Thứ Tư, 13 tháng 12, 2023

Ngăn chặn sự xâm lăng văn hóa để góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

 Cách đây 10 năm, Nghị quyết số 28/NQ-TW ngày 25-10-2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” xác định: “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc phải đi đôi với việc kiên quyết ngăn chặn sự xâm lăng văn hóa, xâm nhập các sản phẩm văn hóa xấu độc, ngoại lai và thông tin độc hại”.

Kiên quyết ngăn chặn sự xâm lăng văn hóa, xâm nhập các sản phẩm văn hóa xấu độc. Trong ảnh: Người dân tộc Mông vẫn gìn giữ và phát huy văn hóa truyền thống trong đời sống hằng ngày. Ảnh minh họa: bienphong.com.vn

Kiên quyết ngăn chặn sự xâm lăng văn hóa, xâm nhập các sản phẩm văn hóa xấu độc. Trong ảnh: Người dân tộc Mông vẫn gìn giữ và phát huy văn hóa truyền thống trong đời sống hằng ngày. Ảnh minh họa: bienphong.com.vn

Vì vậy, có thể khẳng định rằng, chủ động bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, kiên quyết ngăn chặn, phòng, chống xâm lăng văn hóa cũng là một trong những giải pháp căn cơ để bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.

Âm mưu thâm độc, hệ lụy khôn lường

Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, sâu sắc, toàn diện trên mọi lĩnh vực, trong đó có văn hóa. Mở cửa, hội nhập, giao lưu và hợp tác nhằm tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hóa, văn minh của nhân loại, đồng thời phải bảo vệ, bảo toàn các giá trị tốt đẹp, cao quý của nền văn hóa Việt Nam.

Văn hóa là cội nguồn, là gốc rễ làm nên sức mạnh nội sinh của dân tộc. Với âm mưu thâm độc làm suy yếu sức mạnh nội sinh, thời gian qua, các thế lực thù địch tiến hành nhiều hoạt động xâm lăng văn hóa vào nước ta. Đây là thủ đoạn tinh vi nhằm triệt tiêu tận gốc những giá trị cốt lõi, nền tảng của dân tộc Việt Nam, từ đó truyền bá, tiêm nhiễm những sản phẩm văn hóa xấu độc, lai căng, làm chuyển biến nhận thức, thay đổi hành vi, lối sống của con người. Từ sự chuyển biến về văn hóa dần lan sang lĩnh vực chính trị, hình thành ý thức chống đối về chính trị, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, sự tồn vong của chế độ. Sự xâm lăng văn hóa tuy âm thầm nhưng có thể phá hủy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

Các thế lực thù địch tiến hành xâm lăng văn hóa hướng đến các tầng lớp nhân dân, trước hết là giới trẻ đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện nhân cách, dễ bị tác động bởi các yếu tố mới lạ, khác biệt.

Trong thời đại thông tin bùng nổ, các loại thông tin “bẩn” tràn lan cổ vũ, hô hào, kích động bạo lực, đồi trụy, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, phẩm chất tốt đẹp của con người. Các kênh xâm lăng văn hóa rất đa dạng, thông qua phát thanh, truyền hình, phim ảnh, xuất bản, quảng cáo... nhằm chiếm thị trường văn hóa của Việt Nam. Bên cạnh các sản phẩm văn hóa xấu độc xâm nhập, văn hóa ngoại lai cũng đang tràn vào nước ta một cách ồ ạt, khó kiểm soát.

Trong hoạt động giải trí, nhiều người bị cuốn hút và mải mê chạy theo những trào lưu du nhập từ nước ngoài như chụp ảnh quái đản, hút bóng cười, nuôi thú độc, hát cùng dao kéo... Lĩnh vực điện ảnh, truyền hình có tình trạng phim nước ngoài chiếm thời lượng phát sóng lớn, nhạc ngoại tràn lan ảnh hưởng đến thị hiếu của công chúng, sách dịch lậu trôi nổi trên thị trường trái với thuần phong mỹ tục dân tộc, dễ làm cho công chúng, nhất là người trẻ ngộ nhận, mất phương hướng thẩm mỹ tích cực, thậm chí bị tiêm nhiễm những “virus văn hóa” độc hại mà không hay biết.

Đề cập đến hậu quả của các sản phẩm văn hóa xấu độc, ngoại lai xâm nhập vào nước ta, Chỉ thị số 46-CT/TW ngày 27-7-2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội” đã cảnh báo: “Nhiều sản phẩm văn hóa độc hại từ bên ngoài đã xâm nhập vào nước ta bằng nhiều con đường, tác động rất xấu đến tư tưởng, đạo đức, lối sống, tâm lý, hành vi của một bộ phận nhân dân, nhất là thế hệ thanh thiếu niên; làm hủy hoại, xói mòn nền tảng và những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc”.

Không thờ ơ với nhiệm vụ bảo vệ nền độc lập dân tộc từ gốc rễ

Nghị quyết số 28/NQ-TW ngày 25-10-2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” đã xác định: “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc phải đi đôi với việc kiên quyết ngăn chặn sự xâm lăng văn hóa, xâm nhập các sản phẩm văn hóa xấu độc, ngoại lai và thông tin độc hại”.

Điều đó thể hiện rất rõ quan điểm của Đảng về vấn đề văn hóa là phải kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách nhằm giữ gìn và phát triển nền văn hóa Việt Nam trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, qua đó góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Văn hóa còn thì dân tộc còn”. Đại hội XIII nhấn mạnh một trong những quan điểm chỉ đạo cốt lõi và xuyên suốt là: “Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nền văn hóa và con người Việt Nam”; đồng thời “bảo vệ nền văn hóa, lợi ích quốc gia-dân tộc; kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin xấu độc, các văn hóa phẩm ngoại lai, độc hại, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị-xã hội, thuần phong mỹ tục”.

Để giữ gìn, bảo vệ, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam, đồng thời đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng các hoạt động văn hóa-nghệ thuật để xuyên tạc, chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta, cần quan tâm thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp sau.

Một là, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn hóa.

Bảo đảm các hoạt động văn hóa phát triển đúng định hướng chính trị của Đảng, khắc phục tình trạng buông lỏng sự lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng trên lĩnh vực văn hóa. Các cấp, các ngành, địa phương cần quan tâm chỉ đạo, giám sát nội dung tư tưởng chính trị trong các hoạt động văn hóa, ngăn chặn và làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng các hoạt động văn hóa hòng làm thay đổi hệ giá trị văn hóa Việt Nam.

Cùng với đó, cần quản lý chặt chẽ lĩnh vực hoạt động báo chí, truyền thông, xuất bản; chủ động ngăn chặn, thanh lọc, không để các loại ấn phẩm, văn hóa phẩm độc hại từ nước ngoài, thông tin xấu độc, xuyên tạc thẩm lậu vào Việt Nam.

Hai là, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về tầm quan trọng của văn hóa và mối nguy “xâm lăng văn hóa”.

Đã có lúc lĩnh vực văn hóa chỉ được nhận thức đơn giản, phiến diện là bề nổi, là “cờ đèn kèn trống”, mà không phải là nhu cầu thiết yếu của con người và là sức mạnh nội sinh của sự phát triển bền vững. Do vậy, cần đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức đúng đắn về lĩnh vực văn hóa, coi đó vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển kinh tế-xã hội. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với chính trị, kinh tế, xã hội trong chiến lược phát triển đất nước. Đó là cơ sở để các cấp, các ngành, các địa phương chú trọng quan tâm chăm lo phát triển lĩnh vực văn hóa một cách thiết thực, hiệu quả.

Thông qua hệ thống giáo dục quốc gia, các kênh thông tin để tuyên truyền, nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi công dân đối với mối nguy xâm lăng văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, từ đó nêu cao cảnh giác, nhận diện và kiên quyết đấu tranh với những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, hành vi phản cảm, trái thuần phong mỹ tục, đi ngược lại truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

Ba là, huy động sức mạnh của hệ thống chính trị để bảo vệ những giá trị truyền thống tốt đẹp và bản sắc văn hóa dân tộc.

