Chủ Nhật, 17 tháng 12, 2023

Quy định số 131-QĐ/TW: Quyết liệt bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

 

Quy định số 131-QĐ/TW: Quyết liệt bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

 

BẢO VỆ SỰ MINH BẠCH CỦA CÁC CƠ QUAN CÔNG QUYỀN

Trong những năm qua, công tác đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực được lãnh đạo, chỉ đạo triển khai khá toàn diện, quyết liệt, với nhiều giải pháp đồng bộ để xây dựng, hoàn thiện thể chế về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cả hệ thống chính trị; trong đó có việc nghiên cứu, ban hành mới cũng như sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện một số quy định của Đảng và các quy định của pháp luật nhằm hình thành khuôn khổ pháp lý vững chắc để không thể tham nhũng, không dám tham nhũng, nhất là đội ngũ cán bộ thực thi công tác phòng, chống tham nhũng. Cùng với Quy định “Kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án” (Quy định 132), Quy định số 131-QĐ/TW về “Kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán” (Quy định 131) ra đời và sớm được triển khai trong hoạt động của các cấp ủy, tổ chức Đảng và quá trình công tác của mỗi cán bộ, đảng viên đã thực sự là “thanh bảo kiếm” bảo vệ sự minh bạch của các cơ quan công quyền; đồng thời cũng là liều “vaccine” đủ mạnh để mỗi cán bộ, đảng viên tự soi, tự răn, tự sửa mình, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày càng trong sạch vững mạnh.

Quy định 131 gồm  4 chương và 11 điều; trong đó đã giải thích rõ: Kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán là việc sử dụng cơ chế, biện pháp nhằm bảo đảm thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy chế làm việc, quy định, quy trình nghiệp vụ… để phòng ngừa và phát hiện, ngăn chặn, xử lý các vi phạm, lạm dụng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao (trong quá trình công tác)...

Trên thực tế, hoạt động thanh tra, kiểm toán vốn là những lĩnh vực “nhạy cảm”, liên quan đến công việc kiểm tra, đánh giá, kết luận và xác nhận tính đầy đủ, hợp lý, hợp pháp của số liệu, tài liệu kế toán, báo cáo tài chính của các cơ quan, tổ chức có liên quan đến thu, chi ngân sách nhà nước; liên quan đến việc phát hiện sơ hở trong cơ chế, chính sách, pháp luật và phòng ngừa, phát hiện, xử lý hành vi vi phạm pháp luật, trong đó có hành vi tham nhũng, tiêu cực... Vì thế, công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng trong những lĩnh vực này càng thêm “nhạy cảm” hơn, vì phải thường xuyên phải đối mặt với những cám dỗ về vật chất và tinh thần, với những tiêu cực nảy sinh trong quá trình công tác như: Sử dụng thẩm quyền không đúng mục đích; lợi dụng quyền hạn để trục lợi cá nhân hoặc “nhóm lợi ích”; nhận hối lộ để bao che, giúp đối tượng không bị xử lý hoặc giảm nhẹ khi xem xét xử lý kỷ luật... Và cũng vì thế, việc tạo nên bức “trường thành vững chắc” để ngăn ngừa những việc tiêu cực diễn ra trước, trong và sau quá trình công tác; đồng thời bịt kín những kẽ hở gây bức xúc trong dư luận đối với lĩnh vực công tác “nhạy cảm” này là rất cần thiết. Trên tinh thần đó, việc ban hành Quy định 131 đã thêm một lần khẳng định chủ trương, quyết tâm, biện pháp hữu hiệu của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với việc phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay.

