Thứ Năm, 14 tháng 12, 2023

Cảnh giác với thủ đoạn xuyên tạc, chống phá trong công tác tuyển quân

 


Tuy nhiên, lợi dụng không gian mạng xã hội, internet, cứ gần đến mùa tuyển quân hằng năm, các thế lực thù địch lại ra sức xuyên tạc, chống phá, hòng làm suy giảm lòng tin của người dân vào môi trường Quân đội, gây khó khăn cho công tác tuyển quân của các địa phương.

Không để “mắc mưu” kẻ xấu


Theo truyền thống từ nhiều năm qua cứ sau ngày rằm tháng Giêng hàng năm trên mọi miền Tổ quốc có hàng chục nghìn thanh niên lại nô nức lên đường tòng quân, tham gia thực hiện NVQS và nghĩa vụ công an nhân dân (gọi tắt là tuyển quân). Việc làm này đã trở thành nét đẹp văn hóa và nguyện vọng chính đáng của bao thế hệ thanh niên Việt Nam. Để lựa chọn được những thanh niên có đủ tiêu chuẩn về lý lịch chính trị, sức khỏe, trình độ văn hóa tham gia nhập ngũ thì ngay trong tháng 11 và tháng 12 của năm trước các địa phương (Cấp xã, phường, thị trấn; huyện, thành phố, thị xã) phải chủ động làm tốt công tác rà soát nguồn, khám tuyển, sàng lọc kỹ càng và “chốt” được danh sách thanh niên đủ tiêu chuẩn nhập ngũ.

Những năm qua, các địa phương trong cả nước tổ chức thực hiện chặt chẽ các khâu, các bước trong tuyển quân. Một số nơi đã trở thành điểm sáng về công tác này khi lựa chọn được những “hạt giống đỏ” để tạo nguồn cán bộ cho Quân đội và cơ sở khi người thanh niên hoàn thành nghĩa vụ trở về, viết tiếp truyền thống của quê hương “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, hoàn thành 100% chỉ tiêu tuyển quân được giao.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy những năm gần đây các thế lực thù địch, phản động có ý đồ cơ hội chính trị lợi dụng sự phát triển của không gian mạng xã hội dàn dựng, cắt ghép hình ảnh, viedeo tung lên mạng với mục đích hạ uy tín của Quân đội, làm cho người dân và thanh niên mất niềm tin vào môi trường quân ngũ. Một số trang mạng xã hội thù địch còn kích động, lôi kéo thanh niên không đi khám tuyển, tìm mọi cách để trốn tránh khám tuyển NVQS, nghĩa vụ công an; xúi bẩy những quân nhân đang thực hiện NVQS đào ngũ, gây áp lực, đưa ra những đòi hỏi, yêu cầu với chính quyền cơ sở. Hình ảnh mà chúng đưa lên mạng xã hội là những cảnh quân đội nước ngoài làm những việc sai trái, dàn dựng cảnh bộ đội đánh nhau, mà chúng cho rằng “ma cũ bắt nạt ma mới”; sĩ quan hành hạ, làm nhục hình chiến sĩ; những vụ việc cũ đã được các cơ quan chức năng giải quyết từ lâu nhưng cũng chúng xới lên như vụ việc mới, để bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”; rồi những luận điệu suy bì, toan tính, phân tích thiệt hơn khi thanh niên tham gia thực hiện NVQS, chung đánh giá là mất hơn là được và thiệt thòi hơn nhiều so với thanh niên đi làm kinh tế bên ngoài…

Những hình ảnh, video, lời bình mà chúng tung lên mạng thường lập lờ, võ đoán, không có địa chỉ cụ thể của cơ quan, đơn vị Quân đội nào; lời lẽ miệt thị, vu khống trắng trợn, làm cho thanh niên và gia đình bán tín bán nghi dẫn đến “tự diễn biến”, đắn đo, do dự khi nhận thông báo khám tuyển, lệnh gọi nhập ngũ. Cá biệt trên không gian mạng còn xuất hiện các hội, nhóm bày cách, vẽ đường cho thanh niên dùng các thủ đoạn để trốn tránh thực hiện khám tuyển NVQS, công an, lôi kéo những thanh niên “chậm tiến”, có suy nghĩ lệnh lạc, lối sống hưởng thụ tham gia hội nhóm; hướng dẫn thanh niên trốn khỏi nơi cư trú trong thời gian khám tuyển để chính quyền cơ sở “không biết đâu mà lần”. Một số kẻ xấu còn “vẽ đường cho hươu chạy” bằng cách hướng dẫn thủ đoạn để “lọt khe cửa hẹp” khi khám tuyển, gây khó khăn cho công tác tuyển quân và bất ổn về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Khi những thông tin xấu độc được chia sẻ lên mạng xã hội sẽ nhận được nhiều bình luận trái chiều, tạo luồng dư luận không tốt, gây lo lắng, hoang mang trong quần chúng Nhân dân.

Công tác tuyển quân những năm gần đây tiếp tục thực hiện phương châm “tròn khâu”, tuyển người nào chắc người đó. Chỉ tiêu tuyển quân được giao là một trong những chỉ tiêu, pháp lệnh, là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong công tác quân sự, quốc phòng mà mỗi địa phương phải hoàn thành trong năm. Quá trình xét tuyển luôn đảm bảo công bằng, công khai, đúng luật. Danh sách gọi khám tuyển, nhận lệnh nhập ngũ, dánh sách thuộc diện tạm miễn, tạm hoãn đều được UBND cấp xã, phường, thị trấn niêm yết ở những nơi dễ thấy như trụ sở UBND cấp xã, nhà văn hóa thôn, thông báo trên hệ thống truyền thanh của địa phương để Nhân dân theo dõi, giám sát.

Quân đội là trường học lớn

Những ai đã từng hoàn thành NVQS, được rèn luyện trong môi trường quân ngũ không chỉ cảm thấy hãnh diện với bạn bè, người thân và quê hương vì đã làm tròn nghĩa vụ của công dân đối với Tổ quốc mà còn cảm thấy tự hào vì được tôi rèn trở thành người có ích cho xã hội, có tác phong chuẩn mực, tính kỷ cương, kỷ luật cao. Vì vậy Quân đội được coi là một trường học lớn, sâu nặng tình thương yêu, đậm đà tình đồng chí đồng đội.


Quân đội nhân dân Việt Nam từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu, tất cả vì độc lập, tự do của Tổ quôc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của Nhân dân. Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã từng căn dặn: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”; dựng nước đi đôi với giữ nước. Vì vậy công cuộc xây dựng đất nước gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, đó là quy luật trường tồn của dân tộc ta, là truyền thống vô cùng quý báu được truyền từ đời này qua đời khác, được các thế hệ nâng niu, trân quý và thực hiện có hiệu quả.

Thực tiễn lịch sử đã minh chứng, trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc đã có biết bao thanh niên Việt Nam đã không màng danh lợi, hăng hái lên đường tòng quân, làm tròn nghĩa vụ với Tổ quốc, không những vậy mà họ đã tạc vào lịch sử nước nhà, ghi đậm dấu ấn trong lòng Nhân dân. Những thanh niên tuy chỉ mười chín đôi mươi nhưng chấp nhận gian khổ, nguy hiểm, thậm chí hy sinh hoặc bỏ lại một phần cơ thể ở chiến trường, tất cả với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”...để đất nước được nở hoa độc lập, kết trái tự do. Từ một thanh niên họ trở thành những chiến sĩ kiên trung, bất khuất được lịch sử tạc ghi, Nhân dân tôn vinh, nổi bật như những anh hùng liệt sĩ: Phan Đình Giót, Bế Văn Đàn, Tô Vĩnh Diện, Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Viết Xuân, Nguyễn Văn Thạc, Đặng Thùy Trâm… là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là niềm tự hào của bao thế hệ thanh niên Việt Nam.

Trải qua 79 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam cùng toàn Đảng, toàn dân lập biết bao chiến công hiển hách, chiến đấu và chiến thắng các thế lực hùng mạnh vào bậc nhất thế giới. Với kỷ luật tự giác và nghiêm minh môi trường Quân đội đã tôi rèn cho biết bao thế hệ thanh niên Việt Nam trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Ngày nay, trong thời bình nhưng hình ảnh, tuy tín “Bộ đội Cụ Hồ” tiếp tục được khẳng định và tỏa sáng, ghi đậm dấu ấn trong lòng Nhân dân. Thực tiễn những năm gần đây cho thấy mỗi khi thiên tai, hỏa hoạn hay dịch bệnh xảy ra gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của Nhân dân thì các chiến sĩ Quân đội, Công an đều sẵn sàng xung kích, lao vào gian khó để bảo vệ Nhân dân. Bên cạnh đó các chiến sĩ còn chung tay trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, đẩy lùi lạc hậu, xây dựng nông thôn mới...Khi thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về quê hương tham gia Hội cựu chiến binh, nhiều người dù tuổi đã cao, nhưng trong cuộc sống đời thường vẫn giữ được khí tiết, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, làm nhiều việc tốt, được người dân yêu mến, tôn vinh.

Để thanh niên và người dân nhận biết rõ về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và kẻ xấu về công tác tuyển quân, mỗi người khi tham gia mạng xã hội, cần phải chấp hành nghiêm Luật An ninh mạng, tỉnh táo khi tiếp nhận, chia sẻ thông tin để hạn chế thấp nhất những vi phạm có thể mắc phải, không để mắc mưu các thế lực thù địch. Chỉ nên đăng tải, chia sẻ các bài viết, video tích cực, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, đẩy lùi thông tin tiêu cực, dập tắt các luận điệu xuyên tạc, chống phá. Trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên, hội viên của các đoàn thể chính trị xã hội cần gương mẫu, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động con em, người thân, hàng xóm không tham gia chia sẻ, bình luận trên không gian mạng về công tác tuyển quân. Mặt khác làm tốt công tác tuyên truyền, vận động thanh niên sẵn sàng nhập ngũ, thực hiện NVQS, nghĩa vụ công an, hoàn thành nghĩa vụ, trách nhiệm của mình với quê hương, đất nước.

Đối với cấp ủy, chính quyền các địa phương, nhất là cấp huyện, cấp xã thường xuyên theo dõi, giám sát chặt chẽ công tác tuyển quân của địa phương mình; xét tuyển phải đảm bảo công bằng, công khai, đúng luật, không để khiếu kiện xảy ra; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động; phổ biến đầy đủ những chế độ, tiêu chuẩn được hưởng của chiến sĩ nghĩa vụ. Đồng thời xử lý nghiêm tất cả các hành vi trốn tránh, cản trở, chống đối trong công tác tuyển quân; kịp thời biểu dương, động viên những gia đình, địa phương làm tốt công tác này; quan tâm, tổ chức thăm hỏi, tặng quà, động viên thanh niên và gia đình trước ngày lên đường nhập ngũ, tạo khí thế sôi nổi, trang nghiêm, ý nghĩa trong ngày giao nhận quân./.

LẠC PHONG --Theo báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam

Cảnh giác với thủ đoạn bôi nhọ, xuyên tạc, chống phá lực lượng Công an nhân dâ

 

  

Thời gian qua, lợi dụng việc một số tổ chức, cá nhân trong ngành Công an có những sai phạm bị phát hiện, xử lý trước pháp luật hoặc bị kỷ luật, một số đối tượng cơ hội chính trị, phần tử bất mãn, phản động, các tổ chức, cá nhân nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam ra sức tuyên truyền kích động, bội nhọ, xuyên tạc, chống phá... từ những vi phạm của số ít tổ chức, cá nhân, họ cố tình thổi phồng, bóp méo, tạo dư luận lệch lạc hòng công kích, bôi nhọ cả ngành Công an, phủ nhận công lao của hàng ngàn CBCS đang ngày đêm vất vả, gian lao để bảo vệ bình yên cho Tổ quốc…

Họ đi sâu vào soi mói chuyện đời tư của CBCS, khoét sâu vào sai lầm của một số CBCS trong ngành, từ đó quy kết thành lỗi lầm của cả lực lượng Công an nhân dân. Khi CBCS Công an lập công xuất sắc trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự, giúp đỡ nhân dân gặp thiên tai, hoạn nạn, khó khăn… thì các đối tượng lập tức phớt lờ. Nhiều vụ trọng án dư luận đặc biệt quan tâm, lực lượng Công an không quản ngại hiểm nguy, gian khó, nhanh chóng điều tra, bắt giữ thủ phạm, được nhân dân ngợi khen… được lãnh đạo đơn vị và cấp ủy, chính quyền khen thưởng thì họ xuyên tạc, bôi nhọ, cho rằng phá án là việc của lực lượng Công an, xuất sắc đến đâu cũng không cần khen thưởng…!

Chúng ta đều biết rằng, để có được cuộc sống bình yên và ANTT ổn định, tội phạm được kiềm chế chính là nhờ công sức của hàng vạn CBCS trong lực lượng Công an nhân dân cùng sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân. Phía sau sự bình yên của cuộc sống là sự nỗ lực không ngừng nghỉ của CBCS Công an nhân dân, là những khó khăn, gian khổ, hy sinh thầm lặng… bởi một điều rất đơn giản cũng như các vấn đề khác trong cuộc sống: Sự bình yên và ổn định không phải tự nhiên mà có!

Trong bối cảnh, tình hình hiện nay, lực lượng CAND đang đẩy mạnh việc thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16/3/2022 của Bộ Chính trị về xây dựng lực lượng CAND thực sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại… Chính vì vậy, đối với những trường hợp cán bộ, chiến sĩ thoái hóa, biến chất “tự diễn biến, tự chuyển hóa”, vi phạm kỷ luật đều bị xử lý theo quy định của ngành Công an và quy định của pháp luật. Điều đó cho thấy rõ quyết tâm của lãnh đạo Bộ Công an trong việc chấn chỉnh những tồn tại, hạn chế, tập trung xây dựng đội ngũ CAND theo tinh thần Nghị quyết 12 của Bộ Chính trị đã đề ra, không bao che, dung túng cho bất cứ vi phạm nào!

Do đó, trước những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ của các thế lực thù địch, phản động, các đối tượng chống phá, mỗi người cần tỉnh táo, nhận diện các thông tin xấu, độc, không để bị lừa bịp, lôi kéo theo chiều hướng tiêu cực…Mặc dù các thế lực thù địch, phản động, các đối tượng cơ hội sẽ không từ một thủ đoạn nào để tiếp tục công kích, bôi nhọ, hạ uy tín lực lượng vũ trang nói chung, lực lượng Công an nhân dân nói riêng, nhất là việc sử dụng mạng xã hội để phát tán những thông tin xấu, độc hòng gieo rắc, kích động tâm lý bài xích lực lượng Công an nhân dân trong dư luận, mỗi người khi tiếp cận các thông tin cần thực hiện tốt phương châm “5k” đó là: Không tin ngay; không vội bấm like; không thêm thắt; không kích động và không vội chia sẻ, như vậy là mỗi người đã trở thành một người chiến sĩ đấu tranh với những cái sai, cái xấu trên mạng xã hội và đó cũng chính là hành động thể hiện sự trách nhiệm của người dân Việt Nam trong công cuộc đấu tranh, phòng, chống các loại tội phạm, bảo vệ lẽ phải, bảo vệ danh dự, uy tín của lực lượng vũ trang nhân dân nói chung, lực lượng CAND nói riêng…/.

