Thanh niên xung phong (TNXP)- một thế hệ thanh niên vô cùng gan dạ, thông minh, không sợ gian khổ, hy sinh, quyết chiến, quyết thắng trong chiến đấu, trong lao động sản xuất, trở thành biểu tượng sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là tấm gương sáng cho thế hệ thanh niên Việt Nam hôm nay noi theo.
Trải qua những năm tháng hào hùng của dân tộc, TNXP đã có mặt ở hầu hết các mặt trận, chiến trường gian khổ, ác liệt; sát cánh cùng các lực lượng ngày đêm phục vụ và trực tiếp chiến đấu, lập nên nhiều chiến công xuất sắc. Những con người quả cảm ấy được chính bộ đội ta thương yêu quý mến và gọi với cái tên rất đỗi thân thương là “lực lượng chân đồng, vai sắt, mắt ngựa, bụng thần tiên". Những năm tháng ấy, trên các tuyến đường ra trận, đâu đâu chúng ta cũng bắt gặp “những bông hoa trên tuyến lửa”, các chàng trai, cô gái trên khắp mọi miền Tổ quốc tình nguyện lên biên giới, ra mặt trận làm nhiệm vụ hay đi đến những nơi xa xôi hẻo lánh để xây dựng kinh tế mới…; họ lạc quan, hăng say làm việc với một ý nghĩ cao đẹp “sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”. Để rồi, từ các phong trào “Ba sẵn sàng”, “Năm xung phong”, “Xuống đường tranh đấu”… đã xuất hiện những con người, những việc làm kỳ diệu...
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, phần lớn TNXP trở về địa phương tham gia lao động sản xuất trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, nhiều người do ảnh hưởng của chiến tranh, thương tật tái phát, ốm đau, bệnh tật, phải đối mặt với những vất vả, nhọc nhằn trong cuộc sống… Không đầu hàng trước đói nghèo, bệnh tật, các cựu TNXP lại bước vào trận tuyến mới, kề vai sát cánh, bắt tay thực hiện Phong trào “Cựu TNXP làm kinh tế giỏi-vì nghĩa tình đồng đội”. Đây là hoạt động mang nhiều ý nghĩa đã cổ vũ, động viên cán bộ, hội viên tiếp tục phát huy truyền thống lực lượng TNXP, đóng góp sức lực, trí tuệ, kinh nghiệm, thi đua làm kinh tế giỏi, góp phần tham gia phát triển kinh tế-xã hội; thực hiện đạo lý nghĩa tình đồng đội giúp đỡ cựu TNXP khó khăn xóa nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng, nâng cao cuộc sống. Từ phong trào này xuất hiện nhiều mô hình cựu TNXP làm kinh tế giỏi, có đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, hỗ trợ, giúp đỡ nhiều cựu TNXP làm kinh tế thoát nghèo và giải quyết việc làm cho con em cựu TNXP, hoàn thành tốt nghĩa vụ nộp thuế vào ngân sách nhà nước, tích cực hỗ trợ kinh phí hoạt động cho tổ chức hội và các hoạt động từ thiện xã hội, được chính quyền địa phương và các đoàn thể đánh giá cao.
Các cựu TNXP dù tuổi cao, sức yếu, nhiều đồng chí là thương binh, bệnh binh nhưng vẫn ngời sáng tấm gương đạo đức của người cán bộ cách mạng, họ đã nêu cao tinh thần “thời trẻ dũng cảm xung phong, về già nêu gương mẫu mực” để luôn là người ông, người bà, người cha, người mẹ mẫu mực, người đảng viên ưu tú, người công dân tích cực, gương mẫu chấp hành mọi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước.
Điều hết sức trăn trở hiện nay là chế độ chính sách cho cựu TNXP còn tồn đọng tương đối lớn, nhất là chế độ chính sách về thương binh, liệt sĩ, nạn nhân nhiễm chất độc da cam, bảo hiểm y tế... Đây thực sự là trách nhiệm lớn lao của Đảng, Nhà nước, các ngành, các địa phương cũng như tổ chức hội cựu TNXP. Hơn bao giờ hết, các cấp, các ngành cần phải quan tâm đầy đủ việc chăm lo giải quyết chế độ, chính sách tồn đọng sau chiến tranh cho cựu TNXP; tích cực đề xuất việc sửa đổi, bổ sung chính sách đối với TNXP trong kháng chiến; trước mắt, tập trung rà soát hồ sơ hiện có nhưng chưa được giải quyết, phối hợp xử lý những trường hợp hồ sơ thất lạc do điều kiện chiến tranh…
Trong hoàn cảnh nào, lực lượng cựu TNXP không trông chờ, ỷ lại, luôn lạc quan, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đạo đức, lối sống, nói đi đôi với làm, với tinh thần “nhân cái đẹp, dẹp cái xấu”, “lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”… Chính “những bông hoa trên tuyến lửa” ấy đã góp phần từng bước xây dựng nền tảng tinh thần xã hội, thấm đẫm cốt cách con người Việt Nam “có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: Yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo” trong hành trình xây dựng và phát triển đất nước hôm nay.
THANH BÌNH NIỀM KHÁT KHAO VÀ GIÁ TRỊ THỰC CỦA CUỘC SỐNG
Từng ngày, từng giờ! Để có được một cuộc sống thanh bình, một giấc ngủ ngon, một nụ cười trẻ thơ êm đềm, một tình yêu ngọt ngào diệu vợi của chúng ta! Ngoài kia, nơi vùng biên cương tươi đẹp, nơi đầu sóng ngọn gió biết bao nhiêu cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang đang chắc tay súng bảo vệ đất, biển, trời, biên cương của Tổ quốc và nhân dân trong đó có những người thân yêu của chúng ta!. Tôi không được vinh dự cầm súng như các anh! Nhưng chúng tôi tự nhủ với lòng, chúng tôi sẽ là những bông hoa hậu phương đẹp nhất để các anh yên lòng chắc tay súng bảo vệ quê hương, vì lý tưởng sống, rồi đây những người thân yêu nhất của chúng tôi cũng sẽ hiên ngang theo các anh lên đường thực hiện nghĩa vụ quân sự, vui cùng sông - núi, vang mãi khúc quân hành!.
Trong 4 năm qua, dù học tập ở Đoàn 871, Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật (VHNT) Quân đội hay thực tập ở Báo Quân đội nhân dân (QĐND), ở đâu chúng tôi cũng nhận được sự quan tâm, giúp đỡ, động viên nhiệt tình, thân thiết của những người đồng chí, đồng đội, thầy cô Việt Nam.
Người Việt Nam luôn coi chúng tôi như anh em một nhà. Tôi cảm thấy Việt Nam giống như quê hương thứ hai của mình. Sau khi học xong và trở về nước Lào, chắc chắn tôi sẽ nhớ nhà trường, nhớ các thầy, cô giáo và các bạn bộ đội Việt Nam đã dành tình cảm yêu thương, thân thiết cho tôi khi học tập ở Việt Nam.
Tôi sinh ra và lớn lên tại xã Yone, huyện Paek, tỉnh Xiêng Khoảng (nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào). Năm 2013, tôi nhập ngũ vào QĐND Lào. Đến đầu tháng 9-2019, tôi có cơ hội được cử sang học tập tại Việt Nam.
Lần đầu tiên đến Việt Nam, tôi không khỏi bỡ ngỡ vì chưa biết tiếng Việt, khó có thể giao tiếp với người Việt. Thời gian đầu, khi được học tập tiếng Việt tại Đoàn 871 (Tổng cục Chính trị), tôi không khỏi lúng túng. Nhiều hôm tôi ăn không ngon, ngủ không yên vì lo lắng cho việc học tập và cảm thấy buồn nên có ý định xin về nước. Nhưng sau một thời gian, được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của các thầy, cô giáo, các bạn học viên cùng lớp và sự nỗ lực của bản thân, tôi dần làm quen với môi trường học tập mới, việc học tiếng Việt ngày càng tốt hơn. Sau một năm học tiếng Việt tại Đoàn 871, tôi được chuyển sang học ngành báo chí tại Trường Đại học VHNT Quân đội từ tháng 8-2020.
