Thứ Tư, 13 tháng 12, 2023

 

TƯ TƯỞNG NHẤT QUÁN, XUYÊN SUỐT VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI, NGOẠI GIAO VIỆT NAM

Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã hình thành nền đối ngoại, ngoại giao độc đáo, đậm truyền thống, bản sắc dân tộc: đề cao hòa bình, hòa hiếu, hữu nghị, trọng lẽ phải, đấu tranh vì chính nghĩa, tinh tế, uyển chuyển, nhân ái, kiên quyết, kiên trì bảo vệ, gìn giữ nền độc lập, bảo vệ bờ cõi đất nước. Truyền thống đó được ông cha ta đúc kết thành những tư tưởng như: “Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn. Lấy chí nhân để thay cường bạo”; Dập tắt chiến tranh cho muôn đời; Để mở nền thái bình muôn thuở.

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, nền đối ngoại, ngoại giao cách mạng được hình thành. Kế thừa truyền thống của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng, trực tiếp chỉ đạo và định hướng cho sự phát triển nền đối ngoại, ngoại giao của nước Việt Nam hiện đại. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là nền tảng, kim chỉ nam để Đảng ta lãnh đạo công tác đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân.

Đó là đường lối độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, vì lợi ích quốc gia-dân tộc; phát huy nội lực, khai thác và tranh thủ ngoại lực, tạo nên sức mạnh tổng hợp, góp phần vào thắng lợi của công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, trong đó có những đóng góp quan trọng của công tác đối ngoại, ngoại giao.

Đường lối đối ngoại "độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại"; “là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”; kiên định về nguyên tắc, mục tiêu, linh hoạt, khôn khéo về sách lược được thực hiện nhất quán, đồng bộ, hiệu quả; đồng thời, phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân.

Việc thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng đã góp phần quan trọng giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, tạo thuận lợi cho công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước.

Về đối ngoại đảng, đến nay Đảng Cộng sản Việt Nam đã có quan hệ với 253 đảng ở 115 quốc gia trên thế giới, trong đó có 92 đảng cộng sản, 63 đảng cầm quyền, 38 đảng tham gia liên minh cầm quyền, tham chính... Về ngoại giao nhà nước, Việt Nam đã mở rộng, làm sâu sắc quan hệ với 193 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có 3 nước quan hệ đặc biệt, 5 nước đối tác chiến lược toàn diện, 13 nước đối tác chiến lược và 12 nước đối tác toàn diện.

Việt Nam đã trở thành thành viên tích cực, chủ động và đóng góp đầy trách nhiệm với tất cả các tổ chức, diễn đàn khu vực và quốc tế. Việt Nam được đánh giá cao trong việc thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ, tham gia Phái bộ gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Đặc biệt, trước tác động của đại dịch Covid-19, kinh tế và thương mại toàn cầu suy giảm, nền kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục tăng trưởng khá và được Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đánh giá là một điểm sáng “trong bức tranh xám màu” của kinh tế toàn cầu.

Về đối ngoại nhân dân, các đoàn thể, tổ chức nhân dân của ta có quan hệ hợp tác, hữu nghị với hơn 1.200 tổ chức, đối tác nước ngoài; hình ảnh đất nước và con người Việt Nam tươi đẹp, thân thiện, hiếu khách với nền văn hóa phong phú, đa dạng, giàu bản sắc dân tộc, luôn được lan tỏa tới bạn bè quốc tế, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam. “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Thành tựu của công tác đối ngoại Việt Nam những năm qua là thành quả của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, trong đó nhân tố quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định là sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Hệ thống hóa sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong xây dựng và triển khai đường lối đối ngoại, ngoại giao; giúp các ban, bộ, ngành, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, chính quyền địa phương, các cơ quan làm công tác đối ngoại, ngoại giao, người Việt Nam ở trong nước, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế hiểu rõ chủ trương, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng ta, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; Ban Đối ngoại Trung ương Đảng, Bộ Ngoại giao và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp xuất bản cuốn sách Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”.

Năm 2022, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật đã tổ chức biên tập, xuất bản cuốn sách Một số vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, định hướng cho toàn Đảng, toàn dân và khẳng định với bạn bè quốc tế về con đường mà Đảng ta, nhân dân ta quyết tâm xây dựng là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Để cụ thể hóa những luận điểm, minh chứng rõ nét hơn bằng những thành tựu trong công cuộc đổi mới, định hướng xây dựng và phát triển đất nước, Nhà xuất bản đã hoàn thành, biên tập, xuất bản các cuốn sách của Tổng Bí thư, có tính chuyên đề về những vấn đề trọng đại của đất nước: 1- Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh; 2- Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới; 3- Cả nước đồng lòng, tranh thủ mọi thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; 4- Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc;…

Nội dung cuốn sách gồm ba phần:

Phần thứ nhất: Vai trò quan trọng và đóng góp to lớn của công tác đối ngoại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, gồm bài viết tổng quan và 7 bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại các hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, hội nghị ngoại giao, hội nghị đối ngoại toàn quốc. Các bài viết, bài phát biểu thể hiện tư duy chiến lược của người đứng đầu Đảng ta về đường lối, chính sách đối ngoại, ngoại giao Việt Nam.

Trên cơ sở đánh giá những kết quả, thành tựu của đối ngoại, ngoại giao đã “góp phần rất quan trọng vào thành tựu chung to lớn, có ý nghĩa lịch sử của Đất nước ta”, nhờ đó “vị thế và uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế”, Tổng Bí thư chỉ rõ mục tiêu, nhiệm vụ, định hướng cho công tác đối ngoại nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ: Việt Nam là một quốc gia đang phát triển mạnh mẽ, có vị trí địa chiến lược quan trọng trong những chuyển dịch hiện nay của thời đại. Trong thế giới biến động và khó lường, thách thức luôn luôn đan xen với cơ hội, rủi ro luôn đi kèm với thời cơ.

Để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của đất nước đến năm 2025, 2030 và 2045, Tổng Bí thư yêu cầu phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại, xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”: gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển; trong đó, “tiên phong trước hết cần thể hiện trong tư duy, nhận thức; tiên phong trong bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; tiên phong trong kiến tạo cơ hội để thúc đẩy lợi ích quốc gia - dân tộc; tiên phong trong kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, huy động sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhất là gắn kết sức mạnh cộng đồng người Việt Nam trong và ngoài nước”.

Thực hiện chủ trương của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng về “Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”, trong các bài phát biểu, bài viết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Đối ngoại là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, quản lý tập trung của Nhà nước; sự gắn kết chặt chẽ, nhịp nhàng giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân, giữa đối ngoại chính trị, đối ngoại kinh tế, đối ngoại văn hóa, đối ngoại quốc phòng, đối ngoại an ninh và đối ngoại trong các lĩnh vực khác.

Đây vừa là truyền thống quý báu, vừa thể hiện sự sáng tạo, độc đáo của nghệ thuật đối ngoại, ngoại giao cách mạng Việt Nam, được Tổng Bí thư phân tích, lý giải và định hướng cụ thể bằng nhãn quan chính trị sâu sắc và tầm tư duy chiến lược; là bước phát triển về tư duy đối ngoại Việt Nam, vừa là yêu cầu cấp thiết, vừa có ý nghĩa lâu dài, đáp ứng nhiệm vụ trong tình hình mới.

Phần thứ hai: Đối ngoại Việt Nam vì độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, gồm 78 bài nói, bài viết, bài phát biểu, trả lời phỏng vấn, thư, điện... của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại các hoạt động và diễn đàn ngoại giao song phương, đa phương, thể hiện sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các trụ cột đối ngoại là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân.

Trải qua các giai đoạn, trên các cương vị: Chủ tịch Quốc hội, Tổng Bí thư, Tổng Bí thư - Chủ tịch nước, các bài viết, bài phát biểu của đồng chí Nguyễn Phú Trọng thể hiện quan điểm, chủ trương đối ngoại trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng.

Việt Nam đã có quan hệ hợp tác rộng mở cả song phương và đa phương với các đối tác, trong các lĩnh vực, ở tất cả các cấp, các ngành, đưa các quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu, ổn định, hiệu quả, thực chất, gia tăng tin cậy chính trị và đan xen lợi ích; huy động và kết hợp hiệu quả các nguồn lực bên ngoài với nội lực trong nước nhằm chủ động tham gia, tích cực đóng góp, nâng cao vai trò của Việt Nam trong xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự chính trị-kinh tế quốc tế vì lợi ích quốc gia-dân tộc và lợi ích chung của cộng đồng quốc tế trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế.

Trong quan hệ song phương, các bài nói, bài viết, bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn luôn thể hiện sự đánh giá cao mối quan hệ hữu nghị, hợp tác với các quốc gia trên nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi.

Phát huy truyền thống hòa hiếu của ông cha, Tổng Bí thư khẳng định cần tiếp tục đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các nước láng giềng, đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và bạn bè truyền thống, tăng cường tin cậy, phát huy điểm đồng, linh hoạt, sáng tạo trong xử lý các tranh chấp và thúc đẩy hòa bình, hợp tác cùng phát triển nhằm củng cố vững chắc cục diện đối ngoại ổn định, phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Việt Nam sẵn sàng tham gia vào các cơ chế hợp tác đa phương, các tổ chức khu vực, quốc tế và các khuôn khổ hợp tác cũng như trong những vấn đề quan trọng có tầm chiến lược, phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều kiện của đất nước.

Trong quan hệ với các đảng cộng sản, công nhân, các đảng cầm quyền và các đảng dân chủ, vì hòa bình, tiến bộ trên thế giới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn dành sự quan tâm đặc biệt, đóng góp cả lý luận và thực tiễn vào kho tàng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh từ công cuộc đổi mới của Việt Nam, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xây dựng một xã hội công bằng và tiến bộ, thật sự vì con người.

Tổng Bí thư nhấn mạnh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, với các đảng cộng sản, công nhân và bạn bè truyền thống. Trong các bài nói, bài viết, bài phát biểu, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn dành sự quan tâm và tình cảm tới cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và người dân nước sở tại, luôn tích cực giới thiệu hình ảnh đất nước Việt Nam hòa bình, hòa hiếu, thân thiện, mến khách, năng động và phát triển trong con mắt của bạn bè quốc tế.

Phần thứ ba: Dấu ấn đối ngoại, ngoại giao, gồm 52 ý kiến của các chuyên gia, nhà chính trị, nhà ngoại giao, nhà nghiên cứu, bạn bè quốc tế về vai trò, đóng góp của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong việc hình thành và phát triển trường phái ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”.