 LẠC PHONG

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 13 THÁNG 12 NĂM 1951!

         "Tinh thần trách nhiệm là gì? Là khi Đảng, Chính phủ hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi, đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công. Làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy, vv… là không có tinh thần trách nhiệm"!

Đó là lời của Bác Hồ trong Bài viết về "Tinh thần trách nhiệm" được đăng trên Báo Nhân dân số 36, ngày 13/12/1951. Đây là năm đầu thực hiện đường lối kháng chiến "toàn dân, toàn diện, trường kỳ và nhất định thắng lợi" của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II đề ra, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên đã có một số biểu hiện tư tưởng thiếu cố gắng, làm chưa hết chức trách, nhiệm vụ, nói nhiều, làm ít; làm chưa đến nơi, đến chốn…, để kịp thời đấu tranh, khắc phục và làm cơ sở cho các tổ chức học tập, chỉnh đốn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có bài viết về tinh thần trách nhiệm.

Thực hiện lời chỉnh huấn của Bác, trong thời điểm ấy, các tổ chức đảng đã tập trung tuyên truyền, giáo dục nâng cao tinh thần cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; nắm chắc tình hình, nhiệm vụ, chủ động khắc phục khó khăn, đoàn kết gắn bó với nhân dân, thi đua phấn đấu hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ của Đảng và Chính phủ giao phó, tạo tiền đề huy động sức mạnh của toàn dân tộc tích cực tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp, mà đỉnh cao là thắng lợi Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.

Trong tình hình hiện nay, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đặt ra yêu cầu ngày càng cao; đại đa số cán bộ đảng viên và quần chúng đều nêu cao vai trò trách nhiệm, thực hiện nghiêm quy định, quy chế làm việc của tổ chức, cơ quan, đơn vị; luôn thể hiện rõ tinh thần chủ động, dám nghĩ, dám làm, tâm huyết, tận tụy với công việc. Cán bộ, chiến sĩ tích cực, tự giác trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, rèn luyện, chấp hành nghiêm kỷ luật, pháp luật; chủ động, sáng tạo, không ngại khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ cấp trên giao. Tuy nhiên, cũng còn một số cán bộ đảng viên, quần chúng có biểu hiện trốn tránh trách nhiệm, bớt xén giờ giấc, làm không đúng quyền hạn, chức trách, nói nhiều, làm ít; làm qua loa chiếu lệ… Đòi hỏi việc học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy về "Tinh thần trách nhiệm" không chỉ là yêu cầu, trách nhiệm chính trị đối với mọi cán bộ, đảng viên, mà còn có ý nghĩa sâu sắc đối với mọi tổ chức, cá nhân và mọi công dân yêu nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Môi trường ST.

Thứ Tư, 13 tháng 12, 2023

PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI VỀ NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ

 Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản, đặc biệt quan trọng trong tổ chức và hoạt động của Đảng ta. Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm cách xuyên tạc, bóp méo nguyên tắc này. Trước những luận điệu sai trái, chống phá đó, chúng ta cần phải đấu tranh để bảo vệ tính đúng đắn, khoa học của nguyên tắc tập trung dân chủ, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng.

Luận điệu sai trái

Các lực lượng thù địch, phản động, những phần tử cơ hội chính trịđã tìm mọi cách suy diễn, bôi đen, bóp méo nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng ta. Nội dung chống phá của chúng tập trung vào các điểm sau:

Thứ nhất, họ cho rằng, nguyên tắc tập trung dân chủ cho đến thời điểm hiện tại đã lỗi thời, phản tác dụng. Nguyên tắc này chỉ phù hợp với Đảng khi đang trong thời kỳ chiến tranh, chưa giành được chính quyền hoặc phải hoạt động bí mật. Còn hòa bình rồi, khi Đảng đã cầm quyền, nhân dân làm chủ thì phải phát huy tính năng động, sáng tạo của các đảng viên, tạo mọi điều kiện cho đảng viên tự chủ, tự quyết, thực hiện tập trung dân chủ lúc này sẽ kìm hãm sự phát triển cá nhân, gây cản trở hiệu quả hoạt động của Đảng.

Thứ hai, những luận điệu sai trái lập luận rằng, không thể có “dân chủ” khi tiến hành “tập trung”, và cũng không cần thực hiện “tập trung” nếu như đã có “dân chủ”. Họ cho đây là các mặt đối lập: tập trung sẽ tất yếu dẫn đến thu hẹp, triệt tiêu dân chủ và nếu muốn thực hiện dân chủ, trước hết phải từ bỏ tập trung; hai mặt này không thể cùng tiến hành song song, đồng thời (!?).

Thứ ba, nhiều quan điểm khác cũng xuyên tạc rằng, tập trung dân chủ là nguyên tắc do Đảng Cộng sản đặt ra để từ việc thực hiện trong Đảng sẽ là bàn đạp thuận lợi lấn sân sang tổ chức quản lý Nhà nước cũng như quản lý, điều hành kinh tế và mọi mặt xã hội; từ đó, sẽ thiết lập chế độ đảng độc tài cai trị mọi thứ dễ dàng. Do đó, nguyên tắc này theo họ, thực chất chính là bức bình phong để che đậy bản chất muốn tiếm quyền đoạt lợi của Đảng Cộng sản (!?).

Nói chung, có nhiều luận điệu xuyên tạc, suy diễn khác nhau về nguyên tắc tập trung dân chủ. Song, dù với lập luận như thế nào thì mưu đồ cuối cùng của các thế lực thù địch đều hòng xóa bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng, tiến tới phủ nhận, hạ bệ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tính khoa học của nguyên tắc tập trung dân chủ

Trước tiên và trên hết, bất kỳ một đảng chính trị nào muốn tồn tại và phát triển cũng cần phải có hệ tư tưởng, mục tiêu và vận hành trên những tôn chỉ, nguyên tắc nhất định, nếu không có những quy tắc, quy định cho cấu trúc bộ máy và cách thức hoạt động sẽ là một đảng phái vô kỷ luật, vô tổ chức, sẽ sớm đi đến giải thể, tan rã.

Với luận điệu cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ cho đến thời điểm hiện tại đã không còn tác dụng thì có thể thấy ngay đây là nhận định rất chủ quan, ấu trĩ. Bởi đã là xương cốt, nền tảng cho tổ chức và hoạt động của Đảng, thì dù trong điều kiện, hoàn cảnh nào, tập trung dân chủ vẫn luôn cần thiết. Trong chiến tranh cách mạng, nhất là trong điều kiện phải hoạt động bí mật, tập trung dân chủ là để bảo đảm kỷ luật chặt chẽ của tổ chức, sự đoàn kết thống nhất và sự phục tùng tuyệt đối của đảng viên, bảo đảm sự trung thành và bí mật an toàn cho Đảng. Còn khi đã hòa bình, lúc Đảng đã cầm quyền, tập trung dân chủ lại là nguyên tắc để nâng cao hiệu quả hoạt động của Đảng đồng thời cũng là nguyên tắc có tính quyết định, gắn với sự tồn vong của Đảng trong bối cảnh mới. Trong mọi hoàn cảnh, Đảng phải đề cao thực hiện nguyên tắc này, bởi nếu chủ quan, coi nhẹ tập trung thống nhất, thực hiện dân chủ hình thức sẽ là điều kiện thuận lợi cho những phần tử cơ hội, các thế lực phản động, thù địch công kích, phá hoại, làm cho Đảng đi chệnh hướng, bị tan rã. Lịch sử đã chứng minh, sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu năm 1989 và Liên Xô năm 1991 bên cạnh các nguyên nhân khách quan thì lý do chủ quan chính là sự sai lầm của Đảng Cộng sản khi đã từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ. Vì vậy bài học đắt giá này đã được Đảng ta đặc biệt khắc cốt ghi tâm, luôn nêu cao lập trường giữ vững nguyên tắc căn cốt này của Đảng.

Đối với lập luận cho rằng tập trung và dân chủ là hai mặt đối lập, không thể thực hiện thì có thể khẳng định ngay suy diễn này rất phiến diện và mơ hồ. Bởi tập trung và dân chủ tuy đều có ý nghĩa riêng nhưng giữa chúng lại có quan hệ biện chứng chặt chẽ, phản ánh đầy đủ hai mặt của vấn đề chứ không hề có sự mâu thuẫn. Tính biện chứng và bản chất khoa học của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ: Đảng ta là một chỉnh thể được tổ chức ở tất cả các cơ quan, đơn vị từ Trung ương tới cơ sở. Với mạng lưới rộng lớn và đa dạng như vậy, tập trung là yêu cầu cần thiết để toàn thể đảng viên thống nhất về ý chí, tư tưởng nhận thức và hành động, tạo nên sự đoàn kết, nhất trí, đồng thuận cao của nội bộ Đảng từ dưới lên trên, từ trên xuống dưới. Nhưng tập trung ở đây không phải là tập trung mệnh lệnh, gia trưởng độc đoán dẫn đến những quyết định sai lầm hoặc hậu quả tai hạimà là tập trung được thực hiện trên cơ sở của dân chủ. Tức là thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, các đảng viên được bày tỏ quan điểm, suy nghĩ, đóng góp ý kiến, qua đó phát huy được trí tuệ của tập thể, tránh được chuyên quyền, độc đoán, áp đặt. Và ngược lại, dân chủ phải trên cơ sở bảo đảm tập trung nếu không sẽ đi tới dân chủ quá trớn, sẽ làm cho tổ chức đảng rơi vào tình trạng lộn xộn, tùy ý, tự tiện, vô kỷ luật. Như thế, nguyên tắc tập trung dân chủ này không chỉ phát huy được tính chủ quan, năng động, sáng tạo của mỗi cá nhân đảng viên mà còn bảo đảm kỷ luật, tạo được sự đồng thuận, thống nhất và quy tụ được sức mạnh của toàn Đảng.

Riêng với luận điệu cho rằng tập trung dân chủ là biện pháp để giúp cho Đảng độc tài cai trị mọi thứ dễ dàng thì cần phải nhận thấy rõ hai điểm:

Một là, bản chất, mục tiêu lý tưởng của Đảng mới là mấu chốt quan trọng để lập luận xem Đảng có lợi ích gì để mà ra sức bảo vệ lợi ích đó. Đảng Cộng sản Việt Nam là đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc; là đảng mà đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đảng ta là một đảng cách mạng, ngoài lợi ích của công nhân và nông dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác”[1]. Rõ ràng một đảng không có lợi ích tư thân tư lợi, chỉ có sứ mệnh mục tiêu làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, văn minh thì lợi ích của Đảng cũng đồng thời là lợi ích của toàn thể dân tộc. Đảng lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội cũng chỉ để phụng sự Nhân dân, mưu cầu mục tiêu làm cho Nhân dân được ấm no, hạnh phúc. Do đó kể cả khi thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ này trong quản lý Nhà nước, xã hội thì cũng không phải là sự lấn sân để chiếm quyền đoạt lợi, mà nó càng cho thấy sự nhất quán, đồng thuận trong tổ chức thực hiện và thể hiện rõ mục đích cao cả, bản chất đạo đức,văn minh của Đảng rõ hơn mà thôi.

Hai là, không thể tránh khỏi những hạn chế, khiếm khuyết, yếu kém của đảng viên dẫn tới xảy ra các sai lầm, vi phạm. Bởi suy cho cùng, Đảng là tổ chức được hình thành từ nhiều cá nhân khác nhau. Tuy cùng là đảng viên của Đảng, cùng có tôn chỉ, mục đích, lý tưởng hành động nhưng đã là con người với tư cách là những cá thể độc lập thì trong chừng mực nhất định, với bản chất, tính cách khác biệt, với năng lực, nhận thức, phẩm chất và hoàn cảnh cá nhân khác nhau thì sẽ có những suy nghĩ và hành động khác nhau. Trước những tác động ngoại cảnh, khách quan, trong điều kiện thế giới không ngừng vận động, có đảng viên đã có những dao động, đi sai quỹ đạo, làm trái nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng cũng là điều dễ hình dung. Song, những trường hợp này cũng chỉ là số ít, không thường xuyên bởi nếu như là sai phạm có tính hệ thống, toàn diện, thì đương nhiên Đảng không thể tồn tại cho đến bây giờ. Thêm vào đó, có một điều chắc chắn rằng, dù có không ít những cán bộ đảng viên đã vi phạm nguyên tắc, gây ra những hậu quả không mong muốn, nhưng điều đó không có nghĩa là Nhân dân mất niềm tin vào Đảng, quay lưng chối bỏ Đảng. Ngược lại, đại đa số Nhân dân Việt Nam hoàn toàn tin tưởng, tín nhiệm Đảng, đi theo ngọn cờ lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chỉ một bộ phận nhỏ bất mãn, cơ hội chính trị, phản động, chống phá mới vin cớ, tìm mọi cách để bôi nhọ, đòi hạ bệ Đảng. Như vậy, không thể lấy cái thiểu số tiêu cực để khẳng định đó là tiếng nói đại diện cho của toàn thể Nhân dân Việt Nam mong xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng.

Hơn hết thảy, thực tiễn mới là thước đo chuẩn xác các nguyên tắc, quy chuẩn, lý luận đặt ra. Tính từ những năm 90 của thế kỷ XX, khi mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã, sụp đổ, và kể cả sự thoái trào của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong suốt thời gian qua thì cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn đứng vững và không ngừng lớn mạnh về số lượng lẫn chất lượng đảng viên. Đặc biệt, Đảng vẫn là nhân tố quy tụ sức mạnh, tinh thần đại đoàn kết của toàn dân tộc. Đảng thực hiện lãnh đạo Nhà nước, Nhân dân, xã hội và đạt được nhiều kết quả tích cực trong phát triển toàn diện kinh tế - xã hội. Những thành tựu đó đã từng bước định hình và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, được đông đảo cộng đồng và bạn bè quốc tế ghi nhận. Dấu ấn này đến từ nhiều nguyên nhân, nhưng chắc chắn không thể phủ nhận vai trò tiên phong lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Như vậy, việc tuân thủ các nguyên tắc nói chung và tập trung dân chủ nói riêng là yếu tố đã góp phần rất quan trọng trong việc bảo đảm sự tồn tại, siết chặt kỷ luật và tăng cường hiệu quả hoạt động của Đảng, đưa đến nhiều thành tựu phát triển của đất nước./.


