ánh của cán bộ, đảng viên và công dân là công việc rất quan trọng. Thực tế cho thấy, sự phối hợp chặt chẽ giữa ủy ban kiểm tra các cấp với các tổ chức đảng có liên quan của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội trong việc giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên có vai trò, tác dụng quan trọng để nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ này. Sự phối hợp từ nắm tình hình, việc triển khai quyết định giải quyết tố cáo đến việc tổ chức hội nghị triển khai thực hiện kế hoạch giải quyết tố cáo, trong công tác thẩm tra, xác minh, kết luận, triển khai thông báo kết luận giải quyết tố cáo và thông báo kết quả giải quyết tố cáo cho người tố cáo biết theo quy định, đã vừa nâng cao rõ rệt chất lượng, hiệu quả giải quyết tố cáo, vừa giảm bớt công sức, thời giờ của cơ quan chủ trì giải quyết tố cáo. Khi sự phối hợp giữa các tổ chức đảng có liên quan bảo đảm chặt chẽ, thông suốt thì sẽ tạo nên tâm lý thoải mái, tôn trọng, hiểu biết, cộng tác, tin tưởng lẫn nhau giữa các đơn vị; đồng thời, nêu cao ý thức tự phê bình, thể hiện sự tôn trọng và phát huy dân chủ trong tố cáo và giải quyết tố cáo sẽ tạo tâm lý thuận lợi, giúp đối tượng bị tố cáo tự giải trình, cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời, trung thực hơn, góp phần làm cho công việc được thực hiện hiệu quả.

Có thể thấy, việc phối hợp tốt, phát huy tự phê bình và phê bình trong giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên, biết khích lệ, động viên đối tượng bị tố cáo, sẽ giúp tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên được giao nhiệm vụ giải quyết tố cáo nhanh chóng làm rõ sự thật và đối tượng cũng tự giác hợp tác hơn, giúp quá trình thẩm tra, xác minh, nhận xét, đánh giá, xem xét, kết luận có kết quả khách quan, chuẩn xác, xử lý kịp thời, nghiêm minh.

Những bài học kinh nghiệm về giải quyết tố cáo trong Đảng nêu trên được đúc rút qua thực tiễn thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát của Đảng thời gian qua, cần tiếp tục được kế thừa, vận dụng sáng tạo trong tình hình mới và sẽ góp phần vào việc nâng cao nhận thức, chất lượng, hiệu quả giải quyết tố cáo, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ này trong thời gian tới, góp phần thiết thực vào công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh./.

ST.

Thực tiễn sống động, lý luận sáng soi trong tác phẩm của Tổng Bí thư

Tác phẩm “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thể hiện sự kế thừa và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn Việt Nam, là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung, về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nói riêng, là những bài học cụ thể, thiết thực cho cán bộ, đảng viên, cho các tổ chức đảng “tự soi”, “tự sửa” để tiến bộ, là nguồn động viên, cổ vũ và quy tụ nhân dân vì mục tiêu phát triển.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với các đại biểu dự Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm hoạt động của Ban Chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương_Ảnh: TTXVN

Sức mạnh của một phương pháp đúng

Thứ nhất, trên mặt trận phòng, chống tham nhũng, các nhà lãnh đạo đất nước đều chỉ đạo xây dựng và sử dụng hiệu quả công cụ pháp luật.

V.I. Lê-nin sau khi chỉ đạo giải quyết rốt ráo nhiều vụ bao che tham nhũng, tiêu cực đã đi đến kết luận: “Cuối cùng, nếu còn có một hiện tượng như nạn hối lộ, nếu còn có thể hối lộ được, thì cũng không thể nói đến chính trị được. Trong trường hợp này, thậm chí cũng không thể nói đến làm chính trị được, vì mọi biện pháp đều sẽ lơ lửng trên không trung, sẽ hoàn toàn không mang lại một kết quả gì cả. Một đạo luật chỉ có thể đưa đến một kết quả xấu hơn, nếu trên thực tiễn nó được đem áp dụng trong điều kiện nạn hối lộ còn được dung thứ và đang thịnh hành”(1). Theo V.I. Lê-nin, việc giữ gìn kỷ cương phép nước, thái độ công minh, chính trực của người lãnh đạo đối với cán bộ, đảng viên trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chỉ có thể làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh hơn, tuyệt nhiên không có ảnh hưởng gì đến uy tín của Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên quyết xử lý nghiêm khắc tệ tham nhũng, tiêu cực đúng pháp luật. Trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Người yêu cầu “phải thẳng tay trừng trị những trị kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”(2). Trong hơn 24 năm (1945 - 1969), Người trực tiếp chỉ đạo soạn thảo 2 bản Hiến pháp (Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959) và 613 Sắc lệnh, trong đó có 243 Sắc lệnh quy định về tổ chức Nhà nước và pháp luật. Ngày 27-11-1945, Người ký Sắc lệnh ấn định hình phạt tội đưa và nhận hối lộ sẽ bị phạt từ 5 đến 20 năm khổ sai và phải nộp phạt gấp đôi số tiền nhận hối lộ. Trong “Quốc lệnh” do Người ban hành ngày 26-1-1946 có 10 điều khen thưởng và 10 điều hình phạt; trong 10 điều hình phạt có Điều 8, “Trộm cắp của công sẽ bị xử tử”(3)...

