Thứ Tư, 13 tháng 12, 2023

KHÁT KHAO TÌM MẸ CỦA NỮ KỸ SƯ BỊ BỎ RƠI TỪ NHỎ ĐÃ LẤY ĐI NƯỚC MẮT CỦA NHIỀU NGƯỜI!

 


Mẹ biệt tăm từ khi mới một tuổi, Trang nương tựa bên bà cố đã ngoài 80. Năm cấp 2 cố mất, Trang sống một mình và phấn đấu trở thành kỹ sư xây dựng.


 Cô gái lạc quan, luôn cười nói động viên bạn bè. Cô gái ấy rơi vào tình huống khó khăn nào cũng nghĩ ra cách giải quyết thỏa đáng, khiến ai cũng phải khâm phục. Không chỉ học giỏi, cô còn rất năng động... Đó là những gì người xung quanh nghĩ về Phan Thị Trang, 23 tuổi, cô bé một mMột cô gái lạc quan, luôn cười nói động viên bạn bè. Cô gái ấy rơi vào tình huống khó khăn nào cũng nghĩ ra cách giải quyết thỏa đáng, khiến ai cũng phải khâm phục. Không chỉ học giỏi, cô còn rất năng động... Đó là những gì người xung quanh nghĩ về Phan Thị Trang, 23 tuổi, cô bé một mình tự lớn lên. 

Hiện Trang là kỹ sư của một công ty xây dựng lớn tại TP HCM, được mời về làm việc với tấm bằng đỏ. Cuộc sống nay đã dư dả, chứ không còn những năm triền miên ăn mỳ tôm như trước. Trang cũng đang có một người bạn trai yêu thương và trân trọng mình. Song, cứ vào dịp Tết, nhìn cảnh nhà nhà đoàn tụ, nỗi cô đơn lại sống dậy trong cô.


"Chỉ cần được biết mẹ đang ở nơi đâu, cho con được một lần nhìn thấy mẹ, gọi tiếng mẹ, một lần rồi thôi cho con biết cảm giác có mẹ là như thế nào cũng thỏa nguyện lắm rồi", cô gái 23 tuổi bộc bạch. Vì ý nghĩ này mà sau bao năm kìm nén, Trang đã đăng tin tìm mẹ trên Facebook. Đến nay, tin tìm mẹ của cô đã được hơn 30.000 lượt chia sẻ.

23 năm trước, mẹ của Trang - tên Hương - ở Liên Hương (Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh) yêu một người đàn ông nhưng người này đã đi nơi khác lập nghiệp. Mẹ Trang, khi đó mới 20 tuổi, chịu bao gièm pha nhưng vẫn quyết tâm sinh con. Dù vậy, sau sinh mới một hôm, người mẹ trẻ đã phải bồng con chạy trốn vì bị xua đuổi.


Khi được tìm thấy, hai mẹ con Trang đã tím tái bên bụi chuối. Sau cùng, nhờ người nhà làm cho một cái chòi gần đền thờ làng, mẹ Trang ru rú ở đó nuôi con. Hơn một năm sau, chị gửi con lại cho bà ngoại mình - năm đó đã 82 tuổi - đi làm ăn xa. "Trong ký ức của em không hề có mẹ. Nhưng em vẫn nhớ mỗi lần hỏi, cố đều nhắc lại lời hứa của mẹ: 'Mẹ mi nói đi kiếm tiền làm nhà cho 3 mẹ con, bà cháu ở, chừ chưa kiếm được tiền nên chưa về, đợi mẹ mi có tiền sẽ về thôi'", Trang nhớ lại.


Cô bé ngây thơ lớn lên không một lời oán trách. Cuộc sống tột cùng vất vả, nhưng Trang chỉ nghĩ mình "vất vả hơn các bạn một chút". Từ năm học lớp 2, Trang đã thay cố đi chợ, theo người dân ra biển xin cá, nhặt củi, hốt phân để có tiền sinh sống. Tuổi thơ của cô bé mồ côi trải qua ngọt ngào và yên bình trong tình thương của cố.

"Ngày nhỏ thích nhất là những lần ngồi đầu hè với con chó nhỏ, ngóng cố đi chợ về. Có lần cố đi têm trầu đám cưới, giữa trưa mới về, liền móc từ túi ra cho em một miếng thịt bò và nắm xôi. Em đón lấy hạnh phúc nhưng rồi hoảng hốt khi thấy cố chảy máu cam, do đi trời nắng quá", những giọt nước mắt rơi mỗi khi Trang nhớ về cố mình.


Cuối năm lớp 8, cố của Trang khi đó 96 tuổi qua đời. Trước lúc đi, cố còn nhắn nhủ: "Còn lại một mình thì mi cứ ở đây, cố sẽ về ấp mi ngủ hằng đêm".

Giường đốt theo cố, Trang phải dỡ cánh cửa lấy chỗ nằm. Sau này hàng xóm khuyên ở thế nguy hiểm, cô bé đành đi ở giúp việc một thời gian, có thời điểm lại đi ở cùng với một cụ già vừa mất chồng, con. Cuối năm lớp 10, chính quyền xây cho Trang một ngôi nhà tình nghĩa, cô bé được trở về tổ ấm của riêng mình.


Cuộc sống một mình có nhiều biến cố cũng như hiểm nguy, Trang vẫn tự thân vượt qua. Có đêm khuya, Trang đang học bài bên cửa sổ thì có một gã đàn ông cởi trần mon men tới xin ngủ cùng. "Không hiểu lúc đó em lấy đâu can đảm vẫn bình tĩnh từ chối những yêu cầu của hắn, kéo dài thời gian được đến lúc cậu em tới đuổi hắn đi".


Với mức hỗ trợ 180.000 đồng mỗi tháng, không đủ chi phí cho cuộc sống, món ăn quen thuộc của Trang hàng ngày là mỳ tôm. Mỗi ngày cô đạp xe hai lượt từ nhà đến trường, mỗi lần 16 km. Trưa về ăn gói mỳ tôm sống, buổi chiều có hôm ăn mỳ, có hôm cắm cơm rồi ăn lại gói muối còn sót từ túi mỳ lúc trưa. Người hàng xóm thương tình, thỉnh thoảng mang cho bát canh, con cá.


Để năm lớp 12 được yên tâm học hành, hè trước đó Trang đi theo cánh thợ xây đổ bể tông. Là cô gái duy nhất trong nhóm thợ nên mỗi lần xách bê tông lên đổ, ai nấy quay lại nhìn Trang "á à", khâm phục. Ban ngày làm chỗ này, ban đêm đi làm ca chỗ khác, sau hơn một tháng, cô gái trẻ kiếm được 7 triệu đồng, đủ để trang trải cho năm cuối cấp.

Có lẽ với Trang thời đó, vui nhất là ngày ngày được đến trường. Bạn bè yêu quý và cưu mang. Có lần lớp tạo bất ngờ cho cô bằng cách kéo đến làm cho căn bếp và còn gom góp được một tải dầu ăn, muối, mắm. "Năm lớp 12 em không còn phải ăn khổ như năm lớp 11 nữa. Nửa kỳ sau, bố mẹ của một người bạn ở lớp còn đón em về chăm sóc", Trang cảm kích.


Ngày lên đường vào Đại học Giao thông vận tải, Trang đã ngồi hàng giờ bên mộ cố, tự hứa sẽ sống vui hơn nữa. Suốt 4 năm đại học, dù được nhà trường miễn học phí, nhưng cô luôn tranh thủ làm thêm để có một khoản dự trù. Trang vẫn nhớ mãi lần Tết năm nhất đi làm thêm 19 tiếng/ngày mà chỉ được trả 60 nghìn đồng. Làm được 2 tuần cô mới biết và kiến nghị thì bị bà chủ đuổi mà không trả một đồng tiền lương. Tết đó, Trang đành phải ở lại ký túc xá.


Nếm trải đủ khó khăn nhưng Trang vẫn một mình bước vào đời vui vẻ, thành công và xinh đẹp. Cô đang có một công việc với mức lương rất tốt. Khoản tiền đầu tiên trong đời cô đã dành xây mộ cho cố. Kế đó, cô cũng mong muốn tìm lại mẹ. 

"Mấy hôm nay em nghe người ta nói nhìn thấy người giống mẹ em đang ở Đà Lạt. Chắc chắn tuần tới đây, em sẽ lên đó thử tìm mẹ xem", cô gái nghị lực hạ quyết tâm.


Ông Phan Văn Cuông, bí thư xã Cẩm Dương (Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh) cho biết Trang sinh ra trong hoàn cảnh khó khăn, nhưng những gì cô phấn đấu đã trở thành tấm gương ở quê nhà. 

Phan Dương.


Mong muốn, nếu được thì nhờ mọi người chia sẻ tiếp thêm thông tin cho ước mơ của cháu Trang có thêm hi vọng ❤️

VÀI LỜI NHÂN ÔNG TẬP CẬN BÌNH THĂM VIỆT NAM

 


Năm 2015 khi ông Tập Cận Bình thăm VN, tôi đã viết tôi cũng như nhiều dân VN có máu ghét Tầu. Nhưng tôi vẫn viết bài nhiệt liệt chúc mừng “đ/c Tập Cận Bình” thăm hữu nghị VN. Cần phải phân biệt, tình cảm này không phải tình cảm bình thường mà là tình cảm chính trị tư tưởng, tình cảm ngoại giao, nó phù hợp với thế và lực của VN, vì lợi ích của VN. Một người hiểu biết cần phải như thế, còn nếu là nhân sĩ trí thức chân chính nữa thì càng phải như thế.

