Gần đây, trên một số trang
mạng, các thế lực phản động đang rêu rao xuyên tạc về vấn đề lợi ích quốc gia –
dân tộc. Chúng cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ phấn đấu cho lợi ích của Đảng,
còn bỏ quên lợi ích quốc gia, dân tộc. Điển hình như bài viết của Nguyễn Trung
trên trang tiengdan.com, với lập luận nửa vời, chia cắt, Nguyễn Trung rêu rao
rằng: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng phản bội lại tư tưởng Hồ Chí
Minh? Đây là sự xuyên tạc, bịa đặt và vu cáo trắng trợn của Nguyễn Trung, bởi
lẽ:
Thứ nhất, lợi ích của Đảng
Cộng sản Việt Nam và lợi ích của quốc gia, dân tộc là hoàn toàn thống nhất.
Mỗi tổ chức khi ra đời đều
xác định và khẳng định mục đích của mình. Mục đích hoạt động của mỗi tổ chức sẽ
chi phối đến lợi ích của tổ chức đó. Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay từ
khi ra đời trong Chính cương vắn tắt đã xác định rõ mục đích của Đảng lãnh đạo
toàn dân tộc phân đấu vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc, no
ấm của nhân dân. Lợi ích của Đảng trước hết đại biểu cho lợi ích của giai cấp
công nhân. Lợi ích của giai cấp công nhân luôn luôn thống nhất với lợi ích của
các tầng lớp nhân dân lao động, với lợi ích của toàn dân tộc. Sau thắng lợi của
cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhân dân ta giành được chính quyền, Đảng ta trở
thành Đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ công khai lợi ích của Đảng
ta trước quốc dân đồng bào và bạn bè quốc tế. Cũng từ đó, Đảng ta vừa là người
lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, lợi ích của giai cấp, của
dân tộc và của nhân dân là hoàn toàn thống nhất, không thể tách rời. Trong bài
viết “Phải theo đúng kỷ luật của Đảng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Ngoài lợi
ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác ”, đăng trên
Báo Nhân dân số 217, từ ngày 22 đến ngày 24 tháng 8 năm 1954.
Thứ hai, ngoài lợi ích quốc
gia, lợi ích dân tộc, Đảng Cộng sản Việt nam không có lợi ích nào khác.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra
đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam gần 90 năm là do yêu cầu đòi hỏi khách quan
của Cách mạng Việt Nam. Đảng phấn đấu vì lợi ích quốc gia, dân tộc và đó cũng
chính là mục đích cuối cùng của Đảng. Đây là điểm khác biệt của một Đảng cầm
quyền chân chính so với các đảng phái chính trị khác. Đảng Cộng sản Việt Nam có
đường lối cách mạng đúng đắn, giải quyết hài hòa vấn đề lợi ích giữa giai cấp
công nhân và lợi ích của nhân dân lao động, của toàn dân tộc nên Đảng ta đã quy
tụ được tất cả các tầng lớp, giai cấp trong xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp
của toàn dân tộc. Chính vì vậy mà Đảng ta được nhân dân ta tin yêu, cưu mang,
đùm bọc, giúp đỡ, thừa nhận là Đảng của chính mình, trìu mến gọi Đảng là “Đảng
ta”. Đây là niềm vinh dự, tự hào lớn của Đảng, mà không phải Đảng nào trên thế
giới cũng có được.
Thứ ba, lợi ích của quốc
gia, dân tộc và lợi ích của Đảng là tối thượng.
Phát biểu bế mạc Hội nghị
Trung ương 9 khóa XII, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh:
Mỗi người chúng ta cần luôn ghi nhớ trong tâm khảm của mình rằng, lợi ích của
quốc gia, dân tộc, của nhân dân, của Đảng là tối thượng; và danh dự là điều
thiêng liêng cao quý nhất đối với mỗi con người, trước hết là đối với mỗi cán
bộ, đảng viên.
Tổng
kết 30 năm đổi mới (1986 – 2016), đảng ta đã rút ra bài học thứ tư: “Phải đặt
lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết; kiên định độc lập tự chủ, đồng thời
chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi; kết
hợp phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để xây dựng và bảo vệ vững
chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Như vậy, qua 30 năm đổi mới, vấn đề
lợi ích dân tộc – quốc gia được Đảng ta nhận thức đầy đủ với tư duy mới và đặt
đúng vị trí, tầm quan trọng của nó. Văn kiện Đại hội XII của Đảng chỉ rõ mục
tiêu hoạt động đối ngoại của nước ta phải nhằm “Bảo đảm lợi ích tối cao của
quốc gia – dân tộc”. Trong Nghị quyết Trung ương 8, khóa IX nhấn mạnh, “bảo vệ
lợi ích quốc gia, dân tộc” là một trong những mục tiêu then chốt của sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây không chỉ là vấn đề nhận thức khoa học về mục tiêu
tối thượng, mà còn là nguyên tắc bất di bất dịch, phương châm chỉ đạo hoạt động
lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong tình hình mới.
Thứ tư,
thực chất việc Nguyễn Trung xuyên tạc cho rằng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước
Nguyễn Phú Trọng phản bội lại tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm mục đích gì?
