Thứ Tư, 13 tháng 12, 2023

TIẾP TỤC VỮNG BƯỚC TRÊN CON ĐƯỜNG ĐỔI MỚI TOÀN DIỆN, ĐỒNG BỘ ĐỂ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

 Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo trong gần 40 năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đây là cơ sở, tiền đề vững chắc, tạo động lực mới, khí thế mới, niềm tin vững chắc để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

Trong tiến trình tạo dựng cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước, Đảng ta đã khởi xướng và trực tiếp lãnh đạo triển khai sự nghiệp đổi mới với những đường lối, định hướng, chủ trương hết sức đúng đắn, sáng tạo, đem lại thành quả vô cùng to lớn. Gần 40 năm qua, công cuộc đổi mới đã thực sự gắn bó với vận mệnh dân tộc, vận mệnh đất nước, gắn bó với mỗi người chúng ta và được bạn bè quốc tế quan tâm đến như một lẽ đương nhiên. Không phải bây giờ mà trong quá trình cách mạng, chúng ta luôn thực hiện sự đổi mới. Có điều, công cuộc đổi mới lần này mang tính toàn diện, tổng thể, sâu sắc, được chuẩn bị và tiến hành có bài bản. Ở đây, phải định rằng, sự nghiệp đổi mới đất nước là công việc của chúng ta, theo cách thức và bước đi của ta; là công cuộc sáng tạo mang tính tất yếu và công cuộc đó phải được triển khai một cách sâu rộng và đồng bộ, nhưng vì nó còn mới mẻ nên phải cân nhắc từng đường đi nước bước cụ thể, chắc chắn.
Đổi mới vừa là sự thay thế cái cũ, vừa là sự chọn lựa cái cũ, cái hiện đang còn phù hợp để cải biến cho nó trở nên thích ứng và hữu dụng hơn. Đổi mới có thể coi là một sự phủ định biện chứng: “không bao giờ phủ định sạch trơn và không bao giờ quay lại cái cũ”. Đổi mới để phát triển, đồng nghĩa với phát triển, nhưng là sự phát triển trong thế ổn định, sự phát triển theo đúng định hướng và con đường đúng đắn mà chúng ta đã chọn. Trong quá trình ấy, có người khuyên ta cần tư nhân hóa nhanh hơn, mạnh hơn trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội; cần hội nhập và hòa nhập với quốc tế mạnh hơn, sâu hơn, toàn diện hơn. Lời khuyên đó dẫu có chân thành thì chúng ta cũng không thể làm như thế. Bởi vì, hơn ai hết, chúng ta hiểu rõ tình hình thực tế của đất nước mình, và đặc biệt quan trọng là chúng ta thực hiện đổi mới nhưng có nguyên tắc, đổi mới nhưng không thay đổi bản chất chế độ xã hội. Đổi mới là thực hiện bước chuyển từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường, nhưng trong khi thực hiện cơ chế thị trường, Nhà nước phải quản lý và điều hành theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng thả nổi thị trường; đổi mới để phát triển kinh tế, nhưng sự phát triển đó phải đi đôi với thực hiện công bằng xã hội, khắc phục tình trạng phân hóa giàu nghèo. Đổi mới có yêu cầu và gắn với mở cửa, hội nhập; đổi mới có yêu cầu và gắn với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Toàn bộ công cuộc hội nhập - mở cửa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là để thực hiện chiến lược phát triển nhanh và bền vững; xây dựng và tăng cường lực lượng sản xuất, củng cố và phát triển quan hệ sản xuất phù hợp; nâng tầm đất nước lên trình độ mới, tầm cao mới. Vậy nên đổi mới chính là để hướng tới chủ nghĩa xã hội, để hiện thực quá độ lên chủ nghĩa xã hội ngày càng được xác lập rõ ràng hơn.
Đổi mới và cải cách có cùng nội dung hướng tới cái mới, cái tốt đẹp hơn. Nhưng, cải cách thường được hiểu là những hành động nhất định, những cuộc vận động nhất định nhằm đạt những mục tiêu nhất định. Khi những hành động cải cách ấy, những cuộc vận động cải cách ấy đã đạt tới mục tiêu đề ra thì phải có hành động cải cách mới, cuộc vận động cải cách mới. Còn đổi mới, theo cách hiểu của chúng ta, do bản chất và tính tất yếu của nó, lại là một quá trình lâu dài. Đổi mới như một dòng chảy liên tục, vận động liên tục của cả guồng máy xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, phát động và lãnh đạo, tổ chức thực hiện. Các kỳ đại hội, từ Đại hội VII đến Đại hội XIII và chắc chắn cả Đại hội XIV tới đây của Đảng cũng sẽ khẳng định tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới để đưa đất nước đi lên. Lời hiệu triệu đó rất phù hợp với yêu cầu của thực tiễn và ý nguyện của nhân dân.
Quá trình đổi mới là quá trình chuyển biến to lớn và thiết thực. Đổi mới tư duy đã khắc phục được những nhận thức lệch lạc, nhất là bệnh giáo điều, chủ quan duy ý chí; từng bước hình thành những quan niệm mới về mục tiêu, bước đi và cách thức phát triển đất nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Công cuộc đổi mới đã giải phóng sức sản xuất, củng cố và tăng cường quan hệ sản xuất mới, đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng của một nước có thu nhập thấp; đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể, ổn định chính trị - xã hội được bảo đảm, định hướng xã hội chủ nghĩa được giữ vững, vai trò lãnh đạo của Đảng được tăng cường, quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc, quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng được mở rộng và đẩy mạnh thêm.
Chính đổi mới đã đưa nước ta từ chỗ phải nhập lương thực, nay trở thành nước xuất khẩu gạo đứng nhất nhì thế giới. Chưa bao giờ nhịp độ phát triển và đổi thay từ nông thôn tới thành thị, từ miền núi đến đồng bằng lại nhanh chóng, mạnh mẽ như hiện nay. Cũng chưa bao giờ phong cách sống và làm việc của mọi gia đình và mọi người dân lại có những nét mới mẻ, tươi tắn như hôm nay. Đổi mới đã giúp chúng ta vừa kế thừa và phát huy những thành quả tốt đẹp đã đạt được trước đây, vừa có cách nghĩ, nghe, nhìn và làm khác trước, phù hợp với tình hình đang phát triển. Đổi mới đã đem đến một sức vóc mới cho đất nước, tiếp sức đôi chân chúng ta đi thêm những bước dài, vững chắc trên con đường hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Qua 37 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển; chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; văn hóa - xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng; đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.
Báo cáo Chính trị Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vượt qua mọi khó khăn, thách thức tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, phát triển bền vững đất nước”1. Những thành tựu đó tạo tiền đề quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển trong những năm tới; khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử.
