Chủ Nhật, 17 tháng 12, 2023

Bảo đảm tốt cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ công tác cơ yếu

 

Đoàn công tác Bộ Tổng Tham mưu (BTTM) do Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam làm trưởng đoàn vừa kiểm tra công tác bảo đảm cơ sở vật chất, kỹ thuật của Cục Cơ yếu (BTTM).

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>

Thủ trưởng Bộ Tổng tham mưu kiểm tra chất lượng, tiến độ xây dựng doanh trại Trung tâm Bảo đảm kỹ thuật mật mã 3 (Cục Cơ yếu). 

    Đoàn đã trực tiếp kiểm tra công trình xây dựng Trung tâm Bảo đảm kỹ thuật mật mã 3 (Cục Cơ yếu). Qua kiểm tra, đoàn công tác đánh giá, Đảng ủy, chỉ huy Cục Cơ yếu đã làm tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo, bảo đảm tốt mọi mặt hậu cần, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ công tác chuyên môn; triển khai toàn diện, nghiêm túc, đúng nguyên tắc, quy định công tác đầu tư xây dựng cơ bản; quản lý đất quốc phòng. Cục triển khai đúng tiến độ xây dựng mới doanh trại Trung tâm Bảo đảm kỹ thuật mật mã 3. Công trình khi hoàn thành góp phần nâng cao năng lực bảo đảm kỹ thuật, huấn luyện nghiệp vụ cho các đơn vị trên địa bàn; đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hiện đại hóa ngành cơ yếu Quân đội trong tình hình mới.


nghiên cứu một số nội dung về đấu tranh bất bạo động

 Đấu tranh bất bạo động hay phản kháng phi bạo lực là một hình thức đấu tranh không dùng vũ khí mà sử dụng việc tập hợp số đông quần chúng làm sức mạnh để gây áp lực và hóa giải một thế lực đối kháng với họ.

Mahatma Gandhi được coi như là người đầu tiên áp dụng thể đấu tranh này để giải phóng dân tộc Ấn Độ ra khỏi sự đô hộ của Anh mà dân Ấn không phải hy sinh một giọt máu nào cho sự độc lập của quốc gia họ. Đấu tranh bất bạo động cũng được biết đến từ cuộc nổi dậy của sắc dân da đen ở Mỹ, lãnh đạo bởi Tiến sĩ Martin Luther King.[1], và cũng đã được nhiều dân tộc trên thế giới áp dụng như tại các nước Đông Âu như những cuộc biểu tình vào ngày thứ hai tại Leipzig[2]

Từ năm 1966 đến năm 1999, các cuộc đấu tranh bất bạo động của công dân đóng vai trò quan trọng trong 50 trong số 67 lần chuyển tiếp từ chế độ độc tài[3]. Cuộc đấu tranh bất bạo động hiện nay bao gồm hoạt động biểu tình phản chiến hoặc phản đối thực trạng bất công của xã hội như Phong trào Chúng tôi thuộc về 99% (We are the 99%) nhằm phản đối bất bình đẳng thu nhập tại Hoa Kỳ. Nhiều phong trào thúc đẩy các triết lý về bất bạo động hoặc hòa bình đã áp dụng một cách thực tế các phương pháp hành động bất bạo động như một cách hiệu quả để đạt được các mục tiêu xã hội hoặc chính trị.

Tuy nhiên, các phong trào “phản kháng phi bạo lực” như biểu tình đông người vẫn có thể chuyển sang sử dụng các biện pháp bạo lực (bạo động, đốt phá, tấn công vũ trang) quyết liệt, nhất là khi các tổ chức tình báo nước ngoài đứng sau phong trào đó. Các nhà tổ chức các cuộc “Đấu tranh bất bạo động” ở Gruzia, “cách mạng cam” ở Ucraina và Mùa xuân Ả Rập ở các nước Bắc Phi và Trung Đông... là các cơ quan tình báo của các nước phương Tây, các tổ chức phi chính phủ, các "quỹ tài trợ dân chủ", thậm chí cả các lực lượng đặc nhiệm từ bên ngoài có chức năng huấn luyện chiến thuật quân sự cho các lực lượng đối lập. Ban đầu là "Đấu tranh bất bạo động", nhưng nếu không đạt mục tiêu đề ra thì các lực lượng đối lập sẵn sàng chuyển sang sử dụng bạo động, đốt phá, gây chiến tranh để lật đổ chính phủ. Trên thực tế, nhiều cuộc chính biến ở Đông Âu, Trung Đông đã chuyển từ "phi bạo lực" ban đầu sang chiến tranh quy mô lớn (nội chiến Syrianội chiến Ucrainanội chiến Libya


Đấu tranh bất bạo động có thể và đã được dùng để:

  1. Để cải thiện một khiếm khuyết trong xã hội hay bày tỏ một quan điểm của mình về một vấn đề nào đó[5]
  2. Để phản đối một nhà độc tài, một thể chế chính trị không được đa số người dân ủng hộ: có phạm vi rộng lớn, với sự tham gia của nhiều thành phần quần chúng. Hoạt động này còn có mục đích kêu gọi tiến hành Tổng tuyển cử trước thời hạn để bầu lên nhà lãnh đạo mới được đa số người dân ủng hộ.


  • Đây là một biện pháp hữu hiệu cho một khối đông yếu thế chống lại một thiểu số có quyền lực trong tay.
  • Có nhiều phương thức đấu tranh bất bạo động nhưng tựu trung có thể bao gồm các nguyên tắc sau:
  • Bất tuân dân sự: Tức là người tham gia đấu tranh có thể từ chối thực hiện những việc mà họ vẫn thường làm, hoặc được trông đợi sẽ làm.
  • Hành động cố ý thực hiện: Tức là người tham gia đấu tranh có thể thực hiện những việc mà họ thường không làm, hoặc không được trông đợi sẽ làm, hoặc bị cấm thực hiện.
  • Thuyết phục và thương lượng: để bắt đối phương chấp nhận các điều kiện của mình. Điều này chỉ thực hiện ở giai đoạn cuối cùng, khi phe đối lập đã bị dồn vào thế phải nhượng bộ.
  • Thượng tôn pháp luật: Tức là không được xâm phạm lợi ích chung của xã hội và lợi ích hợp pháp của các cá nhân khác trong xã hội. Hoạt động đấu tranh bất bạo động được pháp luật điều chỉnh và bảo vệ nhưng những người tham gia đấu tranh cũng phải tuân thủ pháp luật.[6]
  • Tôn trọng và thương yêu đối phương: Tức là tránh tư tưởng bạo lực bên ngoài (cơ thể) mà còn tránh bạo lực bên trong (tinh thần) nữa, không những không tiêu diệt đối phương mà còn không căm ghét đối phương nữa.[7]

Tuy nhiên, do thành phần tham gia phức tạp nên các nguyên tắc này nhiều khi không được tuân theo đầy đủ. Ví dụ như các cuộc biểu tình đòi quyền bình đẳng cho người da đen ở Mỹ năm 2020, ban đầu là bất bạo động, nhưng về sau thì nhiều nhóm quá khích đã chuyển sang dùng bạo lực, cướp phá đường phố và hành hung người khác.

LẠC PHONG

Nhận diện chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong thời kỳ mới và các giải pháp đấu tranh phòng chống của đảng, nhà nước Việt Nam

 hận diện chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong thời kỳ mới và các giải pháp đấu tranh phòng chống của đảng, nhà nước Việt Nam


“Diễn biến hòa bình” là một chiến lược phản cách mạng do các thế lực thù địch tiến hành nhằm thủ tiêu chế độ XHCN và chống phá các nước phát triển theo hướng tiến bộ bằng các biện pháp phi vũ trang, thúc đẩy “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nhận thức đúng đắn về nội dung, thủ đoạn thực hiện chiến lược Diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch trong tình hình mới và tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn đó, là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Trên cơ sở phân tích khái niệm, quá trình ra đời tư tưởng “Diễn biến hòa bình”, bài viết đã chỉ ra những thủ đoạn mới trong phương thức chống phá bằng chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, từ đó đề xuất một số giải pháp để Đảng, Nhà nước Việt Nam đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ” của các thế lực thù địch.