UNESCO đã cảnh báo cho cả thế giới, hễ ở đâu phát triển kinh tế mà không quan tâm tới yếu tố văn hóa thì ở đó phát triển không bền vững và những hệ lụy đặt ra cho xã hội lớn hơn nhiều so với kinh tế. Mặc dù được cảnh báo từ lâu nhưng để vượt qua điều này không hề dễ dàng, nhất là những nước đang phát triển như Việt Nam, bản sắc văn hóa dân tộc rất dễ bị tổn thương.

Muốn giữ được gốc gác cội nguồn dân tộc và bản sắc văn hóa Việt Nam, ngoài trách nhiệm của ngành văn hóa và những người làm công tác văn hóa, đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực của các cấp, các ngành và cả cộng đồng, xã hội. Vì văn hóa gắn liền với mỗi con người, mỗi cộng đồng dân tộc, mỗi địa phương và gắn liền với các hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội, do đó cả hệ thống chính trị phải cùng nêu cao trách nhiệm trong việc tham gia giữ gìn, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

Bốn là, tăng cường sức mạnh nội sinh, tạo “sức đề kháng” để phòng, chống xâm lăng văn hóa.

“Sức đề kháng” văn hóa là thứ vaccine để phòng, chống các loại “virus văn hóa” xấu độc. Sức đề kháng mạnh sẽ là tấm khiên chắn vững vàng trước các luồng văn hóa “đen”, thông tin “bẩn” xâm nhập vào nước ta. Ngược lại, sức đề kháng yếu kém sẽ là điều kiện thuận lợi cho các loại “virus văn hóa” độc hại lây lan phát triển, làm băng hoại các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

Một trong những giải pháp căn cơ trong phòng, chống xâm lăng văn hóa hiện nay là chúng ta phải quan tâm xây dựng nền công nghiệp văn hóa, coi đây là một trong những lĩnh vực ưu tiên trong quá trình hội nhập quốc tế. Việc chú trọng xây dựng công nghiệp văn hóa không những góp phần mang lại nhiều sản phẩm văn hóa tốt đẹp, lành mạnh để phục vụ, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho các tầng lớp nhân dân trong nước, mà thông qua xuất khẩu những sản phẩm văn hóa đặc trưng của dân tộc ra thế giới, chúng ta còn thu được nhiều lợi ích kinh tế to lớn. Hơn thế, việc mở rộng thị trường xuất khẩu văn hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh về văn hóa ra nước ngoài còn góp phần khẳng định, nâng cao vị thế quốc gia, hình ảnh dân tộc trên trường quốc tế.

Theo khuyến cáo của UNESCO, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư dù có mang lại nhiều tiện ích văn minh cho cuộc sống con người và cộng đồng, song cũng dễ làm tâm hồn con người trở nên xơ cứng, văn hóa các dân tộc trở nên đơn điệu, nghèo nàn, thậm chí có nguy cơ lụi bại trước sự xâm lăng ngấm ngầm của nền công nghiệp văn hóa nghe nhìn phương Tây đang “tung hoành” hầu như khắp nơi mọi chốn trên thế giới.

Do đó, điều cốt tử để bảo tồn được bản sắc dân tộc là phải vừa chú trọng giữ gìn, vừa bồi đắp, nâng tầm bản lĩnh văn hóa, trí tuệ dân tộc để có đủ khả năng nhận diện, lọc bỏ những “virus văn hóa” lai căng độc hại đang hằng ngày, hằng giờ tác động, thẩm thấu vào xã hội. Nói cách khác, để văn hóa dân tộc Việt Nam trường tồn và phát triển thì vấn đề đặt ra cấp bách hiện nay là đừng để bị cuốn theo những làn sóng văn hóa nước ngoài mà thực chất là bị cuốn vào dòng xoáy xâm lăng văn hóa hết sức tinh vi, nguy hại bởi các thế lực thù địch và những tư tưởng sô vanh, bá quyền về văn hóa.

Với tư cách là lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu trung thành của Đảng, Nhà nước và nhân dân, Quân đội nhân dân Việt Nam phải là lực lượng tiên phong, xung kích, mũi nhọn trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh lực văn hóa, chủ động ngăn chặn các hiện tượng xâm lăng văn hóa từ sớm, từ xa, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không gian văn hóa, non sông gấm vóc của tổ tiên để lại, để dân tộc Việt Nam và nền văn hóa Việt Nam mãi trường tồn./.

LHQ-ST

KHÔNG LÀM NGƠ TRƯỚC BIỂU HIỆN SUY THOÁI "THÍCH ĐƯỢC ĐỀ CAO, CA NGỢI"

 Cổ kim đông tây từng đúc kết, những người có chức sắc, vị thế xã hội mà bỏ ngoài tai những lời trung thực, khảng khái và lại ưa thích những lời người khác tâng bốc, tung hô, nịnh nọt mình thì rất dễ bị ảo tưởng về quyền lực, từ đó có những hành xử thiếu minh mẫn, nhân văn. Nếu thời xưa, người dân luôn “dị ứng” và oán ghét những tên quan nịnh thần làm nhiễu nhương triều chính, thì thời nay, chúng ta cũng không thể làm ngơ trước một bộ phận cán bộ, đảng viên “thích được đề cao, ca ngợi”-một trong những biểu hiện suy thoái về đạo đức lối sống mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã chỉ ra.

