Chủ Nhật, 17 tháng 12, 2023
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: “THẾ TRẬN LÒNG DÂN”!
KHÔNG THỂ ĐỔ LỖI CHO CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN!
SỰ CẦN THIẾT CỦA CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG!
NÂNG CAO CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG CHIÊU TRÒ LỢI DỤNG MẠNG XÃ HỘI ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC!
Thứ Bảy, 16 tháng 12, 2023
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã và đang chỉ đạo thực tiễn cách mạng nước ta, xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật sự trung thành của nhân dân. Để tiếp tục giải quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” theo Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang nỗ lực không ngừng học tập và làm theo tư tưởng của Người.
Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là người lãnh đạo cách mạng, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân thực hiện đường lối đó một cách có hiệu quả nhất. Đảng muốn giữ được vai trò lãnh đạo, được dân tin, dân phục, dân yêu thì một vấn đề căn bản là, trong Đảng “từ Trung ương tới các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(1).
Công việc xây dựng, chỉnh đốn tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên
Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Với cương vị lãnh đạo hệ thống chính trị, Đảng phải xứng danh là người lãnh đạo, phải là một Đảng trí tuệ, đạo đức, văn minh. Là thành viên của hệ thống chính trị, Đảng phải hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật, không được đứng trên, đứng ngoài pháp luật; không được đứng trên Nhà nước và nhân dân. Đảng phải xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân; chống mọi biểu hiện tiêu cực của bộ máy nhà nước, như bệnh quan liêu, lãng phí, tham nhũng; xây dựng và nâng cao bản lĩnh chính trị và uy tín của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Uy tín này chủ yếu nằm ở đạo đức cách mạng, bản lĩnh và trí tuệ; ở sức cảm hóa, thuyết phục nhân dân, với tinh thần hiểu dân, học dân, hỏi dân, tin dân, thật sự là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(2).
Theo Hồ Chí Minh, muốn như vậy, một trong những biện pháp cơ bản là Đảng phải thường xuyên xây dựng, chỉnh đốn Đảng, và đây là công việc thường xuyên; Đảng cầm quyền, nhưng nhân dân là chủ. Vì vậy, chỉnh đốn Đảng một mặt, khẳng định sức mạnh chính trị to lớn của Đảng trong cải tạo cái cũ, xây dựng cái mới đối với các lĩnh vực đời sống xã hội; mặt khác, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện thoái hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên lợi dụng cương vị của Đảng vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, đi ngược lại lợi ích, nguyện vọng của nhân dân, dẫn tới lạm quyền, lộng quyền, đặc quyền, đặc lợi.
Hồ Chí Minh cho rằng, Đảng ta vừa là đạo đức, vừa là văn minh, là người khởi xướng và lãnh đạo mọi sự đổi thay của đất nước qua các giai đoạn lịch sử của cách mạng. Ngay từ những ngày đầu lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Muốn làm cách mạng giành chính quyền, cần có nhiều yếu tố, song nhân tố quan trọng quyết định nhất là phải có Đảng chân chính của giai cấp công nhân và của nhân dân lao động. Đặc biệt, trước mỗi bước ngoặt của cách mạng, Người nhấn mạnh thêm, để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, Đảng phải coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đó là việc trước tiên, việc chính, việc cần kíp, việc phải làm ngay.
Theo Người, mỗi cán bộ, đảng viên trong bất kỳ môi trường xã hội nào luôn chịu sự tác động của những cái hay, cái dở, cái tốt, cái xấu. Để loại bỏ cái xấu, cái dở cần phải rèn luyện thường xuyên, trong đó biện pháp quan trọng là đổi mới, xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Chỉnh đốn Đảng là để cán bộ, đảng viên khi gặp khó khăn thì củng cố quan điểm, lập trường, tư tưởng, bình tĩnh sáng suốt, không bi quan, không chủ quan, tự mãn. Chỉnh đốn, xây dựng Đảng là để khắc phục những thiếu sót, khuyết điểm, làm cho Đảng mạnh lên. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(3).
Nội dung xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện rất phong phú, đa dạng. Người nêu rõ phương châm từng bước, có trọng tâm, có kế hoạch rõ ràng, chu đáo. Chỉnh đốn Đảng, xây dựng Đảng phải làm toàn diện cả chính trị, tư tưởng và tổ chức; phải được tiến hành ở tất cả các cấp. Trong đó đặc biệt coi trọng làm tốt ở chi bộ, vì chi bộ là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Mỗi chi bộ của Đảng phải là một hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với quần chúng, phát huy được trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng”(4); Người còn chỉ rõ: “Chi bộ là gốc rễ của Đảng ở trong quần chúng. Chi bộ tốt thì mọi chính sách của Đảng đều được thi hành tốt, mọi công việc đều tiến bộ không ngừng. Trái lại, nếu chi bộ kém thì công việc không trôi chảy”(5).
Một nội dung quan trọng nữa trong xây dựng chỉnh đốn Đảng, theo Hồ Chí Minh, là xây dựng đội ngũ đảng viên. Hồ Chí Minh đề cập đến nhiều nội dung, nhưng toát lên những nội dung bản chất nhất: Một, đảng viên phải suốt đời phấn đấu hy sinh cho lý tưởng của Đảng. Quá trình phấn đấu đó là bền bỉ, liên tục. Hai, đảng viên phải luôn đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, của cách mạng lên trên hết, trước hết, biết hy sinh lợi ích của cá nhân mình để bảo đảm lợi ích cho Đảng. Ba, đảng viên phải có đời tư trong sáng, là một tấm gương mẫu mực để mọi người noi theo.
Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến trách nhiệm và tư cách đảng viên. Tư tưởng chủ đạo và xuyên suốt là, đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết và ra sức phấn đấu tu dưỡng rèn luyện, học tập để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân được tốt hơn.
Để tiếp tục làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay
Trung thành với tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta từ khi ra đời đến nay luôn coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đặc biệt những năm gần đây, Đảng đã có nhiều nghị quyết, như Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VII), Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, Nghị quyết Trung ương 9 (khóa IX, X), Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) đã đặt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là việc rất quan trọng, thực hiện toàn diện từ chính trị, tư tưởng và tổ chức tốt công tác cán bộ, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên. Đặc biệt, trong tình hình hiện nay, công tác tự phê bình và phê bình trong Đảng còn yếu; tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa được ngăn chặn, đẩy lùi; nhiều đảng viên và tổ chức đảng tính chiến đấu chưa cao, nhất là ở tổ chức cơ sở đảng; việc xây dựng quy chế và hoàn thiện quy chế theo hướng đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng còn hạn chế và có nhiều lúng túng..., càng đòi hỏi phải coi trọng, đẩy mạnh và quyết tâm chỉ đạo chặt chẽ hơn nữa cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Để thực hiện nội dung xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay, trực tiếp thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI, theo chúng tôi cần tập trung làm tốt một số nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân kiên định, giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng, hệ tư tưởng của Đảng.
Công tác giáo dục phải làm cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng ăn sâu, bám chắc vào đời sống chính trị tinh thần của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Trên cơ sở nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên phải trung thành, vận dụng sáng tạo lý luận của Đảng vào từng lĩnh vực của đời sống xã hội. Tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng trên nền của sự giác ngộ chính trị cao và những nguyên tắc của công tác xây dựng Đảng, ra sức tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận và đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta, phá hoại khối đoàn kết trong Đảng, trong toàn xã hội.
Thứ hai, ra sức học tập, rèn luyện đạo đức, lối sống cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Trước hết phải nâng cao kiến thức mọi mặt cho cán bộ, đảng viên, trong đó tập trung bồi dưỡng lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, năng lực tư duy, hoạt động thực tiễn và chuyên môn nghiệp vụ, thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Khắc phục triệt để tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên giảm sút ý chí, phai nhạt lý tưởng, thoái hóa, biến chất về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống... Đảng ta xác định việc học tập, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống là chế độ bắt buộc, là tiêu chuẩn để phân loại, đánh giá chất lượng tổ chức đảng và đảng viên.