Thời gian đầu học tập tại trường, dù đã biết tiếng Việt song chưa thạo, trong khi tôi chưa bao giờ học về báo chí, lại chưa có kinh nghiệm về nghề làm báo nên chất lượng học tập của tôi ban đầu chưa tốt. Vì thế, tôi càng phải cố gắng học tập. Nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của Khoa Văn thư lưu trữ và Báo chí, các thầy, cô giáo, tôi không chỉ được học chuyên môn nghiệp vụ báo chí mà còn được giao lưu tiếng Việt với các bạn Việt Nam cũng như học ngoại khóa, chơi thể thao, giao lưu văn hóa-văn nghệ và tham gia các sự kiện, chương trình của nhà trường tổ chức. Đây là cơ hội giúp tôi tăng cường khả năng sử dụng tiếng Việt và tiếp thu được nhiều bài học bổ ích.
Vào cuối kỳ I, đầu kỳ II của năm học 2020-2021 là khoảng thời gian mà tôi và các bạn học viên không được về Lào thăm gia đình vì lúc ấy dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trên thế giới và ở Việt Nam. Do vậy, tôi phải học online qua điện thoại, qua máy vi tính với các thầy cô. Tôi có cơ hội được ở lại Việt Nam và tham gia ăn Tết Nguyên đán nên có điều kiện hiểu biết về phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
Vào năm học thứ ba, sau khi dịch Covid-19 kết thúc, trong kỳ học này, tôi cùng các bạn học viên Lào trở lại học tập bình thường và có nhiều giảng viên báo chí ở ngoài trường vào dạy trực tiếp cho chúng tôi. Chúng tôi được học nhiều và học sâu hơn về các thể loại báo chí như: Báo in, phát thanh, truyền hình và báo điện tử. Vào năm học thứ tư, tôi được học nhiều hơn về thể loại truyền hình, học cách viết kịch bản, tăng cường kỹ năng và khả năng ghi hình, cắt dựng. Từ đó tôi càng hiểu thêm về công việc làm báo của phóng viên chuyên nghiệp.
Cuối tháng 11-2023, nhóm 8 học viên Lào chúng tôi được đi học tập kinh nghiệm thực tế viết báo tại Báo QĐND. Tôi được phân công về tìm hiểu thực tế làm báo tại Phòng biên tập Văn hóa-Thể thao, Báo QĐND. Tôi nhận được sự thăm hỏi, động viên thân tình của các anh chị em phóng viên. Tôi được đồng chí Đại tá Nguyễn Văn Hải, Trưởng phòng biên tập Văn hóa-Thể thao trực tiếp trao đổi, gợi ý về công việc viết báo chuyên nghiệp. Đại tá Nguyễn Văn Hải kể cho tôi nghe về việc đồng chí đã được sang thăm, công tác, tác nghiệp tại nhiều đơn vị QĐND Lào trong dịp kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống QĐND Lào (20-1-1949 / 20-1-2014). Sau đó, đồng chí Hải đưa cho tôi những tác phẩm đồng chí viết về truyền thống anh hùng của QĐND Lào, gồm vệt 3 bài ghi chép “65 mùa Chăm-pa nở hoa” (đăng Báo QĐND Hằng ngày, từ ngày 11 đến 13-1-2014); phóng sự ảnh “Đẹp lắm Chăm-pa xanh” (đăng Báo QĐND Cuối tuần, ngày 12-1-2014); “Bạn bè là nghĩa tương tri” (đăng Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng, số tháng 2-2014). Những tác phẩm của đồng chí Nguyễn Văn Hải viết về bộ đội Lào không chỉ có nội dung tốt mà còn thể hiện tình cảm sâu nặng của tác giả đối với cán bộ, chiến sĩ QĐND Lào. Nhờ đó, tôi vừa có cơ hội được học thêm cách viết báo, vừa có điều kiện trau dồi, nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt.
Trong 4 năm qua, dù học tập ở Đoàn 871, Trường Đại học VHNT Quân đội hay thực tập ở Báo QĐND, ở đâu chúng tôi cũng nhận được sự quan tâm, giúp đỡ, động viên nhiệt tình, thân thiết của những người đồng chí, đồng đội, thầy cô Việt Nam. Vì người Việt Nam luôn coi chúng tôi như anh em một nhà. Do vậy, tôi luôn biết ơn sự giúp đỡ quý báu đó...
Nguồn: Báo QĐND
Quan hệ hữu nghị hai nước Việt Nam - Trung Quốc được diễn tả rất đẹp như trong Bài hát Việt Nam - Trung Hoa của Nhạc sĩ Đỗ Nhuận - Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắn nhủ.
Chiều 13/12, Cuộc gặp gỡ hữu nghị với nhân sỹ và thế hệ trẻ hai nước Việt Nam - Trung Quốc đã diễn ra tại Hà Nội, nhân chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình cùng Phu nhân, Giáo sư Bành Lệ Viên và Đoàn đại biểu cấp cao Trung Quốc.
Dân trí trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Cuộc gặp gỡ:
"Kính thưa đồng chí Tập Cận Bình, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và Phu nhân - Giáo sư Bành Lệ Viên,
Thưa các đồng chí Trung Quốc và Việt Nam,
Thưa các nhân sĩ hữu nghị, các bạn thanh niên hai nước thân mến,
Hôm nay, tôi rất vui mừng cùng đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình gặp lại những người bạn, những người đồng chí Trung Quốc và Việt Nam đã có nhiều đóng góp cho quan hệ hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc nhân dịp chuyến thăm có ý nghĩa lịch sử của đồng chí Tập Cận Bình cùng Phu nhân - Giáo sư Bành Lệ Viên và Đoàn đại biểu cấp cao của Đảng, Nhà nước Trung Quốc đến Việt Nam.
Tôi đặc biệt xúc động gặp lại các nhân sĩ, trí thức, cán bộ Trung Quốc và thân nhân các đồng chí Trung Quốc đã từng giúp đỡ Việt Nam trong những năm tháng đấu tranh giành độc lập dân tộc. Tôi cũng cảm thấy tràn đầy niềm vui, niềm tin khi gặp gỡ các bạn thanh niên hai nước với chí hướng tiếp bước các thế hệ đi trước, mang đến sức sống và tương lai tươi sáng cho quan hệ Việt Nam - Trung Quốc. Tôi xin gửi đến tất cả các đồng chí và các bạn những lời chào thân ái, lời thăm hỏi chân tình, tình cảm thắm thiết và lời chúc tốt đẹp nhất.
Như chúng ta đều biết, quan hệ hữu nghị hai nước Việt Nam - Trung Quốc có nhiều truyền thống tốt đẹp; nhân dân hai nước láng giềng, quan hệ gần gũi, thân thiết, điều này được diễn tả rất đẹp như trong Bài hát Việt Nam - Trung Hoa của Nhạc sĩ rất nổi tiếng của Việt Nam Đỗ Nhuận là "Bên sông tắm cùng một dòng, tôi nhìn sang đấy, anh nhìn sang đây/Sớm sớm chung nghe tiếng gà gáy cùng".
Dưới sự lãnh đạo của hai Đảng Cộng sản, nhân dân hai nước đã dành cho nhau nhiều sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày nay. Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam luôn trân trọng, ghi nhớ, đánh giá cao sự ủng hộ mạnh mẽ, to lớn của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Trung Quốc đối với Việt Nam.
Chuyến thăm Việt Nam lần này của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình cùng Phu nhân rất có ý nghĩa, đúng vào dịp hai nước kỷ niệm 15 năm xác lập quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện.