Từ những lời cảnh báo thói đời siểm nịnh của người xưa
Nhìn lại lịch sử cho thấy, xu nịnh là cách sống “vào luồn, ra cúi” của một bộ phận quan nịnh thần trong các triều đại phong kiến thuở trước. Những kẻ nịnh thần này thường tài hèn đức mọn, nhưng lại khéo ăn khéo nói, biết vuốt ve, “vỗ về” vua chúa đúng lúc, đúng chỗ bằng những lời nói mỹ miều, ngọt ngào, cốt là để lấy lòng bề trên. Nếu bề trên (ông vua, bà chúa, ông quan) nào tỉnh táo, sáng suốt và kiên quyết lánh xa, loại trừ thói xu nịnh vờ vĩnh, giả tạo thì giữ được tư thế, tác phong, nhân cách chân chính của bậc quang minh chính đại, góp phần bảo đảm cho triều chính được uy nghiêm, sơn hà xã tắc được bình an. Ngược lại, những người ở ngôi cao chức trọng và nắm giữ nhiều quyền bính mà dễ ngả lòng, a dua, thậm chí “đắm chìm” trong những lời bợ đỡ, ton hót của những kẻ “ngồi lê đôi mách” thì dễ làm cho các mối quan hệ trong triều chính trở nên rối ren, mọi người sống nghi kỵ, oán thán lẫn nhau và khiến lòng dân thêm bất an, ly tán.
Danh nho Chu Văn An (1292-1370), một vị quan thanh liêm đời Trần, tận mắt chứng kiến cảnh nhiễu nhương, suy đồi từ trong triều chính có nguyên nhân sâu xa là do những quan nịnh thần gây ra. Vì vậy, Chu Văn An đã dâng “Thất trảm sớ”, đề nghị vua Trần Dụ Tông (1336-1369) xử chém 7 tên nịnh thần để góp phần lấy lại sự nghiêm minh trong vương triều và củng cố niềm tin cho thần dân. “Thất trảm sớ” của Chu Văn An dù không được nhà vua chấp thuận, nhưng mãi là lời cảnh báo, cảnh tỉnh muôn đời đối với hậu họa khôn lường của thói gian thần, nịnh bợ.
Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) là một đại thần triều Nguyễn. Khi thi đỗ đại khoa, ông được cùng các vị tiến sĩ đồng khoa triều kiến vua Thành Thái (1879-1954). Khi nhà vua đề nghị mỗi vị đề xuất góp ý kế sách để phục hưng quốc gia, Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm đã đọc 4 câu: “Tôn tộc đại quy/ Tôn lộc đại nguy/ Tôn tài đại thịnh/ Tôn nịnh đại suy”. Bốn câu này được hiểu là: “Tôn trọng nòi giống ắt đại hòa hợp/ Tôn trọng bổng lộc ắt đại nguy nan/ Tôn trọng tài năng ắt đại phồn thịnh/ Tôn trọng siểm nịnh ắt đại suy vong”.
“Tôn nịnh đại suy” hiểu rộng ra là bất cứ chỗ nào, thể chế nào, xã hội nào, nếu không loại bỏ mà lại coi trọng thói siểm nịnh thì sớm muộn chỗ đó, thể chế đó, xã hội đó cũng sẽ mục ruỗng, thối nát và đi đến bờ vực suy vong thảm hại.
Đến căn bệnh “thích được đề cao, ca ngợi” trong một bộ phận quan chức thời nay
Thực ra, đã sống trong cuộc đời này, ai cũng thích khen. Vì lời khen không chỉ là một trong những nghệ thuật giao tiếp để động viên, khích lệ nhau vươn lên trong cuộc sống mà còn là một phương thức giáo dục tinh tế, hiệu quả trong học tập, lao động, công tác. Nhưng điều quan trọng là phải khen đúng lúc, đúng chỗ, đúng mực, đúng đối tượng thì lời khen mới có giá trị. Còn nếu khen một cách tràn lan, gặp đâu khen đấy, khen không xuất phát từ tấm lòng chân thành, nhất là cấp dưới thường xuyên dành cho cấp trên những lời “ngọt như mía lùi” thì đó không phải là lời khen, mà thực chất là sự nịnh nọt, ton hót-một thái độ ứng xử không phù hợp với phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.
Đến nhiều tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp hiện nay, nếu ai tinh ý và chịu khó quan sát, lắng nghe thì trong các cuộc trò chuyện, có thể thấy một hiện tượng là quần chúng thích nói ý tứ cho vừa lòng lãnh đạo, cấp dưới hay “vuốt ve” cấp trên, nhân viên ưa nói tốt về thủ trưởng... Trong giao tiếp đời thường là vậy và trong sinh hoạt đảng, chính quyền, đoàn thể cũng như vậy.
Còn tồn tại hiện tượng trên một phần vì cấp dưới mang tâm lý cả nể những người có tuổi tác, chức sắc, vị thế công tác hơn mình; nhưng phần khác, cũng do tâm lý thích, thậm chí ham mê, ưa chuộng lời khen của những người có chức quyền. Mà khi cấp dưới khen thì nhiều khi là “khen cho được việc”, cố khen cho “mát mặt” cấp trên, chứ chưa hẳn là khen đúng lòng mình. Hay nói cách khác, đó là những lời khen mang tính chất “hối lộ tinh thần” hơn là lời khen thật sự ý nghĩa.
Không những vậy, một số quan chức còn lợi dụng báo chí, truyền thông để ca ngợi, tung hô mình vào những thời điểm "nhạy cảm", như: Đại hội, bầu cử, được bổ nhiệm chức vụ mới… Tinh vi hơn, có quan chức bỏ ra những khoản kinh phí “không hề nhỏ” để duy trì, “nuôi dưỡng” một bộ phận làm truyền thông chuyên nghiệp chỉ để “lăng xê”, đánh bóng tên tuổi cá nhân mình trong xã hội.
Cán bộ, đảng viên cần giữ đạo khiêm nhường, tự trọng, cương trực
Trong những năm tháng bao cấp, dư luận vẫn râm ran câu nói “Thật thà thường thua thiệt/ Lươn lẹo lại lên lương” nhằm ám chỉ những kẻ “mồm năm miệng mười", "đầu môi chót lưỡi” ngon ngọt với cấp trên thì dễ bề được ưu tiên thăng tiến, lên cấp, nâng lương. Nhưng cha ông ta cũng có câu “Mật ngọt chết ruồi” với hàm ý khuyên răn, cảnh tỉnh ai đó chỉ thích nghe những lời lẽ quyến rũ, giọng điệu ngọt ngào mà giả dối của người khác thì tự mình sa vào tình thế nguy hiểm lúc nào không hay.
Thực tế cho thấy, những cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ có chức quyền mà luôn sống, sinh hoạt, làm việc trong sự “bủa vây” của những lời khen hào phóng, mỹ miều, giả tạo của những người xung quanh và cấp dưới, thì theo ngày ngày, tháng tháng, họ rất dễ bị ảo tưởng về chính mình. Từ đó, những biểu hiện gia trưởng, quan liêu, độc đoán cũng sẽ dần “lớn lên” trong thái độ, tư tưởng, tính cách của họ. Đó cũng là tiền đề để hình thành, tạo ra “uy tín giả”-một “cái bẫy” có thể làm quan chức tự sụp đổ ngay dưới chân mình!
Cổ kim đông tây đã đúc kết, những người có chức sắc, vị thế xã hội mà bỏ ngoài tai những lời trung thực, khảng khái và lại ưa thích những lời tâng bốc, tung hô, nịnh nọt thì rất dễ bị ảo tưởng về quyền lực, từ đó có những hành xử thiếu minh mẫn, nhân văn, thậm chí vùi dập những người cương trực. Thế nên, Tuân Tử-một trong những triết gia cổ đại lừng danh của Trung Quốc đã tự răn mình và cũng là nhắc nhớ các bậc quân tử đời sau: “Người chê ta mà chê phải là thầy của ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ chính là kẻ thù của ta vậy”.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất lên án thói tâng bốc, xu nịnh. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” viết tháng 10-1947, một trong những căn bệnh của một bộ phận cán bộ, đảng viên được Bác sớm chỉ ra và cảnh báo là: “Bệnh xu nịnh, a dua; ưa người ta tâng bốc, khen ngợi mình”. Bác cũng phê phán những cán bộ, đảng viên sống ba phải, không có lập trường, chính kiến rõ ràng: “Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái”. Những người như thế không xứng đáng là người lãnh đạo, dìu dắt, giáo dục quần chúng.
Để không mắc vào “cạm bẫy” ưa xu nịnh và chữa trị được căn bệnh “thích được đề cao, ca ngợi”, một trong những việc cần làm hiện nay là mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp phải giữ gìn đức tính cương trực, tự trọng, khiêm nhường. Cương trực để không bị "mê hoặc" bởi “cái bả” ca tụng của nhiều cán bộ, nhân viên cấp dưới lúc nào cũng có thể “rót lời đường mật” vào tai mình. Tự trọng để biết phân biệt đâu là điều hay lẽ phải cần lắng nghe, coi trọng, đâu là lời khen vờ vĩnh, giả tạo cần tránh xa, loại bỏ. Khiêm nhường để không tự ảo tưởng về mình mà luôn có ý thức học tập, rèn luyện, bồi đắp những phẩm chất giá trị tích cực, nhân văn, nhằm không ngừng hoàn thiện nhân cách bản thân và sống giản dị, gần gũi với tập thể nơi công tác và với cộng đồng nơi cư trú.
Một việc không thể không nhắc lại là các cấp ủy, tổ chức đảng nói chung, cán bộ lãnh đạo nói riêng cần tiếp tục coi trọng và duy trì thường xuyên, nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình. Trong sinh hoạt tự phê bình và phê bình, mỗi người cần thể hiện rõ tinh thần trung thực, thẳng thắn, công tâm, đồng thời bày tỏ thái độ trân trọng, bảo vệ cái đúng, cái tốt; phê phán kịp thời cái xấu, cái sai; kiên quyết đấu tranh loại bỏ lề thói xu nịnh, a dua, “mũ ni che tai”, “mười lăm cũng ừ, mười tư cũng gật”, góp phần vừa giữ vững và nâng cao kỷ cương, kỷ luật của tổ chức đảng, vừa xây dựng môi trường văn hóa giao tiếp ứng xử lành mạnh trong tổ chức, cơ quan, đơn vị./.
ST

ĐỪNG ĐỂ MÌNH THỐI CHÍ

 Cán bộ, đảng viên cũng là con người nên không tránh được những lúc thấy mình thối chí, mất hết động lực phấn đấu, động lực cống hiến. Nhưng trách nhiệm, lý tưởng nhắc nhở mỗi chúng ta phải tự mình thoát ra khỏi tình cảnh đó để xứng đáng là thành viên của đội tiên phong, làm gương cho quần chúng.