Ở đây có hai vấn đề: một
là, xuyên tạc, bôi nhọ uy tín, danh dự của lãnh đạo cấp cao của Đảng trước thềm
đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng. Hai là, vấn đề
quan trọng ở đây không chỉ là sự xuyên tạc đối với cá nhân Tổng Bí thư, Chủ
tịch nước, mà Nguyễn Trung muốn thông qua người đứng đầu để xuyên tạc quan
điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Y muốn hướng lái nhận thức của
người dân Việt Nam theo ý định của Nguyễn Trung và đồng bọn của y rằng: Đảng
Cộng sản Việt Nam chỉ phấn đấu vì lợi ích của Đảng mà quên đi lợi ích của quốc
gia, dân tộc nhằm tạo ra sự mâu thuẫn, đối đầu giữa Đảng với nhân dân, qua đó
kích động nhân dân chống đối Đảng. Thủ đoạn xuyên tạc này tưởng chừng mới,
nhưng thực ra đã quá cũ và lạc hậu. Tuy nhiên, mỗi chúng ta cần hết sức cảnh
giác để không mắc mưu các thế lực thù địch, làm tổn hại đến lợi ích quốc gia –
dân tộc và cuộc sống hòa bình của nhân dân./.
Nghị quyết số 29-NQ/TW có tính khoa học,
tầm nhìn xa rộng, quyết sách mạnh mẽ
Ngày 14/12, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4/11/2013 của Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương, khóa XI “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Hội nghị được tổ chức trực tuyến tới 63 tỉnh, thành phố cả nước.
Ngày 12/12, tại Hà Nội, Hội đồng Lý luận, phê bình văn học nghệ thuật Trung ương tổ chức Hội thảo khoa học toàn quốc với chủ đề: “Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Việt Nam 50 năm sau ngày đất nước hòa bình, thống nhất, đổi mới, phát triển: Thực trạng và định hướng cho những năm tiếp theo”.
Hội thảo có sự tham dự của nhiều lãnh đạo các ban, ngành, các nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình.
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944-22/12/2023), 79 năm Ngày Truyền thống Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944-22/12/2023) và 34 năm ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989-22/12/2023), Điện ảnh Quân đội nhân dân tổ chức Tuần phim kỷ niệm.
Hình ảnh quảng cáo Tuần phim. (Ảnh: Điện ảnh Quân đội nhân dân)
Tọa đàm khoa học bàn giải pháp đột phá xây dựng phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc
Các nhà khoa học, nhà quản lý đã có nhiều tham luận mang tính lý luận và thực tiễn về việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Yên lần thứ XVII (nhiệm kỳ 2020-2025) trên các lĩnh vực phát triển kinh tế-xã hội; công tác xây dựng Đảng về tổ chức và cán bộ; rèn luyện đạo đức nêu gương của cán bộ, đảng viên; xây dựng nông thôn mới nâng cao và kiểu mẫu.
Giáo sư, Tiến sĩ Tạ Ngọc Tấn phát biểu tại tọa đàm.
Trong chiến lược diễn biến hòa bình nhằm hiện thực hóa âm mưu chống, phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, một trong những thủ đoạn thâm hiểm được các thế lực thù địch, phản động sử dụng triệt để trong những năm qua là lợi dụng nguyên tắc “quyền dân tộc tự quyết” để lôi kéo, kích động đồng bào dân tộc thiểu số ly khai, đòi quyền tự trị, hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc gây bất ổn chính trị - xã hội, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Các lực lượng chức năng tuyên truyền, vận động người dân bản Huổi Luông (huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu) không theo đạo “Bà cô Dợ”.
ĐÁNH TRÁO KHÁI NIỆM - MỘT THỦ ĐOẠN THÂM ĐỘC
Thời gian gần đây, lợi dụng sự nhẹ dạ, thiếu hiểu biết của một bộ phận người dân tộc thiểu số thuộc khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng biên giới, hải đảo đời sống gặp nhiều khó khăn, các đối tượng xấu đã mua chuộc, dụ dỗ họ tham gia vào nhiều hoạt động phi pháp núp bóng tôn giáo, hoặc các hội nhóm mang danh “xã hội dân sự” đấu tranh “vì quyền lợi cho các dân tộc ít người”.
Thực chất, thông qua các hoạt động này, những phần tử chống phá nhen nhóm tư tưởng ly khai trong cộng đồng dân tộc thiểu số, kích động người dân đòi quyền dân tộc tự quyết, lập nên nhà nước riêng, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn, đe dọa gây ra những hậu quả khó lường.
Như ở khu vực miền núi phía Bắc, sự xuất hiện của tà đạo Giê Sùa và Bà cô Dợ đã gây ra những bất ổn trong đời sống dân cư, đặc biệt là vấn đề an ninh, trật tự. Dù đã được chính quyền cùng các cơ quan chức năng cảnh báo, vận động, thuyết phục song không ít người dân vẫn bị dụ dỗ, mê muội tin theo các tà đạo. Tà đạo Giê Sùa (còn được gọi là “Hội thánh Giê Sùa”) chỉ mới xuất hiện chưa đến 10 năm song với nhiều thủ đoạn tiếp cận tinh vi nhằm thuyết phục, mua chuộc người dân nên đã nhanh chóng lan ra một số tỉnh, thành phố, như: Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái. Người sáng lập ra “Hội thánh Giê Sùa” là Hờ Chá Sùng (còn gọi là David Her), người H’Mông, gốc Lào đang sống tại bang California, Mỹ.
