Thứ Tư, 13 tháng 12, 2023

BÀN VỀ XÂY DỰNG “THẾ TRẬN LÒNG DÂN” TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG HIỆN NAY

 Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiến hành với đồng bộ các giải pháp. Trong đó, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc là giải pháp quan trọng hàng đầu, mang tính cơ bản, cấp thiết, lâu dài, nhằm làm cho mỗi người dân trở thành một chiến sĩ trung kiên, tuyệt đối tin tưởng và chủ động bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.

Xây dựng “thế trận lòng dân” trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là tổng thể các giải pháp làm cho các tầng lớp nhân dân luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Qua đó, quy tụ, tập hợp, khơi dậy, phát huy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí vươn lên của các tầng lớp nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhận thức rõ điều đó, trong thời gian qua, cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp, ngành, địa phương đã quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, xây dựng tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Tập trung phát triển kinh tế nhanh, bền vững gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng và an sinh xã hội; đẩy mạnh thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng, địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; thực hiện tốt nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh. Tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, tội phạm, tệ nạn xã hội; tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, môi trường hòa bình để phát triển đất nước, v.v. Qua đó, tạo sự đồng thuận, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường niềm tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, việc xây dựng “thế trận lòng dân” thời gian qua có lúc, có nơi vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm, nhất là tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực,… là nguyên nhân làm giảm sút niềm tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ. Cùng với đó, các thế lực thù địch đẩy mạnh hoạt động chống phá, phủ nhận, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, phá hoại niềm tin của nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tình hình đó, đòi hỏi chúng ta phải chú trọng, tăng cường mạnh mẽ và quyết tâm hơn nữa trong xây dựng “thế trận lòng dân”; dựa vào nhân dân, có sự “đồng tâm hiệp lực” của nhân dân trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch. Theo chúng tôi cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung, giải pháp cơ bản sau.
Một là, đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục, làm chuyển biến mạnh mẽ nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp đối với xây dựng “thế trận lòng dân” trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây là vấn đề cơ bản, cấp thiết, giữ vai trò quan trọng hàng đầu để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch. Vì vậy, cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp cần tích cực đổi mới nội dung, phương thức thông tin tuyên truyền, nâng cao ý thức trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng trong hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với nhiệm vụ quan trọng này. Nội dung tuyên truyền cần tập trung vào quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về “cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử”; quan điểm, chủ trương, chính sách về dân tộc, tôn giáo, về đại đoàn kết dân tộc và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc của Đảng, Nhà nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để đạt hiệu quả, ở từng cấp cần phát huy vai trò nòng cốt, trách nhiệm chính trị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, vận động nhân dân nâng cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc, đẩy mạnh phong trào Thi đua yêu nước. Thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng” và Quy chế Dân chủ cơ sở trong mọi lĩnh vực, nhất là các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến đời sống dân sinh. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh. Cán bộ lãnh đạo, chủ trì, chủ chốt của cấp ủy, chính quyền các cấp phải thường xuyên gặp gỡ, lắng nghe, đối thoại và tiếp thu ý kiến của nhân dân trên tinh thần tôn trọng dân, có trách nhiệm với nhân dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Qua đó, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, phát huy sức mạnh đoàn kết, đồng thuận của nhân dân trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Hai là, phát huy vai trò, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên đối với công tác xây dựng Đảng; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đây là vấn đề cấp bách, giữ vai trò then chốt quyết định; bởi sự trong sạch, vững mạnh của đội ngũ cán bộ, đảng viên sẽ chiếm trọn lòng tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; là nhân tố cơ bản và quan trọng hàng đầu để xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Thực tiễn cho thấy, những thành tựu to lớn của đất nước đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn, tài tình, sáng suốt của Đảng, cùng với tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên luôn nêu cao vai trò tiền phong, gương mẫu, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân đã góp phần củng cố, tăng cường lòng tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới để đất nước phát triển nhanh, bền vững. Tuy nhiên, tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước của một bộ phận cán bộ, đảng viên là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm giảm lòng tin của nhân dân với Đảng và chế độ, đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước. Vì vậy, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đồng bộ các giải pháp thực hiện Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII); đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tăng cường xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp. Thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên và những điều đảng viên không được làm. Mỗi cán bộ, đảng viên phải đề cao trách nhiệm, tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; cán bộ giữ cương vị càng cao càng phải tiền phong, gương mẫu và nêu cao ý thức phục vụ nhân dân. Đồng thời, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những hạn chế, khuyết điểm, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, biểu hiện bè phái, “lợi ích nhóm”; xử lý nghiêm minh cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng.
Ba là, phát huy vai trò tiên phong, mũi nhọn của Quân đội trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã khẳng định, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, tình huống khó khăn, phức tạp nào, Quân đội ta luôn là trụ cột của Đảng, Nhà nước, chỗ dựa vững chắc của Nhân dân. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một nhiệm vụ chính trị quan trọng của Quân đội trong cả thời bình và thời chiến. Hiện nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, Quân đội tiếp tục thiết lập thế trận đấu tranh chủ động, rộng khắp, liên hoàn, vững chắc trong toàn quân. Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần xác định rõ nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, mang tính chiến lược lâu dài của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân; là công việc thường xuyên, tự giác và trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân, trước hết là của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp. Từ đó, xác lập tổng thể các biện pháp, nguyên tắc, bố trí, triển khai và tổ chức các lực lượng cụ thể: từ nghiên cứu, giáo dục, tuyên truyền cơ bản, rộng khắp đến trực tiếp tác chiến, đấu tranh có trọng tâm, trọng điểm trên các phương tiện thông tin, truyền thông của Quân đội và quốc gia, trên internet, mạng xã hội, bảo đảm bao phủ toàn quân và không ngừng mở rộng trên phạm vi quốc gia và quốc tế. Kết hợp chặt chẽ các biện pháp chính trị, tư tưởng và tổ chức đấu tranh phòng ngừa, bảo vệ chính trị nội bộ, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Chủ động gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả; lấy cái đẹp dẹp cái xấu; không bỏ trống trận địa tư tưởng, bảo đảm ở đâu có bộ đội ở đó có tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng; mỗi đơn vị, cán bộ, chiến sĩ là một tấm gương sáng về truyền bá nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, phương pháp, kinh nghiệm đấu tranh, cung cấp thông tin, trang bị phương tiện, công nghệ cho đội ngũ nòng cốt, chuyên sâu để họ đấu tranh trên mạng xã hội. Phát huy tốt vai trò của lực lượng tác chiến mạng, an ninh mạng, thường xuyên bám mạng, áp dụng các biện pháp kỹ thuật cần thiết, thích hợp để phòng ngừa, nhận diện, phát hiện, ngăn chặn, xử lý và gỡ bỏ thông tin xấu độc, những hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng.
Bốn là, nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; chủ động phát hiện và kịp thời xử lý nghiêm các phần tử chống đối, cơ hội chính trị. Hiện nay, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ cùng với sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin và các phương tiện truyền thông; các thế lực thù địch sử dụng internet, mạng xã hội và lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước ta hết sức quyết liệt. Vì vậy, cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chức năng các cấp đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ nâng cao sức đề kháng, chủ động đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội. Phát huy vai trò của lực lượng nòng cốt và sử dụng hệ thống thông tin đại chúng, hệ thống giáo dục lý luận chính trị, hệ thống tuyên truyền miệng và các thiết chế văn hóa để phổ biến, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, xây dựng niềm tin khoa học của các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Chú trọng bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, nâng cao lòng yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc và tinh thần cảnh giác của cán bộ, đảng viên và nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Thường xuyên nắm vững tình hình, làm tốt công tác dự báo, kịp thời ngăn chặn hiệu quả thông tin sai trái, xấu độc trên internet, mạng xã hội. Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục, thuyết phục, vận động với kiên quyết xử lý nghiêm minh những tổ chức, cá nhân tán phát thông tin sai trái, xấu độc; kịp thời phát hiện và nghiêm trị các đối tượng chống đối, phần tư cơ hội, phản động.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là cuộc chiến “không tiếng súng” nhưng sẽ lâu dài và vô cùng quyết liệt. Trong cuộc đấu tranh này, Đảng, Nhà nước và cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp phải dựa vào nhân dân, thông qua sự tin tưởng, đồng tình, ủng hộ của nhân dân, bằng sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên “thế trận lòng dân” vững chắc - nhân tố cơ bản quan trọng hàng đầu để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng./.
St