Thời gian qua, cả nước tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, siết chặt kỷ cương, kỷ luật; đồng thời tiến hành đổi mới, tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị từ trung ương xuống cơ sở.
Thực hiện những chủ trương trên, một bộ phận không nhỏ cán bộ vi phạm đã bị xử lý kỷ luật, bị giáng chức, cách chức; đồng thời không ít cán bộ cấp trưởng phải xuống làm cấp phó, cấp phó phải xuống làm nhân viên. Một số người trước được quy hoạch làm cấp trưởng, cấp phó, nay do bộ máy co lại, quy hoạch coi như không còn hiệu lực. Có người đang là phó phụ trách những tưởng tương lai sẽ lên giám đốc, thủ trưởng nhưng nay đành “dậm chân tại chỗ”... Từ thực tế không như ý đó, không ít người trở nên bất mãn, thối chí, rơi vào tình trạng ngã lòng, mất động lực trong công việc, thậm chí cả trong cuộc sống.
Vì thế, có người sinh ra chán nản, bỏ bê công việc; tạo bè, kết cánh làm thì ít, túm năm tụm ba dèm pha, “đâm bị thóc chọc bị gậy”, chê chỗ nọ, nói xấu chỗ kia thì nhiều. Có người không kiểm soát được cảm xúc dễ nổi cáu hay bực bội, sẵn sàng “tay bo” cãi nhau với đồng chí, đồng nghiệp, chuyện bé xé ra to, chuyện trong nhà chưa tỏ ngoài ngõ đã thông, phát ngôn lung tung trên mạng xã hội. Có người bình tĩnh hơn nhưng trong công việc cốt làm cho xong, không còn đam mê, gắn bó với cơ quan, đơn vị công tác, mất hẳn khát khao cống hiến, không muốn nỗ lực đổi mới, sáng tạo nhằm thúc đẩy, cải tiến chất lượng, nâng cao năng suất, hiệu quả công việc...
Những vấn đề trên tưởng chừng là cảm xúc nhất thời, vấn đề đơn giản nhưng nếu không có biện pháp kịp thời ngăn chặn sẽ nhanh chóng biểu hiện thành chủ nghĩa cá nhân, là bước mở đầu của suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Thực vậy, người thối chí xét cho cùng là chỉ nghĩ cho cá nhân mình nên mới để mất hết động lực cống hiến, mất hết động lực phấn đấu vì cái chung. Người thối chí không chỉ tự đánh mất mình, chuyển từ con người tiến bộ có ý chí sang làm người nản chí, ngã chí; nhẹ thì kết quả công việc không tương xứng với năng lực làm việc, nặng hơn thì sa sút, giảm năng suất, chất lượng công việc. Người thối chí là nhân tố tạo ra năng lượng tiêu cực, kéo lùi tập thể, không khéo quá đà thì gây ra mất đoàn kết nội bộ, làm mất sức chiến đấu của tổ chức Đảng.
Cho nên, cấp ủy tổ chức Đảng nhất định phải kịp thời phát hiện cán bộ, đảng viên có biểu hiện thối chí để quan tâm giúp đỡ, động viên, kịp thời đưa họ ra khỏi tình trạng tiêu cực này; không được thờ ơ, mặc kệ. Tập thể cấp ủy tổ chức Đảng, nhất là những đồng chí gắn bó thân thiết với người cán bộ, đảng viên này phải thường xuyên gần gũi quan tâm, lắng nghe, chia sẻ; từ đó tùy tính cách, sự tiếp thu để mà trao đổi, hóa giải những phiền muộn, thối chí trong lòng; cần thiết phải thẳng thắn đưa ra bàn trong tập thể trên tinh thần yêu thương đồng chí, vì đồng chí mình để kéo họ về.
Quan trọng là phải thức tỉnh, làm cho chính cán bộ, đảng viên bị thối chí phải chiến thắng chính mình để thoát khỏi tâm trạng tiêu cực. Đúng là khi bị rơi vào một trong những trường hợp như bị kỷ luật, giáng chức, cách chức, ai cũng có tâm trạng buồn chán. Đó là lẽ thường tình ở đời. Nhưng là cán bộ, đảng viên đã mang trong mình mục tiêu, lý tưởng cao cả, là thành viên của đội tiên phong của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam nhất định phải có bản lĩnh chính trị vững vàng hơn người. Bản lĩnh đó là gì, đó là “Chớ thấy thất bại mà nản, chớ thấy đắc thắng mà kiêu” như lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy. Nếu để tâm trạng tiêu cực xâm chiếm tâm chí, con người ta sẽ chìm trong đau khổ, đánh mất niềm vui cuộc sống. Chúng ta phải học cách buông bỏ để tập trung trở lại với những điều tốt đẹp, những mục tiêu cao cả.
Với cán bộ, đảng viên mắc khuyết điểm, để họ không rơi vào trạng thái tiêu cực, tập thể cấp ủy, tổ chức Đảng cần thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình, tuân thủ những nét đẹp văn hóa ứng xử truyền thống của dân tộc nay đã chuyển hóa tiếp biến trong văn hóa Đảng biểu hiện sâu sắc qua tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đó là phải quán triệt động cơ phê bình phải thật trong sáng, dựa trên tình đồng chí yêu thương nhau. Khi phê bình phải biết lắng nghe và chờ đợi đồng chí tiếp thu để tránh việc làm cho người bị phê bình nản chí, oán ghét; tránh phê bình kiểu công kích, áp đặt, xoi mói, bới lông, tìm vết, dìm nhau, hạ bệ lẫn nhau, lấy việc công trả thù riêng; phải bảo đảm khách quan, công tâm...; sau cùng là phải làm sao cho người được phê bình “tâm phục, khẩu phục”.
Mục đích sâu xa của phê bình, kỷ luật là làm cho đồng chí mình tốt lên, cho nên quan tâm, động viên khắc phục kịp thời tình trạng cán bộ thối chí cũng chính là nghĩa vụ của mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng, nhất là người đứng đầu ngay từ khi tiến hành những bước đầu tiên trong quy trình giám sát, kiểm tra, xử lý kỷ luật. Có sự quan tâm, chuẩn bị sớm về việc này chắc chắn các cấp ủy, tổ chức Đảng sẽ đạt được mục đích quan trọng hàng đầu là nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức và chất lượng cán bộ, đảng viên./.
ST

Việt Nam đóng góp tích cực bảo đảm quyền tự do tôn giáo

 Xây dựng các báo cáo, soạn các thư ngỏ, kiến nghị sai sự thật về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, nhân danh tự do tôn giáo để thực hiện các mưu đồ đen tối nhằm chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam… là hàng loạt chiêu trò quen thuộc được các thế lực thù địch đẩy mạnh trong thời gian qua. Tuy nhiên, những thành tựu của công tác tôn giáo ở Việt Nam mà đông đảo bạn bè quốc tế công nhận, đánh giá cao đã là câu trả lời rõ ràng nhất về việc bảo đảm quyền con người cũng như quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi tầng lớp nhân dân.

Tăng ni, phật tử dự đại lễ Phật đản tại Việt Nam Quốc Tự (quận 10, TP. Hồ Chí Minh)..

Tăng ni, phật tử dự đại lễ Phật đản tại Việt Nam Quốc Tự (quận 10, TP. Hồ Chí Minh)..

Năm 2023 chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng khẳng định những đóng góp tích cực của Việt Nam trong lĩnh vực bảo vệ và thúc đẩy quyền con người nói chung, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng ở cả cấp độ quốc tế và quốc gia.

Tiêu biểu có thể kể đến: Ngày 3/4, Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR) và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna (VDPA) do Việt Nam đề xuất và soạn thảo. Nghị quyết là dấu ấn nổi bật của Việt Nam trong lần thứ hai đảm nhiệm cương vị thành viên Hội đồng Nhân quyền, thể hiện đóng góp thực chất, trách nhiệm của Việt Nam trên lĩnh vực quyền con người.

Trong tháng 6, Đoàn đại biểu Quốc hội do ông Đôn Tuấn Phong, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại làm Trưởng đoàn đã tham dự Hội nghị Nghị viện về đối thoại tôn giáo do Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU) tổ chức tại Maroc. Trước diễn đàn liên nghị viện của 163 quốc gia, đoàn đại biểu Việt Nam đã thông tin cho bạn bè quốc tế biết về những thành tựu quan trọng trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; ghi nhận các đóng góp của các tổ chức tôn giáo trên các lĩnh vực giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, thiện nguyện; khẳng định vai trò của các đại biểu Quốc hội là chức sắc tôn giáo trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Mới đây, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đã thăm chính thức Tòa thánh Vatican theo lời mời của Giáo hoàng Francis. Trong chuyến thăm này, với mong muốn chung tiếp tục thúc đẩy quan hệ giữa hai bên, hai bên chính thức thông báo về việc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Tòa thánh đã thông qua “Thỏa thuận Quy chế hoạt động của Đại diện thường trú và Văn phòng Đại diện thường trú Tòa thánh tại Việt Nam”.