Thứ ba, củng cố tổ chức, chấp hành nghiêm các nguyên tắc, chế độ sinh hoạt của Đảng.
Đây là cơ sở để củng cố tổ chức, bảo đảm đoàn kết thống nhất, kỷ luật trong Đảng. Vì vậy, phải quán triệt, chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng, chế độ tự phê bình và phê bình trong toàn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), khóa VIII; Nghị quyết Đại hội Đảng lần IX, X, XI và Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI, để tiếp tục khơi dậy và phát huy tính tích cực, dân chủ, trách nhiệm của đảng viên. Kiên quyết chống quan điểm, tư tưởng phủ nhận, xuyên tạc, bóp méo nguyên tắc, chế độ xây dựng Đảng, hòng làm cho Đảng suy yếu về tổ chức, dẫn đến biến chất Đảng./.
ST.
Phòng, chống tham nhũng cần gắn liền với công tác xây dựng Đảng
Một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý mà Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) chỉ rõ là tham nhũng. Phòng, chống tham nhũng là một vấn đề được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Tuy nhiên, tệ tham nhũng vẫn đang là nỗi bức xúc của xã hội và là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ ta.
Tham nhũng dù tiếp cận dưới góc độ nào thì vẫn là hành vi bất hợp pháp của người có trọng trách trong bộ máy công quyền nhằm trục lợi cá nhân. Rõ ràng, chủ thể tham nhũng phải là người có chức, có quyền, có vị thế trong hệ thống quyền lực công; mục đích tham nhũng là nhằm mang lại lợi ích cho bản thân; hành vi tham nhũng là lợi dụng vị thế, quyền lực của mình để nhận hối lộ, đưa hối lộ, tham ô, chiếm đoạt hay sử dụng trái phép tài sản chung, gây ảnh hưởng, tạo áp lực, nhũng nhiễu, cửa quyền, bao che, cản trở, can thiệp...
Với mục đích và hành vi như thế, tham nhũng gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng cho mọi quốc gia không chỉ về kinh tế, đạo đức mà còn cả về chính trị, xã hội, an ninh; nhất là những nước nghèo. Vì vậy, nhiều quốc gia coi tham nhũng là một loại tội phạm nguy hiểm, một quốc nạn trực tiếp tàn phá sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, gây mất ổn định xã hội, đe dọa sự tồn vong của chế độ.
Ở Việt Nam, ngay từ những ngày đầu xây dựng chế độ mới, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm nhiều tới công tác phòng, chống tham nhũng và lãng phí. Vì vậy, trong nhiều thập niên, tệ tham nhũng chưa trở thành mối lo của xã hội ta. Tuy nhiên, thời gian gần đây, tham nhũng đang trở thành nỗi bức xúc của toàn xã hội. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, các diễn đàn của Quốc hội, tại các kỳ đại hội Đảng các cấp, nhiều người đã chỉ rõ sự phổ biến của tệ tham nhũng và phê phán gay gắt tệ tham nhũng, gọi tham nhũng là quốc nạn.
Nhận thức đúng những nguy cơ dẫn đến làm mất niềm tin của nhân dân, bất ổn định xã hội và đe dọa sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa, kịp thời phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân, Đại hội IX (tháng 4-2001) của Đảng vạch rõ: “Hiện nay, cán bộ, đảng viên và nhân dân ta hết sức quan tâm đến cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Nạn tham nhũng diễn ra nghiêm trọng, kéo dài gây bất bình trong nhân dân và là một nguy cơ đe dọa sự sống còn của chế độ ta. Phải tăng cường về tổ chức và cơ chế, tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng trong bộ máy nhà nước và toàn bộ hệ thống chính trị, ở các cấp, các ngành, từ trung ương đến cơ sở... Xử lý nghiêm minh theo pháp luật và Điều lệ Đảng những cán bộ, đảng viên, công chức ở bất cứ cấp nào, lĩnh vực nào lợi dụng chức quyền để tham nhũng”, và “Nghiêm trị những kẻ tham nhũng, vô trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng; người lãnh đạo cơ quan để xảy ra tham nhũng cũng phải bị xử lý về trách nhiệm. Bảo vệ những người kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng; khen thưởng người phát hiện đúng những vụ tham nhũng”(1).
Triển khai những tư tưởng quan trọng của Đại hội IX của Đảng về chống tham nhũng, kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Phòng, chống tham nhũng vào ngày 29-11-2005, được Chủ tịch nước ký Lệnh và có hiệu lực từ ngày 1-6-2006. Luật Phòng, chống tham nhũng gồm 8 chương với 92 điều(2). Đây là bộ luật khá toàn diện, đầy đủ các khía cạnh pháp luật xung quanh vấn đề phòng, chống tham nhũng ở nước ta; đồng thời, đã thể hiện được những tư tưởng cơ bản và quyết tâm phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta.
Mặc dù, công tác phòng, chống tham nhũng đã có sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và sự quan tâm của toàn xã hội nhưng tình trạng tham nhũng vẫn chưa được ngăn chặn, không giảm mà có xu hướng tăng. Đặc biệt, một loạt vụ án tham nhũng lớn được công luận phát hiện chưa được điều tra và xét xử kịp thời... Trước thực trạng đó, dư luận trở nên hết sức bức xúc và hoài nghi. Nhiều ý kiến cho rằng, chống tham nhũng chủ yếu mang tính hình thức, trên giấy tờ, trong các cuộc họp, hô hào khẩu hiệu; xử lý tham nhũng thiếu nghiêm minh, bao che, chạy tội, nể nang, mang tính nội bộ, không công khai, không minh bạch, không bình đẳng; thậm chí, còn có “vùng cấm”, “vùng an toàn” cho “quan tham”...
Trước thực trạng cấp bách đó, Đại hội X (tháng 4-2006) của Đảng chỉ rõ: “Tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí là đòi hỏi bức xúc của xã hội, là quyết tâm chính trị của Đảng ta, nhằm xây dựng một bộ máy lãnh đạo và quản lý trong sạch, vững mạnh, khắc phục một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta...
Sắp tới, phải thi hành một cách kiên quyết và đồng bộ hệ thống các biện pháp phòng, chống tham nhũng, lãng phí,... Khẩn trương và nghiêm chỉnh thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng...; bổ sung, sửa đổi Luật Khiếu nại và tố cáo. Xử lý kiên quyết, kịp thời, công khai những người tham nhũng bất kể ở chức vụ nào, đương chức hay đã nghỉ hưu, tịch thu, sung công tài sản có nguồn gốc từ tham nhũng; những người bao che cho tham nhũng, hoặc lợi dụng việc tố cáo tham nhũng để vu khống, làm hại người khác, gây mất đoàn kết nội bộ; có cơ chế khuyến khích và bảo vệ những người tích cực đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực”(3). Đại hội X khẳng định: “Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí là một nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng, nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Các cấp ủy và tổ chức đảng phải nhận thức sâu sắc tính cấp thiết, lâu dài, phức tạp và khó khăn của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; có quyết tâm chính trị cao, đấu tranh kiên quyết, kiên trì, liên tục, có hiệu quả từ Trung ương đến cơ sở, trong Đảng, Nhà nước và toàn xã hội”(4).
Cụ thể hóa những tư tưởng quan trọng của Đại hội X về phòng, chống tham nhũng, Hội nghị Trung ương 3 (khóa X) đã tập trung thảo luận và ra Nghị quyết Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Hội nghị nhận định: “... cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí còn nhiều hạn chế, khuyết điểm, hiệu quả thấp. Tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta”. Hội nghị chỉ rõ 4 nguyên nhân dẫn đến những yếu kém này; nêu rõ mục tiêu của phòng, chống tham nhũng là: “Ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí; tạo bước chuyển biến rõ rệt để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội; củng cố lòng tin của nhân dân; xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương, liêm chính”(5). Đồng thời, Hội nghị cũng nêu rõ 5 quan điểm chỉ đạo và 10 chủ trương, giải pháp lớn nhằm thúc đẩy cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí bước vào giai đoạn mới quyết liệt và triệt để hơn.
