Thứ Sáu, 15 tháng 12, 2023

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỪ QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ LIÊM, CHÍNH ĐẾN VIỆC XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ LIÊM CHÍNH!

     Thấu hiểu tầm quan trọng của đạo đức cũng như vai trò của cán bộ, đảng viên trong sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục cho họ đạo đức cách mạng và Cần, Kiệm, Liêm, Chính (tứ đức). Với lòng yêu thương con người, muốn con người vươn tới sự hoàn thiện về mặt đạo đức, Hồ Chí Minh yêu cầu người nào cũng phải có đủ tứ đức nhưng “những người trong công sở phải lấy chữ Liêm làm đầu”. Từ yêu cầu của thực tiễn đất nước, từ sự khắc ghi lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính phủ đang ra sức phấn đấu trở thành một Chính phủ liêm chính. Tuy nhiên, mục tiêu đó chỉ có thể đạt được khi từng cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước phải thực sự liêm chính. Vì vậy, thực hành đức liêm, chính theo tư tưởng Hồ Chí Minh là yêu cầu bắt buộc đối với mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức ở nước ta hiện nay.

1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về Liêm
Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình chân Nho và đạo đức Nho giáo có tác động không nhỏ đến tư tưởng cũng như triết lý nhân sinh của Người. Tuy nhiên, mỗi xã hội lại có hệ giá trị đạo đức của mình và hình mẫu con người đại diện. Nho giáo xây dựng nên hình tượng người quân tử, bậc trượng phu, kẻ sỹ với 5 chuẩn mực đạo đức (ngũ thường) là “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín”. Hồ Chí Minh xây dựng hình mẫu người cách mạng với những chuẩn mực đạo đức cách mạng nhưng vẫn được biểu đạt bằng các phạm trù đạo đức Nho giáo quen thuộc. Bằng chứng là khi nói về đạo đức cách mạng, phần nhiều Hồ Chí Minh nói về tứ đức là “Cần, Kiệm, Liêm, Chính”, cũng có lúc Người xác định “đạo đức cách mạng phải gồm 5 điều sau đây: Trí - Tín - Nhân - Dũng - Liêm” và cũng có lần Người nói đạo đức cách mạng “gồm 5 điều: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm”. Như vậy, trong ngũ thường của Nho giáo không có đức Liêm nhưng với Hồ Chí Minh, Liêm tồn tại như một hằng số vì là một trong “tứ đức”, là một trong “ngũ thường” do Người đề ra. Hồ Chí Minh đặc biệt đề cao đức Liêm và Người đã luận giải sâu sắc về đức Liêm như sau:

Trước hết, theo Hồ Chí Minh, Liêm là liêm khiết, “không tham ô và luôn luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của dân”. Liêm còn là trong sạch, không tham lam. “Không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình”. Cuộc đời của Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ: Với những người chỉ có “một ham muốn, ham muốn tột bậc” là độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân thì những thứ như tiền tài, địa vị, danh tiếng... không quan trọng đối với họ, họ “chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”. Như vậy, đối với Hồ Chí Minh, trong sạch, liêm khiết, thanh liêm chính là Liêm.

Để mọi người hiểu rõ hơn về Liêm, Hồ Chí Minh còn đi sâu phân tích khái niệm tương phản - “bất liêm”. Nếu Liêm là không tham lam bất cứ điều gì thì “tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là bất liêm”. Tương tự như chân lý - chân lý chỉ có một nhưng phản chân lý thì rất đa dạng, sự bất liêm có vô vàn biểu hiện. Tham tiền dẫn đến việc đục khoét của dân, trộm cắp của công, buôn gian bán lận, đầu cơ tích trữ, cho vay nặng lãi, cờ bạc, trộm cắp... Tham danh vọng, địa vị dẫn đến việc dìm người giỏi, mua bán danh vị, nịnh trên, nẹt dưới. Tham nhàn dẫn đến việc ngại khó, sợ khổ, đùn đẩy công việc cho người khác nhưng khi có công thì tranh, khi có tội thì đổ vấy. Tham sống dẫn đến sự hèn nhát, gặp giặc không dám đánh, thấy việc nghĩa không dám làm... Sự bất liêm đi liền với sự tham lam vô độ dẫn đến việc trộm cắp những cái thuộc về người khác. Vì thế, “công khai hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp, bất liêm tức là trộm cắp”. Kẻ bất liêm cũng là kẻ vô liêm sỉ, không đủ sức phân biệt phải trái, đúng sai, không còn sự day dứt, xấu hổ khi làm điều xấu. Tức là, không có đức Liêm thì con người sẽ bị tha hóa trầm trọng về nhân cách.

Tiếp đó, Hồ Chí Minh chỉ ra giá trị của Liêm. Với mỗi con người, Liêm mang lại sự “quang minh chính đại” vì người liêm thì không tham lam nên không có gì mờ ám, khuất tất phải giấu diếm. Cũng vì không tham lam, không bị dục vọng làm mờ mắt nên tâm họ sáng mà tâm có sáng thì trí mới thông, nhận thức và hành động mới sáng suốt. Người có đức Liêm cũng là người có liêm sỉ, tức là biết phân biệt phải trái, đúng sai, biết hổ thẹn khi làm điều xấu, biết tự răn mình nên biết tránh điều xấu. Vì thế, càng ngày tâm họ càng sáng, trí họ càng cao. Tài đức thực sự do Liêm mang lại có khả năng tự tỏa sáng, tự thu hút nên người có đức Liêm sẽ tạo được uy tín và sự kính nể của những người xung quanh. Đức Liêm của người cán bộ sẽ tạo lòng tin của nhân dân vào chính phủ, vào chế độ. Nếu cán bộ không có được tứ đức, trong đó có đức Liêm “mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc dây leo trời”. Trên quy mô dân tộc thì đức Liêm cùng với Cần và Kiệm giúp cho dân tộc đó “giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh và tiến bộ”.

Sau khi luận giải về Liêm và giá trị của nó, Hồ Chí Minh bàn về đối tượng thực hành chữ Liêm. Người viết: “Ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, những người làm quan không đục khoét dân, thì gọi là Liêm, chữ liêm ấy chỉ có nghĩa hẹp... Ngày nay, nước ta là Dân chủ Cộng hòa, chữ Liêm có nghĩa rộng hơn là mọi người đều phải Liêm”, tức là mọi người đều phải trong sạch, không tham lam. Chế độ dân chủ tạo ra sự bình đẳng giữa những con người và đưa mọi người vươn tới những chuẩn mực đạo đức mới. Sự thực hành chữ Liêm sẽ giúp tất cả mọi người tiến tới sự hoàn thiện về nhân cách và tạo ra sự chấn hưng đạo đức trên quy mô dân tộc.

Hồ Chí Minh không dừng lại ở việc phân định cái gì tốt, cái gì xấu, cái gì phải xây, cái gì phải chống mà còn đề ra các biện pháp giúp cán bộ và nhân dân rèn luyện đức Liêm:
- Phải tuyên truyền và kiểm soát, giáo dục và pháp luật từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên. Tuyên truyền để toàn dân thực hiện đức liêm là công việc hàng đầu nhưng tuyên truyền phải đi đôi với kiểm soát, sự thức tỉnh lương tri phải đi liền với các chế tài ràng buộc bởi tính tự giác, khả năng tiết chế lòng tham của mỗi con người là khác nhau.

- Cán bộ phải ra sức thực hành chữ Liêm bằng những việc cụ thể như “tuyệt đối không đem của công dùng vào việc tư, không động đến cái kim sợi chỉ của dân;... mua bán phải công bình, mượn cái gì phải trả tử tế, hỏng cái gì phải bồi thường”. Cán bộ nhất thiết phải Liêm vì họ cần làm gương cho dân, vì quyền hành mà họ có nếu không đi liền với lương tâm và liêm sỉ sẽ tạo cho họ cơ hội đục khoét của công, ăn của đút của dân. Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ không chỉ thực hành chữ Liêm mà còn phải có trách nhiệm giáo dục đức liêm cho người khác, nếu không, dù họ trong sạch đến mấy vẫn chỉ là “Liêm một nửa”.

- Phải nâng cao trình độ dân trí của nhân dân. Thực tế cho thấy “quan tham bởi vì dân dại. Nếu dân hiểu biết, không chịu đút lót, thì “quan” dù không liêm, cũng phải hóa ra Liêm”. Dân trí không đơn thuần là kiến thức, là học vấn mà còn là trình độ giác ngộ dân quyền. Nếu người dân không am hiểu luật pháp thì họ không thực hiện được quyền kiểm soát của mình mà còn dễ bị “quan tham” lợi dụng, o ép. Hồ Chí Minh nhắc nhở nhân dân phải khéo dùng cái quyền làm chủ, quyền kiểm soát của mình để giúp cán bộ thực hành đức Liêm.

- Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề gì. Ở Hồ Chí Minh có sự hòa quyện chặt chẽ giữa đức trị và pháp trị. Người kiên trì giáo dục cán bộ thực hành đức Liêm, đồng thời ban hành nhiều sắc lệnh và đạo luật để răn đe, ngăn chặn, trừng trị những kẻ bất liêm, như Quốc lệnh (ký ngày 26-1-1946) quy định hai vấn đề trọng yếu là thưởng và phạt, trong đó quy định tội trộm cắp của công phải bị tử hình.

Sự kiên trì giáo dục đức Liêm của Hồ Chí Minh đã hình thành nên những lớp cán bộ vàng đầy đức hy sinh và một lòng liêm chính.

2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về Chính
Kế thừa những hạt nhân hợp lý trong thuyết Chính danh, Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm của mình về Chính.