Hờ Chá Sùng đã tận dụng “mác” người H’Mông để chiếm cảm tình cũng như lòng tin của một số bà con dân tộc thiểu số.
Bất chấp việc không có giáo lý, giáo luật, hiến chương, “Hội thánh Giê Sùa” tuyên truyền tà đạo chỉ dựa vào những câu chữ được cóp nhặt, vay mượn từ Kinh thánh và một số tài liệu do Hờ Chá Sùng tự soạn thảo. Mặt khác, Hờ Chá Sùng tán phát các tài liệu tuyên truyền tà đạo trên mạng internet, thông qua kênh YouTube và trang thông tin điện tử phản động bằng tiếng H’Mông.
Không chỉ bác bỏ và xuyên tạc các tôn giáo chính thống, Hờ Chá Sùng còn tự tin cho rằng “Hội thánh Giê Sùa” là tôn giáo chính thống của người H’Mông, đồng thời phong cho mình làm “Vua của dân tộc H’Mông”, ai tin tưởng đi theo thì có được đất nước riêng của người H’Mông, cuộc sống sẽ ấm no, hạnh phúc. Qua quá trình hoạt động, Hờ Chá Sùng đã bộc lộ mưu đồ thật sự của mình từ việc lập ra một tổ chức tôn giáo bất hợp pháp là nhằm kích động, kêu gọi người H’Mông, thành lập “nhà nước H’Mông” tự trị với lý lẽ sai trái rằng, đó là thực hành quyền dân tộc tự quyết.
Nhằm thực hiện âm mưu “phá từ trong phá ra”, các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc quyền dân tộc tự quyết nhằm chia rẽ cộng đồng người dân tộc thiểu số với người Kinh, làm cho nội bộ đất nước rối ren, khối đại đoàn kết dân tộc bị suy yếu. Thực tiễn cho thấy không chỉ ở địa bàn Tây Bắc mà tại một số địa phương khu vực Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, diễn biến của vấn đề này cũng hết sức phức tạp. Các đối tượng phản động ở hải ngoại tăng cường cấu kết với các phần tử chống phá ở trong nước, sẵn sàng cung cấp tiền bạc, tài liệu,… phục vụ cho việc “xây dựng lực lượng”, tuyên truyền, dụ dỗ, kích động một số người dân thiếu thông tin hoặc nhẹ dạ, cả tin đứng lên đòi hỏi “xác lập vị thế, quyền dân tộc”.
Nổi cộm tại khu vực Tây Nguyên thời gian qua, các đối tượng phản động trong nước và nước ngoài cấu kết với nhau, hô hào kêu gọi thành lập cái gọi là “Nhà nước Tin lành Đê ga độc lập”. Mục đích của chúng là nhằm ly khai khu vực Tây Nguyên nằm ngoài sự kiểm soát của chính quyền, chia cắt sự toàn vẹn và thống nhất của đất nước cũng như cộng đồng các dân tộc Việt Nam trên dải đất hình chữ S, thực hiện âm mưu lật đổ chính quyền, làm chệch hướng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Cái gọi là “Nhà nước Tin lành Đê ga độc lập” thực chất là một tổ chức “ma” mà những kẻ theo FULRO (Mặt trận thống nhất đấu tranh của các dân tộc bị áp bức) lập ra vào cuối năm 1999, do Ksor Kơk cầm đầu. Để thực hiện mưu đồ đen tối, Ksor Kơk xuyên tạc rằng “mỗi dân tộc phải có một lãnh thổ riêng, có phong tục tập quán riêng, đất của người Thượng phải do người Thượng quản lý, sử dụng”. Nhằm chiếm được lòng tin và thao túng tâm lý của người dân, chúng đẩy mạnh phương thức tuyên truyền qua tôn giáo.
Giữa năm 2000, Ksor Kơk từ Mỹ đã chỉ đạo một số tín đồ Tin lành người dân tộc thiểu số mà y đã tuyển mộ từ trước đó lên tiếng đòi tự do tôn giáo, tách Tin lành người Thượng ra khỏi Hội thánh Tin lành Việt Nam, lập nên tà đạo “Hội thánh Tin lành Đê ga” làm hậu thuẫn cho “Nhà nước Đê ga độc lập”.
Dù mang danh nghĩa là tổ chức tôn giáo, song “Hội thánh Tin lành Đê ga” đẩy mạnh các hoạt động mang màu sắc chính trị như việc xuyên tạc chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực tôn giáo, dân tộc. Các đối tượng kích động các tín đồ Tin lành đuổi người Kinh về xuôi với lý lẽ là “đòi lại đất đai cho người Thượng”, xây dựng cơ sở tôn giáo trái phép, tiến hành các hoạt động tôn giáo bất hợp pháp, kêu gọi thành lập “Nhà nước Tin lành Đê ga độc lập”…
Để thực hiện mưu đồ đen tối của mình, các đối tượng chống phá thường xuyên vu cáo chính quyền đàn áp tôn giáo, phân biệt đối xử với người dân tộc thiểu số, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, kêu gọi sự can thiệp của các tổ chức, cá nhân phản động, thiếu thiện chí ở nước ngoài.