Hai bên bày tỏ tin tưởng Đại diện thường trú Tòa thánh sẽ thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ trong Quy chế; hỗ trợ cộng đồng Công giáo Việt Nam hoạt động trên tinh thần tôn trọng pháp luật và Giáo huấn của Giáo hội thực hiện đường hướng “đồng hành cùng dân tộc”, “giáo dân tốt và công dân tốt”, đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước; đồng thời phát huy vai trò cầu nối thúc đẩy quan hệ giữa Việt Nam và Tòa thánh.

Những kết quả trên đây đã cho thấy nỗ lực của Đảng, Nhà nước trong việc chăm lo đời sống của công dân theo tôn giáo, từ đó tạo điều kiện để tất cả nhân dân được thụ hưởng các quyền kinh tế-xã hội, văn hóa, dân sự, chính trị theo chuẩn mực quốc tế bên cạnh việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực thi các chủ trương, chính sách, từ đó hướng đến mục tiêu ngày càng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân và bảo đảm tốt hơn các quyền con người.

Bất chấp thực tế đó, các thế lực thù địch, thiếu thiện chí vẫn cố tình liên tục mở ra các diễn đàn hoặc tham gia vào nhiều sự kiện nhằm chống phá Việt Nam. Mới đây, BPSOS (Ủy ban cứu trợ người vượt biển) loan tin sẽ tham gia “hội nghị cấp bộ trưởng các quốc gia về vấn đề tự do tôn giáo trên toàn cầu” (FoRB) với tư cách đồng tổ chức cùng lực lượng tham dự lên tới 30 người để “trình bày trong hội nghị về tình trạng thực tại của nhân quyền tôn giáo tại Việt Nam”. Tuy nhiên thực tế FoRB không phải là “hội nghị cấp bộ trưởng các quốc gia về vấn đề tự do tôn giáo trên toàn cầu” mà là “hội nghị cấp bộ trưởng quốc tế về tự do tôn giáo và tín ngưỡng”. Sự kiện có sự góp mặt chính thức của đại diện đến từ 36 chính phủ.

Trước đó, hội nghị đã được tổ chức 4 lần vào các năm 2018, 2019, 2020 và 2022. Tại hội nghị, bên cạnh những phiên họp chính thức, các đoàn thể xã hội được phép mở một số tọa đàm bên lề, với điều kiện họ có đăng ký và tự chủ kinh phí. Các sự kiện phi chính thức này không ảnh hưởng đến các tuyên bố, nghị quyết chung của các nước tham gia hội nghị. Hơn nữa, không phải tuyên bố chung nào cũng được tất cả các nước thành viên của FoRB đồng thuận. Đơn cử, tại hội nghị năm 2022, chỉ có 8 nước ký vào Tuyên bố về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và bình đẳng giới.

Như vậy, việc BPSOS tự nhận là đơn vị đồng tổ chức của FoRB dễ gây hiểu lầm, song lại đang được tổ chức này tận dụng nhằm hư trương thanh thế trên phương tiện truyền thông đại chúng hải ngoại. Không chỉ vậy, những chủ đề mà BPSOS cho biết sẽ trình bày tại FoRB cho thấy vẫn chỉ là sự lặp lại nội dung từng được họ trình bày tại cái gọi là “Hội nghị Thượng đỉnh tự do tôn giáo quốc tế lần thứ ba” (IRF-2023) diễn ra hồi đầu năm nay. Điều đáng nói là liên quan đến một số vụ án, sự kiện đã được thông tin công khai, minh bạch trên các phương tiện thông tin đại chúng ở trong nước và nước ngoài song lại bị BPSOS và các nhóm chống phá khác hướng lái theo chiều hướng tiêu cực, nhằm bôi đen tình hình tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam.

Tuy nhiên, sự tỉnh táo của nhiều người khiến họ không dễ bị mắc lừa, chính vì vậy dù hô hào rầm rộ song buổi thuyết trình tại IRF-2023 của các “nhà đấu tranh” này chỉ thu hút được lẻ tẻ khán giả, vốn là các đối tượng chống cộng lưu vong. Thế nhưng, BPSOS và các tổ chức chống phá khác dường như vẫn “cố đấm ăn xôi”.

Đơn cử, vụ việc “chi phái Cao Đài 1997 và Cao Đài Chơn Truyền 1926” được Nguyễn Đình Thắng (đối tượng cầm đầu BPSOS) liên tục chia sẻ trên mạng xã hội trong thời gian gần đây, thực chất là mâu thuẫn giữa hai tổ chức tôn giáo Cao Đài trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Tuy nhiên, BPSOS lại vu khống Nhà nước Việt Nam khi cho rằng chi phái Cao Đài 1997 (chi phái của Hội thánh Cao Đài Tòa thánh Tây Ninh tại Hoa Kỳ) “do nhà nước Việt Nam dựng lên” để “diệt đạo Cao Đài ở Việt Nam” và “tấn công” những người bảo vệ đạo Cao Đài Chơn Truyền 1926… tại Hoa Kỳ. Phải chăng họ muốn lờ đi sự thật là đến nay, Nhà nước đã công nhận tổ chức tôn giáo đối với 10 Hội thánh Cao Đài, 21 tổ chức Cao Đài hoạt động độc lập và cấp đăng ký hoạt động tôn giáo đối với 01 pháp môn Cao Đài. Hội thánh Cao Đài Tòa thánh Tây Ninh là một trong số đó, đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.

Tính đến tháng 12/2021, các hội thánh, tổ chức Cao Đài có hơn 1,2 triệu tín đồ, hơn 13 nghìn chức sắc, 26 nghìn chức việc, 1.300 cơ sở tôn giáo ở 38 tỉnh, thành phố trên lãnh thổ Việt Nam (số liệu từ Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam”, Nxb Tôn giáo, 2023). Đó là chưa kể một số tổ chức tôn giáo Cao Đài hợp pháp ở Việt Nam đã và đang mở rộng phạm vi truyền đạo ra nhiều quốc gia trên thế giới mà không hề bị chính quyền Việt Nam ngăn chặn, cản trở.

Ngoài ra, BPSOS cùng với các tổ chức cực đoan khác như “Người Thượng vì công lý”, “Bàn tròn đa tôn giáo Việt Nam”, “Hội thánh tin lành đấng Chirst” không ngừng lợi dụng các vấn đề tôn giáo và sắc tộc để kêu gọi cộng đồng quốc tế ủng hộ ly khai, đòi thành lập “nhà nước riêng, tôn giáo riêng” cho người dân tộc thiểu số Tây Nguyên.

Sau vụ tấn công, khủng bố tại Đắk Lắk ngày 11/6/2023, các tổ chức này chẳng những không lên án tội ác, mà ngang nhiên vu cáo chính quyền “kích động bạo lực”, “đàn áp người dân tộc thiểu số” nhằm mục đích chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc trên địa bàn Tây Nguyên. Đồng thời các đối tượng còn cố tình biện minh cho thủ đoạn đội lốt tôn giáo để gieo rắc tư tưởng hẹp hòi dân tộc, âm mưu tập hợp lực lượng, tiến tới gây rối, biểu tình, bạo loạn của các tổ chức chống phá.

Từ nhiều năm qua, đặc biệt trong năm 2023 các thế lực thù địch liên tục đẩy mạnh hoạt động chống phá liên quan đến lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng và sắc tộc tại Việt Nam. Chúng kêu gọi các tổ chức liên chính phủ và những nước lớn “đưa Việt Nam vào danh sách theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo”, làm bàn đạp để gây sức ép, can thiệp vào các công việc nội bộ của Việt Nam, nhất là khi Việt Nam được bầu làm Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2022-2023 và lần thứ hai trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2023-2025. Bất chấp những thủ đoạn chống phá ngày một gia tăng của các thế lực thù địch, Việt Nam vẫn đạt được những thành tựu không thể phủ nhận trên lĩnh vực quyền con người và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Thực tiễn đã minh chứng, ở Việt Nam không có sự phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo, không có mâu thuẫn, xung đột giữa các tôn giáo; người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau cùng chung sống hài hòa trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Khi tới thăm Việt Nam, bất kỳ du khách quốc tế nào cũng có thể cảm nhận được đời sống hòa hợp và bao dung giữa các tôn giáo cũng như sự đồng thuận giữa các tôn giáo và Nhà nước.