Điều 4 của Quy định 131 chỉ rõ 22 mục (các hành vi tham nhũng, tiêu cực) bị nghiêm cấm trong quá trình công tác. Cụ thể là: “Hối lộ, nhận hối lộ, môi giới hối lộ, mua chuộc người có trách nhiệm, chức vụ, quyền hạn hoặc người có liên quan nhằm giảm nhẹ, trốn tránh trách nhiệm cho đối tượng vi phạm; cung cấp, tiết lộ thông tin, tài liệu, hồ sơ của đối tượng kiểm tra cho tổ chức và cá nhân không có thẩm quyền, trách nhiệm, nhất là thông tin, tài liệu, hồ sơ đang trong quá trình kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng hoặc thanh tra, kiểm toán; nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác hoặc lợi ích phi vật chất, tham gia hoạt động vui chơi, giải trí của đối tượng kiểm tra hoặc người có liên quan đến đối tượng kiểm tra…” và “lợi dụng các mối quan hệ thân quen hoặc sử dụng lợi thế, vị trí công tác, uy tín của mình, người khác để tác động, tranh thủ, gây sức ép với đối tượng kiểm tra hoặc tổ chức, cá nhân có liên quan nhằm trục lợi hoặc động cơ cá nhân khác” cũng như việc “để người có quan hệ gia đình lợi dụng ảnh hưởng chức vụ, quyền hạn của mình nhằm thao túng, can thiệp vào việc kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán; chỉ đạo hoặc cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật, chưa được phép công bố hoặc không thực hiện đúng kết luận, kiến nghị về kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán”… Việc nhận diện đúng những hành vi tham nhũng, tiêu cực này chính là hành động quyết liệt của Đảng trong công tác giám sát để phòng, chống tham nhũng nói chung cũng như kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng và bịt lại những kẽ hở trong hoạt động thanh tra, kiểm toán nói riêng.

Đồng thời, Điều 5 của Quy định 131 cũng nêu rõ trách nhiệm của cấp uỷ, tổ chức đảng, người đứng đầu, thành viên cấp uỷ, tổ chức đảng trong quá trình công tác phải thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát cấp ủy, tổ chức Đảng thuộc thẩm quyền quản lý. Theo đó, các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy và Ủy ban Kiểm tra của cấp ủy phải thực hiện nghiêm quy định của Đảng, chỉ đạo của cấp ủy, Ủy ban Kiểm tra cấp trên để không chỉ kịp thời chấn chỉnh hạn chế, khuyết điểm trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng, mà còn phải thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực một cách kịp thời đi liền cùng với việc chủ động phát hiện, xử lý nghiêm vi phạm trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng. Cùng với đó là kịp thời xem xét, thi hành kỷ luật nghiêm minh theo quy định của Đảng đối với cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên có hành vi tham nhũng, tiêu cực, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán… Toàn bộ những nội dung này cũng cho thấy, chừng nào những văn bản pháp luật và cả luật còn “kẽ hở” dễ bị lợi dụng, thì chừng đó còn phải rà soát, sửa đổi, điều chỉnh, bổ sung luật và các văn bản dưới luật, các quy định để phòng ngừa và nhất là không để đối tượng lợi dụng, lạm dụng quyền lực thực hiện hành vi tham nhũng, tiêu cực, trục lợi cá nhân và cho nhóm lợi ích…

Trên tinh thần đó, có thể thấy Quy định 131 khẳng định tính dân chủ, khách quan, khoa học và minh bạch của công tác chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần làm trong sạch Đảng và hệ thống chính trị. Việc ban hành, thực thi Quy định 131 cũng đồng thời cho thấy rõ tính minh bạch của hệ thống các cơ quan công quyền ở Việt Nam và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam thực sự không có vùng cấm, không có vùng đặc biệt nào cần phải “né tránh”, góp phần xây dựng và hoàn thiện, bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

CHÚ TRỌNG LÀM TRONG SẠCH ĐỘI NGŨ

Để công cuộc phòng và đấu tranh chống tham nhũng hiệu quả, Đảng và Nhà nước không chỉ trao quyền và phát huy cao độ vai trò của các cơ quan kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán (các cơ quan) cùng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức công tác tại các cơ quan này, mà còn chú trọng kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong quá trình công tác. Một đội ngũ cán bộ luôn nỗ lực bảo đảm sự nghiêm minh, hiệu lực, hiệu quả khi thực thi nhiệm vụ sẽ góp phần tạo dựng và củng cố lòng tin vững chắc trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