BỆ ĐỠ PHÁP LÝ BẢO ĐẢM THỰC THI QUYỀN CON NGƯỜI

 Ngày nay, quyền con người được cả thế giới thừa nhận là một khái niệm toàn cầu. Theo cách tiếp cận này, việc bảo đảm quyền con người phải mang tính pháp lý quốc tế.

Tại các quốc gia, việc bảo vệ các quyền con người thể hiện qua việc thể chế hóa các quy định pháp lý quốc tế thành pháp luật quốc gia.
Tính phổ quát toàn cầu và tính đặc thù quốc gia
Cơ sở của quyền con người hình thành trên giá trị và phẩm giá của mỗi con người, là biểu hiện sự tôn trọng phẩm giá, giá trị của con người. Nhìn một cách tổng quát, cơ sở pháp lý của quyền con người là các điều ước, tập quán quốc tế, các nguyên tắc pháp luật chung được các dân tộc thừa nhận, các phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế và quan điểm của các chuyên gia pháp luật có uy tín. Trong đó, cơ sở quan trọng nhất là Hiến chương Liên hợp quốc (LHQ) và các điều ước quốc tế về quyền con người.
Quyền con người được công nhận một cách phổ quát trong nhiều văn bản pháp lý quốc tế như Hiến chương LHQ năm 1945 (Charter of the United Nations), Tuyên bố chung về quyền con người năm 1948 (Universal Declaration of Human Rights), Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966 (ICESCR), Tuyên ngôn về quyền của những người thuộc nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ năm 1992 (Declaration on the Rights of Persons Belonging to National or Ethnic, Religious and Linguistic Minorities), Tuyên bố Vienna về quyền con người năm 1993 (Vienna Declaration on Human rights) và Tuyên bố Bangkok năm 1993 (Bangkok Declaration). Tuy vậy, không phải dễ để đưa ra những tiêu chuẩn quyền con người cụ thể cho một quốc gia.
Ở cấp độ quốc tế, chúng ta tạm thời chấp nhận những tiêu chuẩn quyền con người mang tính phổ quát toàn cầu. Ở cấp độ của từng quốc gia, quyền con người vẫn có những đặc thù riêng bởi quyền con người không thể tách rời các yếu tố chính trị, văn hóa và đặc trưng xã hội của quốc gia đó. Do đó, vấn đề có tính pháp lý đặt ra là bên cạnh việc gia nhập các điều ước quốc tế thì từng quốc gia phải cố gắng nội luật hóa các công ước này vào pháp luật quốc gia nhằm bảo đảm sự hài hòa giữa tính phổ quát và tính đặc thù.
Việt Nam hòa nhịp rất sớm trong bảo vệ quyền con người
Trên thế giới, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (ICESCR) và Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 (viết tắt là UDHR) được coi là Bộ luật quốc tế về quyền con người, được đặt dưới sự giám sát riêng của Ủy ban Nhân quyền, độc lập với Hội đồng Nhân quyền của LHQ.
Năm 1977, Việt Nam (VN) gia nhập LHQ và chỉ năm năm sau đó, VN đã gia nhập ICCPR và ICESCR (cùng vào ngày 24-9-1982). So với nhiều quốc gia khác trên thế giới, việc gia nhập ICCPR và ICESCR của VN là tương đối sớm.
Tính đến năm 2023, VN đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của LHQ về quyền con người bao gồm: Công ước quốc tế về ngăn ngừa và trừng trị tội ác diệt chủng; Công ước quốc tế về ngăn ngừa và trừng trị tội ác A-pac-thai; Công ước quốc tế về xóa bỏ tất cả hình thức phân biệt chủng tộc (ICERD); Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR); Công ước quốc tế về các kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR); Công ước về không áp dụng thời hiệu tố tụng đối với tội phạm chiến tranh và tội phạm chống lại nhân loại; Công ước về xóa bỏ tất cả hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW).
Trong thời gian qua, VN đã có những nỗ lực đáng kể trong thực hiện nghĩa vụ quốc gia thành viên của các công ước này. Bên cạnh đó, VN cũng tích cực nội luật hóa các công ước quốc tế này. Có thể nói VN thể hiện nỗ lực rất lớn khi đã nội luật hóa hầu hết các quyền con người được quy định trong các công ước quốc tế vào pháp luật quốc gia.
Nỗ lực tương thích với pháp luật quốc tế về quyền con người
Tuy nhiên, việc ghi nhận và bảo đảm quyền con người tại VN vẫn còn gặp không ít thách thức. Cụ thể, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật ghi nhận bảo đảm quyền con người ở VN hiện nay trong một số trường hợp là chưa đầy đủ so với các công ước quốc tế về quyền con người mà VN tham gia.
Pháp luật VN hiện nay vẫn chưa có quy định về một số quyền con người đã được ghi nhận trong công ước quốc tế. Đó là các quyền không bị bắt làm nô lệ và nô dịch (Điều 8 ICCPR); quyền không bị bỏ tù vì không hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng (Điều 11 ICCPR); quyền thành lập, gia nhập công đoàn (Điều 22 ICCPR, Điều 8.1 ICESCR). Trong các công ước trên thì các quyền như tự do đi lại, cư trú được thừa nhận là quyền con người, lẽ tất nhiên, mọi người đều được hưởng. Tuy nhiên, Hiến pháp năm 2013 mới chỉ thừa nhận các quyền trên dành cho công dân với tính chất là quyền công dân.
VN đã có quy định về quyền lập hội, quyền biểu tình. Cụ thể, Điều 25 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.
Với xu hướng phát triển của nền dân chủ và là quốc gia yêu chuộng hòa bình, VN ngày càng thể hiện quyết tâm trong việc công nhận, tôn trọng và bảo đảm quyền con người. Dĩ nhiên, bên cạnh thành tựu nội luật hóa đã đạt được, chúng ta vẫn còn có điểm hạn chế nhất định. Quá trình xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền, các quy phạm quốc gia sẽ dần được quy định phù hợp với tất cả công ước quốc tế về quyền con người mà VN tham gia./.
St

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ TÌNH HÌNH NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

 Bản “Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền” ra đời cách đây 75 năm là dấu mốc quan trọng khẳng định khát vọng, mục tiêu chung và nhu cầu phổ quát của nhân loại về quyền con người. Ở Việt Nam, những tư tưởng và giá trị của Tuyên ngôn nhân quyền luôn được Đảng và Nhà nước ta coi trọng, thực thi đầy đủ, nghiêm túc, trách nhiệm. Thế nhưng, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại thường xuyên đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc, vu cáo tình hình nhân quyền để chống phá.