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã và đang chỉ đạo xử lý tham nhũng theo đúng tư tưởng Hồ Chí Minh và kinh nghiệm kinh điển trên nền tảng pháp luật. Tổng Bí thư yêu cầu, “đẩy mạnh công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật và tổ chức thi hành nghiêm túc, bảo đảm đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế - xã hội, phát triển đất nước nhanh và bền vững(4). Yêu cầu của Tổng Bí thư vừa là đường lối chiến lược của Đảng, vừa là nhiệm vụ cấp bách. Tám tính chất (đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định) là yêu cầu nội tại của hệ thống pháp luật nếu muốn phát huy đầy đủ tác dụng của pháp luật trong đời sống xã hội. Đồng thời, yêu cầu của Tổng Bí thư cũng nhằm khắc phục những khiếm khuyết kéo dài của hệ thống pháp luật hiện tại; đặt đúng tầm vóc vai trò của công cụ pháp luật trong xây dựng nền kinh tế - xã hội, phát triển đất nước và là công cụ quan trọng để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Có thể thấy, các nhà lãnh đạo giỏi ở các thời kỳ khác nhau, các thế hệ khác nhau, trong điều kiện hoàn cảnh khác nhau đều có chung tư duy, đó là quản lý, điều hành hoạt động một xã hội phải bằng pháp luật, và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cần sử dụng hiệu quả công cụ pháp luật.

Thứ hai, phòng, chống tham nhũng phải được thực hiện bài bản và toàn diện.

Một là, chuẩn bị cơ sở chính trị - pháp lý. Về phương diện Nhà nước, hệ thống pháp luật nói chung và Bộ luật Hình sự nói riêng đã được hoàn thiện một bước. Về phương diện Đảng, một loạt các quy định phục vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã được ban hành và đi vào cuộc sống(5).

Hai là, nắm chắc và chuẩn bị tinh thần cho các cơ quan chức năng phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng và Nhà nước. Các cơ quan nội chính phải thật sự là những “thanh bảo kiếm sắc bén” và “lá chắn vững chắc”; phải nắm vững, nắm chắc và thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình.

Ba là, tuyên truyền, phổ biến, phát động để toàn dân hưởng ứng, tích cực tham gia công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. “Huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực dưới sự lãnh đạo của Đảng”(6).

Bốn là, quyết định điểm tựa, mũi tiến công chắc thắng, bắt đầu từ trên xuống, từ trong Đảng ra, nâng lên niềm tin của nhân dân, của toàn xã hội.

Năm là, phải chống cả tham nhũng lớn và cả tham nhũng vặt, kiên quyết chống, chống triệt để.

Nói một cách tổng quát, phương pháp chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư mang đầy đủ tính khoa học, thực tiễn, thân dân, đã và đang đem lại hiệu quả to lớn nhiều mặt.

Nghiêm trị “tham nhũng vặt” và chữa “bệnh sợ trách nhiệm” 

Đọc 8 bài của Tổng Bí thư viết từ năm 1973 đến năm 1990, chúng ta có nhiều cảm nhận: Trước hết là tầm nhìn, 50 năm trước người thanh niên làm việc tại Tạp chí Học tập (nay là Tạp chí Cộng sản) - cơ quan lý luận chính trị của Đảng đã sớm nhận ra “căn bệnh” nặng, tham ô, lãnh phí, tiêu cực, bản chất của nó, nguồn gốc phát sinh và các “bài thuốc” chữa trị để xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Hai là, vẫn còn nguyên sức hấp dẫn của các bài viết về nội dung và phương pháp thể hiện. Nội dung đúng như thực tiễn, thẳng thắn, rõ ràng (có tên tuổi, có địa chỉ và thời điểm xảy ra khuyết điểm); phương pháp phê bình tinh tế. Ba là, tệ “tham nhũng vặt” và “bệnh sợ trách nhiệm” xuất hiện khá sớm và còn tồn tại dai dẳng đến bây giờ, nghĩa là các vấn đề còn nguyên tính thời sự.