 

Trong những năm gần đây, các thế lực thù địch ngày càng ra sức đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” hòng gây hỗn loạn về tư tưởng, tạo ra “những khoảng trống” nhằm mục đích xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chúng tập trung lợi dụng triệt để việc sử dụng Internet, các trang mạng xã hội để truyền bá quan điểm sai trái, tung tin xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam,… nhằm làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Để đấu tranh chống chiến lược "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch trong giai đoạn mới, đòi hỏi Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam phải luôn tỉnh táo, xem xét, nhận diện đúng, phân tích, vạch trần âm mưu, bản chất trong các luận điệu của thế lực thù địch để có biện pháp phòng, chống hiệu quả.

 


 

Khái niệm “Diễn biến hòa bình”

 

“Diễn biến hòa bình  là chiến lược cơ bản của các thế lực thù địch nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự [5, tr.303].

 

“Diễn biến hòa bình” hiện nay có nhiều cách gọi khác nhau: “chuyển hóa hòa bình”, “biến đổi hòa bình”,“cạnh tranh hoà bình”, “vượt trên hòa bình”, “chính sách giải phóng”, “chiến thắng không cần chiến tranh”, “chiến tranh không có tiếng súng”, “phương pháp phi vũ trang”,… Có thể khẳng định “Diễn biến hòa bình” là cuộc chiến tranh - cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng, thể chế chính trị. Chiến lược “diễn biến hòa bình” liên tục được điều chỉnh, bổ sung trở thành một chiến lược tổng hợp, dùng biện pháp “phi vũ trang” là chủ yếu nhằm chống phá, tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa.

 

Ngay từ những năm cuối thập niên 40 của thế kỷ XX, khi trật tự thế giới hai cực đối đầu dần hình thành, những tư tưởng về “diễn biến hòa bình” đã ra đời để hỗ trợ cho các đòn tiến công quân sự là chủ yếu, nằm trong chiến lược toàn cầu “ngăn chặn” sự phát triển của chủ nghĩa xã hội. Theo thời gian, những tư tưởng về “diễn biến hòa bình” tiếp tục được điều chỉnh và đến cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, khi các nước xã hội chủ nghĩa gặp nhiều khó khăn, nội bộ phát sinh những vấn đề phức tạp, các thế lực thù địch nhận thấy “thời cơ lịch sử” đã đến và thời điểm này, “diễn biến hòa bình” được đẩy mạnh thực hiện, phát triển, chính thức trở thành một chiến lược - bộ phận quan trọng, chủ yếu trong chiến lược toàn cầu “vượt trên ngăn chặn”.

 

Đến đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự thế giới hai cực đối đầu bị phá vỡ, lợi thế tạm thời nghiêng về phía các lực lượng đối lập với chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, nhân loại đang dần bước vào thời kỳ hội nhập trong xu thế toàn cầu hóa dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ. Đây là lúc các thế lực thù địch rút kinh nghiệm, quá trình tiến hành và chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có những bước điều chỉnh cơ bản về phương thức, thủ đoạn cho phù hợp với những thay đổi mới của tình hình, khoét sâu thoái trào của chủ nghĩa xã hội hiện thực, chủ yếu thông qua “thẩm thấu hòa bình”, “ngoại giao thân thiện”, hợp tác kinh tế, trao đổi thương mại,... để “hoàn thành nốt mục tiêu” là xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, xác lập lại trật tự thế giới mới do các nước tư bản lãnh đạo, chi phối.

 

Như vậy, có thể hiểu “Diễn biến hoà bình” là chiến lược cơ bản nhằm lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, đứng đầu là Mỹ tiến hành.

 

 Nhận diện chiến lược “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch trong thời kỳ mới

 

Ở Việt Nam, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch đặc biệt coi trọng việc phá hoại tư tưởng, coi đó là mũi nhọn, là con đường ngắn nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh các đặc trưng chủ yếu như: tuyên truyền xuyên tạc nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đẩy mạnh hoạt động xuyên tạc lịch sử; thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội và công an… thời gian gần đây, các thế lực thù địch còn tích cực đẩy mạnh thực hiện một số thủ đoạn chống phá mới, đó là: Tìm cách đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đưa ra những luận điệu lập lờ, lẫn lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đến đảng viên và nhân dân. Khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng xã hội “dân chủ” kiểu Mỹ và phương Tây hòng làm cho người dân thấy hoài nghi về “xã hội Việt Nam” và mơ tưởng về một “xã hội khác” được cổ xúy là tốt đẹp hơn.

 

Các thế lực thù địch điều chỉnh thủ đoạn chống phá, bằng cách ngoài việc công kích trực diện vào nền tảng tư tưởng, chúng tuyên truyền kích động gây mâu thuẫn, chia rẽ trong nội bộ. Với mưu đồ gây chia rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, chúng ra sức tuyên truyền, bịa đặt về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng việc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc là thanh trừng nội bộ. Chúng còn thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự,...

 

Chúng còn sử dụng nhiều cách thức tác động tinh vi, xảo quyệt đối với từng đối tượng cụ thể, trong đó đối với các tầng lớp nhân dân, chúng lợi dụng việc tiếp cận thông tin còn hạn chế, đưa những thông tin sai lệch, nhằm tạo khoảng trống trong tư tưởng nhân dân, làm cho nhân dân hoài nghi, mất niềm tin với chế độ, Đảng và nhà nước, từ đó chúng kích động các hoạt động gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

 

Âm mưu, thủ đoạn của chúng còn xuyên tạc, bóp méo các sự kiện chính trị, các vụ việc phức tạp, nhạy cảm. Lợi dụng các sự kiện chính trị quan trọng liên quan đến các vấn đề phân định biên giới, lãnh thổ, tranh chấp Biển Đông, ô nhiễm môi trường, hay những vấn đề liên quan đến công tác cứu trợ bão lụt, công tác phòng chống COVID-19 lợi dụng tung tin thất thiệt trên các trang mạng xã hội gây hoang mang trong dư luận, tạo nên sự hiểu nhầm của người dân, sự hoài nghi vào cấp ủy, chính quyền các cấp.

 

Hiện nay, thế giới đang chứng kiến nhiều sự thay đổi sâu sắc. “Do tác động của đại dịch COVID-19, thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng nhiều mặt. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Các nước điều chỉnh chiến lược và phương thức phát triển nhằm thích ứng với tình hình mới” [4, tr.30,31]. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục diễn biến phức tạp, dưới nhiều hình thức mới, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế. Hợp tác, cạnh tranh, sự va chạm, cọ xát, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, các trung tâm quyền lực ngày càng gia tăng. Trong cách thức tiến hành, các nước lớn coi trọng sử dụng “quyền lực thông minh”, kết hợp giữa “quyền lực cứng” (chỉ huy, cưỡng bức, định đoạt dựa trên sức mạnh kinh tế, quân sự) với “quyền lực mềm” (khả năng thuyết phục, thu hút, tạo ảnh hưởng dựa trên sự hấp dẫn của giá trị) một cách uyển chuyển, khôn khéo. Trong bối cảnh quốc tế và các khu vực diễn biến phức tạp, khôn lường đó, để thực hiện mưu đồ của mình, các thế lực thù địch tiếp tục điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình” dưới một bộ mặt mới, ngày càng bộc lộ rõ sự tinh vi, xảo quyệt và vô cùng thâm độc:

 