Trong các năm 2001, 2004, 2008 ở Tây Nguyên, “Hội thánh Tin lành Đê ga” dưới sự giật dây, chỉ đạo, hậu thuẫn của các thế lực thù địch từ hải ngoại đã kích động người dân gây ra các vụ bạo loạn khiến dư luận vô cùng phẫn nộ. Gần đây vụ tấn công liều lĩnh, manh động vào trụ sở Ủy ban nhân dân hai xã Ea Tiêu và Ea Ktur thuộc huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk rạng sáng 11/6/2023 làm 9 người chết, được đánh giá là hoạt động khủng bố chống chính quyền với sự tiếp tay, chỉ đạo từ nước ngoài.
Tại khu vực Tây Nam Bộ, sự chống phá, can thiệp của các tổ chức phản động ở nước ngoài cũng lộ rõ. Biểu hiện rõ nhất là tại một số diễn đàn quốc tế, những năm qua, Tổ chức “Liên đoàn Khmer Kampuchea Krom” (Mỹ) luôn tìm mọi cách tiếp cận các chính trị gia các nước để vu cáo, cung cấp thông tin thất thiệt, sai sự thật về vấn đề tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, bịa đặt về tình hình người Khmer ở Việt Nam.
Tại “Diễn đàn thường trực Liên hợp quốc về các vấn đề dân tộc bản địa (UNPFII) lần thứ 14”, “Diễn đàn nhân dân ASEAN 2015”, tổ chức này còn yêu cầu Việt Nam, Campuchia chấm dứt phân biệt đối xử với người “Khmer Krom”; đề nghị Liên hợp quốc, các tổ chức quốc tế và các nước thành viên ASEAN can thiệp; yêu cầu thành lập Văn phòng nhân quyền bảo vệ quyền lợi cho người “Khmer Krom” tại Việt Nam...
Thời gian qua, các cơ quan chức năng đã phát hiện một số đối tượng cộm cán từ bên ngoài thường xuyên tác động, chỉ đạo, tài trợ, hướng dẫn các phần tử cực đoan sống tại địa phương thu thập tin tức bí mật chuyển ra ngoài, đồng thời lợi dụng các vụ việc phức tạp, nhạy cảm để xuyên tạc, vu cáo chính quyền đàn áp tôn giáo, dân tộc thiểu số, kích động quần chúng gây rối, biểu tình đòi ly khai, tự trị.
Cơ quan chức năng cũng đã phát hiện, thu giữ hàng nghìn tài liệu có nội dung xuyên tạc lịch sử vùng đất Nam Bộ, cho rằng, đất Nam Bộ là của người “Khmer Krom” bị Việt Nam xâm chiếm, dựng lên cái gọi là “lễ kỷ niệm ngày mất đất”. Mặt khác, các đối tượng chống phá còn sử dụng Tuyên ngôn về quyền của người bản địa của Liên hợp quốc, để xuyên tạc chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta đối với dân tộc Khmer.
Mới đây, vào tháng 7/2023, lợi dụng việc cổng chào của tỉnh Trà Vinh phải phá dỡ do bị hư hỏng nặng, có thể gây nguy hiểm cho người dân, các đối tượng chống phá lập tức rêu rao rằng “cổng chào của tỉnh Trà Vinh (cũ) là của dân tộc Khmer, có kiến trúc văn hóa của cha ông để lại”, từ đó xuyên tạc việc tháo dỡ cổng chào là “chính quyền người Việt muốn xóa bỏ văn hóa của người Khmer, muốn thực hiện chính sách đồng hóa dân tộc Khmer”.
Diễn biến của tình hình cho thấy mức độ nguy hiểm, phức tạp, khó lường của mưu đồ thực hiện diễn biến hòa bình dưới chiêu bài quyền dân tộc tự quyết trong tình hình hiện nay.
Dù được thực hiện với nhiều hình thức, thủ đoạn khác nhau song có thể nhận diện những điểm chung là: Các đối tượng chống phá triệt để lợi dụng các vấn đề về nguồn gốc lịch sử tộc người, đất đai, lợi dụng những hạn chế, thiếu sót trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, ngành trong việc triển khai chính sách dân tộc để kích động tư tưởng ly khai, tâm lý mặc cảm, kỳ thị dân tộc.
Cùng với đó, các đối tượng chống phá tiếp tục lợi dụng chiêu bài “tôn giáo hóa dân tộc”, gây ảnh hưởng, tập hợp lực lượng là người dân tộc thiểu số, tiến tới hình thành tổ chức phản động trên địa bàn.
Nguy hiểm hơn, các thế lực phản động tìm cách đánh tráo và đồng nhất khái niệm “quyền dân tộc tự quyết” là quyền của quốc gia-dân tộc với quyền của các dân tộc thiểu số để dẫn dụ, kích động, lôi kéo người dân đòi thành lập nhà nước riêng, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc. Thực tế này đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn cảnh giác, tỉnh táo nhận diện những chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch thực hiện dưới danh nghĩa quyền dân tộc tự quyết để có những biện pháp đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả.
Phụ nữ Sán Chỉ, thôn Khâu Đấng (huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn) gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.
CẦN HIỂU ĐÚNG VỀ QUYỀN DÂN TỘC TỰ QUYẾT
Thời gian qua, các thế lực thù địch không ngừng xuyên tạc chính sách tôn giáo, dân tộc của Việt Nam, cố tình đánh tráo khái niệm nhằm đồng nhất “quyền dân tộc tự quyết” với “quyền dân tộc thiểu số” để chống phá Đảng, Nhà nước cũng như khối đại đoàn kết dân tộc. Thực tế này đòi hỏi mỗi người dân cần nhận thức và thực hành đúng đắn quyền dân tộc tự quyết nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, góp phần giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.