Trước hết, Người đưa ra định nghĩa: “Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn”, “là việc phải thì dù nhỏ cũng làm, việc trái thì dù nhỏ cũng tránh”. Người có đức Chính là người chính trực, đúng mực, công tâm, họ luôn hành động theo lẽ phải, kiên quyết bảo vệ lẽ phải.

Thứ hai, Hồ Chí Minh chỉ ra tầm quan trọng của đức Chính bằng cách chỉ ra vị trí của Chính trong tứ đức. Một mặt, Người khẳng định: Cần, Kiệm, Liêm là gốc rễ của Chính. Điều này hoàn toàn đúng vì có Cần mới có cái để Kiệm và có Cần mới biết Kiệm; có Kiệm mới có thể Liêm; có Liêm mới có thể Chính. Mặt khác, Người cho rằng: “Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng phải Chính mới là người hoàn toàn”. Tức là, Chính dù là hệ quả của Cần, Kiệm, Liêm nhưng nó vẫn có tính độc lập tương đối, vì nhiều khi có đủ Cần, Kiệm, Liêm mà vẫn không thể Chính. Đức Chính đòi hỏi con người phải có sự chính trực, dũng cảm đấu tranh với cái xấu để bảo vệ lẽ phải. Do đó, Chính là đức khó thực hiện nhất trong tứ đức, là sự biểu hiện đầy đủ nhất của nhân cách con người.

Hồ Chí Minh còn đề cao vai trò của Chính thông qua việc coi Chính là cơ sở để phận định việc và người. Người cho rằng, xã hội tuy có trăm công, nghìn việc nhưng tựu chung lại thì chỉ có 2 loại việc: việc Chính và việc tà. Con người thì phụ thuộc vào việc họ làm mà chia ra thành người thiện và người ác. Như vậy, đức Chính thấm sâu, hiển hiện, chi phối mọi công việc, mọi con người trong xã hội. Ý nghĩa của Chính vô cùng sâu rộng nhưng vươn tới sự Chính thì rất khó khăn vì con người vốn “nhân vô thập toàn”. Vì thế, trân trọng cái tốt, vun đắp mầm thiện, mầm Chính trong mỗi con người, độ lượng và giúp con người sửa chữa khuyết điểm là thái độ cần có của người cách mạng.

Thứ ba, Hồ Chí Minh chỉ ra những biểu hiện cụ thể của đức Chính. Khi con người có 3 mối quan hệ là với mình, với người, với việc thì người có đức chính phải hành xử theo nguyên tắc:

- Đối với mình thì không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự phê bình và lắng nghe phê bình để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân.

- Đối với người thì phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ, không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới, luôn có thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết thật thà.

- Đối với việc thì phải để việc công, lợi chung lên trước việc tư, lợi tư. Đã phụ trách việc gì thì quyết làm cho kỳ được, làm đến nơi đến chốn, không sợ khó khăn, nguy hiểm. Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh. Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước, cho dân bởi trong tiền đồ chung có tiền đồ của mỗi con người.

3. Xây dựng chính phủ liêm chính theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
Người xưa luôn nhấn mạnh: Đạo làm quan phải lấy chữ Liêm, chữ Chính làm đầu bởi “thượng bất chính, hạ tắc loạn”. Người đứng đầu mà không Chính thì ở dưới sẽ “quân hồi vô phèng”; người quản lý kinh tế mà không Liêm, không rõ ràng, minh bạch thì tất cả thi nhau xà xẻo. Hơn nữa, văn hóa phương Đông luôn đề cao lý tưởng “vua sáng, tôi hiền”, niềm tin của nhân dân vào chính thể luôn gắn liền với niềm tin vào nhà cầm quyền nên “kỷ cương phép nước” phụ thuộc nhiều vào sự liêm chính của những người có quyền “cầm cân, nảy mực”.

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Hồ Chí Minh đã quyết tâm xây dựng một nền chính trị liêm khiết. Người khẳng định: “Chính phủ sau đây phải là một chính phủ liêm khiết”(17). Để đạt mục tiêu đó, Người động viên cán bộ hy sinh những lợi ích vật chất để theo đuổi những giá trị tinh thần cao quý vì “sinh hoạt vật chất, hết thời người đó là hết. Còn tiếng tăm xấu hay tốt, sẽ truyền đến ngàn đời sau”(18). Sau đó, do đất nước có chiến tranh, con người phải đứng trước sự lựa chọn “chết vinh hay sống nhục” nên đức Trung, đức Dũng được đề cao.

Hiện nay, đức Liêm, đức Chính được đặt lên vị trí hàng đầu trong hệ giá trị đạo đức cách mạng. Lý do là bởi sự thiếu hụt trầm trọng đức Liêm, Chính trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Từ yêu cầu của thực tiễn khách quan, từ ý thức vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã khẳng định quyết tâm xây dựng một Chính phủ liêm chính. Trong lễ nhậm chức, lễ ra mắt Chính phủ cũng như trong các cuộc họp Chính phủ thường kỳ, từ Liêm Chính được Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhiều lần nhắc đến và nó trở thành một tiêu chí hành động của Chính phủ. Song song với lời nói, trên thực tế, Chính phủ cũng đang tích cực hành động theo cam kết đó. Khi tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ Nam hành động của Đảng ta thì quan điểm của Hồ Chí Minh về đức Liêm, Chính của người cán bộ đã gợi mở cho Chính phủ một số giải pháp chính sau đây:
Thứ nhất, Đảng - lực lượng lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội phải ra sức thực hành liêm chính. Hồ Chí Minh từng đưa ra một định nghĩa hết sức độc đáo về chính trị: “Tóm lại chính trị là: 1. Đoàn kết. 2. Thanh khiết từ to đến nhỏ”. Người còn định nghĩa về Đảng - một tổ chức chính trị dưới góc độ đạo đức và văn hóa: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Vì thế, muốn Chính phủ liêm chính thì Đảng lãnh đạo, Đảng cầm quyền và mỗi đảng viên của Đảng phải giữ gìn đức liêm, chính. Đặc biệt, những người đứng đầu tổ chức Đảng phải là tấm gương thực hành liêm, chính. Nếu không như vậy thì nói không ai nghe, làm không ai theo, mọi lời nói, chỉ thị chỉ là sự hô hào sáo rỗng, thậm chí gây ra sự phản cảm.

Thứ hai, nâng cao ý thức thực hành đức liêm, chính, đẩy mạnh việc giáo dục tinh thần vì dân cho đội ngũ cán bộ,công chức, viên chức. Phải làm cho cán bộ, công chức, viên chức hiểu rằng “tham lam là một điều rất xấu hổ, kẻ tham lam là có tội với nước, với dân”. Nếu cán bộ giữ được đức Liêm, Chính thì họ không chỉ mang lại điều lợi cho dân cho nước, điều ích cho Đảng mà chính họ cũng có lợi ích lâu bền. Ngược lại, nếu không giữ được đức liêm, “khi lộ ra, bị phạt, thì mất hết cả danh giá, mà của phi nghĩa đó cũng không được hưởng”. Ai đó muốn có danh với đời thì phải thực hành lẽ sống vì dân chứ không vì mình. Đạo đức, tài năng, mức độ cống hiến chứ không phải địa vị, tiền bạc sẽ mang lại tiếng thơm cho con người. Công tác tuyên truyền, giáo dục của Đảng và Nhà nước phải làm cán bộ, công chức thấm thía điều đó.

Thứ ba, chấn chỉnh nghiêm túc công tác tuyển chọn, sử dụng, bổ nhiệm cán bộ, công chức. Thấu hiểu cán bộ là gốc của công việc nên Hồ Chí Minh luôn căn dặn: Mình có quyền dùng người thì phải dùng người có tài năng, làm được việc. Chớ vì bà con bầu bạn, mà kéo vào chức nọ, chức kia. Chớ vì sợ mất địa vị mà dìm những người tài năng hơn mình. Vậy mà trong thời gian qua, có những người “thăng tiến thần kỳ”, có những nơi chức vụ lãnh đạo chủ chốt thuộc về những người trong một gia đình, dòng họ hoặc số lượng cán bộ quản lý còn nhiều hơn nhân viên... Khi có ý kiến bức xúc của dư luận thì những người có trách nhiệm đều khẳng định “việc bổ nhiệm đúng quy trình”. Quả thật, quy trình luôn có và rất chặt chẽ về bước đi nhưng nếu người thực hiện quy trình có động cơ cá nhân thì quy trình sẽ trở thành “tấm lá chắn”hữu hiệu cho việc “đem người tư làm việc công”. Để khắc phục căn bệnh mà Hồ Chí Minh gọi là “cánh hẩu”, nay phải quy định rõ trách nhiệm của người bổ nhiệm, phải tổ chức thi tuyển cán bộ, công chức công khai, phải vì việc mà tìm người chứ không phải vì người mà tìm việc. Tuy nhiên, cái gì cũng do ý thức của người thi hành quyết định. Ông cha ta đã đúc kết, rằng “tôn tộc đại quy, tôn lộc đại suy; tôn tài đại thịnh, tôn nịnh đại suy”, nếu dùng “người nhà” mà không dùng “người tài”, dùng kẻ siểm nịnh thay vì dùng người tiết tháo thì sự suy vi của chính thể là điều khó tránh khỏi.

Thứ tư, đẩy mạnh cải cách hành chính không chỉ theo hướng tinh gọn bộ máy mà phải thanh lọc bộ máy. Kiên quyết miễn nhiệm, thay thế, cho từ chức hoặc buộc từ chức mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác đối với những cán bộ làm việc kém hiệu quả, có dấu hiệu bất liêm, có phiếu tín nhiệm thấp. Kiện toàn, thiết kế lại bộ máy quản lý để tránh sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, khi xảy ra sai phạm thì đùn đẩy trách nhiệm cho nhau. Việc hoàn thiện thể chế theo hướng công khai, minh bạch cần tiếp tục được đẩy mạnh vì ở đâu có sự minh bạch thông tin, ở đó không có chỗ cho tiêu cực, tham nhũng.