Trong những năm qua, quan hệ hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước đã có nhiều bước phát triển quan trọng, sâu sắc và toàn diện. Thể hiện nổi bật ở sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau được củng cố, hai nước đã trở thành các đối tác kinh tế hàng đầu của nhau; hợp tác quốc phòng - an ninh trở thành một trong những trụ cột của quan hệ, hợp tác trong các lĩnh vực khác và giao lưu nhân dân không ngừng được mở rộng và ngày càng phong phú.
Nhân đây, tôi xin được nhắc lại lời phát biểu rất sâu sắc, có ý nghĩa của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình tại Cuộc gặp gỡ hữu nghị thanh niên Việt - Trung lần thứ 15 nhân dịp chuyến thăm Trung Quốc của tôi và Đoàn đại biểu cấp cao Đảng và Nhà nước Việt Nam vào tháng 4 năm 2015, đó là: "Quan hệ giữa các quốc gia là ở sự thân tình của người dân, mà sự thân tình của người dân là từ thế hệ trẻ". Đây cũng chính là thông điệp, là tinh thần của Cuộc gặp gỡ giữa tôi và đồng chí Tập Cận Bình cùng Phu nhân với đại diện các nhân sĩ hữu nghị và thế hệ trẻ hai nước Việt Nam - Trung Quốc ngày hôm nay.
Thưa các đồng chí và các bạn,
Nhân buổi gặp gỡ với các đồng chí và các bạn hôm nay, tôi xin vui mừng thông báo chuyến thăm Việt Nam lần này của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình cùng Phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao Trung Quốc đã thành công rất tốt đẹp. Trên nền tảng của quan hệ hữu nghị truyền thống và những thành tựu của quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện trong những năm qua, hai Đảng, hai nước đã nhất trí tiếp tục làm sâu sắc và nâng tầm quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược vì hạnh phúc của nhân dân hai nước, vì sự nghiệp hòa bình và tiến bộ nhân loại.
Hai bên nhất trí đạt nhiều nhận thức chung rất quan trọng. Tuyên bố chung giữa hai nước đã đề ra những phương hướng cụ thể, toàn diện; cùng với những văn kiện hợp tác ký kết trong nhiều lĩnh vực tạo khuôn khổ và đặt những cơ sở quan trọng cho việc tiếp tục phát triển quan hệ hợp tác giữa hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước trong giai đoạn mới, đem lại những lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước.
Một trong những phương hướng hợp tác cơ bản, quan trọng nhất của quan hệ Việt - Trung như đã được khẳng định trong Tuyên bố chung là Củng cố nền tảng xã hội vững chắc hơn. Những nguyện vọng thiết tha sâu xa từ bao đời nay của nhân dân hai nước về hữu nghị, hòa bình, hợp tác và phát triển chính là nguồn sức mạnh to lớn và cơ sở vững chắc cho niềm tin về tương lai tươi sáng của quan hệ giữa hai nước láng giềng anh em đang trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tôi hoan nghênh và đánh giá cao những tình cảm và đóng góp tích cực, hết sức quan trọng của nhân dân hai nước, trong đó những nhân sĩ và thanh niên đóng vai trò nòng cốt. Tôi tin tưởng và mong muốn rằng các nhân sĩ và thanh niên hai nước sẽ tiếp tục đóng góp tích cực vào những nỗ lực chung để phát triển quan hệ Việt - Trung vững chắc, ổn định, bền vững lâu dài và hiệu quả, đúng như tinh thần câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh và được Chủ tịch Mao Trạch Đông rất hoan nghênh, chia sẻ là "mối tình thắm thiết Việt - Hoa, vừa là đồng chí, vừa là anh em".
Tôi xin chúc và tin tưởng chắc chắn rằng, Nhân dân Trung Quốc anh em dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc với đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình là hạt nhân và với vai trò chỉ đạo của tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc trong thời đại mới, sẽ phát huy những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử trong 10 năm thời đại mới, thực hiện thắng lợi đường lối của Đại hội XX Đảng Cộng sản Trung Quốc, xây dựng Trung Quốc thành cường quốc xã hội chủ nghĩa hiện đại, giàu mạnh, dân chủ, văn minh, hài hòa.
Chúc quan hệ giữa hai Đảng, hai nước và hai dân tộc mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững.
Chúc đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình cùng Phu nhân - Giáo sư Bành Lệ Viên và các đồng chí Trung Quốc và Việt Nam luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, thành công.
Xin trân trọng cảm ơn".
Nguồn: Báo Dân trí
Triển lãm là hoạt động ý nghĩa nhằm cung cấp thông tin, bằng chứng lịch sử, pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm của ông cha ta và khơi dậy lòng yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc trong toàn thể nhân dân.
Ngày 6/12, tại thị xã Buôn Hồ, Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Đắk Lắk phối hợp Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân thị xã Buôn Hồ tổ chức Triển lãm lưu động “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý”.
Tham dự triển lãm có đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành của tỉnh; lãnh đạo thị xã Buôn Hồ cùng đông đảo cán bộ, đoàn viên, thanh niên, học sinh, chiến sĩ lực lượng vũ trang và nhân dân trên địa bàn thị xã Buôn Hồ.
Triển lãm trưng bày gần 100 tư liệu theo các chủ đề như: Bản đồ Việt Nam thời quân chủ (thế kỷ XVI-XIX) khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; Bản trích và Châu bản triều Nguyễn thể hiện chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; Bản đồ xuất bản tại phương Tây (thế kỷ XVI-XIX) ghi nhận chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; Bản đồ Trung Quốc do phương Tây và Trung Quốc xuất bản (thế kỷ XVI-XX) ghi nhận Hoàng Sa, Trường Sa không thuộc về Trung Quốc; các hình ảnh, tư liệu quần đảo Hoàng Sa trước năm 1975; một số hình ảnh về quần đảo Trường Sa hiện nay và các hoạt động của cán bộ, chiến sĩ hải quân, nhân dân trên quần đảo Trường Sa…
Phát biểu khai mạc triển lãm, Phó Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Đắk Lắk Nguyễn Quốc Hiệp, Trưởng Ban tổ chức triển lãm nhấn mạnh: Biển, đảo Việt Nam là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc; biển, đảo có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước.
Nhận thức sâu sắc vai trò, vị trí, tầm quan trọng của biển, đảo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta luôn xác định biển, đảo là một bộ phận cấu thành chủ quyền, quyền chủ quyền của Tổ quốc và cùng với đất liền là không gian sinh tồn, phát triển bền vững của dân tộc Việt Nam.
Thấm nhuần tư tưởng của ông cha ta về xác lập và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo; Đảng, Nhà nước ta tiếp tục bổ sung, hoàn thiện và phát triển chiến lược hướng ra biển, khai thác nguồn lợi từ biển để đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk, từ năm 2014 đến nay, Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền về công tác bảo vệ chủ quyền biển đảo, trong đó có các cuộc Triển lãm lưu động “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam-Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” tại một số huyện trên địa bàn tỉnh như: M’Drắk, Ea Kar, Ea Súp, Krông Bông, Ea H’leo, Cư Kuin.
Tại Triển lãm lần này tại thị xã Buôn Hồ, bản đồ và tư liệu trưng bày là bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông.
Các tư liệu thể hiện nhà nước Việt Nam, từ thời phong kiến đến nay, đã khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền quốc gia đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và nhiều vùng biển đảo khác thuộc lãnh thổ Việt Nam. Đó là một quá trình liên tục, lâu dài, diễn ra trong hòa bình, được ghi nhận trong nhiều nguồn sử liệu của Việt Nam và các nước, đặc biệt là những tư liệu, bản đồ được soạn vẽ, xuất bản từ thế kỷ XVI đến nay ở Việt Nam và ở nhiều nước trên thế giới.