Cội nguồn của những thành tựu trên là do Đảng ta có đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, được nhân dân ủng hộ, tích cực thực hiện. Đảng ta nhận thức, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam; có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, nhạy bén, sáng tạo, kịp thời đưa ra những chủ trương, quyết sách phù hợp cho từng giai đoạn cách mạng, khi tình hình thế giới và trong nước thay đổi. Đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân đã nỗ lực phấn đấu, tận dụng thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện đường lối đổi mới. Sự nghiệp đổi mới được bàn bè quốc tế ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ.
Tuy nhiên, trong tiến trình đi lên, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, chúng ta không quên rằng đất nước mình vẫn còn nghèo, sự phát triển của nền kinh tế chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, còn nhiều yếu tố chưa bảo đảm tăng trưởng cao và lâu bền, còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định. Rõ ràng là phía trước của chúng ta không chỉ có thời cơ và thuận lợi mà còn phải đối mặt với những khó khăn và thách thức đan xen. Điều này đã làm nảy sinh những băn khoăn, lo lắng về chặng đường tiếp theo của công cuộc đổi mới đất nước. Bên cạnh đó, một số phần tử bất mãn, cơ hội và các thế lực thù địch đưa ra những luận điệu đả kích, chống phá trắng trợn sự nghiệp đổi mới của chúng ta; luận điệu thâm độc nhất là: “Đổi mới đã hết thời, đã không còn động lực và cạn kiệt hết nguồn lực. Vậy nên, đất nước không thể tiếp tục đổi mới nữa,...”. Tình hình đó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị cần nhận thức đúng cả thời cơ và thách thức để không bị rơi vào các trạng thái tự mãn, chủ quan hoặc bi quan thái quá. Trên cơ sở đó, xây dựng quyết tâm, niềm tin, khát vọng tiếp tục đẩy mạnh đổi mới toàn diện, đồng bộ để phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc bằng cả kinh nghiệm thực tiễn và những luận cứ khoa học.
Theo đó, nếu chúng ta quan niệm động lực, nguồn lực là những yếu tố tạo nên sức mạnh thúc đẩy sự phát triển, thì động lực bảo đảm cho sự đổi mới liên tục bao gồm nhiều yếu tố có thể nhận biết rất rõ sau:
Một là, yếu tố khơi nguồn động lực của đổi mới chính là việc định hướng đúng, phát động đúng thời điểm. Chúng ta xác định đổi mới phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Định hướng đúng đắn cho sự nghiệp đổi mới vừa hợp thời, hợp quy luật, hợp lòng dân, tạo nên sự chắc chắn, vững tin. Chuẩn bị kỹ và phát động đổi mới đúng lúc, đồng thời với mở cửa hội nhập nên chúng ta có thể chủ động và sáng tạo trong mọi tình huống, đã đứng vững và phát triển trong khi cải cách ở Liên Xô và Đông Âu bị thất bại.
Hai là, những thành quả của đổi mới tiếp thêm luồng sinh khí mới, tăng thêm động lực, tạo cho đất nước ta thế mới, lực mới, gia tốc mới. Thế mới và lực mới là tổng hợp những thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội; là kết quả của việc phát triển mọi mặt với sự thông thoáng trong nước và mở rộng quan hệ hợp tác với bên ngoài. Gia tốc mới là khả năng vượt trội, là độ tăng trưởng liên tục ở mức khá cao tạo đà cho giai đoạn kế tiếp. Thế mới, lực mới, gia tốc mới tạo ra tầm vóc và khả năng mới của đất nước. Đó không chỉ là khả năng đất nước vươn tầm mà còn là năng lực mới mạnh mẽ để tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp đổi mới phát triển. Đổi mới được nạp thêm năng lượng mới.
Ba là, yếu tố quyết định là động lực và những nguồn lực trong nước. Động lực quan trọng phục vụ và thúc đẩy công cuộc đổi mới là tổng hợp các nguồn lực trong nước, bao gồm không chỉ có vốn, tài sản đã tích lũy được mà còn là tài nguyên chưa đưa vào sử dụng; là lợi thế về địa kinh tế, địa chính trị và quan trọng hơn hết là nguồn lực con người, bao gồm cả sức lao động trí tuệ và sức mạnh tinh thần gắn với truyền thống văn hóa của dân tộc ta. Trong các nguồn lực đó, nguồn lực về tài nguyên là khá phong phú; nguồn lực về đất đai, vị trí địa lý là khá thuận lợi; nguồn lực về truyền thống là sâu sắc, đặc thù; nguồn lực về con người và trí tuệ vô cùng to lớn.
Bốn là, những nguồn lực từ bên ngoài -một yếu tố quan trọng mà nếu biết cách tranh thủ cũng sẽ tạo nên động lực cho công cuộc đổi mới đất nước. Nguồn lực bên ngoài bao gồm: vốn, kỹ thuật - công nghệ, kinh nghiệm quản lý, chất xám, tinh hoa văn hóa nhân loại. Trên cơ sở phải phát huy mọi nguồn lực trong nước, chúng ta có đầy đủ điều kiện để có thể thu hút nguồn lực bên ngoài. Với việc mở rộng nhiều hình thức, có bước đi, biện pháp và chính sách ưu đãi thích hợp, chúng ta nhất định khuyến khích mạnh mẽ việc hợp tác về kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ; đặc biệt là thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào nước ta trên cơ sở đôi bên cùng có lợi.
Năm là, sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân. Đây là động lực mang tính quyết định đối với sự nghiệp đổi mới. Động lực đó bắt nguồn từ năng lực sáng tạo, bản lĩnh trí tuệ của Đảng ta và nhân dân ta, thể hiện ở trình độ đoán định, nắm bắt những yếu tố và những vấn đề của thời cuộc, dự kiến đúng tình huống, xác định đường đi nước bước rõ ràng, sẵn sàng tạo lập và nắm bắt thời cơ, khắc phục nguy cơ, vượt qua thách thức đưa đất nước đi lên. Do đổi mới là sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân nên khi Đảng ta phát động, nhân dân nhiệt tình hưởng ứng, tạo thành động lực to lớn thực hiện có hiệu quả sự nghiệp đổi mới đất nước.
Rõ ràng công cuộc đổi mới của chúng ta không chỉ đạt được những thành tựu to lớn qua gần 40 năm thực hiện, mà còn tiếp tục được đẩy mạnh với những nguồn lực phong phú và hết sức to lớn, trong đó có những nguồn lực không bao giờ cạn. Hành trình đổi mới với sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân đã và đang kết hợp tất cả ba yếu tố: thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Đó là động lực lớn nhất, là yếu tố cơ bản nhất để chúng ta tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, tạo nên khả năng thành công của sự nghiệp cao cả trọng đại: xây dựng đất nước ta giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.
ST