Thứ năm, phải chống tham nhũng thực sự quyết liệt. Một chính phủ liêm chính không dung thứ cho việc tham ô, tham nhũng vì “tham ô là hành động xấu xa nhất, tội lỗi, đê tiện nhất trong xã hội”. Ở nước ta, mặc dù Luật Phòng, chống tham nhũng ra đời đã lâu và đã qua nhiều lần chỉnh sửa nhưng tình trạng tham nhũng vẫn “ổn định” và xuất hiện vấn đề mới như lợi ích nhóm, “sân trước, sân sau” trong các doanh nghiệp nhà nước. Nay muốn chống tham nhũng, trước hết phải nhận thức lại vấn đề tham nhũng, phải coi đó là “giặc” - giặc nội xâm như Hồ Chí Minh xác định chứ không chỉ là “quốc nạn”. Chống “giặc” thì phải kiên quyết, cứng rắn hơn nhiều so với chống “nạn”. Tiếp đó, phải hoàn thiện hệ thống luật pháp, phải có đủ chế tài để buộc cán bộ thực hành chữ Liêm. Thí dụ, cần bổ sung thêm Luật Kiểm kê tài sản vì minh bạch tài sản là “tấm khiên hữu hiệu” chống tham nhũng. Phải nhanh chóng đưa các vụ tham nhũng lớn ra ánh sáng và việc xét xử phải triệt để, không “thí tốt” và phải thu hồi tài sản tham nhũng cho dân. Bên cạnh đó, cần tăng cường hợp tác quốc tế về hỗ trợ tư pháp để tạo thuận lợi cho việc xử án tham nhũng có yếu tố nước ngoài và ngăn chặn các trường hợp tẩu tán tài sản, nhân sự bỏ trốn ra nước ngoài.

Thứ sáu, xây dựng đội ngũ cán bộ thanh tra, tư pháp đủ đức, đủ tài. Thực ra, “cực chẳng đã” thì người dân và doanh nghiệp mới phải “đáo tụng đình” và họ đặt niềm hy vọng cuối cùng vào cơ quan tư pháp. Sự tha hóa của chính quyền sẽ đến độ đỉnh điểm nếu những người bảo vệ pháp luật lại là những người phạm luật, phá luật. Vì thế, Hồ Chí Minh đã yêu cầu cán bộ thanh tra, tư pháp phải “chí công vô tư, không thiên vị, không thành kiến”, có tinh thần “phụng công, thủ pháp”.Bên cạnh các cơ quan thanh tra chuyên trách thì Nhà nước cũng phải tạo cơ chế để nhân dân tích cực và yên tâm thực hiện vai trò giám sát của mình.

Thứ bảy, tăng cường vai trò của báo chí trong việc giám sát, phản biện xã hội, phanh phui các vụ việc tiêu cực và tạo áp lực dư luận đối với những kẻ làm điều sai trái, “gây quanh chúng một không khí công chúng công phẫn và tẩy chay về mặt đạo đức. Phải không còn một ai vỗ vai gượng nhẹ với chúng nữa”. Các nhà báo phải dùng ngòi bút sắc bén của mình, dùng sức mạnh của báo chí để “phò chính, trừ tà”.

Quyết tâm của Chính phủ trong việc xây dựng một Chính phủ liêm chính là sự trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, là sự đúc kết yêu cầu khách quan của cuộc sống nên rất đáng ghi nhận. Con đường đến đích chắc chắn sẽ là quá trình “tự cải tạo” hết sức đau đớn nhưng đó là bước đi tất yếu của lịch sử. Do đổi mới là một quá trình lâu dài, liên tục nên đến nay, khẩu hiệu “Đổi mới hay là chết” vẫn mang tính cấp thiết như ở thời điểm ra đời và nó phải trở thành phương châm hành động của Chính phủ cũng như của toàn hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: PHÁT HUY HƠN NỮA VAI TRÒ CỦA BỘ ĐỘI HÓA HỌC TRONG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ PHÒNG THỦ DÂN SỰ!

         Tại Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XV, chiều 9-11, thảo luận về dự án Luật Phòng thủ dân sự (PTDS), các đại biểu Quốc hội đều bày tỏ tán thành cao với sự cần thiết xây dựng và ban hành luật!
Đó cũng là tạo thế chủ động chiến lược, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Trước đó, ngày 26-10, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày Tờ trình dự án Luật PTDS. Những năm qua, Binh chủng Hóa học đã chủ động thực hiện tốt các nội dung của công tác PTDS.

Luật Quốc phòng Việt Nam xác định: “PTDS là một bộ phận của phòng thủ đất nước bao gồm các biện pháp phòng, chống chiến tranh; phòng, chống, khắc phục hậu quả thảm họa, sự cố, thiên tai, dịch bệnh; bảo vệ nhân dân, cơ quan, tổ chức và nền kinh tế quốc dân”.

Nhiệm vụ PTDS bao gồm nhiều nội dung, trong đó chuẩn bị và ứng phó với nguy cơ thảm họa chiến tranh là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài; công tác phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả các thảm họa do sự cố, thiên tai là nhiệm vụ cấp bách. Tăng cường, củng cố năng lực PTDS là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của các cấp, các ngành, của hệ thống chính trị; kết hợp PTDS với bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản của nhân dân, bảo vệ môi trường, hệ sinh thái và thích ứng với biến đổi khí hậu, góp phần giữ vững sự ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội.  

Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của công tác PTDS, triển khai thực hiện Nghị định số 117/2008/NĐ-CP của Chính phủ về PTDS, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao, những năm qua, Binh chủng Hóa học đã quán triệt, triển khai nghiêm túc, có hiệu quả các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Quân đội về PTDS và đạt được nhiều kết quả quan trọng, nhất là trong lĩnh vực khắc phục hậu quả chất độc hóa học tồn lưu sau chiến tranh; ứng phó nguy cơ, sự cố hóa chất độc, sinh học, bức xạ và hạt nhân (CBRN); phòng, chống dịch bệnh. Binh chủng luôn chủ động tham mưu, đề xuất với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng các giải pháp tăng cường tiềm lực phòng, chống vũ khí hủy diệt hàng loạt trong chiến lược phòng thủ quốc gia; các chủ trương, giải pháp chuẩn bị, ngăn ngừa, đối phó với các thách thức an ninh phi truyền thống, không để bị động, bất ngờ cả trong thời bình và thời chiến. Từng bước chấn chỉnh tổ chức, biên chế lực lượng hóa học trực thuộc và toàn quân theo hướng tinh, gọn, mạnh, tính cơ động cao, phù hợp với sự phát triển của tình hình, nhiệm vụ. Thường xuyên tổ chức huấn luyện, diễn tập PTDS ứng phó sự cố môi trường do hóa chất độc hại, phóng xạ, tác nhân sinh học, nâng cao khả năng ứng phó trong mọi tình huống.

Khắc phục hậu quả chất độc hóa học tồn lưu sau chiến tranh; ứng phó sự cố CBRN là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong PTDS của Binh chủng. Binh chủng đã triển khai thực hiện nhiều dự án, nhiệm vụ điều tra, thu gom, xử lý chất độc hóa học tồn lưu, góp phần ngăn chặn và giảm thiểu sự tàn phá của chất độc đối với hệ sinh thái và sức khỏe con người, như: Điều tra, xác định các điểm ô nhiễm chất độc CS trên địa bàn 293 quận, huyện, thị xã của 34 tỉnh, thành phố; thu gom, xử lý triệt để hơn 460 tấn chất độc CS, hàng trăm tấn vũ khí, phương tiện chứa chất độc CS; làm sạch 1.375m3 đất nhiễm. Điều tra, khảo sát, đánh giá mức độ ô nhiễm chất độc da cam/dioxin tại các sân bay Tân Sơn Nhất, Biên Hòa, Đà Nẵng, Phù Cát, Nha Trang, Tuy Hòa, Phan Rang. Xử lý đất nhiễm chất độc da cam/dioxin tại các sân bay Biên Hòa, Phù Cát, Đà Nẵng, A So.

Binh chủng đã tham mưu, xây dựng chiến lược bảo vệ môi trường trong Quân đội. Trực tiếp xử lý nhiều sự cố hóa chất độc, phóng xạ, bảo vệ môi trường, góp phần quan trọng vào việc giữ vững môi trường an ninh, an toàn. Điển hình như: Xử lý sự cố ô nhiễm môi trường do chôn lấp lợn bị dịch tai xanh ở Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Định (2008); sự cố nổ hóa chất tại Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng (2010); xử lý môi trường sau vụ nổ tại Nhà máy Z121 (2013); sự cố cháy tại Công ty Cổ phần Bóng đèn phích nước Rạng Đông (Hà Nội-2019); phân tích mẫu nước trong sự cố ô nhiễm môi trường biển miền Trung (2016), tổ chức "Diễn tập PTDS ứng phó sự cố môi trường quy mô liên tỉnh"...

Bên cạnh đó, Binh chủng còn nghiên cứu, ứng dụng công nghệ xử lý thuốc bảo vệ thực vật quá hạn sử dụng; công nghệ xử lý nước bị ô nhiễm thành nước sinh hoạt phục vụ cho nhân dân vùng lũ hoặc khó khăn về nguồn nước sinh hoạt. Tổ chức quan trắc, cảnh báo môi trường hóa chất độc, phóng xạ tại các địa bàn chiến lược quan trọng, các cơ sở công nghiệp, vùng kinh tế trọng điểm, biển, đảo. Đặc biệt, trong đại dịch Covid-19, Binh chủng đã chủ động tham mưu, đề xuất với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19, phòng ngừa việc lợi dụng tác nhân sinh học nCoV để phát tán và kịp thời có các giải pháp để ứng phó, xử lý. Những kết quả trên khẳng định vai trò, vị thế, năng lực, trình độ của Quân đội nói chung, Bộ đội Hóa học nói riêng trong công tác PTDS quốc gia.