Đã có các cuộc biểu tình chống Trung Quốc nhân dịp ông Tập sang thăm ta lần đó diễn ra. Những người dân do nhận thức hạn chế thể hiện thái độ một cách cảm tính có thể thông cảm được. Nhưng chuyện ngoại giao giữa các nước không thể dựa vào tính sĩ diện hão cá nhân, anh hùng rơm, vĩ cuồng, ảo tưởng, đánh giặc miệng. Với những người trí thức, có cái nhìn sâu, bao quát, tất phải hiểu bài toán quan hệ với TQ là rất phức tạp. Lẽ ra cần phải giải thích cho quần chúng hiểu nhưng một số người cũng mang danh trí thức lại làm ngược lại, lại lợi dụng mọi chuyện để thể hiện sự chống đối vì những toan tính cá nhân, lợi dụng tâm lý ghét Tầu kích động dân chúng biểu tình, diễn tuồng trên phố như hề, như cố lập công để ngửa tay xin đô của những ông chủ. Họ đúng là loại trí thức “chấy rận” như cộng đồng mạng đã gọi!


***

Một thời, khi còn là Phó Chủ tịch Hội Nhà Văn VN, cả hai ông Trần Đăng Khoa và Nguyễn Quang Thiều thi nhau chống TQ, y như lợi dụng tâm lý ghét Tàu để vận động bầu cử khi Chủ tịch Hội Nhà Văn VN Hữu Thỉnh sắp về hưu vậy. Trần Đăng Khoa đã bi bô như trẻ con như vận động chiến tranh cho VN không nên sợ TQ vì TQ đang rất yếu, máy bay TQ ở xa sẽ không đủ xăng bay đến ném bom VN. Còn Nguyễn Quang Thiều, 17-2-2018,  nhân ngày xảy ra cuộc chiến Biên giới phía Bắc, khi TQ xâm lược VN, đã làm bài thơ  Kẻ-phản-bội-tổ-quốc được nhiều trang chống VN đăng tải, đến nay vẫn còn trên mạng. Thiều viết trong mơ đã thấy: “Những con rắn đen từ phương Bắc/ Lẻn vào những ngôi nhà ngỏ cửa/ Của chúng ta” do các nguyên nhân, trong đó có “Mà bởi có những kẻ phản bội dân tộc/ Lại thường đứng lẩn trong nghi lễ của sự trung thành”. Với chiến lược ngoại giao đa phương, VN hiện coi quan hệ với TQ là quan trọng nhất, vậy thế nào là phản bội? Cứ bắt tay với TQ là phản bội thì tất cả từ TBT Nguyễn Phú Trọng đến các vị lãnh đạo VN đều là phản bội tất!

Theo tôi nguyên nhân chính việc TQ tiến hành cuộc chiến xâm lược Biên giới phía Bắc nước ta là do ta không theo Trung Quốc để chống Liên Xô, sau giải phóng ta lại đánh tư sản mại bản mà đa số là Ba Tàu Chợ Lớn, chứ hoàn hoàn không phải do phía Việt Nam ta có những kẻ phản bội đất nước làm gián điệp cho Tàu. Sau cuộc chiến Biên giới, đất nước chúng ta bị đẩy đến tận miệng vực của sự sụp đổ, lạm phát tăng gần 800%, ta buộc phải chủ động xin và rất khó quan hệ của ta mới được bình thường hoá trở lại với TQ. Quan hệ với TQ hôm nay nằm trong chiến lược ngoại giao đa phương vì sự tồn vong, ổn định và phát triển của đất nước chứ hoàn toàn không phải là do có thế lực thân Tàu, phản bội đất nước. Với TQ ta cũng “khép lại quá khứ hướng đến tương lai” như đối với Pháp, Nhật và Mỹ. Vì vậy tất cả những việc làm cố ý khơi lại cuộc chiến Biên giới để chống TQ, chống lại đường lối ngoại giao của ta là những việc làm sai trái! Tôi không thấy những kẻ phản bội như Thiều thấy mà chỉ thấy có rất nhiều kẻ cơ hội, đón gió, trở cờ, chính vì cơ hội chúng mới đích thị là những kẻ phản bội thứ thiệt. 


13-12-2023

ĐÔNG LA

TRUYỀN THÔNG QUỐC TẾ: TRIỂN VỌNG HỢP TÁC VIỆT NAM - TRUNG QUỐC RẤT TƯƠI SÁNG

 Truyền thông khu vực và quốc tế đã đưa tin đậm nét về chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình. Chuyến thăm đã góp phần tăng cường sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau giữa hai Đảng, hai Nhà nước.

Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV) dẫn lời Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhấn mạnh, đây là chuyến công du nước ngoài cuối cùng của ông trong năm nay. Điều đó thể hiện đầy đủ vị thế đặc biệt của quan hệ Trung Quốc - Việt Nam trong bức tranh ngoại giao của Trung Quốc. Ông đồng thời tin tưởng các hiệp định mới được ký kết trong chuyến thăm sẽ mở ra những chương mới trong quan hệ hai nước.

Trong khi đó, Tân Hoa Xã và Nhân Dân nhật báo nhấn mạnh tầm cao chiến lược và góc độ lâu dài của mối quan hệ Việt Nam - Trung Quốc. Bài viết dẫn lời Chủ tịch Tập Cận Bình đánh giá cao những thành tựu của Việt Nam sau gần 4 thập kỷ đổi mới, đồng thời bày tỏ tin tưởng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Việt Nam sẽ thực hiện thắng lợi các mục tiêu và nhiệm vụ lớn mà Đại hội XIII đã đề ra, qua đó đặt nền tảng vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi “các mục tiêu 100 năm”.

Đáng chú ý, Tân Hoa xã trong bản tin tổng hợp ngày 13/12 về chuyến thăm đã nêu rõ, cả Trung Quốc và Việt Nam đều coi sự phát triển của mỗi nước là cơ hội phát triển của mình và triển vọng hai nước cùng hợp tác, đi theo con đường chủ nghĩa xã hội và thúc đẩy hơn nữa quan hệ song phương là rất tươi sáng.

Bài viết “Trung Quốc - Việt Nam nhất trí xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai có ý nghĩa chiến lược” được đăng tải trên Thông tấn xã Lào (Khaosan Pathet Lao) thì nhấn mạnh ý nghĩa chuyến thăm lần đầu tiên tới Việt Nam sau 6 năm của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Theo bài viết, chuyến thăm đã góp phần mở ra giai đoạn hợp tác tốt đẹp giữa hai Đảng, hai nhà nước trong thời kỳ mới, với việc lãnh đạo hai nước nhất trí xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lại Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược trên cơ sở làm sâu sắc hơn nữa quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai nước.

Tờ Khmer Times của Campuchia thì nhấn mạnh cam kết của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình coi Việt Nam là hướng ưu tiên trong chính sách ngoại giao láng giềng. Bài viết đánh giá, với những nỗ lực chung, quan hệ Trung Quốc - Việt Nam sẽ bước vào một giai đoạn mới, qua đó có những đóng góp mới cho sự ổn định, phát triển và thịnh vượng của khu vực và thế giới nói chung.

Trong khi đó, thời báo kinh tế hàng đầu Nhật Bản Nikkei Asia nhấn mạnh những kết quả cụ thể đạt được trong chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. 36 thỏa thuận hợp tác được ký kết bao trùm nhiều lĩnh vực hợp tác giữa hai Đảng, hai Nhà nước phản ánh đầy đủ chiều rộng và chiều sâu của mối quan hệ song phương. Nikkei Asia nhận định, chuyến thăm đã cho thấy tầm quan trọng chiến lược ngày càng tăng của Việt Nam- quốc gia đang nổi lên như một trung tâm sản xuất quan trọng của châu Á.

Các hãng truyền thông lớn trên thế giới như CNN, AP, Bloomberg, Reuters… cũng có nhiều bài viết đề cập chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. CNN đánh giá chuyến thăm sẽ góp phần củng cố sự tin cậy lẫn nhau và đưa quan hệ hai nước lên tầm cao mới. Trong khi đó Hãng tin AP cho biết, chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình diễn ra vào một thời điểm có ý nghĩa khi đánh dấu 15 năm hai nước thiết lập quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện.

Bình luận về Tuyên bố chung đưa ra sau chuyến thăm, Hãng tin Reuters của Anh nhận định, chuyến thăm là một “cột mốc quan trọng” trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc. Reuters cũng đánh giá cao cam kết của hai nước tiếp tục thực hiện toàn diện, hiệu quả “Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC), trên cơ sở hiệp thương, nhất trí, sớm đạt được “Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông” (COC) thực chất, hiệu lực, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982...

Theo Hãng tin Deutsche Welle của Đức, Việt Nam nằm trong số ít các quốc gia mà Chủ tịch Tập Cận Bình đến thăm kể từ sau đại dịch COVID-19. Điều này cho thấy mức độ coi trọng của Trung Quốc đối với mối quan hệ Việt Nam - Trung Quốc. Chuyến thăm sẽ mở ra cơ hội, cũng như góp phần làm sâu sắc hơn các mối quan hệ giữa hai nước, đặc biệt là trong phát triển cơ sở hạ tầng và chuyển đổi năng lượng xanh./. 