TĂNG CƯỜNG TIỀM LỰC QUỐC PHÒNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU BẢO VỆ TỔ QUỐC TỪ SỚM, TỪ XA

 Tiềm lực quốc phòng là khả năng về nhân lực, vật lực, tài chính, tinh thần ở trong nước và ngoài nước có thể huy động được để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. 10 năm qua, thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI), chúng ta cơ bản đã thành công trong việc xây dựng và dự trữ tiềm lực quốc phòng, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Tiềm lực quốc phòng bao gồm nhiều thành tố như tiềm lực chính trị; tiềm lực quân sự;  tiềm lực kinh tế, văn hóa, xã hội; tiềm lực khoa học - công nghệ… Trong đó, tiềm lực chính trị là thành tố cơ bản của tiềm lực quốc phòng, chứa đựng trong tố chất con người, truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc và trong hệ thống chính trị; là khả năng tiềm tàng về chính trị có thể huy động nhằm tạo ra sức mạnh để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Xây dựng tiềm lực chính trị quyết định khả năng huy động các yếu tố khác của tiềm lực quốc phòng.

Tiềm lực chính trị biểu hiện ở nhận thức, ý chí, niềm tin, tâm lý, tình cảm, trách nhiệm của nhân dân và lực lượng vũ trang đối với nhiệm vụ quốc phòng của đất nước; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, là kết quả của quá trình xây dựng lâu dài dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự tiếp nối truyền thống dựng nước, giữ nước của dân tộc qua hàng nghìn năm lịch sử.

Tiềm lực chính trị được xây dựng trong quá trình xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; thực hiện chính sách tự do tôn giáo và bình đẳng giữa các dân tộc; thông qua thực hiện dân chủ rộng rãi theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng”.

Tiềm lực về kinh tế, văn hóa, xã hội được xây dựng đồng thời với việc phát triển đất nước giàu mạnh gắn với xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững chắc từ đường lối, chính sách đến biện pháp cụ thể, từ Trung ương đến địa phương. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh; điều chỉnh quy hoạch các vùng, miền có tầm quan trọng chiến lược đối với quốc phòng, an ninh. Phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Tiềm lực khoa học - công nghệ là thành tố có vai trò ngày càng quan trọng trong tiềm lực quốc phòng, tác động trực tiếp đến sự phát triển của khoa học - công nghệ trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, cơ cấu tổ chức lực lượng vũ trang, công tác chỉ huy và quản lý bộ đội,... Những yếu tố cơ bản của tiềm lực khoa học - công nghệ là: khả năng và trình độ, số lượng và chất lượng nguồn nhân lực; cơ sở vật chất phục vụ cho công tác nghiên cứu, phát triển, phổ biến, ứng dụng khoa học - công nghệ.

Tiềm lực quân sự là khả năng về sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân, Dân quân tự vệ và khả năng huy động nhân lực, vật lực phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; là bộ phận nòng cốt của tiềm lực quốc phòng, được xây dựng trên nền tảng của tiềm lực chính trị - tinh thần, kinh tế, văn hóa - xã hội, khoa học - công nghệ. Tiềm lực quân sự bao gồm hai yếu tố cơ bản là con người và vũ khí, trang bị, trong đó con người là nhân tố quyết định.

Tiềm lực quân sự thể hiện ở khả năng duy trì, hoàn thiện và không ngừng phát triển sức mạnh chiến đấu, trình độ sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang, biểu hiện ở nguồn dự trữ về sức người, sức của phục vụ cho nhiệm vụ quốc phòng, quân sự. Tiềm lực quân sự còn thể hiện ở khả năng động viên công nghiệp, nông nghiệp, khoa học kỹ thuật, giao thông vận tải và các ngành dịch vụ khác phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, quân sự, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.

10 năm qua, chúng ta đã luôn kiên định, bám sát mục tiêu, nguyên tắc chiến lược là ra sức xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa nhằm mục tiêu chung là “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” để hoạch định đường lối, chính sách, chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh thế giới, khu vực có nhiều biến động phức tạp, khó lường. Nhận thức về nội hàm bảo vệ Tổ quốc ngày càng đầy đủ, rõ ràng hơn. Xác định phương châm chỉ đạo phù hợp vừa mang tính phổ quát và bảo đảm tính sâu sắc, toàn diện làm cơ sở xác định phương châm bảo vệ Tổ quốc trên các lĩnh vực cụ thể. Từ phương châm bảo vệ Tổ quốc nói chung, chúng ta đã xác định phương châm bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, trên các môi trường tác chiến và một số loại hình, lĩnh vực hoạt động xã hội khác. Kiên định mục tiêu chiến lược, song về sách lược phải linh hoạt, mềm dẻo. Đây là cơ sở lý luận để cụ thể hóa điều này trong Chiến lược quốc phòng, đó là thực hiện phương châm “Dĩ bất biến ứng vạn biến” để xử lý các vấn đề về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Lấy giá trị cốt lõi là bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc và những nguyên tắc được xác định trên cơ sở quy luật vận động của cách mạng Việt Nam là cái bất biến, trục xuyên suốt để xác định các chính sách, bước đi, phương thức tiến hành mềm dẻo, linh hoạt phù hợp với tình hình quốc tế, khu vực và thực lực của ta.

Trong 10 năm qua, mặc dù đã xảy ra không ít vướng mắc, bất đồng, thậm chí xung đột (ở các mức độ khác nhau), nhưng việc giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn giữa ta và một số nước đã nắm vững và tuân thủ có hiệu quả phương châm giữ “trong ấm, ngoài êm”, giữ nước từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy; giữ vững ổn định chính trị, kinh tế, xã hội, có thái độ kiên trì, nhẫn nại, tránh nóng vội chủ quan; bằng các biện pháp hòa bình, chống dùng vũ lực, hoặc chống đe dọa dùng vũ lực; trên cơ sở luật pháp quốc tế, khu vực; tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân trong nước và quốc tế. Chúng ta đã kiên trì đi từ tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, đối thoại, sử dụng toàn diện các biện pháp kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, an ninh, ngoại giao, pháp lý… Tức là các biện pháp phi bạo lực, đến tạo trong dư luận quần chúng nhân dân cả trong nước và quốc tế lên án, phản đối, nếu các đối tượng chống phá vẫn ngoan cố thì phân hóa, cô lập để chúng không liên kết với nhau, không có môi trường, cơ sở hoạt động, phân tán nguồn lực, sức mạnh, để ta dễ bề đối phó; kết hợp đấu tranh pháp lý với đấu tranh trên thực địa để kiên quyết giữ vững chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc.

Thành tích đáng ghi nhận là trong những năm qua, chúng ta đã thường xuyên bám sát cơ sở, địa bàn, chủ động đấu tranh với các âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, bất tuân dân sự… của các thế lực thù địch, xử lý đúng đắn mọi tình huống  tranh chấp, gây mất ổn định chính trị - xã hội, kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thông qua việc kiên quyết xử lý các vụ vi phạm pháp luật không có vùng cấm và đẩy mạnh đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng, trong đó có đường lối, quan điểm, phương châm về bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, việc quán triệt và thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trong những năm qua cũng còn bộc lộ một số hạn chế như: Công tác bám, nắm tình hình, nhất là tình hình cơ sở và những diễn biến phức tạp trên một số địa bàn chiến lược, trọng điểm, vùng biên giới, biển đảo kể cả không gian mạng có lúc, có nơi, có việc còn chậm, chưa thật chắc chắn, xử lý có việc còn lúng túng, chưa kịp thời, hiệu quả. Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng; bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc trên không gian thực và không gian mạng, vũ trụ; tác chiến chiến lược trong một số loại hình chiến tranh mới là những vấn đề lớn, đặt ra sự cần thiết phải có phương châm chỉ đạo cụ thể, rõ ràng, sát thực hơn làm cơ sở để khái quát trong chiến lược tổng thể.

Trong thời gian tới, để tiếp tục xây dựng và dự trữ tiềm lực quốc phòng đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, cần tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; giữ vững độc lập, tự chủ trong mở rộng hợp tác kinh tế; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, tăng lượng dự trữ quốc gia; gắn phát triển kinh tế với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực, sẵn sàng huy động các nguồn lực cho quốc phòng. Từng bước hòa nhập công nghiệp quốc phòng vào công nghiệp quốc gia. Đầu tư xây dựng có trọng điểm một số cơ sở công nghiệp quốc phòng tiên tiến, tiến tới hình thành các tập đoàn, tổ hợp công nghiệp quốc phòng lưỡng dụng công nghệ cao, tự chủ; đẩy mạnh hợp tác quốc tế, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tăng cường triển khai các giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy thuần phong, mỹ tục của nền văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại; hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài giữ gìn và bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc. Kiên quyết ngăn chặn sự xâm lăng văn hóa từ bên ngoài, các khuynh hướng văn hóa trái với thuần phong, mỹ tục Việt Nam. Tổ chức và quản lý chặt chẽ hệ thống phương tiện thông tin, truyền thông đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Khơi dậy mạnh mẽ các nguồn lực nội sinh và ngoại sinh, vật chất và tinh thần, trước hết là chủ nghĩa yêu nước, ý chí độc lập, tự cường, tinh thần tự hào dân tộc, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tính độc lập, tự chủ, sáng tạo, tính nhân văn cao cả của dân tộc, nhằm đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại trong thời gian tới./.


KIÊN QUYẾT CHỐNG TƯ TƯỞNG TRUNG BÌNH CHỦ NGHĨA

 Nếu không xây dựng mục tiêu, lý tưởng sống và làm việc đúng đắn, không ngừng nỗ lực vươn lên thì chúng ta rất dễ bằng lòng, thỏa mãn với kết quả đạt được, dần mắc phải tư tưởng trung bình chủ nghĩa, làm thiệt mình, hại tập thể. Đây cũng là một biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, kìm hãm sự phát triển của xã hội, làm giảm nhiệt huyết và dần triệt tiêu động lực các phong trào thi đua nên cần phải kiên quyết đấu tranh, trừ bỏ. Trang "Ý kiến chiến sĩ" chia sẻ một số ý kiến xung quanh nội dung này.

Trung tá Nguyễn Văn Hải, Phó Chính ủy Lữ đoàn 169, Vùng 1 Hải quân: Nguy hại vô cùng

Tư tưởng trung bình chủ nghĩa là một trong những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, thực dụng, của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tư tưởng này hình thành trong cơ chế tập trung, bao cấp, phân phối theo kiểu bình quân chủ nghĩa, đánh giá hiệu quả công việc theo kiểu cào bằng. Những người có tư tưởng trung bình chủ nghĩa thường có cách sống “gió chiều nào che chiều ấy” và luôn đặt quyền lợi của cá nhân lên trên lợi ích của tập thể, đơn vị. Họ thích lựa chọn những việc dễ, quen thuộc, mang lại nhiều quyền lợi và né tránh những việc mới, việc khó khăn, gian khổ. Những người này thường bàng quan, thụ động, không có động lực cống hiến, không có động cơ phấn đấu, không nỗ lực để làm tốt hơn công việc của mình mà chỉ làm qua loa cho xong việc. Chính vì vậy, những người có tư tưởng trung bình chủ nghĩa là nhân tố cản trở Phong trào Thi đua Quyết thắng, dẫn tới sự trì trệ, suy thoái, giảm sức mạnh chiến đấu của cơ quan, đơn vị. Đấu tranh với những cá nhân có tư tưởng trung bình chủ nghĩa là việc làm tất yếu, thường xuyên trong quá trình xây dựng cơ quan, đơn vị.

Các tàu của Lữ đoàn 169 thường xuyên hoạt động độc lập, xử trí nhiều tình huống phức tạp trên biển, chính vì vậy, chúng tôi chủ động giáo dục, rèn luyện để bộ đội luôn xác định tốt động cơ phấn đấu, khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; sống có lý tưởng, xây dựng nhu cầu hoàn thiện bản thân, hướng đến những điều chân - thiện - mỹ. Phong trào Thi đua Quyết thắng được triển khai thực hiện với nội dung, biện pháp, chỉ tiêu cụ thể trong từng giai đoạn để mỗi cán bộ, chiến sĩ phấn đấu vươn lên, tránh tình trạng thi đua chung chung, đánh đồng mức độ hoàn thành nhiệm vụ. Trong quá trình xây dựng và nhân rộng điển hình tiên tiến, chúng tôi lựa chọn đột phá vào khâu yếu, mặt yếu; tập trung vào những việc mới, việc khó để khơi dậy, rèn luyện ý chí quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ của bộ đội. Chúng tôi cũng chú trọng phát huy dân chủ, đẩy mạnh phê bình và tự phê bình; biểu dương gương người tốt, việc tốt, kiên quyết đấu tranh với việc lười học tập, rèn luyện và những biểu hiện trung bình chủ nghĩa; tăng cường kiểm tra, giám sát, đề nghị thay thế những cá nhân yếu kém, thiếu sự phấn đấu bằng những cá nhân có năng lực, chuyên môn tốt, giàu nhiệt huyết. Nhờ đó, cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 169 đã khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt và xuất sắc mọi nhiệm vụ.

Trung tá Lê Thanh Bình, Chính ủy Trung đoàn 263, Sư đoàn 367, Quân chủng Phòng không - Không quân: Mạnh dạn thay thế bằng các nhân tố mới

Tôi cho rằng, trung bình chủ nghĩa sinh ra từ thói làm việc cầm chừng, dễ thỏa mãn, suy nghĩ “làm ít thì sai ít, làm nhiều thì sai nhiều, không làm không sai” hay tư tưởng cào bằng, “xấu đều hơn tốt lỏi”, thà tất cả đều xấu, bình bình còn hơn là tốt một vài chỗ. Ngoài ra, còn do không phát huy được nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong tổ chức đảng, trong mọi hoạt động của đơn vị dẫn đến “dĩ hòa vi quý”, ngại va chạm, sợ mất lòng đồng đội, cấp trên. Những suy nghĩ, tư tưởng đó dần ảnh hưởng đến chất lượng công việc, không tạo ra động lực thi đua, đơn vị khó có khả năng hoàn thành được các nhiệm vụ phức tạp.

Đơn vị vẫn xuất hiện một số cá nhân có tư tưởng trung bình chủ nghĩa, song hiện đây chỉ là thiểu số, cá biệt. Tuy vậy, nó vẫn tác động phần nào đến chất lượng huấn luyện, khả năng sẵn sàng chiến đấu và các mặt công tác khác. Để ngăn chặn và chấm dứt hiện tượng này, trước hết, chúng tôi tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng, tập trung vào những vấn đề thiết thực, cốt yếu, tác động đến chất lượng thực hiện nhiệm vụ của đơn vị. Ngoài giáo dục chung, chúng tôi yêu cầu các cấp phân đội xác định rõ thành phần, cá nhân có tư tưởng trung bình chủ nghĩa để giáo dục riêng. Đồng thời, duy trì nghiêm túc chế độ, nền nếp xây dựng chính quy, chấp hành kỷ luật; thực hiện đầy đủ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên phát huy tốt vai trò, trách nhiệm trong xây dựng đơn vị. Đánh giá cán bộ, đảng viên nghiêm túc, dựa trên kết quả hoàn thành nhiệm vụ thực tế; nếu không có sự thay đổi, tiến bộ, phải mạnh dạn thay thế những cá nhân yếu kém, có tư tưởng trung bình chủ nghĩa bằng những nhân tố mới tốt hơn.