Dù vậy, trước những diễn biến khó lường của tình hình thế giới với tình trạng gia tăng nghiên cứu, phát triển vũ khí hóa học, sinh học, hạt nhân; dịch bệnh mới xuất hiện rất phức tạp, lây lan nhanh; sự cố môi trường, biến đổi khí hậu ngày càng khốc liệt; vấn đề an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh môi trường... đều là những thách thức lớn trong công tác PTDS của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Để đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới, vừa cấp thiết, vừa cơ bản lâu dài, Binh chủng đang tập trung thực hiện tốt một số nội dung chủ yếu sau:

Tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, Quân đội về PTDS. Trọng tâm là Nghị định số 02/2019/NĐ-CP ngày 2-1-2019 của Chính phủ về PTDS; Kế hoạch PTDS quốc gia giai đoạn 2021-2025; Quyết định số 104/QĐ-TTg ngày 2-1-2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về phòng ngừa, phát hiện và chuẩn bị ứng phó nguy cơ, sự cố hóa học, sinh học, bức xạ và hạt nhân giai đoạn 2019-2025; Quyết định số 4163/QĐ-BQP ngày 23-9-2019 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về việc ban hành Chương trình hành động phòng ngừa, phát hiện và chuẩn bị ứng phó nguy cơ, sự cố hóa học, sinh học, bức xạ và hạt nhân của Bộ Quốc phòng giai đoạn 2019-2025...

Binh chủng thường xuyên nắm chắc tình hình, chủ động, tích cực tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng có kế hoạch đối phó một cách toàn diện, không để Tổ quốc bị bất ngờ. Trong đó, chủ động nghiên cứu, dự báo về phương thức tác chiến trong chiến tranh tương lai; dự báo về âm mưu, thủ đoạn, quy mô sử dụng vũ khí hủy diệt lớn nếu chiến tranh xảy ra. Trên cơ sở đó tham mưu, đề xuất các giải pháp phòng, chống; cũng như thực thi các công ước, điều ước quốc tế về kiểm soát và chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, bảo đảm an toàn, an ninh hạt nhân, tạo môi trường hòa bình để phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đồng thời rà soát, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ, vừa bảo đảm với lợi ích quốc gia, vừa phù hợp luật pháp quốc tế.

Việc tổ chức lực lượng hóa học trong PTDS thời bình phải quán triệt chủ trương chấn chỉnh tổ chức biên chế Quân đội theo hướng tinh, gọn, mạnh, sức cơ động. Xây dựng thế trận PTDS phải toàn diện, vững chắc, ưu tiên cho các hướng, vùng trọng điểm; coi trọng xây dựng các công trình có tính lưỡng dụng cao. Cùng với đó, Binh chủng đẩy mạnh hợp tác quốc tế, nâng cao khả năng PTDS, đồng thời đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu, lựa chọn công nghệ xử lý chất độc hóa học chứa dioxin nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác khắc phục hậu quả chất độc hóa học tồn lưu sau chiến tranh./.
Ảnh: Lực lượng của Binh chủng Hóa học tiêu tẩy, xử lý ô nhiễm môi trường do cháy tại Công ty Cổ phần Bóng đèn phích nước Rạng Đông (Hà Nội) tháng 9-2019.
Yêu nước ST.

VIỆT NAM - THẾ GIỚI: ĐỈNH CAO NGOẠI GIAO VIỆT NAM THỂ HIỆN QUA VIỆC TIẾP ĐÓN CHỦ TỊCH NƯỚC TẬP CẬN BÌNH!

     Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng mời Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình thưởng 3 loại trà "đỉnh lưu" của Việt Nam. Loại đắt nhất có giá trị lên tới hàng trăm triệu đồng/1 kg!
- Trà mạn sen Đầm Trị Hồ Tây, với thành phần chính là bạch trà san tuyết cổ thụ Tây Côn Lĩnh (Hà Giang) ướp với sen Đầm Trị trong 3 năm.
- Ô long lão trà từ cao nguyên Mộc Châu - Sơn La
- Bạch trà chốt đỉnh 2.000 san tuyết cổ thụ Tây Côn Lĩnh Hà Giang. Đây là loại trà đắt nhất, loại trà thượng hạng nhất được cho là có giá nằm trong khoảng 120 - 200 triệu/1kg. Thường những loại trà san tuyết Tây Lĩnh cơ bản có giá hàng triệu đồng/1kg. Tuy nhiên, có những loại thượng hạng được ướp thủ công qua hàng chục năm, có giá trị lên tới hàng trăm triệu đồng.

Điều thú vị là phần thu hoạch Bạch trà chốt đỉnh 2000 san tuyết Tây Côn Lĩnh nằm tại huyện Vị Xuyên - Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang. Những người lính từng chiến đấu trong các trận chiến bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ Quốc từng gọi những địa điểm này là “dãy 2000”, đối diện với dãy 2000 chính là dãy 1509, nơi diễn ra trận đánh Vị Xuyên oanh liệt, oai hùng. 

Trong buổi lễ tiếp TBT, CTN Tập Cận Bình, có bày một cây tre/trúc có tán xòe sang 2 bên nhưng chung một gốc. Ngụ ý rằng hai quốc gia có tương đồng về gốc rễ, văn hóa và hiện tại đã trở thành hai quốc gia độc lập, cân bằng… Trong văn hóa Việt Nam và Trung Quốc, tre/trúc đều là biểu tượng của sự ngay thẳng, vươn lên, nghĩa khí và quân tử. 

Một hàm nghĩ khác, một cây tre/trúc uốn lượn sang hai bên là minh chứng cho câu nói “núi liền núi, sông liền sông”, che chở cho hai quốc gia, mang thông điệp hòa bình./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CẢNH BÁO THỦ ĐOẠN TINH VI ĐÁNH CẮP THÔNG TIN TRÊN CĂN CƯỚC CÔNG DÂN ĐỂ LỪA ĐẢO!

     Ngân hàng LPBank vừa có cảnh báo tình trạng làm giả và sử dụng CCCD giả với mục đích mở tài khoản ngân hàng nhằm thực hiện các hành vi lừa đảo!
Theo đó, cách thức lừa đảo của các đối tượng rất chuyên nghiệp. Chúng đăng tải bài viết trên mạng xã hội, hội nhóm với các nội dung quảng cáo dịch vụ như: Nhận làm thẻ CCCD giả... Nội dung các bài viết chủ yếu tập trung quảng cáo dịch vụ làm CCCD nhanh, giao tận nhà.

Người dân cần cảnh giác bảo vệ thông tin CCCD, tránh bị các đối tượng xấu đánh cắp để lừa đảo
Người dân cần cảnh giác bảo vệ thông tin CCCD, tránh bị các đối tượng xấu đánh cắp để lừa đảo

Tuy nhiên, thực tế là chúng nhắm vào mục đích tìm kiếm nguồn khách hàng cung cấp CCCD thật để chiếm đoạt thông tin. Ngoài ra, các đối tượng cũng tìm mua thông tin CCCD thật để thực hiện hành vi làm giả.

Sau khi có thông tin, đối tượng lừa đảo sử dụng các thủ đoạn làm giả CCCD như: Ghép ảnh chân dung, sử dụng công nghệ in, gắn miếng kim loại giả chip... rồi sử dụng CCCD giả này để đăng ký tài khoản ngân hàng qua hình thức trực tuyến nhằm thực hiện hành vi lừa đảo.

Công an TPHCM cho biết, thẻ CCCD gắn chip được Bộ Công an sản xuất theo quy trình hoàn toàn tự động khép kín, đảm bảo an ninh, an toàn tuyệt đối thông tin công dân. Các nội dung, chi tiết, ký tự, hình mẫu và chip gắn trên thẻ CCCD tuân thủ tuyệt đối quy định của pháp luật, có đặc trưng, đặc thù riêng không thể làm giả dù công nghệ có tinh vi thế nào.

Cơ quan công an và các ngân hàng khuyến cáo người dân bảo quản tốt các giấy tờ cá nhân, không tiết lộ thông tin quan trọng như CCCD, số tài khoản ngân hàng hoặc mật khẩu, không chia sẻ hình ảnh CCCD lên mạng xã hội, không cho người lạ mượn, chụp CCCD, không cho thuê, mua bán CCCD...

Ngoài ra, chỉ cài đặt ứng dụng từ nguồn chính thống trên App Store (cho hệ điều hành IOS trên Iphone) và CH Play (cho hệ điều hành Android); tuyệt đối, không cài đặt ứng dụng không rõ nguồn gốc.

Cơ quan chức năng cũng cảnh báo, việc sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng CCCD giả là hành vi vi phạm pháp luật và chắc chắn sẽ sớm bị phát hiện, xử lý nghiêm. Bởi lẽ CCCD gắn chíp giả không thể sử dụng được, vì khi đi giao dịch tại các cơ quan, đơn vị, ngân hàng... sẽ nhanh chóng bị phát hiện bằng các thiết bị kiểm tra, hoặc qua đối chiếu dữ liệu, nhận dạng người sử dụng với dữ liệu, hình ảnh lưu trong cơ sở dữ liệu. Và khi đã bị phát hiện thì sẽ lập tức bị bắt giữ và phải chịu hình phạt rất nghiêm khắc của pháp luật./.
Yêu nước ST.

MỘT KHI LÒNG TỰ TÔN DÂN TỘC BỊ CHÀ ĐẠP!