Mặc dù có liên hệ mật thiết với nhau song “quyền dân tộc tự quyết” và “quyền dân tộc thiểu số” là hai quyền khác nhau. Theo Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế “quyền dân tộc tự quyết” là quyền của các quốc gia - dân tộc trong việc thiết lập chế độ chính trị, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội theo con đường mình lựa chọn trên cơ sở thiết lập chủ quyền quốc gia. Một trong những mục đích, tôn chỉ hoạt động được Liên hợp quốc khẳng định tại Điều 1, Hiến chương Liên hợp quốc đó là: “Phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và tự quyết của các dân tộc và áp dụng những biện pháp phù hợp khác để củng cố hòa bình thế giới”.
Năm 1966, lần đầu tiên “quyền dân tộc tự quyết” được ghi nhận trong các công ước quốc tế, đó là Công ước về các Quyền Dân sự và Chính trị, Công ước về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa. Đặc biệt tại Tuyên bố về những nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua tại Nghị quyết 2625 (XXV) năm 1970 đã chỉ rõ nội hàm của “quyền dân tộc tự quyết” (hay còn gọi là nguyên tắc tự quyết của các dân tộc) với các điểm mấu chốt như sau:
Một là “tất cả các dân tộc có quyền tự do quyết định chế độ chính trị và theo đuổi sự phát triển về kinh tế, xã hội và văn hóa của mình mà không có bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài”.
Hai là “việc thành lập một quốc gia độc lập có chủ quyền, sự tự do liên kết hoặc hợp nhất với một quốc gia độc lập hoặc dưới bất kỳ quy chế chính trị nào do một dân tộc tự do quyết định sẽ chính là các cách thức thực hiện quyền tự quyết của dân tộc ấy”.
Ba là “không một điều nào được nói đến ở trên sẽ được hiểu là trao quyền hoặc khuyến khích bất kỳ hành động nào dẫn đến việc chia cắt, làm suy yếu toàn bộ hoặc một phần sự toàn vẹn lãnh thổ hoặc sự thống nhất về chính trị của một quốc gia độc lập có chủ quyền thực hiện phù hợp với nguyên tắc về quyền bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc được đề cập đến ở trên, và do đó có một chính quyền đại diện cho toàn thể nhân dân sống trên lãnh thổ đó mà không có sự phân biệt về màu da, tín ngưỡng hoặc chủng tộc”…
Liên quan “quyền dân tộc thiểu số”, tại Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền của Đại hội đồng bảo an Liên hợp quốc năm 1948 khẳng định rõ: “Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri, và phải đối xử với nhau trong tình bác ái” (Điều 1) và “Ai cũng được hưởng những quyền tự do ghi trong bản Tuyên ngôn này không phân biệt đối xử vì bất cứ lý do nào, như chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác” (Điều 2).
Đồng thời tại Công ước về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 quy định những người thuộc dân tộc thiểu số ở bất kỳ quốc gia - dân tộc nào cũng có đầy đủ các quyền về dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội như những người thuộc dân tộc đa số ở chính các quốc gia-dân tộc đó, không được có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào.
Như vậy, có thể khẳng định “quyền dân tộc tự quyết” và “quyền dân tộc thiểu số” là hai quyền khác nhau, liên quan các đối tượng khác nhau. Khi đề cập về “quyền dân tộc tự quyết” là muốn nói đến quyền lợi của một quốc gia - dân tộc so với các quốc gia - dân tộc khác trên thế giới.
Cụ thể, khi một quốc gia có nguy cơ bị các quốc gia khác xâm hại hoặc cản trở việc thực hiện quyền này thì toàn thể các dân tộc tại quốc gia đó phải đoàn kết, kiên quyết, kiên trì đấu tranh không khoan nhượng để bảo vệ “quyền dân tộc tự quyết” của mình. Còn khi đề cập “quyền dân tộc thiểu số” là nói đến quyền lợi của các dân tộc thiểu số trong nội bộ của một quốc gia độc lập, thống nhất. Theo đó, các quốc gia phải có trách nhiệm bảo đảm cho các dân tộc thiểu số sinh sống tại quốc gia mình được hưởng đầy đủ các quyền “dân tộc thiểu số” phù hợp điều kiện, hoàn cảnh, luật pháp của quốc gia.
Tuy nhiên, lợi dụng thực tế Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc (trong đó dân tộc Kinh chiếm khoảng 87% dân số, còn lại là dân tộc thiểu số gồm 53 dân tộc chiếm 13% dân số), cùng với đó là sự nhận thức chưa đầy đủ về “quyền dân tộc tự quyết” của nhiều người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, kinh tế-xã hội còn kém phát triển và trình độ dân trí chưa cao, các thế lực thù địch, phản động đã tìm cách đánh tráo nhằm đồng nhất hai khái niệm “quyền dân tộc tự quyết” và “quyền dân tộc thiểu số”. Mục đích mà chúng muốn hướng đến là chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, kích động đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện “quyền dân tộc tự quyết” bằng cách ly khai, bạo loạn, đòi quyền tự trị, tự quản với nhiều thủ đoạn tinh vi, thâm độc.
Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước cùng những chủ trương, chính sách đúng đắn, đời sống của người dân, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được cải thiện về mọi mặt, theo đúng phương châm mà Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Huy động, phân bổ, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo chuyển biến căn bản về kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số… Có cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào dân tộc thiểu số phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bền vững”.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, trên thực tế tại một số địa phương việc giải quyết vấn đề dân tộc vẫn còn những hạn chế, thiếu sót nhất định với các biểu hiện: Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước ở một số địa phương còn yếu kém; công tác quản lý xã hội còn nhiều sơ hở, chưa gần dân, sát dân, chưa kịp thời nắm bắt và giải quyết tâm tư nguyện vọng của đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo; chậm phát hiện và xử lý các vụ việc phức tạp trên địa bàn…
Lợi dụng những hạn chế này, các thế lực thù địch, phản động đã phủ nhận toàn bộ những thành tựu to lớn của Việt Nam trong thực hiện chính sách dân tộc, vu cáo Đảng và Nhà nước Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, phân biệt đối xử, đàn áp đồng bào dân tộc thiểu số, ép người đồng bào dân tộc thiểu số phải “bỏ đạo, bỏ văn hóa truyền thống” để hòa nhập với “cuộc sống văn minh, tiến bộ” của người Kinh; tuyên truyền sai lệch về quyền dân tộc tự quyết để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá chế độ, từ đó từng bước làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Để phát hiện và ngăn chặn có hiệu quả những thủ đoạn lợi dụng quyền dân tộc tự quyết để chống phá đất nước, các cấp chính quyền, cơ quan chức năng và các tổ chức đoàn thể cần triển khai thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau: Trước hết phải tăng cường giáo dục, tuyên truyền để cho các tầng lớp nhân dân, nhất là những người đồng bào dân tộc thiểu số nâng cao cảnh giác, hiểu đúng, hiểu rõ và thực hành đúng “quyền dân tộc tự quyết” theo tinh thần của Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế cũng như luật pháp Việt Nam. Khi người dân đã hiểu đúng về “quyền dân tộc tự quyết” thì sẽ không còn cơ hội cho các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá.
Các cơ quan chức năng cần tăng cường kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện và xử lý có hiệu quả các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước lợi dụng thực hành tín ngưỡng, tôn giáo, cũng như các hoạt động “từ thiện”, “nhân đạo” trá hình để tuyên truyền sai lệch về vấn đề thực hiện “quyền dân tộc tự quyết” từ đó mua chuộc, vận động, thậm chí ép buộc người đồng bào dân tộc thiểu số có những hành vi gây rối, bạo loạn, đòi ly khai, tự trị. Tiếp tục làm tốt hơn nữa công tác nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, đòi hòi chính đáng và giải quyết kịp thời những mâu thuẫn, bức xúc của đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần củng cố niềm tin của họ với Đảng, Nhà nước.
Song song đó, phải tiếp tục hoàn thiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc và tổ chức thực hiện hiệu quả các chủ trương, chính sách này góp phần bảo đảm các quyền, lợi ích chính đáng của đồng bào dân tộc thiểu số được thực hiện một cách đầy đủ, trên nguyên tắc các dân tộc thật sự bình đẳng, đề cao tinh thần thống nhất và khối đại đoàn kết dân tộc, tôn trọng những điểm khác biệt của các dân tộc về văn hóa, phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng…
Đồng thời, cần tăng cường thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo đa chiều bền vững ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo còn đặc biệt khó khăn. Chỉ khi đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số không ngừng được cải thiện và nâng cao về mọi mặt, thu hẹp và tiến tới xóa bỏ khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa người miền xuôi và người miền núi, giữa đồng bào dân tộc thiểu số với đồng bào Kinh thì mới thúc đẩy sự phát triển bền vững, tiến bộ của xã hội, giải quyết triệt để, hiệu quả nhiệm vụ đấu tranh, ngăn chặn âm mưu chống phá của các thế lực phản động, thù địch./.
" Thao túng tâm lý” là một trong những thủ đoạn chống phá tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, phản động, tác động tiêu cực đến đời sống tinh thần của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Do vậy, nhận diện và phòng, chống thủ đoạn “thao túng tâm lý” có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng tâm lý, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động hiện nay.
Ảnh minh họa: TTXVN
Nhiều biểu hiện tinh vi của thủ đoạn “thao túng tâm lý”
Với mục tiêu làm mục ruỗng tâm lý xã hội, đảo lộn đời sống tâm lý, tinh thần của nhân dân, các thế lực thù địch, phản động sử dụng nhiều chiêu trò, thủ đoạn tinh vi, ở mọi lúc, mọi nơi, len lỏi vào từng người, từng nhóm xã hội nhằm “lung lạc” nhận thức, “gặm nhấm” tình cảm, điều khiển ý chí và hành động, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. “Thao túng tâm lý” là một thủ đoạn điển hình như vậy.
“Thao túng tâm lý” là cách thức tác động tâm lý nhằm ảnh hưởng, chi phối, kiểm soát nhận thức, cảm xúc, hành vi của người khác theo một mục đích nào đó. Nhờ triệt để lợi dụng các quy luật, đặc điểm tâm lý, cách thức này có thể kiểm soát, điều khiển tâm lý con người diễn biến theo chiều hướng nhất định. Cơ chế “thao túng tâm lý” diễn ra theo nhiều kênh tác động khác nhau, nhưng phổ biến nhất vẫn là kênh thông tin. Bằng số lượng, nội dung và cách đưa thông tin đến người tiếp nhận, có thể kiểm soát, điều khiển được nhận thức, cảm xúc, hành vi của người đó.
