Thứ Bảy, 16 tháng 12, 2023

Mấy vấn đề về tự phê bình và phê bình trong công tác kiểm tra, kỷ luật Đảng

Tự phê bình và phê bình vừa là nguyên tắc, vừa là vũ khí sắc bén trong công tác xây dựng Đảng nói chung và công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng nói riêng, giúp Đảng ta phát huy ưu điểm, khắc phục những thiếu sót, khuyết điểm.

Tự phê bình và phê bình là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng

Tự phê bình và phê bình được tiến hành trên tất cả các mặt công tác xây dựng Đảng, trong đó có công tác kiểm tra và kỷ luật. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Kiểm tra phải dùng cách thức thật thà tự phê bình và phê bình, để tỏ rõ hết mọi khuyết điểm và tìm cách sửa chữa những khuyết điểm ấy. Như thế, thì cán bộ càng thêm trọng kỷ luật và lòng phụ trách”(1).

Trong những năm qua, cùng với những thành tựu quan trọng mà nhân dân ta đã giành được, Đảng ta có bước trưởng thành mới về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đa số cán bộ, đảng viên giữ được phẩm chất cách mạng, luôn nêu cao tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình, xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch và vững mạnh. Nhưng cũng phải nghiêm túc thấy rằng, một số tổ chức đảng và một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay đang có những biểu hiện giảm sút ý chí chiến đấu, vi phạm các nguyên tắc của Đảng, mất đoàn kết nội bộ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống để chủ nghĩa cá nhân, thực dụng, ích kỷ, vụ lợi phát triển. Trong khi đó công tác kiểm tra chưa nghiêm túc, không thường xuyên, đã ảnh hưởng không tốt tới vai trò và uy tín của Đảng.

Hiện nay, tự phê bình và phê bình đang bị xem nhẹ ở nhiều tổ chức đảng. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã chỉ ra nhiều nguyên nhân dẫn đến những yếu kém, khuyết điểm của đảng viên và tổ chức đảng trong thời gian qua, trong đó có nguyên nhân là: “Cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân. Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở một số nơi chưa đến nơi đến chốn; kỷ cương, kỷ luật không nghiêm, nói không đi đôi với làm, hoặc làm chiếu lệ. Các nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi vừa bị buông lỏng trong thực hiện, vừa chưa được quy định cụ thể để làm cơ sở cho công tác kiểm tra, giám sát”.   

Tự phê bình và phê bình phải được tiến hành ở các khâu trong quy trình kiểm tra, xử lý kỷ luật đảng viên và tổ chức đảng. Khi đảng viên hoặc tổ chức đảng được kiểm tra, kỷ luật thì phải tự phê bình và phê bình trước các tổ chức đảng mà mình là thành viên để họ tham gia đóng góp ý kiến. Đây là vấn đề vừa có tính nguyên tắc, vừa thể hiện bản chất tự giác và cách mạng của một đảng chân chính. Để đạt được yêu cầu đề ra, đòi hỏi các thành viên trong tổ chức phát huy trí tuệ tập thể, dân chủ thảo luận, thẳng thắn, nghiêm túc và tự giác trong tự phê bình và phê bình. Nếu không, việc tự phê bình và phê bình sẽ trở thành hình thức, chiếu lệ, hiệu quả thấp.

Những khó khăn trong thực hiện kiểm tra, kỷ luật thời gian qua

Quy trình kiểm tra, xử lý kỷ luật đối với đảng viên rất chặt chẽ, khoa học, thể hiện tính công khai, dân chủ, nhưng nếu đảng viên được kiểm tra thiếu nghiêm túc và tự giác thì tự phê bình và phê bình sẽ mất vai trò quan trọng. Thời gian qua, khi tự phê bình trước tổ chức đảng, không ít đảng viên chưa tự giác, thành khẩn nhận thiếu sót, khuyết điểm, mà thường quanh co, đổ lỗi cho khách quan, cho tập thể. Các thành viên trong tổ chức đảng thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, không dám đấu tranh trực diện với khuyết điểm, vi phạm của đồng chí; hoặc chỉ phê bình qua loa cho xong chuyện, nặng về ca ngợi thành tích. Ngay cả khi ủy ban kiểm tra (UBKT) đưa ra đầy đủ chứng cứ thuyết phục về những sai phạm của đảng viên thì các thành viên trong tổ chức đảng cũng tìm cách né tránh phê bình. Nhất là, đối với những đảng viên đứng đầu địa phương, đơn vị thì việc phê bình của cấp dưới đối với cấp trên là rất khó khăn. Kết quả là, những đảng viên được kiểm tra không thấy được khuyết điểm, vi phạm của mình để khắc phục, sửa chữa. Việc thông qua kết luận của UBKT gặp khó khăn do kết quả biểu quyết phân tán, không đủ số phiếu cần thiết cho một hình thức kỷ luật; thậm chí có những sai phạm nghiêm trọng nhưng tỷ lệ số phiếu biểu quyết đề nghị kỷ luật chỉ chiếm từ 1% đến 3% số thành viên trong tổ chức đảng. Có trường hợp, đối tượng của kiểm tra có mâu thuẫn với người đứng đầu đơn vị thì việc phê bình và tự phê bình lại trở nên căng thẳng, trở thành một cuộc “đấu đá” nội bộ, “chụp mũ”, loại trừ nhau nên kết luận thiếu khách quan, chính xác, không thể hiện đầy đủ quan điểm, chính kiến của các thành viên trong tổ chức mà phụ thuộc vào ý chí của người đứng đầu. Do vậy, khi tổ chức đảng có thẩm quyền thực hiện quy trình xử lý kỷ luật đối với đảng viên, nhất là trong những trường hợp như vậy, không chỉ căn cứ vào đề nghị của tổ chức đảng cấp dưới mà còn phải căn cứ vào chứng cứ cụ thể, xác thực thông qua công tác thẩm tra, xác minh để quyết định có thi hành kỷ luật hay không.

Trong thực tế, có trường hợp người đứng đầu đơn vị lạm dụng chức vụ, quyền hạn để cản trở, trù dập người đấu tranh phê bình, góp ý trái với ý kiến mình, thậm chí vô hiệu hóa hoạt động của UBKT, trù dập những cán bộ kiểm tra có bản lĩnh, tính chiến đấu cao. Đối tượng được kiểm tra thiếu cộng tác, mặc cảm, định kiến, đối phó, không chịu nhận khuyết điểm. Mức độ nhẹ như không cung cấp tài liệu theo yêu cầu, trì hoãn giải trình, báo cáo đưa ra những lý do thiếu sức thuyết phục. Hiện tượng nhận khuyết điểm của tập thể thì dễ, nhận khuyết điểm của cá nhân đảng viên thì khó đang diễn khá phổ biến ở nhiều tổ chức đảng, nhất là ở những người có chức, có quyền. Tình trạng cán bộ, đảng viên vi phạm không tự giác, ý thức tự phê bình và phê bình kém, hiện tượng bao che, sợ “đụng chạm”, “ô dù, vây cánh”, đoàn kết một chiều cũng đang gia tăng, làm  suy yếu các tổ chức đảng, đang trở thành một vấn đề bức xúc thách thức đối với kỷ cương, kỷ luật của Đảng nói chung và công tác kiểm tra của Đảng nói riêng. Ý thức tổ chức kỷ luật kém, tình trạng “trên bảo dưới không nghe”, “biểu quyết một đằng, làm một nẻo”, đã làm tổn hại sự thống nhất trong Đảng. Nhiều nơi, trong sinh hoạt đảng viên không dám nói sự thật vì sợ bị trù dập. Trong thi hành kỷ luật có tình trạng độc đoán chuyên quyền, gia trưởng, bảo thủ, trì trệ, áp đặt ý kiến chủ quan, nhằm loại bỏ những người không “ăn cánh” ra khỏi tổ chức.

Một số trường hợp đảng viên biết rõ những việc làm sai trái của mình là vi phạm Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước nhưng vẫn cố tình dùng mọi lý lẽ, lập luận để biện minh cho những việc làm của bản thân, gây khó khăn cho các tổ chức đảng trong việc xem xét, kết luận.

Đối tượng vi phạm hiện nay rất tinh vi, phức tạp, có mối quan hệ xã hội rộng, với nhiều thủ đoạn, mánh khóe, gây khó khăn khi UBKT tiến hành nhiệm vụ, như: dùng người thân tác động với lãnh đạo cấp trên, thậm chí nói sai sự thật, tố cáo ngược, dùng vật chất mua chuộc, cung cấp thông tin sai lệch cho báo chí hòng làm nhiễu thông tin,... Chính do thiếu tự giác, thiếu trung thực của đối tượng kiểm tra trong tự phê bình và phê bình, cộng với sự nể nang, e ngại hoặc bao che của những người, những tổ chức có liên quan là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc thi hành kỷ luật không công bằng theo kiểu “nhẹ trên, nặng dưới”. Cùng một lỗi vi phạm như nhau, nhưng cán bộ có chức, có quyền thì xử lý nhẹ, cán bộ, đảng viên thì xử lý nặng, làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng phân tâm, cho rằng trong Đảng còn có “vùng cấm”. Có nơi sai phạm của đối tượng kiểm tra đã hết sức rõ ràng và nghiêm trọng, nhưng ý kiến thảo luận ở các tổ chức đảng cấp dưới vẫn phân tán, kết luận chung chung, biểu quyết kỷ luật nhẹ, không tương xứng với lỗi phạm, nên khi xem xét, tổ chức đảng cấp trên phải nâng hình thức kỷ luật.