Lấy cớ diễn trò lố
Nhân quyền hay quyền của con người là những quyền tự nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào. Nhân quyền là danh từ trong sáng, dùng để chỉ một trong những giá trị căn cốt của loài người. Kỷ niệm Ngày Nhân quyền quốc tế (10/12) là dịp để Liên hợp quốc và các quốc gia thành viên tôn vinh những giá trị cao cả cùng những thành tựu đạt được trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người.
Với Việt Nam, những thành tựu ấy được minh chứng cụ thể qua việc không ngừng nâng cao đời sống, bảo vệ các quyền hợp pháp của người dân, đồng thời tích cực đóng góp cho nỗ lực thúc đẩy quyền con người trên toàn thế giới.
Song bất chấp thực tế mà nước ta đạt được trong bảo đảm, thúc đẩy quyền con người, hội nhóm, cá nhân phản động lưu vong ở nước ngoài, những tổ chức mượn danh “nhân quyền”, hãng truyền thông hải ngoại định kiến với Việt Nam lại dùng những chiêu bài xảo trá để đả phá. Trong đó cần nhận diện, đấu tranh qua những vấn đề sau:
Thứ nhất, mượn ngày Nhân quyền quốc tế, một số tổ chức thường ra thông báo, cáo trình bày tỏ quan điểm đánh giá sai sự thật về bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam. Trong đó, tổ chức Giám sát nhân quyền (HRW) “kêu gọi Việt Nam cải tổ gấp quyền con người trước kỳ kiểm định phổ quát sắp đến” nhằm xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm các luật lệ quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Mặc dù mang cái tên rất mỹ miều là “Giám sát nhân quyền” nhưng mọi hoạt động của tổ chức này đều thể hiện rõ tâm địa xấu xa, mưu đồ và động cơ chính trị đen tối, thấp hèn. Dù không có mặt ở Việt Nam, không khảo sát thực tiễn, không có những tài liệu chính thống, không hiểu được tình hình nhân quyền ở nước ta nhưng HRW lại luôn tự cho mình quyền phán xét về nhân quyền Việt Nam, kêu gọi Việt Nam “cần khẩn cấp cải tổ quyền con người”. Các thông tin mà HRW có được thực chất từ một vài tổ chức, cá nhân bất mãn, cơ hội chính trị cung cấp. Điều này cho thấy rõ âm mưu, thủ đoạn bôi nhọ hình ảnh đất nước, con người Việt Nam của HRW.
Thứ hai, trao giải thưởng nhân quyền cho các đối tượng có hoạt động chống phá Tổ quốc, xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc. Vào ngày 18/11/2023, tổ chức Mạng lưới nhân quyền Việt Nam (tiếng Anh: Vietnam Human Rights Network – VHRN) có trụ sở tại bang California (Mỹ) công bố cái gọi là “Báo cáo nhân quyền 2022-2023” để xuyên tạc kỳ thị tôn giáo, dân tộc đồng thời cổ vũ cho những đối tượng lợi dụng quyền tự do dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc tiến hành các hoạt động trái pháp luật, phá hoại đất nước. Đều đặn hằng năm, mạng lưới này còn tiến hành xét họp, bình chọn, công bố “Giải thưởng nhân quyền Việt Nam” để “tuyên dương thành tích tranh đấu bất bạo động cho lý tưởng nhân quyền tại Việt Nam”. Đối tượng nào có “thành tích” chống phá đất nước càng nhiều thì tỷ lệ được trao giải thưởng càng cao. Năm nay, các đối tượng Trần Văn Bang, Y Wô Niê, Lê Trọng Hùng – những kẻ đang phải chấp hành án phạt tù về các hoạt động chống phá đất nước được tổ chức này “vinh danh”, tán dương.
Cùng với tổ chức ngoại vi của mình là VHRN, lợi dụng ngày Nhân quyền quốc tế, tổ chức phản động Việt Tân cũng đăng đàn trên mạng xã hội tiến hành trao giải thưởng nhân quyền với tên gọi “Giải thưởng nhân quyền Lê Đình Lượng” cho các đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam để ca ngợi, cổ xúy cho các hoạt động chống phá Việt Nam. Năm nay Việt Tân đã tổ chức bình chọn, trao giải và xướng tên đối tượng Trương Văn Dũng.
Điểm chung của trò lố “Giải thưởng nhân quyền” là các đối tượng được các tổ chức này trao giải đều có các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, phỉ bảng, nói xấu chính quyền, thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, thể hiện thái độ thù ghét, bất mãn đối với Đảng, Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đằng sau trò lố đó là tìm kiếm nguồn tài chính hỗ trợ, đồng thời để cho các đối tượng trong nước bấu víu, tiếp tục tiến hành các hoạt động phá hoại Tổ quốc, nhân dân.
Thứ ba, không dừng lại ở trao “Giải thưởng nhân quyền”, các thế lực thù địch còn lồng ghép với thủ đoạn đòi thả tự do cho các đối tượng được gọi là “tù nhân lương tâm”. Thực chất, đây là các đối tượng có hành vi phạm tội, đối tượng phải chịu sự điều tra, truy tố, xét xử công khai, bị tuyên án và phải chấp hành án phạt tù khi có hành vi tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, phỉ báng chính quyền nhân dân, xâm hại đến quyền, lợi ích chính đáng của các tổ chức, cá nhân; thường xuyên kích động nhân dân chống đối chính quyền; soạn thảo, phát tán nhiều tài liệu bôi xấu chế độ. Ngoài ra, họ còn tổ chức khảo sát, lấy ý kiến về tình hình nhân quyền ở Việt Nam trên mạng xã hội; tự cho mình có sứ mệnh giải quyết những khó khăn, vướng mắc của người dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, kêu gọi các tổ chức quốc tế, chính phủ các nước can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam; phủ nhận những nỗ lực trong thúc đẩy quyền con người Việt Nam; đòi thay đổi thể chế chính trị…
Những âm mưu, thủ đoạn trên được tiến hành đều đặn và bung nở mạnh mẽ khi Liên hợp quốc, các tổ chức trực thuộc và các quốc gia thành viên tiến hành các hoạt động hướng đến kỷ niệm ngày Nhân quyền quốc tế. Các thế lực thù địch đã triệt để khai thác các tính năng của Internet, truyền thông, mạng xã hội nhằm làm méo mó bản chất, giá trị ngày Nhân quyền quốc tế. Mục đích của họ nhằm gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự; quy kết, vu cáo “Việt Nam không có nhân quyền”, “chính quyền không bảo đảm quyền con người”, từ đó muốn đưa Việt Nam đi theo các lối nhân quyền kiểu phương Tây; phớt lờ những sáng kiến đóng góp của Việt Nam cho các hoạt động nhân quyền của Liên hợp quốc…
Nhân quyền không phải là tuyệt đối
Quyền con người là những quyền tự nhiên của con người mà không có bất cứ ai, tổ chức, thể chế chính trị nào có thể tước bỏ. Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc đã đưa ra quan niệm về quyền con người, đó là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những tự do cơ bản của con người.
Như vậy, quyền con người được xác định như là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ. Những chuẩn mực này kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ áp dụng với con người và dành cho tất cả mọi người. Nhờ có những chuẩn mực này, mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới được bảo vệ nhân phẩm và mới có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con người. Cho dù cách nhìn nhận có những khác biệt nhất định, một điều rõ ràng là quyền con người đều mang tính phổ quát, là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và trong mọi giai đoạn lịch sử.
Tuy nhiên, dưới mọi góc độ nghiên cứu quyền con người đều không có tính tuyệt đối, trong lĩnh vực nhân quyền, giữa quyền và nghĩa vụ luôn song hành, thống nhất với nhau, không tách rời nhau. Trong bất kỳ thể chế chính trị nào hiện nay, quyền con người không được xem là quyền tuyệt đối mà bị giới hạn bởi các quy định của pháp luật để ngăn cản, điều chỉnh, xử lý những hành vi lạm dụng quyền của cá nhân, tổ chức này xâm hại đến quyền lợi của cá nhân, tổ chức, Nhà nước. Một số tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền nhưng thiếu thiện chí với Việt Nam đã không hiểu hoặc cố tình phớt lờ các mối quan hệ trên nên thường có cái nhìn phiến diện, sai lệch, thiếu khách quan đối với vấn đề nhân quyền ở nước ta.
Bàn về vấn đề quyền và nghĩa vụ, tại khoản 1, Điều 29, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 quy định: “Tất cả mọi người đều có những nghĩa vụ với cộng đồng mà ở đó nhân cách của bản thân họ có thể phát triển một cách tự do và đầy đủ”. Theo khoản 2 điều này thì mỗi người trong khi hưởng thụ các quyền và tự do cá nhân đều phải chịu những hạn chế do luật định nhằm bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng các quyền và tự do của người khác…
Ở Việt Nam, khái niệm về quyền con người được thể hiện đậm nét trong bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng công bố tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Năm 1945, ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được khai sinh (nay là Cộng hòa XHCN Việt Nam), quyền con người, quyền công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946 và sau đó tiếp tục được khẳng định, mở rộng trong các Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992, 2013. Hiến pháp năm 2013 là đạo luật gốc, là văn kiện pháp lý cao nhất của Nhà nước Việt Nam đã ghi nhận một cách toàn diện, cụ thể các quyền con người và nội dung các quyền này đã được trình bày xuyên suốt trong các chương, mục của Hiến pháp.
Theo đó, tại Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Đồng thời, cũng tại Điều 14 nêu rõ: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Tại Điều 15, Hiến pháp 2013 quy định rõ nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân: “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội; việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”.
Trên cơ sở Hiến pháp, xuất phát từ quan điểm không ngừng thúc đẩy quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo đảm các quyền con người được tôn trọng và thực thi một cách trọn vẹn nhất. Hệ thống pháp luật Việt Nam đã thể hiện đầy đủ tất cả các quyền cơ bản, phổ biến của con người được nêu trong Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới năm 1948 và các công ước quốc tế khác của Liên hợp quốc về quyền con người.
Mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước Việt Nam đều lấy con người là trung tâm, phấn đấu cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, phát triển đất nước phồn vinh, tất cả vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Điều này đã được các văn kiện qua các kỳ đại hội Đảng chỉ rõ, đặc biệt Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”./.
St