Đó là những kỷ niệm, tình cảm, câu chuyện của các đại sứ, các cán bộ làm công tác đối ngoại, ngoại giao, các nhà báo, người Việt Nam ở nước ngoài được tháp tùng, được gặp Tổng Bí thư trong các chuyến thăm và làm việc ở trong và ngoài nước. Những ý kiến thể hiện sự kính trọng, tình cảm trân quý đối với Tổng Bí thư và niềm tin tưởng, tự hào về những thành tựu to lớn của đất nước, trong đó có đóng góp quan trọng của công tác đối ngoại, ngoại giao Việt Nam.

Các bài nói, bài viết, bài phát biểu, trả lời phỏng vấn, thư, điện... của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được tuyển chọn trong cuốn sách là sự tổng kết những bài học kinh nghiệm có giá trị của công tác đối ngoại, ngoại giao Việt Nam, thể hiện bước phát triển tư duy chiến lược của Đảng ta, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư, góp phần định hướng mục tiêu, nhiệm vụ của công tác đối ngoại, ngoại giao trong giai đoạn mới./.

 

MUỐN CỐNG HIẾN, CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN PHẢI NÊU GƯƠNG ĐẠO ĐỨC DẤN THÂN VÀ HÀNH ĐỘNG

Mỗi cán bộ đảng viên đều hiểu rằng vào Đảng là để cống hiến, hy sinh chứ không phải “để làm quan phát tài”. Biểu hiện rõ nhất của lý tưởng cao đẹp đó, là dấn thân và hành động phục vụ Đảng, Tổ quốc và nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm, đạo đức cách mạng là “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”. Quan niệm này thể hiện bản chất đạo đức cách mạng, cốt lõi là sự dấn thân và hành động vì nước,vì dân.

Tích cực học tập và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Sau khi quyết định lựa chọn con đường cứu nước theo cách mạng vô sản, với nhận thức “không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động”, Người đã tích cực học tập, nghiên cứu “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất” là chủ nghĩa Lênin. Để làm tròn sứ mệnh của mình, Hồ Chí Minh chỉ rõ, Đảng phải “không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên”, để định ra đường lối, phương pháp, bước đi cụ thể của cách mạng Việt Nam. Cán bộ đảng viên phải “học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình”; lý luận đi đôi với thực tiễn; học để “làm việc, làm người, làm cán bộ”, chứ không phải để “khoe mẽ”, “lòe thiên hạ”. Đồng thời, phải khắc phục căn bệnh “Kém lý luận, hoặc khinh lý luận, hoặc lý luận suông” của bộ phận cán bộ đảng viên. Cùng với những quan điểm mang tính chỉ dẫn, Hồ Chí Minh đã thực hành chủ nghĩa Mác - Lênin một cách sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam theo tinh thần triết học không chỉ giải thích thế giới mà chủ yếu còn cải tạo thế giới.

Suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng để phục vụTổ quốc và Nhân dân. Mỗi cán bộ đảng viên phải nêu cao ý thức trách nhiệm, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, “đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết”. Phải thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Dù gặp bất kỳ khó khăn nào cũng phải “kiên quyết làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng, làm gương mẫu cho quần chúng. Mọi đảng viên phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, trước Đảng; phải ngăn ngừa và kiên quyết chống lại chủ nghĩa cá nhân”. Hồ Chí Minh đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp “Tìm đường, mở đường, dẫn đường và thiết kế tương lai” của cách mạng Việt Nam. Thực hiện mục đích cao cả duy nhất, phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, hạnh phúc của quốc dân và thực hiện ham muốn tột bậc, “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Cho dù, có khi “phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó. Cuối đời, Người không có điều gì phải hối hận, “chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Có thể thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về tận trung với nước, tận hiếu với dân, tận hiến cả đời mình cho dân tộc và cách mạng.

Có gan đổi mới và phát triển sáng tạo không ngừng. Trong hành trình tìm đường cứu nước, Người đã lựa chọn hướng đi mới với phương pháp tiếp cận và phương thức hành động mới - khảo nghiệm thực tiễn, nghiên cứu lý luận, rút ra bài học cho cách mạng Việt Nam. Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ áp dụng công thức chủ nghĩa Mác - Lênin và phong trào công nhân, mà còn phong trào yêu nước. Lực lượng cách mạng là toàn thể dân tộc Việt Nam yêu nước, chứ không phải chỉ có công nhân và nông dân. Làm cách mạng giải phóng dân tộc không được trông chờ, nhờ cậy sự giúp đỡ của vô sản chính quốc mà “cần được tiến hành chủ động sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc”. Xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện đặc biệt, Hồ Chí Minh đã nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Có thể nói, Hồ Chí Minh là nhà cách mạng sáng tạo, linh hồn của sự nghiệp “phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt” để chống lại những cái gì cũ kỹ lạc hậu, mở đường cho cái mới mẻ tốt tươi phát triển.

Đấu tranh không khoan nhượng các thế lực phản động, thù địch để bảo vệ Đảng. Cùng với xây dựng và rèn luyện Đảng ta, Hồ Chí Minh hết sức quan tâm đến công tác bảo vệ Đảng trước sự phá hoại của các lực lượng đối lập, phản động. Người yêu cầu “đấu tranh một cách không điều hòa chống bọn cải lương và bọn xuyên tạc chủ nghĩa Mác” và “vạch trần bản chất bán nước, hại dân của các thế lực phản động”. Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ của Đảng, trước hết là bảo vệ Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng. Muốn vậy, “Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, cần phải có tính đảng mới làm được việc. Kém tính đảng, thì việc gì cũng không làm nên”. Bảo vệ Đảng còn là đấu tranh phê phán, gột rửa những biểu hiện tư tưởng “phi vô sản”, chống lại sự tha hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ đảng viên. Đồng thời, “Phải có tinh thần cảnh giác, phòng gian bảo mật” trước âm mưu phá hoại của bọn tay sai phản động.

Ngại học, lười học lý luận chính trị trong cán bộ đảng viên đã trở thành “căn bệnh” trầm kha. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo, nhiều người trong Đảng “chỉ biết vùi đầu suốt ngày vào công tác sự vụ, không nhận thấy sự quan trọng của lý luận, cho nên còn có hiện tượng xem thường học tập hoặc là không kiên quyết tìm biện pháp để điều hòa công tác và học tập”. Mặc dù, Đảng ta rất coi trọng giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ đảng viên trong công tác xây dựng Đảng. Tuy nhiên, không ít cán bộ đảng viên ngại học, lười học, thậm chí là xem nhẹ, coi khinh việc học lý luận chính trị. Tham gia học lý luận một cách đối phó, qua loa đại khái, “thậm chí, có người còn cho rằng đó là việc làm “vô ích” gây lãng phí thời gian, công sức”. Đây không chỉ là nguy cơ dẫn đến phai nhạt lý tưởng, còn là biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nhìn nhận vấn đề này, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, chỉ rõ: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”.

Một trong những thủ đoạn hết sức tinh vi của các thế lực phản động, thù địch xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng là lợi dụng triệt để sự mơ hồ, xem nhẹ và không nắm vững chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nếu không kịp thời “bắt mạch” và có những “thang thuốc đặc trị”, sẽ ảnh hưởng đến sự tồn vong của Đảng và chế độ chính trị.

Tình trạng ngại khó, cầm chừng, né tránh do sợ sai, sợ trách nhiệm của bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên đến mức báo động. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nếu cán bộ không nói năng, không đề ý kiến, không phê bình… thế là một hiện tượng rất xấu” và “Muốn tiến bộ thì phải có tinh thần mạnh dạn, dám nghĩ dám làm”. Sự dấn thân và hành động vì nước, vì dân của cán bộ đảng viên chính là thước đo cao nhất của đạo đức cách mạng. Tuy nhiên, một bộ phận cán bộ đảng viên có tư tưởng cầm chừng, thậm chí né tránh, đùn đẩy trách nhiệm đã trở nên đáng báo động. Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thanh Trà thừa nhận: “Có tình trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, viên chức làm việc cầm chừng, đùn đẩy, né tránh, thiếu trách nhiệm, sợ sai trong thực thi công vụ”. Trên diễn đàn Quốc hội, nhiều đại biểu đã tranh luận về tình trạng này, thậm chí đã thốt lên “Bên trong cán bộ sợ sai. Bên ngoài dân chúng thờ dài lo âu”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng chỉ rõ biểu hiện người sợ trách nhiệm “thường làm việc một cách cầm chừng cho “đủ bổn phận”, cốt sao không phạm phải khuyết điểm gì lớn… không muốn cải tiến công tác, không dám mạnh dạn thay đổi những cái không hợp lý, chỉ làm theo nếp cũ”. Thậm chí, tình trạng “đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, thậm chí sợ trách nhiệm của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên vẫn là vấn đề đáng lo ngại, diễn biến phức tạp, không thể chủ quan, lơ là”.

Tình trạng này khiến cho hoạt động của bộ máy công quyền trì trệ, không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội, còn làm giảm sút năng lực, sức chiến đấu của Đảng, xói mòn niềm tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và chế độ. Nguy hại hơn, đây chính là “mảnh đất” màu mỡ cho các thế lực phản động, thù địch lợi dụng xúi dục, kích động nhân dân nếu không kịp thời chấn chỉnh, giải quyết triệt để.

Cạn năng lượng và thiếu sinh khí đổi mới sáng tạo trong lãnh đạo, điều hành của một số cán bộ chủ chốt. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Ai sợ phụ trách và không có sáng kiến thì không phải người lãnh đạo”. Đại hội XIII của Đảng dùng nhiều cụm từ: “sức sáng tạo”, “năng lực sáng tạo”, “chủ động sáng tạo”… nhằm nhấn mạnh tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám dấn thân và hành động. Tuy nhiên, thực tế đáng buồn hiện nay, vẫn tồn tại loại cán bộ “đập đi, hò đứng”, không có gan nói, gan phụ trách và chỉ thừa hành trong công việc. Nguồn gốc của “loại bệnh” này, xuất phát từ chủ nghĩa cá nhân như Hồ Chí Minh cảnh báo “Có lợi cho tôi thì tôi tích cực; không có lợi cho tôi thì tôi tiêu cực. Tôi muốn có địa vị cao, nhưng lại sợ trách nhiệm”.

Để nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, đòi hỏi phải sớm khắc phục hiện tượng này. Phải cất nhắc, lựa chọn những cán bộ có tinh thần đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, thậm chí dám “vượt rào” để có những bước phát triển đột phá. Có như vậy, công việc mới trôi chảy, cách mạng mới thành công.