CÔ BA DŨNG SỸ, CHỊ HAI NĂM TẤN TRANG SỬ VẺ VANG CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC

 Cứ mỗi lần giai điệu của ca khúc “Hai chị em” vang lên, lòng tôi lại xốn xang một cảm xúc khó tả, một cái gì đó vừa bồi hồi, xúc động, lại vừa day dứt một nỗi niềm nhớ quê. "Cô Ba dũng sĩ quê ở Trà Vinh, chị Hai năm tấn quê ở Thái Bình, hai chị em trên hai trận tuyến anh hùng bất khuất - trung hậu đảm đang. Trang sử vàng chống Mỹ cứu nước, sáng ngời tên những cô gái Việt Nam... Đẹp lắm chứ, anh hùng lắm chứ".

Nếu ai chưa từng đi xa sẽ khó có cảm giác giống như tôi, hơn thế nữa tôi lại đang có mặt ở mảnh đất Trà Vinh - vùng quê kết nghĩa “chị em” với Thái Bình từ thời kháng chiến chống Mỹ. Ở Trà Vinh có nhiều “cô Ba” lắm, nếu như ngày xưa có “cô Ba dũng sĩ”, thì ngày nay là những cô "Ba tân thời" miệt mài bên những mảnh vườn sum suê trái ngọt, bên những cánh đồng bát ngát, bên những hàng dừa xanh mướt ngút ngàn. Cô Ba kháng chiến nay trở thành những “bà cố” hoặc thành thiên cổ, nhưng chiến tích của họ thì sử sách mãi còn khắc ghi. “Chị Hai” ở Thái Bình xa xôi mà kết nghĩa “chị em” được với “cô Ba” thì cũng là một kỳ tích hiếm có. Dưới thời đạn bom ác liệt, giữa hai bờ chiến tuyến mà lửa thù không đốt được dải Trường Sơn thì ở đâu đó nơi làng quê xa xôi hay nơi mặt trận khói lửa vẫn vang lên câu hát rộn ràng khí thế mà chất chứa tình yêu quê hương, đất nước.
Cô Ba dũng sĩ quê ở Trà Vinh, chị Hai năm tấn quê ở Thái Bình, hai chị em trên hai trận tuyến anh hùng bất khuất trung hậu đảm đang. Trang sử vàng chống Mỹ cứu nước sáng ngời tên những cô gái Việt Nam... Đẹp lắm chứ, anh hùng lắm chứ.
Dù rằng ở hai trận tuyến khác nhau, dù rằng cô trong Nam, chị ngoài Bắc, khác nhau địa giới hành chính, khác cả phong tục tập quán và giọng nói, tiếng cười nhưng ở họ vẫn có một điểm chung, họ vẫn là những “cô gái Việt Nam” - những cô gái được Bác Hồ khen ngợi bằng tám chữ vàng “Anh hùng, Bất khuất, Trung hậu, Đảm đang”; họ là những chiến sĩ cầm súng trên chiến trường, là những người thợ cầm cuốc cày ở lại xây dựng quê hương giúp chồng ra tiền phương đánh giặc. Dù ở vị trí nào, ở địa phương nào họ cũng đều là những người anh hùng, đều là những tấm gương sáng, là những dấu chấm đỏ tươi trên “trang sử vàng truyền thống của Phụ nữ Việt Nam”. “Cô gái Việt Nam” đẹp lắm! anh hùng lắm! Họ không chỉ đẹp bởi vóc dáng, mà còn bởi nụ cười chiến thắng, nụ cười tin tưởng vào ngày mai huy hoàng của Tổ quốc thống nhất. Nụ cười của "cô Ba" e ấp sau nón lá dừa và nụ cười của “chị Hai” hồn hậu bên sóng lúa đương thì con gái đã trở thành hình tượng đẹp nhất mỗi khi nhắc tới quê hương Việt Nam. Thời đại sinh ra những người anh hùng và những người anh hùng ấy đã làm cho thời đại bừng sáng lên, thời đại của những cô gái tay không bắt giặc, thời đại của những o du kích nhỏ giương cao súng, thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu. Phụ nữ Việt Nam, người con gái Việt Nam anh hùng và dũng cảm.
Thời đại của những “bà mẹ cầm súng” trong trang văn của Anh Đức, của những “mẹ đào hầm khi tóc còn xanh” trong ý nhạc của Phạm Minh Tuấn và là thời đại của những chị Hai năm tấn, của cô Ba dũng sĩ trong nhạc Hoàng Vân, thời kỳ “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, “những nón trắng cày ruộng thay chồng trên cánh đồng năm tấn thóc”, thời kỳ “hậu phương thi đua với tiền phương”… còn nhiều, nhiều nữa những bà, những mẹ, những chị như vậy.
Nếu ai đã từng một lần bắt gặp cái “dáng kiều thơm” bé nhỏ trong ký ức của chàng lính Tây Tiến, đã từng gặp cái “bồn chồn nhớ mắt người yêu” trong “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi sẽ thấy đâu đó trong thơ, trong nhạc Việt Nam hình ảnh của những người phụ nữ ấy. Họ cũng bé nhỏ, cũng e ấp lắm nhưng họ cũng có thể trở thành bất tử như những vọng phu thuở nào, cũng có thể trở thành những anh hùng làm nên lịch sử. Họ tiễn người yêu lên đường nhập ngũ, tiễn chồng, tiễn con và đến lúc chính họ cũng trở thành chiến sĩ, họ cũng cầm súng chiến đấu. Họ là người Việt Nam đã góp phần làm vẻ vang thêm trang sử, làm nên những bản anh hùng ca hào hùng của thời kỳ đấu tranh chống Mỹ cứu nước. Trên cánh đồng lúa chín, dưới tầm đạn thù, người phụ nữ Việt Nam vẫn cầm liềm cắt lúa, vẫn cất cao tiếng hát qua mỗi vụ được mùa, ngoài tiền phương các cô vẫn dẫn đầu đoàn binh tóc dài, áo bà ba đi “đốt đồn giặc thù”. Dù là đổ mồ hôi hay đổ máu xương đều là vì một nghĩa lớn, bởi một trái tim muốn cống hiến hết mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Chị và em tuy hai mà một, chiến công của em có mai vàng mừng công đẹp lắm, chiến công của chị có lúa thóc trĩu đòn gánh trên vai gửi vào chiến trường nuôi quân. Cả chị cả em, cả một thế hệ những người phụ nữ Việt Nam thời ấy cùng chuyển mình, cùng hiến dâng vì một lý tưởng cao đẹp, một triết lý sống còn mà dân tộc đã giao phó “vừa đảm đang vừa bất khuất”. “Hỡi ai có xa quê ta Thái Bình hỏi rằng lúa vụ mùa năm nay có đẹp không?” “Đẹp lắm chứ! Anh hùng lắm chứ!” lúa Thái Bình vẫn đẹp, gạo Thái Bình vẫn cứ trắng trong như tấm lòng của “chị Hai” dành cho “cô Ba”, dành cho quê hương đất nước. Để đến một ngày đất nước thống nhất, non sông liền một dải em sẽ lại “hát chị nghe” như ngày nào. Tình cảm sâu nặng, thủy chung son sắt chính là đặc điểm nổi bật nhất trong tâm hồn những cô gái Việt Nam.
Đã nửa thế kỷ đi qua kể từ khi ca khúc ra đời, người nghe nhạc vẫn đắm đuối, ngẩn ngơ với giai điệu vui tươi, lạc quan yêu đời tin tưởng vào chiến thắng. Nước nhà thống nhất, giang sơn thu về một mối. Để ai đó có đi trong chiến trường, hỏi rằng mùa này hoa mai đã nở chưa, đẹp lắm ấy hoa nở khắp chốn. Vâng! Mùa hoa chiến công nở rộ khắp chiến trường. Thái Bình mùa này mùa lúa bội thu. Cả hai miền thắng lớn.
Tan giặc về để em lại hát chị nghe. Chúng ta hãy dành hàng ngàn bó hoa tươi thắm nhất để trao tặng các mẹ, các chị với tình cảm thân thương và lòng quý trọng biết ơn nhất. Các mẹ, các chị chính là những bông hoa đẹp nhất đã và đang hiến dâng cho đời./.
ST

Không thể xuyên tạc về Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII

 Những ngày trước, trong và sau Hội nghị Trung ương 8 của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã có không ít những bài viết mang tính "giật tít, câu view" trên mạng xã hội của một số "nhân vật quen thuộc" đã  xuyên tạc trắng trợn vấn đề nhân sự, công tác cán bộ của Đảng nói riêng và nội dung Hội nghị Trung ương 8 nói chung.

Phiên bế mạc Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIII. (Ảnh: TTXVN)

Phiên bế mạc Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIII. (Ảnh: TTXVN)

HỘI NGHỊ THẢO LUẬN VÀ QUYẾT ĐỊNH NHIỀU NỘI DUNG QUAN TRỌNG

Có một sự thật không thể bẻ cong là, Hội nghị Trung ương 8 của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra theo đúng chương trình, kế hoạch của toàn khóa. Nội dung, chương trình của Hội nghị đã được TTXVN và các cơ quan truyền thông, báo chí đăng tải rất rõ là: 1) Sẽ bàn và cho ý kiến kết luận về tình hình kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2023, kế hoạch năm 2024; kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm 2024-2026 và lộ trình thực hiện chế độ tiền lương mới. 2) Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa XI về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020. 3) Tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. 4) Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. 5) Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. 6) Quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và một số vấn đề quan trọng khác… Vì thế, luận điệu cho rằng nội bộ Đảng “đang bắt đầu cuộc đua tranh vào Trung ủy” và các phe cánh “sẽ tìm mọi cách, mọi thủ đoạn để triệt hạ lẫn nhau”, nên Hội nghị “phải họp kéo dài” chỉ là sự đoán mò; là xuyên tạc, bôi đen sự thật.

Nhìn vào nội dung, chương trình, thông cáo báo chí từng ngày họp và diễn văn bế mạc của Hội nghị, có thể thấy Trung ương đã thảo luận, bàn bạc và quyết nghị nhiều nội dung quan trọng, liên quan đến những vấn đề hệ trọng của đất nước. Hơn nữa, những kết quả của Hội nghị đã không chỉ “thể hiện tinh thần trách nhiệm, sự đoàn kết thống nhất cao của Trung ương”, không chỉ “góp phần quan trọng vào việc củng cố, phát huy những kết quả, thành tích rất đáng trân trọng mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nỗ lực phấn đấu đạt được từ đầu nhiệm kỳ đến nay”, mà còn đồng thời “góp phần tạo ra khí thế mới, xung lực mới cho sự nghiệp tiếp tục đổi mới đồng bộ và toàn diện; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát triển đất nước nhanh và bền vững vì Tổ quốc Việt Nam yêu quý của chúng ta” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định.

Tuy nhiên, những người "nhân danh" yêu nước, dân chủ và đấu tranh cho dân chủ không những không đồng ý với nhận định của Tổng Bí thư, mà còn xuyên tạc rằng: Trong bài phát biểu kết thúc Hội nghị này, người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam “tuy không còn quá tự tin trong so sánh “đất nước ta chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”, nhưng vẫn lạc quan khi so sánh toàn cầu rằng, “trong 9 tháng đầu năm vừa qua, kinh tế nước ta vẫn tiếp tục là điểm sáng trong bức tranh không mấy sáng sủa của kinh tế toàn cầu; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; lạm phát, nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài, bội chi ngân sách nhà nước được kiểm soát; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm”.

Không chỉ có vậy, việc Tổng Bí thư nhấn mạnh yêu cầu “tập trung ưu tiên thực hiện thắng lợi đồng bộ các nhiệm vụ chính trị: Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên” cũng đã bị các phần tử cơ hội, cực đoan, phản động xuyên tạc thành “ở đây ý ngầm của ông là kinh tế phát triển trước tiên phải dành phục vụ cho Đảng, sau đó mới là đời sống nói chung của dân chúng”.