Nhân lên những tấm gương điển hình học theo Bác

 Ngày 15/5/2016, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 05-CT/TW về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Qua thực tiễn triển khai cho thấy phong trào này có ý nghĩa rất lớn trong việc thay đổi nhận thức, hành động của cán bộ, đảng viên; đồng thời giúp cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng ăn sâu vào đời sống tinh thần, tư tưởng của nhân dân. Tuy nhiên, các thế lực thù địch không ngừng tung ra những luận điệu phủ nhận giá trị, ý nghĩa của phong trào, chúng ta cần phải tỉnh táo nhận diện và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Thời gian qua, học và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nhiều thầy cô giáo tuổi đời còn rất trẻ nhưng không quản ngại khó khăn, quyết tâm mang con chữ đến với học trò vùng cao. (Trong ảnh: Cô Nguyễn Vân Nhi, giáo viên Trường phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở Tô Hiệu (xã Cư San, huyện M' Đrăk, tỉnh Đắk Lắk) và các học sinh).

Thời gian qua, học và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nhiều thầy cô giáo tuổi đời còn rất trẻ nhưng không quản ngại khó khăn, quyết tâm mang con chữ đến với học trò vùng cao. (Trong ảnh: Cô Nguyễn Vân Nhi, giáo viên Trường phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở Tô Hiệu (xã Cư San, huyện M' Đrăk, tỉnh Đắk Lắk) và các học sinh).

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị không chỉ đưa ra các luận điệu xuyên tạc thân thế, cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn phủ nhận phong trào “Đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Các luận điệu xuyên tạc, chống phá tập trung trên những bình diện chính sau:

Một là, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh là sự “bắt chước”, “sao chép” chủ nghĩa Mác-Lênin, do đó khi áp dụng vào Việt Nam chỉ là sự “khiên cưỡng”, “gán ghép” nên việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh hoàn toàn mang tính hình thức theo kiểu “hô hào khẩu hiệu”.

Hai là, dù thừa nhận tư tưởng Hồ Chí Minh là “kim chỉ nam” cho cách mạng Việt Nam trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc nhưng các thế lực thù địch cho rằng, hiện nay thực tiễn đã thay đổi nên tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã “lỗi thời”, không còn phù hợp. Từ đó các đối tượng cho rằng, việc Bộ Chính trị đề ra Chỉ thị 05-CT/TW là sai lầm, sẽ không có kết quả.

Ba là, các phần tử chống phá cố tình bóp méo, đánh đồng hai khái niệm “học tập” và “bắt chước”, từ đó dẫn dắt vấn đề theo hướng muốn học tập Hồ Chí Minh thì phải “bắt chước” giống Người, từ hình thức ăn mặc đến lời nói, việc làm, lối sống. Từ đó chúng xuyên tạc việc học tập, làm theo tấm gương Hồ Chí Minh bản chất là xóa nhòa sự khác biệt giữa mọi người, mục đích của phong trào là hình thành một thế hệ làm theo một hình mẫu do người khác định hướng, không được tự do khám phá và thể hiện khả năng bản thân. Lợi dụng sai phạm, khuyết điểm của một số cá nhân, tổ chức, các đối tượng lập tức vin vào đó để cáo buộc, vu khống rằng càng thi đua học tập theo gương Hồ Chí Minh, càng lộ nhiều quan chức tham nhũng và những hạn chế của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam…

Những luận điệu trên lộ rõ ý đồ xuyên tạc tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, “hạ bệ thần tượng”, từ đó phủ nhận giá trị, ý nghĩa tích cực của cuộc vận động “Đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” do Đảng ta phát động. Sâu xa hơn, mục đích thật sự của các thế lực thù địch là kích động tư tưởng chống phá Đảng, Nhà nước, chống phá chế độ, chia rẽ mối liên hệ giữa Đảng và quần chúng nhân dân. Trước những diễn biến phức tạp của tình hình cho thấy chúng ta không thể xem thường âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và cần nâng cao cảnh giác, có biện pháp đấu tranh, phòng ngừa hiệu quả.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng cao đẹp nhất của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Người là kết tinh rạng ngời của đạo đức, trí tuệ, khí phách, lương tri của dân tộc và thời đại. Trọn cả cuộc đời, Người dâng hiến cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Do đó, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là việc làm cần thiết, là nhiệm vụ hết sức quan trọng, thường xuyên, không thể thiếu đối với toàn Đảng, toàn dân ta; giúp cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh; giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên luôn biết “tự soi”, “tự sửa”, “nêu gương”, “dám nghĩ”, “dám làm”, “dám chịu trách nhiệm”.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khuyến khích khả năng độc lập tư duy, sáng tạo và khám phá, Người luôn đề cao sự tự học, tự nghiên cứu và học hỏi, khuyến khích mọi người phát triển trí tuệ và tư duy sáng tạo của mình. Tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ được cả dân tộc Việt Nam tôn vinh mà còn được đông đảo bạn bè trên khắp thế giới ghi nhận và đánh giá cao.