Còn mơ hồ, xem nhẹ và chủ quan trước âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một nhiệm vụ quan trọng, được tiến hành thường xuyên với quá trình xây dựng và phát triển Đảng. Bên cạnh kết quả đạt được, vẫn còn bộ phận cán bộ đảng viên và tổ chức đảng nhận thức chưa đầy đủ, thực hiện thiếu quyết liệt nhiệm vụ hệ trọng này. Cho nên, công tác “đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi còn bị động, thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao”. Nguy hại hơn, “một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thấy hết âm mưu của các thế lực thù địch, còn mơ hồ, chủ quan, mất cảnh giác”. Trong khi, các thế lực phản động, thù địch ngày càng có âm mưu, thủ đoạn và hành động xuyên tạc, chống phá điên cuồng, quyết liệt sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Đây là nguy cơ rất đáng lo ngại, dẫn đến “tự thất bại” từ bên trong.

Để cống hiến, phụng sự Tổ quốc và nhân dân cần thực hiện tốt một số nội dung chính sau:

Thứ nhất, “không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ đảng viên”.Để lý luận trở thành “kim chỉ nam”, chỉ rõ phương hướng trong công việc thực tế, cán bộ đảng viên phải nhận thức đúng đắn, thật sự coi trọng việc học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tư tưởng có vững, quyết tâm mới cao, hành động mới quyết liệt. Muốn nâng cao trình độ lý luận chính trị, bên cạnh quan tâm đào tạo bồi dưỡng, đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy thì mỗi cán bộ đảng viên phải thật sự dấn thân và hành động vào học tập lý luận. Phải nâng cao ý thức tự thân, tự học ở mọi lúc, mọi nơi, tiếp cận mọi nguồn thông tin chính thống. Khi cán bộ đảng viên nắm vững lý luận chính trị, không chỉ giữ vững lập trường, phòng chống nguy cơ suy thoái tư tưởng chính trị mà còn tạo ra sức “đề kháng” mạnh mẽ trước các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Thứ hai, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.Trí sáng, tâm trong, vững lý luận thì cán bộ đảng viên sẽ hành động quyết liệt vì lợi ích chung. Đây chính là biểu hiện cao nhất của đạo đức dấn thân và hành động, cho nên, cán bộ đảng viên trước hết phải nêu gương. Để khắc phục tình trạng một bộ phận cán bộ đảng viên có biểu hiện cầm chừng, né tránh, không dám làm do sợ sai, sợ trách nhiệm, Đại hội XIII của Đảng chủ trương “khuyến khích bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” và được cụ thể hóa trong Kết luận số 14 của Bộ Chính trị, ngày 22/9/2021về chủ trương khuyến khích và cơ chế bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.

Để chủ trương của Đảng sớm đi vào cuộc sống, Nhà nước cần sớm tạo hành lang pháp lý, xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật để khuyến khích và bảo vệ. Cơ chế khuyến khích cần xây dựng theo hướng “việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh”. Những việc có lợi cho dân nhưng quy định của Đảng, pháp luật chưa có thì cấp ủy, người đứng đầu cần tạo điệu kiện để khuyến khích cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đồng thời, phải có cơ chế bảo vệ cán bộ có động cơ tốt, dấn thân vào cái mới, cái khó dù kết quả chưa cao, thậm chí thất bại.

Thứ ba, mạnh dạn đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách. Có lý luận dẫn đường thì sẽ hành động, hành động sẽ nảy sinh sáng tạo. Đó là chuỗi quan hệ nhân quả và biện chứng lẫn nhau. Trong thời đại công nghệ số hiện nay, đòi hỏi phải luôn cải tiến và đổi mới sáng tạo từ tư duy, nhận thức và hành động. Công cuộc đổi mới đất nước càng đi vào chiều sâu, càng đòi hỏi phải sáng tạo, thậm chí có những đột phá để có thay đổi mang tính bước ngoặt. Muốn vậy, cán bộ đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt, phải có bản lĩnh can trường, dám đương đầu với khó khăn thử thách, ngược lại, nếu ai có tư tưởng bàn lùi, ngần ngại thì “hãy đứng sang một bên để người khác làm” như chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Thứ tư, nâng cao ý thức, trách nhiệm trong cuộc chiến đấu tranh bảo vệ nền tảng tưởng của Đảng. Không chỉ dấn thân và hành động trong xây dựng Đảng, cán bộ đảng viên còn phải có gan đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhân dân. Một điểm nổi bật, đáng chú ý trong văn kiện Đại hội XIII liên quan đến trách nhiệm cán bộ đảng viên là “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị”. Muốn vậy, mỗi cán bộ đảng viên phải xem đây là một nhiệm vụ hệ trọng, hàng đầu và trở thành chiến sĩ xung kích trong cuộc chiến không “khói súng” này. Đồng thời, phải dựa vào nhân dân, vì “Nhân dân ta có hàng chục triệu người, có hàng mấy chục triệu tai mắt, tay, chân. Nếu biết dựa vào nhân dân thì việc gì cũng xong”. Khi ý Đảng, lòng Dân cùng chung trận tuyến thì không thế lực nào có thể ngăn cản, phá hoại khát vọng phát triển phồn vinh, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam.

Trên cơ sở những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhìn thẳng thực trạng đáng báo động để tìm ra giải pháp nâng cao đạo đức dấn thân và hành động của cán bộ đảng viên. Đây vừa là nhiệm vụ cấp bách, vừa là vấn đề có tính lâu dài, phải thực hiện thường xuyên trong xây dựng Đảng và sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước./.

 

QUÂN ĐỘI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRÊN MẠNG XÃ HỘI

Sự phát triển của Internet đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, trong đó có xây dựng, củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh, qua đó góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế xã hội của đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa.

Bên cạnh những tiện ích hết sức to lớn do Internet mang lại thì những mặt trái, tiêu cực của nó cũng hàng ngày, hàng giờ tác động không hề nhỏ, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường xã hội của chúng ta bằng vô số những thông tin, hình ảnh có nội dung xấu độc được phát tán lên các trang wesbite, blog, mạng xã hội, trên phần bình luận phản hồi của các báo điện tử…

Đặc biệt trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch phản động, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng những hạn chế trong quản lý, điều hành đất nước, cùng các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên, tăng cường chống phá nền tảng, tư tưởng của Đảng bằng nhiều hình thức, thủ đoạn ngày càng trắng trợn, tinh vi, thâm độc hơn, nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Họ rêu rao rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin, chỉ có giá trị ở cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, đến nay không còn phù hợp nữa; sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu là minh chứng cho sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác - Lênin… Từ đó, họ ngụy biện rằng chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, với mục đích đối lập chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là một luận điểm rất nguy hiểm, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tiến tới phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đối với Quân đội Nhân dân Việt Nam, sự chống phá của các thế lực phản động, thù địch cũng không nằm ngoài sự chống phá của chúng đối với cách mạng Việt Nam, nhằm thực hiện “phi chính trị hóa” Quân đội, tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Để thực hiện mục tiêu đó, các thế lực thù địch tập trung tuyên truyền, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, cương lĩnh của Đảng…, làm cho cán bộ, chiến sĩ và bộ đội từng bước phai nhạt, dẫn đến xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thiếu niềm tin, phủ nhận sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội… Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên internet, mạng xã hội đang là yêu cầu cấp thiết, đòi hỏi các cơ quan, đơn vị phải quán triệt, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả.

Những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai đồng bộ các giải pháp cả về tổ chức, lực lượng, nội dung, hình thức, phương tiện để đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong quân đội. Trong đó, công tác giáo dục chính trị được đặt lên hàng đầu, góp phần nâng cao nhận, thức trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quân sự quốc phòng của Đảng; nhiệm vụ của Quân đội, đơn vị. Đồng thời nhận rõ quan điểm sai trái, âm mưu thủ đoạn, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng của các thế lực thù địch, luận giải, làm rõ những giá trị bền vững, tính đúng đắn khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu lý tưởng: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Các cơ quan, đơn vị tổ chức nhiều hoạt động, thu hút được đông đảo lực lượng tham gia đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực phản động, thù địch. Nhiều trang website, blog của các tổ chức, cá nhân phục vụ tốt cho công tác thông tin, tuyên truyền, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch. Báo chí quân đội đã tích cực mở các chuyên trang, chuyên mục đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng với nhiều bài viết sắc sảo, tính chiến đấu cao, có cơ sở lý luận và thực tiễn thuyết phục, được dư luận, cán bộ, chiến sĩ đồng tình ủng hộ.

Quán triệt, thực hiện Chỉ thị 28-CT/TW, ngày 16/9/2013 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI “về tăng cường công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng”; Chỉ thị 15/CT-TTg, ngày 17/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác bảo đảm an ninh và an toàn thông tin mạng trong tình hình mới, Nghị quyết 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị, về tăng cường bảo vệ nền tảng, tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, Chỉ thị 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị, Chỉ thị 87-CT/TW, ngày 08/7/2016 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về “Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, các cơ quan, đơn vị đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm túc với nhiều cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả.

Các cơ quan thông tấn, báo chí mở nhiều chuyên mục về nội dung này, với nhiều bài viết chuyên sâu về tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt chuyên mục mỗi ngày một lời Bác Hồ dạy đã góp phần làm cho tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc cho quân đội và xã hội.

Công tác thông tin, truyền thông, văn hóa, văn nghệ có nhiều đổi mới giữ vững định hướng bám sát và phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính trị của đất nước, Quân đội đáp ứng ngày càng tốt hơn đời sống văn hóa, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ. Qua đó, bồi đắp lý tưởng cách mạng, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; ngăn chặn, hạn chế sự tác động của quan điểm sai trái, thông tin xấu độc đến cán bộ, chiến sĩ, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Thời gian tới, các thế lực phản động, thù địch, phần tử cơ hội chính trị trong và ngoài nước tiếp tục triệt để tận dụng mạng Internet, mạng xã hội, để tán phát tài liệu chống phá quyết liệt nền tảng tư tưởng, đường lối, cương lĩnh, nhân sự của Đảng; nói xấu lãnh tụ, cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước, Quân đội; thổi phồng những hạn chế trong quản lý, phát triển kinh tế xã hội, phòng chống tham nhũng; lợi dụng những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên trong một số cơ quan, đơn vị để công kích Đảng, nói xấu chế độ. Qua đó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” nhằm từng bước chuyển hóa bản chất cách mạng của Quân đội ta. Do vậy, để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên Internet, mạng xã hội; cấp ủy, chỉ huy các cơ quan đơn vị cần quán triệt, triển khai thực hiện tốt một số vấn đề sau:

Một là, tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ về tinh thần chủ động đấu tranh phòng chống luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch trên Internet, mạng xã hội cho cán bộ, chiến sĩ.