Hiện thực hóa những tư tưởng cơ bản của Đại hội X và triển khai Nghị quyết Trung ương 3 về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, ngày 28-8-2006, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 1039/2006/NQ-UBTVQHXI về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1009/2006 về nhân sự Ban Chỉ đạo. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ trực tiếp làm Trưởng ban, Phó Thủ tướng là Phó trưởng ban và các ủy viên gồm: Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo (thường trực), Tổng Thanh tra Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Phó Ban Nội chính Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
Tiếp đó, ngày 22-9-2006, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Nghị định số 107/2006, quy định xử lý trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong đơn vị do mình quản lý, phụ trách; ngày 5-10-2006, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 1046/2006/NQ-UBTVQH XI phê chuẩn Quyết định số 121/QĐ-VKSNDTC/V9 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về việc thành lập các đơn vị mới của Viện, trong đó có Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án tham nhũng; ngày 31-10-2006, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1424/QĐ-TTg thành lập Cục Chống tham nhũng thuộc Thanh tra Chính phủ; ngày 13-11-2006, Bộ trưởng Bộ Công an đã ký Quyết định số 1816 thành lập Cục Cảnh sát điều tra tội phạm tham nhũng; ngày 1-2-2007, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã công bố Quyết định số 13/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về thành lập Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng...
Các tư tưởng chỉ đạo và sự triển khai công tác phòng, chống tham nhũng như nêu trên đã thể hiện quyết tâm cao của Đảng và Nhà nước ta trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng thời gian qua. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, mặc dù công tác phòng, chống tham nhũng đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng tình trạng tham nhũng vẫn mang tính phổ biến trong đời sống xã hội với rất nhiều biểu hiện khác nhau. Nhiều vụ án lớn gây chấn động xã hội không được xử lý nghiêm minh, dứt điểm đã gây nghi ngờ, mất lòng tin của nhân dân. Những vụ khiếu kiện đông người, kéo dài chủ yếu là do người dân bức xúc bởi sự không công khai, minh bạch và có dấu hiệu tham nhũng liên quan đến đất đai của một bộ phận không nhỏ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở địa phương mà chỉ có rất ít người bị xử lý kỷ luật; thậm chí, có người còn được thuyên chuyển công tác với chức vụ và quyền lực cao hơn. Tệ tham nhũng đã có nhiều biến thái tinh vi khác thường, nó không chỉ dừng lại ở biến tài sản công thành tài sản tư, không chỉ đơn thuần ở nhận và đưa hối lộ mà còn ở sự tham nhũng cả địa vị, chức vụ, quyền lực, vị thế, cơ hội và liên kết tạo lập, bảo vệ lợi ích nhóm. Sự biến hóa và phổ biến của tham nhũng trong xã hội ta thời gian qua đã không chỉ thực sự gây bức xúc trong xã hội mà còn tạo ra nỗi bất bình và thất vọng của không ít người.
Nhận rõ những hạn chế yếu kém trong công tác phòng, chống tham nhũng thời gian qua, nhận diện thực trạng tham nhũng là nghiêm trọng và thấy rõ những hậu quả khôn lường mà tham nhũng gây ra đối với đời sống xã hội và sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta hiện nay, Đảng ta nêu rõ: “Phòng và chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài. Mọi cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân từ trung ương đến cơ sở và từng đảng viên, trước hết là người đứng đầu phải gương mẫu thực hiện và trực tiếp tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.
Tiếp tục hoàn thiện thể chế và đẩy mạnh cải cách hành chính phục vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tập trung vào các lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng, lãng phí. Nghiên cứu phân cấp, quy định rõ chức năng cho các ngành, các cấp trong phòng, chống tham nhũng... Thực hiện chế độ công khai, minh bạch về kinh tế, tài chính trong các cơ quan hành chính, đơn vị cung ứng dịch vụ công, doanh nghiệp nhà nước. Công khai, minh bạch về cơ chế, chính sách, các dự án đầu tư, xây dựng cơ bản, mua sắm từ ngân sách nhà nước, huy động đóng góp của nhân dân, quản lý và sử dụng đất đai, tài sản công, công tác tiếp nhận, bổ nhiệm cán bộ. Thực hiện có hiệu quả việc kê khai và công khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức theo quy định. Cải cách chính sách tiền lương, thu nhập, chính sách nhà ở bảo đảm cuộc sống cho cán bộ, công chức để góp phần phòng, chống tham nhũng. Hoàn thiện các quy định trách nhiệm của người đứng đầu khi để cơ quan, tổ chức, đơn vị xảy ra tham nhũng, lãng phí. Xử lý đúng pháp luật, kịp thời, công khai cán bộ tham nhũng; tịch thu, sung công tài sản tham nhũng, tài sản có nguồn gốc từ tham nhũng... Có cơ chế khuyến khích và bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; đồng thời kỷ luật nghiêm những người bao che, cố tình ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí hoặc lợi dụng việc tố cáo tham nhũng để vu khống, làm hại người khác, gây mất đoàn kết nội bộ. Tôn vinh những cá nhân liêm chính. Tổng kết, đánh giá cơ chế và mô hình tổ chức cơ quan phòng, chống tham nhũng để có chủ trương, giải pháp phù hợp”(7).
Những tư tưởng cơ bản của Đại hội XI nêu trên cho thấy, sự nhất quán và quyết tâm chính trị cao độ của Đảng ta về phòng, chống tham nhũng trong giai đoạn hiện nay. Đặc biệt, Đảng ta đã chỉ rõ, do tính chất phức tạp và tinh vi của hành vi tham nhũng nên phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài; mọi cán bộ lãnh đạo của cả hệ thống chính trị và từng đảng viên đều phải tích cực tham gia; người đứng đầu phải gương mẫu thực hiện và trực tiếp tham gia cuộc đấu tranh này.
Để cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng đạt hiệu quả phải hoàn thiện thể chế và cải cách hành chính theo hướng phục vụ công tác phòng, chống tham nhũng. Quy định rõ chức năng cho các ngành, các cấp trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Cải cách chế độ tiền lương, thu nhập, chính sách nhà ở phù hợp để góp phần phòng, chống tham nhũng. Hoàn thiện các quy định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị xảy ra tham nhũng. Xây dựng các chế tài xử lý những tổ chức, cá nhân gây thất thoát, lãng phí lớn tài sản của Nhà nước, của nhân dân;...
Để kịp thời phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng cần: Chú trọng các biện pháp phòng ngừa tham nhũng; thực hiện chế độ công khai, minh bạch về kinh tế, tài chính trong các cơ quan hành chính, đơn vị cung ứng dịch vụ công, doanh nghiệp nhà nước; công khai, minh bạch về cơ chế, chính sách, các dự án đầu tư, xây dựng cơ bản, mua sắm từ ngân sách nhà nước…; công khai, minh bạch trong công tác cán bộ, tiếp nhận và bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo; thực hiện có hiệu quả việc kê khai và công khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức…
Cùng với các giải pháp nêu trên, cần thực hiện những biện pháp quyết liệt trong quá trình đấu tranh phòng, chống tham nhũng: Truy xét trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị xảy ra tham nhũng; xử lý đúng pháp luật, kịp thời, công khai cán bộ tham nhũng; tịch thu, sung công tài sản tham nhũng và có nguồn gốc từ tham nhũng; kỷ luật nghiêm những người bao che, cố tình ngăn cản việc chống tham nhũng; kỷ luật nghiêm những người lợi dụng việc tố cáo tham nhũng để vu khống, làm hại người khác, gây mất đoàn kết nội bộ...
Đồng thời, với những quan điểm, giải pháp và biện pháp nêu trên để cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong điều kiện hiện nay ngày càng đi vào chiều sâu và đạt hiệu quả xã hội, cần: Có cơ chế khuyến khích và bảo vệ những người đấu tranh chống tham nhũng; tôn vinh những tấm gương liêm chính; tiến hành tổng kết, đánh giá cơ chế và mô hình tổ chức cơ quan phòng, chống tham nhũng để có chủ trương, giải pháp phù hợp...