Về “tham nhũng vặt”: Như một thứ “ghẻ ruồi” rất khó chịu đã và đang xảy ra ở nhiều cơ quan hành chính nhà nước các cấp, nhất là ở xã, phường, thị trấn suốt một thời gian dài, lâu dần bị coi như một “thông lệ” bất thành văn. “Tham nhũng vặt” làm giảm lòng tin, sự tín nhiệm của nhân dân đối với những người cán bộ tại các cơ quan hành chính nhà nước. Nếu tham nhũng lớn đã và đang phá hoại từ thượng tầng kiến trúc, thì “tham nhũng vặt” đang đào bới, công phá từ nền móng. Nếu ví bộ máy nhà nước như tòa nhà, mà tòa nhà bị đào phá, sụt lún từ nền móng, thì hỏi còn đứng vững được không? Bởi vậy, đã là tham nhũng thì phải chống triệt để. Sự chỉ đạo của Tổng Bí thư là vô cùng chính xác, đúng đắn và kịp thời: “Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp trong giải quyết công việc (“tham nhũng vặt”), kiên quyết loại khỏi bộ máy của Đảng và Nhà nước (nhất là trong các cơ quan phòng, chống tham nhũng) những cán bộ hư hỏng, tham nhũng”(7).

Về “bệnh sợ trách nhiệm”, Tổng Bí thư nhấn mạnh một số biểu hiện của bệnh sợ trách nhiệm, như làm việc một cách cầm chừng cho “đủ bổn phận”, cốt sao không phạm phải khuyết điểm gì lớn; rụt rè, do dự trong khi giải quyết công việc, không có chính kiến, không dám quyết đoán với những việc thuộc phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của mình, mà việc lớn, việc nhỏ gì cũng đưa ra tập thể bàn, chờ “ý kiến tập thể” cho “đỡ phiền”(8);... Nguồn gốc chủ yếu của bệnh sợ trách nhiệm là chủ nghĩa cá nhân. Nguy hại hơn, “Thái độ sợ trách nhiệm của một số cán bộ, đảng viên đang là một trở ngại cho công tác của Đảng và Nhà nước, làm cho công việc bị trì trệ, dậm chân tại chỗ, làm cho những nhân tố mới không phát huy được, những khuyết điểm và nhược điểm không được khắc phục kịp thời, và làm cho trình độ, năng lực công tác của cán bộ chậm được nâng cao”(9). Vì vậy, “khắc phục bệnh sợ trách nhiệm trước hết là phải chống chủ nghĩa cá nhân, nâng cao tinh thần cách mạng của cán bộ, đảng viên, làm cho mỗi người đều có tinh thần xả thân vì sự nghiệp cách mạng,...”(10).

Có thể thấy, Tổng Bí thư đã “bắt mạch” rất đúng “căn bệnh” và đề ra giải pháp hoàn toàn đúng đắn, chính xác cho thời gian ấy, nhưng cũng hoàn toàn khả thi cho ngay bây giờ. Vì thế, có thể nói, đó thực sự là một giải pháp mang tầm chiến lược.

Tám bài học kinh nghiệm quý báu                                                         

Công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, bất cứ ở đâu, vào thời gian nào cũng gay go, phức tạp và quyết liệt, nhất là từ khi bước vào công cuộc đổi mới, đặc biệt là hơn 10 năm qua (2012 - 2023). Song, với những kết quả đạt được, trong tác phẩm của mình, Tổng Bí thư đã tổng kết, đúc rút thành nhiều bài học kinh nghiệm, trong đó có 8 bài học sống động và quý báu.

Thứ nhất, phải nhận thức thật đầy đủ và sâu sắc về vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, để từ đó có quyết tâm chính trị cao, biện pháp đúng đắn, hành động quyết liệt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tập trung của Đảng. Chúng ta đều biết, nhận thức là một quá trình và có vai trò chỉ đạo hành động, nhận thức đúng thì hành động đúng. Tổng Bí thư chỉ ra rằng, có nhiều ý kiến e ngại, chống tham nhũng, tiêu cực mạnh sẽ ảnh hưởng đến sự năng động, dám nghĩ, dám làm! Thực tế, hoàn toàn ngược lại, dưới sự lãnh đạo của Đảng, kết quả, hiệu quả phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã thúc đẩy mạnh mẽ tư duy sáng tạo, dám nói, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, niềm tin và sự ủng hộ của nhân dân được nâng lên một trình độ cao.