Thứ nhất, chủ thể và lực lượng tiến hành “diễn biến hòa bình” trong bối cảnh mới rất đa dạng, phức tạp, đan xen, không đồng nhất. Nếu như trước kia, chủ thể tiến hành “diễn biến hòa bình” là chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thì nay, bên cạnh lực lượng này còn có cả các nước theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi với tư tưởng bành trướng, bá quyền. Để xác lập vị thế vượt trội hoặc tranh giành lợi ích, ảnh hưởng trong trật tự thế giới mới, một số nước lớn thâu tóm hoạt động của các tổ chức, diễn đàn quốc tế, khu vực để lôi kéo, khống chế các nước khác vào vòng kiềm tỏa của mình. Trong một số trường hợp cụ thể, có những nước bất chấp luật pháp quốc tế, trắng trợn xâm phạm chủ quyền, can thiệp sâu vào nội bộ các nước khác bằng các biện pháp tổng hợp nhằm thay đổi bộ máy chính quyền hoặc lật đổ chế độ chính trị nước khác theo hướng có lợi cho mình. Với chủ thể được mở rộng, lực lượng tiến hành sẽ là “đại quân công chúng” ngay trong nội bộ đối phương. Trước kia, khi thực hiện “diễn biến hòa bình”, những kẻ chủ mưu, thù địch, hiếu chiến bên ngoài trực tiếp tiến hành chống phá. Nay, họ chuyển sang hành động “sau bức màn che”, “bí mật giật dây”, tập trung “nhồi nhét” tư tưởng chống đối, đào tạo, huấn luyện những kẻ “theo đóm ăn tàn”, nội gián, tay sai một cách khá bài bản, trở thành những “kỹ sư lành nghề” lật đổ chế độ chính trị ngay trong nội bộ đối phương. Từ đó, họ ngụy biện rằng, nguyên nhân sụp đổ chế độ chính trị do sự tự thân vận động bên trong chứ không phải do sự chống phá từ bên ngoài. Họ móc nối với những đối tượng cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất nhen nhóm thành các tổ chức chính trị đối lập hoạt động công khai, được “ngụy trang” dưới danh nghĩa các hội, đoàn, tổ chức xã hội dân sự... và rêu rao đó là “đại diện của người dân”; tập hợp các phần tử phản động, lưu manh, bất mãn đội lốt các chức sắc, chức việc, già làng, trưởng nhóm, trưởng hội... chỉ chờ cơ hội là “ngóc đầu”, “lột xác”; mua chuộc, lừa gạt, ép buộc quần chúng nhẹ dạ tham gia làm bình phong, lá chắn. Lực lượng này khi bị lôi kéo, kích động hợp thành “đại quân công chúng” tại chỗ, luôn chịu sự chỉ đạo của các “chuyên gia chống cộng” bên ngoài và đương nhiên đó hoàn toàn không phải là quần chúng theo đúng nghĩa là lực lượng cách mạng.

 

Thứ hai, đối tượng chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” được mở rộng và phương thức tiến hành đã có sự chuyển đổi. “Diễn biến hòa bình” trong tình hình mới không những nhằm vào các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa, mà còn chuyển sang chống phá các nước có chế độ chính trị mà chủ thể tiến hành cho là không phù hợp với lợi ích, giá trị, “khuôn mẫu” của họ. Đó là những nước độc lập, có chủ quyền nhưng “cứng đầu”, “không cùng quỹ đạo”, không tuân theo sự chỉ huy, chỉ đạo của họ, không có lợi cho họ trong giải quyết các vấn đề quốc tế. Đặc biệt, trọng tâm chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là các nước có vị trí địa chính trị - kinh tế - quân sự chiến lược quan trọng, phức tạp, nhạy cảm hoặc ở những khu vực hội tụ sự cạnh tranh chiến lược, tranh chấp gay gắt về lợi ích, chủ quyền trên thế giới. Tính đa dạng, phức tạp, đan xen không đồng nhất giữa chủ thể và đối tượng được thể hiện trong mối quan hệ này, phạm vi này là chủ thể tiến hành, nhưng có thể trong mối quan hệ khác, phạm vi khác, chủ thể đó lại là đối tượng chống phá.

 

Phương thức chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” đã chuyển trọng tâm từ bên ngoài tác động vào bên trong sang tiến hành các hoạt động chống đối tại chỗ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay trong nội bộ đối phương. Nếu như những năm qua, “diễn biến hòa bình” coi trọng “dính líu để khuếch trương”, “can dự để mở rộng”, trực tiếp tiếp xúc để thẩm thấu các hành động chống phá từ bên ngoài vào bên trong nước khác thông qua thủ đoạn đặc trưng như “xóa bỏ cấm vận”, xúc tiến “bình thường hóa quan hệ”... thì nay đã chuyển sang tìm mọi cách khai thác và khoét sâu mâu thuẫn nội tại; triệt để lợi dụng những sơ hở, yếu kém trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành xã hội của các nước để chống phá. Như đã thành quy luật, mỗi khi ở các nước là đối tượng chống phá diễn ra các sự kiện chính trị trọng đại, xuất hiện các “điểm nóng”, các vấn đề xã hội phức tạp, nhạy cảm,... thì đó là “cơ hội vàng” để các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”. Họ sử dụng chính lực lượng, phương tiện của đối phương; kết hợp công khai với bí mật; thực hiện đánh ngầm, mềm, sâu, hiểm, tiến công toàn diện, có trọng điểm; thường núp dưới danh nghĩa “hiến kế”, “chống tham nhũng”, “góp ý kiến xây dựng”... để lũng đoạn đối phương. Trong đó, lĩnh vực chính trị, tư tưởng được họ xác định là khâu trọng tâm, đột phá; kinh tế là mũi nhọn; dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền là “ngòi nổ”; ngoại giao để hỗ trợ; quân sự để răn đe, hậu thuẫn. Trong quá trình thực hiện, khi có điều kiện, thời cơ và cần thiết sẽ kết hợp với bạo loạn lật đổ, gây xung đột, nội chiến, can thiệp vũ trang, chiến tranh ủy nhiệm... để nhanh chóng đạt được mục tiêu chiến lược. Cách thức tiến hành rất công phu, bài bản để che đậy tính chất chính trị phản động, “ru ngủ” tinh thần cảnh giác cách mạng, làm cho đối phương mơ hồ, mất cảnh giác; mưu toan từng bước tạo sự suy thoái về tư tưởng chính trị, mục ruỗng về bộ máy, xuất hiện các mầm mống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở từng cá nhân, trong nội bộ các tổ chức và toàn xã hội và cuối cùng là sự sụp đổ chế độ chính trị giống như sự vận động “tự thân”, “tất yếu”, “hợp quy luật”.

 

Thứ ba, mục tiêu và động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có sự dịch chuyển và mở rộng hơn. Mặc dù mục tiêu cao nhất, suy đến cùng của chiến lược “diễn biến hòa bình” là lật đổ chế độ chính trị xã hội của các nước “không cùng quỹ đạo”, nhưng hiện nay, do sự tác động của các mối quan hệ quốc tế phức tạp, đa tầng nấc, nhiều cấp độ giữa các nước, các tổ chức, sự chế ước của các quy tắc, chế định quốc tế, khu vực; khi chưa lật đổ được chế độ chính trị thì “diễn biến hòa bình” sẽ nhằm đến mục tiêu thấp hơn là thay đổi đường lối, chính sách; cài cắm lực lượng thân cận vào bộ máy cầm quyền; làm phức tạp hóa thành phần lãnh đạo; thay đổi tính chất quốc gia, dân tộc khác theo hướng phục vụ lợi ích của chủ thể tiến hành. Trong đó, thay đổi bộ máy cầm quyền nước khác là mục tiêu trọng yếu hiện nay và để làm được điều này, chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có những điều chỉnh mới gắn với “công nghệ lật đổ” cực kỳ tinh vi, phản động.