         Đó là vào khoảng năm 1939. Trường nữ sinh Đồng Khánh - Huế xôn xao khi hay tin một trong những cô học sinh giỏi văn nhất trường bị nghi ngờ quay cóp bài. Dù lý lẽ đưa ra thật quá mơ hồ là vì bài của cô xuất sắc hơn tất cả những bài kiểm tra khác, bà giáo viên người Pháp vẫn tha hồ dùng lời lẽ không mấy hay ho để miệt thị. Rồi thì mang trong mình dòng máu thực dân chính hiệu, cộng thêm đã nhỡ cho cái mồm đi quá xa, bà ta buông lời xúc phạm dân tộc ta: 
- 𝑇𝑜𝑢𝑡𝑒𝑠 𝑙𝑒𝑠 𝐴𝑛𝑛𝑎𝑚𝑖𝑡𝑒𝑠 𝑠𝑜𝑛𝑡 𝑑𝑒𝑠 𝑣𝑜𝑙𝑒𝑢𝑟𝑠!
(DÂN AN NAM CÁC CÔ ĐỀU LÀ QUÂN ĂN CẮP)

Hai nỗi uất hận đã lập tức trào dâng rồi hoà cùng làm một trong người cô nữ sinh. Đó là nỗi uất hận bị sỉ nhục khi cô đường đường là hạng nhất học sinh giỏi văn toàn quốc vào năm 1937 với số điểm tuyệt đối 20/20, được nhà vua đích thân trao thưởng một xấp vải đẹp, một chiếc đàn banjolin và một cuốn Larousse Ménager. Thậm chí ngay trong thời điểm ấy, cô còn đang là một nhà thơ mới nổi với bài Chiếc nón Huế. Nhưng to lớn hơn cả là nỗi căm thù vô tận khi niềm tự tôn dân tộc bị chà đạp. Không thể chấp nhận được, cô hùng hồn, đứng phắt dậy, đáp trả lại bà giáo bằng tiếng Pháp luôn:
- TRÊN THẾ GIỚI NÀY, DÂN TỘC NÀO CŨNG CÓ NGƯỜI LƯƠNG THIỆN, CÓ KẺ ĂN CẮP. TÔI CŨNG CÔNG NHẬN NGƯỜI PHÁP NHƯ CÁC BÀ ĐÂY KHÔNG AI ĂN CẮP, VÌ CÁC VỊ ĐÃ BÓC LỘT CHÚNG TÔI TẬN XƯƠNG TUỶ, ĐÃ GIÀU CÓ TỘT CÙNG RỒI! ĐỐI VỚI CHÚNG TÔI THÌ TẤT CẢ NHỮNG NGƯỜI PHÁP SANG XÂM CHIẾM TÀN BẠO ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM ĐỀU LÀ QUÂN ĂN CƯỚP!

Lời lẽ sâu cay tới mức không chỉ khiến bà giáo Pháp giận tím mặt mà còn làm cho cả lớp, cả trường Đồng Khánh rồi cả Kinh thành Huế chấn động. Không ai có thể tin được tiểu thư con quan Phủ doãn Thừa Thiên Nguyễn Khắc Niêm lại cả gan nói những lời như vậy với “Mẫu quốc” Pháp. Không dừng lại tại đó, mặc cho hiệu trưởng trường Đồng Khánh khuyên nên xin lỗi, cô vẫn một mực không chịu. Cuối cùng, cô nữ sinh đó phải lãnh “án”: 
“.. bị đuổi khỏi trường... bị cấm thi 3 năm vì có tư tưởng phản nghịch”.

Đây vốn giống như là án “tù chung thân” của một cô học trò học giỏi, ham học. Thế nhưng cô cũng không hề sợ hãi, nhún nhường. Cô kiên quyết khước từ môi trường học tập thực dân. Phải đến khi đã gần 35 tuổi, người Pháp bị đánh đuổi khỏi Việt Nam, cô mới ra Hà Nội để học làm dược tá.
Và cô nữ sinh ngày ấy tên là Nguyễn Thị Thiếu Anh!
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐỔI MỚI CÔNG TÁC THI ĐUA, KHEN THƯỞNG TRONG QUÂN ĐỘI!

     Sáng 15-12, tại Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Ban Thi đua khen thưởng (TĐ, KT) Trung ương tổ chức Tọa đàm khoa học "Đổi mới công tác TĐ, KT tại Bộ Quốc phòng”.

Đồng chủ trì tọa đàm có các đồng chí: Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam; PGS, TS Hoàng Phúc Lâm, Phó giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; TS Phạm Huy Giang, Trưởng ban TĐKT Trung ương. Đại diện Báo Quân đội nhân dân dự tọa đàm có Đại tá Nguyễn Hồng Hải, Phó tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân.

Phát biểu tại tọa đàm, Thượng tướng Trịnh Văn Quyết cho biết: Quán triệt, triển khai thực hiện Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 7-4-2014 của Bộ Chính trị; Thường vụ Quân ủy Trung ương đã ban hành Chỉ thị số 507/CT-QUTW ngày 28-7-2014 "Về tiếp tục đổi mới công tác TĐ, KT trong QĐND Việt Nam", Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam cũng đã ban hành các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo cụ thể, tạo cơ sở pháp lý cho việc đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác TĐ, KT trong Quân đội. Việc đổi mới này được tiến hành đồng bộ, chặt chẽ ở các khâu, các bước, các cấp, các ngành, các tổ chức, cơ quan, đơn vị, các mặt hoạt động, các lĩnh vực công tác.

Thông qua đó đã tạo sự tiến bộ mạnh mẽ, đồng đều, vững chắc của từng cơ quan, đơn vị và toàn quân, đặc biệt là trong xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện "Mẫu mực, tiêu biểu", thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ "Đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất", huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao, chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Tại buổi tọa đàm, các đại biểu trao đổi, chia sẻ những nội dung thiết thực, giải pháp hiệu quả để TĐ, KT thực sự trở thành động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành nhiệm vụ. Bên cạnh đó, nhiều ý kiến tập trung vào đề xuất các giải pháp và kiến nghị ban hành chỉ thị, chủ trương mới của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh công tác TĐ, KT trong giai đoạn hiện nay, với giải pháp tập trung vào: Các cấp ủy, tổ chức Đảng phải lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt vai trò nêu gương trong tổ chức các phong trào thi đua và chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả công tác TĐ, KT; văn hóa trong thực hiện TĐ, KT; kiểm soát quyền lực trong công tác TĐ, KT; đổi mới công tác tuyên truyền gương điển hình tiên tiến; ứng dụng công nghệ thông tin để đưa công tác TĐ, KT ngày càng “gần dân” hơn nữa thông qua việc tổ chức học tập về TĐ, KT trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo quản lý cao cấp và trung cấp. Tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa tiêu cực trong công tác TĐ, KT, tránh tình trạng khen thưởng tràn lan, không thực chất; làm tốt công tác tổ chức, quán triệt, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về TĐ, KT, làm chuyển biến nhận thức của cán bộ, đảng viên về vai trò, vị trí và tầm quan trọng của công tác TĐ, KT.

Đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức phong trào thi đua. Tập trung về cơ sở, bám sát nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách để tổ chức phát động với các hình thức thi đua phong phú, hấp dẫn, có chủ đề, tên gọi dễ nhớ, có tiêu chí cụ thể, nội dung thiết thực, triển khai có hiệu quả, chống hình thức. Thực hiện nghiêm túc việc đôn đốc, kiểm tra, sơ kết, tổng kết các phong trào thi đua, lựa chọn các tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu để biểu dương, tôn vinh, khen thưởng kịp thời; kịp thời phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết, nhân rộng điển hình tiên tiến…
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THƯỢNG TƯỚNG LÊ HUY VỊNH "TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TRONG BỘ QUỐC PHÒNG"!

         Thực hiện Kết luận của Ban chỉ đạo Cải cách hành chính (CCHC) của Chính phủ tại phiên họp thứ 6, Thượng tướng Lê Huy Vịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó trưởng ban Thường trực Ban chỉ đạo CCHC và chuyển đổi số Bộ Quốc phòng vừa có chỉ đạo, yêu cầu các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện toàn diện, đồng bộ 6 nội dung CCHC ở cơ quan, đơn vị.

Thượng tướng Lê Huy Vịnh yêu cầu cấp trưởng các cơ quan, đơn vị là trưởng ban chỉ đạo CCHC và chuyển đổi số, trực tiếp chỉ đạo công tác CCHC, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và văn bản quy phạm nội bộ, cải cách thủ tục hành chính của cơ quan, đơn vị mình. Đồng thời, các cơ quan, đơn vị cần tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ ở tất cả các cấp; tuyệt đối không được né tránh, đùn đẩy trách nhiệm.

Các cơ quan, đơn vị chưa hoàn thành nhiệm vụ chủ trì xây dựng, trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2023 của Bộ Quốc phòng khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, thủ tục trình ban hành theo đúng quy định pháp luật, bảo đảm tiến độ, chất lượng. Đồng thời, tiếp tục rà soát, đơn giản hóa quy trình, thủ tục hành chính nội bộ để đẩy nhanh tiến độ giải quyết công việc; có giải pháp tăng cường nguồn nhân lực cho công tác CCHC và chuyển đổi số ở cơ quan, đơn vị bảo đảm phù hợp, hiệu quả.

Thượng tướng Lê Huy Vịnh giao Văn phòng Bộ Quốc phòng theo dõi, đôn đốc các cơ quan, đơn vị tiếp tục thực hiện bảo đảm tiến độ, chất lượng các nhiệm vụ được giao về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh và rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính nội bộ theo kế hoạch, chỉ đạo của Bộ Quốc phòng. Nghiên cứu, đề xuất và phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan đẩy mạnh thực hiện các giải pháp cải cách và nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công phục vụ người dân, doanh nghiệp…


Yêu nước ST.