Từ những vụ án đã và đang được đưa ra xét xử (vụ án nguyên Chánh Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông Ðặng Anh Tuấn cản trở hoạt động đoàn kiểm tra trong vụ án “đánh bạc nghìn tỷ” do Nguyễn Văn Dương cầm đầu (2019); nhóm cán bộ thanh tra Bộ Xây dựng lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản tại tỉnh Vĩnh Phúc (2019) và Nguyễn Kiên Cường, nguyên Chánh Thanh tra Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Thái Bình làm lộ bí mật nhà nước (2021) và các vụ án đưa/nhận hối lộ giữa cán bộ thanh tra tỉnh Lai Châu và cán bộ các ban quản lý dự án rừng phòng hộ tỉnh Lai Châu; Chánh Thanh tra tỉnh Lâm Ðồng nhận hối lộ; vụ án đưa/nhận hối lộ của 4 cán bộ thanh tra giao thông tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu…) mới đây được đăng tải trên các phương tiện thông tin truyền thông, có thể thấy việc cần phải “bịt kín” những “kẽ hở” của pháp luật để kiểm soát quyền lực nói chung, khống chế, ngăn chặn/kiểm soát quyền lực trong các cơ quan và đội ngũ làm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nói riêng là yêu cầu tất yếu trong quá trình thực thi quyền lực Nhà nước. Vì thế, Quy định 131 đã ra đời và việc triển khai thực hiện nghiêm Quy định này sẽ hạn chế đến mức thấp nhất và đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực trong quá trình công tác của những tổ chức, cá nhân có trọng trách kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán…. Từ đó, không chỉ hạn chế tối đa việc thông cung, chạy tội, chạy án của người có vi phạm, mà còn khắc phục được tình trạng tiêu cực, tham nhũng xảy ra trong chính các cơ quan chống tham nhũng, tiêu cực khi cán bộ có thẩm quyền đã dùng quyền lực, chức vụ của mình kéo bè, kéo cánh đe dọa người không cùng quan điểm hay người phát hiện ra những khuất tất của mình trong quá trình công tác…

Đặc biệt, Quy định 131 sẽ góp phần ngăn chặn và xử lý những cách thức tham nhũng tập thể; hối lộ tập thể như vụ Vạn Thịnh Phát, Ngân hàng SCB...; cũng chính là nhằm khống chế các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân (hống hách, cửa quyền, độc quyền, lợi dụng quyền lực để o ép, áp đảo, đe dọa…) nhằm trục lợi của những người được giao nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán; nhất là để phòng và tránh được oan sai hay bỏ lọt khuyết điểm, tội lỗi…

Vì thế, những nội dung của Quy định 131 chính là liều “vaccine” đủ mạnh để đội ngũ cán bộ, đảng viên tại hệ thống các tổ chức Đảng, chính quyền, các cơ quan hành pháp soi vào, tự răn mình, tự sửa mình, chú trọng việc nêu gương, thống nhất giữa nói và làm, nhất là đối với người đứng đầu tại hệ thống các cơ quan công quyền trong quá trình kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Theo đó, người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức đảng phải “chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước” cũng như phải chịu “trách nhiệm khi để xảy ra vi phạm quy định về kiểm soát quyền lực, tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán”. Để đảm bảo khách quan, công tâm và nhất là phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng trong quá trình công tác, người đứng đầu cần phải “triệu tập đầy đủ, đúng thành phần, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ trong thảo luận và quyết định các vấn đề theo thẩm quyền; không được vận động, dẫn dắt, thao túng, áp đặt ý kiến chủ quan, tác động, gây sức ép để người khác nhận xét, đánh giá, biểu quyết, quyết định theo ý mình. Báo cáo kịp thời, trung thực, khách quan, đầy đủ ý kiến của tập thể lãnh đạo với cấp có thẩm quyền, nhất là những vấn đề còn có ý kiến khác nhau”... như Điều 5 của Quy định.

Điều 7 của Quy định nghiêm cấm các hành vi “can thiệp trái quy định vào hoạt động kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán; lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người làm nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán. Thiết lập quan hệ để hối lộ, mua chuộc người có trách nhiệm, chức vụ, quyền hạn hoặc người có liên quan nhằm mục đích chạy tội, trốn tránh trách nhiệm cho đối tượng vi phạm. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc dùng uy tín, ảnh hưởng của bản thân và gia đình gợi ý, tác động, gây áp lực để người có thẩm quyền quyết định hoặc tham mưu, đề xuất, nhận xét, đánh giá, biểu quyết về kết luận, quyết định kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán không đúng bản chất sự việc”… cũng chính là minh chứng cho thấy Đảng không chỉ quyết tâm làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức tại các cơ quan công quyền, thiết thực bảo vệ chế độ, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà còn quyết liệt bảo vệ sự lành mạnh của các quan hệ xã hội, sự minh bạch của hệ thống công quyền, góp phần củng cố niềm tin, sự ủng hộ của nhân dân đối với Đảng và chế độ.