 

Từ sự mở rộng về mục tiêu làm cho động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa bình” trong sự dịch chuyển và cạnh tranh quyền lực cũng có sự mở rộng và thay đổi theo. Nếu như “diễn biến hòa bình” trước đây chủ yếu là đấu tranh ý thức hệ chính trị giai cấp; đấu tranh giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; thì hiện nay nó đã được mở rộng và chuyển sang cả “đấu tranh” vì lợi ích dân tộc cục bộ, hẹp hòi; cạnh tranh chiến lược để xác lập vị thế ảnh hưởng.

 

Thứ tư, đối với biện pháp tiến hành “diễn biến hòa bình” hiện nay, các thế lực thù địch sử dụng “công cụ mềm”, “quyền lực thông minh” thay cho chính sách “cây gậy và củ cà rốt” kém hiệu quả trước đây. Đây là những biện pháp mới, rất linh hoạt, mang tính tổng hợp trên các phương diện và nảy sinh trong xu thế các nước thay đổi cách thức sử dụng quyền lực và sự trỗi dậy của trào lưu dân túy, xu hướng bảo hộ thương mại trong quan hệ quốc tế. Thực hiện tiến công toàn diện, có trọng điểm song “diễn biến hòa bình” ngày càng coi trọng các “công cụ mềm” và “quyền lực thông minh” nhằm vào các lĩnh vực chính trị tư tưởng, kinh tế, văn hóa - xã hội, ngoại giao, nhất là vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để từng bước chuyển hóa đối phương, giành “chiến thắng mà không cần chiến tranh”. Trọng tâm ở bên trong các nước thì họ tìm mọi cách khoét sâu mâu thuẫn, phân hóa nội bộ, tạo ra những “khoảng trống” quyền lực, đẩy đối phương vào vòng bất ổn. Bên ngoài, vẫn hỗ trợ bằng việc tạo áp lực, tăng cường lôi kéo, khống chế, từng bước gây ảnh hưởng có lợi cho họ. Cách thức tiến hành rất tinh vi, khó nhận diện; có lúc dụ dỗ, mua chuộc bằng vật chất; lúc thì núp dưới danh nghĩa hoạt động từ thiện, nhân đạo; có khi kêu gọi mở rộng tự do, dân chủ, nhân quyền, thúc đẩy quan hệ đối tác; đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; nhiều khi lại ngấm ngầm thao túng, khống chế về tài chính, từng bước ép buộc đối phương lệ thuộc về chính trị. Chiến lược chống phá từ từ, dần dần theo cách “mưa dầm thấm lâu”. Phương châm hành động mềm dẻo, linh hoạt, “đối thoại thay đối đầu”, “bắt tay thay súng đạn”, không phô trương rầm rộ, nhìn hình thức biểu hiện bên ngoài ít khốc liệt, không tàn phá như chiến tranh vũ lực; thậm chí có vẻ “gần gũi”, “thân thiện” trong một “thế giới phẳng” nhưng bản chất thì đang âm thầm đẩy đối phương xuống đáy “vũng lầy” của sự khủng hoảng và dẫn đến đổ vỡ ngay từ bên trong.

 

Thứ năm, về công cụ mới để thực hiện “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch coi trọng sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông. Trước sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong kỷ nguyên thông tin của thời đại toàn cầu hóa và với quan điểm “một đài phát thanh cũng có thể bình định được một nước, một đô la chi cho tuyên truyền có hiệu quả hơn năm đô la chi cho quân sự” nên thứ “vũ khí” hữu hiệu được các thế lực thù địch coi trọng sử dụng trong chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là các phương tiện thông tin, truyền thông, báo chí, xuất bản, nhất là các phương tiện có chương trình tiếng Việt để thực hiện bôi nhọ, vu cáo, đả kích Việt Nam(6). Trong đó, họ ngày càng coi trọng các trang mạng xã hội, internet - một phương tiện truyền thông có tốc độ nhanh, sức lan tỏa mạnh đối với công chúng. Thực tế ở nước ta gần đây đã xuất hiện khá nhiều các website, blog, phát tán quan điểm trái chiều, xuyên tạc. Với cách thức tiến hành khá công phu, tinh xảo; dựa vào một số sự kiện đã diễn ra, họ nhào nặn bằng các chi tiết “sặc mùi” chính trị phản động; thêm bớt những “số liệu” không thể kiểm chứng, kèm theo trích dẫn “kim, cổ, đông, tây”, giả danh khoa học; sử dụng công nghệ chèn các tư liệu, hình ảnh đã bị cắt ghép, chỉnh sửa, “live stream”... tạo ra những sự kiện “giật gân”, thông tin “câu khách”, gợi trí tò mò của dư luận; cố tình đổi trắng thay đen, biến không thành có, rồi suy diễn, bình luận theo kiểu làm “sáng tỏ vấn đề”. Tần suất các luận điệu thâm độc đó ngày càng gia tăng cả về lưu lượng, cấp độ, mật độ; thực hiện “bôi nhiều sẽ bẩn”, “nói lắm phải tin”, tung “hỏa mù” nhằm gây tâm lý hoài nghi, dao động trong xã hội; từng bước hướng cộng đồng đến những suy nghĩ lệch lạc, dẫn đến “tự diễn biến”, dần xuất hiện những hành vi “lệch chuẩn” và rơi vào “tự chuyển hóa” lúc nào không hay.

 

2.3. Các giải pháp đấu tranh phòng chống của Đảng, Nhà nước Việt Nam

 

Cho dù có “khoác tấm áo mới” thì bản chất thực sự của chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là hoạt động chống phá của các lực lượng thù địch; vẫn là một kiểu “chiến tranh không có tiếng súng” nhưng vô cùng nguy hiểm với tính chất chính trị phản động, dân tộc chủ nghĩa, toàn cầu, phi vũ trang. Đã từng cay đắng thất bại trong chiến tranh, nay các thế lực thù địch lớn tiếng tuyên bố sẽ “thắng trong hòa bình”, “thắng bằng kinh tế thị trường” và Việt Nam vẫn là tiêu điểm, vẫn hội tụ đủ các yếu tố là trọng tâm chống phá của những thủ đoạn mới trên đây. Bởi lẽ, là một nước xã hội chủ nghĩa luôn tiên phong trong phong trào độc lập dân tộc, không chịu lệ thuộc vào bên ngoài, Việt Nam nắm giữ vị trí địa kinh tế - chính trị - quân sự chiến lược quan trọng trong khu vực, lại nằm ở vị trí địa - chiến lược, trung tâm của cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn. Hơn nữa, những thành tựu hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế đã tăng cường vị thế, uy tín, tiềm lực, thực lực và sức mạnh tổng hợp của đất nước ta, tuy nhiên trong nội bộ, hiện tượng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu cực, tệ nạn xã hội,... còn diễn biến khá phức tạp. Thêm vào đó, thay đổi được chế độ chính trị, bộ máy cầm quyền ở Việt Nam, các thế lực thù địch sẽ có nhiều lợi thế khi thực hiện các mưu đồ chính trị mới trong thế giới đương đại. Vì vậy, để đấu tranh làm thất bại chiến lực “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc, Đảng, Nhà nước Việt Nam cần triển khai và làm tốt một số giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa thường xuyên, liên tục sau:

 

Thứ nhất, cần xác định công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là chính. Tuyên truyền giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân nâng cao cảnh giác, tạo sức đề kháng trước những thông tin, quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, thường xuyên chỉ đạo, định hướng công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là giáo dục thế hệ trẻ nhận thức rõ về vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng, về mô hình chính trị mà nước ta đã kiên định. Đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

 

Thứ hai, cấp uỷ, chính quyền các cấp nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững lập trường tư tưởng, chính trị cho cán bộ, đảng viên. Bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu của các đơn vị; đồng thời, giữ vai trò định hướng thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của cán bộ, đảng viên. Đối với tổ chức đảng phải thường xuyên chăm lo xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện, chủ động nắm bắt tình hình, định hướng dư luận không để bị động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra, coi đây là yếu tố then chốt quyết định đến thắng lợi của nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình”. Để thực hiện nhiệm vụ này, cần quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tăng cường công tác kiểm tra, bảo đảm cho nghị quyết của tổ chức đảng được thực hiện thắng lợi. Đồng thời, xây dựng đội ngũ cán bộ, lãnh đạo các cấp mạnh về số lượng và chất lượng, thể hiện ở các khâu từ lựa chọn, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc, phát huy vai trò tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, phát huy hiệu quả vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, trong việc phát huy dân chủ, tinh thần đoàn kết, tính chủ động trong việc ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch.