Mục tiêu của công tác tuyên truyền, giáo dục trong thời gian tới là làm cho cán bộ, đảng viên và bộ đội nhận thức sâu sắc những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, những phẩm chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”; âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, thù địch nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng. Muốn vậy, phải tập trung nâng cao chất lượng giáo dục chính trị tư tưởng, niềm tin sắt đá vào độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kiến thức và bản lĩnh chính trị vững vàng để có sức đề kháng tốt trước các luận điệu xuyên tạc của kẻ thù.

Tuyên truyền, trang bị cho cán bộ, đảng viên và bộ đội những kỹ năng cơ bản trong việc phân biệt các thông tin “thật”, “giả” trên mạng Internet, mạng xã hội không để họ bị chi phối bởi những từ ngữ “hot”, những sự kiện “nóng” đang diễn ra để tránh bị lợi dụng vào các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước; thiết lập các đường dây nóng, trang thông tin tiếp nhận tin báo từ cán bộ, đảng viên và bộ đội về những cá nhân, tập thể, trang, nhóm đăng tải, lan truyền thông tin sai sự thật trên Internet, mạng xã hội; tăng cường công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ trên mạng Internet, mạng xã hội. Cùng với việc nhận rõ các thông tin xấu, độc, xuyên tạc, cần kết hợp đấu tranh trực diện và gián tiếp để phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội theo kịch bản chặt chẽ, tổ chức chiến dịch truyền thông thống nhất, đa dạng, rộng rãi có sự phối hợp đồng bộ của nhiều lực lượng để tăng tính hiệu quả, sức lan tỏa.

Hai là, phát huy vai trò của cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị, lực lượng nòng cốt, vai trò, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc của kẻ thù

Cấp ủy, chỉ huy cơ quan chính trị, cần nắm chắc tình hình tư tưởng, dư luận xã hội của cán bộ, đảng viên và bộ đội trong thực hiện nhiệm vụ cũng như trên môi trường Internet, mạng xã hội; kịp thời định hướng tư tưởng dư luận xã hội, thực hiện tốt quy tắc ứng xử trên mạng xã hội, nhất là những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, bình luận chưa có cơ sở; quản lý chặt chẽ nội bộ, thực hiện tốt quy chế về kỷ luật phát ngôn; giáo dục, nhắc nhở, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Các cấp ủy đảng tiếp tục thực hiên có hiệu quả các giải pháp xây dựng chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh về chính trị tư tưởng, tổ chức và đạo đức; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi và xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến’’, “tự chuyển hóa” trong thực tiễn cuộc sống cũng như trong môi trường mạng xã hội. Cấp ủy cần phát huy tốt sức mạnh đoàn kết cán bộ, đảng viên; thực hiện tốt công tác giám sát và phát huy dân chủ ở cơ sở; đặc biệt là cung cấp kịp thời chính xác đến cán bộ, đảng viên và bộ đội những thông tin chính thống về các sự kiện, sự việc tích cực cũng như tiêu cực trên các lĩnh vực, tránh những trường hợp phân tích, nhận định chưa có cơ sở.

Cấp ủy, chỉ huy cơ quan chính trị quan tâm chỉ đạo sơ kết, tổng kết công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết 35-NQ/TW của Bộ Chính trị theo định kỳ, đúng quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo 35 nhằm kịp thời rút ra những thuận lợi, khó khăn, kinh nghiệm và định hướng chỉ đạo theo từng giai đoạn cụ thể, đặc biệt là biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân điển hình tiêu biểu, tích cực tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Ba là, xây dựng lực lượng nòng cốt, chuyên sâu trong đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch.

Chú trọng xây dựng đội ngũ nòng cốt, chuyên sâu là những cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ lý luận cao, có khả năng diễn đạt, luận chiến thuyết phục, có nhiệt huyết, dũng khí, quyết tâm đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, chế độ và con đường đi lên xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Từ đó cần tập trung tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, chú trọng nâng tầm lý luận sắc sảo, kinh nghiêm đấu tranh; cung cấp những thông tin, cập nhật nội dung, phương pháp, trang bị phương tiện, công nghệ để họ đấu tranh trên mạng xã hội. Phát huy tốt vai trò của đội ngũ những nhà khoa học, cán bộ chủ trì, chủ chốt ở các viện nghiên cứu, học viện, nhà trường, cơ quan, đơn vị; đội ngũ phóng viên, biên tập viên các cơ quan thông tấn báo chí, xuất bản, lực lương nòng cốt, tiên phong trong đấu tranh bảo vệ trận địa tư tưởng của Đảng. Chủ động áp dụng các biện pháp kỹ thuật để chặn lọc thông tin, không để các thế lực thù địch lợi dụng internet chống phá.

Bốn là, quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị công nghệ thông tin phục vụ nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên Internet, mạng xã hội.

Các cơ quan, đơn vị cần chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin, nghiên cứu, khai thác, hiệu quả các phần mền kiểm soát, phân loại thông tin trên mạng xã hội. Tiếp tục phát triển các giải pháp công nghệ truyền thông; đầu tư nâng cấp trang, thiết bị kỹ thuật phục vụ lực lượng tham gia đấu tranh trên internet, mạng xã hội; kịp thời bóc gỡ thông tin xấu độc không để cán bộ, chiến sĩ và bộ đội tiếp cận được với thông tin này. Duy trì, tổ chức tốt hội nghị rút kinh nghiệm và tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, làm cơ sở cho các lực lượng, nhất là lực lượng nòng cốt, chuyên sâu nâng cao kỹ năng đấu tranh trên mạng xã hội. Chủ động phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương trao đổi thông tin, kinh nghiệm hay, cách làm mới, hiệu quả trong đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, quyết định sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Hiện nay, trước sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động trên internet, mạng xã hội và yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, phát huy vai trò của quân đội trong đấu tranh bảo vệ nền tảng của Đảng góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo về vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

 

NGUY CƠ “BẪY ĐỊA - CHÍNH TRỊ” Ở KHU VỰC ĐÔNG NAM Á VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Cạnh tranh địa - chính trị giữa các cường quốc ngày càng quyết liệt, tác động lớn đến cục diện chính trị toàn cầu, dẫn tới nguy cơ cao các nước rơi vào “bẫy địa - chính trị”, trong đó Đông Nam Á được xem là một trong những địa bàn quan trọng. Các nhà lãnh đạo Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã sớm nhận thấy và bước đầu tích cực triển khai các biện pháp nhằm ngăn chặn nguy cơ các nước trong khu vực rơi vào “bẫy địa - chính trị”.

Khái niệm “địa - chính trị” phản ánh sự phân tích các ảnh hưởng địa lý đối với các mối quan hệ quyền lực trong quan hệ quốc tế. Những triết lý về tác động chính trị của địa lý đã xuất hiện trong tư tưởng chính trị phương Tây sớm nhất từ thời kỳ Hy Lạp cổ đại.

Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các cuộc tranh luận phần lớn tập trung vào tác động đối với chính trị thế giới của các cuộc cách mạng công nghiệp. Trong đó, nổi lên như An-phrét Thay-ơ Ma-han (Alfred Thayer Mahan, Mỹ) với “thuyết sức mạnh biển”, Hâu-pho Mác-kin-đơ (Halford Mackinder, Anh) với “thuyết sức mạnh trên đất liền”... Năm 1897, nhà địa lý người Đức Phri-đơ-rích Rát-deo (Friedrich Ratzel) cho rằng địa - chính trị bắt nguồn từ địa lý chính trị với “thuyết tổ chức nhà nước” của ông và lý thuyết “không gian sinh tồn” được đưa ra sau đó. Đến năm 1899, Ru-đôn-phơ Ca-dơ-lân (Rudolf Kjellén) đã mô tả địa - chính trị là “lý thuyết về quốc gia như một thực thể hoặc hiện tượng địa lý trong không gian”. Ở Đức, A. Hít-le trong thời kỳ Đế chế thứ ba đã sử dụng lý thuyết về “không gian sinh tồn” làm cơ sở để phát động Chiến tranh thế giới thứ hai. Đối với C. Hau-sô-phơ, cha đẻ của địa - chính trị Đức, “địa - chính trị là khoa học quốc gia mới về quốc gia,... một học thuyết về tính quyết định không gian của tất cả quá trình chính trị, dựa trên nền tảng rộng lớn của địa lý, đặc biệt là địa lý chính trị”. Gioóc-phrây Pác-cơ (Geoffrey Parker) cho rằng, địa - chính trị là “nghiên cứu về quan hệ quốc tế từ góc độ không gian hoặc địa lý”, trong khi Giôn A-gơ-niu (John Agnew) định nghĩa lĩnh vực này là “kiểm tra các giả định, chỉ định và hiểu biết về địa lý tham gia quá trình hình thành chính trị thế giới”. Bên cạnh đó, phân tích lịch sử của T. Ma-han về sự trỗi dậy của đế quốc Anh là điểm khởi đầu cho cuộc tranh luận địa - chính trị. Ông lập luận rằng, việc kiểm soát các tuyến đường biển có ý nghĩa quyết định bởi xu hướng thương mại hàng hải và tài sản thuộc địa được kiểm soát bởi một quốc gia hàng hải có vị trí tốt. Với sự ra đời của đường sắt, H. Mác-kin-đơ cho rằng sức mạnh trên đất liền sẽ lấn át sức mạnh trên biển. Thông qua lý thuyết “vùng trung tâm” của mình, vốn tập trung vào các khu vực nội địa rộng lớn của Á - Âu có thể tiếp cận bằng đường sắt, H. Mác-kin-đơ lập luận bất kỳ quốc gia nào có thể kiểm soát vùng trung tâm sẽ kiểm soát chính trị thế giới và do đó gây ra mối đe dọa cho một đế chế trên toàn thế giới. Ngược lại, theo N. Xpai-cơ-men, khu vực “ngoại vi” (rimland) của Á - Âu, trải dài theo hình lưỡi liềm từ châu Âu đến Đông Á, có xu hướng thống nhất trong tay một quốc gia và quốc gia kiểm soát nó sẽ có khả năng thống trị thế giới. Sự phổ biến của lý thuyết địa - chính trị đã giảm sau Chiến tranh thế giới thứ hai do sự xuất hiện của vũ khí hạt nhân và tên lửa đạn đạo đã làm giảm tầm quan trọng của các yếu tố địa lý trong cán cân quyền lực chiến lược toàn cầu. Tuy nhiên, địa - chính trị tiếp tục ảnh hưởng đến chính trị quốc tế, làm cơ sở cho chiến lược ngăn chặn (chủ yếu là ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản) của Mỹ trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, được phát triển bởi Gioóc-giơ Ken-nân (George Kennan) như một chiến lược địa - chính trị nhằm hạn chế sự mở rộng tầm ảnh hưởng của Liên Xô. Các nhà địa lý chính trị cũng bắt đầu mở rộng khái niệm địa - chính trị, bao gồm các yếu tố kinh tế cũng như quân sự. Trong thời kỳ đương đại, địa - chính trị thường tập trung vào các quan niệm cụ thể về quyền lực góp phần vào sự ổn định của quốc gia và hệ thống quốc tế. Địa - chính trị hiện đại đã phát triển qua năm giai đoạn: cuộc chạy đua giành quyền bá chủ của đế quốc, địa - chính trị Đức, địa - chính trị Mỹ, Chiến tranh lạnh - lấy quốc gia làm trung tâm so với địa lý phổ quát và thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh. Cho đến nay, quan niệm về địa - chính trị còn nhiều tranh cãi và có nhiều trường phái khác nhau. Theo Giáo sư kinh tế Giép-phrây Đa-vít Sác (Jeffrey D. Sachs) của Đại học Cô-lôm-bi-a (Mỹ), hiện nay có ít nhất năm lý thuyết chính về địa - chính trị. Ba lý thuyết đầu tiên là các biến thể của Lý thuyết ổn định bá quyền. Lý thuyết thứ tư là trường phái của chủ nghĩa hiện thực quốc tế. Lý thuyết thứ năm về chủ nghĩa đa phương dựa trên tầm quan trọng ưu việt của hợp tác toàn cầu để giải quyết các vấn đề toàn cầu cấp bách. Do đó, nghiên cứu về lý thuyết địa - chính trị được xem là “mê cung” đối với giới học thuật. Tuy nhiên, có hai cách hiểu cơ bản về khái niệm “địa - chính trị”: 1- Địa - chính trị cổ điển, trường phái này tập trung vào mối quan hệ qua lại giữa lợi ích lãnh thổ và quyền lực của nhà nước và môi trường địa lý. Các học giả và chính trị gia thường cho rằng địa lý là cố định và mang tính quyết định, định hình mạnh mẽ các lựa chọn chính trị của các nhà lãnh đạo; 2- Địa - chính trị phê phán, có xu hướng tập trung nhiều hơn vào vai trò của diễn ngôn và ý thức hệ. Vì vậy, thay vì khái niệm hóa địa lý là bất định, địa lý được coi là linh hoạt hơn và có thể được giải thích. Nếu địa - chính trị cổ điển tập trung vào lãnh thổ, tài nguyên và vị trí, thì các cách tiếp cận phê phán lại tập trung vào cách thức tương tác giữa con người và vật chất tạo ra “địa - chính trị”.