Thượng úy Nguyễn Khắc Hiếu, Chính trị viên Đại đội 9, Tiểu đoàn 3, Lữ đoàn Phòng không 283, Quân khu 4: Không ngừng phấn đấu là thuốc đặc trị trung bình chủ nghĩa

Theo tôi, nguyên nhân mắc phải trung bình chủ nghĩa là sự tự mãn, nói cách khác là dễ thỏa mãn, bằng lòng với chính mình; tư tưởng phấn đấu cầm chừng; dễ đánh mất bản thân và xa rời nguyên tắc tập trung dân chủ. Biểu hiện rõ nhất là sa sút ý chí, không có động lực phấn đấu; ngại khó khăn, gian khổ, không quan tâm đến lợi ích của tập thể. Nguy hiểm hơn, nội dung và hình thức của tư tưởng trung bình chủ nghĩa ngày càng tinh vi, khó nhận biết nên dễ dàng che đậy bản chất thật bên trong, khiến nhiều người lầm tưởng với tính khiêm tốn, giản dị. Trung bình chủ nghĩa không đơn giản là có ít đóng góp mà còn làm suy giảm năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng; khiến đơn vị trì trệ, mất ổn định, không hoàn thành nhiệm vụ; cán bộ, chiến sĩ mất phương hướng, rơi vào tình trạng vi phạm kỷ luật, ảnh hưởng xấu đến uy tín, niềm tin của tập thể và cá nhân.

Để đấu tranh với các biểu hiện trung bình chủ nghĩa, cấp ủy, tổ chức đảng cần chú trọng đổi mới, nâng cao giáo dục nhận thức, bồi dưỡng niềm tin, khát vọng cống hiến; kịp thời động viên, khuyến khích, tạo mọi điều kiện cho cán bộ, chiến sĩ phát huy năng lực sở trường. Kịp thời khen thưởng, biểu dương; tuyệt đối không cào bằng; phê bình đúng người, đúng việc; mạnh dạn, kiên quyết thay thế cán bộ yếu kém, có tư tưởng trung bình chủ nghĩa bằng những cán bộ có đủ tài và đức, giàu tinh thần nhiệt huyết thúc đẩy động lực phấn đấu. Đối với cá nhân thì khiêm tốn, cầu thị, không ngừng phấn đấu là thuốc đặc trị đối với trung bình chủ nghĩa; loại bỏ những tác động từ bên ngoài, văn hóa ngoại lai, lối sống hưởng thụ.

Trung sĩ Nguyễn Hữu Nghĩa, Tiểu đội trưởng Tiểu đội 8, Trung đội 6, Đại đội 2, Tiểu đoàn 306, Trung đoàn 3, Sư đoàn 330, Quân khu 9: Bồi đắp lý tưởng, khát vọng cống hiến vì tập thể

Theo tôi, trung bình chủ nghĩa xuất phát từ nhận thức đơn giản, lối làm việc cầm chừng, thiếu ý thức trách nhiệm. Những người có tư tưởng này thường ngại học tập chính trị, thiếu ý thức xây dựng tập thể, không có chính kiến cá nhân nên dễ bị tác động từ bên ngoài. Ngoài ra, họ còn ngại va chạm, ai nói gì cũng mặc kệ, không dám nghĩ, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm và thiếu lý tưởng sống, ước mơ, hoài bão, chỉ xoay quanh lợi ích cá nhân. Để đấu tranh, ngăn chặn trung bình chủ nghĩa, tôi cho rằng, mỗi quân nhân cần xác định tốt tư tưởng, động lực thực hiện nhiệm vụ của bản thân; phải sống có lý tưởng, hoài bão; nuôi dưỡng khát vọng hoàn thiện bản thân, khát vọng cống hiến cho tập thể. Tích cực học tập nâng cao trình độ, củng cố lập trường tư tưởng cũng là một cách đấu tranh chống biểu hiện ngại phấn đấu, rèn luyện, giúp đẩy lùi, ngăn chặn tư tưởng “gió chiều nào che chiều ấy”, tranh công, đổ lỗi, né tránh trách nhiệm. Chẳng hạn như khi duy trì sinh hoạt tiểu đội, bình xét, biểu dương tuần, phải nhắc nhở anh em thật sự cởi mở, thẳng thắn, chân thành đóng góp ý kiến để tập thể và đồng đội khắc phục, không nên che giấu khuyết điểm; mặt khác, mạnh dạn đề xuất những đồng chí có sự nỗ lực phấn đấu, tuyệt đối không được cào bằng./.


CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG VIDEO ĐỘC HẠI XUYÊN TẠC HÌNH ẢNH CÔNG AN, QUÂN ĐỘI TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 Thời gian qua, trên các nền tảng mạng xã hội, nhất là TikTok, xuất hiện những TikToker (người dùng TikTok) làm các video clip kiểu như: “Có lẽ tôi sẽ từ bỏ Quân đội để được làm chính mình”; “Có nên rời khỏi ngành Công an để bắt đầu làm lại?”... Đi liền với đó là các video và bài viết xuyên tạc về tình hình nội bộ của lực lượng Công an, Quân đội.

Thực tế cho thấy, một số lượng không nhỏ các video có nội dung xấu độc trên các nền tảng TikTok, YouTube Short, Facebook Reel, Bigo Bar, Instagram, Likee… trong phạm vi nào đó đã tác động tiêu cực đến nhận thức, hành vi người sử dụng mạng xã hội.

1.Sự bùng nổ của video ngắn độc hại trên mạng xã hội

Không phải ngẫu nhiên, các phương tiện truyền thông đại chúng đều có chung nhận định đây là thời kỳ trỗi dậy của nền tảng nội dung ngắn. Sau thành công của TikTok, các nền tảng mạng xã hội lớn mà điển hình là YouTube và Facebook đã lao vào phát triển ứng dụng phát và chia sẻ video ngắn (short video), bất chấp một thực tế là hai mạng xã hội này vốn chứa hàng tỷ video clip có thời lượng dưới 1 phút. Ðiểm mới của TikTok là nền tảng này cung cấp cho người dùng hàng loạt các tính năng như ghép nhạc, thêm hiệu ứng (filter) hình ảnh và âm thanh, cách thức để video hiện lên trên xu hướng (trending). TikTok cũng ban hành nhiều chính sách để thu hút người dùng mới và tăng thời lượng sử dụng mạng xã hội này như nhận tiền hoa hồng với lời mời bạn bè đăng ký tài khoản mới, nhận tiền để truy cập và theo dõi video liên tục 10 phút trong 14 ngày.

Ðáng chú ý, hiện tượng đăng tải và chia sẻ các video ngắn độc hại không chỉ xuất hiện trên nền tảng TikTok mà lan rộng sang nhiều nền tảng Facebook Reel, YouTube Short, Instagram Reel… Trong đó, một phần nguyên nhân đến từ việc các ứng dụng video ngắn này có rất nhiều tính năng, công cụ, thuật toán tương đồng với TikTok, thậm chí cho phép người dùng đăng tải, chia sẻ đồng thời trên nhiều nền tảng. Hầu hết các ứng dụng video ngắn đều là các nền tảng xuyên biên giới nên rất khó xác định đối tượng nào trực tiếp tham gia hoạt động quản lý, cung cấp các dịch vụ. Bởi lẽ công ty chủ quản, pháp nhân đại diện, đơn vị cung cấp dịch vụ mạng xã hội của các nền tảng này thường được đặt tại các quốc gia khác nhau. Ðây chính là lý do khiến việc phát hiện, xử lý sai phạm đối với các nền tảng video ngắn không hề dễ dàng.

Theo thống kê từ Statista, Việt Nam hiện là quốc gia đứng thứ 12 thế giới về tỷ lệ tăng trưởng người sử dụng mạng xã hội nhiều nhất. Mỗi ngày, người dùng Việt Nam dành tới gần 7 giờ đồng hồ để tham gia các hoạt động liên quan tới Internet. Nếu các video độc hại bị lan truyền với thời lượng lớn sẽ gây tình trạng nhiễu loạn thông tin, đúng sai bị đảo lộn, bởi sẽ có rất nhiều người bị tiếp nhận thông tin thụ động. Thậm chí có thể xem là một trong những tác nhân gây ra sự vô cảm trong xã hội. Theo thống kê của cơ quan chức năng, trung bình mỗi tháng có hàng chục nghìn bài viết, video trên internet, mạng xã hội có nội dung liên quan đến Việt Nam, trong đó tỷ lệ không nhỏ các bài viết, video có nội dung xuyên tạc, chống phá nước ta (có khoảng 67% bài viết được phát tán trên mạng xã hội Facebook, số còn lại phát tán trên các kênh mạng xã hội Youtube, Blog cá nhân hoặc các kênh tin tức phản động).

2.Nhận diện âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch trong việc sử dụng video ngắn độc hại trên mạng xã hội

Khi những video ngắn độc hại lan rộng trên mạng xã hội thời gian qua như: “Có lẽ tôi sẽ từ bỏ Quân đội để được làm chính mình”; “Có nên rời khỏi ngành Công an để bắt đầu làm lại?”…, đã có những ý kiến, bình luận mang tính a dua, cổ xuý theo nội dung mà video đề cập. Đi liền với đó là các video và bài viết xuyên tạc về tình hình nội bộ, hoạt động chiến đấu của lực lượng Công an, Quân đội xuất hiện khá nhiều gây nhiễu loạn thông tin cho người xem, đặc biệt với những cán bộ, chiến sĩ Công an tuổi đời còn trẻ. Ẩn sâu đằng sau những video đó còn là âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch và các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài.

Qua thực tiễn trào lưu video ngắn độc hại trên mạng xã hội thời gian qua, có thể nhận thấy “bàn tay đen” của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trên không gian mạng âm mưu và hoạt động chống phá tập trung vào các nội dung, như: Xuyên tạc phá hoại nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; gây mâu thuẫn nội bộ, công kích, bôi nhọ và hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, lãnh đạo, chỉ huy trong Công an, Quân đội; thông qua truyền thông mạng xã hội để kêu gọi, kích động biểu tình, gây mất an ninh, trật tự an toàn xã hội; kích động chống phá của số đối tượng chống đối chỉ trích Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, tự do Internet...

Để thực hiện âm mưu thâm độc trên, các đối tượng phản động, thù địch thường dùng các thủ đoạn: Sử dụng tài khoản mạng xã hội có tương tác lớn hoặc tổ chức các chiến dịch truyền thông phát tán thông tin. Đăng tải tài liệu, thông tin, bình luận hướng dư luận nhìn nhận theo quan điểm sai lệch; dẫn nguồn thông tin từ báo chí chính thống, pha trộn thông tin thật-giả, xuyên tạc tình hình chính trị trong nước. Tiến hành xây dựng nhiều kênh thông tin trên các nền tảng xuyên biên giới có sự liên kết với nhau. Việc sử dụng các video ngắn độc hại hướng vào vấn đề phi chính trị hóa Quân đội và Công an, thực chất là muốn tách Công an và Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo Đảng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Về mặt hình thức, những video ngắn trên mạng xã hội trước tiên làm tổn hại đến lực lượng CAND, để người dân hiểu sai, hiểu không tốt về lực lượng Công an. Từ những vụ việc đơn lẻ, các đối tượng thổi phồng, tiến tới gây phản ứng quy kết cho cả lực lượng CAND, tạo ác cảm, tiến đến không ủng hộ, chống đối lực lượng Công an, gây ra những xung đột xã hội.

Những luận điệu xuyên tạc nêu trên nếu không phát hiện, xử lý kịp thời sẽ gây ra nhiều hệ lụy, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của lực lượng Công an, giảm sút lòng tin của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự. Luận điệu xuyên tạc thông qua video trên nền tảng mạng xã hội dễ phát tán, lây lan, ảnh hưởng đến tâm lý tiêu cực trong một bộ phận nhân dân, dễ nảy sinh tâm lý tiêu cực, a dua để điều hướng dư luận nhằm thực hiện các hành vi sai trái, vi phạm pháp luật của một số đối tượng. Tình hình đó khiến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Vì vậy, đấu tranh với các thông tin, luận điệu sai trái, xuyên tạc về lực lượng Công an nói riêng và lực lượng vũ trang nhân dân nói chung trên mạng xã hội là vấn đề thời sự, cấp bách hiện nay.

Lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lực lượng CAND Việt Nam luôn thể hiện phẩm chất anh hùng, bản lĩnh kiên cường, tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, không quản ngại gian khổ, hiểm nguy, hy sinh, lập nhiều chiến công, giữ vững vai trò nòng cốt trong bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân. Cùng với hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm ANTT, lực lượng CAND còn làm tốt công tác an sinh xã hội với mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau”; triển khai đồng bộ, hiệu quả các mặt công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế; gương mẫu, đi đầu trong nhiều mặt công tác... Những kết quả, thành tích đó đã đóng góp rất quan trọng vào việc xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, củng cố và nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội luôn coi Công an, Quân đội là một trong những lực lượng cần tập trung chống phá, xuyên tạc, mục đích nhằm hạ uy tín, vị thế, gây chia rẽ giữa các lực lượng và chia rẽ giữa Công an, Quân đội với các ngành, với nhân dân, tạo ra những nghi kỵ, ác cảm để lấy cớ kích động chống đối.

Xã hội ngày càng phát triển, cuộc sống ngày càng hiện đại, nền công nghiệp 4.0 tập trung vào công nghệ số với sự trợ giúp mạnh mẽ từ internet thì các thế lực thù địch sẽ gia tăng lợi dụng mạng xã hội để tung nhiều thông tin xấu độc, vu cáo, xuyên tạc, bôi nhọ lực lượng CAND, tác động đến cộng đồng. Việc các thế lực xấu tung video ngắn trên TikTok, Facebook, các nền tảng mạng xã hội là chiêu trò lợi dụng trào lưu người sử dụng mạng đang có thói quen xem các video ngắn, các thông tin nhanh, nóng, tức thời. Do đó, dù phương pháp, thủ đoạn có những biến tướng thì bản chất vẫn không thay đổi, cũng chỉ là “bình mới, rượu cũ”. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân, nhất là các em học sinh, sinh viên cần tỉnh táo, nhận rõ phải - trái, đúng - sai. Hơn ai hết, mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an phải nâng cao tinh thần, ý thức trách nhiệm, đề cao cảnh giác, tích cực đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực xấu./.


Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, duy trì xu thế phát triển

 Chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (tháng 10/2022) là hoạt động đối ngoại chính thức trực tiếp đầu tiên giữa lãnh đạo cao nhất của hai Đảng, hai nước sau khi đại dịch Covid-19 bùng phát, là chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sau Đại hội XIII Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là nhà lãnh đạo nước ngoài cao nhất đầu tiên mà Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đón tiếp ngay sau Đại hội XX Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, khó lường, công cuộc đổi mới, cải cách mở cửa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước bước vào giai đoạn mới, chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có ý nghĩa hết sức quan trọng, tăng cường và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc trong giai đoạn mới; củng cố tin cậy chính trị, góp phần tạo nền tảng chính trị vững chắc và thúc đẩy hợp tác thực chất trên các lĩnh vực giữa hai nước; tăng cường tình cảm hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt Nam-Trung Quốc.