 

Có thể thấy rõ phương pháp của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là thực hiện “chiến thắng không cần chiến tranh”. Chúng tập trung phá hoại về chính trị, tư tưởng của cán bộ, đảng viên. Do đó,  phải nâng cao bản lĩnh chính trị cũng cố và giữ vững tư tưởng cho mỗi cán bộ, đảng viên là tất yếu trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm tư tưởng sai trái và phản động, các biểu hiện mơ hồ, ảo tưởng, hoài nghi, dao động, lơ là mất cảnh giác trong thực hiện nhiệm vụ.

 

Thứ ba, cần quán triệt sâu sắc phương châm, gắn “xây dựng với bảo vệ”, “bảo vệ với xây dựng”; xây dựng là một nội dung của bảo vệ và là biện pháp chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội hiệu quả nhất. Như đã phân tích, mục đích của các thế lực thù địch nhằm thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội, công an hòng làm ta từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, phai nhạt bản chất giai cấp, lý tưởng cách mạng, xa rời phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu và cuối cùng dẫn tới xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu của họ rất thâm hiểm. Do đó, cần phải tập trung xây dựng lực lượng quân đội và công an vững mạnh về chính trị trong tình hình mới. Bởi đây là lực lượng chủ công, nòng cốt trong việc đảm bảo an ninh trật tự và an ninh quốc gia, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và Nhân dân.

 

Thứ tư, xây dựng tổ chức lực lượng nòng cốt trong công tác đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình”. Lực lượng tham gia đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” phải được tổ chức bài bản và có các phương án, xây dựng, bố trí lực lượng chủ công trên từng lĩnh vực tư tưởng, chính trị, văn hóa, văn học, nghệ thuật, kết hợp giữa tin bài trên các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả mạng xã hội, báo cáo viên, thông tin chuyên đề thời sự trong sinh hoạt đảng, đoàn thể. Tổ chức các diễn đàn đối thoại, các hoạt động khoa học có tính chuyên sâu, tập hợp được chuyên gia, trí thức, văn nghệ sỹ bàn về những vấn đề đang được dư luận xã hội quan tâm, có liên quan đến lợi ích của đất nước, qua đó thu hẹp khoảng cách bất đồng quan điểm, chính kiến, không để xuất hiện các tổ chức, quan điểm chính trị đối lập.

 

Để thực hiện nhiệm vụ đó trước hết phải tăng cường và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng trong mọi tình huống; nâng cao hiệu quả và chất lượng của công tác giáo dục, phải coi trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục lý luận chính trị, cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trước những vấn đề mà dư luận, xã hội đang quan tâm, không để các vụ việc xảy ra nội cộm, bức xúc.

 

Thứ năm, phát huy mạnh mẽ vai trò của báo chí, truyền thông đối với công cuộc đấu tranh phòng, chống “Diễn biến hoà bình”. Đảm bảo tính tư tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính định hướng, cần phát huy vai trò của báo chí trong việc tạo dòng thông tin chủ lưu tích cực, góp phần tăng cường sự đoàn kết, nhất trí về tư tưởng, chính trị trong nhân dân. Kiên quyết đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, khắc phục các biểu hiện thương mại hoá, xa rời tôn chỉ, mục đích và các biểu hiện tiêu cực, lệch lạc. Để chống “diễn biến hoà bình”, báo chí cần tăng cường giáo dục ý thức xã hội chủ nghĩa cho quần chúng nhân dân, đặc biệt là thanh niên, sinh viên hiểu và nhận thức rõ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng… Báo chí cần tuyên truyền tinh thần yêu nước, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ vững phương hướng đúng đắn trong chỉ đạo dư luận, làm thất bại những âm mưu của “diễn biến hoà bình”.

 

Thứ sáu, trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” cần có sự đổi mới cách tiếp cận mục tiêu, tập trung, kiên quyết vạch trần những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, đồng thời tập trung sâu hơn vào việc hình thành khả năng “miễn nhiễm”, nâng cao “sức đề kháng” của xã hội trước những thông tin xấu độc. Trong đó, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thế hệ trẻ cần trang bị những có kiến thức, kỹ năng để làm tốt công tác tham mưu, công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, trong đó khi nói và viết bài hoặc phát ngôn trên diễn đàn, trên mạng xã hội, phải thể hiện rõ bản lĩnh chính trị không được phép phát ngôn mang tính hoài nghi, a dua với những luồng thông tin xấu độc. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự nghiên cứu, học tập, trau rèn nhận thức, bản lĩnh chính trị, trước những tư tưởng sai trái, lệch lạc, không để mình bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn phát huy vai trò "hạt nhân" tại cơ sở để đưa những thông tin chính thống, tích cực, góp phần tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng, để từ đó khiến các thế lực thù địch không còn "đất" để xuyên tạc, chống phá.

 

3. KẾT LUẬN

 

“Diễn biến hòa bình” dù có thay đổi phương thức, điều chỉnh thủ đoạn theo chiều hướng, bộ mặt nào đi nữa, thì mục tiêu cuối cùng vẫn là hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, tập trung xây dựng Đảng vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, gắn với ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là vấn đề mang tính nguyên tắc, giữ vai trò quyết định trong bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam trong tình hình mới.

 Lạc Phong

 

Chủ động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn thủ đoạn “bất tuân dân sự”

Trong giai đoạn hiện nay, một thủ đoạn mới mang tên “bất tuân dân sự” được các thế lực thù địch sử dụng nhằm tăng cường“diễn biến hòa bình” chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhận diện thủ đoạn “bất tuân dân sự” ở Việt Nam hiện nay để có biện pháp ngăn chặn kịp thời, góp phần tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ sự ổn định chính trị-xã hội là hết sức cần thiết.

Thuật ngữ “bất tuân dân sự” bắt nguồn lần đầu tiên trong tập tiểu luận của tác giả người Mỹ Henry David Thoreau với tiêu đề “Dân sự bất hợp tác” viết vào tháng 5/1849. Nhằm bào chữa cho việc phải ngồi tù vì tội không đóng thuế ở Massachusetts, Henry David Thoreau viết tập tiểu luận để khẳng định rằng cá nhân (hoặc một bộ phận thiểu số công dân) không cần tuân thủ và phục tùng nhà nước, thậm chí có thể chống lại việc thực thi luật pháp của nhà nước nếu thấy không phù hợp.

Thực chất, đây là quan điểm cực đoan, vô chính phủ, tiềm tàng nguy cơ bất ổn cho xã hội. Sau này, “bất tuân dân sự” dần được chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế sử dụng thành thủ đoạn phản cách mạng nhằm chống phá, lật đổ chính quyền, âm mưu làm thay đổi chế độ chính trị ở những quốc gia tiến bộ, không cùng “quỹ đạo” với chúng. Dù bề ngoài có vẻ ôn hòa, núp bóng “dân sự”, không bạo lực vũ trang, nhưng phong trào “bất tuân dân sự” đem lại những hiểm họa khôn lường cho xã hội.