Chủ tịch Hội đồng hòa bình thế giới, ông Romesh Chandra đánh giá: “Bất cứ nơi nào nhân dân chiến đấu cho độc lập và tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ của Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu nhân dân chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ của Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ đâu, nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ của Hồ Chí Minh bay cao”. Điều đó phần nào khẳng định giá trị, ý nghĩa không thể phủ nhận của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Thời gian qua, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả. Cuộc vận động đã trở thành phong trào ý nghĩa, được triển khai sâu rộng trong toàn hệ thống chính trị. Từ bắc đến nam, từ đồng bằng đến miền núi, hải đảo xa xôi, đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân điển hình “học Bác”, “noi gương Bác”; sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, thách thức, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, góp sức cho sự phát triển đất nước. Không chỉ có cán bộ, đảng viên noi gương mà đông đảo quần chúng nhân dân thuộc mọi giai tầng xã hội cũng ra sức học tập theo tấm gương đạo đức, phong cách của Bác.

Báo cáo tại Hội nghị toàn quốc đánh giá tình hình thực hiện Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XIII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” (Kết luận số 01) ngày 12/6/2023 cho thấy: tính đến tháng 4 năm 2023, trên cả nước có 25.525 mô hình khác nhau trong học tập và làm theo Bác. Các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương mở các đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng với nhiều chủ đề sâu sắc như: “Tự soi, tự sửa”, “Danh dự là điều thiêng liêng cao quý nhất”; tăng cường kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, đảng viên trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, siết chặt kỷ luật, kỷ cương nội vụ. Qua đó, nâng cao ý thức tự giác, trách nhiệm trong mỗi lời nói, việc làm của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy đảng, chính quyền đã đạt được những kết quả rõ nét.

Cũng từ phong trào ý nghĩa này đã xuất hiện những tấm gương bình dị mà cao quý trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Như câu chuyện của một cán bộ hưu trí tuy đã ngoài 80 tuổi nhưng vẫn không một ngày ngơi nghỉ với công tác khuyến học, khuyến tài, vận động nhân dân xây dựng “dòng họ học tập”, “tổ dân phố học tập”. Đó là những thầy cô giáo tuổi đời còn rất trẻ nhưng không quản ngại khó khăn gian khổ, dũng cảm vượt núi, băng rừng, đưa học trò tới trường, ngoài việc dạy chữ còn chăm lo từng bữa ăn, giấc ngủ cho các em. Đó là những y bác sĩ sẵn sàng từ bỏ cuộc sống phồn hoa đô thị để về các thôn bản khó khăn ở vùng sâu, vùng xa chăm sóc sức khỏe cho bà con nhân dân, mang đến nụ cười cho những trẻ em khuyết tật. Đó là những cán bộ, chiến sĩ sẵn sàng luôn vượt mọi hiểm nguy để có mặt kịp thời hỗ trợ đồng bào mỗi khi gặp bão lũ, thiên tai...

Những tấm gương điển hình trong học tập và làm theo Bác đã truyền cảm hứng rất lớn trong cộng đồng, để từ đó tiếp tục nhân lên những phong trào, cá nhân tiên tiến, điển hình, có những việc làm ý nghĩa cho xã hội. Điều đó chứng tỏ phong trào học tập, làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã ngày càng ăn sâu, bám rễ vào đời sống tinh thần, tư tưởng, tác động tích cực đến hành vi của mọi tầng lớp nhân dân; khơi dậy và tạo động lực cho mọi giai tầng trong xã hội phát huy được năng lực, ý chí, bản lĩnh của mình và đóng góp ngày càng nhiều cho sự phát triển của đất nước. Mỗi tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến đó là “những bông hoa đẹp”, đang từng ngày, từng giờ vun góp, tạo ra “rừng hoa đẹp” cho đất nước.

Những kết quả đã đạt được thời gian qua cho thấy cuộc vận động “Học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” đã tạo nên những dấu ấn nổi bật cả trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền, lan tỏa, tổ chức thực hiện… Những kết quả tích cực này đã góp phần đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các tổ chức, cơ quan, đơn vị; xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có trách nhiệm và động cơ đúng đắn, tiên phong, gương mẫu, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần tạo ra những đột phá trong việc phát triển kinh tế - xã hội.

Thời gian tới, để cuộc vận động ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất, có hiệu quả hơn, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, các cấp ủy đảng, chính quyền và các cơ quan, đơn vị cần phát huy những kết quả đã đạt được trong giai đoạn vừa qua, tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân cần tiếp tục nỗ lực phấn đấu, không ngừng nhân lên những điều tốt đẹp, tiếp tục lan tỏa và góp phần làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng thấm sâu, phát huy giá trị và thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc trong đời sống xã hội./.

LHQ-ST

BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIÁO DỤC VÙNG SÂU, VÙNG XA: TRẺ EM GÁI CÒN THIỆT THÒI

 Theo TS Trương Thúy Hằng, Phụ trách bộ môn giới trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, Học viện Phụ nữ Việt Nam, chúng ta đã có những bước tiến đáng kể về bình đẳng giới trong giáo dục.