Tự phê bình và phê bình giảm sút, mất dân chủ, thi hành kỷ luật không khách quan là một trong những nguyên nhân dẫn đến khiếu nại kỷ luật đảng tăng trong những năm gần đây. Một số tổ chức đảng ở các cấp không chấp hành nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ trong xem xét, xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm.                  

Việc thiếu nghiêm túc và tự giác trong tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng đã để lại hậu quả xấu về kinh tế - xã hội, ảnh hưởng đến uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê phán những cán bộ, đảng viên không dám tự phê bình, nể nang không phê bình để cho đồng chí của mình cứ sa vào lầm lỗi dẫn đến hỏng việc. Bác Hồ đã chỉ rõ: “Nếu không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm...”(2). Cán bộ, đảng viên tiêu cực, tham nhũng, gây thất thoát, lãng phí rất lớn tiền, tài sản của Nhà nước nhưng tổ chức đảng có trách nhiệm quản lý đảng viên vẫn “bình chân như vại”. Nhiều vụ vi phạm Điều lệ Đảng và pháp luật Nhà nước nghiêm trọng nhưng không được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm khắc.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là: một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên sa vào chủ nghĩa cá nhân, sống buông thả, thiếu tự giác, rèn luyện, tu dưỡng, thủ tiêu tính tiền phong gương mẫu trong điều kiện mới. Trong khi đó, sự kiểm tra của tổ chức đảng, trước hết là của chi bộ, của cấp ủy đối với đảng viên, cấp ủy viên lại lỏng lẻo. Việc tổ chức để nhân dân, Mặt trận Tổ quốc tham gia giám sát cán bộ, đảng viên làm không thường xuyên, chưa tốt và thiếu cơ chế cụ thể, đồng bộ.

Nhiều cấp ủy và tổ chức đảng chưa coi trọng đúng mức và chưa có biện pháp hữu hiệu để giáo dục, rèn luyện, kiểm tra đội ngũ cán bộ, đảng viên về đạo đức cách mạng trong điều kiện thực hiện cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế, chưa xử lý tốt mối quan hệ giữa đức và tài trong xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên theo yêu cầu của thời kỳ mới, từ tuyên truyền, kết nạp, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng đến sắp xếp, sử dụng, đề bạt, quản lý, kiểm tra, giám sát, xử lý khi có vi phạm...

Chủ nghĩa cá nhân thực dụng, ích kỷ, vụ lợi phát triển, trong khi đó công tác kiểm tra từ trên xuống và từ dưới lên không thường xuyên đã ảnh hưởng không tốt tới việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện tự phê bình và phê bình trong Đảng. Tình trạng tự phê bình và phê bình trong Đảng yếu kém  còn có nguyên nhân là, nhiều đảng viên nặng lo cho cuộc sống bản thân và gia đình, nếu tích cực đấu tranh sợ mất việc làm, mất địa vị, giảm thu nhập, trong khi đó lại chưa có cơ chế bảo vệ có hiệu quả người trung thực, dũng cảm thẳng thắn đấu tranh.

Thực hiện tốt quyết tâm chính trị

Để giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong thời gian tới, toàn Đảng phải tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng đi vào chiều sâu, kiên quyết đưa những đảng viên thoái hóa, biến chất về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật kém nhưng không tự giác tự phê bình và phê bình ra khỏi Đảng bằng nhiều hình thức, chủ yếu là xóa tên trong danh sách đảng viên, bất kể người đó là ai, ở cương vị nào, nhằm lặp lại trật tự kỷ cương, xiết chặt đội ngũ, nâng cao chất lượng đảng viên của Đảng. Xây dựng và thực hiện có nền nếp chế độ tự phê bình và phê bình trong nội bộ Đảng.

Mở rộng dân chủ nhằm phát huy trí tuệ tập thể, thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình trong xem xét, xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải gương mẫu thực hiện. Trong các nhóm giải pháp được đề cập trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, thì giải pháp đầu tiên là thực hiện tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong gương mẫu của cấp trên, nhất là người đứng đầu cấp ủy: “Các đồng chí ủy viên ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương, lãnh đạo các ban của Trung ương Đảng, ban thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy và cấp ủy các cấp nghiêm túc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, nêu gương bằng hành động thực tế”. Người đứng đầu nêu gương tự phê bình và phê bình là yêu cầu đầu tiên.

Trong điều kiện hiện nay, phải có sự kết hợp cả tự giác và kiên trì giáo dục trong việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình. Ủy ban kiểm tra chủ động nắm chắc tình hình chấp hành kỷ luật của đảng viên và tổ chức đảng thuộc diện cấp ủy quản lý để giúp cấp ủy gợi ý kiểm điểm; tập trung vào những vấn đề bức xúc ở địa phương, đơn vị; những vấn đề có nhiều đơn thư khiếu nại, tố cáo (quản lý đất đai, đầu tư xây dựng cơ bản, tài chính, ngân hàng, điều tra, truy tố, xét xử). Khi phát hiện vi phạm đến mức phải xử lý thì kiên quyết xử lý, không được bỏ qua.

Muốn nâng cao chất lượng và hiệu quả tự phê bình và phê bình trong công tác kiểm tra và kỷ luật của Đảng thì cấp ủy và UBKT các cấp phải làm tốt công tác thẩm tra, xác minh, làm rõ đúng, sai, kết luận rõ bản chất của các sai phạm, xử lý nghiêm minh cán bộ, đảng viên vi phạm. Thời gian qua, không ít cấp ủy và UBKT các cấp chưa coi trọng và làm tốt công tác thẩm tra, xác minh, chưa kết hợp các tài liệu của các cơ quan chức năng, kết quả tự phê bình và phê bình với việc xem xét tình hình thực tế để có kết luận khách quan, chính xác. Một số cán bộ kiểm tra do năng lực trình độ còn bất cập, thiếu bản lĩnh, ngại va chạm, nể nang, né tránh, hoặc bị vật chất chi phối nên không dám đấu tranh phê bình, làm rõ vi phạm của cán bộ, đảng viên; nhất là những đảng viên là cấp ủy viên cùng cấp và cán bộ thuộc diện cấp ủy quản lý. 

Đổi mới việc xem xét, xử lý kỷ luật đảng viên và tổ chức đảng. Hiện nay, việc xem xét, xử lý kỷ luật đảng viên và tổ chức đảng chủ yếu vẫn theo một quy trình từ dưới lên: tổ chức đảng bên dưới đề nghị, tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền quyết định. Trong điều kiện đấu tranh tự phê bình và phê bình giảm sút như hiện nay thì hình thức kỷ luật do cấp dưới đề nghị bao giờ cũng thấp, thậm chí không đề nghị, do vậy tổ chức đảng cấp trên lấy đó làm căn cứ để quyết định hình thức kỷ luật là không phù hợp với thực tế và yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng và chỉnh
đốn Đảng.

Bên cạnh việc coi trọng ý thức tự giác tự phê bình của đảng viên, cần tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục và đấu tranh để đảng viên vi phạm nhận thức thấy sai phạm, tự giác chấp hành kết luận, quyết định của tổ chức. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Muốn họ thành tâm sửa chữa, phải giải thích rõ ràng, làm cho họ tự trông thấy, tự nhận rõ sự sai lầm đó, làm cho họ vui lòng sửa đổi, chứ không phải bị cưỡng bức mà sửa đổi”(3). Ủy ban kiểm tra cần chủ động làm tốt công tác nắm tình hình, phát hiện vi phạm, làm căn cứ để xem xét, xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm; nếu đảng viên đó từ chối kiểm điểm và không nhận sai phạm thì vẫn xem xét, xử lý kỷ luật theo thẩm quyền được quy định tại điểm 2, Điều 38, Điều lệ Đảng: “Trường hợp tổ chức đảng cấp dưới không xử lý hoặc xử lý không đúng mức đối với tổ chức đảng và đảng viên vi phạm thì cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra cấp trên quyết định các hình thức kỷ luật theo thẩm quyền, đồng thời xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng đó”.

Bên cạnh việc tổ chức tiến hành tự phê bình và phê bình, phải coi trọng giáo dục về lý luận chính trị, về phẩm chất, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên từ Trung ương tới cơ sở. Tăng cường việc giám sát của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, của các cơ quan thông tấn, báo chí đối với Đảng, có cơ chế phù hợp để lấy ý kiến quần chúng phê bình cán bộ, đảng viên định kỳ hằng năm, phát hiện sai phạm của cán bộ, đảng viên, bảo vệ người dám nói thực về khuyết điểm, sai phạm của đảng viên; đồng thời xử lý người lợi dụng phê bình để vu cáo hãm hại đồng chí. Có chế độ để đảng viên được kiểm điểm trước quần chúng, thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở.

Tất cả các cấp ủy và tổ chức đảng đều phải tăng cường thực hiện chức năng kiểm tra, trước hết về ý thức và năng lực chấp hành nghị quyết của Đảng, về tư tưởng chính trị và đạo đức lối sống. Công tác kiểm tra cần được tiến hành ngay từ khâu chuẩn bị nghị quyết đến các khâu cụ thể hóa, thể chế hóa và tổ chức thực hiện nghị quyết, tăng cường vai trò, trách nhiệm, quyền hạn và cán bộ có chất lượng cho các cơ quan kiểm tra của Đảng và thanh tra nhà nước.