Hiện nay, “bất tuân dân sự” được hiểu là hoạt động công khai từ chối tuân theo hoặc cố ý vi phạm với một số quy định pháp luật của nhà nước với những lý do không chính đáng. Về cơ bản, những hành động “bất tuân dân sự” là hình thức phản kháng ôn hòa, bất bạo động nhưng lại thể hiện rõ ràng sự coi thường kỷ cương, pháp luật, trái với các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền trong một xã hội văn minh.

Đặc biệt, với chiến lược “diễn biến hòa bình” từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa đế quốc xây dựng tư tưởng chủ đạo muốn chuyển cuộc đấu tranh vào bên trong các nước xã hội chủ nghĩa bởi vậy “bất tuân dân sự” dần trở thành phương thức thủ đoạn có sự liên hệ chặt chẽ các phương thức, thủ đoạn khác của chiến lược “diễn biến hòa bình”.

Nhận thấy sự lợi hại của phương thức đấu tranh bất bạo động, các đối tượng cơ hội chính trị, các thế lực thù địch ra sức cổ xúy cho “bất tuân dân sự”. Trong các cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng nhung” ở Tiệp Khắc và Đông Đức; “cách mạng hoa hồng” ở Gruzia; “cách mạng cam” ở Ucraina; “cách mạng hoa nhài” (Mùa xuân Ả Rập) ở các nước Trung Đông và Bắc Phi trong những năm đầu thế kỷ XXI, phong trào “cách mạng dù” của sinh viên vùng lãnh thổ Hồng Công (Trung Quốc) hay các cuộc biểu tình phản đối sửa đổi Dự luật dẫn độ ở vùng lãnh thổ Hồng Công (Trung Quốc) năm 2019, năm 2020… đều có dấu ấn của “bất tuân dân sự”. Điểm chung của các phong trào này là nhằm gây trở ngại cho hoạt động thực thi công lý, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, gây khủng hoảng toàn diện cho nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ.

Ở Việt Nam, thủ đoạn “bất tuân dân sự” được các thế lực thù địch triệt để sử dụng dựa trên các vấn đề nhạy cảm liên quan đến dân tộc, tôn giáo, các sự kiện, vụ việc, bất cập, hạn chế trong triển khai các quyết sách phát triển kinh tế-xã hội, văn hóa, đối ngoại... Các đối tượng chống phá lợi dụng một số sai phạm, yếu kém của tổ chức, cá nhân để rêu rao Việt Nam vi phạm tự do, dân chủ, nhân quyền, từ đó kích động lôi kéo người dân tụ tập, biểu tình, tuần hành, tập dượt kịch bản đấu tranh chuẩn bị cho những bước chống phá cao hơn. Các đối tượng không ngừng tuyên truyền cho rằng: “Lối thoát cho Việt Nam là bất tuân dân sự”, hay “Bất tuân dân sự là con đường tự do cho Việt Nam”.

Trong những năm gần đây diễn ra hàng loạt vụ việc mang bóng dáng “bất tuân dân sự” như khi giải phóng mặt bằng ở Hà Nội, Bắc Giang, Hải Phòng, Đắk Nông, Gia Lai, một số đối tượng đã “bất tuân cưỡng chế”, chống lại cơ quan thực thi pháp luật; hay “bất tuân” quy định về thành lập hội (nhóm) để lập các tổ chức dân sự nhân danh tự do, dân chủ, nhân quyền như “hội văn đoàn độc lập”, “hội nhà báo độc lập Việt Nam”, “hội anh em dân chủ”, “hội cựu tù nhân lương tâm Việt Nam”, “hội phụ nữ nhân quyền”… lập ra để phản đối các bộ luật ở nước ta. Vụ việc phức tạp tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội tháng 1/2020 là điển hình của việc coi thường pháp luật, vi phạm các quy định pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng, khiến dư luật hết sức bất bình.

Hậu quả của hoạt động “bất tuân dân sự” rất nặng nề, tác động tiêu cực cả về kinh tế, chính trị, trật tự an toàn xã hội, kích động gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các đối tượng kích động người dân tụ tập, gây cản trở giao thông, đập phá trụ sở chính quyền, đốt phá tài sản nhà nước, doanh nghiệp và người dân, nhiều cán bộ thực hiện nhiệm vụ bị thương, hoạt động của cơ quan nhiều nơi bị ngưng trệ.

Đồng thời các đối tượng tìm mọi thủ đoạn hòng móc nối, lôi kéo, mua chuộc cán bộ, đảng viên và người dân phản đối, gây sức ép thay đổi chính sách, hệ thống pháp luật, lĩnh vực tư pháp để chống lại Đảng, Nhà nước Việt Nam. Cần khẳng định rằng các hành vi này xâm phạm nghiêm trọng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Mục tiêu chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam là tạo sự chuyển hóa từ bên trong nội bộ Đảng, Nhà nước ta, chúng tập trung chống phá cả về lý luận, quan điểm, đường lối, xóa bỏ nền tảng tư tưởng và đòi tước bỏ cơ sở pháp lý bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng xã hội “dân chủ”.

Chúng kêu gọi và thổi phồng rằng người dân cần phải được “khơi dậy lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm công dân”, “ý thức pháp luật”, lên tiếng để thay đổi luật pháp cho phù hợp với ý chí của cá nhân, và kêu gọi rằng không thể chỉ dừng lại ở đấu tranh cho một số đạo luật, và muốn bảo đảm “thượng tôn pháp luật” phải thực hiện đa nguyên đa đảng theo mô hình dân chủ phương Tây.

Về bản chất, hoạt động “bất tuân dân sự” là tác động, làm thay đổi nhận thức về chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; không ngừng sử dụng luận điệu kêu gọi thúc đẩy “dân chủ đa nguyên”, thay đổi thể chế chính trị, đổi tên Đảng, tên nước, sửa Cương lĩnh, Hiến pháp, “phi chính trị hóa” quân đội, công an; thực hiện “tam quyền phân lập”; thúc đẩy, kích động tuần hành, biểu tình, bạo động, khiếu kiện, gây “điểm nóng” về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội...

Trước những âm mưu, thủ đoạn “bất tuân dân sự” hiện nay đòi hỏi cả hệ thống chính trị cùng mọi người dân cần nêu cao tinh thần cảnh giác, trách nhiệm xã hội, chủ động nắm chắc tình hình, âm mưu, ý đồ của các đối tượng chống phá để có biện pháp ngăn chặn, dập tắt ngay từ đầu những mầm mống mới phát sinh, kịp thời xử lý một cách linh hoạt, mạnh mẽ, kiên quyết, hiệu quả những tình huống phức tạp.

Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức và ý thức pháp luật cho các cá nhân và tổ chức ở Việt Nam. Nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền phải được thường xuyên đổi mới, phù hợp với thực tế, đặc biệt chú ý đến phương pháp, phù hợp với trình độ dân trí, phong tục tập quán… để mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước đến được với người dân một cách cụ thể, gần gũi, dễ hiểu, dễ tuân thủ, chấp hành.

Khi xảy ra các vụ việc “bất tuân dân sự”, các tổ chức và người dân cần hết sức tỉnh táo; nhận định, đánh giá đúng tính chất, mức độ, xác định rõ nguyên nhân; kiên trì, khôn khéo, lấy biện pháp đối thoại, tuyên truyền, vận động, thuyết phục là chính; thực hiện phân hóa lực lượng cốt cán, cầm đầu với quần chúng bị dụ dỗ, lôi kéo. Phát huy tốt vai trò của cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp trong việc bám nắm cơ sở, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của bọn phản động trong việc kích động, lôi kéo nhân dân thực hiện “bất tuân dân sự”.