TS Trương Thúy Hằng cho rằng, hiện trẻ em gái được đi học nhiều hơn, hiện tượng tảo hôn ở miền núi đã giảm qua các năm. Tuy nhiên, trẻ em gái vùng sâu, vùng xa vẫn là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi hơn so với trẻ em trai trong tiếp cận giáo dục.
Trẻ em gái vùng sâu, vùng xa còn thiệt thòi
Bình đẳng giới trong Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) là nguyên tắc quan trọng của nhiều quốc gia. Nguyên tắc này đề cập đến việc đảm bảo cả nam và nữ đều được cung cấp cơ hội học tập và phát triển mà không bị giới tính làm hạn chế. Theo bà, vấn đề bình đẳng giới trong lĩnh vực này ở nước ta được cải thiện nhiều so với trước đây chưa?
- Xét theo chiều dài lịch sử, bình đẳng giới (BĐG) nói chung và bình đẳng giới trong giáo dục đã được cải thiện rất nhiều so với trước đây, theo hướng ngày càng tích cực hơn.
Ở chế độ phong kiến, phụ nữ và trẻ em gái hầu như không có cơ hội học tập, nâng cao trình độ, với quan niệm "đàn bà, con gái học nhiều để làm gì?".
Sau cách mạng Tháng Tám, điều này đã hoàn toàn thay đổi ở nước ta. Trong tuyên ngôn độc lập, bác Hồ đã một lần nữa khẳng định rõ chân lý: "tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng".
Bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng khẳng định ở Điều 6: "Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa". Điều thứ 9: "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện". Đây là một bước tiến mang tính đột phá về bình đẳng giới nói chung, bình đẳng giới trong giáo dục nói riêng.
Tuy nhiên, sau cách mạng, do điều kiện, bối cảnh khác nhau, quan niệm nho giáo, chế độ gia trưởng còn tồn tại…, là những rào cản khiến cho bình đẳng giới nói chung, bình đẳng giới trong giáo dục và đào tạo nói riêng vẫn còn tồn tại những khác biệt giới, khuôn mẫu giới, khoảng cách giới, thậm chí là những định kiến giới.
Về bình diện chung, phụ nữ, nam giới, trẻ em trai, trẻ em gái có quyền như nhau trong tiếp cận giáo dục, nhưng còn nhiều khác biệt về quyền tự do lựa chọn cơ hội học lên cao, hay học những ngành nghề mà mình yêu thích…
Thậm chí vẫn còn hiện tượng trẻ em gái ở những vùng núi xa xôi chịu thiệt thòi nhiều hơn so với trẻ em trai trong tiếp cận giáo dục, học tập nâng cao trình độ.
Cụ thể BĐG trong giáo dục ở các vùng miền (nhất là vùng sâu, vùng xa) đã được cải thiện như thế nào, thưa bà?
- Những thông tin chung thời gian gần đây của các viện nghiên cứu, cơ quan báo chí cho thấy, chúng ta có những bước tiến đáng kể về vấn đề này. Chắc chắn trẻ em gái được đi học nhiều hơn, hiện tượng tảo hôn đã giảm qua các năm.
Tuy nhiên, như trên đã nói, trẻ em gái ở những vùng sâu, vùng xa vẫn là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi hơn so với trẻ em trai trong tiếp cận giáo dục, học tập nâng cao trình độ. Tình trạng tảo hôn vẫn tồn tại.
Nếu phải lựa chọn và hy sinh việc tiếp cận với giáo dục ở bậc học cao hơn, trẻ em gái vẫn là nhóm có nguy cơ nhiều hơn và trẻ em trai cũng có những khó khăn nhất định.
Bởi vậy, hiện tại, TW Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đang triển khai Dự án 8 "Thực hiện bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em".
Giáo dục là một trong những cách thức đạt được bình đẳng giới.
Trong một số sách giáo khoa trước đây, vẫn còn hình ảnh phụ nữ lao động tảo tần sớm hôm, còn nam giới là hình ảnh công an, bác sĩ, kỹ sư. Bà đánh giá điều này như thế nào?
- Điều này đã được cải thiện, tuy nhiên chưa triệt để. Chúng ta vẫn thấy những hình ảnh "chị lao công đêm đông quét rác", hay "mẹ đi làm, từ sáng sớm, dậy thổi cơm, mua thịt cá"…
Phụ nữ vẫn gắn với hình ảnh của việc nhà, những công việc chăm sóc không lương, những công việc có tính chất chuyên môn thấp.
Hình ảnh minh họa về phụ nữ vẫn gắn với hình ảnh mềm mại, yếu đuối, hy sinh…, với cơ hội hạn hẹp và trình độ chuyên môn thấp hơn so với nam giới.
Nam giới vẫn có xu hướng gắn với hình ảnh mạnh mẽ, có quyền lực, có sức ảnh hưởng, có khả năng bảo vệ, che chở cao.
Vai trò của giáo viên trong lồng ghép bình đẳng giới ở giáo dục rất cần thiết. Theo bà, họ cần làm gì để lồng ghép kiến thức này vào các bài giảng?
- Lồng ghép giới là một khái niệm được nhắc đến kể từ sau Cương lĩnh hành động Bắc Kinh năm 1995 được thông qua tại Hội nghị thế giới về Phụ nữ lần thứ 4.
Khuyến nghị là vậy nhưng không phải ai cũng hiểu cặn kẽ về khái niệm này. Đó không đơn giản là một khái niệm, một hành động, giải pháp… Đó là chiến lược nhằm đạt được mục tiêu bình đẳng giới.
Tất nhiên, chúng ta cũng không nhất thiết luôn yêu cầu quá cao, không phải lúc nào cũng thực hiện được cả chiến lược. Bởi vậy, một ý tưởng lồng ghép giới, một hành động thiết thực thúc đẩy bình đẳng giới cũng sẽ tạo nên những hiệu ứng tích cực.
Vai trò của giáo viên trong lồng ghép bình đẳng giới ở giáo dục là cần thiết, quan trọng, không thể thiếu. Nhưng để lồng ghép giới vào trong các bài giảng, cần nhiều yếu tố hơn là dừng lại ở quan điểm.
Nói tới các kiến thức về giới, không chỉ nói tới những khái niệm mà cần có những kiến thức sâu hơn liên quan tới phân tích giới, lồng ghép giới trong các khía cạnh, lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội và nhiều kiến thức khác…
Hơn nữa, ngay cả những khái niệm cơ bản về giới, không phải ai cũng hiểu đầy đủ, chính xác. Bởi vậy, Chính phủ mới tiếp tục thông qua Nghị quyết Ban hành Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030.
Trong các mục tiêu cụ thể của chiến lược, ở chỉ tiêu 1, mục tiêu 5 ghi rõ, nội dung về giới, bình đẳng giới được đưa vào chương trình giảng dạy trong hệ thống giáo dục quốc dân và được giảng dạy chính thức ở các trường sư phạm từ năm 2025 trở đi. Đây là chủ trương cần thiết và hết sức đúng đắn.
Như vậy, giáo viên không chỉ thực hiện chủ trương này mà cần có kiến thức, cập nhật kiến thức về giới và phát triển.
Điều đó không chỉ thông qua việc tự học, mà các nhà trường, đặc biệt các trường sư phạm, cần nghiên cứu để đưa học các học phần liên quan đến chuyên ngành giới và phát triển vào giảng dạy.
Cùng với thời gian đó, tôi nghĩ sinh viên ngành Giới và Phát triển là nguồn nhân lực sẵn có, được đào tạo bài bản, có năng lực tốt để thực hiện chiến lược quốc gia về BĐG của Chính phủ, đồng thời đáp ứng nhu cầu thực tế về lồng ghép giới trong các trường học hiện nay.
Từ những kiến thức về BĐG được thầy cô truyền đạt thông qua nhiều phương tiện khác nhau, theo ông/bà, phần nào thay đổi hành vi ứng xử của công dân trong BĐG?
- Để thay đổi hành vi ứng xử của công dân theo hướng bình đẳng giới, chúng ta cần tổng thể các chiến lược, giải pháp, biện pháp khác nhau, và cần thực hiện liên tục.
Chính sách, luật pháp là một trong những công cụ quan trọng để điều chỉnh hành vi mỗi người. Chúng ta cần phải chú trọng việc hoàn thiện và tuyên truyền các chính sách về bình đẳng giới, liên quan tới bình đẳng giới.
Nhưng trên thực tế, thực hành trong đời sống xã hội, trong học tập lại là những hình ảnh sống động và dễ tạo hiệu ứng lan tỏa hay học hỏi, bắt chước nhau.
Cá nhân tôi nghĩ, giáo dục là một trong những cách thức, biện pháp, con đường quan trọng nhất để đạt được bình đẳng giới.
Khi chúng ta nói đến nâng cao nhận thức, kiến thức về giới, chúng ta nói đến giáo dục. Giáo dục có thể theo nhiều cách khác nhau. Nhưng chắc chắn, nhờ có giáo dục mà con người hoàn thiện thêm nhân cách mỗi ngày, trưởng thành hơn và tạo dựng thêm được nhiều giá trị tốt đẹp hơn cho đời, trong đó có giá trị về tình thần bình đẳng giới và phát triển bền vững.
Trân trọng cảm ơn chia sẻ của bà./.
St

CÀNG THI ÍT CÀNG PHẢI HỌC TOÀN DIỆN

 Với phương thức thi tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) từ 2025 chỉ còn 4 môn thi, quan niệm về khối thi truyền thống không còn nữa. Trường phổ thông sẽ phải điều chỉnh cách dạy học để hướng nghiệp chính xác, mà học sinh không học lệch; còn trường đại học cũng phải tính toán thay đổi các tổ hợp xét tuyển.