Có thể khẳng định, với những nội dung nêu trên, Đại hội XI của Đảng đã cho thấy sự nhất quán trong kế thừa, sự sáng tạo trong đề xuất những giải pháp và biện pháp mới, phù hợp, và sự đúc kết một cách sâu sắc các quan điểm, tư tưởng về công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng thời gian qua. Điều này không chỉ thể hiện quyết tâm chính trị sắt đá của Đảng, mà còn cho thấy những phương hướng, giải pháp và biện pháp được nêu ra là hết sức cụ thể, quyết liệt nhằm vừa phòng ngừa, ngăn chặn, vừa đấu tranh, xử lý kiên quyết và nghiêm khắc đối với mọi hành vi, mọi biểu hiện tham nhũng. Sự biện chứng của các giải pháp và biện pháp vừa phòng, vừa chống tham nhũng là vì phòng là để chống và chống là để phòng. Thực tế là, trong xã hội ta hiện nay tham nhũng đã trở nên phổ biến và đang đe dọa sự tồn vong của chế độ, là nỗi bức xúc của cả xã hội, vì vậy, hơn lúc nào hết, vấn đề chống tham nhũng phải được đặt lên hàng đầu. Do đó, những giải pháp, biệp pháp quyết liệt, những chỉ dẫn cụ thể trong xử lý nghiêm khắc các đối tượng tham nhũng, bao che tham nhũng là phù hợp, kịp thời và hết sức cần thiết.
Thực hiện nghiêm túc, đạt hiệu quả cao những quan điểm, biện pháp phòng, chống tham nhũng được Đại hội XI của Đảng nêu ra chắc chắn sẽ tạo ra một bước ngoặt trong công tác phòng, chống tham nhũng. Tuy nhiên, tìm hiểu quan điểm của Đảng về phòng, chống tham nhũng thời gian qua, cũng cho thấy, mặc dù Đảng đã nhận diện đúng hiện tượng tham nhũng, đã chỉ ra đúng thực trạng, nguyên nhân và những nguy hại mà nó gây ra cho xã hội và chế độ; đã đề ra và thực hiện nhiều chương trình, kế hoạch, nhiều biện pháp phù hợp và kiên quyết để kịp thời ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tham nhũng; quyết tâm chính trị của Đảng là rất cao, chỉ đạo của Đảng là quyết liệt và hành động của Đảng là kiên quyết, không khoan nhượng, thế nhưng, như Đảng ta khẳng định, công tác phòng, chống tham nhũng cho đến nay vẫn chưa đạt yêu cầu đề ra. Quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng...
Thực tế là, hiện tượng tham nhũng gắn liền với những con người cụ thể, mà chỉ những người có chức, có quyền, có vị thế trong bộ máy công quyền mới có điều kiện thực hiện hành vi tham nhũng. Trong xã hội ta hiện nay, những người có chức, có quyền đa số là cán bộ, đảng viên, vì vậy, để phòng, chống tham nhũng có hiệu quả phải bắt đầu từ công tác cán bộ, từ công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Vấn đề tham nhũng không nên chỉ khu biệt ở hành vi của cá nhân mà nó gắn chặt với đội ngũ cán bộ, công chức (nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý), gắn với các tổ chức, đơn vị công quyền cụ thể. Vì lẽ đó, tệ tham nhũng sẽ không được giải quyết một cách hiệu quả và triệt để nếu chúng ta chỉ dừng lại ở việc xử lý các cá nhân có hành vi tham nhũng riêng lẻ mà phải xem xét, xử lý cá nhân đó, hành vi đó từ chính tổ chức, đơn vị nơi cá nhân đó là một thành viên, một đại diện, thậm chí là người lãnh đạo. Vấn đề tham nhũng không phải là vấn đề chỉ của cá nhân người có hành vi tham nhũng mà nó liên quan đến tài sản công và quyền lực công, vì vậy nó cần được tiếp cận và xử lý dưới góc độ các quan hệ công quyền, dưới góc độ tổ chức, tập thể.
Triển khai và phát triển những tư tưởng cơ bản của Đại hội XI về công tác cán bộ, công tác xây dựng Đảng và phòng, chống tham nhũng, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã ra Nghị quyết: Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay. Nghị quyết chỉ rõ thực trạng và nguyên nhân của những vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Nghị quyết khẳng định: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…”(8). Cùng với mục tiêu, phương châm, Nghị quyết cũng đề ra 4 nhóm giải pháp cơ bản.
Các nhóm giải pháp đó là: Nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình, nêu cao tinh thần tiên phong, gương mẫu của cấp trên; nhóm giải pháp về tổ chức, cán bộ, sinh hoạt đảng; nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách; nhóm giải pháp về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng. Các nhóm giải pháp này gắn bó chặt chẽ với nhau và tạo thành một hệ thống đồng bộ nhằm trực tiếp hướng tới giải quyết những vấn đề cấp bách đang đặt ra đối với công tác xây dựng Đảng hiện nay. Các giải pháp này đều rất quan trọng nhưng trong đó đáng lưu ý nhất là nhóm giải pháp về tổ chức cán bộ, sinh hoạt đảng. Bởi vì trong đó bao hàm nhiều nội dung rất thiết thực gắn liền với công tác phòng, chống tham nhũng. Đó là vấn đề phát huy dân chủ trong sinh hoạt đảng, trong đấu tranh tự phê bình và phê bình; đó là vấn đề công tác cán bộ, như quy hoạch cán bộ, đánh giá, xử lý cán bộ yếu kém, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ; đó là vấn đề kiểm tra, giám sát cán bộ; đó là vấn đề phòng, chống quan liêu, mệnh lệnh, tham nhũng, lãng phí, đặc quyền, đặc lợi...
Với những nội dung nêu trên, rõ ràng, triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XI), sẽ chẳng những “... tạo được sự chuyển biến rõ rệt, khắc phục được những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, nhằm xây dựng Đảng ta thật sự là đảng cách mạng chân chính, ngày càng trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin trong Đảng và nhân dân, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi chủ trương, nghị quyết của Đảng”(9) mà còn thực sự tạo ra một sự đột phá mạnh mẽ, một bước ngoặt mang ý nghĩa quyết định trong công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay./.
ST.
V.I. Lê-nin với vấn đề xây dựng đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh
Trong điều kiện đảng cộng sản đã nắm quyền lãnh đạo đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, V.I. Lê-nin đặc biệt lưu ý tới sự suy yếu có thể xảy ra đối với đảng do mắc phải những sai lầm, khiếm khuyết trong quá trình lãnh đạo, nhất là sai lầm về đường lối và các bệnh quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, cơ hội chủ nghĩa, kiêu ngạo cộng sản, tham nhũng, hối lộ, xa hoa, lãng phí.
Để khắc phục những sai lầm có thể xảy ra đối với đảng cộng sản cầm quyền, V.I. Lê-nin nhấn mạnh tính tất yếu phải thường xuyên xây dựng đảng trong sạch, vững mạnh, trước hết tập trung xây dựng lý luận cách mạng của đảng. V.I. Lê-nin khẳng định: “Không thể có một đảng xã hội chủ nghĩa vững mạnh, nếu không có lý luận cách mạng để đoàn kết tất cả những người xã hội chủ nghĩa lại, để họ rút ra từ trong lý luận đó tất cả những tín điều của họ và đem áp dụng lý luận đó vào những phương pháp đấu tranh và phương sách hành động của họ”(1). Cơ sở hình thành lý luận của một đảng mác-xít chân chính bắt nguồn từ sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản và từ đòi hỏi của thực tiễn cách mạng. Trong nhiều bài nói và bài viết, V.I. Lê-nin thường xuyên nêu rõ vấn đề phải “trí tuệ hóa” đội ngũ công - nông nhằm nâng cao vai trò và uy tín lãnh đạo của đảng đối với toàn xã hội. Người chỉ rõ: “Người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra”(2).