Mặc dù chưa có sự thống nhất khái niệm về địa - chính trị, song có thể khái quát: địa - chính trị là cuộc đấu tranh giành quyền kiểm soát các “thực thể địa lý” với quy mô toàn cầu, và việc sử dụng các thực thể địa lý đó vì lợi ích chính trị. Có thể thấy, địa - chính trị là cách thức mà quyền lực chính trị được liên kết với không gian địa lý. Nhưng ngày nay, địa - chính trị thường được sử dụng rộng rãi để chỉ chính trị quốc tế và thậm chí là các khía cạnh của chính trị trong nước, đặc biệt khi chính sách tác động đến quan hệ giữa các quốc gia.

Khái niệm “bẫy địa - chính trị” là thuật ngữ phát triển từ khái niệm địa - chính trị và thiên về yếu tố nguy cơ của địa - chính trị, do các quốc gia tạo ra có chủ đích (chủ yếu là các nước lớn) trong các vấn đề chính trị quốc tế. Cho đến nay, trong giới học thuật chưa có định nghĩa cụ thể nào về “bẫy địa - chính trị”. Tuy nhiên, có thể hiểu “bẫy địa - chính trị” là khi một quốc gia rơi vào “nguy cơ” hay “rủi ro” địa - chính trị dẫn đến phải trả giá cho nguy cơ đó, thậm chí quốc gia đó có thể rơi vào xung đột và cao nhất là chiến tranh. Một số trường hợp bẫy địa - chính trị hiện nay trên thế giới có thể kể đến, như cuộc xung đột Nga - U-crai-na, khủng hoảng Thổ Nhĩ Kỳ - Hy Lạp, căng thẳng chính trị hai bờ eo biển Đài Loan (Trung Quốc).

Gần với khái niệm “bẫy địa - chính trị” là khái niệm về nguy cơ hay rủi ro địa - chính trị. Rủi ro địa - chính trị được hiểu là những nguy cơ tiềm ẩn về chính trị, kinh tế, quân sự và xã hội có thể xuất hiện khi một quốc gia tham gia vào các hoạt động, hợp tác quốc tế. Thông thường, chúng xuất hiện bất cứ khi nào có sự thay đổi lớn về quyền lực, xung đột hoặc khủng hoảng. Những rủi ro này có thể có tác động mạnh mẽ đến chính quốc gia đó và thế giới. Có nhiều yếu tố có thể góp phần gây ra rủi ro địa - chính trị, chẳng hạn như sự bất ổn về kinh tế, quan hệ chính trị đối ngoại hay sức mạnh quân sự của quốc gia đó. Trong những năm gần đây, tiến trình toàn cầu hóa góp phần làm trầm trọng thêm những rủi ro này thông qua gia tăng tính liên kết của các nền kinh tế - xã hội trên thế giới. Hậu quả tiềm ẩn của rủi ro địa - chính trị có thể là tích cực hoặc tiêu cực, một mặt, rủi ro có khả năng gây ra sự bất ổn về kinh tế và chính trị, từ đó có thể dẫn đến bạo lực và xung đột; mặt khác, có thể thúc đẩy đổi mới và sáng tạo khi các quốc gia nỗ lực giảm thiểu rủi ro. Rủi ro địa - chính trị thường khó dự đoán theo cách này vì nó phụ thuộc vào cách thức mà các quốc gia phản ứng.

Nguy cơ “bẫy địa - chính trị” ở Đông Nam Á và hàm ý đối với Việt Nam

Nhìn tổng thể, nguy cơ về rủi ro địa - chính trị ngày càng hiện hữu ở khu vực Đông Nam Á khi cạnh tranh địa - chính trị ngày càng gia tăng giữa các nước lớn. Đông Nam Á nói chung là một trong những khu vực nhạy cảm về địa - chính trị, là “vùng trũng” an ninh của thế giới, do đó các nước trong khu vực phải đối diện với các nguy cơ an ninh và mâu thuẫn chính trị - an ninh ngày càng lớn. Việc các nước lớn gia tăng tranh giành ảnh hưởng địa - chính trị sẽ tạo sức ép đối với các quốc gia trong khu vực và nguy cơ các nước trở thành đối tượng của “chiến tranh ủy nhiệm” là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Khi một quốc gia trở thành công cụ địa - chính trị trong chiến lược cạnh tranh của các nước lớn thì rõ ràng quốc gia đó sẽ rơi vào “bẫy địa - chính trị”, nhất là khi các nước lớn sử dụng chiến lược kiềm chế, ngăn chặn, hoặc gia tăng sức ép buộc các nước nhỏ trong khu vực phải liên kết với bên thứ ba nhằm chống lại sức ép đó. Chính vì vậy, việc tránh nguy cơ “bẫy địa - chính trị” là vấn đề quan trọng nhằm duy trì không gian sinh tồn và phát triển đối với các quốc gia Đông Nam Á.

Từ kinh nghiệm lịch sử, các nước Đông Nam Á luôn phải đề phòng trước sự can dự hoặc cạnh tranh của các cường quốc bên ngoài. ASEAN phải lường trước những kịch bản xấu nhất, đó là buộc phải tham gia vào cuộc cạnh tranh giữa các nước lớn hoặc sự thống trị của các nước lớn với cái giá phải trả là lợi ích của ASEAN. Khi ASEAN được thành lập vào năm 1967, khu vực này đã phải đối mặt với một loạt thách thức rất khác so với hiện nay bởi Đông Nam Á một lần nữa nổi lên như một địa bàn trọng điểm trong cạnh tranh địa - chính trị giữa các cường quốc. Khoảng cách địa lý gần gũi với Trung Quốc đã khiến Đông Nam Á trở thành mục tiêu tự nhiên cho những nỗ lực của nước này nhằm mở rộng lợi ích địa - chính trị của mình, bao gồm cả việc khẳng định các yêu sách lãnh thổ với việc gia tăng sức mạnh quân sự ở Biển Đông và bảo vệ Sáng kiến “Vành đai, Con đường” (BRI).  Trong khi đó, Mỹ tiếp tục duy trì hệ thống đồng minh theo mô hình “trục và nan hoa” ở châu Á - Thái Bình Dương, mà hiện tại là “trục và nan hoa +” (mạng lưới đồng minh và đối tác).

Không chỉ vậy, ASEAN đang phải đối mặt với nguy cơ về sự thiếu đoàn kết nội bộ. Nếu không có sự cải tổ, các quốc gia thành viên của khối có thể trở thành tâm điểm trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược của các nước lớn. Khi căng thẳng giữa các nước lớn gia tăng, ASEAN chịu sức ép từ cả hai bên, cũng như bị chi phối bởi các lợi ích, phải chọn bên và đánh mất vai trò trung tâm trong khu vực. Nếu mâu thuẫn địa - chính trị giữa các nước lớn vượt tầm kiểm soát thì có thể đẩy khu vực Đông Nam Á vào “bẫy địa - chính trị”. Kịch bản “Chiến tranh lạnh mới” giả định rằng, khi mối quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ xấu đi, cuộc xung đột kéo dài giữa Trung Quốc và Mỹ có thể tạo ra một thế giới bị phân cực tương tự như Chiến tranh lạnh. Một thế giới như vậy sẽ khiến nhiều quốc gia nằm giữa các phạm vi ảnh hưởng và có thể dẫn đến các xung đột ủy nhiệm hay còn gọi là chiến tranh ủy nhiệm.