Ở nước ta, theo thống kê, đến nay có khoảng 77 triệu người dùng mạng xã hội (MXH), tương đương 78,1% dân số, chiếm 97,8% dân số từ 13 tuổi trở lên, trong đó người dùng Facebook là 70,4 triệu người. Theo đó, các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng cơ chế “thao túng tâm lý” và đặc tính của MXH để thao túng, kiểm soát tâm trí con người. Có thể chỉ ra một số cách thức của thủ đoạn “thao túng tâm lý” mà các thế lực thù địch, phản động đã và đang tiến hành.
Đưa thông tin sai sự thật, xuyên tạc, bịa đặt. Thông qua các trang web, blog, các trang MXH như: Facebook, Zalo, YouTube, TikTok... chúng ra sức tuyên truyền, bịa đặt về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng công cuộc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc, hòng hạ uy tín của cán bộ, phá vỡ khối đoàn kết trong Đảng, sự đồng thuận của xã hội, chia rẽ Đảng với nhân dân. Chúng thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây rối an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Giả mạo thông tin. Chúng lập những tài khoản giả mạo trên MXH, website giả mạo các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo một số bộ, ngành, địa phương, những người có uy tín, nhân vật nổi tiếng trong xã hội, qua đó đưa tin bịa đặt, gieo rắc sự hoài nghi trong xã hội, nhất là trước những vấn đề nhạy cảm.
Lèo lái thông tin. Chúng sử dụng các website, dịch vụ thư điện tử (e-mail) và các trang MXH để lèo lái thông tin. Cách thức tiến hành của chúng thường là tổng hợp tin tức từ các báo chính thống để tạo ra sự khách quan, sau đó cài những thông tin xấu độc theo tỷ lệ tăng dần cả về số lượng và mức độ bịa đặt, bóp méo sự thật. Cùng với đó là những phân tích, bình luận tưởng như khách quan nhưng thực chất là tạo ra “bẫy thông tin” khiến người tiếp nhận dễ bị dẫn dắt theo mưu đồ xấu của chúng.
Tung tin đồn, gây kích động, chia rẽ. Lợi dụng những sự kiện nhạy cảm liên quan đến các vấn đề phân định biên giới, lãnh thổ, tranh chấp Biển Đông, ô nhiễm môi trường, hay những vấn đề liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng, công tác cán bộ... chúng tung tin thất thiệt trên các trang MXH gây hoang mang trong dư luận, tạo nên sự hiểu nhầm của người dân, sự hoài nghi vào cấp ủy, chính quyền các cấp. Các tin đồn tác động mạnh vào cảm xúc, kích động những nhóm đối tượng thiếu hiểu biết hoặc hiểu biết chưa đầy đủ để tạo sức mạnh chống phá.
Tác động tiêu cực, hệ lụy khôn lường
Một là, tác động đến nhận thức, quan điểm, lập trường chính trị. Do triệt để lợi dụng tính tò mò, tâm lý “thích giật gân” và các quy luật thuần tâm lý như: Cảm nhiễm, a dua, ám thị, bắt chước... thủ đoạn “thao túng tâm lý” dễ tác động đến nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Trước những thông tin xuyên tạc, bịa đặt đến dồn dập, những phân tích, bình luận xuất hiện như “nấm mọc sau mưa” dễ đưa người khác vào trạng thái hỗn loạn thông tin. Trạng thái đó khiến nhận thức của con người có thể đi từ phân vân đến hoài nghi, mơ hồ, từ đó dễ làm xói mòn quan điểm, lập trường chính trị.
Hai là, tác động đến cảm xúc, thái độ và niềm tin. Thông tin xuyên tạc, bịa đặt thường liên quan trực tiếp đến nhu cầu, lợi ích, nguyện vọng của người dân và lợi dụng tác động của dư luận xã hội nên thủ đoạn “thao túng tâm lý” dễ tác động đến cảm xúc, thái độ, niềm tin của quần chúng nhân dân. Dưới tác động của thủ đoạn “thao túng tâm lý”, thái độ của con người có thể chuyển biến từ hoài nghi, hoang mang, dao động đến bất bình, phẫn nộ, phản đối, thậm chí là chống đối, bất hợp tác, mất niềm tin.
Ba là, tác động đến hành vi, hành động. Khi đã kiểm soát được nhận thức, cảm xúc, thái độ, thủ đoạn “thao túng tâm lý” còn trực tiếp kích thích, thúc đẩy những hành vi, hành động tiêu cực của con người. Các thế lực thù địch, phản động thường xuyên tổ chức đăng tải, tán phát các thông tin, tài liệu, hình ảnh, video phỏng vấn theo hướng kích động những nhân sĩ, trí thức trong nước có tư tưởng bất mãn chính trị. Đối với quần chúng nhân dân, chúng triệt để lợi dụng bộ phận thiếu hiểu biết, thiếu thông tin hoặc bị kẻ xấu lôi kéo, mua chuộc, nhất là dân tộc ít người, đồng bào tôn giáo nhẹ dạ, cả tin bị chúng kích động, lừa gạt, thúc ép buộc tham gia các cuộc tụ tập gây rối, biểu tình, tạo thành “lực lượng đối trọng”, gây áp lực với hệ thống chính trị các cấp.