Cần khẳng định rằng, không một quốc gia nào trên thế giới lại cổ xúy và bảo vệ những hành vi vi phạm pháp luật, gây trở ngại cho hoạt động công quyền, thực thi công lý tổn hại đến trật tự, an toàn xã hội; dung túng cho những hành vi lợi dụng quyền tự do, dân chủ để chống phá đất nước, xâm phạm đến lợi ích Nhà nước và đông đảo quần chúng nhân dân. Nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mọi công dân đều bình đẳng, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.

Nếu để những hoạt động “bất tuân dân sự”, những âm mưu, thủ đoạn coi thường pháp luật xảy ra kéo dài thì hậu quả để lại rất nặng nề, không chỉ ảnh hưởng về kinh tế-xã hội, mà còn gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm mất lòng tin của người dân đối với chính quyền.

Từ đây cũng đặt ra yêu cầu cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao chất lượng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính và cải cách hành chính; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là việc thực thi các quy định của pháp luật trên các lĩnh vực quản lý kinh tế, tài chính, tài nguyên, môi trường…

Phát huy dân chủ, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân; gắn dân chủ với tăng cường kỷ cương, kỷ luật, pháp luật của Nhà nước. Các quyền tự do, dân chủ luôn là các quyền thiêng liêng, là một biểu hiện cho tiến bộ, phát triển của xã hội nhưng tuyệt đối không thể là sự tự do “vô chính phủ”. Điều này được thể hiện rõ nét trong pháp luật các quốc gia và pháp luật quốc tế.

Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn các hoạt động lợi dụng “bất tuân dân sự” của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị để kích động, chống phá là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong tình hình hiện nay, góp phần thống nhất nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị và của từng người dân vì sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước.

 

“6 hơn” trong thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Trung Quốc: Bài 1: Tin cậy chính trị - nền tảng của quan hệ giữa hai Đảng, hai nước

Tuyên bố chung Việt Nam-Trung Quốc được đưa ra nhân chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình từ ngày 12 đến 13-12, khẳng định hai bên tích cực thúc đẩy hợp tác trong thời gian tới, tập trung vào 6 phương hướng hợp tác lớn: Tin cậy chính trị cao hơn; hợp tác quốc phòng, an ninh thực chất hơn; hợp tác thực chất sâu sắc hơn; nền tảng xã hội vững chắc hơn; phối hợp đa phương chặt chẽ hơn; bất đồng được kiểm soát và giải quyết tốt hơn. Báo Quân đội nhân dân trân trọng giới thiệu loạt bài về vấn đề này.

“Trong những năm qua, quan hệ hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước đã có nhiều bước phát triển quan trọng, sâu sắc và toàn diện. Thể hiện nổi bật nhất ở sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau được củng cố, hai nước đã trở thành đối tác kinh tế hàng đầu của nhau”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh trong bài phát biểu của mình khi cùng Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình gặp gỡ nhân sĩ hữu nghị và thế hệ trẻ hai nước Việt Nam-Trung Quốc tại Hà Nội chiều 13-12.

Tin cậy chính trị hơn được xếp ở vị trí đầu tiên trong 6 phương hướng hợp tác lớn mà hai bên khẳng định trong Tuyên bố chung. Đồng chí Lê Hoài Trung, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương, khẳng định tin cậy chính trị chính là nền tảng của quan hệ giữa hai Đảng, hai nước. Trong Tuyên bố chung lần này, hai bên nhất trí tăng cường trao đổi chiến lược, kiên trì đối xử bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, củng cố hơn nữa tin cậy chính trị. Tuyên bố chung nêu rõ: “Hai bên nhất trí tiếp tục tăng cường hơn nữa giao lưu mật thiết giữa lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước thông qua các hình thức như thăm song phương, cử đặc phái viên, đường dây nóng, trao đổi thư điện, gặp gỡ thường niên và tiếp xúc tại các diễn đàn đa phương, kịp thời trao đổi chiến lược về các vấn đề quan trọng trong quan hệ song phương và tình hình khu vực, quốc tế mà hai bên cùng quan tâm, định hướng và chỉ đạo chiến lược đối với sự phát triển ổn định, lành mạnh của quan hệ hai Đảng, hai nước trong thời kỳ mới”.

Có thể thấy, qua cách dùng các cụm từ “giao lưu mật thiết”, “gặp gỡ thường niên”, “kịp thời trao đổi chiến lược”... hai bên đã xác định các mục tiêu, cơ chế cùng một số biện pháp cụ thể để tăng cường hơn nữa tin cậy chính trị. Điểm lại, trong năm 2023, Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình thăm Việt Nam, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã sang thăm Trung Quốc. Năm ngoái, ngay sau Đại hội XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã sang thăm Trung Quốc.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng mời Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình dự tiệc trà sau cuộc hội đàm cấp cao tại Hà Nội, ngày 12-12-2023.

Một ví dụ cụ thể nữa là cuộc hội đàm diễn ra ngay tối 12-12 giữa đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng ban Tổ chức Trung ương với đồng chí Thái Kỳ, Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Bí thư Ban Bí thư, Chánh văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đồng chí Lê Hoài Trung cho biết, cuộc hội đàm này để hai bên cùng nhau “thực hiện ngay những nhận thức chung đạt được giữa đồng chí Tập Cận Bình và đồng chí Nguyễn Phú Trọng”. Thông tin từ cuộc hội đàm giữa đồng chí Trương Thị Mai và đồng chí Thái Kỳ cho biết, hai bên đã đi sâu trao đổi về tình hình và quan hệ hai Đảng, hai nước; tập trung trao đổi về các phương hướng và biện pháp chính để quán triệt nhận thức chung cấp cao đối với quan hệ hai Đảng, hai nước trong việc làm sâu sắc hơn và nâng tầm quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, xây dựng cộng đồng chia sẻ tương lai, nỗ lực vì hạnh phúc của nhân dân hai nước, sự nghiệp hòa bình và tiến bộ của nhân loại, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế.

Tin cậy chính trị hơn giữa Việt Nam và Trung Quốc còn được hai bên khẳng định qua Tuyên bố chung với việc nhất trí “phát huy đầy đủ vai trò đặc biệt của kênh Đảng”. Theo đó, không chỉ ở cấp cao mà hiệu quả giao lưu, hợp tác giữa các cơ quan tương ứng của hai Đảng ở Trung ương, các tổ chức đảng địa phương hai nước, đặc biệt là các tỉnh (khu) giáp biên sẽ được nâng cao. Đồng chí Lê Hoài Trung nhấn mạnh, hợp tác giữa các ban của Đảng rất quan trọng. Theo phương hướng nêu trong Tuyên bố chung, hai bên sẽ thông qua cơ chế hội thảo lý luận giữa hai Đảng, kế hoạch hợp tác đào tạo cán bộ, trao đổi đoàn kênh Đảng, tăng cường giao lưu, tham khảo lẫn nhau về xây dựng Đảng và quản lý đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội và trong các lĩnh vực như tổ chức, tuyên giáo/tuyên truyền, kiểm tra kỷ luật, phòng, chống tham nhũng, cải cách tư pháp, dân vận/mặt trận thống nhất, kinh tế-xã hội... Như vậy, hình thức và biện pháp để phát huy đầy đủ vai trò đặc biệt của kênh Đảng cơ bản đã được hai bên xác định. “Cần làm sao để tiếp tục phát huy hiệu quả, đồng thời có thêm những hình thức mới theo yêu cầu đặt ra. Ví dụ, về trao đổi lý luận, năm 2024 hai bên tổ chức hội thảo lý luận định kỳ hằng năm để trao đổi những vấn đề lớn đặt ra, cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm, từ đó càng tin cậy nhau hơn” đồng chí Lê Hoài Trung nói.