Tăng cường công tác tư tưởng cho đối tượng được kiểm tra, khắc phục các biểu hiện lệch lạc và chấp hành nghiêm túc tự phê bình và phê bình. Khi đối tượng kiểm tra tự phê bình và phê bình yếu, chủ thể kiểm tra phải chủ động làm tốt công tác tư tưởng, vừa động viên, thuyết phục, vừa kiên quyết đấu tranh bằng nhiều phương pháp để đối tượng kiểm tra thay đổi thái độ tự phê bình./.

ST.

Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới tự phê bình và phê bình. Người coi tự phê bình và phê bình là “vũ khí rất cần thiết và sắc bén, nó giúp chúng ta sửa chữa sai lầm và phát triển ưu điểm"(1), là “thang thuốc” tốt nhất để chữa trị các “chứng bệnh” do chủ nghĩa cá nhân gây ra. Người thường dạy: “Dao có mài, mới sắc. Vàng có thui, mới trong. Nước có lọc, mới sạch. Người có tự phê bình, mới tiến bộ. Đảng cũng thế”(2).

Tư tưởng, tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình

Vấn đề tự phê bình và phê bình là một cống hiến quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bảo vệ và phát triển lý luận Mác - Lê-nin; là nét đặc sắc trong tư tưởng của Người về xây dựng Đảng cách mạng; là vũ khí lý luận sắc bén đấu tranh chống lại chủ nghĩa cơ hội, xét lại và các tiêu cực trong xã hội; với văn phong giản dị, trong sáng chúng ta thấy toát lên bản chất nhân văn mác-xít, “chủ nghĩa nhân đạo hiện thực”.

Trong “Hồ Chí Minh toàn tập”, Người đã có 67 lần dùng thuật ngữ “phê bình và tự phê bình” và có tới 90 lần dùng thuật ngữ “tự phê bình và phê bình”. Qua các bài viết này, Người đã chỉ rõ về sự cần thiết, mục đích, đối tượng, phương pháp và những phương châm có tính nguyên tắc trong thực hành tự phê bình và phê bình. Theo Hồ Chí Minh, sự phát triển của Đảng bao hàm trong đó sự tự đổi mới, tự chỉnh đốn khắc phục những khuyết điểm, nhược điểm để ngày càng tiến bộ về mọi mặt, đáp ứng với yêu cầu phát triển của cách mạng “một đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng”, vì thế tự phê bình và phê bình được Người xác định là “quy luật phát triển của Đảng”. Đối với sự trưởng thành, tiến bộ của mỗi cán bộ, đảng viên cũng vậy: “Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ mạnh khỏe vô cùng”(3). Đó chính là ý nghĩa của tự phê bình và phê bình - một quy luật phát triển, một nguyên tắc của công tác xây dựng Đảng.

Người vạch rõ: “Mục đích phê bình. Cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”(4). Người cũng khẳng định: Tự phê bình và phê bình nhằm đạt mục đích giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức đảng nhận rõ ưu điểm để phát huy, nhận rõ khuyết điểm để khắc phục. Nói cách khác, tự phê bình và phê bình là giúp cho cán bộ, đảng viên, tổ chức của Đảng ngày càng tiến bộ, tạo nên sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Đảng, tạo nên sức mạnh to lớn của Đảng, củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng.

Hồ Chí Minh chỉ rõ đối tượng của tự phê bình và phê bình là: Phê bình những suy nghĩ và việc làm sai trái chứ không phải phê người. Một quan điểm rất sâu sắc về tự phê bình và phê bình, mà không phải cho đến nay ai cũng hiểu và làm đúng. Như vậy, đối tượng trực tiếp của tự phê bình và phê bình trong công tác xây dựng Đảng là những nhận thức, hành vi và hoạt động không đúng trong xây dựng Đảng của từng đảng viên, của các tổ chức đảng. Theo Hồ Chí Minh, phê bình là gột rửa “cái bụi bẩn bên ngoài” của con người, không cho nó làm “ô nhiễm” con người, như là dùng khăn mặt và xà phòng để rửa cái nhơ bẩn bám vào con người chứ không phải như cắt bỏ một phần thân thể con người. Đây thực sự là một tư tưởng rất nhân văn, nhân đạo, vừa thúc đẩy sự phát triển hoàn thiện con người, vừa tránh cho con người rơi vào cái “tôi” vị kỷ, trả đũa, tranh giành, ghen ghét, đố kỵ và không bị nhỏ nhen.

Quan điểm xuyên suốt của Hồ Chí Minh trong tự phê bình và phê bình là trên tinh thần vì nước, vì dân, “dĩ công vi thượng”, xuất phát từ tình đồng chí thương yêu lẫn nhau. Bởi nếu không xuất phát từ tình đồng chí thương yêu lẫn nhau thì dù có tự phê bình và phê bình đến mấy, hiệu quả cũng chẳng được là bao, thậm chí có khi còn làm tổn hại đến sự đoàn kết của Đảng. Để phát huy cao nhất “vũ khí” tự phê bình và phê bình thì không chỉ nắm vững mục đích, phương hướng, trọng tâm mà còn phải có một thái độ đúng đắn, phương pháp khoa học khi sử dụng nó mới đạt được hiệu quả.

Thứ nhất: Phải “khéo” kết hợp giữa tự phê bình và phê bình. Tư tưởng “khéo sử dụng vũ khí tự phê bình và phê bình” trong Đảng của Hồ Chí Minh là nghệ thuật ứng xử giữa con người với con người trong quan hệ xã hội; là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tình và lý trong truyền thống văn hóa Việt Nam. Đây là quan điểm vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật cách mạng trong cả thái độ và phương pháp tiến hành.

Thứ hai: Tự phê bình và phê bình phải tiến hành nghiêm túc, thường xuyên, phải nói đầy đủ cả hai mặt ưu điểm và khuyết điểm. Người căn dặn: “Phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời chớ dùng lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc… Những người bị phê bình thì phải vui lòng nhận xét để sửa đổi, không nên vì bị phê bình mà nản chí, hoặc oán ghét”(5).

Thứ ba: Tự phê bình và phê bình chỉ thực sự có kết quả khi có sự lãnh đạo sáng suốt của cấp trên, đồng thời phát động được quần chúng và cấp dưới hưởng ứng một cách chân thành và xây dựng.

Thái độ, phương pháp đối với tự phê bình và phê bình trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thống nhất biện chứng giữa “lý lẽ phân minh, nghĩa tình đầy đủ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngời về tự phê bình và phê bình. Người không bao giờ tự cho mình đứng ngoài những sai lầm khuyết điểm của Đảng và Chính phủ mà thường nhận lỗi về mình. Trên cương vị là Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh đã cùng Đảng lãnh đạo nhân dân ta làm được không ít việc, đưa đất nước vượt qua bao hiểm nguy, Người vẫn thật thà viết bài: “Tự phê bình”, đăng trên Báo Cứu quốc (28-1-1946), nêu nhiều việc lớn chưa làm được như: Các nước chưa công nhận nền độc lập của Việt Nam, kháng chiến ở Nam bộ chưa thắng lợi, tệ tham nhũng chưa được quét sạch… Từ đó, Người kết luận: những sự thành công là nhờ đồng bào cố gắng. Những khuyết điểm trên là lỗi tại tôi. Người đời không phải thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm. Chúng ta không sợ có khuyết điểm, nhưng chỉ sợ không biết kiên quyết sửa chữa nó đi. Từ nay, tôi mong đồng bào ra sức giúp tôi sửa chữa những khuyết điểm đó.

Năm 1956, khi phát hiện ra sai lầm trong Cải cách ruộng đất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghiêm túc, thẳng thắn, công khai tự phê bình và phê bình nhận lỗi với nhân dân là “đã quan liêu, không sát thực tế, chỉ xem báo cáo, tin vào người báo cáo” và: Vì ta thiếu dân chủ nên nghe ít, thấy ít, bây giờ ta phải dân chủ. Tôi nhận trách nhiệm trong lúc sóng gió này. Tất cả Trung ương phải nghe, thấy, nghĩ, làm như thế. Bài học đau xót này sẽ thúc đẩy chúng ta. Cuối cùng, Người kết luận: Khuyết điểm của tôi đã ảnh hưởng đến sai lầm của cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức. Đó thực sự là tấm gương sáng ngời của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự phê bình, phê bình.

Những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả tự phê bình và phê bình trong Đảng hiện nay

Thực tiễn hơn 80 năm xây dựng và lãnh đạo của Đảng đã khẳng định vai trò to lớn của việc thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình trong giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng viên, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Tuy nhiên, trong thời gian qua, việc tự phê bình và phê bình trong Đảng có lúc, có nơi chưa được xem trọng, tính tự giác tự phê bình và phê bình giảm sút rõ rệt, một bộ phận tổ chức đảng và đảng viên thực hiện tự phê bình và phê bình yếu, kém, chỉ mang tính hình thức, tính chiến đấu không cao, dĩ hòa vi quý... Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ: Năng lực và sức chiến đấu của không ít tổ chức đảng còn thấp; công tác quản lý đảng viên chưa chặt chẽ, sinh hoạt đảng chưa nề nếp, nội dung sinh hoạt nghèo nàn, tự phê bình và phê bình yếu. Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI, tiếp tục chỉ ra: “Các nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi vừa bị buông lỏng trong thực hiện, vừa chưa được quy định cụ thể để làm cơ sở cho công tác kiểm tra, giám sát”(6). Do vậy, việc học tập tư tưởng, tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình là thực sự cấp thiết để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, củng cố chính quyền, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, vững mạnh. Trong thời gian tới, để nâng cao chất lượng, hiệu quả tự phê bình và phê bình trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cần phải thực thi nghiêm túc những biện pháp cụ thể cả về phía tổ chức đảng và từng cán bộ, đảng viên.