BỨC ẢNH KỶ NIỆM CỦA GIA ĐÌNH ÔNG ĐÀO NHẬT VINH VỚI CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG CHUYẾN ĐI PHÁP NĂM 1946

 


Sự kiện ông Đào Nhật Vinh được gặp anh Văn Ba (tức Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sau này) và xuất xứ của bức ảnh được ông Trần Nhương, cháu ngoại của ông Đào Nhật Vinh kể lại như sau:

* Sự kiện gặp anh Văn Ba 

Ông Đào Nhật Vinh sinh năm 1896 tại làng Hạ Lao, huyện Nam Ninh, Hà Nam Ninh (nay là huyện Nam Ninh, tỉnh Nam Định). Thời thanh niên, ông Vinh đi làm thuỷ thủ viễn dương cho các con tàu của Pháp. Ông có may mắn được gặp anh Ba trên chiếc tàu Lige từ Áchentina ghé về Đaca và làm việc với anh Ba. Anh đang làm việc trên chiếc tàu chở than Sacbong 2 Xisácbonnie. Dạo đó, trên tàu Lige có anh Dị là người đã từng làm việc với anh Ba trên một chiếc tàu thủy. Do mối quen biết đó mà anh Dị đã sang tàu Sacbong 2 Xisácbonnie đón anh Ba lên tàu Lige với anh em thợ trong nhóm của ông. Lần gặp gỡ này, ông càng thấy tiếng lành về anh Ba quả là danh bất hư truyền. Thế là một nhóm thợ trẻ cùng anh Dị, anh Xích và ông được anh Ba nhận dạy chữ Nho bằng cách cứ mỗi chuyến đi làm tàu trở về bến, tranh thủ những ngày ở đất liền thì đến học. Ông còn được anh Ba tổ chức vào “Hội những người Việt Nam yêu nước”, hoạt động trong nhóm thủy thủ. Cứ mỗi chuyến đi tàu về là một lần ông gặp anh Ba, được anh nói cho nghe những tin tức của đồng bào trong nước bị mất mùa, đói kém, sưu cao thuế nặng, công nhân đình công đòi tăng lương, đòi thi hành ngày làm tám giờ… Anh Ba còn bày cho ông cách chi tiêu, dành tiền giúp đỡ những anh em thợ chưa có việc làm, hoặc góp thành món gửi về nước cho gia đình, bà con. Từ sau sự kiện đòi quyền tự quyết cho Việt Nam bằng Bản yêu sách 8 điểm gửi đến cuộc họp của các nước đế quốc thắng trận tại Vécxây, anh Ba đã nổi tiếng với tên gọi Nguyễn Ái Quốc. Từ anh em thợ thuyền đến các giới làm ăn trên đất Pháp, cũng như những người Việt sống lưu lạc trên các cảng lớn ở một số nước khác mà ông đã ghé đến đều tỏ nỗi sung sướng có được một người Việt Nam là Nguyễn Ái Quốc, dám đương đầu đòi quyền sống cho dân mình, nước mình ngay ở thủ đô nước Pháp…

* Về xuất xứ của bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng một số thành viên trong Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với gia đình ông Đào Nhật Vinh tại bãi biển Biarritz (Cộng hoà Pháp) năm 1946

Mùa hè năm 1946, nước Pháp ngập trong một bầu không khí ảm đạm, những cơn giông dựng mây đen từ các phía trân trời, tiếng sấm gầm dữ dội. Giữa lúc đó, một tin vui truyền khắp nước Pháp: Cụ Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sang thăm chính thức nước Pháp. Hàng vạn người Việt đang sống trên đất Pháp đổ ra đường, mua vải may cờ đỏ sao vàng thu xếp đưa vợ con lên Pari để chào đón Bác Hồ. Ông Đào Nhật Vinh đinh ninh mình là người từ hai mươi ba năm trước đã có may mắn được gặp anh Ba, đã quen biết cùng làm việc dưới tàu với anh Ba, nay phải là người Việt Nam đầu tiên có mặt trong dòng người đi đón Hồ Chủ tịch. Nhưng khi đi đến Pari, ông đã thấy bà con Việt kiều từ nhiều nơi trên đất Pháp kéo về đây chờ đón Bác Hồ.

Một ủy ban Tổng đại diện Việt kiều đã ra đời ngay ở Paris để lo việc tổ chức bà con người Việt sinh sống trên đất Pháp đón Bác Hồ và phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do ông Phạm Văn Đồng dẫn đầu, đến Hội nghị Phôngtenbơlô. Mọi người đều háo hức chờ đợi từng giờ từng phút để được gặp Bác, bỗng có tin: Hồ Chủ tịch chưa tới Pari ngay mà ghé đến Biarritz, một thị trấn ở cửa bể Tây Nam nước Pháp. Những anh em thủy thủ trước kia đã từng gần gũi với anh Ba liền lên đường đến Biarít. Ông Vinh đưa cả vợ con đi Biarít đón Bác Hồ. Hôm đó, biển trời Biarritz tràn trề nắng. Anh em thủy thủ được Bác tiếp tại một khách sạn do Chính phủ Pháp chọn để Bác tạm nghỉ chân trong chuyến thăm chính thức này, đó là khách sạn Cáclơtông. Anh em thủy thủ vây quanh Bác ngay khi Bác đến. Bác hiển hiện như trong một giấc mộng. Ông Vinh ngắm Bác không chớp mắt. Con mắt lầm than sóng gió của ông chưa một lần ứa lệ vì sung sướng, thế mà cái phút được gặp lại anh Ba, Người anh cả của hàng ngũ thủy thủ, nay là vị cứu tinh của dân tộc, Người khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lại trào nước mắt vì hạnh phúc. Bác đã nhận ra ông Vinh giữa đám đông những người thủy thủ và Người đã ôm choàng lấy hai cha con ông Vinh. 


Một hôm, Bác bảo anh em thủy thủ đưa cả vợ con đi ra chơi ngoài bờ biển Biarít. Bãi biển rộng, mặt biển từng con sóng lượn lăn tăn. Những người đi theo Bác đều không dám đi ngang hàng mà lùi lại phía sau Bác. Thấy vậy Bác khoát tay gọi mọi người dàn thành hàng ngang cùng bước với Bác. 

Chính khoảnh khắc ấy ông Đào Nhật Vinh đã vinh dự cùng gia đình được chụp ảnh với Bác và các thành viên Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông vô cùng xúc động lắng nghe lời Bác: Bãi biển rộng thế này thì chúng ta cùng đi ngang hàng với nhau sao lại phải sắp xếp người trước, người sau làm gì.

Ông Nhương cho biết, ông Vinh giữ được rất nhiều ảnh về Bác Hồ trong thời gian ở Pháp. Sau đó, do thời kỳ gia đình ông sống ở Pháp những năm 1969-1970, vì sợ liên lụy nên vợ ông đã đốt hết các bức ảnh đó. Bức ảnh chụp cùng Bác Hồ ở bãi biển Biarít là bức ảnh duy nhất ông Vinh cất giữ được. Khi còn sống, nói về kỷ niệm với Bác Hồ ông Vinh rất tiếc nuối, ông đã khóc và nói rằng mình đã có lỗi với Bác Hồ khi không lưu giữ được những kỷ niệm về Người. Những năm cuối đời, ông Đào Nhật Vinh về nước sống ở thành phố Hồ Chí Minh. Ông qua đời ngày 30/12/1985, hưởng thọ 90 tuổi và được an táng ở nghĩa trang thành phố. 

 

Ths. Hoa Đình Nghĩa

Bảo tàng Hồ Chí Minh 

Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng gia đình ông Đào Nhật Vinh tại bãi biển Biarrits tháng 7 và 8 năm 1946 (*) .

MỘT ĐẤT NƯỚC KỲ LẠ

 


Các nhà quân sự sừng sỏ đến các chính trị gia 

Trong mắt họ, Việt Nam “vô cùng kỳ lạ”

Như một Hot girl cứ vui đùa, ỏng ả

Chẳng ngả lòng ai để ai phải mất lòng.


Một đất nước lạ kỳ chẳng nửa đục nửa trong

Tổ quốc lâm nguy dân một lòng đứng dậy

Thiên tai, dịch bệnh thế giới từng nhìn thấy

“Lá rách đùm nhau” họ gieo cấy tâm hồn.


Một đất nước lạ kỳ nhiều kẻ nói chẳng khôn

Sao cứ phải làm tiền đồn mãi thế

Chẳng bắt nạt ai mà vẫn luôn tự vệ

Hơn thua chi cho “đế chế” họ buồn.


Một đất nước lạ kỳ chẳng muốn bán buôn

Vũ khí hiện đại các anh “cả” cứ diễn tuồng để bán?

Ai thích là chơi, trọng nghĩa tình bè bạn

Cạnh tranh chi để đo ván chiến trường.


Một đất nước ân tình nên lắm tơ vương

Như thiếu nữ sống vô thường kỳ lạ

Bữa cơm nghèo chẳng đủ rau đủ cá

Với bạn bè vẫn hò hẹn cùng say...