Điều đáng lo ngại nhất của các quốc gia Đông Nam Á hiện nay đối với cục diện địa - chính trị khu vực theo như đánh giá của Thủ tướng Ma-lai-xi-a Ma-ha-thia Mô-ha-mét năm 2019, đó là về xung đột quân sự có thể phát sinh từ những nỗ lực của Mỹ nhằm triển khai sức mạnh hải quân ở Biển Đông nhằm đối phó với sự hiện diện ngày càng gia tăng của Trung Quốc. Theo học giả Pi-tơ T.C. Chang, Đông Nam Á coi Trung Quốc là một thách thức, nhưng không phải là mối đe dọa hiện hữu như Mỹ nhìn nhận về Trung Quốc. Những nỗ lực của Mỹ nhằm kiềm chế Trung Quốc có nguy cơ lôi kéo thế giới vào chiến tranh. Theo đó, việc gây áp lực buộc các nước Đông Nam Á lựa chọn giữa Mỹ và Trung Quốc có thể tạo nguy cơ làm suy giảm vai trò của Mỹ tại khu vực, bởi phần lớn các quốc gia Đông Nam Á coi cạnh tranh nước lớn là nhân tố gây bất ổn đối với cục diện chính trị khu vực. Các nhà lãnh đạo trong khu vực dường như đều không muốn bị buộc phải lựa chọn giữa Trung Quốc và Mỹ. Năm 2019, Thủ tướng Xin-ga-po Lý Hiển Long đã cảnh báo cả Trung Quốc và Mỹ không nên cố chia rẽ Đông Nam Á hoặc gây áp lực cho các nhà lãnh đạo của khu vực này. Ông nhấn mạnh, các sáng kiến hợp tác khu vực có thể củng cố các thỏa thuận hợp tác hiện có lấy ASEAN làm trung tâm. Những sáng kiến này không được “tạo ra các khối đối thủ, khoét sâu thêm các đường đứt gãy hoặc buộc các nước phải đứng về bên nào”. Tại Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế Hoa Kỳ (CSIS), trước thềm Hội nghị Cấp cao đặc biệt ASEAN - Hoa Kỳ (tháng 5-2022), Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính khẳng định, “trong một thế giới đầy biến động, cạnh tranh chiến lược và nhiều sự lựa chọn, Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, sự công bằng, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc”. Ngày 14-7-2023, Tổng thống In-đô-nê-xi-a Giô-cô Uy-đô-đô nhấn mạnh rằng, ASEAN sẽ không trở thành “đấu trường cạnh tranh” hay lực lượng ủy nhiệm cho bất kỳ quốc gia nào, đồng thời kêu gọi tôn trọng luật pháp quốc tế một cách nhất quán.

Vậy, ASEAN và các quốc gia thành viên, trong đó có Việt Nam, làm thế nào để tránh nguy cơ rơi vào “bẫy địa - chính trị”? Mục tiêu của các quốc gia ASEAN cần duy trì đó là thúc đẩy một khu vực vì sự hợp tác chứ không phải là khu vực của cạnh tranh giữa các nước lớn. ASEAN cần vận dụng kinh nghiệm trong việc ứng phó với các nước lớn, phải cùng nhau hành động để bảo đảm khu vực sẽ được hưởng lợi từ cả Mỹ và Trung Quốc. Điều này sẽ làm giảm nguy cơ các nước trong khu vực đối diện với “bẫy địa - chính trị”.

Ngoài ra, ASEAN cần nỗ lực duy trì chính sách cân bằng hoặc chính sách phòng ngừa rủi ro, đồng thời thực hiện phương châm “không chọn bên” trong bối cảnh cạnh tranh giữa các nước lớn. Do vậy, bên cạnh việc không ngừng củng cố vai trò trung tâm của mình, các nước ASEAN không chỉ tập trung vào Mỹ và Trung Quốc, mà còn cả các quốc gia tầm trung. Điều này được xem là yếu tố then chốt để ASEAN cũng như các quốc gia thành viên không bị cuốn vào vòng xoáy chiến lược của các nước lớn. Trung lập và không liên kết là con đường phía trước của khối.

Cạnh tranh địa - chính trị gay gắt giữa các nước lớn hiện nay làm gia tăng nguy cơ với các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, rơi vào “bẫy địa chính trị”.

Thứ nhất, rủi ro địa - chính trị sẽ khó tránh khỏi nếu các nước lớn, đặc biệt là Mỹ và Trung Quốc “lựa chọn” Đông Nam Á trở thành nơi cọ xát địa - chính trị và các bên đều không ngừng tiến hành các hành động cứng rắn tại khu vực, trong đó có Biển Đông; đồng thời, các bên có thể có những tính toán sai lầm và rơi vào “bẫy Thucydides”. Điều đó sẽ khiến Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á có thể sẽ rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan về mặt an ninh, nguy cơ làm suy giảm, thậm chí mất đi sự tự chủ về mặt chiến lược. Do đó, việc buộc phải “chọn bên” trong đối đầu giữa các nước lớn, hoặc là nơi ủy nhiệm cho một bên nào đó (như cách nói của Tổng thống In-đô-nê-xi-a Gi. Uy-đô-đô) là điều đặc biệt nghiêm trọng đối với các nước trong khu vực.

Thứ hai, cạnh tranh địa - chính trị giữa các nước lớn ở trạng thái nguy hiểm khi các nước lớn, nhất là giữa Mỹ và Trung Quốc gia tăng các hành động cạnh tranh theo mô hình “trò chơi có tổng bằng không”, mà thiếu vắng yếu tố hợp tác tại khu vực. Điều này sẽ đặt các nước nhỏ trong khu vực rơi vào “hiểm cảnh” hay thế tiến thoái lưỡng nan. Do vậy, nỗ lực chống chính trị cường quyền và ý định của các nước lớn muốn sử dụng khu vực Đông Nam Á thành địa bàn cạnh tranh địa chiến lược, đồng thời gia tăng yếu tố đối thoại và hợp tác giữa các nước tại khu vực; chủ động và tích cực trong việc bảo vệ luật pháp quốc tế và nâng cao chính nghĩa, thúc đẩy thượng tôn luật pháp quốc tế chính là yếu tố then chốt để các nước trong khu vực bảo vệ quốc gia trước rủi ro ngày càng gia tăng của cạnh tranh địa - chính trị giữa các cường quốc hiện nay.

Trong bối cảnh cạnh tranh địa - chính trị phức tạp hiện nay, để bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, tránh rơi vào thế kẹt trong quan hệ giữa các nước lớn, Việt Nam tiếp tục kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không”; coi ASEAN là một trong những yếu tố có tính “nền tảng” trong chính sách đối ngoại và tích cực ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN - phương cách bảo đảm tương lai phát triển của khối, cũng như củng cố vai trò, vị trí và tiếng nói của các quốc gia thành viên; đề cao chủ nghĩa đa phương, tiếp tục gia tăng hợp tác với các quốc gia tầm trung, như Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Ô-xtrây-li-a,...; đẩy mạnh “tự chủ chiến lược”, gia tăng “sức đề kháng” trong bối cảnh cạnh tranh địa - chính trị ngày càng phức tạp, khó dự báo như hiện nay.

Tóm lại, hiện nay cạnh tranh địa - chính trị ngày càng phức tạp, khó dự báo, rủi ro địa - chính trị ngày càng gia tăng và “bẫy địa - chính trị” ngày một rõ nét, đặc biệt là trong vấn đề Biển Đông, khiến ASEAN và các nước thành viên dễ lâm vào tình thế buộc phải chọn bên khi căng thẳng Mỹ - Trung Quốc gia tăng và vượt tầm kiểm soát. Trước bối cảnh đó, việc kiên trì thúc đẩy vai trò trung tâm của ASEAN, cũng như chính sách trung lập trong quan hệ quốc tế có thể giúp các quốc gia trong khu vực tránh bị cuốn vào xung đột địa - chính trị quốc tế hiện nay./.

 

 

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CẢNH GIÁC CÁCH MẠNG, ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN VÀ HOẠT ĐỘNG CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ QUÂN ĐỘI TA CỦA TỔ CHỨC PHẢN ĐỘNG VIỆT TÂN.

Chiến tranh đã lùi xa, dân tộc Việt Nam đã khép lại quá khứ bi hùng để hội nhập quốc tế và phát triển Đất nước. Công cuộc đổi mới đất nước hơn ba mươi năm qua do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to lớn về mọi mặt, góp phần làm thay đổi cơ bản và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Sự phát triển Đất nước được mỗi người dân Việt Nam ở trong nước cũng như kiều bào đang làm ăn sinh sống ở nước ngoài cảm nhận sâu sắc, bạn bè quốc tế khâm phục.

          Tuy nhiên, trong những năm qua, lợi dụng tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, ở trong nước nảy sinh không ít những khó khăn mới, các tổ chức phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài cấu kết chặt chẽ với một số lực lượng chống đối, cơ hội chính trị ở trong nước vẫn không từ bỏ âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực và bằng mọi thủ đoạn nhằm gây mất ổn định chính trị. Thậm chí còn ảo vọng, muốn thay đổi thể chế chính trị, muốn xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ chính quyền nhân dân ở Việt Nam. Hiện nay chúng tăng cường hoạt động chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Chúng tìm mọi thủ đoạn để truyền bá và cổ súy cho các quan điểm, luận điệu phản động, xuyên tạc tình hình đất nước, lợi dụng những yếu kém, khuyết điểm để bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, làm cho cán bộ, đảng viên và  nhân dân suy giảm lòng tin, hoài nghi vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ nhân dân ta đã lựa chọn.
Cuộc đấu tranh
phòng chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch từ nước ngoài cấu kết với các thế lực phản động ở trong nước rắp tâm phá hoại công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, có ý nghĩa rất quan trọng và cấp bách. Điển hình cho các thế lực thù địch đó là tổ chức “Việt Nam Canh Tân cách mạng đảng”, gọi tắt là “Việt Tân”.

          Quán triệt quan điểm của Đảng: “…kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc...” đồng thời, để hiện thực hóa phương châm: “Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, phản bác những thông tin, luận điệu sai trái…”, đặc biệt là nâng cao cảnh giác cách mạng, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn và hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội của tổ chức phản động Việt Tân cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:

          Một là, tổ chức tuyên truyền, giáo dục quán triệt đến từng cán bộ, đảng viên, công nhân viên, chiến sĩ nhận diện và chỉ rõ bộ mặt thật của thế lực phản động cũng như hoạt động chống phá của tổ chức phản động Việt Tân với cách  mạng Việt Nam.

- Không ngừng bồi dưỡng mục tiêu lý tưởng chiến đấu, xây dựng niềm tin và bản lĩnh chính trị vững vàng cho cán bộ, đảng viên, chiến sỹ trong cơ quan, đơn vị.