Cơ hội cho giáo dục toàn diện
Từ năm 2025, với 2 môn bắt buộc là Toán, Ngữ văn và 2 môn lựa chọn đã tạo ra 36 tổ hợp môn để học sinh lựa chọn thi tốt nghiệp THPT. Phương án này giúp kỳ thi nhẹ nhàng hơn khi thí sinh được lựa chọn môn học yêu thích, sở trường để thi tốt nghiệp; đồng thời tư duy dạy và học cũng thay đổi, học sinh thấy được giá trị của các môn học cho cuộc sống và tương lai bản thân, chứ không chỉ học vì mục tiêu thi cử.
Tuy nhiên, việc thi tốt nghiệp THPT chỉ 2 môn tự chọn khiến nhiều người lo ngại sẽ dẫn đến tình trạng học sinh học lệch. Chia sẻ về điều này, thầy Trần Văn Hân, Hiệu trưởng Trường THPT Mỹ Quý (Đồng Tháp) cho rằng không cần quá lo lắng. Hiện nay học sinh quan tâm nhiều hơn đến tuyển sinh đại học. Xu hướng các trường đại học tổ chức tuyển sinh riêng bằng bài thi đánh giá năng lực, đánh giá tư duy ngày càng nhiều. Muốn có nhiều cơ hội xét tuyển buộc học sinh phải có kiến thức, năng lực toàn diện. Việc đổi mới dạy học ở các môn không bắt buộc thi là một cơ hội để các trường khẳng định vai trò trong việc giáo dục toàn diện cho học sinh.
Những năm qua, điểm thi môn tiếng Anh của học sinh ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh luôn đứng ở tốp đầu trong kỳ thi tốt nghiệp THPT. Môn học này không chỉ là thế mạnh của học sinh thành phố mà hiện nay nhiều trường đại học cũng rất chú trọng đến trình độ tiếng Anh của thí sinh khi xét tuyển đầu vào. Theo một giáo viên chủ nhiệm lớp 11 của Trường THCS và THPT Nguyễn Tất Thành (Hà Nội), tuy không khảo sát chính thức nhưng thăm dò sơ bộ đa số học sinh sẽ chọn môn Tiếng Anh là môn lựa chọn và sẽ cân nhắc môn lựa chọn tiếp theo sau khi các trường đại học công bố phương thức xét tuyển.
Giảm số môn thi khiến dư luận lo lắng nhiều trường sẽ giảm bớt tiết môn học không thi dẫn tới không thực hiện đủ chương trình. Ông Huỳnh Văn Chương, Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) cho hay: “Mặc dù phương án thi 2+2 chỉ thi 4 môn, nhưng việc xét tốt nghiệp yêu cầu phải có kết quả học tập của tất cả các môn học qua việc đánh giá quá trình, hiện nay tỷ lệ điểm thi tốt nghiệp và điểm quá trình là 7:3. Bộ GD-ĐT sẽ nghiên cứu kỹ lưỡng có tăng hay không tỷ lệ điểm quá trình cũng như ngưỡng điểm trung bình của đánh giá quá trình mỗi môn học như điều kiện để được thi tốt nghiệp.
PGS, TS Trần Xuân Nhĩ, Phó chủ tịch thường trực Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ GD-ĐT đánh giá cao về tính mềm dẻo, tăng sự lựa chọn cho học sinh khi có 2 môn thi lựa chọn trong 8 môn học ở lớp 12, trong đó có cả những môn chưa bao giờ được chọn thi như tin học, công nghệ. Điều này giúp học sinh có lựa chọn sát hơn theo sở trường, định hướng nghề nghiệp và cũng xóa dần tâm lý “môn chính, môn phụ” trong trường phổ thông.
Điều chỉnh tổ hợp xét tuyển
Theo thống kê của Bộ GD-ĐT, trung bình các trường đại học dành khoảng 50-60% chỉ tiêu tuyển sinh bằng điểm thi tốt nghiệp. Với phương án thi mới, thí sinh bị hạn chế số lượng tổ hợp xét tuyển hơn. Nhiều giáo viên chia sẻ, chuyện thi tốt nghiệp sẽ không mấy khó khăn vì với lực học từ trung bình trở lên, học sinh có thể đạt kết quả đủ để tốt nghiệp. Tuy nhiên, với 2 môn lựa chọn, số tổ hợp để xét tuyển đại học của mỗi thí sinh sẽ giảm, chỉ có 1 đến 2 tổ hợp trong tay, khả năng thay đổi khối thi khi nộp nguyện vọng sẽ khó hơn. Do đó, khâu hướng nghiệp phải phù hợp, chính xác ngay từ đầu. Môn Trải nghiệm-Hướng nghiệp trong trường phổ thông phải thực chất hơn để học sinh có thể xét tuyển đúng vào ngành nghề mình yêu thích. Thời gian tới các trường đại học sẽ điều chỉnh việc tuyển sinh, nhưng ngay từ lúc này, học sinh phải xác định thật kỹ việc chọn tổ hợp thi vì điều này sẽ ảnh hưởng đến lựa chọn ngành nghề về sau.
Mặt khác, các trường đại học sẽ đẩy mạnh tuyển sinh bằng các phương thức khác, kỳ thi đánh giá năng lực, kỳ thi đánh giá tư duy hoặc các kỳ thi riêng của các đơn vị. Nếu học sinh nào muốn nhiều cơ hội thì phải thi nhiều hơn, kỳ thi tốt nghiệp THPT không phải để “gánh” nhiều vai như hiện nay.
PGS, TS Nguyễn Phong Điền, Phó giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội cho rằng, việc giảm số môn thi trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025 có thể khiến các trường đại học gặp khó khăn trong việc cân đối tổ hợp xét tuyển, bởi số lượng thí sinh chọn theo tổ hợp tự nhiên truyền thống như A00, B00 có thể giảm.
Với 4 môn thi, số lượng tổ hợp xét tuyển vào đại học từ năm 2025 khả năng sẽ ít và đơn giản hơn, chỉ bằng khoảng 1/3 số lượng tổ hợp dùng xét tuyển hiện nay, Điều này có thể dẫn đến sự thay đổi trong quan niệm về khối thi truyền thống. Theo GS, TS Nguyễn Quý Thanh, Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội), nếu các trường đại học tiếp tục sử dụng kết quả thi tốt nghiệp THPT để xét tuyển, họ sẽ phải thay đổi cách sắp xếp các tổ hợp./.
St

ĐẢNG TA ĐỦ NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO ĐỂ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC

 Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTNTC) tại Việt Nam những năm gần đây đã đạt kết quả quan trọng, tạo cơ sở, nền tảng vững chắc trong xây dựng hệ thống chính trị, môi trường xã hội trong sạch, lành mạnh, củng cố được niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ, được quốc tế đánh giá cao.