Một đất nước lạ kỳ Trump phải gật đầu ngay

Kim thích thú hẹn ngày sang gặp mặt

Để hai miền Triều không còn ngày chia cắt

Thiết lập hoà bình để nước mắt ngừng rơi.


Mãnh đất lạ kỳ nên nhiều “ảnh” muốn sang chơi

Ấn Độ - Pakistan rủ nhau dùng trà tối

Palestine - Israel nắm tay nhau sang vội

Nga- Mỹ - Trung chung gối ngắm trăng rằm.


Một đất nước nghèo dẫu còn nhiều khó khăn

Vẫn sòng phẳng cân bằng nhiều đối tác

Việc thế giới cùng chung vai gánh vác

Hai lần chủ tịch Hội đồng chững chạc cân phân.


Giữ gìn hoà bình khi thế giới cần

Thuốc, ba lô trên vai chẳng phân vân suy nghĩ

Một đất nước biết bao điều bình dị

Tình yêu thương là vũ khí bên mình.


Một đất nước lạ kỳ sống chẳng rẻ khinh

Đón công dân trở về như đón minh tinh màn bạc

Giữa Kulalamper nhiều nước còn ngơ ngác

Cô gái trở về thơm mát giữa rừng hoa...


Đất nước nhỏ, tình rộng lớn bao la

Đón người từ vùng dịch về vui như là

xem bóng đá

Chẳng máy xúc, máy đào, chửi những lời kỳ lạ 

Đón nhau về tình nghĩa cả keo sơn...


Một dân tộc khát vọng hoà bình “Dù phải đốt cả dãy trường sơn”

Giành được độc lập tay ôm đờn ngồi hát

Vì một thế giới hoà bình cùng chung vai gác

Chẳng có gì lạ kỳ, ngơ ngác: VIỆT NAM./.


Phan Trung Can

NGOẠI GIAO CÂY TRE” VIỆT NAM



Tổng Bí thư khái quát và nhận định: “Chúng ta đã xây dựng nên trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh. Đây là trường phái riêng”. Tổng Bí thư đã ví ngoại giao Việt Nam là “ngoại giao cây tre”: 


“Thân gầy guộc, lá mong manh

Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi”. 


Hình tượng đẹp của cây tre luôn gắn bó với con người, làng quê cũng như gắn chặt với truyền thống dân tộc, đặc biệt là bản sắc nền ngoại giao Việt Nam, nền ngoại giao Hồ Chí Minh.


Nội hàm của trường phái “Ngoại giao cây tre” Việt Nam mà Tổng Bí thư nói đến là: 


1) Mềm mại, khôn khéo, nhưng rất kiên cường, quyết liệt; 


2) Linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định, can trường trước mọi thử thách, khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân;


3) Đoàn kết, nhân ái, nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc;


4) Biết nhu, biết cương; biết thời, biết thế; biết mình, biết người; biết tiến, biết thoái, “tuỳ cơ ứng biến”, “lạt mềm buộc chặt”.


Tổng Bí thư đã phân tích “ngoại giao cây tre”: 


“Cây tre Việt Nam gốc vững chắc, cành uyển chuyển, mềm dẻo nhưng rất kiên cường. Không có cơn gió nào quật ngã được”. Điều này nói lên nền ngoại giao thấm đượm tâm hồn cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam, đó là: mềm mại, khôn khéo nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định can trường trước mọi thử thách khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do hạnh phúc của nhân dân.


Trích bài phát biểu của Tổng Bí thư tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc ngày 14/12/2021

‘'NỤ CƯỜI CHIẾN THẮNG'’ CỦA VÕ THỊ THẮNG


Ngày 2/8/1968, trước Tòa án quân sự mặt trận vùng 3 chiến thuật của Ngụy quyền Sài Gòn, sau khi nghe kết án, Võ Thị Thắng đã nở nụ cười, dõng dạc tuyên bố: “Liệu chính quyền của các ông có tồn tại đến 20 năm để bỏ tù tôi không”? 


Là người nổi tiếng trong bức ảnh “Nụ cười chiến thắng”, bà Võ Thị Thắng (1945 - 2014) sinh tại xã Tân Bửu, huyện Bến Lức, tỉnh Long An trong một gia đình 9 anh chị em. Năm 11 tuổi, Võ Thị Thắng tham gia hoạt động cách mạng bằng việc đưa thư liên lạc và cùng gia đình nuôi giấu cán bộ, với suy nghĩ rất đơn giản rằng cả quê hương, toàn dân đánh giặc thì tất nhiên trong đó có mình.


Sau quá trình tham gia các phong trào đấu tranh xuống đường của thanh niên, sinh viên Sài Gòn, phong trào công nhân và nhân dân lao động khu xóm, xí nghiệp nội thành, diệt ác phá kềm, bà bị bắt giam. Suốt 6 năm dài, bà bị giam cầm và tra tấn ở các nhà lao Thủ Đức, Chí Hòa, Côn Đảo.


Đất nước thống nhất, bà Võ Thị Thắng tham gia công tác tại Thành đoàn, Hội liên hiệp Phụ nữ TP HCM, rồi được giao nhiệm vụ Phó Chủ tịch thường trực Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Bà từng trúng cử Ban chấp hành Trung ương Đảng, đại biểu Quốc hội, Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam – Cuba và sau này giữ cương vị Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch (1996 - 2007).


Bức ảnh “Nụ cười chiến thắng” với câu nói ngắn gọn, đanh thép của cô gái miền Nam, nữ sinh Sài Gòn Võ Thị Thắng đã làm rung động lòng người, tác động tích cực đến tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ, là nguồn cảm hứng cho nhiều sáng tác của văn nghệ sĩ trong nước và ngoài nước thời bấy giờ.


Ngày 22/8/2014, bà Võ Thị Thắng qua đời tại TP HCM ở tuổi 69. Nụ cười của bà mãi mãi rạng ngời cùng lịch sử dân tộc .


( Theo VNEXPRESS )

CHÌA KHÓA ĐỂ LÀM ĂN THÀNH CÔNG VỚI NGƯỜI HOA CHÍNH LÀ UỐNG TRÀ. CHÍNH XÁC HƠN LÀ 3 TÁCH TRÀ

 


Mỗi nền văn hóa có những đức tin và giá trị khác nhau, vốn hay thường phản ánh qua cách con người xứ đó tiếp cận việc làm ăn, kinh doanh.


Đối với người Hoa, trong quan hệ làm ăn quan trọng nhất là lòng tin. Mặc dù đây là giá trị được trân trọng ở nhiều nơi chứ không riêng Trung Quốc, người Hoa lại có một cách rất riêng trong việc thể hiện và xây dựng nó.


Theo nhà Trung Quốc học người Úc David Thomas, chìa khóa để làm ăn thành công với người Hoa chính là... uống trà! Chính xác hơn là 3 tách trà. "Ba tách trà" là một phương thức đơn giản nhưng lại khá hiệu quả, theo kinh nghiệm của nhà Trung Quốc học. Nó có thể được tóm tắt như sau:


1. Tách trà thứ nhất: Là cơ hội đầu tiên để những người xa lạ gặp gỡ. Đây không phải là lúc thảo luận công việc, ý tưởng làm ăn hay hợp đồng. Đây là khoảng thời gian để tạo ấn tượng đầu tiên, để hiểu người mới quen nghĩ gì, mối quan tâm, văn hóa, môi trường làm ăn của họ ra sao...


2. Tách trà thứ hai: Hai bên hiểu về nhau thêm một chút, trở thành "bạn bè". Lần gặp lại này củng cố cảm giác của hai bên dành cho nhau và ý định lâu dài của mỗi bên. Nói cách khác, tách trà này sẽ giúp mối quan hệ tiến về phía trước. Ở giai đoạn này, nếu mọi thứ suôn sẻ, sự an tâm và lòng tin đã bắt đầu tăng.


3. Tách trà thứ ba: Sẽ đưa mối quan hệ lên tầm mức tiếp theo. Ở giai đoạn này mọi người cảm thấy hoàn toàn thoải mái với nhau, lòng tin đã được thiết lập. Đây chính là lúc bàn chuyện làm ăn.

KHÁT VỌNG VIỆT NAM

  


Bạn hỏi rằng Việt Nam chọn ai? 