Trong chỉ đạo thực tiễn xây dựng đảng kiểu mới của giai cấp vô sản, V.I. Lê-nin đặc biệt coi trọng nguyên tắc tập trung dân chủ và coi đây là nguyên tắc bất di, bất dịch, một nguyên tắc tổ chức căn bản của đảng cộng sản. Người khẳng định: Không thể có một đảng cách mạng chân chính mà lại phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ. Nếu không có tập trung thì đảng trở thành một tổ chức biệt phái, hỗn độn, một “câu lạc bộ tranh luận”; nếu xa rời dân chủ, đảng sẽ bị biến thành một tổ chức chuyên quyền, độc đoán, quan liêu. Người đòi hỏi mỗi người đảng viên cộng sản phải tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc tập trung dân chủ, kiên quyết đấu tranh chống các phần tử cơ hội, xét lại trong mọi điều kiện, hoàn cảnh để bảo vệ đảng cộng sản, bảo vệ chính quyền nhà nước của nhân dân lao động.
Khi đảng cộng sản đã nắm quyền lãnh đạo đất nước, V.I. Lê-nin chỉ ra và cảnh báo về những “căn bệnh” đã và đang trở thành nguy cơ hiện hữu đe dọa sự tồn vong của chế độ xã hội mới và để kẻ thù lợi dụng hòng xóa bỏ mọi thành quả của cách mạng. Đó là những căn bệnh cơ hội chủ nghĩa, kiêu ngạo cộng sản, quan liêu, tham nhũng, hối lộ, xa hoa, lãng phí, “mù chữ”... Người vạch rõ: “... nếu còn có thể hối lộ được, thì cũng không thể nói đến chính trị được. Trong trường hợp này, thậm chí cũng không thể nói đến làm chính trị được, vì mọi biện pháp đều sẽ lơ lửng trên không trung, sẽ hoàn toàn không mang lại kết quả gì cả”(3). Vì vậy, đảng cần kiên quyết đấu tranh “không khoan nhượng” để “tẩy sạch” các phần tử tha hóa, biến chất trong tổ chức của mình, nhằm làm trong sạch đảng. Người còn cảnh báo: “Toàn bộ công việc của tất cả các cơ quan kinh tế của chúng ta bị khốn khổ trước hết về tệ quan liêu... Nếu có cái gì sẽ làm tiêu vong chúng ta thì chính là cái đó”(4).
Đảng cộng sản cầm quyền lãnh đạo toàn xã hội không chỉ bằng cương lĩnh chính trị, đường lối chiến lược, sách lược, mà còn phải thông qua vai trò tổ chức hoạt động của bộ máy chính quyền nhà nước và các đoàn thể quần chúng. Vì thế, một vấn đề then chốt về xây dựng đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh được V.I. Lê-nin đặc biệt quan tâm là phải tăng cường xây dựng, củng cố mối liên hệ mật thiết giữa đảng và nhân dân. Người chỉ rõ: “Chủ nghĩa xã hội sinh động, sáng tạo là sự nghiệp của bản thân quần chúng nhân dân”(5). Cho nên, đảng cộng sản cầm quyền phải trở thành người lãnh đạo, người cổ vũ, tổ chức sự sáng tạo đó. Mỗi đảng viên không những phải luôn thực hiện tốt công tác vận động quần chúng nhân dân để tạo nên sức mạnh vô địch cho đảng, mà còn phải thường xuyên học tập, rèn luyện để nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ, đạo đức cách mạng, nhằm hướng đích xây dựng đảng trong sạch, vững mạnh. Từ kinh nghiệm thực tiễn lãnh đạo chính quyền Xô-viết, V.I. Lê-nin đưa ra những chỉ huấn rất sâu sắc: Mỗi người cộng sản nếu không tự bôi nhọ đạo đức, thanh danh của mình, thì không kẻ nào có thể hạ thấp được vai trò và uy tín của họ; tuyệt nhiên không một thế lực nào có thể phá vỡ được quan hệ gắn bó máu thịt giữa đảng và quần chúng nhân dân.
Đối với cách mạng Việt Nam, lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng việc xây dựng đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh. Người nói: “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”(6). Chủ nghĩa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh truyền bá vào nước ta chính là hệ tư tưởng Mác - Lê-nin, đó là ngọn đèn pha soi sáng con đường cách mạng Việt Nam vượt qua bao thác ghềnh để giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong xây dựng đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm đến công tác giáo dục, bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho đội ngũ đảng viên, cán bộ, để họ có đủ cả đức và tài, “hồng” và “chuyên”, trong đó lấy đạo đức làm gốc. Người chỉ rõ, nếu không có đạo đức cách mạng thì dù tài giỏi mấy cũng không thể làm cho “dân tin, dân phục, dân yêu”. Người căn dặn: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”(7). Từ việc đề cao vai trò của đạo đức cách mạng đối với toàn Đảng và mỗi đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn cảnh báo những căn bệnh tha hóa đạo đức trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm suy giảm uy tín và sức chiến đấu của Đảng.
Cũng như V.I. Lê-nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở Đảng ta về mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và quần chúng nhân dân. Người khẳng định sự thống nhất tối cao về lợi ích giữa Đảng và nhân dân: “Đảng ta là Đảng chỉ có một điều là phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Ngoài ra, không còn có lợi ích nào khác”. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là đày tớ thật trung thành của nhân dân. Đó là một nguyên tắc lớn, gắn liền với bản chất cách mạng của Đảng. Người viết trong Di chúc: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền... Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(8). Khi đã trở thành đảng cầm quyền, nếu Đảng thiếu sự gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng sẽ trở thành một tổ chức quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, mất sức sống và sức sáng tạo, mất vai trò lãnh đạo đối với toàn xã hội. Đảng giữ vai trò là người lãnh đạo, nhưng quần chúng nhân dân mới là người làm nên lịch sử, bởi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. Khi Đảng biết dựa vào nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thì đó chính là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của Đảng, là cội nguồn tạo nên sức mạnh của Đảng. Đảng ta vĩ đại là bởi Đảng biết tìm thấy nguồn sức mạnh vô địch từ trong quần chúng nhân dân, vì nhân dân mà nguyện hy sinh, phấn đấu, và trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào, Đảng cũng luôn tâm nguyện một điều sâu sắc: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”.
Có thể nói, từ V.I. Lê-nin tới Hồ Chí Minh, từ Cách mạng Tháng Mười Nga tới cách mạng Việt Nam có một mối liên hệ hữu cơ, một sự thống nhất biện chứng, chặt chẽ. Liên quan đến vấn đề xây dựng đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh, dù diễn đạt khác nhau, trong những bối cảnh khác nhau, song cả hai vị lãnh tụ V.I. Lê-nin và Chủ tịch Hồ Chí Minh đều nhấn mạnh phải luôn đề phòng và kiên quyết đấu tranh ngăn chặn mọi biểu hiện tiêu cực, như suy thoái về tư tưởng chính trị, đặc quyền, đặc lợi, xa rời nhân dân, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô nguyên tắc, cơ hội chủ nghĩa và những tiêu cực khác; không để chúng xâm nhập vào cơ thể Đảng, vào bộ máy nhà nước. Đó là những nguy cơ thách thức nghiêm trọng uy tín của Đảng trong xã hội, ảnh hưởng đến việc cầm quyền của Đảng, sự tồn vong của chế độ và con đường phát triển của đất nước.
Thực tiễn hơn 82 năm qua, Đảng ta luôn luôn trung thành và vận dụng đúng đắn, sáng tạo những nguyên lý cơ bản của V.I. Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh. Đảng ta đã trưởng thành qua bao thử thách, có những bổ sung, phát triển lý luận về xây dựng đảng cầm quyền phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam trong điều kiện mới. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh chống mọi thủ đoạn, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội của các thế lực thù địch; chống mọi biểu hiện xa rời những nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đảng cầm quyền. Với bản lĩnh của một đảng cách mạng chân chính, dày dạn kinh nghiệm, luôn nêu cao dũng khí tự phê bình và phê bình, gắn bó máu thịt với nhân dân, Đảng ta đã lãnh đạo, tổ chức và phát huy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đưa đất nước giành được nhiều thắng lợi vĩ đại, vững bước trên con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân đã lựa chọn.