Đồng thời, họ cũng bẻ cong sự thật khi cho rằng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thay cụm từ “Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” bằng cụm từ “Tổ quốc Việt Nam yêu quý của chúng ta” và xuyên tạc rằng “một ghi nhận là ở diễn văn bế mạc, cụm từ “xã hội chủ nghĩa” được nhắc đến mức tiết chế. Đó chính là trong phần kết diễn văn, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “kêu gọi xây dựng “hệ thống chính trị trong sạch” - “vì Tổ quốc Việt Nam yêu quý của chúng ta” - đã không có cụm từ “xã hội chủ nghĩa” thường thấy ở mẫu câu dạng thức lễ nghi này”. Thực tế, Việt Nam kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là không thể phủ nhận. Nội dung này cũng đã được Tổng Bí thư khẳng định trong phần Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” là: Việt Nam “kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên quyết, kiên trì, chủ động tạo lập thời cơ, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và điều kiện thuận lợi để xây dựng, phát triển đất nước”. Cho nên, “vì Tổ quốc Việt Nam yêu quý của chúng ta” hay vì “Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” cũng chỉ là một; đều là nghĩa vụ, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của mỗi người dân Việt Nam yêu nước chân chính. Vì thế, mọi sự xuyên tạc đều là phản động!.

Đặc biệt, dù một nội dung quan trọng đã được Tổng Bí thư khẳng định là: Việt Nam “chú trọng bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi” và “kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường đầu tư thích đáng cho việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, lực lượng vũ trang nhân dân, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy; tuyệt đối không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; chủ động, tích cực hội nhập, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế”, song các thế lực thù địch vẫn cố tình kích động và cổ súy Việt Nam cần phải “chọn phe”. Vì theo những nhà dân chủ ảo tưởng này thì “ngày nay, không một quốc gia nào có thể trung lập mà bắt buộc phải chọn phe. Vấn đề là chọn phe nào. Chiến tranh luôn có thể xảy ra, phải sẵn sàng khi nó xảy ra”. Và vì Việt Nam không chọn phe mà chọn lẽ phải, chọn chính nghĩa, nên họ thấy “chưa thấy có gì mới sau khi Hội nghị Trung ương 8 kết thúc”...

Như vậy, có thể thấy, bất chấp những luận điệu xuyên tạc, bôi đen sự thật của các thế lực thù địch, thì Hội nghị Trung ương 8 đã thành công tốt đẹp. Nội dung, chương trình Hội nghị đã được triển khai nghiêm túc và những kết quả tốt đẹp của Hội nghị không chỉ có ý nghĩa to lớn, nổi bật, thể hiện sâu sắc nhất ý Đảng, lòng Dân, vì những quyết sách quan trọng này có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nhân dân, mà việc thảo luận, thống nhất quyết định thành lập 5 Tiểu ban (Tiểu ban Văn kiện; Tiểu ban Kinh tế - Xã hội; Tiểu ban Nhân sự; Tiểu ban Điều lệ Đảng và Tiểu ban Tổ chức phục vụ Đại hội) còn là sự chuẩn bị quan trọng đối với Đại hội XIV của Đảng.

QUY HOẠCH NHÂN SỰ KHÔNG PHẢI LÀ “CUỘC ĐUA TRANH QUYỀN LỰC”

Có thể khẳng định rằng, quy hoạch nhân sự nói riêng, công tác cán bộ nói chung chỉ là một trong những nội dung quan trọng của Hội nghị Trung ương 8 chứ không phải là Hội nghị chỉ bàn về vấn đề này như các tít bài đã tung lên mạng xã hội. Bởi rằng, xuyên suốt và nhất quán trong các kỳ Đại hội của Đảng cũng như những Hội nghị Trung ương có bàn nội dung về vấn đề nhân sự thì công tác cán bộ nói chung, quy hoạch nhân sự nói riêng cho nhiệm kỳ Đại hội tiếp theo của Đảng luôn được quan tâm, chú trọng thực hiện và triển khai nghiêm túc theo đúng kế hoạch, lộ trình. Trước bất kỳ một Đại hội nào của Đảng, thì trên tinh thần “cán bộ là gốc của mọi công việc”(1), “công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”(2) và chăm lo cho công tác cán bộ là chăm lo “công việc gốc của Đảng”(3) - Đảng Cộng sản Việt Nam cũng nghiêm túc, cẩn trọng lựa chọn những cán bộ đủ tiêu chuẩn về đức và tài, xứng đáng để quy hoạch, bồi dưỡng, sau đó tín nhiệm, bổ nhiệm vào những vị trí lãnh đạo theo đúng yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ cách mạng cần.

Vì thế, không phải chỉ đến nhiệm kỳ Đại hội XIV của Đảng thì công tác nhân sự mới “hy vọng sẽ có cái mới” vì “sẽ nhiều cơ hội hơn cho lớp trẻ có năng lực, có ý chí làm ăn và có tầm nhìn được vào Trung ương”, mà chính là Đảng và Nhân dân luôn cần những cán bộ, nhất là cán bộ trẻ có phẩm chất đạo đức, năng lực trí tuệ, ý chí, bản lĩnh chính trị kiên trung và tầm nhìn xa, trông rộng, “dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm” để quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và tin tưởng giao phó trọng trách. Hơn nữa, công tác cán bộ, công tác nhân sự không phải chỉ diễn ra tại một Hội nghị Trung ương mà đó luôn là một nhiệm vụ quan trong, được thực hiện suốt tiến trình xây dựng và phát triển của Đảng, trong từng nhiệm kỳ và nối tiếp nhau giữa các nhiệm kỳ Đại hội của Đảng. Cho nên, những luận điệu võ đoán cho rằng, công tác nhân sự ở Hội nghị Trung ương 8 sẽ “gay cấn” vì “cánh bảo thủ chưa chịu bó tay”, nên vẫn “cần sự dàn xếp giữa các khuynh hướng để thỏa hiệp” chỉ là sự hồ đồ, thiển cận của những thầy bói “dạo”. Đồng thời, các ý kiến cho rằng, “một nội dung chiếm nhiều thời gian” trong Hội nghị Trung ương lần này là “vấn đề quy hoạch nhân sự cho tương lai” hay “trọng tâm của Hội nghị sẽ bàn về nhân sự cấp cao” cho Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam thật ra chỉ là sự võ đoán; là kiểu thầy bói “xem voi”, phán lấy được.

  Ảnh minh họa

Thực tế, những vấn đề liên quan đến công tác nhân sự tại Hội nghị Trung ương 8 đương nhiên không phải là vì sự tranh giành phe cánh, “không những giành nhau ghế khuyết, mà còn giành nhau cả ghế trong tương lai” như lời bịa đặt, bôi nhọ kia. Khi Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị có những vị trí khuyết (vì có đồng chí bị kỷ luật; có đồng chí mất do trọng bệnh) thì việc bầu bổ sung cho đủ số lượng theo quy định là đương nhiên. Đồng thời, việc quy hoạch nhân sự cũng đã nằm trong chương trình nghị sự, nên không thể quy chụp rằng, ngoài “chuyện ăn chia bầu bán” để trám vào vị trí đang khuyết thì Hội nghị này cũng “sẽ chia chác ghế cho Trung ương” khóa XIV, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Hơn nữa, nếu một ai đó vi phạm Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng mà bị kỷ luật thì cũng là lẽ thường tình. Nhưng có điều lạ là, rất nhiều “thầy bói xem voi” đã “tiến hành kỷ luật” cũng như “tiến cử” và làm “công tác nhân sự” hộ Đảng để nhằm kích thích sự tò mò của người đọc.

Cuối cùng, có một điều quan trọng, cần phải khẳng định chắc chắn rằng: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một người lãnh đạo bản lĩnh, trí tuệ và gương mẫu về phẩm chất đạo đức. Ở đồng chí, không chỉ là sống giản dị, cần kiệm, gương mẫu trong mọi công việc cũng như cuộc sống đời thường, mà còn luôn thống nhất giữa nói và làm; chí công vô tư trong từng công việc, nhất là những việc liên quan đến vấn đề con người. Vì thế, đối với một công việc quan trọng của Đảng như công tác cán bộ, công tác nhân sự cho nhiệm kỳ Đại hội tiếp theo thì Tổng Bí thư càng cẩn trọng chứ không “cảm tính”. Cho nên, đừng có tung tin kích động và xuyên tạc rằng “trong nội bộ Đảng, có rất nhiều ủy viên Trung ương sợ không dám ra mặt” nhưng “ngấm ngầm chỉ trích, quy trách nhiệm thuộc về người đứng đầu” để không chỉ chia rẽ khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng, mà còn bôi nhọ uy tín của Tổng Bí thư./.