Thứ hai, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là “chống giặc nội xâm”, tức là chống thói hư, tật xấu, nhất là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tệ ăn bớt, ăn cắp, ăn chặn của công dưới nhiều hình thức; lấy tiền tài, của cải, vật chất do người khác “biếu xén”, “cho, tặng”, hối lộ... với động cơ không trong sáng, và chỉ những người có chức, có quyền mới bị nhiễm thói hư, tật xấu này. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, “giặc nội xâm” là “kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta”(11). Tiền nhân cũng có câu, “Giặc nhà khó đánh”; vì vậy, phải kiên quyết, kiên trì, bền gan và dũng khí hơn nữa trong cuộc chiến đấu vẫn đang tiếp diễn.

Thứ ba, cán bộ là cái gốc của mọi công việc, là “then chốt của then chốt”, là “nguyên nhân của mọi nguyên nhân”. Thực tế thời gian qua cho thấy, đằng sau những vụ việc, vụ án tham nhũng, tiêu cực, nhất là những vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, kéo dài đều có sự tiếp tay của một số cán bộ, công chức bằng cách làm ngơ, dung túng, bao che, đồng phạm, thậm chí là chủ mưu. Bài học này cho thấy, phải đặc biệt quan tâm, chú trọng công tác cán bộ; gắn phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, xúc tiến hơn nữa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh một cách thiết thực, hiệu quả. Qua đó, sàng lọc, tinh lọc đội ngũ cán bộ theo yêu cầu công việc và tiêu chuẩn cán bộ các cấp, các loại.

Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh trực tiếp lắng nghe, đối thoại, giải đáp sâu sát, cặn kẽ các ý kiến của công dân_Nguồn: baoquangninh.com.vn

Thứ tư, phải kết hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, kịp thời xử lý nghiêm minh các hành vi tham nhũng, tiêu cực; trong đó, phòng ngừa là chính, là cơ bản, lâu dài; phát hiện, xử lý là quan trọng, đột phá. Đây là bài học về chỉ đạo hoạt động. Theo đó, phát hiện sớm, xử lý ngay, từng bước không cho tham nhũng, tiêu cực tiếp tục phát sinh; và tiếp tục phát hiện, xử lý đích đáng, nghiêm khắc theo pháp luật các vụ việc, các vụ án tham nhũng, tiêu cực để làm gương, cảnh tỉnh, răn đe.

Thứ năm, phải kiểm soát cho được việc thực hiện quyền lực nhà nước. Quyền lực luôn luôn có nguy cơ bị “tha hóa”; tham nhũng, tiêu cực là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực; do đó, phải tăng cường và nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực. Đây là bài học, đồng thời cũng là một trong những nội hàm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đó là, mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền lực phải được ràng buộc bằng trách nhiệm; quyền lực đến đâu trách nhiệm đến đó, quyền lực càng cao trách nhiệm càng lớn; bất kể ai lạm dụng, lợi dụng quyền lực để trục lợi đều phải truy cứu trách nhiệm và xử lý vi phạm.

Thứ sáu, chú trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, phát huy vai trò nòng cốt và sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, nhịp nhàng, kịp thời, hiệu quả của các cơ quan chức năng phòng, chống tham nhũng, tiêu cựcKinh nghiệm thời gian qua cho thấy, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực phải thực sự là trung tâm chỉ đạo, điều hành, phối hợp hoạt động, là chỗ dựa vững chắc để các cơ quan chức năng phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thực thi nhiệm vụ được giao. Kinh nghiệm này thể hiện rất sáng rõ ở Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực mà các Ban Chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở địa phương cần nắm vững trong hoạt động phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tại địa phương mình. Đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực phải có bản lĩnh vững vàng, có dũng khí đấu tranh; phải trung thực, liêm, chính, “chí công vô tư”, thực sự là “thanh bảo kiếm” sắc bén của Đảng và Nhà nước trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Thứ bảy, phải gắn công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Bài học huy động sức mạnh tổng hợp vừa là nhiệm vụ, vừa là đường lối cách mạng của Đảng ta theo đúng nguyên lý: “Sự nghiệp cách mạng là của quần chúng”. Quần chúng có cả “trăm tai, nghìn mắt” để góp phần phát hiện tham nhũng, tiêu cực, giúp cho Đảng, Nhà nước xem xét, xử lý. Đây cũng là một công việc lớn, “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”(12), như Bác Hồ đã dạy.