Tuy nhiên, những năm qua, bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được về công tác xây dựng Đảng, nhìn thẳng vào thực tế, trong Đảng vẫn còn tồn tại một số hạn chế, khuyết điểm, yếu kém, như Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã chỉ ra: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp... làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước. Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” chưa thực sự đi vào chiều sâu, ở một số nơi còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao, làm theo chưa đạt yêu cầu”; “Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp, huân chương chưa được khắc phục”; “Tình trạng thiếu trách nhiệm, cơ hội, suy thoái đạo đức, lối sống vẫn diễn ra khá phổ biến trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Kỷ luật, kỷ cương ở nhiều tổ chức đảng không nghiêm. Sự đoàn kết, nhất trí ở không ít cấp ủy chưa tốt”(9).
Tại Hội nghị Trung ương 4, khóa XI, Đảng ta đã xác định rõ 3 vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay, đó là: “Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là ở cấp Trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị”(10). Có thể khẳng định, ba vấn đề đó đều là những nội dung trọng tâm, mang tính cấp bách đối với công tác xây dựng Đảng hiện nay. Trong đó, vấn đề thứ nhất là vấn đề trọng tâm, xuyên suốt và cũng là vấn đề cấp bách nhất. Toàn Đảng tập trung giải quyết tốt ba vấn đề nêu trên, chúng ta có niềm tin chắc chắn rằng, nhất định Đảng sẽ ngày càng trong sạch, vững mạnh hơn.
Đất nước ta hiện nay đang đứng trước những thời cơ và vận hội mới, song cũng đang gặp phải không ít khó khăn, thách thức. Để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của đảng cầm quyền lãnh đạo đất nước, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vững bước trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, đòi hỏi phải xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tiêu biểu cho trí tuệ, đạo đức, lương tâm và danh dự của dân tộc, xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ trung thành của nhân dân.
Một trong những biện pháp quan trọng để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), góp phần xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh là phải nhận diện chính xác, cụ thể những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Vì vậy, mỗi tổ chức đảng cần có sự phân tích thấu đáo, nhận xét, đánh giá chính xác từng cán bộ, đảng viên trong cơ quan, đơn vị mình. Đặc biệt, từng cán bộ, đảng viên, nhất là những người giữ chức vụ cao, cần tự nhận diện được chính mình, tự thấy mình có biểu hiện suy thoái không và nếu có thì về mặt nào, ở mức độ nào. Cần khắc phục tình trạng nhận diện sự suy thoái chung chung, thiếu cụ thể, “dĩ hòa vi quý”, cho rằng tổ chức đảng của mình luôn đạt danh hiệu “trong sạch, vững mạnh” thì không bao giờ có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Điều đó sẽ làm giảm hiệu lực và hiệu quả trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), cũng chính là làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng.
Triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), một vấn đề có ý nghĩa quyết định là cần phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong việc xem xét, nhận dạng, phát hiện kịp thời những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống để có biện pháp khắc phục và giải quyết triệt để. V.I. Lê-nin từng chỉ huấn: “Đối với việc đánh giá người và gạt bỏ những kẻ “chui vào đảng”, bọn “làm quan”, bọn đã bị “quan liêu hóa”, thì những lời chỉ dẫn của quần chúng vô sản ngoài đảng và trong nhiều trường hợp thì cả những lời chỉ dẫn của quần chúng nông dân ngoài đảng nữa, rất là quý báu”(11). Trong việc vận động quần chúng tham gia xây dựng Đảng, V.I. Lê-nin không quên nhắc nhở các đảng viên hết sức tránh thiên hướng theo đuôi quần chúng. Đảng liên hệ chặt chẽ với quần chúng, nhưng không có nghĩa là hạ thấp trình độ của Đảng xuống ngang với trình độ của quần chúng, mà phải tìm mọi cách nâng cao trình độ của quần chúng. Chỉ có tham khảo nghiêm túc ý kiến của quần chúng, dựa vào các tổ chức của quần chúng, thì Đảng mới có thái độ khách quan, đúng đắn trong tiến hành tự đổi mới, tự chỉnh đốn.
Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang đẩy mạnh thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, đưa đất nước vững bước tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa. Sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới đòi hỏi Đảng ta phải không ngừng nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo, trình độ trí tuệ của một đảng cầm quyền. Đồng thời, Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn để luôn luôn xứng đáng là một đảng “đạo đức”, một đảng “văn minh”, luôn luôn ngang tầm nhiệm vụ, sống mãi trong lòng dân tộc. Muốn vậy, một trong những giải pháp quan trọng về tư tưởng, lý luận là toàn Đảng cần tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, học tập, quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo những di huấn của V.I Lê-nin về công tác xây dựng đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh. Đó là những bài học đến nay vẫn còn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn cách mạng./.
ST.
Tìm hiểu nguyên nhân tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay
Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI): “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, yếu kém kéo dài của công tác xây dựng Đảng, đồng thời cũng nêu một cách chung nhất nguyên nhân của tình trạng này.
Đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, xây dựng, phát triển với quy mô ngày càng lớn, một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý nắm giữ khối lượng tài sản, nguồn vốn lớn của tập thể, của Nhà nước, đó là môi trường để chủ nghĩa cá nhân vụ lợi, thực dụng phát triển. Trong khi đó, các thế lực thù địch không từ bỏ âm mưu và hoạt động "diễn biến hòa bình", thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", tăng cường hoạt động chống phá, chia rẽ nội bộ Đảng và phá hoại mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân, làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng”.
Hai là, chủ quan, do “Cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân. Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở một số nơi chưa đến nơi đến chốn, kỷ cương, kỷ luật không nghiêm, nói không đi đôi với làm, hoặc làm chiếu lệ. Các nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi vừa bị buông lỏng trong thực hiện, vừa chưa được quy định cụ thể để làm cơ sở cho công tác kiểm tra, giám sát. Việc nghiên cứu, sửa đổi, ban hành cơ chế, chính sách, pháp luật thích ứng với quá trình vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa kịp thời; nhiều văn bản quy định thiếu chế tài cụ thể. Đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ còn nể nang, cục bộ, chưa chú trọng phát hiện và có cơ chế thật sự để trọng dụng người có đức, có tài; không kiên quyết thay thế người vi phạm, uy tín giảm sút, năng lực yếu kém. Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống nhiều khi còn hình thức, chưa đủ sức động viên và thường xuyên nâng cao ý chí cách mạng của cán bộ, đảng viên; một số nơi có tình trạng những việc làm đúng, gương người tốt không được đề cao, bảo vệ; những sai sót, vi phạm không được phê phán, xử lý nghiêm minh. Công tác kiểm tra, giám sát, giữ gìn kỷ cương, kỷ luật ở nhiều nơi, nhiều cấp chưa thường xuyên, ráo riết; đấu tranh với những vi phạm còn nể nang, không nghiêm túc. Vai trò giám sát của nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội chưa được phát huy, hiệu quả chưa cao”.
Bài viết này cụ thể hơn để làm rõ thực chất nguyên nhân của tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay.
1. Về yếu tố khách quan, theo chúng tôi, có 4 tác động chính sau đây:
Một là, sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội thế giới và quá trình toàn cầu hóa tác động một cách dữ dội đến tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Hơn 70 năm với sự hình thành, phát triển và những thành tựu của chủ nghĩa xã hội do Liên Xô mở đường, dẫn đầu đã tạo được nhận thức trong cán bộ, đảng viên rằng: “Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa gấp triệu lần dân chủ tư sản”; “Chủ nghĩa xã hội quyết định chiều hướng phát triển của lịch sử xã hội loài người”; “Chủ nghĩa xã hội là đích đến của tất cả các quốc gia, dân tộc”; “Liên Xô là thành trì của chủ nghĩa xã hội”;... Nay chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu tan rã, hệ thống xã hội hiện thực thế giới khủng hoảng. Trong khi đó, lợi dụng thành tựu khoa học, công nghệ, chủ nghĩa tư bản đã có những điều chỉnh ngay trong những thuộc tính vốn có của nó nên đã tạo được những thay đổi đáng kể trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học, công nghệ. Sự cân bằng tương đối giữa hai hệ thống xã hội đối lập: chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản trên phạm vi toàn cầu, lâu nay vẫn gọi là thế giới hai cực, nay được thay thế bằng sự độc tôn lộng hành của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc mà ta gọi là thế giới một cực do Mỹ đứng đầu.