Chọn lẽ phải điều sai phản đối 

Chọn thẳng thắn không chọn gian dối 

Yêu hoà bình kết bạn với năm châu 


Tả -hữu kia tôi không chọn bên đâu 

Không thù oán không đối đầu gây chiến 

Không nhu nhược dựa vào ai để tiến 

Độc lập chủ quyền kiên quyết giữ gìn


Việt Nam tôi khao khát chữ bình yên 

Bao xương máu giữ vẹn nguyên Tổ Quốc 

Nay khao khát dựng xây đưa Đất Nước 

Phát triển hùng cường vững bước vươn xa


Không tham vọng làm bá chủ thiên hà

Rất anh dũng khi nước nhà nguy biến 

Vì lẽ phải tôi sẵn sàng ứng chiến 

Giúp bạn hiền tôi đâu tiếc máu xương 


Mũ nồi xanh tôi mang đến tình thương 

Vừa chữa bệnh vừa ươm mầm hạt giống 

Nạn pol pot diệt chủng xưa tàn khốc 

Thế giới đứng nhìn tôi đánh chúng bại vong 


Đại Việt xưa ba lần thắng Nguyên Mông 

Điều từ Châu Á sang Đông Âu không ai làm được 

Việt Nam thuộc địa thắng thực dân xâm lược 

Bắn rụng pháo đài bay của đế quốc hung hăng 


Bạn hay thù luôn nhận định rõ ràng 

Bạn trở mặt tôi sẵn sàng đáp trả 

Lấn biên giới tôi đánh thua tơi tả 

Biết lỗi xin tha tôi cũng chả hẹp hòi 


Việt Nam tôi hội tụ bạn khắp nơi 

Hàn Quốc,Triều Tiên chọn Hà Nội làm nơi đàm phán 

Ấn Độ hay Pakisittan với tôi đều là bạn

Israel -Palestine tôi cũng rất thân tình 


Điều tôi mong là thế giới hòa bình 

Nga hay Mỹ tôi chân thành cởi mở 

Trung hay Nhật hợp tác nhiều hơn nữa 

Cam pu chia là điểm tựa láng giềng 


Với Cuba tình bạn quý thiêng liêng 

Lào tốt bụng vốn bạn hiền năm tháng 

Với sách trắng quốc phòng tôi muốn nhắc 

Yêu hòa bình Việt Nam tránh giao tranh


Nhưng sẵn sàng chiến đấu giữ thanh danh 

Nếu kẻ ác bước qua lằn vạch đỏ 

Trang lịch sử hào hùng xưa còn đó 

Hy sinh tất cả quyết giữ vẹn  Non Sông


Tôi nói vậy bạn nghe rõ hay không 

Tính cương trực không thay lòng đổi dạ 

Chơi với tôi đừng phân vân gì cả 

Bởi Việt Nam nơi chiến tranh cũng hóa hoà bình. 


VBM 3/3/2022

THỦ ĐOẠN “XÂM LĂNG VĂN HÓA” TRONG CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY

 



Trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, để chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch và cơ hội chính trị không từ một thủ đoạn nào; trong đó, truyền bá các sản phẩm văn hóa độc hại làm băng hoại những giá trị truyền thống, tinh hoa văn hóa tốt đẹp của dân tộc, từng bước làm chệch hướng đời sống văn hóa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam luôn được chúng coi trọng.

XÂY DỰNG BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ VỮNG VÀNG CHO THANH NIÊN TRƯỚC NHỮNG LÀN SÓNG DƯ LUẬN TRÊN MẠNG XÃ HỘI HIỆN NAY

 


Ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, xuất hiện ngày càng nhiều các nền tảng mạng xã hội đã tác động lớn đến mọi lĩnh vực hoạt động và đời sống sinh hoạt của con người.

LỜI BỊA ĐẶT GIAN DỐI CỦA VIỆT TÂN VÀ ĐỒNG BỌN

 


Việt Tân và một số mạng xã hội phản động đã bịa đặt thông tin rằng việc khởi tố và bắt tạm giam ông Lưu Bình Nhưỡng là cuộc thanh trừng nội bộ hoặc là sự "dằn mặt" của cơ quan công an đối với ông Lưu Bình Nhưỡng do ông này đã từng có nhiều phát biểu "trực ngôn" khi còn làm đại biểu Quốc hội và Phó Ban dân nguyện.

Cảnh giác với những video độc hại, xuyên tạc hình ảnh Công an, Quân đội trên mạng xã hội

 



Thời gian qua, trên các nền tảng mạng xã hội, nhất là TikTok, xuất hiện những TikToker (người dùng TikTok) làm các video clip kiểu như: “Có lẽ tôi sẽ từ bỏ Quân đội để được làm chính mình”; “Có nên rời khỏi ngành Công an để bắt đầu làm lại?”... Đi liền với đó là các video và bài viết xuyên tạc về tình hình nội bộ của lực lượng Công an, Quân đội.

THỰC TẾ BÁC BỎ HOÀN TOÀN NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI VỀ TỰ DO NGÔN LUẬN, TỰ DO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM

 

Gần đây, trên một số đài báo thiếu thiện chí và các trang mạng có địa chỉ ở nước ngoài, các thế thực thù địch, phản động vẫn rêu rao rằng các cơ quan chức năng của Việt Nam “vi phạm quyền tự do ngôn luận”; hạn chế nghiêm trọng tự do báo chí, tự do Internet, bao gồm bắt và truy tố tùy tiện những người chỉ trích chính quyền, kiểm duyệt, đóng các trang mạng, “giới hạn” quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt của người dân “có tiếng nói đối lập, ôn hòa...”.

Quy định sử dụng mạng xã hội trong quân đội

 


Trong quân đội, mọi hoạt động của các quân nhân đều được kiểm soát chặt chẽ. Vậy quy định sử dụng mạng xã hội trong quân đội như thế nào? Mời bạn đọc cùng chúng tôi tìm hiểu các quy định về nội dung này qua bài viết dưới đây.

“Voi chui lỗ kim” làm mất niềm tin nghiêm trọng

 

“Con voi chui lọt lỗ kim” là câu ta thán của không ít người dân, nhất là ở những cơ quan, đơn vị, địa phương có cán bộ, công chức (hoặc người thân quen của cán bộ, công chức) ngang nhiên vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước mà các cơ quan chức năng “không biết”, không xử lý.

 

Nhìn sâu - Nói thật: Bệnh hình thức trong kiểm tra

Vào những tháng cuối năm thường có nhiều đoàn cấp trên đến kiểm tra cấp dưới. Thời bao cấp, nhiều người dân và một bộ phận cán bộ, nhân viên cấp dưới cảm thấy ám ảnh khi nghe tin có đoàn kiểm tra cấp trên đến địa phương, cơ sở mình.

Bởi, mỗi khi cấp trên đến kiểm tra, cấp dưới không chỉ lo lắng ngày đêm chuẩn bị văn bản báo cáo cho "ra môn ra khoai" mà còn phải nháo nhào chạy đi chạy lại lo ăn ở chu đáo cho thượng cấp. Trong tâm lý của cấp dưới, nếu không ứng xử mặn mà, hậu hĩnh khi cấp trên đến kiểm tra thì nguy cơ bị “vạch lá tìm sâu”, khui ra khuyết điểm nhiều hơn ưu điểm là nhãn tiền. Thế nên, trong dân gian mới truyền tai nhau bài thơ trào phúng nghe mà ai oán: “Bộ về, thì tỉnh mổ trâu/ Tỉnh lên, bộ hỏi đi đâu thế này?/ Tỉnh về, thì huyện giết cầy/ Huyện lên, tỉnh hỏi chú mày đấy a?/ Huyện về, thì xã thịt gà/ Xã lên, huyện hỏi bỏ nhà đi đâu?”.

Xã hội văn minh lên từng ngày, những năm gần đây, công tác kiểm tra của cấp trên đối với cấp dưới ngày càng đi vào nền nếp, thực chất hơn. Nhiều nơi, cấp dưới cũng không còn tâm lý quá lo ngại, sợ sệt khi cấp trên đến kiểm tra, bởi ai nấy đều hiểu rằng, một trong những chức năng cơ bản của hoạt động lãnh đạo, quản lý là công tác kiểm tra. Không có công tác kiểm tra thì hoạt động lãnh đạo, quản lý sẽ không hiệu lực, hiệu quả, thậm chí bị vô hiệu hóa. Kiểm tra-vì thế được coi là chế độ, công việc bình thường trong hoạt động lãnh đạo, quản lý.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Ảnh minh họa/ tuyengiao.vn 

Tuy nhiên, không hẳn mọi nơi, mọi chuyện về hoạt động kiểm tra đều sáng rõ như ban ngày. Những khúc quanh, góc khuất, nốt trầm trong công tác kiểm tra vẫn là điều khiến dư luận xã hội chưa hết băn khoăn, trăn trở. Bản chất của kiểm tra là tra xét kỹ lưỡng xem có đúng hay không. Kiểm tra còn là điều kiện để cấp trên bồi dưỡng giúp cấp dưới nâng cao trình độ nghiệp vụ. Nếu cấp trên, cơ quan chức năng kiểm tra cấp dưới thực hiện các nguyên tắc, quy trình, quy định bảo đảm chặt chẽ, khách quan, minh bạch, nhận định chính xác, đánh giá công tâm, công bố công khai thì hiệu lực, hiệu quả kiểm tra mới trở nên hiện hữu trong thực tế. Ngược lại, nếu kiểm tra qua loa, đại khái, không truy tìm gốc gác của những sai sót, khuyết điểm của đối tượng được kiểm tra, hoặc có thái độ nể nang, xuề xòa, dĩ hòa vi quý thì sẽ triệt tiêu tác dụng của công tác kiểm tra.

Điều đáng quan ngại của hoạt động kiểm tra ở một số nơi hiện nay là rơi vào bệnh hình thức. Tức là sau khi cấp trên có công văn dấu đỏ áp xuống, cấp dưới phải chuẩn bị đủ thứ văn bản, giấy tờ hành chính để báo cáo cấp trên. Mà thời đại 4.0, công nghệ sao-chép, đánh bóng hồ sơ, làm đẹp văn bản, vuốt ve thành tích... vốn là một trong những “kỹ năng điêu luyện” ở nhiều nơi, nhiều bộ phận, nhiều cán bộ, nhân viên. Trong khi cấp trên đến làm việc, kiểm tra lại chỉ thích ngồi trong phòng lạnh để nghe cấp dưới trình bày báo cáo, rồi kết luận dăm câu ba điều chung chung theo kiểu "phát huy ưu điểm, khắc phục tồn tại, khuyết điểm" thì lại... hòa cả làng!