Điều đáng mừng là trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Việt Nam đã có thêm nhiều kênh chính thức để thông tin cho bạn bè thế giới hiểu rõ hơn về tình hình tự do tôn giáo đang diễn ra. Bên cạnh đó, thông qua các cơ chế hợp tác song phương, đa phương, khu vực và quốc tế, đặc biệt là Liên hợp quốc, Nhà nước Việt Nam đã chứng tỏ được những đóng góp tích cực trong đấu tranh bảo vệ, phát huy các nguyên tắc, nội dung tiến bộ về tự do tôn giáo, và luôn kiên định bảo vệ lẽ phải trong lĩnh vực này ở cấp độ quốc gia và quốc tế./.

LHQ-ST

BẢN SẮC KHÔNG THỂ MẬP MỜ, LỊCH SỬ KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC

 

Thời gian gần đây, bám vào một số sự kiện văn hóa, văn học nghệ thuật (VHNT) gây ồn ào trên không gian mạng, nhiều phương tiện truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại và các tài khoản cá nhân trên mạng xã hội có tư tưởng thù địch ra sức cổ xúy cho cái gọi là “nói khác”, “nói ngược”...
Họ kích động rằng, muốn nổi tiếng thì các tác giả phải “nói khác”, “nói ngược” trong lao động nghệ thuật. Thực chất, đó là chiêu bài nguy hiểm nhằm kích động, lôi kéo môi trường VHNT đi ngược lại định hướng của Đảng.
THẤY GÌ TỪ THÁI ĐỘ ÁM CHỈ, BÓNG GIÓ
Lợi dụng đời sống VHNT để truyền bá tư tưởng phản động, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc... không phải là thủ đoạn mới mẻ gì. Nó xuất hiện, tồn tại lâu nay và các thế lực thù địch triệt để lợi dụng, khai thác nhằm kích động, lôi kéo công chúng. Những năm gần đây, khi không gian mạng trở thành một “thế giới thứ hai” của đời sống con người và xã hội, âm mưu, thủ đoạn lợi dụng VHNT, thị trường giải trí để chống phá đất nước trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa của các thế lực thù địch lại càng diễn biến phức tạp. Để tạo hiệu ứng đám đông, họ sẵn sàng dựng lên một “mẫu hình” nhà văn, nghệ sĩ nổi tiếng từ những đối tượng cực đoan, bất mãn, suy thoái... và ra sức tô vẽ thành “thần tượng” để dụ dỗ, lừa bịp công chúng. Chẳng hạn một nhà văn Việt Nam suy thoái tư tưởng, đã rời bỏ Tổ quốc ra nước ngoài sinh sống, lại được Viện Hàn lâm Pháp trao cho cái giải thưởng văn học hồi tháng 4 vừa qua là một ví dụ. Từ chuyện này, một số tổ chức truyền thông có tư tưởng thù địch với Việt Nam ở hải ngoại đã thực hiện các chiến dịch tô vẽ “thần tượng”; xuyên tạc môi trường VHNT trong nước, bôi xấu, hạ bệ những nhà văn yêu nước. Họ tuyên truyền rằng, văn nghệ sĩ Việt Nam muốn nổi tiếng, muốn thành danh thì phải học cách “nói ngược”, “nói khác” với quan điểm, chủ trương của Đảng. Họ suy diễn về tự do sáng tạo, về tư duy “khai phóng”, vượt khỏi những rào cản, định kiến để vươn tầm quốc tế...
Nhìn lại những diễn biến chính của đời sống VHNT trong thời kỳ đổi mới, nhất là giai đoạn gần đây, chúng ta thấy rõ những dấu ấn đột phá của hội nhập. Nhờ đẩy mạnh các hoạt động giao lưu, hội nhập theo định hướng của Đảng mà đời sống VHNT có sự khởi sắc đáng ghi nhận. Chẳng hạn ở lĩnh vực điện ảnh. Nhiều đạo diễn Việt kiều nổi tiếng trở về nước làm phim, mang đến luồng gió mới. Nhiều bộ phim có giá trị nội dung, nghệ thuật tốt, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc; phản ánh đậm nét những góc nhìn cận cảnh về lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc; ca ngợi vẻ đẹp đất nước, nền văn hóa, con người Việt Nam... thông qua những lát cắt điển hình, được đông đảo công chúng hào hứng đón nhận. Thành quả đó đã tạo động lực, khích lệ văn nghệ sĩ trong nước phải vượt lên, tự đổi mới, làm mới bản thân để cạnh tranh với các đồng nghiệp Việt kiều và các sản phẩm quốc tế nhập khẩu.
Tuy nhiên, sự hội nhập của VHNT cũng là môi trường được các thế lực thù địch, thông qua truyền thông và không gian mạng, gieo rắc, lèo lái tư tưởng phản động, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc. Cách đây 10 năm, khi còn sống, nhà văn Lê Văn Thảo, nguyên Chủ tịch Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh, trong một lần trả lời phỏng vấn Báo Quân đội nhân dân, đã nhấn mạnh rằng, điều ông và các nhà văn đã từng lăn lộn qua chiến tranh lo ngại nhất chính là sự xuất hiện của thái độ “ám chỉ” trong sáng tác VHNT. Lợi dụng vào tính hư cấu của VHNT, không ít tác giả đã bày tỏ khuynh hướng sáng tạo đi ngược lại quan điểm, đường lối của Đảng bằng kiểu ám chỉ, do họ bị tiêm nhiễm, kích động, ảnh hưởng bởi các luồng tư tưởng thù địch từ bên ngoài. Hệ lụy của lối tư duy “ám chỉ” đó là một số văn nghệ sĩ đã suy thoái về tư tưởng chính trị, rời bỏ quê hương ra nước ngoài sinh sống, sử dụng chính ngòi bút, vốn sống, cảm xúc nội tại để “nói ngược”, “viết ngược”, làm phương hại đến nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Thậm chí, đã có một số ít nghệ sĩ nổi tiếng, bị lôi kéo tham gia vào những bộ phim có nội dung xuyên tạc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, bóp méo, bôi đen hình tượng Bộ đội Cụ Hồ trong chiến tranh...
Nếu như trước đây, cách nói, cách viết, cách thể hiện nhân vật theo lối “ám chỉ” được thể hiện một cách trực cảm, trực giác... thì nay, trước làn sóng dư luận đa chiều, họ cổ xúy kiểu thái độ bóng gió, mập mờ... Với hình thức thể hiện này, trong không ít tác phẩm VHNT, bản sắc văn hóa dân tộc, sắc thái vùng miền, lịch sử quê hương, đất nước hiện lên méo mó, lai căng, biến dạng. Trên phương diện luật pháp, rất khó để bắt bẻ kiểu tư duy bóng gió, mập mờ này. Nhưng, dưới góc nhìn của công tác tư tưởng-văn hóa, khi mỗi thứ lệch lạc đi một chút, mỗi thứ méo mó, lai căng đi một chút... thì hệ lụy lâu dài đối với văn hóa dân tộc và tương lai thế hệ trẻ là rất khó lường...
Thời gian gần đây, trong đời sống VHNT và thị trường giải trí xuất hiện một số tác phẩm có biểu hiện như vậy. Dư luận truyền thông thể hiện những góc nhìn đa chiều. Những tranh cãi nổ ra không chỉ trên các diễn đàn không gian mạng mà còn kéo theo sự vào cuộc của đông đảo chuyên gia, nhà quản lý, phân tích, mổ xẻ dưới nhiều góc nhìn, góc độ khác nhau. Thậm chí, trong một số trường hợp, những ồn ào trên không gian mạng về vấn đề này còn trở thành chủ đề trên bàn nghị sự của Quốc hội.
TỪ THỊ HIẾU THẨM MỸ ĐỂ ĐẾN BẢN LĨNH THẨM MỸ
Nhìn vào những diễn biến đời sống văn hóa, VHNT mỗi khi có tác phẩm, sản phẩm gây “sốt”, chúng ta thấy rõ những tác động toàn diện của hiệu ứng không gian mạng. Nó thể hiện rõ tính hai mặt của một vấn đề. Thứ nhất là, hội chứng đám đông từ những cơn “lên đồng” tập thể, nó có thể tạo sức hút vô cùng mạnh mẽ kéo theo mọi thứ, mọi thành phần trong dòng chảy ấy vào cuộc. Nếu đó là một khuynh hướng tốt, có ích cho đời sống xã hội, phục vụ cho lợi ích quốc gia, dân tộc, sẽ rất có lợi cho công tác tuyên truyền, giáo dục, quảng bá những giá trị tốt đẹp đến với người dân và du khách quốc tế. Nhưng, nếu đó là một sản phẩm có chứa đựng yếu tố gây hại, sự mập mờ trong quan điểm nghệ thuật giống như một loại virus gây bệnh, xâm nhập vào tư duy, thị hiếu của công chúng, nguy hiểm khôn lường. Thứ hai là, chính nhờ hiệu ứng mạnh mẽ của không gian mạng sẽ giúp các tác giả và giới chuyên gia, nhà quản lý nhìn nhận vấn đề dưới những góc nhìn đa chiều, từ đó có sự sàng lọc, thẩm định, định hướng sáng tạo theo quan điểm của Đảng.
Trong những năm tới, đất nước ta có nhiều ngày lễ lớn, trong đó có kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và đại lễ mừng 50 năm đất nước thống nhất. Trên lĩnh vực văn hóa, VHNT, các thế lực thù địch đã và đang tiếp tục đẩy mạnh các chiến dịch tuyên truyền, tung ra các sản phẩm xấu độc; sử dụng truyền thông và không gian mạng cổ xúy, lôi kéo các tác giả “nói ngược”, “nói khác” nhằm bóp méo, bôi đen, làm méo mó hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ và lịch sử đấu tranh cách mạng. Họ sử dụng các phương thức ám chỉ, bóng gió, mập mờ, so sánh Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh với các thành phố lớn đã và đang xảy ra xung đột vũ trang trên thế giới... để xuyên tạc lịch sử, văn hóa vùng đất Nam Bộ và cuộc đấu tranh của đồng bào Nam Bộ, góp phần to lớn giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là những biểu hiện nguy hiểm nhằm kích động hận thù dân tộc, âm mưu chia tách lịch sử, văn hóa Nam Bộ ra khỏi nền văn hóa và lịch sử dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ. Một trong những biểu hiện phổ biến hiện nay là họ cổ xúy, ca ngợi công lao của Nguyễn Ánh (Chúa Nguyễn, Vua Gia Long), coi nhân vật “cõng rắn cắn gà nhà” trong lịch sử dân tộc như là một “anh hùng”, “cụ tổ” của lịch sử, văn hóa Nam Bộ. Đáng tiếc là đã có một số người trong giới sáng tác có biểu hiện dao động, bị cuốn theo lối tư duy này nên trong một số tác phẩm VHNT, đã thổi phồng, thần thánh hóa công lao, che mờ tội của Chúa Nguyễn (Vua Gia Long), làm sai lệch lịch sử, làm mập mờ, méo mó sắc thái văn hóa và bản chất tốt đẹp của con người Nam Bộ. Từ góc nhìn sai lệch về nhân vật này, các thế lực thù địch áp dụng lối tư duy liên tưởng để dụ dỗ, dẫn dắt công chúng hiểu sai lệch lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc và hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng dân Nam Bộ.
Để tạo tiềm lực văn hóa tinh thần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực văn hóa, VHNT, chúng ta phải bám sát quan điểm của Đảng. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nêu rõ nhiệm vụ: “Chủ động nâng cao sức đề kháng của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên đối với các văn hóa phẩm ngoại lai độc hại”...; “Nâng cao vai trò của văn hóa, nghệ thuật trong việc bồi dưỡng tâm hồn, nhân cách của con người Việt Nam, nhất là trong thế hệ trẻ”... Như vậy, giải pháp căn bản và lâu dài là chúng ta phải chủ động nâng cao sức đề kháng, nói cách khác chính là củng cố, nâng cao bản lĩnh chính trị trong các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là giới trẻ. Muốn định hướng thị hiếu thẩm mỹ, phải xây dựng được bản lĩnh thẩm mỹ. Với chức năng hướng đến “chân, thiện, mỹ”, dù thể hiện dưới góc nhìn nào thì trong đời sống văn hóa, VHNT, bản sắc dân tộc là giá trị không thể mập mờ, cương thổ quốc gia, lịch sử dân tộc là giá trị không thể xuyên tạc, đảo ngược.
Quy luật sàng lọc, tiếp thu, tiếp biến và đào thải của văn hóa chính là cán cân công bằng, là thước đo công tâm để khẳng định giá trị đích thực của tác phẩm, sản phẩm VHNT. Những người làm văn hóa, đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa và giới chuyên gia thẩm định chất lượng sản phẩm VHNT các cấp cần bám sát tính quy luật, nhất quán quan điểm của Đảng để đưa ra những nhận xét, nhận định, dự báo; từ đó có giải pháp định hướng dư luận và định hướng sáng tạo, lao động nghệ thuật một cách đúng đắn. Không nên bị dẫn dắt bởi dư luận đám đông dẫn đến “đẽo cày giữa đường”, tạo cớ cho các thế lực thù địch xuyên tạc, chống phá, cũng không nên chỉ dựa vào các quy định của pháp luật để bày tỏ chính kiến một cách cực đoan, võ đoán, máy móc.../.
ST