LHQ-ST

KHÔNG PHẢI XUẤT TRÌNH SỔ HỘ KHẨU, SỔ TẠM TRÚ KHI LÀM THỦ TỤC BẢO HIỂM XÃ HỘI

 Khi thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của ngành bảo hiểm xã hội Việt Nam, người dân không phải nộp, xuất trình sổ hộ khẩu hay sổ tạm trú.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam vừa ban hành Công văn số 4144/BHXH-VP gửi bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc không yêu cầu công dân nộp, xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú khi thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của ngành bảo hiểm xã hội Việt Nam.
Theo đó, thực hiện Nghị định số 104/2022/NĐ-CP ngày 21/12/2022 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến việc nộp, xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú giấy khi thực hiện thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã thực hiện rà soát các thủ tục hành chính, dịch vụ công thuộc thẩm quyền giải quyết của ngành và bãi bỏ thành phần hồ sơ là “sổ hộ khẩu, sổ tạm trú giấy” trong các thủ tục hành chính lĩnh vực thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, cấp sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế.
Hiện nay, các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Bảo hiểm xã hội Việt Nam không còn thủ tục hành chính nào quy định về việc cung cấp, xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú.
Đồng thời, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng đã hoàn thành việc kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, bảo đảm phục vụ việc tra cứu, đối soát thông tin của công dân và hướng dẫn triển khai, thực hiện.
Nhằm triển khai, thực hiện quy định nêu trên, Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố trong quá trình tiếp nhận hồ sơ, giải quyết, trả kết quả thủ tục hành chính không yêu cầu công dân cung cấp, xuất trình sổ hộ khẩu và lưu ý các nội dung sau.
Trước hết, chấp hành nghiêm Quy chế tổ chức và hoạt động của Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong ngành bảo hiểm xã hội Việt Nam; bảo đảm các thành phần hồ sơ theo đúng quy định tại các quyết định công bố thủ tục hành chính của Bảo hiểm xã hội Việt Nam hiện hành; không được yêu cầu thêm hồ sơ ngoài quy định.
Tiếp đó, việc xác thực danh tính cá nhân áp dụng đối với tất cả các trường hợp nộp hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính để giải quyết đúng người, đúng quy định. Thông tin xác thực được tra cứu, khai thác thông qua một trong các hình thức sau:
Thứ nhất, thông qua chức năng tra cứu thông tin công dân từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trên phần mềm Thu và quản lý sổ, thẻ theo hướng dẫn tại Công văn số 1796/CNTT-PM ngày 19/9/2023 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
Thứ hai, thông qua tài khoản định danh điện tử của công dân được hiển thị trong ứng dụng VNeID (trường hợp người dân cung cấp thông tin qua ứng dụng VNeID) theo hướng dẫn tại Công văn số 2048/BHXH-VP ngày 5/7/2023 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam về việc sử dụng thông tin, giấy tờ tích hợp trên VNeID trong tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính.
Thứ ba, sử dụng thiết bị đầu đọc đã được kết nối trực tuyến với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, bao gồm thiết bị đọc mã QR, hoặc thiết bị đọc chíp trên thẻ căn cước công dân gắn chip (trường hợp đã được Bảo hiểm xã hội Việt Nam trang bị thiết bị đọc mã QR hoặc thiết bị đọc chíp trên thẻ căn cước công dân gắn chip).
Thêm vào đó, đối với trường hợp đã tra cứu thông tin theo các phương thức trên nhưng không có dữ liệu để xác thực, cán bộ tiếp nhận hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính được yêu cầu công dân nộp bản sao hoặc xuất trình giấy tờ có giá trị chứng minh thông tin về cư trú: Giấy xác nhận thông tin về cư trú, giấy thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Cùng với đó, đối với thủ tục hành chính có yêu cầu nộp hồ sơ tại nơi cư trú nhưng người dân lại nộp hồ sơ tại nơi khác nơi cư trú ghi trên căn cước công dân hoặc chứng minh nhân dân (còn giá trị sử dụng) thì chỉ yêu cầu các thành phần hồ sơ theo đúng quy định tại các quyết định công bố thủ tục hành chính của Bảo hiểm xã hội Việt Nam hiện hành; xác thực danh tính cá nhân để giải quyết đúng người, đúng quy định.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng yêu cầu bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố có trách nhiệm công khai văn bản này trên Cổng thông tin của bảo hiểm xã hội địa phương. Đồng thời, niêm yết tại Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả thủ tục hành chính để thông tin rộng rãi, tạo thuận lợi, đem tới sự hài lòng cho công dân trong việc giải quyết thủ tục hành chính theo tinh thần chỉ đạo của Chính phủ.
Toàn ngành bảo hiểm xã hội Việt Nam đang có gần 30 hệ thống ứng dụng; quản lý cơ sở dữ liệu của khoảng 100 triệu người dân; hơn 20 nghìn tài khoản công chức, viên chức và người lao động trong ngành thường xuyên truy cập, khai thác và sử dụng để thực hiện các nghiệp vụ của ngành.
Hệ thống cũng kết nối liên thông với hơn 13.000 cơ sở khám, chữa bệnh, hơn 620 nghìn tổ chức, doanh nghiệp và các bộ, ngành; cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho toàn bộ các thủ tục hành chính của ngành.
Mỗi năm, hệ thống của Bảo hiểm xã hội Việt Nam tiếp nhận và xử lý gần 300 triệu lượt hồ sơ giao dịch điện tử./.
ST

QUÂN ĐỘI LÀ MÔI TRƯỜNG ĐỂ RÈN LUYỆN THANH NIÊN

 Hàng năm, vào đầu xuân mới hàng vạn thanh niên cả nước lại lên đường nhập ngũ. Đây vừa là nghĩa vụ, là vinh dự cũng là trách nhiệm của thanh niên Việt Nam.

Được học tập, rèn luyện trong quân đội là điều kiện tốt để thanh niên tô luyện những phẩm chất nhân cách cần thiết đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước. Có thể nói, môi trường quân đội với kỷ luật nghiêm minh, nhưng sẽ giúp cho thanh niên hình thành và phát triển những phẩm chất mà môi trường khác khó có thể mang lại. Khi mới nhập ngũ, thanh niên phải tuân thủ nghiêm khắc với những quy định, điều lệnh, điều lệ quân đội, phải chấp hành mệnh lệnh của người chỉ huy. Thực tế, thanh niên bước vào quân đội với nhiều đặc điểm tâm lý khác nhau, hội tụ từ nhiều vùng miền khác nhau, những thói quen cũ như sự tùy tiện, buông lỏng, tự do vô kỷ luật thì nay vào quân đội họ phải chuyển hóa một cách nhanh chóng theo yêu cầu quân đội. Đó cũng chính là sự thay đổi từ nhận thức, thói quen, ngôn ngữ, cử chỉ, tác phong… đạt ở mức độ chuẩn hóa và thống nhất trong một tập thể quân sự. Môi trường quân đội cũng giúp cho thanh niên chuyển biến nhanh chóng về mặt nhận thức, đó chính là sự vững vàng về phẩm chất chính trị, về lập trường quan điểm…, từ đó hình thành nên sự đề kháng tốt giúp cho thanh niên luôn có ý thức được nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong môi trường quân đội, thanh niên cũng được hình thành lối sống mới như quan hệ đồng chí, đồng đội, ý thức tập thể, quan hệ quân - dân, giải quyết các vấn đề lợi ích phù hợp theo chuẩn mực xã hội.
Bên cạnh đó, khi thanh niên vào quân đội cũng được hình thành những phẩm chất chuyên môn nghề nghiệp theo các lĩnh vực cụ thể, điều đó sẽ làm cơ sở để mỗi quân nhân có thể vận dụng kiến thức vào cuộc sống sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự của mình. Trong môi trường quân đội, với đội ngũ cán bộ các cấp, họ vừa là người chỉ huy, vừa là nhà giáo dục có thể giúp quân nhân hình thành những tính cách tốt đẹp như sự trung thực, thẳng thắn, tính kiên cường…, điều này cũng giúp ích cho thanh niên có thể vững bước trong cuộc sống sau này. Có thể nói, được học tập, rèn luyện ở môi trường quân đội là điều kiện tốt cho thanh niên phát huy trên nhiều lĩnh vực./.
St

Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia lần thứ nhất

Hôm nay (14-12), Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới (HNQPBG) Việt Nam-Lào-Campuchia lần thứ nhất được tổ chức tại khu vực biên giới chung 3 nước (tỉnh Kon Tum/Việt Nam, tỉnh Attapeu/Lào và tỉnh Ratanakiri/Campuchia), khu vực huyện Ngọc Hồi và TP Kon Tum (tỉnh Kon Tum). Đoàn đại biểu Việt Nam do Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu; đoàn đại biểu Lào do Đại tướng Chansamone Chanyalath, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu; đoàn đại biểu Campuchia do Đại tướng Tea Seiha, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu cùng tham dự giao lưu. Trong khuôn khổ Giao lưu HNQPBG Việt Nam-Lào-Campuchia lần thứ nhất sẽ có nhiều hoạt động ý nghĩa như: Chào, tô son cột mốc chủ quyền; lực lượng bảo vệ biên giới 3 nước phối hợp tổ chức tuần tra, kiểm tra cột mốc ngã ba biên giới; diễn tập quân y chung giữa quân đội 3 nước; khánh thành Nhà văn hóa hữu nghị thôn Tà Ka, tặng quà Trường Tiểu học Bế Văn Đàn (xã Pờ Y, huyện Ngọc Hồi)... Trong dịp này sẽ diễn ra cuộc gặp thường niên giữa Bộ trưởng Bộ Quốc phòng 3 nước Việt Nam-Lào-Campuchia, cũng như lễ ký kết các văn kiện hợp tác. Giao lưu HNQPBG Việt Nam-Lào-Campuchia lần thứ nhất là hoạt động nhằm triển khai Kế hoạch hợp tác năm 2023 giữa Bộ Quốc phòng Việt Nam với Bộ Quốc phòng Lào và Bộ Quốc phòng Campuchia. Thành công của giao lưu sẽ góp phần tăng cường tin cậy chính trị, xây dựng tình hữu nghị, đoàn kết giữa 3 nước Việt Nam-Lào-Campuchia; thúc đẩy hợp tác thực chất giữa lực lượng bảo vệ biên giới 3 nước. Đồng thời, thông qua các hoạt động giao lưu góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, giao lưu nhân dân ở khu vực biên giới; truyền tải thông điệp về tình đoàn kết, hữu nghị, tương trợ lẫn nhau giữa chính phủ, quân đội và nhân dân 3 nước, qua đó góp phần xây dựng biên giới Việt Nam-Lào-Campuchia hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát triển. Nguồn: Báo QĐND

NHỚ NGÀY VÀO ĐẢNG

 Cứ mỗi lần kiểm điểm đảng viên cuối năm, tôi không khỏi bồi hồi xúc động khi nhớ lại những năm tháng đã qua, nhất là ngày được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng sản Việt Nam.

Rời đại học, tôi nhập ngũ vào ngày cuối cùng, tháng cuối cùng của năm 1969. Những ngày đầu nhập ngũ vào Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 42, Quân khu Tả Ngạn, chúng tôi được học tập, rèn luyện khá kỹ về nhiều nội dung, nhất là rèn luyện thể lực để phục vụ cho hành quân bộ vượt Trường Sơn vào Nam chiến đấu.
Mỗi lần hành quân, từng người phải mang vác vũ khí, quân tư trang, thực phẩm... ước chừng 20-25kg; khi về thì vác thêm 1 bó nứa cho đủ trọng lượng 35-40kg. Cứ như vậy, chúng tôi luyện tập hành quân liên tục trong một tháng, đến nỗi chân bắt đầu rớm máu, vai sưng tấy, nhưng mọi người đều phấn khởi vì sắp được lên đường đi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Sau hơn 3 tháng huấn luyện, chúng tôi hành quân ra khu vực ga Phú Thái (Hải Dương). Tàu chạy suốt đêm, mờ sáng thì đến Diễn Châu (Nghệ An). Từ đây, chúng tôi đi bộ vào rừng thuộc huyện Đô Lương (Nghệ An) tạm trú. Một ngày sau lại được lệnh hành quân về hướng Tây, lên Đường 15 (nay là đường Trường Sơn), rồi vượt Trường Sơn qua Cánh Đồng Chum-Xiêng Khoảng của nước bạn Lào. Lúc đầu, chúng tôi về Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 866, Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào. Sau đó hành quân về khu vực đóng quân của Trung đoàn 148, Sư đoàn 316, rồi được biên chế về các đơn vị trực thuộc. Cá nhân tôi được về Tiểu đội 10, Trung đội 3, Đại đội 9, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 148.
Lần đầu tiên được theo các anh vào trận, tôi rất vui, nhưng cũng rất lo lắng. Tôi vẫn nhớ lúc ấy, đồng chí Tiểu đội trưởng nói rằng: “Các cậu thuộc quyền chỉ huy của tôi nên nhất cử nhất động phải theo tôi” và dặn thêm, lần này đánh công sự vững chắc nên anh em phải dũng cảm, kiên quyết xung phong. Sau khi họp Tiểu đội, tôi được giao nhiệm vụ là Tổ trưởng Tổ xung kích đầu tiên của Đại đội và Tiểu đoàn, đánh hướng chủ yếu của Trung đoàn, đánh vào cao điểm 1900A do 1 tiểu đoàn địch đóng tại phía Nam Cánh Đồng Chum-Xiêng Khoảng. Thời gian nổ súng là 3 giờ sáng 13-3-1971.
Địch bố trí các hàng rào dày đặc khiến việc mở cửa rất khó khăn nên chúng tôi phải cho nổ mìn quét để mở cửa. Rất may là mìn nổ rất tốt, 5 hàng rào cả bùng nhùng, rào thấp, rào cao cơ bản bị quét sạch. Sau tiếng nổ, địch dùng hỏa lực bắn ra xối xả. Tôi nhanh chóng lấy khẩu B40 từ đồng đội, nhắm ổ đại liên bắn thẳng. Ổ đại liên im bặt, nhưng M79 và lựu đạn xối xả tung ra khiến tôi bị thương vào mắt phải. Nhờ đồng đội băng bó, tôi tiếp tục dẫn đầu đội hình xung phong đánh thẳng vào sở chỉ huy của tiểu đoàn địch.
Sau hai giờ chiến đấu ác liệt, chúng tôi chiếm được toàn bộ 3 mỏm của cao điểm 1900A, tuy vậy, đơn vị cũng thương vong một số.
Trận đánh vừa kết thúc vào 7 giờ sáng cũng là lúc Chính trị viên Đại đội Đỗ Đình Lưu có mặt trên cao điểm và gọi to: “Lân ơi, cậu gặp máy Chính trị viên Tiểu đoàn Trịnh Ngọc Nhu”. Ở đầu dây bên kia, tiếng Chính trị viên Tiểu đoàn vang lên: Chúc mừng đơn vị đã chiến thắng. Đảng ủy Tiểu đoàn đã quyết định từ giờ phút này, đồng chí Lân là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam và được bổ nhiệm làm Trung đội trưởng Trung đội 3, Đại đội 9, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 148.
Tôi xúc động vô cùng và hứa với Chính trị viên cũng như Đảng ủy Tiểu đoàn sẽ tiếp tục phấn đấu, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp của Đảng.
Sau khi được băng bó bên mắt bị thương, tôi tiếp tục chỉ huy Trung đội, cùng đội hình cấp trên truy quét địch, đánh địch phản kích tái chiếm cao điểm 1900A cho đến khi làm chủ hoàn toàn cao điểm này và bàn giao lại cho Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 148 chốt giữ. Lúc đó, tôi rời trận địa do vết thương mất máu, anh em phải dìu về căn cứ.
Với thành tích đặc biệt xuất sắc, tôi được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì. Những ngày tôi điều trị vết thương là những ngày đơn vị được bổ sung quân số, vì sau trận đánh, đơn vị chỉ còn mấy chục anh em. Chúng tôi nhanh chóng củng cố lực lượng, bồi dưỡng về chính trị, bổ sung về kỹ thuật, chiến thuật để chuẩn bị cho trận đánh tiếp theo. Lần này, đơn vị được lệnh hành quân đánh địch tại căn cứ Mường Sủi trên đường Xiêng Khoảng đi Viêng Chăn.
Tháng 4-1971, đơn vị chúng tôi cùng các đơn vị khác, với sự chi viện của hỏa lực mặt trận và Sư đoàn, đã tiêu diệt gọn lực lượng tại căn cứ Mường Sủi để mở rộng vùng giải phóng của bạn, nối từ Xiêng Khoảng đi Viêng Chăn. Trận đánh kết thúc, tôi được bổ nhiệm làm Đại đội trưởng Đại đội 9, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 148 (Tiểu đoàn trưởng là anh Đào Trọng Lịch, sau này là Trung tướng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng). Chúng tôi hành quân về Phu Theng Leng để chuẩn bị cho chiến dịch mới.
Thấm thoắt vậy mà đã hơn 50 năm trôi qua!
Ngày vào Đảng, tôi không được hứa trước Đảng kỳ, nhưng với niềm tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, tôi đã suốt đời theo Đảng. Sau này, mỗi lần dự Lễ kết nạp đảng viên mới, trên cương vị của mình, tôi thường nhắc các đảng viên mới rằng, được đứng dưới cờ Đảng tuyên thệ thực sự là niềm vinh dự lớn lao./.
ST

TỪ HIẾN PHÁP 2013, CỤM TỪ "QUYỀN CON NGƯỜI" Ở VIỆT NAM ĐÃ TRỞ NÊN GẦN GŨI

 Hiến pháp 2013 lần đầu tiên chỉ rõ trách nhiệm của Nhà nước là "công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân", trách nhiệm của Chính phủ là “Bảo vệ quyền con người, quyền công dân; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội”.