Sự hình thức trong hoạt động kiểm tra có vẻ như làm lợi cả đôi đường, tức là cấp trên kiểm tra thì được tiếng là bao dung, độ lượng, sẻ chia với cấp dưới, không làm mất lòng cấp dưới; còn cấp bị kiểm tra thì cảm thấy "mát lòng mát dạ" vì cấp trên đã “giơ cao đánh khẽ”, khuyết điểm ít bị khui ra, sai phạm ít bị đụng tới. Nhưng hậu quả là hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra bị giảm sút, thậm chí bị tê liệt; phẩm chất trung thực, tinh thần liêm chính của tổ chức/cá nhân có thẩm quyền kiểm tra bị nhạt phai, thậm chí vẩn đục; còn tổ chức/cá nhân bị kiểm tra thì sinh ra chủ quan, tự mãn và cũng từ đó có thể tự đưa mình trượt dài trên con đường thoái hóa, biến chất. Nói thế để thấy, nếu còn bệnh hình thức trong hoạt động kiểm tra thì đây chính là một trong những tác nhân làm mọt ruỗng văn hóa chính trị, lung lay đạo đức công vụ từ gốc 

ĐGCD

“Bài Trung” – “Chống cộng” là chiêu bài thường xuyên được kích động chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch


 

Trưa 12-12, Tổng bí thư - Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình bắt đầu chuyến thăm cấp nhà nước hai ngày tới Việt Nam, mở ra nhiều kỳ vọng hợp tác mới giữa hai nước. Đây là sự kiện nổi bật trong dịp hai nước kỷ niệm 15 năm quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc (2008 - 2023).  Trong chuyến thăm này, lãnh đạo cấp cao hai đảng, hai nước sẽ đi sâu trao đổi các định hướng lớn, toàn diện về việc làm sâu sắc và nâng tầm quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc.

 

Bệnh hình, công thần thức khiến con người bị mê hoặc và hủy hoại nền tảng tinh thần xã hội

Không ngẫu nhiên mà Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra rằng, phải “kiên quyết khắc phục bệnh hình thức”, vì đây là những biểu hiện lệch chuẩn văn hóa, lệch chuẩn đạo đức.

Đã nói đến lệch chuẩn giá trị văn hóa có nghĩa là đã chỉ ra nguy cơ lâu dài cho sự phát triển bền vững của đất nước, dân tộc. Do đó, việc nhận diện, phê phán, khắc phục bệnh hình thức cần phải được coi là một trong những việc làm cấp bách hiện nay nhằm giữ gìn nền tảng tinh thần lành mạnh cho quốc gia và thể chế chính trị-xã hội.            

1. Mong muốn có vẻ ngoài đẹp đẽ, hấp dẫn người khác là một khao khát chính đáng của con người. Nhu cầu trang điểm, làm đẹp xuất hiện. Ban đầu nó là một nhu cầu tâm lý lành mạnh, hướng tới cái đẹp. Đó là nhu cầu được hơn cái phần tự nhiên vốn có, đầu tiên là ở bề ngoài, là vẻ hấp dẫn người khác. Ở cây cối hay loài vật cũng có nhu cầu hấp dẫn đối tượng nhưng chỉ có ở con người điều đó mới được thực hành một cách có ý thức, có kỹ năng. Đó cũng là một phần của cuộc sống. Nó bắt đầu từ con người, từ khát vọng hướng tới cái đẹp. Từ con người, sự việc mở rộng ra những gì liên quan đến con người. Từ chuyện của cá nhân mở rộng ra phạm vi xã hội.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
 Ảnh minh họa: tuyengiao.vn  

Từ khởi đầu là tâm lý, dần dần vượt ra khỏi khuôn khổ, muốn vươn tới cái ngoài mình, lớn hơn, không có của mình nhưng có thể đem lại cho mình lợi ích. Cũng vẫn là cho con người nhưng chuyện “làm đẹp” từ chuyện của cá nhân đã dần dần mở ra các hoạt động khác, liên quan đến người khác ở phạm vi rộng lớn hơn. Rồi từ những vẻ đẹp tự nhiên ban đầu, nhu cầu ấy mở dần ra những lĩnh vực khác như danh tiếng, địa vị, tiền tài... Nhưng mở đến đâu là vừa, theo hướng nào là phù hợp, làm thế nào là thiết thực là vấn đề của nhận thức, là những giá trị văn hóa.

Cùng với sự vận động và biến đổi trong quá trình “xã hội hóa”, khao khát ban đầu đã bị biến đổi dần theo hướng vụ lợi. Đầu tiên là danh rồi từ danh sinh ra lợi, từ nhu cầu ban đầu ít gắn với giá trị kinh tế, lợi ích vật chất dần dần khao khát ấy ngày càng tỏ ra thích ứng với những đam mê vật chất hơn. Thế cho nên, từ xa xưa người ta đã phải đề ra những nguyên tắc, tiêu chuẩn mang tính đạo đức rồi sau đó là pháp lý để hạn chế những việc đi quá giới hạn này.

Khi vượt qua những giới hạn đạo đức và pháp luật, nhu cầu “được hưởng nhiều hơn những thứ cá nhân ấy có” trở thành một khuyết tật không chỉ của cá nhân nữa mà là của cộng đồng. Nó trở thành căn bệnh của cả cá nhân và xã hội. Một khi thói háo danh, chuộng hình thức trở nên quá đà sẽ thành một mối nguy cơ cho xã hội vì nó làm lệch lạc giá trị tinh thần của xã hội. Người xưa đúc kết “Y phục xứng kỳ đức” và “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” là để nhắc nhở con người đừng quá đà mà mắc sai lầm khi đề quá cao hình thức, chạy theo hình thức mà quên mất cái thực chất, cái quyết định nên giá trị sự vật là ở chính cái phần nội dung của nó.

2. Nhìn lại lịch sử dân tộc có thể thấy một bài học xương máu: Khi nào bệnh hình thức trở thành một “quốc nạn” thì đất nước sẽ lao đao. Vua chúa, quan lại đua đòi ăn chơi, đám người có của coi sự hơn người về dinh thự, tiền bạc, quyền lực, danh vọng thể hiện “đẳng cấp” xã hội của họ sẽ dẫn đến sự suy thoái của dân khí, sẽ làm suy yếu sức mạnh quốc gia.

Hưng Đạo Đại vương từng phải khuyến cáo tướng sĩ ở thời bình đừng quên những ngày gian khổ chiến tranh, đừng mải nghĩ đến chuyện vui chơi mà sao nhãng luyện tập vì điều đó liên quan đến chuyện thắng thua, còn mất không chỉ của cá nhân họ mà còn của quốc gia. Nguyễn Trãi cũng từng mắng Lương Đăng khi được giao lo chuyện lễ lạt ở tầm quốc gia chỉ chăm chú vào tiêu khiển, ăn chơi, làm đẹp lòng vua quan mà quên đi sứ mệnh của người làm nghề.

Đưa ra mấy ví dụ nhỏ thế để muốn nói rằng thói chạy theo cái bề ngoài, hoặc nghiêm trọng hơn là căn bệnh hình thức vốn gắn với những nhận thức chưa đúng của con người có thể gây hại cho chính con người và xã hội.

3. Nhu cầu làm đẹp là nhu cầu tự nhiên của con người nhưng khi nhu cầu ấy trở thành “bệnh” thì nó đã biến dạng sang một cấp độ khác. Thời xưa đã thế, thời nay cũng thế. Thể chế xã hội nào cũng có những nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp để cho “bệnh” hình thức xuất hiện. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng căn bệnh tệ hại này bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân.

Chủ nghĩa cá nhân bắt nguồn từ đề cao cá nhân mình, vọng tưởng về vị trí và quyền lực của mình, cho mình có quyền ban phát chân lý và đứng cao hơn tất cả, kể cả luật pháp nên mọi thứ cá nhân ấy làm “chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể”.

Bệnh hình thức bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân - lối sống chỉ mưu lợi cho cá nhân và đồng bọn. Nó có thể làm suy yếu xã hội, gây ra nguy cơ cho một đơn vị, cộng đồng, thậm chí quốc gia. Bởi như Bác Hồ từng cảnh báo: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Như vậy, bệnh hình thức không chỉ là một căn bệnh thuộc về đạo đức cá nhân nữa mà nó là biểu hiện sự tha hóa của cá nhân, một tổ chức chính trị. Nó là nguồn gốc của thói vị kỷ, là nguồn gốc sinh ra căn bệnh chủ nghĩa cá nhân. Căn bệnh này, ở các mức độ nặng nhẹ khác nhau tồn tại song song với sự tồn tại của con người nên để tránh nó, con người phải luôn đấu tranh với nó để làm lành mạnh xã hội.

Cuộc đấu tranh này không chỉ nhìn từ góc nhìn đạo đức mà trước hết phải từ những chủ trương, đường hướng đúng đắn, được cụ thể ra bằng những điều luật, cơ chế, bằng những biện pháp tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả ở mọi cấp độ, đặc biệt ở góc độ nêu gương, tu thân.