LUÔN GIỮ VỮNG MẠCH SỐNG, “LINH HỒN” CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

 

Trong những năm qua các thế lực thù địch sử dụng chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, tiến hành nhiều thủ đoạn, nhiều hướng tấn công theo phương châm đánh “mềm, ngầm, sâu” trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và tác động đến mọi đối tượng bằng con đường kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm suy yếu nội bộ của chúng ta. Trong đó, các thế lực thù địch thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, với luận điểm kích động: “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội".  

Quân đội ta từ Nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, phục vụ. Cội nguồn hàng đầu làm nên sức mạnh, sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta trong gần 8 thập niên qua là do sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của QĐND Việt Nam. Vì vậy, việc thấm nhuần và thực hiện mục tiêu, lý tưởng “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” phải được xác định là mạch sống và “linh hồn” của QĐND Việt Nam, là phương châm hành động của mọi cán bộ, chiến sĩ. Việc cần làm thường xuyên, bất di bất dịch là giữ vững, tăng cường vai trò lãnh đạo và kiên định với mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, kiên quyết phản bác, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch. Đánh giá của Đảng ta về nguy cơ: “Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”. Vì thế, trong mọi hoàn cảnh, chúng ta phải tuân thủ triệt để cơ chế, nguyên tắc lãnh đạo lực lượng vũ trang là: “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với QĐND, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh”. Bởi vì, có Đảng lãnh đạo mới có đường lối đúng, mới thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng. Đối với LLVT thì còn Đảng là còn tất cả; nếu Đảng ta không còn giữ quyền lãnh đạo xã hội, giữ quyền lãnh đạo LLVT thì sẽ mất chế độ XHCN.

Để vô hiệu hóa âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch làm biến chất về chính trị Quân đội ta, cần tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, nhiều lực lượng xã hội. Trong đó, cần phát huy vai trò chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của Quân ủy Trung ương, Ban chỉ đạo 35, cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng đối với các cấp ủy đảng trực thuộc, thường xuyên nắm chắc và nhận diện đúng bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm vô hiệu hóa Quân đội ta về chính trị. Nâng cao tính khoa học trong tổ chức hoạt động đấu tranh làm thất bại luận điểm sai trái “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của các thế lực thù địch. Về lý luận, phải chỉ rõ quân đội ra đời gắn liền với sự ra đời của nhà nước do yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp, nên bất cứ quân đội nào cũng mang bản chất và phục vụ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của giai cấp sinh ra.

Vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, ngay từ năm 1930, trong “Chánh cương vắn tắt” của Đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã yêu cầu phải “Tổ chức ra quân đội công nông”. Vì thế, trong suốt quá trình tổ chức xây dựng, lãnh đạo, giáo dục Quân đội ta, Người luôn nhắc nhở: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”. Do đó, “Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội. Phải tăng cường giáo dục chính trị để nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho toàn quân”. Đảng ta đã nhấn mạnh rằng: “Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc”. Các thế lực thù địch sử dụng đòn đánh nguy hiểm làm suy yếu nội bộ Quân đội ta về chính trị thì chúng ta phải có giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, mà trực tiếp là giáo dục sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta. Nội dung giáo dục chính trị nói chung, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta nói riêng ở mỗi đơn vị phải phù hợp với mỗi đối tượng quân nhân, bảo đảm những nội hàm của mục tiêu “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” trong mỗi giai đoạn cụ thể, đặc biệt bám sát tinh thần mới mà Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra. Bên cạnh đó, cần thực hiện tốt công tác quản lý chính trị nội bộ, ngăn chặn và làm thất bại các hoạt động chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch. Chú trọng công tác dân vận, kết hợp với cấp ủy, chính quyền và các tổ chức chính trị-xã hội ở địa phương nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đấu tranh phản bác, vạch trần các luận điểm sai trái, phản động trên lĩnh vực tư tưởng chính trị.

Từ khi được thành lập đến nay, QĐND Việt Nam nguyện mãi mãi là lực lượng chính trị trung thành với mục tiêu, lý tưởng “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì thế, không có bất kỳ một thế lực thù địch nào có thể làm thay đổi bản chất, mục tiêu chính trị của QĐND Việt Nam-một quân đội "nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". Trong giai đoạn hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội ta nỗ lực phấn đấu thực sự là đội quân chiến đấu tinh nhuệ, lực lượng chính trị tin cậy cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, phấn đấu vì "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"./.

                                                                                               VHT.


CHỦ ĐỘNG XÂY DỰNG “PHÒNG TUYẾN” NGĂN NGỪA VĂN HÓA XẤU ĐỘC XÂM NHẬP VÀO MÔI TRƯỜNG QUÂN ĐỘI

 

Quân đội là trường học lớn, nơi giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ cả về lý tưởng, phẩm chất, năng lực, lối sống tốt đẹp. Vì vậy, không thể để cho sự tồn tại của sản phẩm văn hóa xấu độc xuất hiện trong môi trường văn hóa quân sự. Để phòng, ngăn ngừa chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa xấu độc vào môi trường Quân đội hiện nay, trước hết, các đơn vị cần tăng cường giáo dục, bồi đắp giá trị văn hóa làm chuyển biến từ nhận thức tới hành động cho cán bộ, chiến sĩ. Quán triệt Nghị quyết của Đảng về: “Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam. Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ”, các đơn vị cần tập trung giáo dục lòng tự hào, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc và truyền thống lịch sử vẻ vang của Quân đội, bồi đắp phẩm chất cao đẹp của người quân nhân cách mạng. Cùng với đó, cần đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, đấu tranh phê phán những biểu hiện lệch chuẩn, những thói hư tật xấu nảy sinh trong một bộ phận quân nhân.

Việc phải chú trọng hiện nay là các đơn vị tạo ra bước đột phá trong thực hiện Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”. Cấp ủy, chỉ huy các cấp tăng cường lãnh đạo công tác tư tưởng, giáo dục chính trị, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ tiếp tục phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Chú trọng đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng phù hợp với từng nhóm đối tượng cụ thể; đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, quân nhân trên từng lĩnh vực công tác; cổ vũ, động viên những cách làm hay, gương người tốt, việc tốt trong giữ gìn, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ.

Tiếp tục thực hiện hiệu quả Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong Quân đội”, đây vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp hữu hiệu để ngăn ngừa sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa xấu độc, thực hiện phương châm kết hợp giữa “xây” và “chống”, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Để cuộc vận động đi vào chiều sâu, cần tập trung xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần lành mạnh, phong phú; hướng mọi hoạt động của cán bộ, chiến sĩ tới những chuẩn mực giá trị văn hóa trong môi trường quân sự. Xây dựng các quan hệ văn hóa tốt đẹp, trong đó coi trọng các giá trị đạo đức, làm nền tảng vững chắc cho thực hành đạo đức, thực hành văn hóa chính trị của cán bộ, chiến sĩ, mà cốt lõi là quan hệ cấp trên-cấp dưới, quan hệ đồng chí, đồng đội. Tích cực xây dựng cảnh quan môi trường văn hóa hài hòa, thân thiện, tạo nên cả diện mạo cũng như chiều sâu của đơn vị chính quy, vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”; tổ chức tốt các hoạt động văn hóa lành mạnh, phong phú, đáp ứng nhu cầu sáng tạo, tiếp nhận, hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của bộ đội. Nêu gương về văn hóa của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp có tác dụng lan tỏa rất lớn trong giáo dục, định hướng giá trị văn hóa nhân cách của cán bộ, chiến sĩ. Nhận rõ vai trò của nêu gương trong lãnh đạo, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền". Bởi vậy, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần thực hiện nghiêm về: “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016 về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ chủ trì, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải không ngừng học tập và thực hành đạo đức cách mạng, đi trước, làm gương cho quần chúng về đạo đức, bản lĩnh, phong cách và tinh thần trách nhiệm cao cả đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tạo sự lan tỏa các giá trị văn hóa tốt đẹp thẩm thấu vào nhân cách bộ đội.

Trong giai đoạn hiện nay, các đơn vị cần chủ động phối hợp với địa phương trong phòng, chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa xấu độc. Đây là giải pháp nhằm ngăn ngừa những tác động tiêu cực từ bên ngoài, kịp thời phát hiện, xử lý các sản phẩm văn hóa xấu độc vào đơn vị. Trên cơ sở tiêu chí chung, các đơn vị cần cụ thể hóa và xây dựng tiêu chí, chuẩn mực đạo đức về văn hóa công vụ cho đơn vị, gắn kết giữa đề cao văn hóa, đạo đức với tuân thủ pháp luật, kỷ luật cho mọi quân nhân. Thực hiện tốt các quy chế, quy định trong giáo dục chính trị, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và các chế độ, quy định của đơn vị, nhất là quy định về tham gia mạng xã hội của quân nhân, giáo dục bộ đội không truy cập trang tin xấu độc, không tán đồng, ủng hộ quan điểm, luận điệu tiêu cực, sai trái trên các trang mạng xã hội. Phòng, chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa xấu độc vào đơn vị Quân đội hiện nay là góp phần lưu giữ và nhân lên giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới, qua đó góp phần “phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” mà Đảng, Nhà nước ta đã xác định./.

                                                                                             VHT.