Trong chuyến thăm, hai bên ra Tuyên bố chung gồm 13 điểm, bao gồm những nội dung mang tính chiến lược định hướng cho phát triển quan hệ hai nước trên tất cả các lĩnh vực thời gian tới; nhất trí tiếp tục củng cố và phát triển quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc theo phương châm 16 chữ "láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai" và tinh thần bốn tốt "láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt".

Đồng thời, hai bên đạt được nhất trí trong nhiều nội dung hợp tác thực chất, như thúc đẩy kết nối giữa Khuôn khổ "Hai hành lang, một vành đai" với Sáng kiến "Vành đai và Con đường", thúc đẩy tiến trình mở cửa thị trường cho một số mặt hàng nông, lâm, thủy sản của Việt Nam, mở các văn phòng thương mại Việt Nam tại Trung Quốc.

Hai bên sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp hai nước tăng cường hợp tác đầu tư, kinh tế-thương mại, hợp tác trong lĩnh vực vận tải hàng không, đường bộ và đường sắt. Ngoài ra, hai bên cũng thể hiện quyết tâm trong việc nỗ lực nhằm giảm bớt vấn đề mất cân bằng thương mại giữa hai nước, tìm kiếm các biện pháp giải quyết dứt điểm tình trạng ùn tắc tại các cửa khẩu biên giới, vừa bảo đảm an toàn phòng, chống dịch, vừa duy trì thông quan thuận lợi.

Về vấn đề trên biển, hai bên nhất trí cho rằng, kiểm soát thỏa đáng bất đồng, duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông rất quan trọng, đồng ý tiếp tục thúc đẩy thực hiện toàn diện, hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), trên cơ sở hiệp thương, nhất trí, sớm đạt được Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) thực chất, hiệu quả, phù hợp luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982; kiểm soát tốt bất đồng trên biển, không có hành động làm phức tạp tình hình và mở rộng tranh chấp.

Theo đà tin cậy chính trị được tăng cường, hợp tác kinh tế-thương mại, đầu tư giữa hai nước duy trì tăng trưởng. Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ 4 của Trung Quốc trên thế giới; kim ngạch thương mại hai chiều năm 2022 đạt 175 tỷ USD, chiếm 1/4 tổng kim ngạch thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN.

Theo Bộ Công thương Việt Nam, bốn tháng đầu năm 2023, kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam-Trung Quốc đạt 49,6 tỷ USD, trong đó Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam với kim ngạch 16,4 tỷ USD và là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 33,2 tỷ USD; về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, Trung Quốc đứng thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 752 triệu USD.


NHẬN DIỆN VÀ PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, XUYÊN TẠC VỀ CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TIÊU CỰC

 Có khá nhiều các thông tin xấu độc, luận điệu sai trái, xuyên tạc về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng ta trên không gian mạng. Các thế lực chống đối đã hư cấu, xuyên tạc, thổi phồng, lấy hiện tượng quy kết thành bản chất, đăng tải thông tin thật - giả lẫn lộn, thêm thắt, tô vẽ những câu chuyện mà chúng dựng nên; trong đó, chúng chủ yếu tập trung vào những luận điệu sai trái, xuyên tạc sau:

“Chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam hiện nay chỉ là thanh trừng nội bộ, đấu đá các phe phái trong Đảng Cộng sản”.

Thực tế công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng ta luôn được tiến hành chặt chẽ, thận trọng, từng bước cụ thể theo đúng quy định, điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản nhất trong tổ chức và mọi hoạt động của Đảng. Mọi quyết định đều thuộc về tập thể lãnh đạo, được công khai bàn bạc, thảo luận và thiểu số phục tùng đa số trên cơ sở dân chủ. Từ những vụ việc tham nhũng, tiêu cực liên quan đến một số cán bộ cấp cao thời gian qua đã cho thấy sự thống nhất, quyết tâm chính trị cao của Ban Chấp hành Trung ương Đảng theo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ bằng kết quả bỏ phiếu cho ý kiến xử lý kỷ luật trên cơ sở đánh giá, phân tích những căn cứ chính trị, pháp lý thuyết phục. Vì vậy, hoàn toàn không có chuyện tồn tại “phe nhóm” để can thiệp công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Hơn 10 năm qua, Đảng ta đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, hàng trăm “quan tham” lớn nhỏ bị đưa “vào lò”, có những người nhận mức án chung thân nhưng không có bất cứ ai cho rằng hành vi của bản thân oan sai, không thấu tình đạt lý mà chỉ xin được nhận tội, khắc phục hậu quả, giảm nhẹ hình phạt. Hoàn toàn không hề có việc “thanh trừng”, “đấu đá nội bộ”, “tận diệt phe nhóm” như các thành phần chống đối ra sức xuyên tạc.

“Chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam hiện nay theo kiểu “tắm từ vai trở xuống...”; “việc thành lập Ban chỉ đạo ở cấp tỉnh chứng tỏ công cuộc chống tham nhũng không hiệu quả, không chuyển biến”.

Thực tế công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua đã đạt nhiều thành công lớn với nguyên tắc không có vùng cấm, không có ngoại lệ, đặc quyền, bất kể người đó là ai, “xử lý một vụ, cảnh tỉnh cả vùng, cả lĩnh vực”. Hàng loạt “tư lệnh ngành”, “tướng lĩnh cấp cao” kể cả Ủy viên Bộ Chính trị đều bị xử lý hình sự; bảo đảm đồng bộ giữa thi hành kỷ luật Đảng với kỷ luật hành chính và xử lý hình sự, vừa nghiêm minh vừa nhân văn...

Đặc biệt, sau khi thành lập Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh đã từng bước khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, cho thấy Đảng ta đã tiến hành bài bản, đồng bộ từng bước, giống như việc “quét cầu thang”, quét từ trên xuống dưới, loại bỏ từ tham nhũng lớn cho đến tham nhũng vặt.

“Đảng Cộng sản Việt Nam không thể chống tham nhũng thành công vì “tham nhũng là con đẻ của chế độ độc đảng”...

Thực tế, ở các nước tư bản chủ nghĩa có chế độ đa đảng thì tình trạng tham nhũng vẫn diễn ra rất phổ biến... Chỉ số cảm nhận tham nhũng năm 2022 của Tổ chức Minh bạch quốc tế công bố Việt Nam đạt 42/100 điểm, xếp hạng 77/180 quốc gia và vùng lãnh thổ là 1 trong 6 quốc gia châu Á có nhiều tiến bộ. Các chỉ số trên cho thấy Việt Nam đứng trên 103 quốc gia được xếp hạng, trong số đó có tới hơn 90% là quốc gia đa đảng. Bởi vậy, không thể nói nguyên nhân của tham nhũng là do cơ chế một đảng hay đa đảng./.


SỰ RA ĐỜI CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM - CỘT MỐC ĐÁNH DẤU SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHONG TRÀO ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC Ở VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX

 Ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay được thành lập. Mặc dù chỉ có 34 chiến sĩ với 34 khẩu súng khi mới thành lập nhưng sự ra đời của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam.

1. Ngày 1-9-1858, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Đà Nẵng mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Với truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần đấu tranh chống giặc ngoại xâm kiên cường bất khuất, nhân dân Việt Nam đã anh dũng đứng lên chống giặc giữ nước theo phương châm “kẻ trước ngã, người sau đứng dậy” nhưng rốt cuộc đều thất bại.

Một câu hỏi lớn đặt ra với những nhà yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX là, làm sao để đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại độc lập cho dân tộc? Có người cho rằng phải tiến hành võ trang bạo động, vì “không lấy máu rửa máu thì không thể cải tạo được xã hội hiện tại”. Có người lại lập luận, nếu dùng võ trang bạo động thì sẽ thất bại, bởi thực dân Pháp có vũ khí tối tân hiện đại, nên trước mắt cần phải dựa vào Pháp để “canh tân” đất nước, sau đó mới giành lại độc lập. Người đại diện cho xu hướng bạo động là cụ Phan Bội Châu. Người đại diện cho xu hướng cải lương là cụ Phan Châu Trinh.

Do hạn chế về lập trường giai cấp, cụ Phan Bội Châu, cụ Phan Châu Trinh cũng như các sĩ phu cấp tiến lãnh đạo phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX không thể tìm được một phương hướng giải quyết chính xác cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, nên các cuộc đấu tranh tuy diễn ra rất sôi nổi những đã nhanh chóng bị kẻ thù dập tắt.

2. Xuất phát từ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, kinh nghiệm đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc và trước những đòi hỏi cấp bách của thực tiễn Việt Nam, ngay từ mới ra đời, Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng tháng 2 - 1930 xác định: Chủ trương làm tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản, để đạt được mục tiêu đó phải dùng bạo lực cách mạng để chống bạo lực phản cách mạng. Tuy nhiên, cái khó đối với Đảng Cộng sản Việt Nam khi đó là vừa mới ra đời Đảng chưa có một đơn vị vũ trang nào làm lực lượng quân sự cho mình. Bởi thế Đảng đã chủ trương tổ chức ra quân đội công - nông, trước  hết là các đội tự vệ công - nông, các đội du kích, làm nòng cốt cho toàn dân đấu tranh giải phóng dân tộc.

Thực hiện chủ trương của Đảng, từ năm 1930 đến năm 1944, nhiều địa phương trên phạm vi cả nước đã sáng tạo ra nhiều tổ chức vũ trang tuy tên gọi có khác nhau nhưng đều giữ vai trò nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ đấu tranh với kẻ thù, bảo vệ các cuộc đấu tranh của công nhân, nông dân ở các địa phương. Đó là các đội Tự vệ đỏ ở Nghệ An, Hà Tĩnh trong cao trào cách mạng 1930 - 1931, Đội du kích Bắc Sơn rồi các đội Cứu quốc quân, Quân du kích Nam Kỳ, Đội du kích Pác Bó ở Cao Bằng… Các đội vũ trang nói trên tuy hoạt động rất tích cực và đã có những thành tích đáng kể nhưng đó mới chỉ là các đội du kích của từng địa phương, ảnh hưởng của nó đối với phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân cả nước chưa thật lớn.

3. Khi đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập, tuy chỉ có 34 chiến sĩ nhưng đó là những chiến sĩ kiên quyết, dũng cảm đã được chọn lựa kỹ càng trong các đội du kích Cao - Bắc - Lạng và trong số những người đi học quân sự ở nước ngoài về, hầu hết đã trải qua chiến đấu và ít nhiều đều có hiểu biết về kỹ thuật và kinh nghiệm quân sự. Là con em của các tầng lớp nhân dân bị áp bức, họ có lòng yêu nước, chí căm thù giặc sâu sắc. Không một người nào trong Đội không mang mối hận thù với đế quốc, hoặc nhà cửa bị đốt, của cải bị tịch thu, hoặc cha, anh, chị, em bị bắt, bị bắn, còn bản thân nếu chưa trải qua lao tù thì cũng là những người đang bị truy nã, nợ nước, thù nhà, oán hờn dân tộc, căm thù giai cấp đã xiết chặt họ lại thành một khối rắn chắc, không kẻ thù nào phá vỡ nổi.

Đặc biệt, ngay từ khi mới ra đời, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân đã có ngay một cương lĩnh chính trị, quân sự đúng đắn. Bản cương lĩnh đó chính là Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân do lãnh tụ Hồ Chí Minh soạn thảo. Nội dung bản chỉ thị tuy ngắn gọn nhưng rất súc tích, hàm chứa nhiều vấn đề cơ bản về đường lối quân sự của Đảng, đó là: Vấn đề kháng chiến toàn dân, vấn đề động viên và vũ trang toàn dân, nguyên tắc về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, phương châm xây dựng và hoạt động của các thứ quân (quân chủ lực, quân địa phương và lực lượng tự vệ rộng khắp), phương thức hoạt động kết hợp quân sự với chính trị của lực lượng vũ trang, nguyên tắc chiến thuật, tác chiến, cách đánh của lực lượng vũ trang bí mật, bất ngờ, tích cực, chủ động, mưu trí và linh hoạt… Đánh giá về văn kiện lịch sử này, tác giả người Nhật Singô Sibata cho rằng: “Những nguyên tắc chỉ đạo cho Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân do cụ Hồ Chí Minh và Đảng Lao động Việt Nam đề ra trước cách mạng 1945 tiêu biểu cho một lý luận độc đáo, phù hợp với những điều kiện riêng của Việt Nam”. Thực tế lịch sử đã chứng minh, Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân không chỉ có giá trị định hướng dẫn dắt mọi hoạt động của Đội mà nó còn đánh dấu bước hoàn chỉnh lý luận xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền ở Việt Nam.

4. Được dẫn dắt bởi một cương lĩnh hành động đúng đắn, dưới sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, ngay sau ngày thành lập, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã liên tiếp đánh thắng hai trận Phai Khắt và Nà Ngần (Cao Bằng) ngày 24 và 25-12-1944, g.i.ế.t c.h.ế.t hai tên đồn trưởng, bắt sống toàn bộ binh lính địch trong hai đồn, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng.

Sự xuất hiện bất ngờ của Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân với hai chiến thắng vang dội Phai Khắt, Nà Ngần, đã tác động mạnh mẽ, gây tâm lí hoang mang, lo sợ trong hàng ngũ quân địch, đồng thời cổ vũ tinh thần cách mạng của quân chúng nhân dân, gấp rút chuẩn bị mọi mặt để đón thời cơ vùng dậy đạp đổ xiềng xích của thực dân, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân.

Sau thắng lợi giòn giã của hai trận Phai Khắt, Nà Ngần, thực hiện phương châm “Chính trị trọng hơn quân sự, tuyên truyền trọng hơn tác chiến”, các cán bộ, chiến sĩ của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã nhanh chóng triển khai công tác vũ trang tuyên truyền. Trước hết Đội tăng cường tuyên truyền đường lối, chính sách của mặt trận để nhân dân hiểu rằng, đã đến lúc cần phải đứng lên đánh đuổi thực dân, đế quốc và khả năng đánh thắng chúng. Sau đó, Đội bắt tay vào xây dựng tổ chức cơ sở chính trị và lực lượng của địa phương. Đội dựa vào cán bộ địa phương theo cách chọn một số thanh niên trung kiên, tiến hành huấn luyện cấp tốc rồi giao công tác, hoặc cho vào Đội để rèn luyện và bồi dưỡng kinh nghiệm rồi trở về địa phương công tác khi cần thiết. Với những hoạt động  tích cực, rộng khắp của Đội “đã tạo nên một khu vực có cơ sở cách mạng rộng lớn từ núi rừng Hoà An giáp tỉnh lỵ Cao Bằng cho đến các châu Nguyên Bình, Ngân Sơn, Chợ Rã và vùng phụ cận các triền núi Phia Uắc, Phia Giả, Phia Bióoc; khu vực này trở thành những căn cứ hoàn toàn, tiến có thể lui, đánh có thể giữ, làm bàn đạp phát triển phong trào về phía Nam”.