Việc này không thể giao cho một tổ chức chính trị - xã hội hay một ngành nào quản lý, thực hiện mà phải làm đồng bộ, liên tục, quyết liệt. Cái đích của nhiệm vụ này không phải chỉ là nhằm giải quyết một vấn đề nảy sinh trong một thời điểm nào đó của xã hội mà nó đòi hỏi phải làm thường xuyên, đồng bộ, liên tục, quyết liệt. Ở bình diện phát triển xã hội bền vững, đích của nó là dân khí quốc gia, là nền tảng tinh thần của sự phát triển, là bảo đảm cho một xã hội phồn vinh và hạnh phúc.

Vì vậy mà Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra, phải “kiên quyết khắc phục bệnh hình thức” vì đây là những biểu hiện lệch chuẩn văn hóa, lệch chuẩn đạo đức. Đã nói đến lệch chuẩn giá trị văn hóa có nghĩa là đã chỉ ra nguy cơ lâu dài cho sự phát triển bền vững của đất nước, dân tộc.

4. Nhìn vào thực trạng xã hội hiện nay, chúng ta không khỏi lo lắng vì căn bệnh hình thức, phô trương không còn là của cá nhân, không chỉ là căn bệnh đua đòi, chướng tai gai mắt mà đã ăn sâu vào ý thức của một bộ phận không nhỏ của xã hội, có trường hợp đã bộc lộ ra ở tầm chính sách. Nó không còn là chuyện hình thức vặt, hào nhoáng nhất thời mà là một phần của sự suy thoái, băng hoại nhân cách cán bộ, đảng viên, nguyên tắc tổ chức, lạm dụng chính sách gây ra những tổn hại lớn cả về kinh tế lẫn nền tảng tinh thần của xã hội.

Khi người ta cố tình hiểu sai một đường lối đúng đắn để phát triển đất nước với mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài nên đã ồ ạt mở các trường đại học mới, nhất loạt nâng cấp các cơ sở cao đẳng lên đại học. Cơ cấu ngành nghề sai, thực lực đội ngũ giáo viên yếu, cơ sở vật chất thiếu thốn, năng lực người học không đáp ứng được yêu cầu tiếp nhận tri thức... nhưng để có thành tích, việc “vơ bèo vạt tép” cho đủ chỉ tiêu được giao đã diễn ra ở nhiều nơi.

Chỉ tiêu này gồm cả danh và lợi: Trường đại học thu hút nhiều người học, hoàn thành trách nhiệm xã hội, uy tín trường được nâng cao, thu nhập của trường tăng, cán bộ quản lý ngành được ghi nhận là có tầm nhìn... Nhưng hệ quả của quá trình này là trong khoảng hai chục năm qua chúng ta đã cấp bằng cấp thật cho nhiều đối tượng đào tạo “nửa thật, nửa giả”, khiến nhiều sản phẩm của quá trình đào tạo này dở thầy, dở thợ.

Tệ sính bằng cấp, chuộng hư danh... đã làm nảy sinh những cuộc “chạy marathon” bằng cấp, học vị. Nhiều “lò ấp” đã đẻ ra những người có học vị tiến sĩ nhưng thực ra rất khó dùng họ vào việc gì. Rồi nhờ tiền bạc, quan hệ, họ “chui” vào cơ quan nhà nước. Số cán bộ này khiến cho nhiều cơ quan nhà nước bị xuống cấp cả ở năng lực chuyên môn lẫn ý thức nghề nghiệp. Họ lũng đoạn cơ quan nơi họ được sử dụng, có khi ngồi ở vị trí lãnh đạo, điều hành. Nhiều ban lãnh đạo của nhiều địa phương, cơ quan, tổ chức xã hội vi phạm khuyết điểm, vi phạm pháp luật đã bị xử lý.

Chất lượng giáo dục phổ thông cũng chịu sự “tàn phá” của thói giả dối, bệnh thành tích. Một bộ phận người lớn đã làm hỏng nhiều người trẻ bằng những lựa chọn lệch chuẩn của mình. Nguy cơ không phải chỉ đối với cá nhân đứa trẻ mà là với cả một thế hệ, ở hướng đi, ở nhận thức quyền lợi và trách nhiệm công dân trước các vấn đề xã hội. Những chuyện vi phạm pháp luật trong tuyển sinh, tuyển chọn cán bộ ở nhiều cơ quan, nhiều cấp bậc từ thấp đến cao, ở mọi địa phương là hồi chuông báo động cho tình trạng này.

Thời gian qua, người ta thấy khá nhiều vụ lùm xùm xung quanh suy tôn các danh hiệu, giải thưởng cao quý, kể cả giải thưởng cấp nhà nước về khoa học - công nghệ, văn học-nghệ thuật. Đây là sự tôn vinh các giá trị tinh thần trước đây vốn được coi là cao quý “không gì mua được” vì nó thuần túy là sự tôn vinh những giá trị đích thực. Thế nhưng những kiện tụng, ì xèo, thậm chí bị tước danh hiệu đã xảy ra-điều mấy chục năm về trước chưa hề có.

Còn các danh hiệu “kỷ lục này nọ” thì không ít trường hợp gây ra sự nhạo báng của xã hội. Nó bị biến thành phương tiện để mua danh, để đánh bóng cá nhân. Nhiều lúc dư luận xã hội chê cười việc làm ấy nhưng sau khi sự phê phán về mặt đạo đức xã hội chìm xuống, không có cơ quan nào xử lý về mặt pháp luật hay hành chính thì trong hồ sơ của họ vẫn nghiễm nhiên tồn tại những danh hiệu này. Người ta nói đến khá nhiều những danh hiệu không xứng đáng là “danh hiệu của các hội đồng” chứ không phải là giá trị đích thực.

5. Căn bệnh háo danh, chạy theo hình thức tưởng nhỏ mà không nhỏ. Từ góc độ đạo đức, nếu nó là của cá nhân thì tác hại không thật lớn nhưng nếu nó bị thổi lên như là căn bệnh của một thời thì rất nguy hiểm. Vì như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, nó có nguồn gốc của chủ nghĩa cá nhân mà chủ nghĩa cá nhân thì không bao giờ đem lại điều gì tích cực cho xã hội.

Nó chỉ mang ý nghĩa tiêu cực, chỉ phá hoại và khi ở mức cao nhất, nó có thể gây ra sức mạnh hủy hoại nền tảng tinh thần của một quốc gia. Sự nguy hiểm của chủ nghĩa cá nhân là nó luôn khoác cái áo vì tập thể, vì tương lai, vì cộng đồng nên nó vẫn có thể mê hoặc con người. Nguy hiểm hơn là khi vẫn có những tổ chức và cá nhân có quyền lực là bệ đỡ cho nó.

Do vậy, cần nhận thức thấu đáo về mối nguy hại của căn bệnh này và phải có những biện pháp thật sự nghiêm khắc để phòng ngừa, chữa trị và đẩy lùi căn bệnh hình thức, phô trương trong xã hội nói chung, trong bộ máy công quyền nói riêng 

ĐẠI GIA CHÂN ĐẤT

 

TƯ TƯỞNG NHẤT QUÁN, XUYÊN SUỐT VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI, NGOẠI GIAO VIỆT NAM

Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã hình thành nền đối ngoại, ngoại giao độc đáo, đậm truyền thống, bản sắc dân tộc: đề cao hòa bình, hòa hiếu, hữu nghị, trọng lẽ phải, đấu tranh vì chính nghĩa, tinh tế, uyển chuyển, nhân ái, kiên quyết, kiên trì bảo vệ, gìn giữ nền độc lập, bảo vệ bờ cõi đất nước. Truyền thống đó được ông cha ta đúc kết thành những tư tưởng như: “Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn. Lấy chí nhân để thay cường bạo”; Dập tắt chiến tranh cho muôn đời; Để mở nền thái bình muôn thuở.

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, nền đối ngoại, ngoại giao cách mạng được hình thành. Kế thừa truyền thống của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng, trực tiếp chỉ đạo và định hướng cho sự phát triển nền đối ngoại, ngoại giao của nước Việt Nam hiện đại. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là nền tảng, kim chỉ nam để Đảng ta lãnh đạo công tác đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân.

Đó là đường lối độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, vì lợi ích quốc gia-dân tộc; phát huy nội lực, khai thác và tranh thủ ngoại lực, tạo nên sức mạnh tổng hợp, góp phần vào thắng lợi của công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, trong đó có những đóng góp quan trọng của công tác đối ngoại, ngoại giao.

Đường lối đối ngoại "độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại"; “là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”; kiên định về nguyên tắc, mục tiêu, linh hoạt, khôn khéo về sách lược được thực hiện nhất quán, đồng bộ, hiệu quả; đồng thời, phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân.

Việc thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng đã góp phần quan trọng giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, tạo thuận lợi cho công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước.

Về đối ngoại đảng, đến nay Đảng Cộng sản Việt Nam đã có quan hệ với 253 đảng ở 115 quốc gia trên thế giới, trong đó có 92 đảng cộng sản, 63 đảng cầm quyền, 38 đảng tham gia liên minh cầm quyền, tham chính... Về ngoại giao nhà nước, Việt Nam đã mở rộng, làm sâu sắc quan hệ với 193 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có 3 nước quan hệ đặc biệt, 5 nước đối tác chiến lược toàn diện, 13 nước đối tác chiến lược và 12 nước đối tác toàn diện.