Trong khi đó, các thế lực chính trị thù địch với chủ nghĩa xã hội coi đây là cơ hội để chúng tiếp tục tấn công mạnh mẽ hơn vào chủ nghĩa Mác-Lênin. Chiến dịch “diễn biến hòa bình” của chúng được tập trung vào các nước xã hội chủ nghĩa còn lại với nhiều thủ đoạn quỷ quyệt. Mặt khác, các nước xã hội chủ nghĩa còn lại tiến hành cải cách, mở cửa phải đối mặt với quá nhiều vấn đề mới, khó, phức tạp cả lý luận lẫn thực tiễn cần có lời giải, trong khi những vấp váp, sai lầm vẫn diễn ra...
Giữa lúc này, xu hướng toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ tạo thời cơ và cả thách thức, nhất là sự cạnh tranh quyết liệt nhưng lợi thế so sánh không thuộc về chúng ta. Toàn cầu hóa cũng là cơ hội thuận lợi để các thế lực thù địch du nhập và áp đặt tất cả những gì có thể làm phân rã mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội từ sức mạnh kinh tế thông qua đầu tư, tự do chính trị, phản văn hóa thông qua công nghệ thông tin, học sinh du học, thăm quan, du lịch... Vì thế nhiều người có tâm lý sùng bái tư bản.
Thực tế này đã làm cho nhiều người hoang mang, dao động, mất phương hướng, khủng hoảng niềm tin về tương lai và những giá trị của chủ nghĩa xã hội, thậm chí có người “sám hối”, “trở cờ” quay lại công kích, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội... Đó là tiền đề trước hết dẫn tới suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay.
Hai là, tác động tiêu cực từ mặt trái của kinh tế thị trường như việc chạy theo lợi ích, lợi nhuận; sự phân hóa giàu nghèo, tình trạng bất công xã hội, gian lận thương mại, chủ nghĩa cá nhân… chưa có giải pháp khắc phục tích cực, trong khi có những mặt trở nên nghiêm trọng. Tình trạng yếu kém trong lãnh đạo, quản lý kinh tế, xã hội; tệ quan liêu, tham nhũng, hối lộ, sự suy thoái về đạo đức, lối sống trong một số cán bộ có chức, có quyền… chậm được ngăn chặn, đẩy lùi. Tất cả đã tác động tạo nên sự hoài nghi, dao động và cả tiêu cực trong tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên.
Ba là, tác động từ các thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Lợi dụng những khó khăn, yếu kém, sự tha hóa của một số cán bộ ta trong cơ chế mới, các thế lực thù địch tìm mọi cách khoét sâu thêm mâu thuẫn, tìm cách làm suy yếu Đảng, tha hóa, lôi kéo, mua chuộc cán bộ, chia rẽ nội bộ… Mặt khác, chúng dùng tất cả các phương tiện truyền thông, trong đó đặc biệt là Internet xuyên tạc, nói xấu, bôi nhọ Đảng, các lãnh tụ, các đồng chí lãnh đạo… Mục tiêu là chia rẽ nội bộ ta, giảm lòng tin của dân đối với Đảng, lôi kéo để chuyển hóa tư tưởng chính trị trong cán bộ, trong lớp trẻ, giữa lớp trẻ với thế hệ cha anh… hòng gây rối loạn về chính trị, hình thành những xu hướng chính trị, xã hội đối kháng, thực hiện âm mưu đa nguyên chính trị, gây hoang mang trong cán bộ, đảng viên và nhân dân để thực hiện “tự diễn biến” từ bên trong.
Bốn là, tác động từ cơ sở, tâm lý của xã hội tiểu nông truyền thống đã ăn sâu hàng ngàn đời nay trong cộng đồng cư dân Việt Nam. Đội ngũ cán bộ phần đông sinh ra, lớn lên trong di sản kinh tế, tâm lý, tinh thần truyền thống đó. Do vậy, không ít người nặng tính cục bộ địa phương; tự do, tùy tiện, không theo các quy định chung; chủ nghĩa cá nhân, tư lợi; tuyệt đối hóa kinh nghiệm, nặng thói gia trưởng, bảo thủ, hạn chế tính sáng tạo, thiên về cảm tính, tư duy lý luận chưa phát triển… nên dễ xem thường tri thức khoa học, lý luận… Vì vậy, khi gặp những vấn đề phức tạp dễ lúng túng, dễ hoang mang, dao động, dễ dịch chuyển từ cực nọ sang cực kia… Những người không chịu rèn luyện, tu dưỡng, không dám tự phê bình và phê bình… theo phẩm chất người đảng viên, người cán bộ của Đảng tất dễ bị ngả nghiêng, dao động, mất phương hướng, mất lòng tin, để cho chủ nghĩa cá nhân trỗi dậy làm họ trượt dài trên con đường tha hóa, biến chất, thậm chí phản bội Đảng, phản bội dân tộc.
2. Về yếu tố chủ quan, đó là những nguyên nhân căn bản dẫn tới tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay. Yếu tố chủ quan ở đây bao gồm cả tổ chức đảng và bản thân cán bộ, đảng viên, với 5 nguyên nhân chính sau đây:
Thứ nhất, do công tác giáo dục chính trị, tư tưởng chưa được coi trọng đúng mức, hoạt động kém hiệu quả. Nhận thức chính trị, tư tưởng của cán bộ, đảng viên trước hết phải được bắt nguồn từ sự giáo dục, tuyên truyền của Đảng. 26 năm đổi mới, công tác này còn nhiều bất cập, nhất là hàng thập niên đầu Đổi mới có nhiều lúng túng, xáo trộn. Trước hết, về hệ thống nhà trường đào tạo lý luận mở rộng ngày một nhiều; chương trình cũ, nhiều nội dung trùng lặp, chồng chéo, xa thực tế; đội ngũ giáo viên chưa kịp chuyển đổi để thống nhất, nên kiến thức cũ, phương pháp lạc hậu; việc thi cử thì dễ dãi “dong công, phóng điểm”, quản lý văn bằng lỏng lẻo, cộng với yêu cầu thái quá về bằng cấp đối với các loại cán bộ, dẫn tới tình trạng “chạy bằng”. Vì thế, nhiều người có thái độ sai lệch trong học lý luận chính trị. Kết quả là ai cũng có “bằng” nhưng cái cần đạt được trong nhận thức lý luận chính trị để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới thì lại rất thấp.
Việc tổ chức học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng chưa thật nghiêm túc, chưa truyền đạt được tính khoa học, tính cách mạng sáng tạo, tính thiết thực của nó tới cán bộ, đảng viên để tạo nên sự chuyển biến tích cực, niềm tin trong nhận thức làm cơ sở cho hành động đúng và thống nhất của họ. Trong khi những diễn biễn phức tạp của tình hình thế giới, trong nước đang tác động mạnh tới tư tưởng, tình cảm đạo đức cán bộ, đảng viên nhưng chưa được theo dõi chặt chẽ, dự báo đầy đủ và kịp thời đưa ra những giải pháp đấu tranh mạnh, xử lý đúng. Âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực phản động thì độc ác, xảo quyệt, thô bạo, công khai nhưng chúng ta chưa tổ chức đấu tranh một cách mạnh mẽ, khoa học, có tổ chức để phản bác lại, giải tỏa kịp thời, đưa ngay cái đúng, khoa học, nhân văn trong chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước vào trong nhận thức của cán bộ, đảng viên, tạo nên thế giới quan, nhân sinh quan đúng trong họ. Chúng ta đều nhớ, có một quy luật là chỗ nào “ánh sáng” không tới thì “bóng tối” sẽ bao trùm. Nhận thức về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa dựa trên cơ sở khoa học, cách mạng thì khó có niềm tin vững chắc. Cho nên khi đứng trước sự vật, hiện tượng, vấn đề họ khó thấy được bản chất của nó để có nhận thức đúng, dễ ngộ nhận, và tất yếu hệ lụy là dao động, dễ thoái hóa, biến chất. Đó là cội rễ dẫn tới tiêu cực, sai trái trong hành vi của một bộ phận cán bộ, đảng viên.