Như vậy là, sau 14 năm kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và đảm nhiệm vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam, với tư tưởng chỉ đạo nhất quán phải sử dụng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng, Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã tích cực chỉ đạo xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao, từ chưa hoàn chỉnh đến hoàn chỉnh. Nếu các đội Tự vệ đỏ trong phong trào cách mạng 1930-1931, Đội du kích Bắc Sơn, rồi các đội Cứu quốc quân, Quân du kích Nam Kỳ…được coi là những hạt giống quân sự đầu tiên của Đảng, giữ vai trò nòng cốt cho phong trào đấu tranh cách mạng ở địa phương, thì sự ra đời và hoạt động của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân trong những ngày đầu mới thành lập là bước nhảy vọt về chất trong tiến trình chuẩn bị lực lượng cách mạng của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh. Từ đây, Đảng ta và cách mạng Việt Nam mới có một đội quân chủ lực vừa làm nhiệm vụ tác chiến, vừa đóng vai trò tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân, dìu dắt các đội vũ trang địa phương thực hành tác chiến, mở rộng khu căn cứ cách mạng, để đến khi thời cơ xuất hiện, chính đội quân chủ lực ấy đã giương cao ngọn cờ khởi nghĩa tiến về xuôi cùng nhân dân cả nước tiến hành Tổng khởi nghĩa làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945./.


QUAN HỆ VIỆT NAM - TRUNG QUỐC DUY TRÌ XU THẾ PHÁT TRIỂN: ĐIỂM SÁNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN

 Quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc thời gian qua duy trì xu thế phát triển và đạt nhiều kết quả tích cực. Giao lưu, tiếp xúc cấp cao và các cấp diễn ra thường xuyên, hợp tác kinh tế - thương mại, đầu tư giữa hai nước là điểm sáng. Trong chặng đường hơn 7 thập niên kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1950 đến nay, hợp tác luôn là dòng chảy chính trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc.

Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, núi liền núi, sông liền sông, nhân dân hai nước có mối quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời. Thời gian qua, bên cạnh công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước thì công tác đối ngoại nhân dân cũng là một điểm sáng trong quan hệ Việt - Trung.

Những dấu mốc quan trọng

Ngay sau khi được thành lập vào ngày 1-10-1949, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là nước đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ cộng hòa vào ngày 5-1-1950. Đó là sự kiện khởi đầu cho mối quan hệ Việt Nam và Trung Quốc “vừa là láng giềng tốt, bạn bè tốt, núi sông liền một dải, vừa là đồng chí tốt, đối tác tốt cùng chung chí hướng, chia sẻ vận mệnh chung, cùng dốc sức vì nhân dân hạnh phúc, đất nước giàu mạnh và sự nghiệp cao cả hòa bình và phát triển của nhân loại” (trích Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc vào ngày 1-11-2022).

Cùng với sự phát triển tốt quan hệ giữa hai Đảng, hai nước, quan hệ giữa các tổ chức quần chúng và tổ chức hữu nghị hòa bình hai nước đã được thiết lập và phát triển. Chỉ hơn 1 tháng sau ngày thiết lập quan hệ ngoại giao, ngày 15-2-1950, Hội Hữu nghị Việt - Trung đã được thành lập. Ngày 19-11-1950, Ủy ban Bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam cũng được thành lập, kết nối quan hệ với các tổ chức hữu nghị và hòa bình của Trung Quốc, góp phần tích cực vào việc phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác giao lưu song phương và cả trên các diễn đàn nhân dân đa phương. Tháng 10-1952, trong điều kiện Việt Nam đang kháng chiến chống thực dân Pháp, đoàn đại biểu nhân dân của Việt Nam gồm 11 người đã sang thăm Trung Quốc và dự Hội nghị hòa bình châu Á tại Bắc Kinh. Theo gợi ý chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn do Chủ tịch Ủy ban Hòa bình Việt Nam Lê Đình Thám, Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Trung Bộ dẫn đầu với các thành viên “công - nông - binh - trí” cùng tham gia đoàn (trong đó có: Anh hùng Lao động Ngô Gia Khảm; các Anh hùng quân đội gồm: Nguyễn Quốc Trị, La Văn Cầu, Nguyễn Thị Chiên; GS toán học Lê Văn Thiêm…).

Từ những năm đầu 1990, cùng với sự phát triển quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước, Quốc hội, mặt trận, các quan hệ kinh tế thương mại, hữu nghị hòa bình giữa nhân dân hai nước ngày càng phát triển sâu rộng toàn diện, thể hiện qua các cuộc thăm chính thức, giao lưu hữu nghị hàng năm của nhân dân các tỉnh biên giới… Hàng ngàn học sinh Việt Nam đã, đang theo học tại các trường của Trung Quốc và rất nhiều học sinh Trung Quốc đã và đang học tập tại Việt Nam.

Hiện nay, tại Hà Nội có một địa điểm mang dấu ấn đậm nét của tình hữu nghị Việt - Trung là Cung hữu nghị Việt - Trung được xây dựng thông qua Liên hiệp các Tổ chức hữu nghị Việt Nam với số vốn đầu tư 800 tỷ đồng từ viện trợ không hoàn lại của Trung Quốc và vốn đối ứng của Việt Nam. Dự án được triển khai từ năm 2004, do Thủ tướng Việt Nam Phan Văn Khải và Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo dự lễ khởi công xây dựng. Sau 13 năm, vào năm 2017, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình và Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Thị Kim Ngân đã cắt băng khánh thành để cung hữu nghị đi vào hoạt động.

Một trong những sự kiện nổi bật trong quan hệ đối ngoại nhân dân hai nước những năm gần đây là chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (từ ngày 30-10-2022 đến ngày 2-11-2022). Trong khuôn khổ chuyến thăm, 2 bên đã ký Bản ghi nhớ hợp tác hữu nghị giai đoạn 2022-2027 giữa Liên hiệp các Tổ chức hữu nghị Việt Nam và Hội Hữu nghị Đối ngoại nhân dân Trung Quốc với những nội dung quan trọng.

Giao lưu, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau

Những năm qua, Liên hiệp các Tổ chức hữu nghị Việt Nam và Hội Hữu nghị Việt - Trung đã tổ chức nhiều hoạt động rất phong phú, góp phần tăng cường hiểu biết, sự tin cậy lẫn nhau giữa nhân dân hai nước, thực hiện thắng lợi thỏa thuận giữa các lãnh đạo cấp cao hai nước.

Đầu tiên phải kể đến Liên hiệp các Tổ chức hữu nghị Việt Nam đã đưa ra sáng kiến và phối hợp với các đối tác Trung Quốc tổ chức thành công 11 diễn đàn nhân dân Việt - Trung luân phiên hàng năm tại Việt Nam và Trung Quốc. Với các chủ đề “Tăng cường tin cậy lẫn nhau cùng có lợi, cùng thắng”, “Tin cậy chính trị, hợp tác thực chất”, “Giữ gìn hữu nghị truyền thống, thúc đẩy hợp tác thực chất” và “Củng cố nền tảng lòng dân, góp phần thúc đẩy quan hệ hữu nghị truyền thống nhân dân Việt - Trung”, các diễn đàn đã trở thành một trong những cơ chế hợp tác quan trọng để nhân dân hai nước trao đổi thực chất, xây dựng về tình hình quan hệ, các biện pháp thúc đẩy hợp tác phát triển theo hướng lành mạnh, ổn định, hiệu quả, thiết thực, được lãnh đạo hai nước đánh giá cao.

Bên cạnh đó, hai bên cũng tích cực tổ chức các hoạt động có ý nghĩa sâu sắc, khơi dậy các giá trị, tình cảm hữu nghị truyền thống, gắn kết nhân dân hai nước, như: Triển lãm ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh với quan hệ Việt - Trung (năm 2016), Du lịch đỏ Theo dấu chân Chủ tịch Hồ Chí Minh (năm 2015), Triển lãm ảnh Thành tựu công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế của Việt Nam và cải cách mở cửa của Trung Quốc; tổ chức các cuộc gặp gỡ nhân sĩ hữu nghị Việt - Trung nhân chuyến thăm Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình (năm 2017) và chuyến thăm của Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Trung Quốc Trương Cao Lệ (năm 2015); gặp gỡ hữu nghị nhân dân các tỉnh, thành phố Việt - Trung nhân chuyến thăm Việt Nam của Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc Trung Quốc Trương Đức Giang (năm 2016).

Đồng thời, còn rất nhiều hoạt động giao lưu nhân dân với các quy mô lớn nhỏ mà Liên hiệp các Tổ chức hữu nghị Việt Nam cùng Hội Hữu nghị Việt - Trung đã tổ chức thành công. Gần đây nhất, trong chuyến thăm Trung Quốc vào tháng 10-2023, khi tiếp Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Bí thư Ban Bí thư, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Thái Kỳ, Chủ tịch nước Việt Nam Võ Văn Thưởng đã đề nghị: “Hai nước tăng cường giao lưu nhân dân để củng cố nền tảng hữu nghị lâu dài cho quan hệ hai nước”.

Về phía Trung Quốc, ông Thái Kỳ khẳng định Việt Nam và Trung Quốc là láng giềng quan trọng của nhau, chia sẻ lợi ích chung rộng rãi; Trung Quốc luôn coi Việt Nam là hướng ưu tiên trong chính sách ngoại giao láng giềng, sẵn sàng cùng Việt Nam tăng cường trao đổi chiến lược, thúc đẩy và định hướng quan hệ hai Đảng, hai nước không ngừng phát triển bền vững, lâu dài và đề nghị hai bên tăng cường các hoạt động giao lưu kênh Đảng, Nhà nước, giao lưu nhân dân, làm sâu sắc hơn nữa, vững chắc hơn nữa tình cảm hữu nghị giữa các tầng lớp nhân dân hai nước./.


BẢN SẮC KHÔNG THỂ MẬP MỜ, LỊCH SỬ KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC

 Thời gian gần đây, bám vào một số sự kiện văn hóa, văn học nghệ thuật (VHNT) gây ồn ào trên không gian mạng, nhiều phương tiện truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại và các tài khoản cá nhân trên mạng xã hội có tư tưởng thù địch ra sức cổ xúy cho cái gọi là “nói khác”, “nói ngược”...

Họ kích động rằng, muốn nổi tiếng thì các tác giả phải “nói khác”, “nói ngược” trong lao động nghệ thuật. Thực chất, đó là chiêu bài nguy hiểm nhằm kích động, lôi kéo môi trường VHNT đi ngược lại định hướng của Đảng.

THẤY GÌ TỪ THÁI ĐỘ ÁM CHỈ, BÓNG GIÓ

Lợi dụng đời sống VHNT để truyền bá tư tưởng phản động, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc... không phải là thủ đoạn mới mẻ gì. Nó xuất hiện, tồn tại lâu nay và các thế lực thù địch triệt để lợi dụng, khai thác nhằm kích động, lôi kéo công chúng. Những năm gần đây, khi không gian mạng trở thành một “thế giới thứ hai” của đời sống con người và xã hội, âm mưu, thủ đoạn lợi dụng VHNT, thị trường giải trí để chống phá đất nước trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa của các thế lực thù địch lại càng diễn biến phức tạp. Để tạo hiệu ứng đám đông, họ sẵn sàng dựng lên một “mẫu hình” nhà văn, nghệ sĩ nổi tiếng từ những đối tượng cực đoan, bất mãn, suy thoái... và ra sức tô vẽ thành “thần tượng” để dụ dỗ, lừa bịp công chúng. Chẳng hạn một nhà văn Việt Nam suy thoái tư tưởng, đã rời bỏ Tổ quốc ra nước ngoài sinh sống, lại được Viện Hàn lâm Pháp trao cho cái giải thưởng văn học hồi tháng 4 vừa qua là một ví dụ. Từ chuyện này, một số tổ chức truyền thông có tư tưởng thù địch với Việt Nam ở hải ngoại đã thực hiện các chiến dịch tô vẽ “thần tượng”; xuyên tạc môi trường VHNT trong nước, bôi xấu, hạ bệ những nhà văn yêu nước. Họ tuyên truyền rằng, văn nghệ sĩ Việt Nam muốn nổi tiếng, muốn thành danh thì phải học cách “nói ngược”, “nói khác” với quan điểm, chủ trương của Đảng. Họ suy diễn về tự do sáng tạo, về tư duy “khai phóng”, vượt khỏi những rào cản, định kiến để vươn tầm quốc tế...

Nhìn lại những diễn biến chính của đời sống VHNT trong thời kỳ đổi mới, nhất là giai đoạn gần đây, chúng ta thấy rõ những dấu ấn đột phá của hội nhập. Nhờ đẩy mạnh các hoạt động giao lưu, hội nhập theo định hướng của Đảng mà đời sống VHNT có sự khởi sắc đáng ghi nhận. Chẳng hạn ở lĩnh vực điện ảnh. Nhiều đạo diễn Việt kiều nổi tiếng trở về nước làm phim, mang đến luồng gió mới. Nhiều bộ phim có giá trị nội dung, nghệ thuật tốt, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc; phản ánh đậm nét những góc nhìn cận cảnh về lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc; ca ngợi vẻ đẹp đất nước, nền văn hóa, con người Việt Nam... thông qua những lát cắt điển hình, được đông đảo công chúng hào hứng đón nhận. Thành quả đó đã tạo động lực, khích lệ văn nghệ sĩ trong nước phải vượt lên, tự đổi mới, làm mới bản thân để cạnh tranh với các đồng nghiệp Việt kiều và các sản phẩm quốc tế nhập khẩu.

Tuy nhiên, sự hội nhập của VHNT cũng là môi trường được các thế lực thù địch, thông qua truyền thông và không gian mạng, gieo rắc, lèo lái tư tưởng phản động, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc. Cách đây 10 năm, khi còn sống, nhà văn Lê Văn Thảo, nguyên Chủ tịch Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh, trong một lần trả lời phỏng vấn Báo Quân đội nhân dân, đã nhấn mạnh rằng, điều ông và các nhà văn đã từng lăn lộn qua chiến tranh lo ngại nhất chính là sự xuất hiện của thái độ “ám chỉ” trong sáng tác VHNT. Lợi dụng vào tính hư cấu của VHNT, không ít tác giả đã bày tỏ khuynh hướng sáng tạo đi ngược lại quan điểm, đường lối của Đảng bằng kiểu ám chỉ, do họ bị tiêm nhiễm, kích động, ảnh hưởng bởi các luồng tư tưởng thù địch từ bên ngoài. Hệ lụy của lối tư duy “ám chỉ” đó là một số văn nghệ sĩ đã suy thoái về tư tưởng chính trị, rời bỏ quê hương ra nước ngoài sinh sống, sử dụng chính ngòi bút, vốn sống, cảm xúc nội tại để “nói ngược”, “viết ngược”, làm phương hại đến nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Thậm chí, đã có một số ít nghệ sĩ nổi tiếng, bị lôi kéo tham gia vào những bộ phim có nội dung xuyên tạc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, bóp méo, bôi đen hình tượng Bộ đội Cụ Hồ trong chiến tranh...