Việt Nam đã trở thành thành viên tích cực, chủ động và đóng góp đầy trách nhiệm với tất cả các tổ chức, diễn đàn khu vực và quốc tế. Việt Nam được đánh giá cao trong việc thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ, tham gia Phái bộ gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Đặc biệt, trước tác động của đại dịch Covid-19, kinh tế và thương mại toàn cầu suy giảm, nền kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục tăng trưởng khá và được Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đánh giá là một điểm sáng “trong bức tranh xám màu” của kinh tế toàn cầu.

Về đối ngoại nhân dân, các đoàn thể, tổ chức nhân dân của ta có quan hệ hợp tác, hữu nghị với hơn 1.200 tổ chức, đối tác nước ngoài; hình ảnh đất nước và con người Việt Nam tươi đẹp, thân thiện, hiếu khách với nền văn hóa phong phú, đa dạng, giàu bản sắc dân tộc, luôn được lan tỏa tới bạn bè quốc tế, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam. “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Thành tựu của công tác đối ngoại Việt Nam những năm qua là thành quả của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, trong đó nhân tố quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định là sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Hệ thống hóa sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong xây dựng và triển khai đường lối đối ngoại, ngoại giao; giúp các ban, bộ, ngành, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, chính quyền địa phương, các cơ quan làm công tác đối ngoại, ngoại giao, người Việt Nam ở trong nước, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế hiểu rõ chủ trương, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng ta, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; Ban Đối ngoại Trung ương Đảng, Bộ Ngoại giao và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp xuất bản cuốn sách Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”.

Năm 2022, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật đã tổ chức biên tập, xuất bản cuốn sách Một số vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, định hướng cho toàn Đảng, toàn dân và khẳng định với bạn bè quốc tế về con đường mà Đảng ta, nhân dân ta quyết tâm xây dựng là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Để cụ thể hóa những luận điểm, minh chứng rõ nét hơn bằng những thành tựu trong công cuộc đổi mới, định hướng xây dựng và phát triển đất nước, Nhà xuất bản đã hoàn thành, biên tập, xuất bản các cuốn sách của Tổng Bí thư, có tính chuyên đề về những vấn đề trọng đại của đất nước: 1- Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh; 2- Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới; 3- Cả nước đồng lòng, tranh thủ mọi thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; 4- Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc;…

Nội dung cuốn sách gồm ba phần:

Phần thứ nhất: Vai trò quan trọng và đóng góp to lớn của công tác đối ngoại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, gồm bài viết tổng quan và 7 bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại các hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, hội nghị ngoại giao, hội nghị đối ngoại toàn quốc. Các bài viết, bài phát biểu thể hiện tư duy chiến lược của người đứng đầu Đảng ta về đường lối, chính sách đối ngoại, ngoại giao Việt Nam.

Trên cơ sở đánh giá những kết quả, thành tựu của đối ngoại, ngoại giao đã “góp phần rất quan trọng vào thành tựu chung to lớn, có ý nghĩa lịch sử của Đất nước ta”, nhờ đó “vị thế và uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế”, Tổng Bí thư chỉ rõ mục tiêu, nhiệm vụ, định hướng cho công tác đối ngoại nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ: Việt Nam là một quốc gia đang phát triển mạnh mẽ, có vị trí địa chiến lược quan trọng trong những chuyển dịch hiện nay của thời đại. Trong thế giới biến động và khó lường, thách thức luôn luôn đan xen với cơ hội, rủi ro luôn đi kèm với thời cơ.

Để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của đất nước đến năm 2025, 2030 và 2045, Tổng Bí thư yêu cầu phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại, xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”: gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển; trong đó, “tiên phong trước hết cần thể hiện trong tư duy, nhận thức; tiên phong trong bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; tiên phong trong kiến tạo cơ hội để thúc đẩy lợi ích quốc gia - dân tộc; tiên phong trong kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, huy động sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhất là gắn kết sức mạnh cộng đồng người Việt Nam trong và ngoài nước”.

Thực hiện chủ trương của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng về “Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”, trong các bài phát biểu, bài viết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Đối ngoại là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, quản lý tập trung của Nhà nước; sự gắn kết chặt chẽ, nhịp nhàng giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân, giữa đối ngoại chính trị, đối ngoại kinh tế, đối ngoại văn hóa, đối ngoại quốc phòng, đối ngoại an ninh và đối ngoại trong các lĩnh vực khác.

Đây vừa là truyền thống quý báu, vừa thể hiện sự sáng tạo, độc đáo của nghệ thuật đối ngoại, ngoại giao cách mạng Việt Nam, được Tổng Bí thư phân tích, lý giải và định hướng cụ thể bằng nhãn quan chính trị sâu sắc và tầm tư duy chiến lược; là bước phát triển về tư duy đối ngoại Việt Nam, vừa là yêu cầu cấp thiết, vừa có ý nghĩa lâu dài, đáp ứng nhiệm vụ trong tình hình mới.

Phần thứ hai: Đối ngoại Việt Nam vì độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, gồm 78 bài nói, bài viết, bài phát biểu, trả lời phỏng vấn, thư, điện... của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại các hoạt động và diễn đàn ngoại giao song phương, đa phương, thể hiện sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các trụ cột đối ngoại là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân.

Trải qua các giai đoạn, trên các cương vị: Chủ tịch Quốc hội, Tổng Bí thư, Tổng Bí thư - Chủ tịch nước, các bài viết, bài phát biểu của đồng chí Nguyễn Phú Trọng thể hiện quan điểm, chủ trương đối ngoại trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng.

Việt Nam đã có quan hệ hợp tác rộng mở cả song phương và đa phương với các đối tác, trong các lĩnh vực, ở tất cả các cấp, các ngành, đưa các quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu, ổn định, hiệu quả, thực chất, gia tăng tin cậy chính trị và đan xen lợi ích; huy động và kết hợp hiệu quả các nguồn lực bên ngoài với nội lực trong nước nhằm chủ động tham gia, tích cực đóng góp, nâng cao vai trò của Việt Nam trong xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự chính trị-kinh tế quốc tế vì lợi ích quốc gia-dân tộc và lợi ích chung của cộng đồng quốc tế trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế.

Trong quan hệ song phương, các bài nói, bài viết, bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn luôn thể hiện sự đánh giá cao mối quan hệ hữu nghị, hợp tác với các quốc gia trên nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi.

Phát huy truyền thống hòa hiếu của ông cha, Tổng Bí thư khẳng định cần tiếp tục đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các nước láng giềng, đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và bạn bè truyền thống, tăng cường tin cậy, phát huy điểm đồng, linh hoạt, sáng tạo trong xử lý các tranh chấp và thúc đẩy hòa bình, hợp tác cùng phát triển nhằm củng cố vững chắc cục diện đối ngoại ổn định, phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Việt Nam sẵn sàng tham gia vào các cơ chế hợp tác đa phương, các tổ chức khu vực, quốc tế và các khuôn khổ hợp tác cũng như trong những vấn đề quan trọng có tầm chiến lược, phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều kiện của đất nước.

Trong quan hệ với các đảng cộng sản, công nhân, các đảng cầm quyền và các đảng dân chủ, vì hòa bình, tiến bộ trên thế giới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn dành sự quan tâm đặc biệt, đóng góp cả lý luận và thực tiễn vào kho tàng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh từ công cuộc đổi mới của Việt Nam, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xây dựng một xã hội công bằng và tiến bộ, thật sự vì con người.

Tổng Bí thư nhấn mạnh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, với các đảng cộng sản, công nhân và bạn bè truyền thống. Trong các bài nói, bài viết, bài phát biểu, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn dành sự quan tâm và tình cảm tới cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và người dân nước sở tại, luôn tích cực giới thiệu hình ảnh đất nước Việt Nam hòa bình, hòa hiếu, thân thiện, mến khách, năng động và phát triển trong con mắt của bạn bè quốc tế.

Phần thứ ba: Dấu ấn đối ngoại, ngoại giao, gồm 52 ý kiến của các chuyên gia, nhà chính trị, nhà ngoại giao, nhà nghiên cứu, bạn bè quốc tế về vai trò, đóng góp của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong việc hình thành và phát triển trường phái ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”.

Đó là những kỷ niệm, tình cảm, câu chuyện của các đại sứ, các cán bộ làm công tác đối ngoại, ngoại giao, các nhà báo, người Việt Nam ở nước ngoài được tháp tùng, được gặp Tổng Bí thư trong các chuyến thăm và làm việc ở trong và ngoài nước. Những ý kiến thể hiện sự kính trọng, tình cảm trân quý đối với Tổng Bí thư và niềm tin tưởng, tự hào về những thành tựu to lớn của đất nước, trong đó có đóng góp quan trọng của công tác đối ngoại, ngoại giao Việt Nam.

Các bài nói, bài viết, bài phát biểu, trả lời phỏng vấn, thư, điện... của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được tuyển chọn trong cuốn sách là sự tổng kết những bài học kinh nghiệm có giá trị của công tác đối ngoại, ngoại giao Việt Nam, thể hiện bước phát triển tư duy chiến lược của Đảng ta, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư, góp phần định hướng mục tiêu, nhiệm vụ của công tác đối ngoại, ngoại giao trong giai đoạn mới./.