Một là, không ngừng bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống. Nâng cao nhận thức cho cấp ủy và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Đảng về mục đích, ý nghĩa, nội dung, phương pháp, chất lượng trong tự phê bình và phê bình theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó mới phát huy được tính tự giác của mọi cán bộ, đảng viên trong chi bộ. Không ngừng đổi mới nội dung, hình thức để nâng cao chất lượng giáo dục, làm cho cán bộ, đảng viên thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình; nhận thức rõ sự cần thiết, mục đích, nội dung, phương pháp tự phê bình và phê bình. Gắn nội dung tự phê bình và phê bình với việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Hai là, tự phê bình và phê bình phải trên cơ sở lập trường quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước, mở rộng thông tin, phát huy dân chủ. Kết hợp tự phê bình trong Đảng với phát huy phê bình của nhân dân. Đề cao tính tự giác, không khí dân chủ, cởi mở trên cơ sở cái tâm trong sáng, trên tinh thần đồng chí thương yêu lẫn nhau, vì sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, để các đảng viên trong chi bộ, cũng như quần chúng phê bình cán bộ, đảng viên một cách thẳng thắn, đầy đủ.

Ba là, tự phê bình và phê bình cần gắn với việc thực hiện nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn. Hồ Chí Minh cho rằng, tự phê bình và phê bình phải “liên hệ với công tác thực tế của mình, để nâng cao tư tưởng, ý thức tổ chức và kỷ luật, đồng thời đẩy mạnh công tác tiến bộ hơn nữa”(7). Tăng cường kỷ luật, ngăn chặn những hành vi lợi dụng tự phê bình và phê bình để trả thù cá nhân, gây rối, làm mất sự đoàn kết thống nhất trong Đảng.

Bốn là, làm tốt công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm về nâng cao chất lượng trong tự phê bình và phê bình trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Cấp ủy các cấp cần có nghị quyết lãnh đạo sát, đúng đối với công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết hoạt động công tác xây dựng Đảng, đặc biệt là hoạt động tự phê bình và phê bình; đánh giá đúng thực trạng chất lượng tự phê bình và phê bình, từ đó có biện pháp hướng dẫn, chỉ đạo, rút kinh nghiệm kịp thời, trong tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên trong các tổ chức Đảng./.

ST.

Giá trị văn minh - một đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

 Văn minh là một thành tố trong đặc trưng hàng đầu của xã hội xã hội chủ nghĩa được nêu trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), đồng thời cũng là một trong những mục tiêu phát triển của đất nước, phù hợp với giá trị tiến bộ phổ quát mà nhân loại đang hướng tới. Trong giai đoạn phát triển mới, giá trị văn minh ngày càng được khẳng định, đề cao và phát triển lên một tầm cao mới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và Phu nhân cùng bà con kiều bào từ các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới về tham dự Chương trình Xuân Quê hương năm 2019 đến dâng hương tại đền Ngọc Sơn và thực hiện nghi thức thả cá chép theo phong tục truyền thống tại hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội _Ảnh: TTXVN

Văn minh là tiêu chí quan trọng của tiến bộ xã hội, cũng là một đặc trưng của xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Văn minh có nội hàm rất phong phú. Từ điển Chính trị vắn tắt do Nhà xuất bản Tiến bộ (Mát-xcơ-va) và Nhà xuất bản Sự thật đồng ấn hành năm 1988 ghi: Văn minh có 3 cách hiểu như sau: Đồng nghĩa với văn hóa; trình độ, giai đoạn phát triển của nền văn hóa vật chất và tinh thần; giai đoạn phát triển xã hội sau thời đại dã man(1).

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nội hàm khái niệm văn minh được hiểu đồng nghĩa với văn hóa; văn minh là sự đối lập với dã man, mông muội, lạc hậu; văn minh trên cả phương diện vật chất và tinh thần. Như vậy, văn minh, theo nghĩa rộng, là tổng hòa các giá trị sáng tạo của nhân loại, bao gồm văn minh vật chất, văn minh tinh thần, văn minh chính trị, văn minh xã hội, văn minh sinh thái… Văn minh, theo nghĩa hẹp, có nội dung về phương diện tinh thần, về tư tưởng, lý luận, đạo đức, văn học, nghệ thuật, giáo dục và khoa học, những sinh hoạt xã hội của nhân loại. Xét cho cùng, tiêu chí của văn minh là sự tiến bộ ở đỉnh cao.

Lịch sử xã hội loài người chứng kiến sự xuất hiện và tiêu vong của nhiều nền văn minh, khi sự tiến bộ này được thay thế bằng sự tiến bộ khác cao hơn, phù hợp hơn. Xã hội cộng sản chủ nghĩa với tất cả tính ưu việt vốn có là khát vọng về một nền văn minh trong tương lai. Tính tất yếu của sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản khẳng định điều đó.

Đặc trưng của văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa

Văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa phản ánh trào lưu tiến bộ của thời đại, phù hợp với quy luật phát triển của xã hội, có những phẩm chất và đặc điểm ưu trội so với các loại văn minh đã từng có trong lịch sử.

Xây dựng văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm chủ đạo. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là khoa học về những quy luật phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy; về cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động chống lại sự áp bức, bất công; về xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa…

Kể từ khi ra đời cho đến nay, chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã trải qua hơn 170 năm. Thế giới biến động không ngừng nhưng học thuyết Mác - Lê-nin vẫn chứng tỏ tính khoa học và cách mạng, có sức sống trường tồn. Tuy nhiên, để thích ứng với thời đại mới, cần nghiên cứu và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lê-nin.

Xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng ta đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(2). Đại hội VII cũng nêu rõ tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong điều kiện cụ thể của nước ta và trong thực tế tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của cả dân tộc(3).

Qua gần 35 năm đổi mới, chúng ta đã thu được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trong việc thực hiện định hướng xã hội chủ nghĩa. Thành tựu đó cũng chính là kết quả của quá trình thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, giải phóng và không ngừng phát triển sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân, đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo; phát triển các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp... thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng chính sách phát triển, tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục và đào tạo, thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác thông qua phúc lợi xã hội; giữ vững độc lập, tự chủ và bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc trong hội nhập quốc tế; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước.

Bên cạnh sự phát triển của văn minh vật chất, văn minh tinh thần cũng đạt nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa Việt Nam có đặc trưng thời đại và hấp thụ bản sắc tinh hoa của truyền thống Việt Nam. Đó là sự tích lũy hành vi chuẩn mực, thể hiện chủ nghĩa yêu nước Việt Nam mà trọng tâm là yêu hòa bình, nỗ lực cần cù lao động, chịu khó vươn lên… Chúng ta xây dựng văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, vì thế, phải làm cho văn minh tinh thần có tính thời đại sâu sắc.

Văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa có tính mở cửa và tính khoan dung mang lại cho Việt Nam những cơ hội quan trọng trong tiếp thu và sử dụng các nguồn lực từ bên ngoài, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng bền vững và hiệu quả hơn.

Giới thiệu các giá trị văn hóa Việt Nam đến các du khách quốc tế_Ảnh: Tư liệu

Tăng cường xây dựng văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa

Từ năm 1986 đến nay, đời sống tinh thần của người dân đã có những thay đổi theo hướng tích cực. Tuy nhiên, trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế đã nảy sinh những biểu hiện tư tưởng đáng lo ngại, như việc giải quyết yêu cầu phát huy dân chủ, phản biện trong xã hội với yêu cầu giữ vững kỷ luật, kỷ cương chưa được xử lý tốt; các căn bệnh cơ hội, thực dụng, tham nhũng, lãng phí, nói không đi đôi với làm của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vẫn chưa được khắc phục; sự hẫng hụt, mất định hướng về giá trị đạo đức trong giai đoạn quá độ trong một bộ phận người dân; niềm tin tâm linh mù quáng có xu hướng tăng, dễ bị lợi dụng, kích động…

Trước tình hình đó, chúng ta cần đẩy mạnh xây dựng văn minh tinh thần nhằm tạo ra đời sống tinh thần tiến bộ trong xã hội.

Xây dựng văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa là bộ phận quan trọng cấu thành xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa - xã hội phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội, chính trị, kinh tế. Chỉ có xây dựng kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội tốt đẹp một cách đồng bộ mới khiến sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa mới đi đến thành công.

Văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa là tiêu chí quan trọng và là bộ phận cấu thành của sức mạnh tổng hợp của đất nước. Thực tế đã chứng minh, cạnh tranh sức mạnh tổng hợp quốc gia không chỉ bao gồm thực lực kinh tế, khoa học - kỹ thuật, quân sự, mà còn bao gồm cạnh tranh tinh thần dân tộc và văn hóa. Sức mạnh tinh thần đẩy mạnh phát triển sức mạnh vật chất, khiến cho sức mạnh vật chất phát huy tốt hơn, có tác dụng to lớn hơn. Xây dựng văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa giúp hình thành sự thống nhất tư tưởng chỉ đạo, có niềm tin lý tưởng chung, có quy phạm đạo đức cơ bản… khiến cho nó có thể vượt qua sự khác biệt về địa lý, dân tộc, ngôn ngữ, vượt qua các phương diện lợi ích, không ngừng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mang đến sức mạnh tinh thần chung; xác lập thế giới quan, nhân sinh quan, quan điểm giá trị kiên định niềm tin vào chủ nghĩa xã hội, tăng cường lòng tự hào, tự tôn dân tộc, từ đó tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong xã hội thực hiện công cuộc đổi mới và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tăng cường xây dựng văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa, ra sức phát triển văn hóa xã hội chủ nghĩa, hấp thu những thành quả ưu tú của văn minh nhân loại, tích cực đóng góp vào sự phát triển văn minh thế giới cũng chính là quá trình tăng cường sự lan tỏa của văn hóa Việt Nam ra bên ngoài.