Tạo “bức tường thành” vững chắc phòng, chống thủ đoạn “thao túng tâm lý”
Mục tiêu của thủ đoạn “thao túng tâm lý” dù xem xét dưới góc độ nào: Tâm lý hay chính trị, trước mắt hay lâu dài, ngấm ngầm hay công khai đều mang tính chất phản nhân văn, đi ngược lại những giá trị tốt đẹp của con người. Thực chất đó là một trong những thủ đoạn của cuộc chiến tranh tâm lý, cuộc chiến chống lại con người.
Để phòng, chống có hiệu quả thủ đoạn này, giải pháp hàng đầu là quan tâm xây dựng sự vững vàng về tâm lý cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. “Vững vàng tâm lý” thể hiện ở kiến thức, quan điểm và niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ; là khả năng kịp thời nhận diện, phản bác thông tin xấu độc, bịa đặt, thủ đoạn tuyên truyền chính trị của kẻ thù; khả năng nắm vững quan điểm chính trị trong ứng xử các vấn đề xã hội. “Vững vàng tâm lý” hoàn toàn khác với các hiện tượng “đứng ngoài chính trị”, “thờ ơ chính trị”.
Từ thủ đoạn “thao túng tâm lý”, các thế lực thù địch luôn tiến công vào những nơi mà ý thức của con người mù mờ nhất, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực tâm lý xã hội và tâm lý cá nhân, đánh vào những nhu cầu, mong muốn, ước vọng không được thỏa mãn của con người. Để có được sự “vững vàng tâm lý”, cần hạn chế, thu hẹp đến mức nhỏ nhất những “mảnh đất màu mỡ” cho thủ đoạn này.
Thực tế cho thấy, nếu không tích cực ngăn chặn, bài trừ tệ nạn và tiêu cực xã hội, làm lành mạnh môi trường xã hội hiện nay thì các nọc độc “thao túng tâm lý” sẽ lan truyền hết sức nhanh chóng. Đây chính là cơ hội cho thế lực thù địch, phản động lợi dụng, gieo rắc sự hoài nghi, dao động, hoang mang, bi quan, mất niềm tin trong nhân dân. Chúng đang chờ đợi quá trình “tự tha hóa”, “tự biến chất”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên để tiếp tục gia tăng những tác động “thao túng tâm lý”.
Trong bối cảnh thời đại thông tin bùng nổ hiện nay, cần chủ động, kịp thời cung cấp, định hướng, kiểm soát thông tin và định hướng dư luận xã hội. Việc chậm trễ thông tin và sự thiếu chủ động trong việc định hướng dư luận xã hội đã làm nảy sinh ở quần chúng nhân dân những biểu hiện bất lợi về tâm lý, tư tưởng; ở mức độ đơn giản là những đồn đoán tùy tiện, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, làm giảm lòng tin của nhân dân vào luật pháp và bộ máy công quyền; ở mức độ phức tạp còn làm cho một số người có thái độ ngờ vực, thậm chí thay đổi quan điểm chính trị.
Vì vậy, trước những sự kiện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội... nhất là những sự kiện phức tạp, nhạy cảm thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận xã hội, các cơ quan chức năng cần thông tin kịp thời, chính xác cho công chúng và định hướng suy nghĩ, hành động theo hướng có lợi cho Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Việc làm cần thiết hiện nay là nâng cao hiệu lực, hiệu quả kiểm soát, quản lý thông tin, phòng, chống tin giả, tin đồn, thông tin xấu độc trên không gian mạng. Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng trong việc kiểm tra, xác minh, điều tra, truy vết và xác định các hành vi, đối tượng vi phạm các quy định về thông tin sai trái, xuyên tạc để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Giải pháp căn cơ là chăm lo xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Ngày nay, khi mục tiêu "đầu độc" và chiếm lĩnh tâm hồn con người đang và sẽ là mục tiêu chủ yếu của các thế lực thù địch, phản động thông qua thủ đoạn “thao túng tâm lý” thì việc xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh càng có ý nghĩa quan trọng. Môi trường văn hóa lành mạnh đủ sức chống lại những tác động của thủ đoạn “thao túng tâm lý” cần phải tạo được những rung động, những trạng thái cảm xúc tích cực ở đội ngũ cán bộ, đảng viên và người dân về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như những giá trị ưu việt của chế độ XHCN.
Cùng với đó, xây dựng lòng tự hào của mỗi người dân về nền văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, quán triệt và thực hiện tốt lời chỉ dẫn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc tổ chức ngày 24-11-2021 tại Hà Nội: “Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, văn minh gắn liền với đấu tranh không khoan nhượng với cái xấu, cái ác, phi văn hóa, phản văn hóa; bảo vệ những giá trị chân-thiện-mỹ.
Nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân; xây dựng đời sống văn hóa vui tươi, lành mạnh, hạnh phúc; khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển và hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, miền của đất nước”. Xây dựng chính sách phù hợp để khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư, sản xuất các sản phẩm có giá trị văn hóa, tinh thần phục vụ nhu cầu của nhân dân theo phương châm “lấy xây để chống”, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, "lấy tích cực để đẩy lùi tiêu cực"./.