Sự tin cậy chính trị không chỉ giúp hợp tác trên các lĩnh vực của hai nước đạt được tiến triển tích cực, toàn diện trong 15 năm qua, kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện vào năm 2008, mà còn giúp hai bên kiểm soát bất đồng nảy sinh trong quan hệ hai nước. Ví dụ, khi có bất đồng trên biển, hai bên căn cứ vào nhận thức chung mà lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc đã đạt được, tuân theo các nguyên tắc xử lý vấn đề trên biển, trao đổi ý kiến chân thành, thẳng thắn về vấn đề trên biển để duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông và khu vực.

Truyền thống quan hệ hữu nghị tốt đẹp cùng sự tin cậy chính trị đã thúc đẩy quan hệ Việt Nam-Trung Quốc, đồng thời góp phần tích cực vào sự phát triển chung của khu vực và thế giới. Tuyên bố chung khẳng định: “Việt Nam và Trung Quốc là láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt, đều là nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo, chế độ chính trị tương đồng, lý tưởng niềm tin tương thông, con đường phát triển gần gũi, cùng chung chí hướng, chia sẻ tương lai chung, đều nỗ lực vì nhân dân hạnh phúc và đất nước giàu mạnh, nỗ lực vì sự nghiệp cao cả hòa bình và tiến bộ của nhân loại”.

Tăng cường hơn nữa tin cậy chính trị sẽ có ý nghĩa định hướng, dẫn dắt quan hệ Việt-Trung trên tất cả lĩnh vực khác, trong đó có hợp tác thực chất hơn về quốc phòng, an ninh.

ÔNG CHA TA ĐÁNH GIẶC: 8 QUẢ ĐẠN DIỆT 5 XE TĂNG ĐỊCH!

     Ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris được ký kết, ngụy quân Sài Gòn được Mỹ "bật đèn xanh" tiến hành “tràn ngập lãnh thổ” với mục đích lấn chiếm vùng giải phóng của ta trước khi Hiệp định Paris có hiệu lực!

Nhận lệnh của trên, kíp xe tăng K63-85 số 704 của Đại đội 1, Tiểu đoàn 66, Trung đoàn 202, gồm: Trưởng xe Nguyễn Văn Khoán; lái xe Nguyễn Thế Tường; pháo thủ Hoa Xuân Toàn; nạp đạn kiêm điện đài Nguyễn Văn Khanh cùng đơn vị cơ động vào phòng ngự ở trận địa ven biển phía Đông làng Hà Tây (nằm trong khu vực phòng ngự của Trung đoàn Bộ binh 101, Sư đoàn 325), có nhiệm vụ đánh địch từ phía Nam lấn chiếm lên cảng Cửa Việt-một vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng thuộc phần đất phía Đông huyện Triệu Phong (Quảng Trị) mới được ta giải phóng. Trong đội hình chiến đấu chỉ có xe tăng 704 có hỏa lực pháo 85mm, còn lại đều là súng máy 12,7mm; 14,5mm và súng bộ binh.

1 giờ sáng 28-1-1973, địch huy động hàng chục xe tăng, xe thiết giáp yểm trợ cho bộ binh, lợi dụng trời tối, men theo mép nước biển và đường số 4 lên áp sát, bao vây các trận địa phòng ngự của ta. Trinh sát của đơn vị kịp thời phát hiện và báo cáo về đại đội. Lập tức, xe tăng 704 và đơn vị được lệnh chiến đấu. Do trời tối, kính ngắm của pháo tăng bị hỏng đèn chiếu sáng, đại đội trưởng ra lệnh ngắm bắn trực tiếp qua nòng pháo. Quả đạn 85mm bay qua tháp pháo chiếc xe tăng đi đầu của địch. Lợi dụng ánh sáng của quả đạn, pháo thủ Hoa Xuân Toàn hiệu chỉnh đường ngắm cho chiếc xe tăng địch nằm gọn trong vòng tròn miệng nòng pháo và ấn nút điện. Quả đạn pháo thứ hai lao đi, xe M48 của địch bị tiêu diệt.

Bị đánh bất ngờ, địch dùng pháo tăng và súng máy bắn dữ dội vào trận địa phòng ngự, mảnh đạn văng chan chát vào thân xe và chém các cành cây đổ xuống trùm kín xe, che khuất tầm quan sát. Kíp xe bình tĩnh ra ngoài chặt cây, dọn cành tiếp tục chiến đấu. Trời sáng dần, kính ngắm nòng pháo đã được khắc phục và pháo thủ Hoa Xuân Toàn liên tiếp tiêu diệt thêm 2 xe M48, bắn bị thương 1 chiếc khác, phối hợp cùng hỏa lực của Sư đoàn 325 buộc địch phải lùi lại. Thấy đội hình rối loạn và có biểu hiện rút lui, ngay lập tức, Trưởng xe Nguyễn Văn Khoán ra lệnh truy kích, chiếc xe tăng 704 lao ra khỏi hầm, dẫn đầu đội hình, dùng hỏa lực súng máy tiêu diệt 50 tên địch, cùng các phân đội trong đơn vị yểm trợ cho bộ binh truy kích địch.

Hành động chiến đấu kiên quyết, linh hoạt của xe tăng 704 đã tạo điều kiện cho trận địa phòng ngự Đại đội 1 và bộ binh Sư đoàn 325 giành lại thế chủ động đánh địch. Riêng xe tăng 704 với 8 quả đạn đã tiêu diệt 5 xe tăng M48 và bắn bị thương 2 chiếc xe tăng khác của địch. Với chiến công xuất sắc, kíp xe tăng K-63-85 số 704 đã góp phần quan trọng vào chiến công của đơn vị. Ngày 23-9-1973, Đại đội 1, Tiểu đoàn 66 được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân./.
Yêu nước ST.

CẢNH GIÁC, ĐẤU TRANH VỚI ÂM MƯU "PHI CHÍNH TRỊ HOÁ QUÂN ĐỘI"!

     Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Trải qua 79 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội ta luôn thực hiện tốt bà chức năng của mình đó: đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất. Quân đội luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao cho.
     Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta cần nhận thức sâu sắc về bản chất, âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của kẻ thù là nhằm chuyển hướng chính trị của Quân đội ta từ quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân sang kiểu quân đội tư bản, nhà nghề do giai cấp tư sản lãnh đạo, phục vụ cho mục đích của giai cấp tư sản. Từ đó, làm cho Quân đội ta mất phương hướng chính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành các bước tiếp theo giống như kiểu “Cách mạng Hoa hồng”, “Cách mạng Đường phố”, “Cách mạng Cam”,... mà chúng đã thành công ở hàng loạt nước trên thế giới./.


Yêu nước ST&SC.

CÙNG ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ ĐẢNG; BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG!

     Hiện nay các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tăng cường sử dụng mọi âm mưu, thủ đoạn để chống phá Đảng, Nhà nước ta với cấp độ ngày càng tinh vi. Chúng lợi dụng không gian mạng, mạng xã hội (Facebook) để tuyên truyền xuyên tạc đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, họ phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng; bác bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ lợi dụng tình hình dư luận xã hội đang bức xúc về những tệ tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống; những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên, cán bộ công chức, viên chức, rồi quy chụp mọi khuyết điểm, sai lầm, tiêu cực trong chủ trương, đường lối đổi mới cán bộ và công tác cán bộ của Đảng.
 Để góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mỗi tổ chức, cá nhân chúng ta cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp:
      Một là, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.
     Hai là, chủ động phát hiện kịp thời những tư tưởng đối lập do các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội, xử lý kịp thời và nghiêm minh theo pháp luật đối với các hoạt động chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, không để chúng tạo dựng ngọn cờ tập hợp được lực lượng.
    Ba là, chủ động phê phán, bác bỏ các quan điểm tư tưởng sai trái và ý đồ thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”.
    Bốn là, tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống những luận điểm sai trái, thù địch, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng để có luận chứng bác bỏ có sức thuyết phục từng luận điểm./.


Yêu nước ST.