SỰ NHAM HIỂM CỦA NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHÍNH SÁCH NHẤT QUÁN CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA VỀ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM


Thời gian qua, lợi dụng những diễn biến phức tạp trên Biển Đông, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thông qua nhiều âm mưu nham hiểm nhằm xuyên tạc, phủ nhận đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam. Biển là không gian chiến lược mở, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đường lối, chiến lược và tương lai phát triển của đất nước. Biển Đông là “bản lề” nối liền Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, là nơi hội tụ lợi ích chiến lược và thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhiều quốc gia trong và ngoài khu vực, nhất là các nước lớn. Về mặt tiềm năng phát triển, Biển Đông có nhiều lợi thế. Nơi đây đã và đang trở thành tâm điểm của sự cạnh tranh lợi ích, quyền lực và tầm ảnh hưởng của các nước lớn, được các chuyên gia quân sự ví như vùng “chảo lửa” trên bàn cờ chính trị của khu vực với nhiều diễn biến phức tạp, nhạy cảm.

Lợi dụng tình hình phức tạp trên Biển Đông, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị khai thác triệt để, biến tấu thành nhiều bài viết, hình ảnh, video nhằm bịa đặt tình hình, bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta trong công tác quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo; lợi dụng các trang mạng xã hội để lan truyền, tán phát thông tin, gây tâm lý hoang mang, bất ổn, chia rẽ đoàn kết trong nước và quốc tế. Với những nội dung xuyên tạc xảo trá, họ thường lặp đi lặp lại luận điệu cũ rích rằng: “Cộng sản Việt Nam làm ngơ về vấn đề chủ quyền trên Biển Đông”; Đảng, Nhà nước Việt Nam im lặng vì đã thỏa hiệp với nước lớn, không cung cấp đầy đủ thông tin về tình hình Biển Đông, không có giải pháp đủ mạnh để bảo vệ chủ quyền biển, đảo... Những thông tin xuyên tạc này ít nhiều đã tác động tiêu cực tới nhận thức, tư tưởng, tình cảm, niềm tin của một bộ phận nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta.

Chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, vùng trời, vùng biển và các hải đảo. Quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là kiên quyết, kiên trì đấu tranh quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không trên các vùng biển, đảo quốc gia. Sinh thời, khi đến thăm cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”.

Trong những năm qua, Đảng ta luôn coi trọng nhiệm vụ phát triển mạnh kinh tế-xã hội, bảo vệ và làm chủ vùng biển của Tổ quốc. Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9-2-2007 “Về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, trong đó xác định: “Phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo”. Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22-10-2018 “Về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” đã xác định: “Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ”. Tại Đại hội XIII (năm 2021), Đảng ta một lần nữa khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển”.

Như vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của biển, đảo là một bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng không thể tách rời, bất khả xâm phạm của Tổ quốc. Bảo vệ Tổ quốc nói chung, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền, bảo đảm an ninh, an toàn và lợi ích quốc gia-dân tộc trên các vùng biển, đảo nói riêng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quá trình hoạch định và triển khai thực hiện đường lối bảo vệ chủ quyền biển, đảo luôn giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, kết hợp chặt chẽ với sức mạnh thời đại và tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để phát triển kinh tế biển gắn với quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo quốc gia./.

                                                                                           VHT.


TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG PHÒNG CHỐNG CÁC ĐÒN ĐÁNH NHAM HIỂM NHẰM LÀM SUY YẾU QUÂN ĐỘI TỪ GỐC

 

Trong thời gian vừa qua, các thế lực thù địch xác định tiến hành nhiều thủ đoạn tinh vi, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, theo lộ trình “5 hóa”, trong đó có “vô hiệu hóa quân đội”. Bởi lẽ, các thế lực thù địch đưa ra nhận định rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đang nắm chắc quân đội, công an nên chưa thể lật đổ được vai trò cầm quyền, vai trò lãnh đạo xã hội”. Vì thế, chúng xác định âm mưu cơ bản, lâu dài là thực hiện “vô hiệu hóa quân đội” thì phải theo kịch bản, con đường “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam. Khi đó quân đội không còn là lực lượng chính trị tin cậy, tách rời khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì sẽ không còn công cụ đắc lực để bảo vệ Đảng nên dễ lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam.

Mục đích phản động của luận điệu nêu trên là làm cho cán bộ, chiến sĩ mơ hồ ảo tưởng, rồi dần dần xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta, không trung thành với mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam là “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Nếu quân nhân nào bị ảo tưởng, nhận thức không đúng về mục tiêu, lý tưởng của Quân đội ta phải phục tùng mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam thì sẽ mất phương hướng chính trị. Để thực hiện thủ đoạn lấy tư tưởng là khâu đột phá, các thế lực thù địch đưa ra những luận điểm rất đa dạng và biến hóa: “Quân đội là trung lập”, “quân đội đứng ngoài chính trị”, “quân đội không cần tham gia chính trị”, “quân đội chỉ cần đề cao tính nhân dân, tính dân tộc”... Bên cạnh đó, chúng còn sử dụng con đường vòng là kích động truyền bá lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, buông thả, thờ ơ với chính trị để làm suy thoái về đạo đức lối sống dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị và phai nhạt về mục tiêu, lý tưởng trong đội ngũ cán bộ, chiến sĩ.

Chưa dừng lại ở đó, các thế lực thù địch, bất mãn chính trị từng đưa ra cái gọi là kiến nghị rằng: Lời thề thứ nhất trong "10 Lời thề danh dự của quân nhân" chỉ cần diễn đạt ngắn gọn lại là “Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam”, bỏ cụm từ “dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam” và cụm từ “phấn đấu thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”... Chúng cũng đưa ra đề xuất "quân đội chỉ cần thực hiện “công tác chính trị”, chứ không cần thực hiện “công tác đảng” và không cần xác định "Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội". Nếu đội ngũ cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội không có bản lĩnh chính trị vững vàng, phân biệt rõ đúng, sai mà lại bị kích động và nhận thức không đúng đắn về sự thống nhất giữa mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam với mục tiêu chiến đấu của Quân đội ta thì tác hại rất lớn. Tác hại là không chỉ gây mơ hồ, ảo tưởng về nhận thức tư tưởng chính trị mà sẽ dẫn đến hành động dễ bị lệch lạc trong thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn cách mạng hiện nay. /.

                                                                                                    VHT.


LUÔN CẢNH GIÁC TRƯỚC LUẬN ĐIỆU “TỰ DO HỌC THUẬT” PHI GIAI CẤP

 

Đổi mới giáo dục theo hướng phát triển toàn diện con người Việt Nam, phát huy tối đa tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, làm nền tảng cho mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, đất nước phồn vinh và hạnh phúc là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong thời kỳ mới của Đảng ta. Tuy nhiên, những năm gần đây, lợi dụng việc đổi mới trong giáo dục của ta, các thế lực thù địch, phản động tung ra luận điệu “thúc đẩy tự do học thuật” nhằm tách giáo dục ra khỏi chính trị, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.

Theo nhiều học giả phương Tây, “tự do học thuật” được hiểu là “tự do của một người trong việc giảng dạy và nghiên cứu nhằm tìm kiếm sự thật không giới hạn mà không gặp phải nỗi sợ hãi về hình phạt hay mất việc vì đã xâm phạm một quan điểm chính thống về chính trị, tôn giáo hay xã hội”; hay “Tự do học thuật là sự tự do của người dạy và người học trong việc dạy, học, tìm hiểu kiến thức và nghiên cứu mà không có sự can thiệp hay giới hạn vô lý của pháp luật, nội quy hay áp lực công cộng”. Những quan điểm đó đang được các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chống phá cách mạng Việt Nam cổ xúy, tung hô. Cùng với đó, họ tổ chức “hội thảo khoa học” bàn về vấn đề này và kêu gọi học sinh, sinh viên Việt Nam đấu tranh cho cái gọi là “đòi quyền tự do học thuật”.

Theo những quan điểm trên thì giáo dục phải đứng ngoài chính trị, nhà nước và giai cấp cầm quyền không được quy định về nội dung giáo dục hay truyền bá, lồng ghép tư tưởng chính trị của mình vào việc đào tạo ra những thế hệ chủ nhân tương lai để bảo vệ quyền và lợi ích của chính giai cấp họ. Tuy nhiên, quan điểm “tự do học thuật” theo ý nghĩa trên chưa bao giờ tồn tại trong xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp. Kể từ khi chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất ra đời, giai cấp chủ nô đã xem giáo dục là công cụ để thực hiện mục đích chính trị và bảo vệ nền chính trị, họ đã lợi dụng những tôn giáo có tầm ảnh hưởng lớn để thâu tóm quyền lực, lợi dụng kinh thánh, giáo lý của các tôn giáo này để mị dân, ru ngủ, thủ tiêu tinh thần, ý chí phản kháng của quần chúng nhân dân nhằm bảo vệ quyền lợi cho giai cấp mình.

Sang thời kỳ phong kiến, tầng lớp vua quan, quý tộc, địa chủ đã tìm mọi cách để nhồi nhét vào đầu óc của quần chúng nhân dân tư tưởng “trung quân” (trung với vua); trong dạy học và giáo dục thì coi trọng truyền bá cho người học những tư tưởng xem vua là thiên tử, “lệnh vua là mệnh trời”, “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”. Trong thời kỳ tư bản chủ nghĩa, sau khi lợi dụng được quần chúng nhân dân lật đổ chế độ phong kiến, giai cấp tư sản lại một lần nữa ra sức lợi dụng kinh thánh, giáo lý của những tôn giáo lớn hoặc thông qua nền giáo dục tư bản chủ nghĩa để truyền bá những tư tưởng tư sản. Bên cạnh đó, họ còn tung ra những chiêu bài với cái gọi là “tự do”, “dân chủ” theo kiểu hỗn độn trong một khuôn khổ nhất định, khuyến khích lối sống không quan tâm đến xã hội để dễ quản lý và bóc lột.