Nếu như trước đây, cách nói, cách viết, cách thể hiện nhân vật theo lối “ám chỉ” được thể hiện một cách trực cảm, trực giác... thì nay, trước làn sóng dư luận đa chiều, họ cổ xúy kiểu thái độ bóng gió, mập mờ... Với hình thức thể hiện này, trong không ít tác phẩm VHNT, bản sắc văn hóa dân tộc, sắc thái vùng miền, lịch sử quê hương, đất nước hiện lên méo mó, lai căng, biến dạng. Trên phương diện luật pháp, rất khó để bắt bẻ kiểu tư duy bóng gió, mập mờ này. Nhưng, dưới góc nhìn của công tác tư tưởng-văn hóa, khi mỗi thứ lệch lạc đi một chút, mỗi thứ méo mó, lai căng đi một chút... thì hệ lụy lâu dài đối với văn hóa dân tộc và tương lai thế hệ trẻ là rất khó lường...

Thời gian gần đây, trong đời sống VHNT và thị trường giải trí xuất hiện một số tác phẩm có biểu hiện như vậy. Dư luận truyền thông thể hiện những góc nhìn đa chiều. Những tranh cãi nổ ra không chỉ trên các diễn đàn không gian mạng mà còn kéo theo sự vào cuộc của đông đảo chuyên gia, nhà quản lý, phân tích, mổ xẻ dưới nhiều góc nhìn, góc độ khác nhau. Thậm chí, trong một số trường hợp, những ồn ào trên không gian mạng về vấn đề này còn trở thành chủ đề trên bàn nghị sự của Quốc hội.

TỪ THỊ HIẾU THẨM MỸ ĐỂ ĐẾN BẢN LĨNH THẨM MỸ

Nhìn vào những diễn biến đời sống văn hóa, VHNT mỗi khi có tác phẩm, sản phẩm gây “sốt”, chúng ta thấy rõ những tác động toàn diện của hiệu ứng không gian mạng. Nó thể hiện rõ tính hai mặt của một vấn đề. Thứ nhất là, hội chứng đám đông từ những cơn “lên đồng” tập thể, nó có thể tạo sức hút vô cùng mạnh mẽ kéo theo mọi thứ, mọi thành phần trong dòng chảy ấy vào cuộc. Nếu đó là một khuynh hướng tốt, có ích cho đời sống xã hội, phục vụ cho lợi ích quốc gia, dân tộc, sẽ rất có lợi cho công tác tuyên truyền, giáo dục, quảng bá những giá trị tốt đẹp đến với người dân và du khách quốc tế. Nhưng, nếu đó là một sản phẩm có chứa đựng yếu tố gây hại, sự mập mờ trong quan điểm nghệ thuật giống như một loại virus gây bệnh, xâm nhập vào tư duy, thị hiếu của công chúng, nguy hiểm khôn lường. Thứ hai là, chính nhờ hiệu ứng mạnh mẽ của không gian mạng sẽ giúp các tác giả và giới chuyên gia, nhà quản lý nhìn nhận vấn đề dưới những góc nhìn đa chiều, từ đó có sự sàng lọc, thẩm định, định hướng sáng tạo theo quan điểm của Đảng.

Trong những năm tới, đất nước ta có nhiều ngày lễ lớn, trong đó có kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và đại lễ mừng 50 năm đất nước thống nhất. Trên lĩnh vực văn hóa, VHNT, các thế lực thù địch đã và đang tiếp tục đẩy mạnh các chiến dịch tuyên truyền, tung ra các sản phẩm xấu độc; sử dụng truyền thông và không gian mạng cổ xúy, lôi kéo các tác giả “nói ngược”, “nói khác” nhằm bóp méo, bôi đen, làm méo mó hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ và lịch sử đấu tranh cách mạng. Họ sử dụng các phương thức ám chỉ, bóng gió, mập mờ, so sánh Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh với các thành phố lớn đã và đang xảy ra xung đột vũ trang trên thế giới... để xuyên tạc lịch sử, văn hóa vùng đất Nam Bộ và cuộc đấu tranh của đồng bào Nam Bộ, góp phần to lớn giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là những biểu hiện nguy hiểm nhằm kích động hận thù dân tộc, âm mưu chia tách lịch sử, văn hóa Nam Bộ ra khỏi nền văn hóa và lịch sử dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ. Một trong những biểu hiện phổ biến hiện nay là họ cổ xúy, ca ngợi công lao của Nguyễn Ánh (Chúa Nguyễn, Vua Gia Long), coi nhân vật “cõng rắn cắn gà nhà” trong lịch sử dân tộc như là một “anh hùng”, “cụ tổ” của lịch sử, văn hóa Nam Bộ. Đáng tiếc là đã có một số người trong giới sáng tác có biểu hiện dao động, bị cuốn theo lối tư duy này nên trong một số tác phẩm VHNT, đã thổi phồng, thần thánh hóa công lao, che mờ tội của Chúa Nguyễn (Vua Gia Long), làm sai lệch lịch sử, làm mập mờ, méo mó sắc thái văn hóa và bản chất tốt đẹp của con người Nam Bộ. Từ góc nhìn sai lệch về nhân vật này, các thế lực thù địch áp dụng lối tư duy liên tưởng để dụ dỗ, dẫn dắt công chúng hiểu sai lệch lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc và hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng dân Nam Bộ.

Để tạo tiềm lực văn hóa tinh thần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực văn hóa, VHNT, chúng ta phải bám sát quan điểm của Đảng. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nêu rõ nhiệm vụ: “Chủ động nâng cao sức đề kháng của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên đối với các văn hóa phẩm ngoại lai độc hại”...; “Nâng cao vai trò của văn hóa, nghệ thuật trong việc bồi dưỡng tâm hồn, nhân cách của con người Việt Nam, nhất là trong thế hệ trẻ”... Như vậy, giải pháp căn bản và lâu dài là chúng ta phải chủ động nâng cao sức đề kháng, nói cách khác chính là củng cố, nâng cao bản lĩnh chính trị trong các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là giới trẻ. Muốn định hướng thị hiếu thẩm mỹ, phải xây dựng được bản lĩnh thẩm mỹ. Với chức năng hướng đến “chân, thiện, mỹ”, dù thể hiện dưới góc nhìn nào thì trong đời sống văn hóa, VHNT, bản sắc dân tộc là giá trị không thể mập mờ, cương thổ quốc gia, lịch sử dân tộc là giá trị không thể xuyên tạc, đảo ngược.

Quy luật sàng lọc, tiếp thu, tiếp biến và đào thải của văn hóa chính là cán cân công bằng, là thước đo công tâm để khẳng định giá trị đích thực của tác phẩm, sản phẩm VHNT. Những người làm văn hóa, đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa và giới chuyên gia thẩm định chất lượng sản phẩm VHNT các cấp cần bám sát tính quy luật, nhất quán quan điểm của Đảng để đưa ra những nhận xét, nhận định, dự báo; từ đó có giải pháp định hướng dư luận và định hướng sáng tạo, lao động nghệ thuật một cách đúng đắn. Không nên bị dẫn dắt bởi dư luận đám đông dẫn đến “đẽo cày giữa đường”, tạo cớ cho các thế lực thù địch xuyên tạc, chống phá, cũng không nên chỉ dựa vào các quy định của pháp luật để bày tỏ chính kiến một cách cực đoan, võ đoán, máy móc.../.


NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ TÌNH HÌNH NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

 Bản “Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền” ra đời cách đây 75 năm là dấu mốc quan trọng khẳng định khát vọng, mục tiêu chung và nhu cầu phổ quát của nhân loại về quyền con người. Ở Việt Nam, những tư tưởng và giá trị của Tuyên ngôn nhân quyền luôn được Đảng và Nhà nước ta coi trọng, thực thi đầy đủ, nghiêm túc, trách nhiệm. Thế nhưng, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại thường xuyên đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc, vu cáo tình hình nhân quyền để chống phá.

Lấy cớ diễn trò lố

Nhân quyền hay quyền của con người là những quyền tự nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào. Nhân quyền là danh từ trong sáng, dùng để chỉ một trong những giá trị căn cốt của loài người. Kỷ niệm Ngày Nhân quyền quốc tế (10/12) là dịp để Liên hợp quốc và các quốc gia thành viên tôn vinh những giá trị cao cả cùng những thành tựu đạt được trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người.

Với Việt Nam, những thành tựu ấy được minh chứng cụ thể qua việc không ngừng nâng cao đời sống, bảo vệ các quyền hợp pháp của người dân, đồng thời tích cực đóng góp cho nỗ lực thúc đẩy quyền con người trên toàn thế giới.

Song bất chấp thực tế mà nước ta đạt được trong bảo đảm, thúc đẩy quyền con người, hội nhóm, cá nhân phản động lưu vong ở nước ngoài, những tổ chức mượn danh “nhân quyền”, hãng truyền thông hải ngoại định kiến với Việt Nam lại dùng những chiêu bài xảo trá để đả phá. Trong đó cần nhận diện, đấu tranh qua những vấn đề sau:

Thứ nhất, mượn ngày Nhân quyền quốc tế, một số tổ chức thường ra thông báo, cáo trình bày tỏ quan điểm đánh giá sai sự thật về bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam. Trong đó, tổ chức Giám sát nhân quyền (HRW) “kêu gọi Việt Nam cải tổ gấp quyền con người trước kỳ kiểm định phổ quát sắp đến” nhằm xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm các luật lệ quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Mặc dù mang cái tên rất mỹ miều là “Giám sát nhân quyền” nhưng mọi hoạt động của tổ chức này đều thể hiện rõ tâm địa xấu xa, mưu đồ và động cơ chính trị đen tối, thấp hèn. Dù không có mặt ở Việt Nam, không khảo sát thực tiễn, không có những tài liệu chính thống, không hiểu được tình hình nhân quyền ở nước ta nhưng HRW lại luôn tự cho mình quyền phán xét về nhân quyền Việt Nam, kêu gọi Việt Nam “cần khẩn cấp cải tổ quyền con người”. Các thông tin mà HRW có được thực chất từ một vài tổ chức, cá nhân bất mãn, cơ hội chính trị cung cấp. Điều này cho thấy rõ âm mưu, thủ đoạn bôi nhọ hình ảnh đất nước, con người Việt Nam của HRW.

Thứ hai, trao giải thưởng nhân quyền cho các đối tượng có hoạt động chống phá Tổ quốc, xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc. Vào ngày 18/11/2023, tổ chức Mạng lưới nhân quyền Việt Nam (tiếng Anh: Vietnam Human Rights Network – VHRN) có trụ sở tại bang California (Mỹ) công bố cái gọi là “Báo cáo nhân quyền 2022-2023” để xuyên tạc kỳ thị tôn giáo, dân tộc đồng thời cổ vũ cho những đối tượng lợi dụng quyền tự do dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc tiến hành các hoạt động trái pháp luật, phá hoại đất nước. Đều đặn hằng năm, mạng lưới này còn tiến hành xét họp, bình chọn, công bố “Giải thưởng nhân quyền Việt Nam” để “tuyên dương thành tích tranh đấu bất bạo động cho lý tưởng nhân quyền tại Việt Nam”. Đối tượng nào có “thành tích” chống phá đất nước càng nhiều thì tỷ lệ được trao giải thưởng càng cao. Năm nay, các đối tượng Trần Văn Bang, Y Wô Niê, Lê Trọng Hùng – những kẻ đang phải chấp hành án phạt tù về các hoạt động chống phá đất nước được tổ chức này “vinh danh”, tán dương.

Cùng với tổ chức ngoại vi của mình là VHRN, lợi dụng ngày Nhân quyền quốc tế, tổ chức phản động Việt Tân cũng đăng đàn trên mạng xã hội tiến hành trao giải thưởng nhân quyền với tên gọi “Giải thưởng nhân quyền Lê Đình Lượng” cho các đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam để ca ngợi, cổ xúy cho các hoạt động chống phá Việt Nam. Năm nay Việt Tân đã tổ chức bình chọn, trao giải và xướng tên đối tượng Trương Văn Dũng.

Điểm chung của trò lố “Giải thưởng nhân quyền” là các đối tượng được các tổ chức này trao giải đều có các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, phỉ bảng, nói xấu chính quyền, thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, thể hiện thái độ thù ghét, bất mãn đối với Đảng, Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đằng sau trò lố đó là tìm kiếm nguồn tài chính hỗ trợ, đồng thời để cho các đối tượng trong nước bấu víu, tiếp tục tiến hành các hoạt động phá hoại Tổ quốc, nhân dân.

Thứ ba, không dừng lại ở trao “Giải thưởng nhân quyền”, các thế lực thù địch còn lồng ghép với thủ đoạn đòi thả tự do cho các đối tượng được gọi là “tù nhân lương tâm”. Thực chất, đây là các đối tượng có hành vi phạm tội, đối tượng phải chịu sự điều tra, truy tố, xét xử công khai, bị tuyên án và phải chấp hành án phạt tù khi có hành vi tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, phỉ báng chính quyền nhân dân, xâm hại đến quyền, lợi ích chính đáng của các tổ chức, cá nhân; thường xuyên kích động nhân dân chống đối chính quyền; soạn thảo, phát tán nhiều tài liệu bôi xấu chế độ. Ngoài ra, họ còn tổ chức khảo sát, lấy ý kiến về tình hình nhân quyền ở Việt Nam trên mạng xã hội; tự cho mình có sứ mệnh giải quyết những khó khăn, vướng mắc của người dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, kêu gọi các tổ chức quốc tế, chính phủ các nước can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam; phủ nhận những nỗ lực trong thúc đẩy quyền con người Việt Nam; đòi thay đổi thể chế chính trị…

Những âm mưu, thủ đoạn trên được tiến hành đều đặn và bung nở mạnh mẽ khi Liên hợp quốc, các tổ chức trực thuộc và các quốc gia thành viên tiến hành các hoạt động hướng đến kỷ niệm ngày Nhân quyền quốc tế. Các thế lực thù địch đã triệt để khai thác các tính năng của Internet, truyền thông, mạng xã hội nhằm làm méo mó bản chất, giá trị ngày Nhân quyền quốc tế. Mục đích của họ nhằm gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự; quy kết, vu cáo “Việt Nam không có nhân quyền”, “chính quyền không bảo đảm quyền con người”, từ đó muốn đưa Việt Nam đi theo các lối nhân quyền kiểu phương Tây; phớt lờ những sáng kiến đóng góp của Việt Nam cho các hoạt động nhân quyền của Liên hợp quốc…

Nhân quyền không phải là tuyệt đối

Quyền con người là những quyền tự nhiên của con người mà không có bất cứ ai, tổ chức, thể chế chính trị nào có thể tước bỏ. Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc đã đưa ra quan niệm về quyền con người, đó là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những tự do cơ bản của con người.