Công cuộc đổi mới ở nước ta ngày càng đi vào chiều sâu, với những chuyển biến trong tái cấu trúc nền kinh tế, đáp ứng yêu cầu giai đoạn phát triển mới. Vì thế, chúng ta cần tăng cường nhận thức về sự cấp thiết và vai trò quan trọng của sự nghiệp xây dựng văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa, đồng thời với thúc đẩy sự nghiệp xây dựng văn minh vật chất.

Trước hết, trong quá trình hội nhập, cần thống nhất nhận thức về phát triển văn hóa. Trong thế giới toàn cầu hóa, văn hóa là cơ sở vững chắc để gắn kết, phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, mấu chốt là phải xác lập được hệ giá trị văn hóa dân tộc trong hệ giá trị văn hóa nhân loại. Cùng với sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học - công nghệ và kinh tế tri thức, văn hóa ngày càng trở thành nhân tố có ý nghĩa quyết định thực lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, bảo đảm an ninh, sự phát triển bền vững và sức cạnh tranh quốc gia. Văn hóa không đơn thuần là những giá trị tinh thần mà ngày càng thâm nhập, gắn kết với các thành tố của lực lượng sản xuất, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tạo ra những giá trị vật chất mới. Văn hóa chính trị, cốt lõi là văn hóa lãnh đạo, văn hóa cầm quyền có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển văn hóa nói riêng, phát triển quốc gia nói chung. Con người là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, truyền bá thụ hưởng văn hóa. Phát triển văn hóa gắn liền với xây dựng con người, mấu chốt là phát triển con người toàn diện, phát huy quyền con người, quyền làm chủ và tiềm năng sáng tạo của con người.

Phát triển văn hóa gắn liền với việc thực hiện các mục tiêu chiến lược tổng quát của đất nước. Mục tiêu phát triển văn hóa là xây dựng và không ngừng phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, thấm nhuần tinh thần dân tộc nhân văn, dân chủ, khoa học; đưa văn hóa thấm sâu vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần nâng cao tiềm lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, thật sự là nền tảng tinh thần, nguồn lực, nguồn sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững đất nước. Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện có phẩm chất, năng lực, thực sự là chủ thể sáng tạo trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế.

Đưa văn hóa thấm sâu vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần nâng cao tiềm lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, là nguồn sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững đất nước_Ảnh: Tư liệu

Cùng với giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội. Không ngừng nâng cao dân trí, đào tạo và bồi dưỡng nhân tài. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đẩy mạnh giáo dục tố chất, đặc biệt là với nguồn nhân lực chất lượng cao, chuyên gia, đào tạo nhân tài. Phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tăng cường nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo; phổ cập tri thức khoa học, phát huy tinh thần khoa học, hình thành xã hội đề cao khoa học, đề cao sáng tạo, loại bỏ mê tín và phi khoa học. Tiến bộ của khoa học và công nghệ sẽ thúc đẩy văn hóa, nghệ thuật phát triển, tạo điều kiện cho các giá trị tinh thần đi vào chiều sâu, nâng cao dân trí, đời sống tinh thần và sáng tạo của con người, khắc phục các căn bệnh của xã hội tiểu nông.

Đổi mới thể chế văn hóa, giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất văn hóa, hình thành môi trường phát triển sự sáng tạo văn hóa. Thúc đẩy sáng tạo phong cách, trường phái tích cực, trên cơ sở tôn trọng sự khác biệt, bao dung cá tính, cổ vũ sức sáng tạo văn học, nghệ thuật phong phú, đa dạng, khuyến khích tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người làm công tác văn hóa, đề cao chất lượng sản phẩm văn hóa, xây dựng nền văn hóa, nghệ thuật mang tính tư tưởng, nghệ thuật cao. Hướng tới xây dựng những công trình văn hóa lớn phục vụ quần chúng. Tăng cường xây dựng văn hóa trong cư dân nông thôn, thành thị, phát triển đa dạng các loại dịch vụ văn hóa; tăng cường xây dựng văn hóa mạng, giữ vững “trận địa” báo chí, xuất bản, mở rộng không gian văn hóa tinh thần lành mạnh. Muốn vậy, cần phải tạo ra sự phát triển đồng bộ trên các lĩnh vực: xây dựng hệ giá trị văn hóa; phát huy phong tục, tập quán truyền thống tốt đẹp; nâng cao đạo đức công dân; làm phong phú sản phẩm văn hóa, xuất hiện nhiều hơn nữa tác phẩm có giá trị, thiết lập hệ thống dịch vụ văn hóa công cộng bao phủ toàn xã hội; đưa công nghiệp văn hóa trở thành ngành công nghiệp quan trọng của nền kinh tế; lấy văn hóa dân tộc làm chủ thể thu hút tinh hoa văn hóa thế giới, tăng cường xây dựng đội ngũ nhân tài. Đẩy mạnh giáo dục đạo đức công dân, đạo đức xã hội, đạo đức nghề nghiệp, mỹ đức gia đình, phẩm cách đạo đức cá nhân, thúc đẩy xã hội học tập…

Mỗi công dân phải bảo đảm tự tâm hướng thiện, tự giác duy trì đạo đức chung, đề cao các giá trị chân, thiện, mỹ, vứt bỏ cái giả, cái ác, cái xấu, thúc đẩy ngày càng nhiều những điều tốt đẹp trong xã hội. Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, để xứng đáng là một đảng cách mạng chân chính, đảng tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại, Đảng ta phải thực sự là hiện thân của “đạo đức”, “văn minh” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn. Và chỉ có như thế, Đảng mới chiếm trọn niềm tin của nhân dân, tiếp tục chèo lái thành công con thuyền cách mạng Việt Nam tiến về phía trước./.

ST.

“Hòa bình và tự vệ”: Tầm nhìn chiến lược và đúng đắn trong đường lối quốc phòng - an ninh của Việt Nam

Đường lối quốc phòng - an ninh “hòa bình và tự vệ” của Việt Nam thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta trong các thời kỳ cách mạng. Đường lối đó đã được khẳng định và thực hiện nhất quán, phù hợp với thực tiễn nước ta cũng như thế giới. Mọi âm mưu tuyên truyền của các thế lực thù địch, phản động hòng bóp méo, xuyên tạc đường lối quốc phòng - an ninh “hòa bình và tự vệ” của Việt Nam đều thể hiện sự sai lầm, phiến diện, thiếu căn cứ.

Những luận điệu lạc lõng, xuyên tạc đường lối quốc phòng - an ninh của Việt Nam

Thời gian qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh và đối ngoại. Chúng ta đã khẳng định rất rõ và thể hiện mong muốn, quyết tâm trong việc phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác, bình đẳng với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; đồng thời, tiếp tục khẳng định và làm rõ hơn tính chất cơ bản của nền quốc phòng - an ninh Việt Nam là “hòa bình và tự vệ”.

Tuy vậy, bất chấp sự thật đó, nhiều cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí, thù địch, phản động vẫn ra sức tuyên truyền, rêu rao, tung tin thất thiệt, hòng dẫn dắt dư luận cả trong  và ngoài nước hướng vào ý đồ của họ. Họ cố tình phủ nhận những thành tựu của đất nước, tỏ vẻ quan tâm, lo lắng khi hiện nay, thế giới có những biến chuyển sâu sắc và khó lường, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn đã tác động mạnh mẽ đến an ninh của các quốc gia và quốc tế. Từ đó, họ rêu rao rằng, Việt Nam “không thể” giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bởi theo họ, khả năng và sức mạnh tổng hợp quốc gia, sức mạnh quân sự, an ninh của Việt Nam hiện nay là “quá yếu” và “lạc hậu”, không đủ sức để tự bảo vệ. Họ “khuyên” Việt Nam nên “liên minh”, “chọn bên”, dựa vào nước lớn có thực lực quân sự, an ninh mạnh để nhận được sự bảo trợ, kể cả cung cấp, trang bị vũ khí; đưa lực lượng quân đội, an ninh đến trợ giúp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển, đảo quốc gia; rằng “chỉ có liên minh quân sự với một cường quốc thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền, bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc”?!

Ở một chiều cạnh khác, họ rêu rao rằng đường lối quốc phòng - an ninh “hòa bình và tự vệ” của Việt Nam rất “mơ hồ”, “không rõ ràng quan điểm” và “phi thực tế”. Thậm chí, họ nhấn mạnh đây là “đối sách nhu nhược”, là “hành động tự trói”, không phù hợp với xu thế hiện nay. Đối với cuộc xung đột Nga - U-crai-na, Việt Nam luôn thể hiện quan điểm, lập trường rõ ràng, xuyên suốt, đó là kêu gọi các bên liên quan giảm leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải pháp lâu dài có tính đến lợi ích và quan ngại của tất cả các bên, trên cơ sở luật pháp quốc tế, và điều này được thể hiện qua những lần Việt Nam bỏ phiếu thông qua các nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc về tình hình U-crai-na. Nhưng một số kẻ lại trắng trợn xuyên tạc rằng, Việt Nam phản đối sử dụng vũ lực, nhưng không bỏ phiếu ủng hộ; Việt Nam vì lợi ích mà bỏ qua “công lý và đạo lý”, khiến nhiều người “phải suy nghĩ lại” về lập trường chọn chính nghĩa của Việt Nam(!). Cá biệt, có luận điệu rêu rao rằng, Việt Nam đang thể hiện quan điểm theo kiểu “chung chung”, rằng Việt Nam ngụy tạo về “đứng về lẽ phải, công lý”... Họ tung tin thất thiệt, suy diễn thiếu căn cứ rằng Việt Nam, một mặt, nói là tự vệ; mặt khác, lại đang đẩy mạnh các hoạt động tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh, hiện đại hóa lực lượng quân đội, lực lượng vũ trang với việc trang bị nhiều loại vũ khí để dụng ý răn đe, đe dọa, chống lại một nước thứ ba. Từ đó, họ quy kết Việt Nam khơi mào cho cuộc chạy đua vũ trang trong khu vựctạo nguy cơ bất ổn trong khu vực.