Các tư liệu, văn bản, hiện vật, ấn phẩm và gần 100 bản đồ được trưng bày là tập hợp các nguồn tư liệu chính thống đã được công bố từ trước đến nay của các nhà nghiên cứu, học giả ở trong nước và quốc tế; trong đó có các văn bản Hán-Nôm, văn bản Việt ngữ và Pháp ngữ do triều đình phong kiến Việt Nam và chính quyền Pháp ở Đông Dương ban hành từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX, khẳng định quá trình xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Đặc biệt, các châu bản triều Nguyễn từ triều Gia Long đến triều Bảo Đại ban hành liên quan trực tiếp đến vấn đề khai thác, quản lý, xác lập và thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Triển lãm là hoạt động ý nghĩa nhằm cung cấp thông tin, bằng chứng lịch sử, pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm của ông cha ta và khơi dậy lòng yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc trong toàn thể nhân dân./.
Ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay được thành lập. Mặc dù chỉ có 34 chiến sĩ với 34 khẩu súng khi mới thành lập nhưng sự ra đời của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam.
1. Ngày 1-9-1858, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Đà Nẵng mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Với truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần đấu tranh chống giặc ngoại xâm kiên cường bất khuất, nhân dân Việt Nam đã anh dũng đứng lên chống giặc giữ nước theo phương châm “kẻ trước ngã, người sau đứng dậy” nhưng rốt cuộc đều thất bại.
Một câu hỏi lớn đặt ra với những nhà yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX là, làm sao để đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại độc lập cho dân tộc? Có người cho rằng phải tiến hành võ trang bạo động, vì “không lấy máu rửa máu thì không thể cải tạo được xã hội hiện tại”. Có người lại lập luận, nếu dùng võ trang bạo động thì sẽ thất bại, bởi thực dân Pháp có vũ khí tối tân hiện đại, nên trước mắt cần phải dựa vào Pháp để “canh tân” đất nước, sau đó mới giành lại độc lập. Người đại diện cho xu hướng bạo động là cụ Phan Bội Châu. Người đại diện cho xu hướng cải lương là cụ Phan Châu Trinh.
Do hạn chế về lập trường giai cấp, cụ Phan Bội Châu, cụ Phan Châu Trinh cũng như các sĩ phu cấp tiến lãnh đạo phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX không thể tìm được một phương hướng giải quyết chính xác cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, nên các cuộc đấu tranh tuy diễn ra rất sôi nổi những đã nhanh chóng bị kẻ thù dập tắt.
2. Xuất phát từ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, kinh nghiệm đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc và trước những đòi hỏi cấp bách của thực tiễn Việt Nam, ngay từ mới ra đời, Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng tháng 2 - 1930 xác định: Chủ trương làm tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản, để đạt được mục tiêu đó phải dùng bạo lực cách mạng để chống bạo lực phản cách mạng. Tuy nhiên, cái khó đối với Đảng Cộng sản Việt Nam khi đó là vừa mới ra đời Đảng chưa có một đơn vị vũ trang nào làm lực lượng quân sự cho mình. Bởi thế Đảng đã chủ trương tổ chức ra quân đội công - nông, trước hết là các đội tự vệ công - nông, các đội du kích, làm nòng cốt cho toàn dân đấu tranh giải phóng dân tộc.
Thực hiện chủ trương của Đảng, từ năm 1930 đến năm 1944, nhiều địa phương trên phạm vi cả nước đã sáng tạo ra nhiều tổ chức vũ trang tuy tên gọi có khác nhau nhưng đều giữ vai trò nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ đấu tranh với kẻ thù, bảo vệ các cuộc đấu tranh của công nhân, nông dân ở các địa phương. Đó là các đội Tự vệ đỏ ở Nghệ An, Hà Tĩnh trong cao trào cách mạng 1930 - 1931, Đội du kích Bắc Sơn rồi các đội Cứu quốc quân, Quân du kích Nam Kỳ, Đội du kích Pác Bó ở Cao Bằng… Các đội vũ trang nói trên tuy hoạt động rất tích cực và đã có những thành tích đáng kể nhưng đó mới chỉ là các đội du kích của từng địa phương, ảnh hưởng của nó đối với phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân cả nước chưa thật lớn.
3. Khi đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập, tuy chỉ có 34 chiến sĩ nhưng đó là những chiến sĩ kiên quyết, dũng cảm đã được chọn lựa kỹ càng trong các đội du kích Cao - Bắc - Lạng và trong số những người đi học quân sự ở nước ngoài về, hầu hết đã trải qua chiến đấu và ít nhiều đều có hiểu biết về kỹ thuật và kinh nghiệm quân sự. Là con em của các tầng lớp nhân dân bị áp bức, họ có lòng yêu nước, chí căm thù giặc sâu sắc. Không một người nào trong Đội không mang mối hận thù với đế quốc, hoặc nhà cửa bị đốt, của cải bị tịch thu, hoặc cha, anh, chị, em bị bắt, bị bắn, còn bản thân nếu chưa trải qua lao tù thì cũng là những người đang bị truy nã, nợ nước, thù nhà, oán hờn dân tộc, căm thù giai cấp đã xiết chặt họ lại thành một khối rắn chắc, không kẻ thù nào phá vỡ nổi.
Đặc biệt, ngay từ khi mới ra đời, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân đã có ngay một cương lĩnh chính trị, quân sự đúng đắn. Bản cương lĩnh đó chính là Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân do lãnh tụ Hồ Chí Minh soạn thảo. Nội dung bản chỉ thị tuy ngắn gọn nhưng rất súc tích, hàm chứa nhiều vấn đề cơ bản về đường lối quân sự của Đảng, đó là: Vấn đề kháng chiến toàn dân, vấn đề động viên và vũ trang toàn dân, nguyên tắc về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, phương châm xây dựng và hoạt động của các thứ quân (quân chủ lực, quân địa phương và lực lượng tự vệ rộng khắp), phương thức hoạt động kết hợp quân sự với chính trị của lực lượng vũ trang, nguyên tắc chiến thuật, tác chiến, cách đánh của lực lượng vũ trang bí mật, bất ngờ, tích cực, chủ động, mưu trí và linh hoạt… Đánh giá về văn kiện lịch sử này, tác giả người Nhật Singô Sibata cho rằng: “Những nguyên tắc chỉ đạo cho Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân do cụ Hồ Chí Minh và Đảng Lao động Việt Nam đề ra trước cách mạng 1945 tiêu biểu cho một lý luận độc đáo, phù hợp với những điều kiện riêng của Việt Nam”. Thực tế lịch sử đã chứng minh, Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân không chỉ có giá trị định hướng dẫn dắt mọi hoạt động của Đội mà nó còn đánh dấu bước hoàn chỉnh lý luận xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền ở Việt Nam.
4. Được dẫn dắt bởi một cương lĩnh hành động đúng đắn, dưới sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, ngay sau ngày thành lập, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã liên tiếp đánh thắng hai trận Phai Khắt và Nà Ngần (Cao Bằng) ngày 24 và 25-12-1944, g.i.ế.t c.h.ế.t hai tên đồn trưởng, bắt sống toàn bộ binh lính địch trong hai đồn, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng.
Sự xuất hiện bất ngờ của Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân với hai chiến thắng vang dội Phai Khắt, Nà Ngần, đã tác động mạnh mẽ, gây tâm lí hoang mang, lo sợ trong hàng ngũ quân địch, đồng thời cổ vũ tinh thần cách mạng của quân chúng nhân dân, gấp rút chuẩn bị mọi mặt để đón thời cơ vùng dậy đạp đổ xiềng xích của thực dân, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân.