Như vậy, quyền con người được xác định như là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ. Những chuẩn mực này kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ áp dụng với con người và dành cho tất cả mọi người. Nhờ có những chuẩn mực này, mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới được bảo vệ nhân phẩm và mới có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con người. Cho dù cách nhìn nhận có những khác biệt nhất định, một điều rõ ràng là quyền con người đều mang tính phổ quát, là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và trong mọi giai đoạn lịch sử.

Tuy nhiên, dưới mọi góc độ nghiên cứu quyền con người đều không có tính tuyệt đối, trong lĩnh vực nhân quyền, giữa quyền và nghĩa vụ luôn song hành, thống nhất với nhau, không tách rời nhau. Trong bất kỳ thể chế chính trị nào hiện nay, quyền con người không được xem là quyền tuyệt đối mà bị giới hạn bởi các quy định của pháp luật để ngăn cản, điều chỉnh, xử lý những hành vi lạm dụng quyền của cá nhân, tổ chức này xâm hại đến quyền lợi của cá nhân, tổ chức, Nhà nước. Một số tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền nhưng thiếu thiện chí với Việt Nam đã không hiểu hoặc cố tình phớt lờ các mối quan hệ trên nên thường có cái nhìn phiến diện, sai lệch, thiếu khách quan đối với vấn đề nhân quyền ở nước ta.

Bàn về vấn đề quyền và nghĩa vụ, tại khoản 1, Điều 29, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 quy định: “Tất cả mọi người đều có những nghĩa vụ với cộng đồng mà ở đó nhân cách của bản thân họ có thể phát triển một cách tự do và đầy đủ”. Theo khoản 2 điều này thì mỗi người trong khi hưởng thụ các quyền và tự do cá nhân đều phải chịu những hạn chế do luật định nhằm bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng các quyền và tự do của người khác…

Ở Việt Nam, khái niệm về quyền con người được thể hiện đậm nét trong bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng công bố tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Năm 1945, ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được khai sinh (nay là Cộng hòa XHCN Việt Nam), quyền con người, quyền công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946 và sau đó tiếp tục được khẳng định, mở rộng trong các Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992, 2013. Hiến pháp năm 2013 là đạo luật gốc, là văn kiện pháp lý cao nhất của Nhà nước Việt Nam đã ghi nhận một cách toàn diện, cụ thể các quyền con người và nội dung các quyền này đã được trình bày xuyên suốt trong các chương, mục của Hiến pháp.

Theo đó, tại Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Đồng thời, cũng tại Điều 14 nêu rõ: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Tại Điều 15, Hiến pháp 2013 quy định rõ nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân: “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội; việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”.

Trên cơ sở Hiến pháp, xuất phát từ quan điểm không ngừng thúc đẩy quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo đảm các quyền con người được tôn trọng và thực thi một cách trọn vẹn nhất. Hệ thống pháp luật Việt Nam đã thể hiện đầy đủ tất cả các quyền cơ bản, phổ biến của con người được nêu trong Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới năm 1948 và các công ước quốc tế khác của Liên hợp quốc về quyền con người.

Mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước Việt Nam đều lấy con người là trung tâm, phấn đấu cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, phát triển đất nước phồn vinh, tất cả vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Điều này đã được các văn kiện qua các kỳ đại hội Đảng chỉ rõ, đặc biệt Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”./.


TRUYỀN THÔNG TRUNG QUỐC KỲ VỌNG VỀ TẦM CAO MỚI CỦA QUAN HỆ TRUNG - VIỆT

 Những ngày qua, truyền thông Trung Quốc có nhiều đánh giá, nhận định về quan hệ Trung-Việt với kỳ vọng tăng cường hợp tác hiệu quả trên các lĩnh vực kinh tế-thương mại, đầu tư, văn hóa, du lịch, giao lưu nhân dân để xác định tầm vóc mới, định vị mới cho quan hệ song phương.

Nhân chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tới Việt Nam theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, truyền thông Trung Quốc liên tục có nhiều bài viết đánh giá, phân tích quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung Quốc-Việt Nam.

Mối quan hệ láng giềng hữu nghị

Ngày 11/12, Tân Hoa Xã đăng bài phỏng vấn ông Tống Thanh Nhuận, giáo sư Đại học Ngoại ngữ Bắc Kinh cho biết, Trung Quốc và Việt Nam là láng giềng hữu nghị, núi liền núi, sông liền sông. Hai bên tăng cường giao lưu hợp tác sẽ có lợi cho người dân hai nước và khu vực.

Ông Tống Thanh Nhuận nhận định, hơn 10 văn kiện hợp tác mà hai bên đã ký trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng năm 2022 bao trùm nhiều lĩnh vực liên quan đến đời sống của người dân như: đầu tư, kinh tế-thương mại, du lịch-văn hóa, xuất nhập khẩu hàng nông sản... Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác và trao đổi giữa hai nước. Cụ thể, Kế hoạch hợp tác văn hóa và du lịch giai đoạn 2023-2027 đã đem lại luồng gió mới cho ngành du lịch Việt Nam.

Những năm gần đây, hai nước đã phát huy ưu thế bổ sung ngành nghề cho nhau, mở rộng và tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực trọng điểm, cùng nhau xây dựng hệ thống chuỗi ngành nghề, chuỗi cung ứng ổn định và thông suốt, điều này có lợi cho tăng trưởng kinh tế ở mỗi nước, đem lại lợi ích cho người dân, đồng thời góp phần duy trì ổn định chuỗi ngành nghề, chuỗi cung ứng ở khu vực.

Vị giáo sư Đại học Ngoại ngữ Bắc Kinh cho rằng, trong bối cảnh tình hình chính trị thế giới tiềm ẩn nhiều bất ổn, kinh tế khu vực và toàn cầu phục hồi chậm, hai nước tăng cường hợp tác phối hợp chiến lược, thúc đẩy hợp tác cùng có lợi, phù hợp với lợi ích căn bản của người dân hai nước, có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì hòa bình và thúc đẩy phát triển chung ở khu vực và trên thế giới.

Thúc đẩy kết nối chiến lược

Ngày 12/12, Nhân dân Nhật báo đăng bài viết “Nhanh chóng thúc đẩy hợp tác, kết nối chiến lược giữa sáng kiến "Vành đai và Con đường" với "Hai hành lang, một vành đai". Bài viết nhận định, những năm gần đây, hai nước đã phát huy tối đa lợi thế về vị trí địa lý gần nhau, tính bổ sung ngành nghề đa dạng để nhanh chóng thúc đẩy hợp tác song phương.

Bài viết đã điểm lại 3 lĩnh vực hợp tác hiệu quả giữa hai nước. Đó là các chuyến tàu hàng liên vận quốc tế giúp trao đổi kinh tế-thương mại và đầu tư nhanh chóng hơn; các dự án điện gió giúp thúc đẩy chuyển đổi mô hình năng lượng; và dự án đường sắt đô thị giúp người dân đi lại thuận tiện hơn.

Kỳ vọng về tầm cao mới của quan hệ Trung-Việt

Trang mạng Global Times trong bài bình luận của với tiêu đề “Kỳ vọng quan hệ Trung-Việt sẽ lên tầm cao mới” nhấn mạnh, đây là chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đầu tiên sau 6 năm. Hai nước kỳ vọng sẽ xác định tầm vóc mới, định vị mới cho quan hệ Trung-Việt.

Cũng theo bài báo, từ tháng 10/2022 đến nay, các nhà lãnh đạo cấp cao Việt Nam như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã thăm Trung Quốc, đây là điều hiếm gặp trong quan hệ song phương giữa các nước trên thế giới, cũng chính là tầm cao và tính đặc thù của quan hệ Trung-Việt. Hiện tại, hai nước đều đang thúc đẩy sự nghiệp hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa, đều coi quan hệ Trung-Việt là hướng ưu tiên trong chính sách đối ngoại của mỗi nước, và đều coi sự phát triển của nước kia là cơ hội của nước mình.

Tiềm năng hợp tác rất lớn

Khi trả lời phỏng vấn Thời báo Hoàn cầu, ông Hứa Lợi Bình, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc nhận định, một trong những nội dung chính trong hợp tác kinh tế-thương mại Trung-Việt thời gian tới là lĩnh vực kinh tế số. Ngoài ra, Việt Nam cũng có nhu cầu phát triển ngành năng lượng điện mặt trời, do vậy, tiềm năng hợp tác giữa hai nước rất lớn.

Ông Hứa Lợi Bình cho rằng, Trung Quốc coi Việt Nam là phương hướng ưu tiên trong ngoại giao láng giềng. Việt Nam coi phát triển quan hệ với Trung Quốc là lựa chọn chiến lược và ưu tiên hàng đầu.

Còn ông Cổ Tiểu Tùng, Viện trưởng Viện nghiên cứu ASEAN thuộc Học viện Nhiệt đới Hải Nam, chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam cho biết, Việt Nam có vị trí đặc biệt trong hợp tác chuỗi ngành nghề, chuỗi cung ứng giữa Trung Quốc với các nước. Hiện nay, Trung Quốc xuất khẩu nhiều nguyên phụ liệu hàng dệt may, linh kiện đồ điện tử sang Việt Nam rồi tái xuất đi Mỹ và EU. Chuỗi sản xuất này rất quan trọng đối với việc phát triển kinh tế, giải quyết công ăn việc làm, tạo nguồn thu ngân sách cho Việt Nam, đồng thời cũng là cánh cửa để doanh nghiệp Trung Quốc xuất khẩu ra thế giới./.

CÁI GỌI LÀ “NGÀY HỘI TRỞ VỀ” CỦA RISE

 RISE, chính là “sân sau” của tổ chức phản động lưu vong Việt Tân, mục đích, ý đồ của RISE đó là việc triệt để khai thác các vấn đề, vụ việc được dư luận xã hội quan tâm nhằm kích động tư tưởng, quan điểm phản kháng đối với các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước ta; từng bước hình thành các điểm “nóng” về an ninh, trật tự, làm tiền đề cho các cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”… Đây cũng chính là ý đồ, phương thức, thủ đoạn nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Năm trước, từ ngày 5 đến 6/11/2022 RISE phối hợp với các cơ quan, tổ chức Open Culture tổ chức “Ngày hội trở về phong trào xã hội”. Chương trình có sự tham gia của các đối tượng cốt cán của Việt Tân như Hoàng Tứ Duy, đối tượng tự phong là “Tổng Bí thư Việt Tân”; Hà Đông Xuyên là “phát ngôn viên Việt Tân”... tham gia điều phối chương trình, đồng thời giám sát chỉ đạo trực tuyến từ xa. Thực chất, mục đích của các đối tượng khi thực hiện chương trình này là nhằm tăng cường tổ chức các khoá đào tạo về phong trào xã hội cho giới hoạt động dân sự; đánh bóng vai trò, xây dựng hình ảnh RISE như là tổ chức hoạt động nổi bật, hiệu quả. Từ đó, gia tăng khả năng thu hút vận động tài trợ từ Chính phủ Mỹ, phương Tây và các tổ chức NGO quốc tế… Sau đó, sẽ tổ chức khóa đào tạo để lôi kéo người tham gia mở rộng quy mô và tổ chức. Trong năm 2022, có hai đối tượng tham gia là N.X.H, người đồng sáng lập hiệp hội lái xe tại một tỉnh; trường hợp khác là một người lao động tự do tại Hà Nội. Song sau một thời gian tham gia, đến thời điểm này, hai trường hợp trên đã hiểu được bản chất của chương trình, tự nguyện từ bỏ tham gia vào các hoạt động của RISE.

Không ít đối tượng vì nhẹ dạ, cả tin, tham gia vào hoạt động này đã phải trả giá đắt về hành vi phạm tội đã gây ra. Điển hình như trường hợp của Lê Quốc Anh (SN 1991, ngụ phường 9, TP Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang); ngày 28/11, đối tượng này đã bị Cơ quan An ninh điều tra, Công an tỉnh Tiền Giang ra quyết định truy nã đặc biệt về hành vi “Làm, tàng trữ, phát tán, tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” theo Điều 117, Bộ luật Hình sự 2015.

Đến hẹn lại lên, những ngày cuối năm 2023, các đối tượng cộm cán của RISE, lại lên mạng xã hội kêu gọi tham dự cái gọi là chương trình “Ngày hội trở về phong trào xã hội và một số định hướng đáng chú ý của RISE trong thời gian tới”.

Theo quảng bá của các đối tượng thì hội thảo sẽ là bàn tròn, tạo không gian để các bên liên quan trong vấn đề xuất khẩu lao động, người lao động, môi giới, các tổ chức bảo vệ người lao động, doanh nhân ngồi lại với nhau cùng thảo luận làm sao để “xây dựng cộng đồng vững mạnh hơn”.

Rồi đến với SMF 2023, các nhà “hoạt động xã hội” và tổ chức NGOs có nhiều kinh nghiệm tại Việt Nam và Đông Nam Á sẽ cùng nhau làm việc, chia sẻ các sáng tạo và xu hướng mới trong lãnh đạo phong trào xã hội trong khu vực…

Song, đây thực chất là một trong những chương trình hoạt động chống phá trọng tâm của RISE vào năm 2023. Với hoạt động này, mục đích của các đối tượng là thu hút sự quan tâm, chú ý của những người tự nhận mình là dân chủ và các tổ chức phản động lưu vong. Khi tham gia, nhiều cá nhân không thể hiểu được mục đích sâu xa của các đối tượng, sẽ bị hướng lái, tham gia vào các hoạt động vi phạm pháp luật, phạm tội.


HAI DÂN TỘC SẼ VỮNG VÀNG BÊN NHAU



Chúng tôi chào đón anh sang 

Quan hệ Trung Quốc - Việt Nam thêm nồng

Hai nước rực ánh cờ hồng

Biên cương bờ cõi, biển đông êm đềm.


Tình hữu nghị sẽ đẹp thêm

“Định vị mới” chắc chắn nên sử vàng

“Tầm mức mới” sẽ sang trang

Hai dân tộc sẽ vững vàng bên nhau.


Lòng tin không để phai màu

Bất đồng hai nước cùng nhau giải hoà

Khác biệt quan điểm sâu xa

Kiểm soát tốt những “rườm rà” lâu nay.


Mặt gặp mặt, tay trong tay

Nhân dân hai nước đắm say thắm tình

Mao Trạch Đông - Hồ Chí Minh

Dày công xây dựng mối tình Việt - Trung.


Vượt qua sóng gió, bão bùng

Hai dân tộc đã cùng chung chiến hào

Nhân dân hai nước ước ao

Thuỷ chung, đoàn kết, ngọt ngào, yêu thương.


Thương trường thay cho chiến trường

Đất liền, biển đảo, biên cương rộn ràng

Phương châm “16 chữ vàng” 

Anh em, đồng chí lại càng chớ quên.


Tương liên sơn thuỷ lâu bền

Tương thông lý tưởng ấm êm, vẹn toàn

Tập Cận Bình thăm Việt Nam

Quan hệ hai nước thêm trang sử vàng./.


Phan Trung Can