Thực chất của những luận điệu phiến diện, phản động của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị khi xuyên tạc đường lối quốc phòng - an ninh của Việt Nam là hòng phủ nhận đường lối quốc phòng - an ninh của Đảng, Nhà nước ta, với dã tâm muốn phá vỡ nguyên tắc nền quốc phòng - an ninh tự chủ, tự lực, tự cường của một quốc gia độc lập, có chủ quyền, hòng làm suy yếu nền quốc phòng - an ninh của Việt Nam, dẫn đến sự lệ thuộc vào các lực lượng bên ngoài, gây nên những hệ quả xấu tới sức mạnh, chiến lược bảo vệ Tổ quốc, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia của Việt Nam. Mặt khác, họ mưu toan hướng lái Việt Nam vào tình thế đối đầu với nước khác để chia rẽ, làm mất lòng tin, phủ nhận truyền thống yêu chuộng hòa bình, nhân văn, nhân đạo của dân tộc Việt Nam cũng như thiện chí và sự đóng góp của Việt Nam trong thúc đẩy hòa bình trên thế giới.

Sự nhất quán và tầm nhìn chiến lược trong đường lối quốc phòng - an ninh “hòa bình và tự vệ” của Việt Nam

Cho dù các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị liên tục công kích, song sự thật vẫn là sự thật, Việt Nam luôn khẳng định sự nhất quán đường lối quốc phòng - an ninh “hòa bình và tự vệ” và thực hiện một cách nghiêm túc, có trách nhiệm. Đây là sự thể hiện tầm cao trí tuệ, đúc kết tài thao lược quân sự, quốc phòng - an ninh của Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang nhân dân, phù hợp với thực tiễn đất nước cũng như bối cảnh quốc tế. Đồng thời, thể hiện tính nhân văn sâu sắc trong quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta; khẳng định sự nhất quán và tầm nhìn chiến lược nhằm triệt tiêu hoàn toàn mầm mống chiến tranh, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn để phát triển đất nước. Đây là những yếu tố hết sức quan trọng để bảo đảm hòa bình thực sự không chỉ đối với Việt Nam, mà còn đối với các quốc gia khác trên thế giới.

Các chiến sĩ tuần tra bảo vệ vùng biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc_Ảnh: TTXVN

Đối với Việt Nam, “hòa bình” là sự bình an, ổn định và phát triển, không để xảy ra xung đột giữa các quốc gia, không có chiến tranh, khủng bố, cướp bóc; con người được sống một cuộc sống an ninh, an toàn, yên bình và hạnh phúc. Hơn nữa, “hòa bình” còn là khát vọng, là giá trị thiêng liêng, là mục tiêu của cả dân tộc Việt Nam. Là quốc gia đã phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh tự vệ, chịu nhiều đau thương, mất mát, khi Tổ quốc bị xâm lăng, hòa bình bị hủy hoại, hơn ai hết, người Việt Nam thấu hiểu sâu sắc giá trị của hòa bình, mong muốn duy trì và quyết tâm gìn giữ hòa bình đất nước, quyết tâm bảo vệ độc lập, tự do, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh, lợi ích quốc gia - dân tộc. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Bảo vệ Tổ quốc là bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân, xây dựng môi trường thuận lợi để phát triển, nhưng phải gắn với bảo vệ hòa bình, và hòa bình được coi là một giá trị thiêng liêng của đất nước”(1). Vì vậy, Việt Nam luôn mong muốn thế giới, khu vực, mọi quốc gia, dân tộc đều được hưởng hòa bình, tự do, ấm no, hạnh phúc. Đường lối quốc phòng - an ninh mang tính chất chính nghĩa, hòa bình và tự vệ đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định nhất quán. “Hòa bình” ở đây là không “mơ hồ, ảo tưởng”, “phi thực tế” như giọng điệu lạc lõng mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã rêu rao. “Hòa bình” không chỉ là thông điệp, mà còn là cam kết của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam gửi đến các quốc gia trên thế giới, với phương châm “chú trọng an ninh, an toàn là một trong những yếu tố hàng đầu trong cuộc sống của người dân”(2), đồng thời, “giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển”(3) và “không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”(4). Điều đó càng thể hiện sự yêu chuộng hòa bình, nhân văn, nhân đạo và thiện chí của Việt Nam. Đường lối đó không chỉ góp phần xây dựng, củng cố niềm tin, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn để phát triển đất nước, mà còn đập tan mọi âm mưu, hành động chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động.

“Tự vệ” trong đường lối quốc phòng - an ninh của Việt Nam là “kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch”, “có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”(5), “nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh”(6). Mục tiêu xuyên suốt của đường lối quốc phòng - an ninh Việt Nam là “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(7). Việt Nam cam kết và đã thể hiện trách nhiệm, nghĩa vụ quốc tế cao cả, đóng góp cho hòa bình, thịnh vượng, hợp tác phát triển chung của khu vực và thế giới bằng những hành động cụ thể, thiết thực với phương châm “thêm bạn, bớt thù”. Điều đó cho thấy, sự thật hoàn toàn trái ngược với luận điệu rêu rao, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động.

Trong thời gian qua, Việt Nam chủ trương “xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”(8), theo đó hiện đại hóa vũ khí, trang bị, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng để bảo vệ Tổ quốc đúng như tinh thần của đường lối quốc phòng “bốn không” của Việt Nam, không nhằm dụng ý răn đe sử dụng vũ lực hay sử dụng vũ lực chống lại nước khác. Mặt khác, Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh không đơn thuần là mua sắm, sản xuất, hiện đại hóa vũ khí trang bị, mà còn nâng cao sức mạnh quốc phòng - an ninh trên nhiều phương diện; xây dựng tiềm lực quốc phòng - an ninh theo chiến lược thống nhất, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, khả năng tác chiến và trình độ, năng lực của lực lượng vũ trang cách mạng. Trước các cuộc xung đột, đối đầu diễn ra trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam luôn lên án, phản đối các hành động gây hấn, tạo cớ, xung đột, chạy đua vũ trang, với quan điểm không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, tránh những va chạm không cần thiết, không để các đối tượng nước ngoài khiêu khích, kích động, thỏa hiệp xâm phạm lợi ích quốc gia - dân tộc hoặc lôi kéo, khống chế, gây sức ép với nước khác phát động chiến tranh; kiên quyết đấu tranh, kiên trì giải quyết tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, dù Việt Nam chủ trương không đe dọa hoặc sử dụng sức mạnh quân sự trước trong quan hệ quốc tế, nhưng Việt Nam sẵn sàng và kiên quyết giáng trả mọi hành động xâm lược, phá hoại an ninh quốc gia với phương châm “nếu đất nước có chiến tranh, chúng ta buộc lòng phải cầm súng thì cũng là vì hòa bình”(9).

Như vậy có thể khẳng định, “hòa bình và tự vệ” là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong đường lối quốc phòng - an ninh; cho thấy tầm nhìn chiến lược của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với các vấn đề an ninh khu vực và thế giới, gắn với thực tiễn cùng những thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt về quốc phòng - an ninh, đặc biệt là trong bối cảnh sự tranh giành ảnh hưởng, cạnh tranh chiến lược ngày càng sâu sắc, các hoạt động tập hợp lực lượng giữa các nước lớn theo xu hướng phân cực và tối đa hóa quyền lực tiếp tục được đẩy mạnh, nhiều quốc gia đã bị cuốn vào vòng xoáy, nhất là các nước vừa và nhỏ đang chịu tác động của lực “kéo - đẩy” ngày càng mạnh từ cuộc cạnh tranh này. Do vậy, để giữ vững độc lập, tự chủ, vừa giữ được mối quan hệ, vừa tránh bị cuốn vào “cuộc chơi” giữa các nước lớn, đòi hỏi sự xử lý hài hòa, cân bằng mối quan hệ nước lớn trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc. Điều đó càng cho thấy tầm nhìn chiến lược và sự đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong đường lối quốc phòng - an ninh “hòa bình và tự vệ”. Đề cập đến vấn đề này, nhiều học giả, chuyên gia nước ngoài đã đánh giá cao về đường lối quốc phòng - an ninh của Việt Nam. Tiến sĩ Ôn-li Pếch-ca Xu-o-ra (Olli Pekka Suorsa) thuộc Trường Nghiên cứu quốc tế S. Rajaratnam, Xin-ga-po (RSIS) nhận định: Chính sách “bốn không” của Việt Nam tăng thêm sự minh bạch và giúp xây dựng lòng tin trong khu vực và quốc tế. Còn theo Tiến sĩ C. K. Xuy Li-an (Collin Koh Swee Lean), Việt Nam mong muốn thể hiện chính sách quốc phòng hòa bình, không chỉ giúp khẳng định lợi ích quốc gia - dân tộc Việt Nam, mà còn cho thấy Việt Nam là một đối tác có tinh thần xây dựng đối với an ninh khu vực và quốc tế, đặc biệt khi Việt Nam gia tăng hợp tác quốc phòng với các nước(10).