NHÂN DÂN TIN TƯỞNG, KỲ VỌNG HƠN

 



Trong công tác xây dựng Đảng thời gian qua, thực tiễn cho thấy ở một số nơi, người đứng đầu chưa phát huy hết trách nhiệm, thiếu bản lĩnh, chưa gương mẫu, còn thụ động, né tránh...
Để chấn chỉnh tình trạng trên, Đảng ta đã ban hành nhiều quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, về kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực... Đồng thời, tự đổi mới mạnh mẽ, tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng. Nhờ vậy, đã tạo chuyển biến tích cực về nhận thức, trách nhiệm và quyết tâm chính trị của toàn Đảng.
Tổng kết 10 năm công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012-2022, cấp ủy, Ủy ban Kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức Đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có hơn 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật nhiều cán bộ cấp cao diện trung ương quản lý, trong đó có cả ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Đó là minh chứng rõ nhất cho thấy Đảng ta đã và đang hành động rất quyết liệt trước thách thức của tiêu cực, tham nhũng, nguy cơ làm suy yếu Đảng, đe dọa sự phát triển của quốc gia, làm xói mòn lòng tin của quần chúng nhân dân vào Đảng.
Cuộc chiến chống giặc ngoại xâm hay "giặc nội xâm" cũng đều có sự cam go, hy sinh, mất mát. Cấp ủy Đảng các cấp cần cảnh giác, đấu tranh với âm mưu xuyên tạc kết quả phòng chống tiêu cực, tham nhũng hiện nay, gây chia rẽ nội bộ, nói xấu Đảng và chế độ. Mặt khác, cần làm tốt công tác tư tưởng, chính trị trước các biểu hiện bi quan vì thấy phát hiện tham nhũng nhiều quá, ở đâu cũng có tham nhũng... mà chưa hiểu được rằng đây là thời kỳ cao điểm toàn Đảng, toàn dân đang quyết chiến với "giặc nội xâm". Do đó, không khó để nhận ra "lũ sâu mọt" hại dân, dù nhiều năm che đậy bằng đạo đức giả và sự xảo quyệt tinh vi đến mấy cũng đều đã và đang bị lôi ra ánh sáng.
Khi kỷ luật của Đảng được tăng cường, sẽ là liều thuốc hiệu quả đặc trị tiêu cực, tham nhũng, làm cho Đảng ta ngày càng mạnh lên; nền hành chính quốc gia càng liêm chính, phục vụ nhân dân tốt hơn. Nhân dân tin tưởng, kỳ vọng "sau cơn mưa trời lại sáng"./.
ST



Bảo vệ chính trị nội bộ làm cho các tổ chức đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh

 Bảo vệ chính trị nội bộ là nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ. Trong suốt 93 năm qua, Đảng ta đã rất chú trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ, coi đây là nhiệm vụ quan trọng có tính chiến lược lâu dài.