Sau thắng lợi giòn giã của hai trận Phai Khắt, Nà Ngần, thực hiện phương châm “Chính trị trọng hơn quân sự, tuyên truyền trọng hơn tác chiến”, các cán bộ, chiến sĩ của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã nhanh chóng triển khai công tác vũ trang tuyên truyền. Trước hết Đội tăng cường tuyên truyền đường lối, chính sách của mặt trận để nhân dân hiểu rằng, đã đến lúc cần phải đứng lên đánh đuổi thực dân, đế quốc và khả năng đánh thắng chúng. Sau đó, Đội bắt tay vào xây dựng tổ chức cơ sở chính trị và lực lượng của địa phương. Đội dựa vào cán bộ địa phương theo cách chọn một số thanh niên trung kiên, tiến hành huấn luyện cấp tốc rồi giao công tác, hoặc cho vào Đội để rèn luyện và bồi dưỡng kinh nghiệm rồi trở về địa phương công tác khi cần thiết. Với những hoạt động tích cực, rộng khắp của Đội “đã tạo nên một khu vực có cơ sở cách mạng rộng lớn từ núi rừng Hoà An giáp tỉnh lỵ Cao Bằng cho đến các châu Nguyên Bình, Ngân Sơn, Chợ Rã và vùng phụ cận các triền núi Phia Uắc, Phia Giả, Phia Bióoc; khu vực này trở thành những căn cứ hoàn toàn, tiến có thể lui, đánh có thể giữ, làm bàn đạp phát triển phong trào về phía Nam”.
Như vậy là, sau 14 năm kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và đảm nhiệm vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam, với tư tưởng chỉ đạo nhất quán phải sử dụng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng, Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã tích cực chỉ đạo xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao, từ chưa hoàn chỉnh đến hoàn chỉnh. Nếu các đội Tự vệ đỏ trong phong trào cách mạng 1930-1931, Đội du kích Bắc Sơn, rồi các đội Cứu quốc quân, Quân du kích Nam Kỳ…được coi là những hạt giống quân sự đầu tiên của Đảng, giữ vai trò nòng cốt cho phong trào đấu tranh cách mạng ở địa phương, thì sự ra đời và hoạt động của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân trong những ngày đầu mới thành lập là bước nhảy vọt về chất trong tiến trình chuẩn bị lực lượng cách mạng của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh. Từ đây, Đảng ta và cách mạng Việt Nam mới có một đội quân chủ lực vừa làm nhiệm vụ tác chiến, vừa đóng vai trò tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân, dìu dắt các đội vũ trang địa phương thực hành tác chiến, mở rộng khu căn cứ cách mạng, để đến khi thời cơ xuất hiện, chính đội quân chủ lực ấy đã giương cao ngọn cờ khởi nghĩa tiến về xuôi cùng nhân dân cả nước tiến hành Tổng khởi nghĩa làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945./.
Tây Nguyên là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng; nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào theo tôn giáo cùng chung sống. Thời gian qua, các thế lực thù địch đã lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để thực hiện hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, nhận diện và đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn trên của các thế lực thù địch là nhiệm vụ quan trọng mang tính cấp bách hiện nay.
(Ảnh minh hoạ)
1. Bao trùm trên diện tích khoảng 54.600km2, gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng, Tây Nguyên là vùng tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số, với khoảng 2,2 triệu người (chiếm 15,6% dân số cả nước năm 2019)(1). Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành, Tây Nguyên ngày càng phát triển ổn định, bền vững; đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao; giá trị văn hóa các dân tộc được bảo tồn, kế thừa và phát huy; hệ thống giáo dục được quan tâm đầu tư, mạng lưới y tế được củng cố; chính sách dân tộc, tôn giáo được thực hiện tốt; thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, thế trận lòng dân được củng cố và tăng cường; an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm; khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố; niềm tin của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đối với Đảng, Nhà nước được củng cố, tăng cường... Sự ổn định và phát triển của Tây Nguyên đã góp phần hết sức quan trọng trong sự phát triển chung của cả nước.
Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước vẫn ráo riết lợi dụng vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo” để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Ý đồ lâu dài, không thay đổi của các thế lực thù địch là phủ nhận những kết quả quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, địa phương; phá hoại khối đại đoàn kết giữa các dân tộc, các tôn giáo trên địa bàn; làm suy giảm niềm tin của nhân dân với sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền các cấp; thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, tiến tới “bạo loạn” và hướng đến thành lập cái gọi là “Nhà nước Đề-ga” trên địa bàn Tây Nguyên.
Các tổ chức phản động lưu vong dưới sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch bên ngoài tiếp tục đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền chống phá vào địa bàn; củng cố tổ chức, phục hồi hoạt động Fulro, “Tin lành Đề-ga”, lôi kéo, kích động người dân tộc thiểu số trốn ra nước ngoài. Đặc biệt, chúng liên tục sử dụng vỏ bọc để phát triển nhiều điểm nhóm, các tổ chức núp bóng danh xưng tôn giáo, như Giáo hội Tin lành đấng Cờ-rít Việt Nam, Hội thánh Tin lành đấng Cờ-rít Tây Nguyên, tà đạo(2) nhằm che giấu bản chất phản động, đánh lừa nhận thức của quần chúng.
Chúng tập trung tuyên truyền, móc nối, lôi kéo một số người dân tộc thiểu số ở trong và ngoài nước nhằm tạo dựng “ngọn cờ” tập hợp lực lượng; lợi dụng sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông xã hội, như Tiktok, Facebook, Instagram, Twitter, Wechat, Youtube,... để lập ra nhiều “diễn đàn” khác nhau, có diễn đàn công khai đối lập với đường lối của Đảng và Nhà nước; có diễn đàn ẩn dưới danh nghĩa bảo vệ quyền “tự do tôn giáo”, “dân chủ” cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên; có diễn đàn chuyên đăng tải thông tin sai lệch ở Tây Nguyên để chống phá chính quyền.
Chúng thổi phồng những vấn đề dân tộc thiểu số nhằm tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ từ các thế lực bên ngoài. Triệt để lợi dụng và đẩy mạnh việc chính trị hóa, quốc tế hóa các vấn đề dân tộc, tôn giáo nhằm gây mất ổn định xã hội, tạo sức ép và can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Lợi dụng các diễn đàn quốc tế, các thế lực thù địch vu cáo Việt Nam đàn áp tôn giáo, hạn chế quyền tự do dân chủ, tự do tôn giáo; vu cáo chính quyền “ức hiếp”, “xua đuổi” người dân tộc thiểu số khi họ vượt biên trái phép; vu khống chính quyền Việt Nam bắt giam, ngược đãi những người “bất đồng chính kiến”, các “chức sắc” và “tín đồ tôn giáo”, ngăn cấm “quyền tự do ngôn luận”, “trao đổi thông tin”,... Đặc biệt, vụ khủng bố chống chính quyền nhân dân xảy ra tại huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk (ngày 11/6/2023) cho thấy các thế lực thù địch đã thay đổi phương thức hoạt động từ biểu tình gây rối sang hoạt động tàng trữ vũ khí quân dụng bất hợp pháp, xây dựng cơ sở ngầm, hành động manh động, tấn công bất ngờ, dã man.
2. Từ tình hình trên, để ổn định tình hình tư tưởng và đời sống nhân dân, bảo đảm giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, phòng, chống hiệu quả âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo ở Tây Nguyên để chống phá cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:
Một là, giữ vững ổn định chính trị, xã hội, củng cố vững chắc trận địa tư tưởng. Chăm lo xây dựng, củng cố sự đoàn kết, nhất trí trong xã hội, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào theo tôn giáo. Chủ động, thường xuyên tiến hành các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn hiệu quả âm mưu, thủ đoạn móc nối, xâm nhập, lôi kéo chống phá, can thiệp, lật đổ của các thế lực thù địch, phản động; bảo đảm cho hệ thống chính trị, nhất là ở cơ sở luôn ổn định, vững mạnh; không để xảy ra các “điểm nóng”, biểu tình, bạo loạn.