Thứ tám, các giải pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực phải phù hợp với bối cảnh, yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và truyền thống văn hóa dân tộc; tiếp thu chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài; kế thừa kinh nghiệm của các nhiệm kỳ trước. Bài học tổng thể này gồm nhiều bài học cụ thể, trực tiếp nhất là phải bảo đảm yêu cầu phát triển một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây cũng là một trong những nhiệm vụ lớn, quan trọng mà Đại hội XIII của Đảng khẳng định, “nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”(13). Nền kinh tế đó phải phù hợp với truyền thống dân tộc, nghĩa là “phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội” và xây dựng “một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn...”(14). Như vậy, muốn phát triển tốt nền kinh tế - xã hội thì phải phòng, chống được tham nhũng, tiêu cực; và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vững chắc.

Năm nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn mới

Thực tiễn cho thấy, các hành vi tham nhũng, tiêu cực không chỉ xảy ra ở một tổ chức, một lĩnh vực, một ngành, một cấp hay một địa phương, không chỉ là những hành vi đơn lẻ, riêng biệt, mà còn có sự móc nối, liên kết ở nhiều cấp, nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, diễn ra ở nhiều địa bàn, liên quan đến nhiều cán bộ cấp cao ở cả Trung ương và địa phương. Tham nhũng, tiêu cực đang diễn biến rất phức tạp; nhiệm vụ phòng, chống còn rất nhiều khó khăn. Dù đã đạt được những thành quả quan trọng, nhưng tuyệt nhiên không được chủ quan, mà phải kiên quyết, kiên trì với quyết tâm chính trị cao nhằm ngăn chặn, đẩy lùi với kết quả lớn hơn nữa. Tổng Bí thư đã vạch ra 5 nhiệm vụ lớn, trọng tâm, bao quát cho giai đoạn mới.

Thứ nhất, phải tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tính tiền phong, gương mẫu, xây dựng văn hóa liêm chính, không tham nhũng, tiêu cực trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, trước hết là sự gương mẫu, quyết liệt, nói đi đôi với làm của người đứng đầu và tập thể lãnh đạo các cấp, các ngành, cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng bao gồm xây dựng, chỉnh đốn tổ chức Đảng và xây dựng, chỉnh đốn cán bộ, đảng viên. Trong nhiệm vụ này, vai trò của cán bộ, đảng viên được nhấn đậm với ý nghĩa thực tiễn, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc, là “then chốt của then chốt”, là “nguyên nhân của mọi nguyên nhân””(15). Biện pháp thực hiện nhiệm vụ này được xác định rõ ràng, cụ thể tại Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16-6-2022, của Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII, “Về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới”, đó là, “Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, “tự soi”, “tự sửa”, đề cao danh dự, lòng tự trọng của đảng viên” và “Đổi mới công tác đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên... Thường xuyên rà soát, sàng lọc, kiên quyết đưa đảng viên không đủ tư cách ra khỏi Đảng; kịp thời chấn chỉnh đối với đảng viên không hoàn thành nhiệm vụ...; đảng viên vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật nhà nước; đảng viên thiếu gương mẫu, uy tín thấp”. Trong đó, người đứng đầu có vai trò đặc biệt quan trọng, đã được quy định tại Điều 70 Luật Phòng, chống tham nhũng: “Gương mẫu, liêm khiết, chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, quy tắc đạo đức kinh doanh” và “Chịu trách nhiệm khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách”. Do đó, xây dựng, chỉnh đốn Đảng để từng bước có được đội ngũ đảng viên có sức chiến đấu hùng mạnh, quyết liệt là nhân tố quyết định năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng, đặc biệt là trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Thứ hai, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, quản lý kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; kịp thời khắc phục bất cập, bịt kín “khoảng trống”, “kẽ hở”, nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện thể chế “không thể” tham nhũng, tiêu cực. Trong nhiệm vụ này có vấn đề khá lớn và có độ phức tạp cao, nhưng bằng mọi nỗ lực phải giải quyết sớm, đó là hiện tượng “tham nhũng chính sách, pháp luật” trong xây dựng thể chế. Hành vi tham nhũng, tiêu cực trong xây dựng chính sách, pháp luật diễn ra hết sức tinh vi, “kín đáo”, để lại những hậu quả lớn cho Nhà nước và xã hội. Đó là những hoạt động móc nối các hành vi kế tiếp, quan hệ chặt chẽ với nhau, bao gồm nhiều cá nhân và “nhóm chủ thể” có vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau, nhằm biến hóa lợi ích riêng tư thành những “quy tắc pháp lý” của những chính sách, của những đạo luật... Đây cũng là điều khác biệt giữa tham nhũng, tiêu cực chính sách, pháp luật với tham nhũng, tiêu cực đơn lẻ từng vụ việc, từng vụ án cụ thể. Do đó, phải sớm nghiên cứu sửa đổi nội dung chủ thể sáng kiến chính sách, pháp luật và quy trình xây dựng luật, pháp lệnh trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ ba, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán; đẩy mạnh điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; phát hiện sớm, xử lý nghiêm các vụ việc, vụ án tham nhũng, qua đó cảnh tỉnh, răn đe để không ai dám tham nhũng, tiêu cực; nâng cao hơn nữa hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng. Ở nhiệm vụ này, một lần nữa Tổng Bí thư yêu cầu các cơ quan có chức năng, nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, phải mài sắc ý chí chiến đấu để thực thi tốt hơn nữa nhiệm vụ của mình. Khi phát hiện sai phạm thì phải xử lý kiên quyết, nghiêm minh, đồng bộ giữa kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính của Nhà nước, kỷ luật của đoàn thể và xử lý hình sự, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai và không chịu sự tác động không trong sáng của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào. Đó chính là học tập, làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về xử lý tội tham ô, hối lộ, phải “thiết diện, vô tư”, “phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”(16).