Ngày này tròn 75 năm trước (10/12/1948), bản Tuyên ngôn Thế giới về quyền con người đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua. Đây là một trong những bước tiến vĩ đại nhất của quá trình văn minh hoá toàn cầu, là cơ sở cho sự ra đời của Ủy ban Nhân quyền, nay là Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Cũng từ đó, ngày 10/12 hàng năm được coi là Ngày nhân quyền quốc tế.
Năm nay, trước thềm Ngày nhân quyền quốc tế 10/12, tại Việt Nam đã có nhiều hoạt động thiết thực như hội thảo khoa học "Thành tựu thúc đẩy và bảo vệ Quyền con người trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam" hay hội nghị tập huấn cho 26 địa phương về đẩy mạnh truyền thông về quyền con người, khép lại chuỗi sự kiện ở 3 miền đất nước trong năm 2023 với tất cả 63 địa phương tham gia.
“Chúng ta cần làm cho thế giới hiểu về quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về quyền con người”. Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Lê Hải Bình đã nhiều lần nhấn mạnh điều này, đồng thời cho rằng, ngay chính cán bộ, đảng viên và nhân dân trong nước cũng phải hiểu rõ về những chủ trương đó cũng như những biện pháp mà Việt Nam đang tiền hành nhằm bảo vệ quyền con người.
Trên thực tế, từ năm 1977, sau khi gia nhập Liên hợp quốc đến nay, Việt Nam đã tích cực và chủ động ký kết, phê chuẩn, gia nhập các công ước quốc tế về quyền con người. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội khóa XIII thông qua có thể coi là đỉnh cao trong lịch sử lập hiến về bảo vệ quyền con người. Cũng từ đây, cụm từ “quyền con người” ở Việt Nam đã trở nên gần gũi. 10 năm qua, việc bảo vệ quyền con người đã thật sự đi vào các chủ trương, chính sách, đi vào nhận thức của cán bộ nhiều cấp, nhiều ngành…
Hiến pháp 2013 lần đầu tiên chỉ rõ trách nhiệm của Nhà nước là "công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân", trách nhiệm của Chính phủ là “bảo vệ quyền con người, quyền công dân; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội”. Hoạt động tư pháp phải có trọng trách bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa… Pháp luật quy định trừng phạt nghiêm khắc các hành vi tước đoạt mạng sống của con người một cách tùy tiện; nghiêm cấm tra tấn nhục hình; chỉ áp dụng án tử hình với các loại tội đặc biệt nghiêm trọng nhất. Bộ luật Hình sự năm 2015 tiếp tục bỏ án tử hình ở 08 tội danh; không áp dụng hình phạt tử hình với người dưới 18 tuổi, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội...
Có thể nói, từ Hiến pháp 2013, hàng loạt các bộ luật chuyên ngành đã được ban hành, tạo cơ sở pháp lý toàn diện bảo đảm quyền con người về dân sự, chính trị; quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương trong xã hội.
Không chỉ đẩy mạnh việc nghiên cứu về quyền con người, Việt Nam còn chủ trương thúc đẩy việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức về quyền con người cho đội ngũ cán bộ quản lý, lãnh đạo, cán bộ công chức, viên chức Nhà nước và địa phương. Từ năm 2017, Thủ tướng đã phê duyệt Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân với mục tiêu đến hết năm 2025, 100% các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân tổ chức giáo dục về quyền con người.
Cho đến nay, Việt Nam đã tham gia 7/9 Công ước quốc tế cơ bản, cốt lõi về quyền con người của Liên hợp quốc, 25 công ước về lao động của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), trong đó có Công ước số 98 về việc áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể (năm 2019) và Công ước số 105 của ILO về xóa bỏ lao động cưỡng bức (năm 2020). Việt Nam cũng đã chủ động nộp báo cáo rà soát định kỳ phổ quát lần 1, 2, 3 và các báo cáo quốc gia về tình hình thực thi nghĩa vụ đối với các công ước về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. Gần đây nhất, vào ngày 29-30 tháng 11 năm 2023, Việt Nam đã có phiên đối thoại quốc gia với Uỷ ban Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc.
Ở cấp độ song phương, Việt Nam thường xuyên tiến hành các cuộc trao đổi và đối thoại nhân quyền với các quốc gia và các đối tác quan tâm.
Năm nay, thế giới kỷ niệm “Ngày nhân quyền quốc tế” 10/12 trong bối cảnh ở nhiều nơi, nhiều khu vực đang bị tàn phá bởi chiến tranh, xung đột. Quyền được sống của những người dân vô tội trên thế giới bị tước đoạt. Rất nhiều thách thức đang tác động lớn đến quyền con người như: ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, sự gia tăng bất bình đẳng và phân biệt đối xử về chủng tộc, giới, sắc tộc…
Với Việt Nam, một dân tộc đã trải qua những năm dài chiến tranh, chịu tổn thất nặng nề về người và của, hơn ai hết, dân tộc Việt Nam càng hiểu rõ giá trị cao quý của quyền con người và quyền tự quyết dân tộc. Hai lần được bầu vào Hội đồng Nhân quyền LHQ là minh chứng rõ nhất cho thấy, thế giới tin tưởng vào những nỗ lực không mệt mỏi của Việt Nam nhằm bảo vệ và thúc đẩy quyền con người./.
ST

Thúc đẩy hợp tác về an ninh, phòng, chống tội phạm giữa Việt Nam - Belarus

Ngày 13-12, tại Hà Nội, Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì Lễ đón và hội đàm với Đoàn đại biểu Ban Thư ký nhà nước Hội đồng An ninh Cộng hòa Belarus do Thư ký Hội đồng Volfovich Aleksand Grigorievich làm Trưởng đoàn đang thăm, làm việc tại Việt Nam. Tại hội đàm, Bộ trưởng Tô Lâm và Thư ký Volfovich Aleksand Grigorievich đã trao đổi một số phương hướng hợp tác. Hai bên tích cực xây dựng chương trình cụ thể để triển khai thực hiện các nội dung trong Kế hoạch hợp tác giai đoạn 2024 - 2026 để đưa quan hệ hợp tác ngày càng đi vào thực chất, đạt hiệu quả cao, góp phần phát triển hơn nữa mối quan hệ truyền thống hữu nghị, tin cậy Việt Nam - Belarus. Hai bên chú trọng trao đổi đoàn cấp cao; đẩy mạnh quan hệ hợp tác an ninh, cảnh sát… đi vào thực chất, tin cậy lẫn nhau, có hiệu quả thiết thực, phát huy vai trò trụ cột quan trọng trong quan hệ hợp tác giữa hai nước; bảo đảm an ninh, an toàn hoạt động của các cơ quan đại diện ngoại giao, doanh nhân, lưu học sinh và kiều dân của nước này công tác, đầu tư, học tập và làm ăn sinh sống ở nước kia… Ngay sau hội đàm, Bộ trưởng Tô Lâm và Thư ký Volfovich Aleksand Grigorievich ký kết Kế hoạch hợp tác giữa Bộ Công an Việt Nam và Ban Thư ký nhà nước Hội đồng An ninh Belarus giai đoạn 2024 - 2026. TTXVN