Thực tiễn cho thấy, Việt Nam luôn nỗ lực thực thi đúng đắn đường lối quốc phòng - an ninh đã đề ra. Việt Nam đã và đang thực hiện những hành động thiết thực và cụ thể để xây dựng môi trường hòa bình không chỉ cho đất nước Việt Nam, mà còn đối với khu vực và thế giới. Đường lối quốc phòng - an ninh mà Việt Nam đang thực hiện là nhằm bảo vệ đất nước, giữ nước “từ sớm, từ xa”, “từ khi nước chưa nguy”, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược, vì hòa bình, an ninh, an toàn và phát triển. Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh cũng chính là yếu tố để tự vệ, không ngoài mục đích giữ gìn hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước, đồng thời góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới. Trong quan hệ đối ngoại, Việt Nam luôn kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, bình đẳng, cùng có lợi; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Minh chứng rõ nét nhất là việc Việt Nam đã cử sĩ quan liên lạc công tác ở Phái bộ gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc và cử lực lượng tham gia gìn giữ hòa bình ở Nam Xu-đăng, Cộng hòa Trung Phi... Đối với Việt Nam, hòa bình, ổn định và phát triển không tách rời hòa bình của khu vực và thế giới, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “giữ gìn hòa bình thế giới tức là giữ gìn lợi ích của nước ta”(11). Trước sự đối đầu giữa các nước, nhất là các nước lớn, Việt Nam không đứng về bên nào, Việt Nam đứng về lẽ phải và chính nghĩa, Việt Nam tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Đối với Việt Nam, việc sử dụng vũ lực và liên minh quân sự không phải là phương thức tối ưu trong bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trong giải quyết những bất đồng, Việt Nam luôn thực hiện hiệu quả đấu tranh hòa bình, trong đó sử dụng tổng hợp các biện pháp, như đấu tranh chính trị, đấu tranh pháp lý, đấu tranh bằng phương tiện truyền thông và dư luận xã hội trong nước cũng như quốc tế, đấu tranh bằng biện pháp hòa bình ngoài thực địa... Song song với các biện pháp đấu tranh hòa bình, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn chủ động đề ra kế sách bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; chủ động nhận diện, ngăn ngừa, triệt tiêu những nhân tố bất lợi, tiềm ẩn nguy cơ trở thành xung đột. Cùng với đó, các lực lượng vũ trang luôn đề cao cảnh giác, không để bị bất ngờ, thụ động; nhanh chóng, kịp thời phát hiện mọi âm mưu của nước ngoài đe dọa sử dụng vũ lực và sử dụng vũ lực xâm phạm chủ quyền, an ninh đất nước. Nếu điều đó xảy ra thì Việt Nam sẽ sử dụng quyền tự vệ chính đáng của mình bằng tất cả sức mạnh của một dân tộc yêu chuộng hòa bình kết hợp sức mạnh của thời đại để đánh bại mọi âm mưu, quy mô, hình thái chiến tranh từ kẻ thù, bảo vệ vững chắc chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Chính nhờ đường lối quốc phòng - an ninh “hòa bình và tự vệ” mà Việt Nam, một mặt, tiếp tục mở rộng quan hệ quốc tế; mặt khác, vẫn kiên định không tham gia liên minh quân sự hay liên kết với quốc gia này chống quốc gia khác. Hiện tại, Việt Nam hoàn toàn đủ khả năng để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, không để nảy sinh xung đột và xảy ra chiến tranh. Quan hệ ngoại giao của Việt Nam “phủ sóng” tới 189 trong tổng số 200 quốc gia trên toàn thế giới, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược với 17 nước, cùng 13 nước đối tác toàn diện; là nước duy nhất tại khu vực Đông Nam Á xây dựng khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với tất cả năm nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các nước lớn(12), góp phần định vị vững chắc hơn vị thế của Việt Nam trong quan hệ với các nước lớn trong bối cảnh cục diện khu vực, thế giới có nhiều biến đổi; có quan hệ đặc biệt với Lào, quan hệ hợp tác toàn diện với Cam-pu-chia; xây dựng quan hệ đối tác chiến lược với những nước có vai trò quan trọng ở các khu vực khác, như châu Phi, Mỹ La-tinh... Có thể nói, đây là điều chưa từng có tiền lệ với Việt Nam; là cơ hội thuận lợi để Việt Nam ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh, duy trì hòa bình, ổn định, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế./.

ST.

Hiện thực hóa khát vọng cống hiến của thanh niên quân đội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Thanh niên quân đội có những tiềm năng to lớn, luôn có khát vọng cống hiến. Để hiện thực hóa khát vọng này trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cần thẩm thấu, lan tỏa những giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam; truyền cảm hứng, cổ vũ, khích lệ, tạo động lực để họ thể hiện trách nhiệm với xã hội, quân đội; rèn luyện các hoạt động thực tiễn, đồng thời phát huy tính tích cực của mỗi thanh niên trong kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, tinh thần trách nhiệm với bản thân, với cộng đồng, xã hội.

Các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng trò chuyện cùng các đại biểu dự Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh quân đội lần thứ X (2022 - 2027)_Nguồn: qdnd.vn 

Đối với nước ta, đặc điểm lịch sử dựng nước, giữ nước đã hình thành ở mỗi thành viên trong cộng đồng dân tộc một khát vọng cháy bỏng, thường trực trong tâm thức của mọi thế hệ người Việt Nam từ xưa đến nay, đó là khát vọng phát triển đất nước. Khát vọng đó luôn trong tiềm thức của mỗi người, sẽ được đánh thức trở thành nguồn sức mạnh to lớn. Là một bộ phận quan trọng của thanh niên Việt Nam, thanh niên quân đội (TNQĐ) có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong thực hiện các nhiệm vụ ở đơn vị cơ sở, góp phần vào thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Họ luôn mang trong mình khát vọng được cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là một tiềm năng vô cùng to lớn, do vậy, cần có cơ chế, biện pháp để khơi dậy trong TNQĐ ước muốn, tình cảm, tinh thần tự nguyện, tự giác đem sức lực, tài năng, trí tuệ của mình đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của quân đội ta, lớp lớp thế hệ TNQĐ đã luôn đem hết sức mình cống hiến cho sự nghiệp chiến đấu, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cùng với góp phần hiện thực hóa khát vọng hùng cường của dân tộc. Điều đó đã được lịch sử ghi nhận, nhân dân yêu quý, bè bạn thế giới ca ngợi và được kết tinh cô đọng nhất trong phẩm chất anh “Bộ đội Cụ Hồ”. Khát vọng cống hiến đó được thể hiện ở lớp lớp các thế hệ TNQĐ không tiếc máu xương, hy sinh cả tuổi thanh xuân, tính mạng của mình cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, giải phóng nước nhà. Có thể kể đến những cái tên đã trở thành huyền thoại, như: Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót, Lý Tự Trọng, Nguyễn Văn Trỗi,... với các phong trào cách mạng như: “Cảm tử để cho Tổ quốc quyết sinh”, “Tòng quân giết giặc lập công” trong kháng chiến chống thực dân Pháp; “Ba sẵn sàng”, “Năm xung phong” trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ.

Bước vào thời kỳ đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, TNQĐ tiếp tục đem hết sức trẻ, nhiệt huyết, tài năng, trí tuệ, với bản lĩnh và ý chí kiên cường, tinh thần hết lòng vì nhân dân phục vụ, để hiện thực hóa khát vọng hùng cường của dân tộc, như Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(1). TNQĐ góp phần tạo nên cơ đồ, vị thế, tiềm lực ấy bằng việc đóng góp sức mình vào sự nghiệp xây dựng cơ sở chính trị, tăng cường quốc phòng - an ninh, giúp dân xóa đói, giảm nghèo, đến những nơi khó khăn, gian khổ nơi biên giới, hải đảo; xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; tích cực huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu..., với các phong trào cụ thể, như: “Phấn đấu xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, “Thanh niên giành 3 đỉnh cao quyết thắng”, “Thanh niên quân đội thi đua rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, “Thanh niên quân đội vươn tới những đỉnh cao”, “Thanh niên quân đội tiến quân vào khoa học và công nghệ”, “Thanh niên quân đội rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, quyết thắng”. Đặc biệt, trong những năm qua, TNQĐ luôn đi đầu trong phòng, chống dịch COVID-19 với tinh thần “Khi dịch bệnh nguy hiểm, quân đội luôn là trụ cột của quốc gia”; trong phòng, chống thiên tai, hỗ trợ đồng bào khắc phục thiên tai, lũ lụt - "những nơi khó khăn nhất có quân đội”, “quân đội sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân”...