Nhận thức đúng quan điểm Mác-xít về vai trò to lớn của giáo dục. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, quán triệt quan điểm của C.Mác: “Lý luận cũng có thể trở thành lực lượng vật chất một khi nó thâm nhập vào quần chúng”, những người cộng sản đã làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong phong trào công nhân thế giới, tạo nên một sức mạnh góp phần lật đổ ách thống trị của phong kiến, đế quốc, thực dân. Thực tiễn đã chứng minh rằng, nếu muốn cầm quyền, đảng chính trị (chính đảng) nhất thiết phải có một nền tảng tư tưởng riêng, không được tách rời và cần phải ra sức truyền bá nền tảng tư tưởng đó vào lực lượng quần chúng của mình, trừ khi muốn biến nó thành một đảng hay một tổ chức khác. V.I.Lênin đã khẳng định: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”, “Chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong”.

Vận dụng trung thành và sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vị trí, vai trò vô cùng to lớn của giáo dục. Người chỉ rõ nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục vì con người, có vai trò huấn luyện, bồi dưỡng, phát triển toàn diện con người Việt Nam mới xã hội chủ nghĩa. Nhiệm vụ của nền giáo dục là “phải phục tùng đường lối chính trị của Đảng và Chính phủ, gắn liền với sản xuất và đời sống của nhân dân. Học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế”./.

                                                                                            VHT.


 

Nội hàm của hợp tác 'Cộng đồng chia sẻ tương lai 

Việt Nam - Trung Quốc

Theo người phát ngôn Bộ Ngoại giao, hợp tác 'Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam-Trung Quốc' là tương lai chung mà hai bên chia sẻ và hướng đến phù hợp với lợi ích hai nước, góp phần vào xu hướng hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển.

Chiều 14/12, tại họp báo thường kỳ, một số cơ quan báo chí đặt câu hỏi với người phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng về Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc nhân chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình; đặc biệt là nội hàm của việc hai bên nhất trí xây dựng 'Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc'.  

Người phát ngôn Phạm Thu Hằng cho biết, sau 15 năm kể từ khi xác lập quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, quan hệ hai Đảng, hai nước Việt Nam - Trung Quốc không ngừng được mở rộng và đi vào chiều sâu; hợp tác trên các lĩnh vực đạt nhiều tiến triển tích cực và toàn diện.

 

Bản sắc không thể mập mờ, lịch sử không thể xuyên tạc

Thời gian gần đây, bám vào một số sự kiện văn hóa, văn học nghệ thuật (VHNT) gây ồn ào trên không gian mạng, nhiều phương tiện truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại và các tài khoản cá nhân trên mạng xã hội có tư tưởng thù địch ra sức cổ xúy cho cái gọi là “nói khác”, “nói ngược”...

 

“Voi chui lỗ kim” làm mất niềm tin nghiêm trọng

“Con voi chui lọt lỗ kim” là câu ta thán của không ít người dân, nhất là ở những cơ quan, đơn vị, địa phương có cán bộ, công chức (hoặc người thân quen của cán bộ, công chức) ngang nhiên vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước mà các cơ quan chức năng “không biết”, không xử lý.

Suy cho cùng, những vụ việc kiểu “con voi chui lọt lỗ kim” chính là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân giảm sút niềm tin vào Đảng, Nhà nước; là nguy cơ xuất hiện các biểu hiện "tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

NGĂN CHẶN CHIÊU TRÒ LỢI DỤNG GÓP Ý DỰ THẢO ĐẠI HỘI ĐẢNG ĐỂ CHỐNG PHÁ

 


Trong lãnh đạo, chỉ đạo chuẩn bị đại hội đảng các cấp, nhất là Đại hội XIII của Đảng, một trong những nội dung quan trọng được Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương nhấn mạnh đó là, phải chủ động phòng ngừa, cảnh giác, ngăn chặn, đấu tranh, không để tác động, chi phối bởi những thông tin không chính thức, thông tin giả, xấu độc, bịa đặt, xuyên tạc trên internet, mạng xã hội… Đặc biệt trong việc tổ chức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân đóng góp ý kiến xây dựng dự thảo các văn kiện đại hội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhiều lần yêu cầu cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể cần nêu cao tinh thần cảnh giác, ý thức tự “đề kháng”, năng lực phản bác của nhân dân trong cuộc đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn, luận điệu sai trái nhằm phá hoại đại hội đảng của các thế lực thù địch...

Trên thực tế có một số phần tử cơ hội chính trị, được các thế lực thù địch, phản động hà hơi, tiếp sức, lợi dụng công việc hệ trọng này để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Chúng cho rằng thời điểm diễn ra đại hội đảng các cấp, nhất là Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII là thời cơ cần lợi dụng tối đa để chống phá. Thông qua mạng xã hội, các trang web của bọn phản động lưu vong, một số báo mạng xưa nay vốn thiếu thiện chí với Việt Nam ở hải ngoại, chúng ra sức tuyên truyền xuyên tạc, tác động nhằm "nắn dòng dư luận" tiến tới mục tiêu làm chệch hướng đường lối, chủ trương của Đảng ta theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Những quan điểm sai trái, những luận điệu xuyên tạc, phản động ấy không chỉ là “lời nói gió bay” mà còn được họ soạn thảo thành những tài liệu mạo danh, nặc danh dài hàng trăm trang chứa đựng thông tin xấu độc... rồi tán phát trên một số trang mạng. Bằng những thủ đoạn rất tinh vi, các thế lực thù địch, phản động còn móc nối, lôi kéo và dùng chính những phần tử thoái hóa, biến chất ngay trong nội bộ ta lợi dụng việc đóng góp vào dự thảo các văn kiện đại hội đảng để xuyên tạc sự thật, công kích, chống phá ta, dưới nhiều hình thức như: “Thư ngỏ”, “thư trao đổi”; “thư góp ý”… Nội dung mà chúng tập trung là xuyên tạc tình hình đất nước; làm lu mờ những thành quả cách mạng, thổi phồng những tồn tại, hạn chế trong phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh... của đất nước, rồi quy kết đổ lỗi nguyên nhân của những hạn chế ấy là do thể chế chính trị, sự yếu kém trong thực hiện vai trò lãnh đạo, từ đó làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào Đảng ta; xuyên tạc, bịa đặt những thông tin liên quan đến công tác nhân sự đại hội;... Chúng cho rằng đại hội lần này là thời cơ để Việt Nam đổi mới thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Chúng lập luận rằng nếu Việt Nam vẫn chỉ có độc nhất một đảng lãnh đạo thì không thể nói tới một nền dân chủ chân chính... Nhìn vào những bản góp ý được chuẩn bị công phu, lập luận không kém phần logic với những câu từ được trau chuốt bóng bẩy ấy, nếu ai đó non kém về nhận thức chính trị, sẽ rất dễ lầm tưởng và cho đấy là sự góp ý trách nhiệm, tâm huyết. Nhưng thực chất đó là những luận điệu hết sức sai trái và cực kỳ nguy hiểm. Mục tiêu của những giọng điệu ấy vẫn không gì khác là hòng đánh lừa dư luận, lôi kéo những người thiếu bản lĩnh, nhẹ dạ, cả tin theo ý đồ chính trị của chúng, sâu xa hơn là phủ nhận tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ chế độ XHCN mà nhân dân ta đang dày công xây dựng. Cách thức thể hiện những nội dung ấy cũng không có gì mới, có chăng chỉ là sự thay đổi cách diễn đạt bằng những “xảo ngữ”, ngôn từ hoa mỹ, bóng bẩy nhằm tăng thêm độ tinh vi, thâm hiểm trong mưu đồ chống phá để dễ bề đánh lừa dư luận...

Nhưng mọi âm mưu, thủ đoạn thâm độc ấy đã và đang bị vô hiệu hóa, bởi cùng với phát huy dân chủ, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc, luôn tỉnh táo, đề cao cảnh giác, không mơ hồ, ảo tưởng trước mọi chiêu trò chống phá. Cần khẳng định rằng mở rộng dân chủ, phát huy trí tuệ, tâm huyết, sự sáng tạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên, các tầng lớp nhân dân góp ý xây dựng dự thảo các văn kiện của Đảng, là chủ trương đúng đắn và là việc làm cụ thể khẳng định bản chất của chế độ ta. Phát huy dân chủ, huy động sức sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân cũng là bài học kinh nghiệm quý báu rút ra từ thực tiễn quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta. Phát huy dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với tinh thần ấy, Đảng ta xác định tổ chức lấy ý kiến xây dựng dự thảo văn kiện đại hội đảng các cấp, đặc biệt là Đại hội XIII của Đảng là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; là công việc rất hệ trọng, mang tính quyết định đến tương lai phát triển của đất nước.

Đứng trước những thủ đoạn đó, các tổ chức trong Quân đội bằng các biện pháp nghiệp vụ, nhất là những biện pháp kỹ thuật công nghệ, các lực lượng chức năng chuyên môn cần chủ động phát hiện những nội dung xấu độc trên mạng xã hội, những trang mạng tán phát thông tin, tài liệu xấu độc, mạo danh, nặc danh, lợi dụng việc góp ý xây dựng dự thảo các văn kiện đại hội đảng để xuyên tạc, công kích, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Từ đó tổ chức đấu tranh ngăn chặn và phát hiện kịp thời, không để thâm nhập vào trong đơn vị.

Đối với mỗi cán bộ, đảng viên và từng quân nhân, khi tiếp cận với những thông tin, tài liệu tán phát trên mạng cần phải tỉnh táo nhận diện đâu là thông tin tốt, đâu là thông tin xấu, đâu là thông tin có cơ sở, đâu là thông tin xuyên tạc, bịa đặt; tránh bị cuốn theo những giọng điệu mỹ miều, xảo trá của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội mà dẫn tới tư tưởng hoài nghi, hoang mang, dao động, suy giảm niềm tin với Đảng và chế độ./.