(Ảnh minh hoạ)

(Ảnh minh hoạ)

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được hiểu là các hoạt động nhằm bảo vệ lý tưởng, nền tảng tư tưởng, vị thế, uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam, giữ vững sự trong sạch của các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ; đồng thời ngăn ngừa, phát hiện, đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội...

Thực tế cho thấy trong những năm qua, các thế lực thù địch đã không ngừng tìm mọi âm mưu, thủ đoạn hòng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa, trong đó chúng tăng cường xuyên tạc bản chất của công tác bảo vệ chính trị nội bộ của Đảng ta. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ tới tâm tư, lý tưởng, niềm tin của nhân dân với Đảng, với đội ngũ cán bộ, đến trật tự an ninh xã hội và lâu dài là sự tồn vong của chế độ.

Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng công tác bảo vệ chính trị nội bộ là để duy trì vai trò độc tôn của Đảng, duy trì địa vị và quyền lợi của một bộ phận đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, chứ không phải là vì lợi ích quốc gia, dân tộc và nhân dân. Các đối tượng chống phá cố tình không hiểu Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ không chỉ đơn thuần là công tác để bảo vệ Đảng mà còn là để làm trong sạch Đảng, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, loại trừ các yếu tố tiêu cực nảy sinh trong nội bộ đảng làm cản trở sự phát triển của đảng, góp phần làm cho các tổ chức đảng ngày càng trở nên trong sạch, vững mạnh.

Với bản chất của chế độ và nhà nước xã hội chủ nghĩa “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì việc bảo vệ Đảng, làm cho Đảng trở nên trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò lãnh đạo cách mạng cũng chính là vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, vì lợi ích của nhân dân.

Song không chỉ dừng lại ở đó, các thế lực thù địch còn cố tình suy diễn cho rằng, sở dĩ Đảng ta phải tiến hành công tác bảo vệ chính trị nội bộ là để “ngụy trang”, “che đậy” cho những “phức tạp không nhỏ” diễn ra trong nội bộ như: sự mất đoàn kết; sự tranh giành địa vị, phe nhóm, bè phái; sự suy thoái về lý tưởng, niềm tin, tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ; hay tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”,... đang ngày càng tăng lên trong nội bộ Đảng.

Đáng buồn là những luận điệu sai trái này không chỉ được tuyên truyền bởi các thế lực chống phá, phản động mà còn được sự tiếp tay của một số cá nhân, trong đó có cả những người từng có uy tín, công lao nhất định với đất nước, nhưng do bị suy thoái về tư tưởng, sai lầm về nhận thức nên “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trở nên bất mãn, thù hằn chế độ, gây tác động xấu đến dư luận xã hội. Hiện tượng này cần phải được nhận diện, thông tin kịp thời giúp người dân hiểu rõ, không để các đối tượng xấu lôi kéo, dụ dỗ, hoặc tin nghe theo những luận điệu sai trái, thù địch.

Có thể thấy rằng trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ thì vấn đề về cán bộ và công tác cán bộ hiện đang bị các thế lực thù địch lợi dụng khai thác triệt để. Một mặt, chúng lợi dụng những yếu kém, hạn chế, sai lầm của một bộ phận cán bộ dẫn đến tình trạng tham ô, tham nhũng, lãng phí, thất thoát tài sản công, quản lý kém hiệu quả… trong thời gian qua để tuyên truyền, xuyên tạc hòng khoét sâu thêm những bức xúc của nhân dân.

Mặt khác, khi Đảng ta tiến hành công cuộc phòng chống tham nhũng một cách quyết liệt, với quan điểm “không có vùng cấm” trong xử lý vi phạm của đội ngũ cán bộ với hàng loạt các vụ đại án từ trung ương đến địa phương, từ các bộ, ban, ngành đến các doanh nghiệp tư nhân,... thì chúng lại bóp méo, xuyên tạc rằng đó thực chất là việc “thanh trừng bè phái”, “đấu đá nội bộ”, là “các phe cánh triệt tiêu nhau”. Việc quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ cũng bị chúng bóp méo cho rằng đó chỉ là hình thức, nhằm phục vụ “lợi ích nhóm”...

Thẳng thắn nhìn nhận thì trong nội bộ Đảng hiện có tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nhưng đó chỉ là “con sâu làm rầu nồi canh”. Đảng, Nhà nước ta đang nỗ lực hết sức để ngăn chặn và xử lý triệt để tình trạng này, thực hiện nhiều biện pháp quyết liệt góp phần làm trong sạch bộ máy.

Cho nên, sự quyết liệt trong công cuộc chống tham nhũng của Đảng ta hiện nay tuyệt đối không phải là việc đấu đá, thanh trừng nội bộ, bè phái mà chính là thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò tiên phong, lãnh đạo vì lợi ích quốc gia, dân tộc, nhân dân.

Quan điểm của Đảng ta trong công tác cán bộ được xác định rõ: không để lọt những người không xứng đáng, không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhưng cũng không để sót những cán bộ thực sự có đức, có tài; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ và “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong đấu tranh phòng chống tham nhũng.

Do đó, việc thực hiện quyết liệt trong đấu tranh chống tham nhũng và đổi mới, công khai, nghiêm túc trong công tác cán bộ ở nước ta thời gian qua cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

Bên cạnh đó một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là phong trào thi đua “Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” của Đảng ta cũng đang bị các thế lực thù địch xuyên tạc cho rằng, cuộc vận động và phong trào thi đua đó đã diễn ra hàng chục năm nay nhưng chỉ là hình thức mang tính “phong trào” chứ không đi vào thực chất, không hiệu quả.

Những luận điệu này không chỉ là sự bóp méo về chức năng, nhiệm vụ của công tác chính trị nội bộ, mà còn cố tình phủ định sạch trơn những cố gắng, quyết tâm trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng mà chúng ta đang thực hiện.

Những kết quả tích cực suốt hàng chục năm qua mà Đảng, Nhà nước cùng với nhân dân ta đã đạt được qua cuộc vận động và phong trào thi đua học và làm theo Bác Hồ là minh chứng rõ ràng, thuyết phục nhất. Đội ngũ cán bộ, đảng viên ở các cơ quan, đơn vị trên khắp cả nước tích cực thi đua không ngừng để “học và làm theo Bác” từ những việc làm thiết thực, cụ thể.

Tiêu biểu như công cuộc đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm theo lối sống giản dị của Bác “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; đẩy mạnh công tác cải cách hành chính với phương châm “phục vụ nhân dân”, gần dân, sát dân; đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, “phê bình và tự phê bình”; đề cao trách nhiệm nêu gương; tự tu dưỡng, tự rèn luyện,...

Qua hàng loạt các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về công tác bảo vệ chính trị nội bộ cho thấy mục đích duy nhất của chúng là phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Chính vì vậy, cho dù ở bất cứ lĩnh vực nào, ở bất cứ đâu, chúng ta cũng phải luôn tỉnh táo, có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng và nhận thức khoa học đầy đủ, đúng đắn để tỉnh táo nhận diện được những luận điệu, thủ đoạn thâm độc, khó lường của các thế lực thù địch.

Để làm được điều đó mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao nhận thức về vai trò, nhiệm vụ của công tác bảo vệ chính trị nội bộ của Đảng; quán triệt và thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; gắn kết chặt chẽ công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác xây dựng Đảng và công tác cán bộ, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong cả hệ thống chính trị.

Đồng thời cấp ủy, chính quyền các cấp phải kịp thời nắm bắt tình hình tại cơ quan, đơn vị mình, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác cán bộ, nhân sự,…; chủ động phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền để nắm bắt tình hình, giải quyết những tình huống phát sinh, những vụ việc gây bức xúc, tố giác, khiếu kiện… theo đúng quy định, minh bạch, khách quan, tránh để kẻ xấu lợi dụng xuyên tạc, vu khống. Tiếp tục củng cố, kiện toàn cơ quan, đơn vị, triển khai công tác bảo vệ chính trị nội bộ theo hướng tinh gọn, hiệu quả, thiết thực, phát huy mạnh mẽ vai trò của từng cán bộ, đảng viên và tập thể.

Đây là những yêu cầu cần thiết để chủ động phòng và kịp thời đấu tranh có hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn nhằm phá hoại sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, chia rẽ, hạ thấp uy tín của Đảng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng và thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động./.

LHQ-ST