Tăng cường giáo dục sâu, kỹ về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, thường xuyên bồi dưỡng kiến thức toàn diện, cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác và có định hướng rõ ràng cho cán bộ, chiến sĩ về các vấn đề phức tạp nảy sinh. Cuộc đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn và hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta của tổ chức phản động Việt Tân hiện nay diễn ra vô cùng quyết liệt đòi hỏi phải xây dựng cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng nhằm tạo động lực bên trong thúc đẩy hành vi, hành động luôn chuẩn mực, đúng hướng.

Bản lĩnh chính trị vững vàng thể hiện ở lập trường kiên định, sắc sảo nhạy bén về chính trị, nhận thức đầy đủ, sâu sắc về nhiệm vụ chiến đấu, lý tưởng cách mạng, tinh thần cảnh giác và ý chí chiến đấu cao. Trong đó, cần thiết nhất là sự kiên định con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Dù có phải chịu tác động mạnh mẽ của tình hình chính trị thế giới, những khó khăn, phức tạp của tình hình KT - XH đất nước, sự chống phá của các thế lực thù địch bên trong và bên ngoài vẫn phải kiên quyết giữ vững đường lối độc lập tự chủ, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, không dao động tư tưởng, ngả nghiêng. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu của cách mạng, là nguyện vọng, con đường và lẽ sống của nhân dân Việt Nam, của cả dân tộc Việt Nam. Kiên quyết không chấp nhận đa nguyên, đa đảng, không nói trái, làm trái nghị quyết của Đảng, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên. Nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin và tình cảm cách mạng cho mọi tầng lớp nhân dân, quyết tâm phấn đấu vì thắng lợi mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội bằng những việc làm cụ thể trong thực hiện nhiệm vụ, trách nhiệm của quân nhân với Quân đội và trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc XHCN.

Nắm vững bản chất, âm mưu, thủ đoạn của tổ chức phản động Việt Tân hiện nay chống phá cách mạng nước ta, cũng như tính chất nguy hiểm của nó và yêu cầu, biện pháp đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong tình hình mới, nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng và ý thức, trách nhiệm xây dựng củng cố quốc phòng BVTQ; tích cực tham gia đấu tranh làm thất bại âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch; nâng cao trình độ, khả năng xử lý vấn đề đối tác và đối tượng cho mọi quân nhân.

- Phát huy vai trò trách nhiệm của cấp ủy đảng, chỉ huy, và đội ngũ cán bộ để nâng cao chất lượng tuyên truyền giáo dục trong đơn vị

Các tổ chức, các cấp, phát huy trách nhiệm quán triệt nắm vững những định hướng lớn của Đảng, của tổ chức đảng cấp trên về công tác đảng, công tác chính trị, nắm vững chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn của cấp trên, học tập kinh nghiệm hay của đơn vị bạn, vận dụng sáng tạo, phù hợp thực tiễn đơn vị mình.

Việc tuyên truyền, giáo dục, quán triệt phải được lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, thường xuyên và được thử thách qua thực tiễn, chú trọng đội ngũ cán bộ, đảng viên thường xuyên giáo dục giúp đỡ quân nhân, đơn vị yếu kém phấn đấu tiến bộ; duy trì và giữ vững sự ổn định về tư tưởng, khắc phục nhanh chóng biểu hiện dao động, giảm sút ý chí chiến đấu, luôn tạo ra bầu không khí tâm lý lành mạnh trong tập thể.

Thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ việc nắm bắt, dự báo, đánh giá kịp thời, chính xác tình hình tư tưởng, hiểu rõ nguyên nhân để có tác động giáo dục cho phù hợp.

Tập trung đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục mọi mặt  tại đơn vị

Công tác tuyên truyền giáo dục mọi mặt tại đơn vị đặc biệt về chính trị tư tưởng trong đơn vị phải gắn chặt với tăng cường đấu tranh chống âm mưu thủ đoạn của tổ chức phản động Việt Tân. Coi đây là một nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư tưởng trong tình hình mới. Cấp ủy, chỉ huy, các cấp cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới toàn diện, thiết thực, hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền.

Cùng với việc đổi mới nội dung tuyên truyền giáo dục, cần đổi mới phương pháp tuyên truyền giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của quân nhân, có định hướng tư tưởng rõ ràng, có tính chiến đấu cao.

Tập trung đổi mới các nội dung, phương thức tuyên truyền giáo dục mọi mặt cho phù hợp với đối tượng, tình hình nhiệm vụ của đơn vị; khắc phục sự giáo điều, xơ cứng, đơn điệu; gắn chặt lý luận với thực tiễn; đổi mới nội dung chương trình, cụ thể, thiết thực, bám sát yêu cầu nhiệm vụ của đơn vị phù hợp với từng đối tượng. Đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền giáo dục đạo đức cách mạng, mục tiêu lý tưởng chiến đấu cho quân nhân. Đổi mới sinh hoạt dân chủ, tự phê bình và phê bình gắn với tăng cường cung cấp thông tin và định hướng nhận thức, hướng dẫn hành động. Đổi mới việc nắm và giải quyết tư tưởng quân nhân theo hướng tăng cường đối thoại dân chủ, sâu sát thực tiễn, coi trọng các hình thức sinh hoạt tư tưởng, nắm chắc tình hình tư tưởng quân nhân, xử lý kịp thời và giải quyết có hiệu quả mọi tình huống nảy sinh về tư tưởng.

Hai là; Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy đảng trong đơn vị, phát huy vai trò của các tổ chức đảng và mọi cán bộ, đảng viên

Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam nói chung, sự nghiệp xây dựng Quân đội nói riêng. Xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội, đối với Quân đội là mục tiêu quan trọng hàng đầu của các thế lực thù địch trong đó có tổ chức phản động Việt Tân chống phá nước ta, chống phá Quân đội. Vì vậy, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy đảng, phát huy vai trò của các tổ chức đảng và mọi cán bộ, đảng viên trong đơn vị là vấn đề rất quan trọng trong đấu tranh phòng chống sự chống phá của tổ chức phản động Việt Tân.

Trong tình hình hiện nay cần thực hiện tốt một số vấn đề sau:

Đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong đơn vị, nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu, coi trọng năng lực lãnh đạo phòng chống "DBHB", "tự diễn biến","tự chuyển hóa" trên mọi lĩnh vực của tổ chức đảng các cấp.

Tạo sự chuyển biến sâu sắc trong nhận thức của cấp ủy Đảng các cấp về tầm quan trọng, sự cần thiết cấp bách của phòng chống những âm mưu, thủ đoạn của tổ chức phản động Việt Tân. Quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng; tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng bồi đắp ý chí chiến đấu kiên định lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; tạo ra sự thống nhất cao trong tổ chức Đảng, sự đồng thuận trong đơn vị đối với cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, vạch rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn của tổ chức phản động Việt Tân, bảo đảm cho tổ chức đảng luôn trong sạch, vững mạnh đủ sức lãnh đạo đơn vị thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, nhiệm vụ chính trị được giao. Đó là vấn đề cốt lõi, "gốc rễ" bảo đảm sự thắng lợi trong phòng chống âm mưu, thủ đoạn của tổ chức phản động Việt Tân trong đơn vị thắng lợi.

Thường xuyên kiện toàn cấp ủy, tổ chức đảng các cấp; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, các chế độ, quy chế hoạt động, mở rộng dân chủ, tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng, xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu, chống quan liêu, độc đoán, dân chủ hình thức, dân chủ vô hạn độ, chống hình thành lợi ích nhóm trong nội bộ Đảng. Đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, coi đó là một nội dung bắt buộc trong sinh hoạt Đảng và là việc làm hàng ngày của cán bộ, đảng viên; phát huy vai trò tiên phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên; làm tốt công tác phát triển đảng. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng viên. Củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực lãnh đạo của các cấp ủy gắn với kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ trì.

Coi trọng xây dựng tổ chức cơ sở đảng, xây dựng cấp ủy, chi bộ trong sạch, vững mạnh, , nâng cao chất lượng sinh hoạt của đảng bộ, chi bộ, xác định đúng nội dung lãnh đạo, đi sâu lãnh đạo hoàn thành nhiệm vụ chính trị, khắc phục hạn chế yếu kém, phân công trách nhiệm rõ ràng, kiểm tra, kiểm điểm nghiêm túc. Kết hợp chặt chẽ xây dựng đội ngũ cán bộ đảng viên vững mạnh, có số lượng phù hợp, chất lượng cao, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Đổi mới phong cách lãnh đạo và lề lối làm việc, nâng cao vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của đảng bộ, chi bộ thực sự là "pháo đài" vững chắc chống địch móc nối, xâm nhập, cài cắm, làm nội gián. Xây dựng tổ chức đảng làm điểm tựa vững chắc đấu tranh chống các phần tử cơ hội chính trị, thoái hóa biến chất, xét lại, chống Đảng, chế độ.

Giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong tổ chức Đảng, bằng việc bố trí, bổ nhiệm đúng cán bộ, thực hiện nghiêm nguyên tắc, quy chế, quy định..., tăng cường bảo vệ chính trị nội bộ; tích cực đấu tranh khắc phục mọi biểu hiện chia rẽ, bè phái, cục bộ, vô tổ chức, kỷ kuật, mất đoàn kết trong tổ chức Đảng, không để địch lợi dụng, kích động, phân hóa, làm suy yếu tổ chức Đảng trong đơn vị. Quản lý chặt chẽ tài liệu mật của đơn vị, xử lý nghiêm những người phát tán tài liệu, làm lộ bí mật. Quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên; quản lý chặt chẽ đội ngũ đảng viên; kết hợp chặt chẽ việc tự giác tu dưỡng, rèn luyện của đảng viên với quản lý của cấp ủy, tổ chức đảng. Kiên quyết xử lý kỷ luật những cán bộ, đảng viên giảm sút ý chí, trách nhiệm, thoái hóa biến chất, vi phạm kỷ luật, pháp luật và đưa những người không đủ tư cách ra khỏi Đảng, làm trong sạch Đảng.

Tập trung bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nhất là cán bộ chủ trì có lập trường chính trị vững vàng, trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của cách mạng, có năng lực lãnh đạo, trí tuệ, kiến thức toàn diện, chuyên sâu lĩnh vực mình đảm nhiệm, am hiểu thực tiễn, có dũng khí đấu tranh, nhiệt tình trách nhiệm, sáng tạo trong hành động, có khả năng tổ chức, điều hành, phát huy sức mạnh tổng hợp trong phòng chống âm mưu thủ đoạn của tổ chức phản động Việt Tân nói riêng và chiến lược “DBHB” của các thế lực thù địch nói chung.