Chủ động phát hiện, ngăn chặn các nhân tố gây nguy cơ mất ổn định, không để các thế lực thù địch lợi dụng, gây bức xúc trong nhân dân, kích động biểu tình phản đối Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền địa phương. Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 28/9/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về "Chiến lược Bảo vệ biên giới quốc gia”, Luật biên giới quốc gia và các nghị định, chỉ thị về tăng cường an ninh tuyến biên giới... Bộ đội biên phòng chủ trì, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trên địa bàn và các tỉnh biên giới của Lào, Campuchia thực hiện các biện pháp phát hiện, ngăn chặn kịp thời các hành động xây dựng căn cứ, lực lượng, tổ chức huấn luyện ở khu vực biên giới, đưa người xâm nhập nội địa,... để chuẩn bị gây bạo loạn chính trị, bạo loạn ly khai, bạo loạn vũ trang của các thế lực thù địch, phản động.
Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng dự Lễ khai giảng năm học mới tại Trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Gia Lai. (Ảnh: TTXVN)
Thường xuyên củng cố trận địa tư tưởng, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, tuyệt đối không để các thế lực thù địch mua chuộc, lôi kéo. Đề cao vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu nêu gương trong thực hiện nhiệm vụ, thường xuyên “gần dân, hiểu dân, trọng dân và vì dân”; củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo.
Hai là, xây dựng, củng cố tổ chức đảng các cấp trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Xây dựng, củng cố tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII, XIII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Thường xuyên kiện toàn cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, nhất là cấp tỉnh và cấp cơ sở, ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào theo tôn giáo, bảo đảm số lượng, chú trọng chất lượng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Phấn đấu xây dựng thôn, buôn, tổ dân phố có chi bộ; tổ chức cơ sở đảng đạt tiêu chuẩn trong sạch, vững mạnh, đảng viên đủ tư cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp thường xuyên lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng, rèn luyện, quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ, tính chiến đấu của Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, không dao động trong bất kỳ tình huống nào. Đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, cấp ủy viên có trình độ, năng lực lãnh đạo, xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết; có uy tín, khả năng vận động, thuyết phục đồng bào. Thường xuyên chăm lo phát triển đảng, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào theo tôn giáo, bảo đảm chất lượng.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức đảng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh trên địa bàn. Tiếp tục vận dụng, cụ thể hóa cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Tập trung giải quyết các mặt bất cập, hạn chế, bức xúc của nhân dân về đất đai, việc làm, thu nhập và mâu thuẫn nội bộ... Đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy đối với chính quyền, đoàn thể và công tác vận động quần chúng.
Ba là, xây dựng chính quyền các cấp vững mạnh toàn diện; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành hoạt động phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Thường xuyên củng cố, kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp. Củng cố, kiện toàn HĐND, UBND các cấp theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa IX) về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở, xã, phường, thị trấn; quy định của Hiến pháp năm 2013,... phù hợp với đặc điểm, yêu cầu địa bàn Tây Nguyên. Ngoài các nguyên tắc, nội dung chung, cần nâng cao chất lượng công tác dân vận, gần dân, sát dân, tăng cường pháp chế, quản lý nhà nước về an ninh chính trị; nắm chắc tình hình, phát hiện, xử lý, ngăn chặn kịp thời, tại chỗ các vấn đề có nguy cơ dẫn đến bất ổn, “điểm nóng”,... để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá.
Xây dựng quy chế phối hợp công tác chặt chẽ giữa UBND với các tổ chức chính trị - xã hội trong việc quản lý kinh tế - xã hội, thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Định kỳ tiếp công dân theo lịch, kết hợp với các tổ chức đoàn thể nắm tình hình, phát hiện vấn đề phức tạp, kịp thời giải quyết theo thẩm quyền... Xây dựng mối quan hệ gắn bó, củng cố lòng tin của đồng bào đối với chính quyền, để bất cứ điều gì đồng bào cũng phản ánh với chính quyền, cán bộ; chính quyền, cán bộ nói thì đồng bào tin và làm theo. Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục, kiểm tra việc chấp hành Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm trong các cơ quan, đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền các cấp.
Ủy ban nhân dân kịp thời cụ thể hóa nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, nghị quyết của cấp ủy cùng cấp thành chương trình, kế hoạch hành động và tổ chức thực hiện, nhất là thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 152/NQ-CP, ngày 15/11/2022 của Chính phủ ban hành "Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 6/10/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Tập trung giải quyết, tháo gỡ những vấn đề “nóng”, bất cập của địa phương, lĩnh vực. Tăng cường quản lý, điều hành thực hiện các chương trình, dự án kinh tế - xã hội, nhất là chương trình mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, xóa mù chữ, dự án xây dựng “điện, đường, trường, trạm”, bảo đảm an sinh xã hội, đất sản xuất, đất ở, việc làm,... nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào theo tôn giáo.
Bốn là, củng cố tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trên địa bàn Tây Nguyên. Tiếp tục kiện toàn Mặt trận Tổ quốc các cấp; chú trọng cơ cấu dân tộc, tôn giáo, bảo đảm quy tụ được những người tiêu biểu, có uy tín trong cộng đồng dân cư (già làng, trưởng bản, chức sắc tôn giáo, trưởng tộc, trưởng các dòng họ,...). Coi trọng xây dựng, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc; các chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch phải là người thực sự tiêu biểu, trung tâm đoàn kết.
Quan tâm chăm lo xây dựng Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, phát huy vai trò xung kích trong các phong trào hành động cách mạng, các cuộc vận động ở địa phương, không để tổ chức phản động xâm nhập, nắm, lôi kéo thanh niên. Đẩy mạnh công tác phát triển đoàn, ưu tiên thanh niên dân tộc thiểu số, không để địa phương, cơ sở “trắng” tổ chức đoàn, “trắng” đoàn viên. Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức và nâng cao chất lượng sinh hoạt đoàn thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, đặc thù địa bàn Tây Nguyên, gắn với hoạt động phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, chống mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội. Phát huy vai trò của hội cựu chiến binh, tăng cường giáo dục, phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” trong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trên địa bàn. Động viên hội viên làm kinh tế, xóa đói, giảm nghèo; tích cực tham gia công tác quân sự, quốc phòng; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tệ nạn, góp phần giữ vững ổn định chính trị, xã hội, làm nòng cốt trong phòng, chống biểu tình, bạo loạn trên địa bàn.
Thắm tình quân dân. (Ảnh: TTXVN)
Phát huy vai trò của các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ trong hoạt động giám sát, phản biện xã hội; tiếp tục quán triệt và thực hiện hiệu quả 5 chương trình công tác trọng tâm và 2 chương trình do Trung ương Hội phát động. Tuyên truyền bằng hình thức phù hợp, thiết thực, nâng cao nhận thức; phát huy vai trò của phụ nữ trong gia đình, xã hội, phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo; xóa bỏ quan niệm lạc hậu đối với phụ nữ. Vận động phụ nữ tham gia các lớp xóa mù chữ, phổ cập giáo dục, bổ túc văn hóa, bồi dưỡng nâng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Hội Nông dân, xây dựng chương trình hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo; tuyên truyền, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, ứng dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, xóa bỏ tập quán lạc hậu cho hội viên. Tăng cường phát triển kinh tế hộ gia đình; nhân rộng mô hình các câu lạc bộ khuyến nông, làm vườn, trồng rừng, chăn nuôi, giúp nhau làm kinh tế... Tuyên truyền, vận động hội viên phát hiện, đấu tranh với các phần tử phản động, xuyên tạc, lôi kéo nông dân khiếu kiện, biểu tình, gây rối... Công đoàn, tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục; phát huy vai trò của công đoàn trong quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật; phối hợp với cơ quan chức năng giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo; quản lý không để đoàn viên tham gia biểu tình, đình công trái phép; tích cực tham gia phòng, chống bạo loạn chính trị, bạo loạn ly khai.