Thế còn tại Việt Nam, một quốc gia do một đảng lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam thì sao? Thực tế cho thấy, bản chất cách mạng, tính tiền phong và năng lực lãnh đạo, tổ chức thực tiễn là nhân tố cơ bản quyết định, bảo đảm Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ khả năng để chống tham nhũng hiệu quả.

Theo báo cáo của TI, trong lúc tình hình không được cải thiện hoặc tồi tệ hơn ở 86% các quốc gia trong bảng xếp hạng thì chỉ số CPI của Việt Nam liên tục được cải thiện. Việt Nam là một trong những quốc gia có tiến bộ nổi trội, với 42 điểm, tăng tới 9 điểm kể từ năm 2018.

Đó là kết quả của cả một quá trình PCTNTC rất quyết liệt do Đảng ta lãnh đạo. Với nhận thức, tham nhũng là nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ, Đảng ta xác định đấu tranh PCTNTC là một việc làm cần thết, tất yếu, hợp lòng dân và xu thế phát triển của nhân loại. Vì vậy, tiếp nối kết quả từ những nhiệm kỳ trước, Đại hội XIII của Đảng đề ra phương châm: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn”.   

Dấu ấn nổi bật là việc Bộ Chính trị quyết định bổ sung, mở rộng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng để chỉ đạo cả công tác phòng, chống tiêu cực. Từ đây, cuộc đấu tranh PCTNTC bước sang giai đoạn mới, đi vào chiều sâu, gắn kết chặt chẽ hơn giữa “xây” và “chống”, giữa PCTNTC với xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Ngay sau đó, Ban chỉ đạo đã quyết định đưa một số vụ việc tiêu cực vào diện theo dõi, chỉ đạo, qua đó, các cơ quan chức năng đã làm rõ, xử lý nghiêm hành vi tiêu cực của nhiều cán bộ, đảng viên.

Công tác điều tra, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh. Các cơ quan chức năng đã chủ động phát hiện, quyết liệt đấu tranh, khởi tố, điều tra, xử lý nhiều vụ án tham nhũng, tiêu cực rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, xảy ra trên diện rộng, trong các lĩnh vực chuyên môn sâu, hoạt động khép kín, vi phạm có tính hệ thống, có tổ chức, cả trong khu vực nhà nước và ngoài nhà nước.

Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, các cơ quan tiến hành tố tụng trong cả nước đã khởi tố, điều tra hơn 7.800 vụ án, hơn 15.200 bị can về tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế. Vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á đến nay đã khởi tố 30 vụ án, 109 bị can (trong đó 25 địa phương đã khởi tố 28 vụ án, 71 bị can); vụ án xảy ra trong lĩnh vực đăng kiểm đã khởi tố 80 vụ án, 613 bị can tại Cục Đăng kiểm Việt Nam, 98 trung tâm và chi cục đăng kiểm; vụ án xảy ra tại Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao) đã khởi tố 54 bị can... 

Qua xử lý các sai phạm liên quan đến tham nhũng, tiêu cực đã xử lý trách nhiệm chính trị của người đứng đầu trong việc để xảy ra vi phạm, khuyết điểm trong lĩnh vực được phân công quản lý, phụ trách theo đúng nguyên tắc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”. Đến nay, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã xem xét, cho thôi giữ chức vụ, cho nghỉ công tác, nghỉ hưu, bố trí công tác khác đối với 14 cán bộ diện Trung ương quản lý. Các địa phương đã bố trí công tác và thực hiện chính sách đối với 22 trường hợp cán bộ sau khi bị kỷ luật. Đảng ta đã “nói đi đôi với làm”, chống tham nhũng, tiêu cực đã “tắm từ trên đầu xuống”, không phải chỉ “tắm từ vai xuống” như có ý kiến băn khoăn, lo lắng thời gian trước.

Trước đây, trong một số vụ án tham nhũng, tiêu cực, việc điều tra, xử lý gặp khó khăn, vướng mắc, chậm tiến độ do có một số đối tượng liên quan bỏ trốn. Tuy nhiên, vừa qua, các cơ quan chức năng đã điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt, tuyên án xử phạt tù đối với cả những đối tượng đang bỏ trốn, như trong vụ án “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai, Công ty Cổ phần Tiến bộ quốc tế (AIC). Điều này sẽ tạo tiền đề để xử lý nhiều đối tượng bỏ trốn ở một số vụ án khác, là hồi chuông cảnh tỉnh, răn đe, dù có trốn ra nước ngoài cũng không thoát khỏi sự trừng phạt của pháp luật.

Tham nhũng chính sách là vấn đề nan giải với mọi quốc gia. Thời gian qua, Đảng ta đã chỉ đạo việc quan tâm phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực ngay từ khâu tham mưu, ban hành chính sách. Ban chỉ đạo Trung ương về PCTNTC đã chỉ đạo Đảng đoàn Quốc hội xây dựng, trình Bộ Chính trị ban hành quy định về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật.

Việc kiểm soát quyền lực, PCTNTC trong hoạt động của chính các cơ quan có chức năng PCTNTC được đẩy mạnh. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, các cơ quan chức năng đã xử lý kỷ luật hơn 300 cán bộ, công chức trong các cơ quan PCTNTC có sai phạm; nhiều trường hợp trong số đó bị xử lý hình sự. Cơ quan điều tra Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao đã khởi tố, điều tra hơn 40 vụ án tham nhũng, chức vụ, tiêu cực xảy ra trong hoạt động tư pháp. Đặc biệt là, đã xử lý kỷ luật đối với 3 lãnh đạo, nguyên lãnh đạo thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước. Từ đầu năm 2023 đến nay, đã khởi tố, điều tra 2 thiếu tướng công an, 15 cán bộ thanh tra, giám sát của các cơ quan: Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước, chánh thanh tra tỉnh...

Cùng với đó, để khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, sự ra đời của ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTNTC chính là nhân tố mới giúp công tác PCTNTC ở địa phương, cơ sở có sự chuyển biến tích cực. 

Như thế, có thể khẳng định luận điểm cho rằng “tham nhũng là căn bệnh kinh niên của chế độ xã hội chủ nghĩa, của chế độ một đảng cầm quyền” và “chế độ một đảng không chống được tham nhũng” là hoàn toàn sai cả về lý luận và thực tiễn. Tham nhũng gắn với cá nhân có quyền lực và tham nhũng tồn tại ở mọi chế độ có nhà nước vì nó luôn gắn với nhà nước và quyền lực. Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân nên xét về bản chất, không có cơ sở sinh ra tham nhũng. Tham nhũng, tiêu cực về bản chất là tàn dư của chế độ cũ, xã hội cũ, con người cũ. Chỉ những cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, nhưng thiếu tu dưỡng, rèn luyện mới sa vào chủ nghĩa cá nhân, thoái hóa, biến chất, rồi việc thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát của tổ chức, của nhân dân mới dễ làm phát sinh tham nhũng, tiêu cực.

Hiệu quả của việc PCTNTC đến đâu là do sức đề kháng của chế độ xã hội mới-xã hội chủ nghĩa, do năng lực của Đảng cầm quyền, do chất lượng hoàn thiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt phụ thuộc vào phẩm chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên./.

LHQ-ST