Từng cán bộ đảng viên trong đơn vị đề cao trách nhiệm, không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị, kiến thức toàn diện, rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng. Tích cực học tập, rèn luyện, nắm vững đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy cấp trên và cấp mình, lười học tập nghiên cứu cũng là dấu hiệu ban đầu của sự thoái hóa; nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, kiến thức, năng lực, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu trong chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, nói và làm đúng, làm tốt nghị quyết, giữ nghiêm kỷ luật. Đấu tranh ngăn chặn các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, nói, viết và làm trái quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội. Phê phán những tư tưởng sai trái, những nhận thức lệch lạc trong nội bộ, tạo ra sự thống nhất trong nhận thức tư tưởng và hành động, góp phần giữ vững ổn định về chính trị, tư tưởng trong đơn vị và địa bàn đóng quân.

Ba, Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Chủ động đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn  của tổ chức phản động Việt Tân

Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh góp phần ngăn chặn có hiệu quả sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống trong đơn vị là giải pháp quan trọng phòng chống làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của tổ chức phản động Việt Tân trong đơn vị.

Thực hiện giải pháp này cần tạo được sự chuyển biến rõ nét về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, gắn với thực hiện nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay"; học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với thực hiện cuộc vận động "Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ" phải trở thành chủ đạo, xuyên suốt trong hoạt động của mọi tổ chức, mọi quân nhân, trở thành phong trào sâu, rộng trong toàn quân, tạo sức mạnh tổng hợp nhân rộng phẩm chất tốt đẹp trong đơn vị, đẩy lùi tiêu cực, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

 Kịp thời biểu dương, tôn vinh những tập thể, cá nhân điển hình, đấu tranh chống biểu hiện sai trái, tiêu cực, bè phái, cục bộ, cá nhân chủ nghĩa, xử lý nghiêm các vi phạm, nhất là tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Bên cạnh đó từng cán bộ, đảng viên chú trọng nghiên cứu dự báo tình hình, chủ động giải quyết các vấn đề mới nảy sinh, không thể bị bất ngờ trong mọi tình huống. Chủ động nghiên cứu, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, kịp thời đề xuất với Đảng, Nhà nước những đối sách xử lý các tình huống phức tạp trong đấu tranh trên mọi mặt trận trước mắt là mặt trận tư tưởng, lý luận

Đội ngũ cán bộ, đảng viên ở các cấp nhất là cán bộ chủ trì phải tiếp tục được bồi dưỡng để là lực lượng nòng cốt tiên phong trong đấu tranh phòng chống âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch. Đối với cán bộ, chiến sĩ ở đơn vị, phải nắm chắc quan điểm, đường lối của Đảng, xác định tốt nhiệm vụ, nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, không hoang mang dao động, giữ cho mình trong sạch không bị tha hóa và vận động thuyết phục đồng chí, đồng đội đoàn kết, tích cực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ, giữ nghiêm kỷ luật, tham gia đấu tranh có hiệu quả âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Để chủ động ngăn ngừa và đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn và hành động chống phá điên cuồng của các thế lực thù địch nói chung và tổ chức phản động Việt Tân nói riêng thì mỗi cán bộ, đảng viên trước hết phải có nhận thức rõ về âm mưu và thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng để kích động, đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Thực tiễn cho thấy hoạt động chống phá của các thế lực thù địch chống cách mạng Việt Nam đang diễn ra ngày càng quyết liệt cả về cường độ, tính chất, nội dung cũng như phương thức thủ đoạn hoạt động. Chúng ta cũng cần nhận thức rõ ràng rằng việc phủ nhận, xuyên tạc nhằm chuyển hóa chế độ Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là mục tiêu không hề thay đổi của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản cách mạng mà họ đã thực hiện từ khi đất nước ta độc lập. Vì vậy, cần nâng cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, ý đồ của các thế lực thù địch. Chúng ta tin tưởng rằng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự đoàn kết nhất trí của toàn dân chúng ta sẽ phát huy được sức mạnh tổng hợp để thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, để cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược đó là xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 

 

Ý NGHĨA TÍCH CỰC CỦA CỤM TỪ “TỪ SỚM, TỪ XA”


Có nhiều từ, cụm từ vốn ban đầu được sử dụng trong phạm vi, môi trường, lĩnh vực quân sự, quốc phòng như: ra quân, chiến dịch, phương án,... nhưng sau đó lan sang lĩnh vực khác và dần trở thành những từ, cụm từ được sử dụng rộng rãi trong xã hội. Thời gian gần đây, cụm từ “từ sớm, từ xa” cũng đang trở nên quen thuộc với nhiều ngành, nhiều người vì ý nghĩa tích cực của nó.

Cụm từ “từ sớm, từ xa” vốn chủ yếu sử dụng trong lĩnh quốc phòng, quân sự. “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” được hiểu là bảo vệ Tổ quốc từ bên ngoài lãnh thổ và bảo vệ, phòng ngừa từ trước, chủ động chuẩn bị các điều kiện để bảo vệ Tổ quốc ngay trong thời bình, lấy việc phòng ngừa từ sớm, chuẩn bị từ trước làm chủ yếu, theo phương châm không phải sử dụng chiến tranh. “Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa” được hiểu là kịp thời nhận diện, phát hiện và xử lý những nhân tố bất lợi từ “trong trứng nước” và dập tắt ngay những mầm mống yếu tố có thể gây đột biến làm phương hại đến toàn vẹn lãnh thổ, độc lập, chủ quyền và an ninh quốc gia.

Cụm từ “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” có cội nguồn sâu xa từ lịch sử. Cách nay gần 6 thế kỷ, vào mùa xuân Nhâm Tý năm 1432, sau khi dẹp cuộc nổi loạn của Đèo Cát Hãn - do tù trưởng Mường Lễ, châu Ninh Viễn (nay là tỉnh Lai Châu) cấu kết với Kha Lại (người Ai Lao) làm phản ở biên giới phía Tây Bắc - trên đường hồi Kinh, vua Lê Thái Tổ đã sáng tác hai bài thơ. Một bài được khắc trên vách núi đá tỉnh Lai Châu, một bài khắc trên vách núi đá tỉnh Hòa Bình. Trong đó, bài thơ lưu lại tại núi đá tỉnh Hòa Bình có câu: “Biên phòng hảo vị trù phương lược/ Xã tắc ưng tu kế cửu an” (dịch nghĩa là: Biên phòng phải lo sẵn phương lược/ Giữ nước cần tính kế lâu dài). Lời khẳng định của vua Lê Thái Tổ thể hiện tầm nhìn chiến lược về sự nghiệp giữ nước nói chung, kế sách bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia nói riêng.

Khởi nguồn từ hai cụm từ “lo sẵn phương lược”, “tính kế lâu dài” trong di sản văn hóa giữ nước của ông cha ta, các nhà nghiên cứu quân sự thời hiện đại đã chuyển hóa thành phương châm “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” để vừa khẳng định sự tiếp nối truyền thống lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc, vừa nhấn mạnh tinh thần chủ động, tích cực của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thời bình. Thực chất của phương châm “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” là ý chí cách mạng tiến công, tư thế chủ động, tinh thần nhất quán “Lo giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Đó chính là chủ động chuẩn bị các điều kiện tốt nhất cả về kế hoạch, phương án, lực lượng, thế trận và vật chất chất hậu cần - kỹ thuật để bảo vệ đất nước ngay trong thời bình, khi chưa xảy ra chiến tranh và không để Tổ quốc bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Với ý nghĩa đó, thời gian gần đây, cụm từ “từ sớm, từ xa” đã lan sang các lĩnh vực khác như chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh, đối ngoại... Ví như: Công tác xây dựng pháp luật cần chuẩn bị từ sớm, từ xa; Quốc hội chuẩn bị từ sớm, từ xa cho hoạt động giám sát năm 2023; Chuẩn bị từ sớm, từ xa để thúc đẩy tiến độ giải ngân vốn đầu tư công năm 2023; Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm của cán bộ, đảng viên từ sớm, từ xa; Phòng ngừa tội phạm từ sớm, từ xa; Chiến lược quảng bá văn hóa cần chuẩn bị từ sớm, từ xa; Phòng ngừa bệnh tật từ sớm, từ xa; Hiệu quả hoạt động đối ngoại phụ thuộc vào công tác chuẩn bị từ sớm, từ xa...

Thời gian gần đây, trên các phương tiện truyền thông đại chúng và trong nhiều hội thảo, hội nghị, diễn đàn, tọa đàm, cuộc họp, nhiều người thường sử dụng cụm từ chuẩn bị “từ sớm, từ xa” với hàm ý tích cực là động viên, khích lệ, thúc giục, đôn đốc, nhắc nhở các tổ chức, cơ quan, đơn vị và cán bộ, công chức, viên chức phải luôn có tinh thần tự giác, chủ động trong mọi hoạt động, công tác.

Theo tâm lý học giải thích, chủ động là một thói quen mà mỗi người bằng ý chí của mình có thể rèn luyện được từ những điều nhỏ nhất trong cuộc sống, học tập, lao động, công tác. Từ góc độ cá nhân, tính chủ động không chỉ giúp con người suy nghĩ linh hoạt hơn, thái độ sống tích cực hơn, hành động nhiều hơn để đạt được kết quả tốt đẹp hơn; mà còn giúp mỗi người tự tin hơn, dễ tìm thấy và nắm bắt được nhiều cơ hội hơn, được đánh giá cao hơn, trách nhiệm hơn, lường trước được nhiều rủi ro hơn. Từ phương diện tổ chức, tính chủ động sẽ góp phần gắn kết các cá nhân và tạo động lực thúc đẩy tập thể làm việc, hoạt động, công tác đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả cao hơn.

Khi tính chủ động được thể hiện ở tư duy mẫn cảm, tầm nhìn xa trông rộng, nhận đúng diễn biến tình tình, dự đoán/tiên lượng những tình huống có thể xảy ra để tìm cách ứng phó hiệu quả, phòng ngừa những bất trắc, đẩy lùi những nguy cơ, đó chính là bản chất của kế sách, mưu lược, phương châm “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”. Nhìn rộng ra ở các lĩnh vực khác, khi các tổ chức, cơ quan, đơn vị đều chú trọng quan tâm xây dựng mọi kế hoạch, phương án hoạt động, công tác bảo đảm chặt chẽ, chu đáo, khả thi thì đó chính là thể hiện tinh thần, tư duy chuẩn bị “từ sớm, từ xa” để hướng tới giải quyết, xử lý mọi công việc được suôn sẻ, hanh thông và là tiền đề, cơ sở để có thể giành kết quả cao nhất, hiệu quả tốt nhất./.