Năm là, nắm chắc địa bàn, xử lý hiệu quả hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Cơ quan quân sự phối hợp với công an, biên phòng và các đơn vị đứng chân trên địa bàn thường xuyên trao đổi thông tin, phối hợp kiểm tra, xác minh, kịp thời tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương lãnh đạo, chỉ đạo xử lý hiệu quả hoạt động chống phá của các tổ chức phản động, tôn giáo chống đối chính trị, các thế lực thù địch; ngăn chặn các hoạt động truyền đạo trái phép, vượt biên, di cư tự do; giải quyết kịp thời tranh chấp về đất đai, ô nhiễm môi trường. Theo dõi, kịp thời đấu tranh, ngăn chặn hoạt động kêu gọi biểu tình của các tổ chức phản động; tiến hành giáo dục, cảm hóa, đấu tranh với đối tượng hoạt động vượt biên, hoạt động Fulro, các loại tà đạo. Thực hiện nghiêm Luật phòng, chống khủng bố năm 2013; Nghị định số 07/2014/NĐ-CP, ngày 27/1/2014 của Chính phủ “Quy định tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và quan hệ phối hợp của Ban Chỉ đạo phòng, chống khủng bố các cấp”. Rà soát các vụ việc tranh chấp, khiếu kiện phức tạp, kéo dài, nhất là vấn đề liên quan đến đất đai, xây dựng, bồi thường giải phóng mặt bằng và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống dân sinh, xử lý ngay từ khi mới manh nha, không để bùng phát thành điểm nóng. Đẩy nhanh tiến độ giao đất, khoán rừng, tổ chức lại sản xuất cho đồng bào các dân tộc thiểu số, tạo việc làm ổn định, giúp đồng bào an cư lạc nghiệp, nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống; thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo.
Nhận diện và đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo” để chống phá cách mạng trên địa bàn Tây Nguyên là một quá trình lâu dài, khó khăn, phức tạp và là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Việc đề xuất giải pháp đúng, khả thi và chủ động tham gia thực hiện hiệu quả sẽ góp phần quan trọng vào bảo vệ địa bàn, tạo môi trường thuận lợi để phát triển Tây Nguyên nhanh và bền vững./.
Đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng về nội dung tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” (Tác phẩm) của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng góp phần tạo nên sự thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động trong toàn xã hội về chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam hiện nay.
TRIỂN KHAI NGHIÊM TÚC, THỰC CHẤT
Triển khai đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng, tháng 8 vừa qua, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Long tổ chức hội thi cấp tỉnh tìm hiểu tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Hội thi diễn ra sôi nổi với sự tham gia của 27 thí sinh xuất sắc được các huyện ủy, thị ủy, Thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội cấp tỉnh của tỉnh Vĩnh Long tuyển chọn. Mỗi thí sinh trải qua 3 phần thi, gồm: viết bài cảm nhận toàn bộ Tác phẩm hoặc 1 vấn đề trong Tác phẩm; thuyết trình bài cảm nhận và trả lời câu hỏi xử lý tình huống. Kết quả của Hội thi nhằm khuyến khích việc nghiên cứu, tuyên truyền, phổ biến Tác phẩm trong toàn Đảng bộ tỉnh; đồng thời là dịp đánh giá năng lực, trình độ, kỹ năng nghiên cứu, tổng hợp, thuyết trình của đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp. Từ đó, làm cơ sở để các cấp ủy Đảng xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên nâng cao trình độ, kỹ năng nghiên cứu, tham mưu, tác chiến phù hợp trong tình hình mới.
Cùng với Tỉnh ủy Vĩnh Long, các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy, đảng đoàn trực thuộc Trung ương đã chỉ đạo cấp ủy trực thuộc tổ chức nghiêm túc đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng này gắn với sinh hoạt chính trị về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chú trọng liên hệ sâu sắc với thực tiễn cơ quan, đơn vị, nêu cao vai trò, trách nhiệm của mỗi tổ chức, cá nhân, nhất là trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu cấp ủy trong học tập, tuyên truyền triển khai việc thực hiện đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng sâu rộng này. Với nhiều hình thức như sinh hoạt chuyên đề, sinh hoạt định kỳ, hội nghị đảng viên, hội nghị trực tuyến, tọa đàm khoa học, đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng được tổ chức cao điểm, lồng ghép vào dịp kỷ niệm 132 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 77 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Ngày Quốc khánh mùng 2/9; kỷ niệm 105 năm Ngày Cách mạng tháng Mười Nga thành công (7/11); kỷ niệm 78 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12 và gắn với các sự kiện chính trị của địa phương, đơn vị. Ban Tuyên giáo Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức tọa đàm khoa học về giá trị Tác phẩm, góp phần làm cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân Thành phố nhận thức sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về CNXH, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Qua đó, nâng cao bản lĩnh chính trị, giữ vững lập trường tư tưởng, kiên định, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý và điều hành của Nhà nước, tạo nên sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, ý chí và hành động trong toàn xã hội.
Đảng bộ huyện Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh) là một trong những đảng bộ đi đầu triển khai đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng trong toàn tỉnh. Từ đầu tháng 8/2022, Đảng bộ huyện Cẩm Xuyên đã chọn 3 chi bộ đại diện cho 3 khối (xã, phường; cơ quan; trường học) gồm: Đảng bộ xã Nam Phúc Thăng; Đảng ủy Khối dân; Đảng bộ THPT Cẩm Xuyên tổ chức điểm. Sau tổ chức điểm, Đảng bộ huyện đánh giá, rút kinh nghiệm tiến đến tổ chức đại trà trong tất cả các chi bộ trực thuộc; phân công các đồng chí cấp ủy cấp trên chỉ đạo địa bàn bào theo dõi, đôn đốc và trực tiếp tham dự sinh hoạt tại đơn vị đó. Ngoài ra, Huyện ủy cũng tổ chức một hội nghị thông tin về nội dung, ý nghĩa của Tác phẩm đến cán bộ chủ chốt trong toàn huyện. Để đợt sinh hoạt đạt hiệu quả, Ban Tuyên giáo Huyện ủy Cẩm Xuyên xây dựng trang trình bày nội dung Tác phẩm với hình ảnh bắt mắt, đúc rút thông tin cốt lõi và những nội dung thực tiễn tại Đảng bộ huyện Cẩm Xuyên; gửi về cơ sở trình chiếu trong các buổi sinh hoạt. Đồng thời, hướng dẫn chi tiết cách thức triển khai; gợi mở các nội dung để buổi sinh hoạt được tổ chức đúng trọng tâm, đảm bảo chất lượng.
Tích cực triển khai đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng về nội dung Tác phẩm, các cán bộ, đảng viên trường Chính trị tỉnh Phú Thọ vận dụng nội dung tác phẩm của Tổng Bí thư vào các chuyên đề bài giảng nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy lý luận chính trị của trường và bổ sung kiến thức lý luận chính trị cho học viên. ThS. Nguyễn Thị Thanh Hương, Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng nhà trường chia sẻ: “Với vai trò, nhiệm vụ nghiên cứu và giảng dạy lý luận chính trị, mỗi cán bộ, giảng viên của nhà trường chính là những người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận lý luận; công tác tư tưởng của Đảng. Vì vậy, chúng tôi cần phải nghiên cứu kỹ, hiểu sâu những vấn đề về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam trong tác phẩm của đồng chí Tổng Bí thư để vận dụng thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, đảm bảo tính Đảng, tính chính trị, sự cập nhật, hấp dẫn, lôi cuốn hơn nữa trong mỗi bài giảng lý luận chính trị”.