“Voi chui lỗ kim” làm mất niềm tin nghiêm trọng

“Con voi chui lọt lỗ kim” là câu ta thán của không ít người dân, nhất là ở những cơ quan, đơn vị, địa phương có cán bộ, công chức (hoặc người thân quen của cán bộ, công chức) ngang nhiên vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước mà các cơ quan chức năng “không biết”, không xử lý. Suy cho cùng, những vụ việc kiểu “con voi chui lọt lỗ kim” chính là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân giảm sút niềm tin vào Đảng, Nhà nước; là nguy cơ xuất hiện các biểu hiện "tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. 1. Về các địa phương tiếp xúc, trò chuyện với người dân, chúng ta được nghe khá nhiều chuyện về hiện tượng “con voi chui lọt lỗ kim”, như: Khu homestay ngang nhiên xây trên đất nông nghiệp là của em trai ông cán bộ tỉnh đấy!; ngôi nhà của lãnh đạo quận xây vượt 2 tầng so với giấy phép, cao vọt hẳn lên so với những ngôi nhà xây đúng quy định, nhưng có bị xử lý gì đâu?; ông phó chủ tịch xã học chưa hết cấp 3, dân làng xì xào mà không hiểu sao ông ta vẫn có bằng đại học, vẫn thăng tiến; đất nhà mình ở từ thời ông cha thì đề nghị mãi vẫn không được cấp sổ đỏ, trong khi đó đất nông nghiệp gia đình cán bộ lấn chiếm thì có sổ đỏ hết rồi; quán bia đó bao năm chiếm hết vỉa hè nhưng không bị dẹp vì có cán bộ “bảo kê”, những nhà khác vừa bày vài cái ghế ra đã bị nhắc nhở, xử phạt... Điều rất đáng lo ngại là khi kể những chuyện như trên, người dân thường bày tỏ thái độ bất bình. Không chỉ bức xúc với những cán bộ, người trực tiếp liên quan đến sự việc vi phạm “cả làng, cả phố biết nhưng cơ quan chức năng “không biết”, không xử lý!” mà một số người dân còn bày tỏ sự thiếu tin tưởng vào cấp ủy, chính quyền địa phương, kỷ cương phép nước, thậm chí giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước. Ví dụ mới đây, việc ông Nguyễn Công Thắng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Bắc Ninh sử dụng bằng thạc sĩ giả khiến dư luận hết sức bất bình, bởi qua bao nhiêu cấp, bao nhiêu lượt kiểm tra mà vẫn lọt “con voi”; nhiều người đặt câu hỏi: Liệu có sự bao che, tiếp tay cho cán bộ này?... Hay nhiều nhất là tình trạng xây dựng không phép hoặc xây vượt giấy phép được cấp mà cán bộ và cơ quan chức năng "làm ngơ". Chất vấn Bộ trưởng Bộ Xây dựng tại phiên họp cuối năm 2022, đại biểu Nguyễn Thị Thủy, Phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội nêu thực tế ở nhiều nơi, rằng: Người dân chỉ cần chở một xe cát để sửa chữa nhỏ ngôi nhà trong ngõ sâu thì cán bộ cơ sở, thanh tra xây dựng biết ngay; thế nhưng có những công trình xây dựng lớn, vi phạm "tày đình" ở ngay mặt đường mà lực lượng chức năng lại "không phát hiện ra"! Điển hình là trường hợp "đại gia điếu cày" Lê Thanh Thản ngang nhiên "xây chui" cả tòa chung cư cao tầng ở phường Kiến Hưng (Hà Đông, Hà Nội) nhưng chính quyền cơ sở "không biết", cho đến khi những người mua nhà tại đây không làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng thì mới phát hiện ra (!). 2. Có lẽ cán bộ, đảng viên nào cũng biết lời nhắc nhở, răn dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền" và "Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước". Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên phải mẫu mực nêu gương, trước hết là người đứng đầu. Đặc biệt, những năm qua, Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định về việc cán bộ, đảng viên phải gương mẫu, như: Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) và Kết luận của Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Quy định số 101-QÐ/TW ngày 7-6-2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; Quy định số 55-QĐ/TW ngày 19-12-2016 của Bộ Chính trị về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên; Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương; Quy định về những điều đảng viên không được làm... Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Thực hiện nghiêm các quy định của Ðảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu. Ðảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiền phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng. Nêu gương là trách nhiệm, bổn phận và là đạo lý của người đảng viên của Ðảng trước nhân dân; trách nhiệm nêu gương đó phải được thể hiện từ trong tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tự phê bình và phê bình đến trong quan hệ với quần chúng, trách nhiệm trong công tác, ý thức tổ chức kỷ luật, đoàn kết nội bộ”. Thực tế những năm qua, Đảng, Nhà nước kiên quyết xử lý nhiều cán bộ, đảng viên có vi phạm, khuyết điểm với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”. Từ năm 2012 đến 2022, cả nước đã xử lý kỷ luật 2.740 tổ chức đảng và hơn 167.700 cán bộ, đảng viên có sai phạm, trong đó hơn 190 cán bộ diện Trung ương quản lý. Chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, đã khởi tố, điều tra 1.304 vụ/3.523 bị can về các tội tham nhũng (tăng hơn 2 lần về số vụ án và hơn 3 lần về số bị can so với nửa đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng); thi hành kỷ luật 91 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 17 Ủy viên và nguyên Ủy viên Trung ương Đảng (tăng gần 2 lần so với nửa đầu nhiệm kỳ Đại hội XII)... Qua đó cho thấy Đảng, Nhà nước ta không bao che, dung túng cho những cán bộ, đảng viên có vi phạm. Thế nhưng, những sự việc kiểu “con voi chui lọt lỗ kim” mà người dân vẫn thấy ở không ít cơ quan, đơn vị, địa phương, nhất là ở cấp cơ sở vẫn là điều rất đáng báo động. Đáng lưu ý là thông tin hiện nay được lan tỏa rất nhanh và rộng thông qua internet, mạng xã hội, có tác động rất lớn tới tư tưởng, tình cảm, tâm lý của mọi người và dư luận xã hội. Hơn nữa, thời đại văn minh, xã hội dân chủ thực sự rất bất bình, bức xúc trước những sự việc cán bộ, đảng viên đặc quyền, đặc lợi, tham nhũng, tiêu cực, nhất là những biểu hiện ngang nhiên coi thường kỷ cương phép nước. Nếu vẫn còn hiện tượng “con voi chui lọt lỗ kim” thì niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, Nhà nước sẽ bị suy giảm nghiêm trọng; không kiên quyết ngăn chặn hiệu quả sẽ là mối nguy của Đảng, dẫn đến hậu quả khôn lường. Đây chính là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. 3. Cổ nhân đã đúc rút “Mất niềm tin là mất tất cả” và “Đẩy thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân”. Thấu hiểu sự vô cùng nguy hại của việc cán bộ, đảng viên “Nói một đằng, làm một nẻo” cũng như để xảy ra các vụ việc tiêu cực kiểu "Con voi chui lọt lỗ kim", Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh: Cán bộ mà không gương mẫu thì dân sẽ không tin; cán bộ giữ cương vị càng cao càng phải tiền phong, gương mẫu... Tại Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Trọng tâm là phải phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, coi đây là gốc của mọi vấn đề”... Nghị quyết về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới mà Hội nghị Trung ương 8, khóa XIII vừa ban hành cũng đã xác định: Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và tính chiến đấu, sự nêu gương của Đảng. Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu có đủ phẩm chất, đạo đức, năng lực, uy tín, có tầm nhìn chiến lược. Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, hoạt động hiệu lực, hiệu quả... Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xử lý nghiêm những cán bộ có động cơ sai trái, tư tưởng cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”... Đồng thời, nghị quyết cũng nêu rõ phương châm phải dựa vào sức mạnh của nhân dân, “dân là gốc”, là trung tâm, chủ thể; xây dựng “thế trận lòng dân" vững chắc, "yên dân" là nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phải giữ vững, củng cố niềm tin của nhân dân, tạo đồng thuận xã hội... Thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, văn bản quy phạm pháp luật xác định rất rõ trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức (trong đó có trách nhiệm nêu gương) cũng như trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, tổ chức trong hệ thống chính trị và nhân dân trong công tác kiểm tra, giám sát với phương châm kịp thời phát hiện, kiên quyết xử lý nghiêm khắc những vi phạm, làm trong sạch đội ngũ, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước... Để những nghị quyết, chỉ thị, quy định, phương châm này được thực thi hiệu quả, đòi hỏi chúng ta phải triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ nhiều biện pháp, nhưng thiết nghĩ việc quan trọng nhất là cần triệt để vận dụng bài học lịch sử “dựa vào dân” theo đúng phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” mà Đảng ta đã xác định. Trong đó, cần có những quy chế, quy định cụ thể hơn để phát huy tối đa trách nhiệm và tai mắt của hàng triệu quần chúng nhân dân, kịp thời phát hiện, tố giác những cán bộ, đảng viên có vi phạm, khuyết điểm; đặc biệt là phải có hệ thống tiếp nhận thông tin tố giác thuận tiện, nhanh chóng và cơ chế bảo vệ, khen thưởng xứng đáng cho người tố giác đúng. Cùng với đó, kiên quyết thực hiện việc truy trách nhiệm đến cùng, xử lý thật nghiêm những cán bộ và cơ quan chức năng để xảy ra vụ việc vi phạm theo kiểu “con voi chui lọt lỗ kim” làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới niềm tin của nhân dân vào kỷ cương phép nước; không để các thế lực thù địch, phản động có cớ lợi dụng công kích, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta. Nguồn: Báo QĐND