Thứ hai, do tình trạng lạc hậu của lĩnh vực lý luận chính trị hiện nay. Sự nghiệp đổi mới của Đảng phải bắt đầu tư sự thay đổi quan điểm lý luận đến thực tiễn đời sống. Đây là quá trình vừa tìm tòi, thử nghiệm, nhiều vấn đề chưa có tiền lệ, chưa được nhận thức lý luận làm sáng tỏ. Trong khi thực tiễn đổi mới càng đi vào chiều sâu, nhiều vấn đề phức tạp đặt ra càng đòi hỏi lý luận giải đáp, cắt nghĩa, dẫn dắt song chưa được đáp ứng. Đảng ta đã nhận thức: “Công tác nghiên cứu lý luận của Đảng chưa ngang tầm với sự phát triển của thực tiễn; chưa giải đáp có căn cứ khoa học, thuyết phục nhiều vấn đề quan trọng do thực tiễn đặt ra”; “Việc cụ thể hóa, thể chế hóa nghị quyết còn chậm, tổ chức thực hiện nghị quyết của các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương vẫn là khâu yếu…”(1). Sự lạc hậu của lý luận, một mặt tạo nên băn khoăn, thắc mắc nhiều vấn đề, sự khác biệt, thiếu thống nhất trong nhận thức, trong hành động; mặt khác lúng túng, không rõ phương cách giải quyết nhiều vấn đề mà Nghị quyết nêu, thực tiễn đặt ra của thời kỳ quá độ, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong khi các thế lực thù địch ra rả phủ nhận nền tảng lý luận của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là những tác động ghê gớm đến tư tưởng chính trị, gây tâm trạng hoài nghi về mục tiêu chính trị của Đảng và dân tộc ta.
Thứ ba, là do nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, quản lý đảng viên bị buông lỏng, chấp hành chưa nghiêm. Tình trạng thiếu chặt chẽ trong quản lý cán bộ, đảng viên; việc kiểm tra, giám sát hoạt động của đảng viên chưa tốt; đấu tranh chống tiêu cực và xử lý vụ việc chưa nghiêm, chưa triệt để; nắm bắt diễn biến tư tưởng cán bộ, đảng viên chậm, thiếu đầy đủ; việc bảo vệ tư tưởng và con người cụ thể trong chống tiêu cực chưa tốt… không phải là cá biệt.
Nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng nhiều nơi bị vi phạm; quy chế dân chủ còn nặng về hình thức, thiếu cơ chế thực tế để thực hiện, ở nhiều nơi, nhiều tổ chức nguyên tắc này bị một số người cơ hội lợi dụng để phục vụ mục đích cá nhân. Công tác cán bộ là “công việc gốc” của Đảng còn nhiều hạn chế, thiếu khách quan, công tâm, thậm chí có tiêu cực. Dân gian đã có vè: “đi nặng thì về nặng, đi nhẹ thì về nhẹ, đi không thì về không”; “Thứ nhất là quan hệ, thứ nhì là tiền tệ, thứ ba là hậu duệ, thứ tư mới đến trí tuệ”(2). Tình trạng này góp phần dẫn tới tệ bè phái, cục bộ, thiếu thống nhất trong từng tổ chức đảng; không chọn được đúng người để phân công đúng việc, bỏ sót nhiều người có phẩm chất, năng lực. Vì thế nảy sinh tư tưởng ý thức chấp hành nguyên tắc sinh hoạt đảng kém, thiếu tin tưởng ở công tác cán bộ, thiếu tôn trọng, thiếu niềm tin đối với không ít cán bộ lãnh đạo, kể cả cấp cao; thiếu nhiệt tình tu dưỡng, phấn đấu… Đó cũng là nguyên nhân căn bản tạo nên sự suy thoái tư tưởng chính trị, niềm tin, đạo đức… của cán bộ, đảng viên hiện nay.
Thứ tư, là do cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện và học tập để chủ nghĩa cá nhân phát triển, chi phối. Họ nặng tính thực dụng, thiếu tu dưỡng rèn luyện thường xuyên nên ý thức giác ngộ, lập trường giai cấp phai nhạt, tư tưởng hưởng thụ, bệnh gia trưởng, hẹp hòi ích kỷ, chủ nghĩa cá nhân trỗi dậy chi phối suy nghĩ và hành vi. Do lười học tập, nghiên cứu lý luận chính trị, do những yếu kém của công tác này dẫn tới nhận thức, giác ngộ về hệ tư tưởng, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong không ít cán bộ, đảng viên yếu kém. Sự chênh lệch về mức sống giữa nhiều người có chức, có quyền, có tiền và gia đình họ với quảng đại quần chúng nhân dân đang dần trở thành mâu thuẫn đối kháng. Vì thế họ càng xa dân, không được nhân dân ủng hộ trong thực tế… Những biểu hiện, phẩm cách trên của một bộ phận cán bộ, đảng viên trước hết làm cho uy tín của họ giảm sút, nhân dân thiếu niềm tin vào họ… Và hơn hết, nếu sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống… trong họ (lâu nay ta vẫn nói họ là tinh hoa của cộng đồng) không được ngăn chặn, nó sẽ nhanh chóng lây lan trở thành nếp suy nghĩ, phong cách sống thường nhật của cán bộ, đảng viên và rộng hơn là toàn xã hội. Đó là nguy cơ lớn liên quan đến sự tồn vong của Đảng và chế độ ta. Có thể thấy, việc thiếu tu dưỡng, rèn luyện và học tập để nâng cao năng lực, phẩm chất cách mạng vừa là biểu hiện, vừa là nguyên nhân của sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên hiện nay.
Thứ năm, là do những yếu kém trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội vừa là nguyên nhân, vừa là hệ quả của sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên. Ai cũng thấy rõ tình trạng yếu kém trong quản lý nhà nước về kinh tế, xã hội ở nước ta hiện nay đều do năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ; do tình trạng pháp luật chưa đủ, chất lượng chưa cao, thi hành chưa nghiêm ở cả người duy trì và người chấp hành pháp luật. Sự yếu kém này làm cho phân hóa thu nhập trong xã hội ngày càng gia tăng; những tiêu cực xã hội không được kiểm soát và xử lý nghiêm minh đã tạo khoảng cách lớn giữa người làm ăn chân chính, lương thiện với những người suy thoái đạo đức làm ăn bất chính, kể cả tham nhũng quyền lực để có được của cải bất chính ngày càng gia tăng, còn là sự khuyến khích người khác không tôn trọng pháp luật, không cần chính trị cao cả, không cần đạo đức mà nghèo, đói… Tiền lương bất hợp lý, thu nhập chênh lệch quá xa giữa các thành phần trong xã hội; tình trạng bất hợp lý trong chế độ cấp đất, cấp nhà, cấp phương tiện làm việc… giữa các cấp cán bộ. Sự chênh lệch thu nhập dẫn tời tình trạng những người thu nhập cao chi phối lối sống trong xã hội làm cho người làm ăn chân chính có thu nhập thấp và những người thu nhập thấp nói chung thiệt thòi, cảm thấy tủi thân, thậm chí bức xúc. Đó cũng là yếu tố kích thích cho sự tha hóa, bất chấp pháp luât… Quản lý ngân sách, tài sản nhà nước yếu kém là môi trường thuận lợi để các tệ nạn xã hội phát triển. Rõ ràng, sự yếu kém trong quản lý nhà nước hiện nay vừa là hậu quả, vừa là nguyên nhân của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Trong hai hệ thống nguyên nhân dẫn tới tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay được trình bày trên đây thì hệ thống nguyên nhân chủ quan, mà trước hết là công tác quản lý nhà nước, quản lý xã hội, xây dựng hệ thống pháp luật, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm và sự nỗ lực tu dưỡng rèn luyện của cán bộ, đảng viên là những vấn đề hàng đầu cần có giải pháp khắc phục./.
ST.