Tại tỉnh Kon Tum, cấp ủy huyện Tu Mơ Rông chỉ đạo các cơ quan chức năng tích hợp các nội dung trong Tác phẩm vào chương trình giảng dạy tại các cơ sở giáo dục – đào tạo, dạy nghề và bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, giáo viên và học viên. Cấp ủy Huyện Kon Rẫy chỉ đạo Phòng Giáo dục – Đào tạo, Trường Trung học phổ thông Chu Văn An, Trường Phổ thông dân tộc nội trú, Trung tâm chính trị huyện tích hợp nội dung Tác phẩm vào chương trình giảng dạy tại địa phương, đơn vị và bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, giáo viên trên địa bàn.
Ở ngoài nước, nhân kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Italy, trong khuôn khổ Năm Việt Nam – Italy 2023, ngày 30/6/2023, Đại sứ quán Việt Nam tại Italy đã tổ chức tọa đàm bàn tròn “Giới thiệu lý luận về con đường đi lên CNXH của Việt Nam” nhằm trao đổi học thuật, khoa học để chia sẻ và tăng cường hiểu biết lẫn nhau. Buổi tọa đàm có ý nghĩa quan trọng, bổ ích, giúp tăng cường hiểu biết về Việt Nam và con đường xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam lựa chọn, đóng góp vào việc phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Italy.
Đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng về nội dung tác phẩm của Tổng Bí thư được triển khai nghiêm túc, thực chất, tiến hành thường xuyên với nhiều hình thức sáng tạo, hiệu quả, tiết kiệm, gắn với đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, các sự kiện chính trị của đất nước, địa phương, ban, bộ, ngành, cơ quan, đơn vị.
KHẲNG ĐỊNH, LAN TỎA GIÁ TRỊ CỦA TÁC PHẨM VỀ SỰ BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN SÁNG TẠO LÝ LUẬN VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Trong đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng, các cơ quan thông tấn, báo chí, cổng thông tin điện tử ở Trung ương và địa phương đã tuyên truyền sâu rộng về nội dung tác phẩm, đặc biệt chú trọng tuyên truyền trên nền tảng mạng xã hội; từ đó, đã ghi nhận được nhiều đánh giá của các học giả, cán bộ, đảng viên về nội dung tác phẩm. Các hoạt động sáng tác văn học, nghệ thuật, phim tài liệu, phim ngắn đã tập trung làm sáng rõ đề tài về CNXH, thành tựu, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam và giá trị Tác phẩm đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Với các hình thức, thể loại tác phẩm khác nhau, nhưng tựu chung lại, đều làm nổi bật thông điệp: Tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một công trình có tầm khái quát lý luận cao, tổng kết thực tiễn sâu sắc về những phát triển sáng tạo riêng có của Đảng ta về mô hình CNXH Việt Nam, trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; trình bày, phân tích, lý giải các vấn đề lý luận và thực tiễn về mô hình CNXH Việt Nam và nội dung, giải pháp để từng bước xây dựng CNXH ở Việt Nam. Tuy đề cập đến những vấn đề lý luận rộng lớn nhưng cách trình bày của tác phẩm lại dung dị, rõ ràng, chắt lọc, lấy tổng kết thực tiễn để minh chứng hết sức thuyết phục. Do vậy, sau hơn 1 năm triển khai đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng, tác phẩm đã có sức cảm hóa, lan tỏa trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Song song với đó, giá trị khoa học của nội dung tác phẩm ngày càng được khẳng định và thấm sâu trong đời sống xã hội. Các hoạt động hội thảo, nghiên cứu khoa học về nội dung tác phẩm của Tổng Bí thư đã góp phần bổ sung, phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những bổ sung, phát triển sáng tạo lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Với bài viết “Một số điểm nổi bật trong nhận thức lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam qua Tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng”, PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hà, Phó Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản nhấn mạnh, Tác phẩm thể hiện tầm cao tư tưởng của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong tổng kết, luận giải những vấn đề lý luận rất rộng lớn trên các lĩnh vực, đặc biệt là phân tích, hệ thống hóa, đưa ra những quan điểm, tư tưởng, nhận thức mới về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của Đảng, là nguyên lý thành công của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh. Đi lên CNXH là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu duy nhất đúng để đạt được tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam. Tác phẩm có ý nghĩa vô cùng quan trọng, truyền cảm hứng, khơi dậy khát vọng lớn lao của toàn dân tộc trong thực tiễn phát triển đất nước giai đoạn hiện nay.
Từ góc độ người làm công tác nghiên cứu, giáo dục lý luận chính trị và báo chí, truyền thông, PGS. TS. Mai Đức Ngọc, Học viện Báo chí và Tuyên truyền khẳng định, nội dung cuốn sách đã thực sự mang đến cho chúng ta những bài học có ý nghĩa đặc biệt. Đó là bài học về không ngừng hoàn thiện nhận thức lý luận, bài học về không ngừng bổ sung nhận thức thực tiễn và bài học giáo dục về nhận thức trách nhiệm. Khi gấp cuốn sách lại, hơn bao giờ hết, chúng ta không chỉ cảm thấy khâm phục, tự hào bởi sự đồ sộ của những kiến thức đã được lĩnh hội, mà còn xúc động bởi chính hình ảnh của tác giả đã xuyên suốt từ đầu đến cuối tác phẩm. Ở đó, ta thấy được tấm gương sáng về người lãnh đạo mẫu mực, sống, làm việc và cống hiến đúng bản chất cán bộ của Cụ Hồ. Thiết nghĩ, cuốn sách thực sự sẽ là cẩm nang chỉ hướng cho những cán bộ, đảng viên, những công dân yêu nước phát huy trí tuệ, năng lực của bản thân một cách có hiệu quả trong mọi lĩnh vực công tác, quyết tâm thực hiện thắng lợi con đường mà Đảng ta và Bác Hồ đã lựa chọn xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên CNXH.
Thông qua đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng này, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân một lần nữa được thấm nhuần tư tưởng về sự kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự kế thừa và phát triển, sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn; khẳng định CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam phù hợp với thực tiễn Việt Nam, phù hợp với xu thế thời đại, luôn lấy mục tiêu con người làm trung tâm. Đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng về nội dung tác phẩm đã tiếp thêm niềm tin vững chắc cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trên con đường đi lên CNXH. Đây cũng chính là vũ khí lý luận sắc bén để cán bộ, đảng viên và nhân dân tiếp tục đấu tranh, phản bác với những suy diễn vô căn cứ, chống phá, xuyên tạc những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong hơn 35 năm đổi mới đất nước. Từ tổng kết thực tiễn của Việt Nam, Tổng Bí thư đã đóng góp thêm tiếng nói của Việt Nam vào kho tàng lý luận thế giới về CNXH. Điều đó càng khẳng định rằng, sự lựa chọn và kiên định con đường đi lên CNXH là sự lựa chọn, kiên định đúng đắn của lịch sử dân tộc, của nhân dân ta, của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tác phẩm của Tổng Bí thư chính là cơ sở khoa học, luận điểm để phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch về CNXH, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Kết quả bước đầu của đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng về nội dung tác phẩm của Tổng Bí thư cũng chính là tiền đề quan trọng, góp phần tổng kết lý luận về đường lối đổi mới của Đảng ta trong gần 40 năm qua và tổng kết việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. Song song với đó,góp phần làm cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhận thức sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về CNXH, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; nâng cao ý thức, bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạng toàn diện. Từ đó, củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý và điều hành của Nhà nước, tạo nên sự thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động trong toàn xã hội, tạo ra động lực mới “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để thực hiện thắng lợi những mục tiêu chiến lược mà Đạihội XIII của Đảng đề ra, hiện thực hóa ý chí vươn lên, phát triển Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc./.