Tuy nhiên, hiện nay, tình hình thế giới, khu vực, trong nước đang có những diễn biến phức tạp, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quân đội đang đặt ra những yêu cầu mới, cao hơn. Cùng với đó, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và các thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống, tình hình thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp; ảnh hưởng từ mặt trái của kinh tế thị trường và mở cửa, hội nhập quốc tế… Những vấn đề tiêu cực, như: Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng... Với chiến lược "diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, các thế lực thù địch đang hướng mũi tấn công vào thế hệ trẻ, trong đó có bộ phận TNQĐ. Trong khi đó, công tác giáo dục đoàn viên, thanh niên ở một số đơn vị quân đội chưa sâu sát, thiếu cách làm mới, chưa thật sự hấp dẫn, cuốn hút. Sinh hoạt đoàn còn đơn điệu; tính chiến đấu chưa cao. Một bộ phận TNQĐ nhận thức về nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới chưa sâu sắc; nhận diện về đối tượng, đối tác chưa rõ ràng; ý thức tổ chức kỷ luật chưa cao; một số còn để xảy ra vi phạm kỷ luật nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến bản chất, truyền thống tốt đẹp của quân đội. Thực trạng đó đang làm suy giảm việc khơi dậy và nhân lên tình cảm, tinh thần tự nguyện, tự giác đem sức lực, tài năng, trí tuệ của TNQĐ đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Để khơi dậy nguồn lực to lớn và mạnh mẽ từ khát vọng cống hiến của TNQĐ, trong thời gian tới, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, tiếp tục thẩm thấu, lan tỏa những giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam vào TNQĐ bằng cách tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho TNQĐ một cách toàn diện cả về nội dung, hình thức, phương pháp. Về nội dung, cần tập trung giáo dục các giá trị truyền thống của dân tộc, về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa, lòng yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, ý chí tự lực, tự cường; bản chất tốt đẹp của Đảng, của chế độ xã hội chủ nghĩa; bản chất, truyền thống của quân đội, truyền thống của đơn vị, nhất là những tấm gương anh hùng qua các thời kỳ để truyền cảm hứng cống hiến trong TNQĐ. Về hình thức, phương pháp giáo dục, cần vận dụng linh hoạt, đổi mới mạnh mẽ theo hướng lấy đoàn viên, thanh niên làm trung tâm, lấy trình độ nhận thức, bản lĩnh chính trị, niềm tin, tình cảm, ý chí, trách nhiệm của thanh niên và hiệu quả công tác làm thước đo chất lượng; coi trọng giáo dục qua hoạt động thực tiễn, qua các phong trào hành động cách mạng của thanh niên, đồng thời bám sát tình hình thực tiễn các nhiệm vụ chính trị của đất nước, nhiệm vụ chính trị của quân đội, đơn vị để xác định nội dung cho giàu tính thực tiễn, mang hơi thở cuộc sống, sinh động, thiết thực và thuyết phục.

Hai là, truyền cảm hứng, cổ vũ, khích lệ TNQĐ nêu cao tinh thần trách nhiệm đối với đất nước, xã hội, quân đội. Việc truyền cảm hứng, cổ vũ, khích lệ cho TNQĐ hiện thực hóa khát vọng cống hiến là trách nhiệm của mọi thành viên trong đơn vị, chủ yếu và trực tiếp nhất là người chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp, đoàn thanh niên, đội ngũ cán bộ đoàn ở đơn vị. Truyền cảm hứng, cổ vũ, khích lệ cho TNQĐ trước hết phải hiểu về họ. Người chính ủy, chính trị viên, cán bộ đoàn phải luôn nêu cao tinh thần gương mẫu, trách nhiệm, tận tậm, tận tụy, là người “nói được - làm được”, “nói hay - làm giỏi”, “nói đúng - làm đúng”. Các đơn vị cần xây dựng được các thủ lĩnh đoàn có tâm, tầm, trí, đủ năng lực, uy tín để lãnh đạo phong trào đoàn. Muốn vậy, chính ủy, chính trị viên cần phát hiện, bồi dưỡng, kết nạp vào Đảng những quân nhân ưu tú trưởng thành trong phong trào lao động, học tập, huấn luyện, xây dựng đơn vị, từ đó làm nòng cốt xây dựng phong trào đoàn. Các đơn vị cần khai thác và phát huy hiệu quả các phương tiện truyền thông, các diễn đàn, đối thoại để tăng cường tuyên truyền, truyền cảm hứng, động lực, khơi dậy khát vọng, ý chí quyết tâm của tuổi trẻ; xây dựng và nhân rộng nhiều tập thể quân nhân tiên tiến, những quân nhân có đạo đức để làm gương, truyền đi cảm hứng cho TNQĐ phấn đấu, luôn vươn lên khẳng định mình, không ngừng sáng tạo để lập thân, lập nghiệp xây dựng đơn vị công tác, học tập, chiến đấu vững mạnh . Lực lượng 47 ở các đơn vị cần khai thác và sử dụng hiệu quả các phương tiện truyền thông xã hội nhằm lan tỏa nhanh chóng, rộng khắp những kết quả nổi bật trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị của quân đội và đơn vị, nhất là những hình ảnh TNQĐ tham gia giúp đỡ nhân dân phát triển kinh tế - xã hội, những tấm gương nỗ lực cùng toàn dân chống dịch bệnh, phòng, chống thiên tai, công tác, lao động, chiến đấu giỏi. Đồng thời, tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, xuyên tạc, âm mưu phủ nhận các giá trị, truyền thống tốt đẹp của quân đội và hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”.

Ba là, xây dựng môi trường thực tiễn có những điều kiện cần thiết để TNQĐ hiện thực hóa khát vọng cống hiến. Môi trường vừa là nơi trau dồi tri thức, rèn luyện các kỹ năng xã hội, phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực của TNQĐ, đồng thời vừa là nơi nuôi dưỡng, cổ vũ họ tự tin hiện thực hóa các khát vọng của bản thân, tham gia xây dựng đời sống văn hóa, giúp đỡ nhân dân các địa phương phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, đơn vị vững mạnh toàn diện, mẫu mực, tiêu biểu… Môi trường thực tiễn của quân nhân bao gồm môi trường ở gia đình, quân đội và xã hội. Với môi trường gia đình, khát vọng cống hiến của TNQĐ phụ thuộc vào sự nêu gương của những thế hệ đi trước, với những giá trị truyền thống của gia đình. Theo đó, cần phát huy tính nêu gương, truyền thống của dòng họ, ông bà, cha mẹ và những thành viên trong gia đình để thực sự là nguồn cổ vũ tinh thần, là tấm gương và có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành nhân cách, giá trị đạo đức, lối sống của TNQĐ. Đối với môi trường quân đội và xã hội, người chính ủy, chính trị viên, chỉ huy các cấp cần tổ chức tốt các hình thức huấn luyện, bồi dưỡng kỹ năng xã hội; xây dựng và nhân rộng các mô hình tiêu biểu của sự cống hiến, mang đậm tính tôn vinh; xây dựng các mối quan hệ xã hội, quan hệ quân nhân thấm đậm nghĩa tình đồng chí, đồng đội, giàu tính nhân văn, nhân ái. Qua đó, khuyến khích, động viên và tổ chức các hoạt động giúp đỡ TNQĐ tự học tập kiến thức, rèn luyện kỹ năng để thích nghi với môi trường làm việc công nghiệp, hội nhập quốc tế, môi trường khó khăn, vất vả của quân đội và những nhiệm vụ chính trị của quân đội, đơn vị cần đến sự hy sinh, cống hiến, xung kích của mỗi quân nhân.

Phát huy tính tích cực của thanh niên quân đội trong kế thừa, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, niềm tự hào dân tộc_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Bốn là, tăng cường đưa TNQĐ vào thực tiễn thực hiện nhiệm vụ nhằm rèn luyện và hiện thực hóa khát vọng cống hiến. Để TNQĐ hiện thực hóa khát vọng cống hiến trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ, đặc biệt là các nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, cấp ủy, chỉ huy trực tiếp ở đơn vị cơ sở cần rèn luyện cho họ bản lĩnh chính trị vững vàng, động cơ trong sáng, trách nhiệm cao, nhất là trong những trường hợp có thể phải sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì sự an toàn cho tính mạng và tài sản của nhân dân; trong quan hệ với nhân dân, TNQĐ luôn phải tôn trọng, giúp đỡ, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng nhường cơm sẻ áo, chia sẻ với nhân dân; với các nhiệm vụ quốc tế, phải có tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung, chí nghĩa, chí tình, kiên quyết chống mọi biểu hiện gây mất đoàn kết, chia rẽ, bè phái, cục bộ trong nội bộ và các hoạt động phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế. Mặt khác, cần nâng cao tinh thần chấp hành nghiêm quy định khi quan hệ với người nước ngoài, để mỗi cán bộ, chiến sĩ, TNQĐ thực sự là những “đại sứ hình ảnh” trong công tác đối ngoại quân sự, quốc phòng, an ninh. Trong thực hiện các nhiệm vụ này, cần trang bị cho họ tri thức khoa học, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ,  kỷ luật, tự giác, nghiêm minh; luôn quán triệt và thực hiện tinh thần “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Năm là, phát huy tính tích cực của TNQĐ trong kế thừa, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, niềm tự hào dân tộc; phát huy tinh thần trách nhiệm với bản thân, với cộng đồng, xã hội và quân đội. Theo đó, bản thân mỗi TNQĐ cần tích cực học tập và tự học tập để nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, khoa học, kỹ thuật, tay nghề để thích ứng với những thay đổi của tình hình kinh tế - xã hội, nhiệm vụ chính trị của quân đội. TNQĐ phải xung kích, đi đầu trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây dựng đơn vị vững mạnh. Đồng thời, tăng cường phối hợp hoạt động với lực lượng thanh niên trên các địa bàn đóng quân; thực hiện tốt công tác đối ngoại quân sự và công tác dân vận, tập trung vào xây dựng cơ sở chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; thực hiện tốt chức năng của “đội quân công tác”, góp phần xây dựng mối quan hệ đoàn kết máu thịt quân dân và củng cố “thế trận lòng dân” ngày càng thêm vững chắc./.

ST.