Thứ tư, tiếp tục hoàn thiện và thực hiện các quy định về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị; kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; cải cách hành chính; xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ trong giai đoạn mới và tăng cường giám sát việc thực thi quyền lực. Trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay thì việc kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn là vấn đề then chốt, nhưng còn là vấn đề phải đầu tư nhiều thời gian và công sức mới đạt hiệu quả như mong đợi. Điều 33 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định: “Người có nghĩa vụ kê khai phải kê khai trung thực về tài sản, thu nhập, giải trình trung thực về nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm”. Nhưng nếu chỉ dựa vào lòng trung thực mà kiểm tra, giám sát, xử lý thiếu nghiêm khắc thì làm sao đạt được mục đích của việc kê khai! Bởi vậy, Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Cùng với “nhốt” quyền lực vào “lồng” cơ chế,... phải tiếp tục hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị và các biện pháp bảo đảm để công dân thực hiện đầy đủ quyền tiếp cận thông tin theo quy định của pháp luật”(17).

Thứ năm, tiếp tục kiện toàn bộ máy; nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị có chức năng phòng, chống tham nhũng, tiêu cực từ Trung ương đến địa phương; mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, triển khai hiệu quả hoạt động phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở khu vực ngoài nhà nước. Trong nhiệm vụ này, rất đáng lưu ý việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở khu vực ngoài nhà nước. Các thuật ngữ “chống lưng”, “sân sau”, “nhóm lợi ích”, “luật ngầm” xuất hiện khá nhiều trong những năm gần đây. Nội hàm của các thuật ngữ này chỉ ra sự móc nối giữa một bộ phận quan chức nhà nước có chức, có quyền, có nhiều “mối quan hệ” với doanh nghiệp “sân sau”, người nhà, người thân của mình, để họ tiếp cận được các dự án kinh tế, các gói thầu, các ưu đãi lợi ích. Các hoạt động này ngày càng diễn ra theo chiều hướng phức tạp, tinh vi hơn. Những nguồn lợi ích bất chính quá lớn đã làm không ít cán bộ tha hóa, biến chất, tiếp tục tạo dựng nhiều “sân sau” để trục lợi... Tác hại nhiều mặt, vô cùng lớn, không thể lường hết, trong đó có vấn đề quản lý kinh tế - xã hội sẽ trở nên phức tạp, rối ren, sự phá hoại khó lường của các thế lực xấu. Bởi vậy, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở khu vực ngoài nhà nước lúc này là nhiệm vụ lớn, đầy khó khăn, phức tạp. Do đó, Tổng Bí thư đã và đang chỉ đạo phải thực thi nhiệm vụ khẩn trương, quyết liệt. Có thể thấy, đây là nhiệm vụ nặng nề, khó khăn nhiều mặt, nhưng nhất thiết phải kiên trì, kiên quyết xử lý./.

ST.