Từ thực tiễn công tác phòng, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực đã cho thấy rằng tham nhũng, tiêu cực không chỉ là nguy cơ mà đã hiện hữu trong hoạt động của các cơ quan phòng, chống tham nhũng và những người làm nhiệm vụ tại các cơ quan này. Cho nên, nếu đã vi phạm các nội dung nêu trong điều 4 Quy định 131, thì những người đang công tác sẽ bị đình chỉ công tác, chức vụ, không bố trí làm công tác tham mưu, nghiệp vụ về kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán cũng như không quy hoạch, điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, phong, thăng cấp bậc hàm, giới thiệu bầu cử, ứng cử chức vụ tương đương hay phong tặng danh hiệu, khen thưởng theo quy định… theo Điều 8 và Điều 9.

Cuối cùng, có thể khẳng định rằng: Trên cơ sở cập nhật đường lối, chủ trương, quan điểm, nguyên tắc của Ðảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật, thanh tra, kiểm toán; về phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực phù hợp chính sách, pháp luật của Nhà nước, Quy định 131 đã tập trung quy định về nguyên tắc; các hành vi tham nhũng, tiêu cực; biện pháp phòng ngừa; chế tài xử lý răn đe… để làm cơ sở để xác định trách nhiệm, thủ tục tiến hành. Nội dung của Quy định thể hiện rõ tinh thần kết hợp giữa xây và chống; trong đó xây là chính, chống phải kiên quyết và lấy chống để xây rất nhân văn, phù hợp với yêu cầu thực tiễn công cuộc phòng, đấu tranh chống tham nhũng gắn với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Việc ban hành Quy định 131 góp phần hoàn thiện cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để mọi quyền lực được kiểm soát “trong lồng cơ chế”; đồng thời và việc thực thi Quy định này chính là để quyền hạn phải gắn với trách nhiệm; công khai, minh bạch, nghiêm minh phải gắn với trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng, hoạt động thanh tra, kiểm toán, đảm bảo làm trong sạch đội ngũ và bảo vệ các cơ quan công quyền./.

PGS. TS. Lưu Ngọc Tố Tâm

Học viện Chính trị khu vực II

PHẢN HỒI

30 TÁC PHẨM ẢNH, VIDEO ĐƯỢC TRAO GIẢI CUỘC THI “VIỆT NAM HẠNH PHÚC - HAPPY VIETNAM” NĂM 2023

 Với tổng giá trị giải thưởng lên tới hơn 400 triệu đồng, Cuộc thi ảnh, video “Việt Nam hạnh phúc - Happy Vietnam” năm 2023 sẽ vinh danh 30 tác phẩm tiêu biểu, xuất sắc nhất về đề tài quyền con người ở Việt Nam. Lễ khai mạc triển lãm và công bố giải thưởng cuộc thi sẽ diễn ra vào tối 19/12 tới đây.

Theo thông tin từ ban tổ chức, đây là lần đầu tiên một cuộc thi ảnh và video về đề tài quyền con người ở Việt Nam mang tên ”Việt Nam hạnh phúc - Happy Vietnam” năm 2023 được Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức theo hình thức trực tuyến thông qua nền tảng quảng bá hình ảnh Việt Nam - https://vietnam. vn.
Đại diện ban tổ chức cho biết, sau 4 tháng phát động (từ tháng 6-10/2023), cuộc thi đã thu hút được hơn 7.000 tác phẩm ảnh và video tham dự từ các tác giả trong nước và quốc tế.
Mỗi tác phẩm là một câu chuyện thú vị, một kỷ niệm đẹp, chứa chan hạnh phúc, hay cũng có thể là một góc nhìn thực tiễn về cuộc sống mưu sinh còn nhiều khó khăn, vất vả nhưng luôn đầy ắp nụ cười, niềm vui và hạnh phúc.
Theo đó, từ hơn 7.000 tác phẩm, ban tổ chức đã lựa chọn được gần 30 tác phẩm tiêu biểu, xuất sắc nhất để trao giải và 70 tác phẩm ảnh, 14 tác phẩm video trưng bày tại triển lãm.
Lễ khai mạc triển lãm và công bố giải thưởng cuộc thi sẽ được tổ chức vào lúc 19 giờ ngày 19/12 tại Nhà hát Lớn Hà Nội, truyền hình trực tiếp trên sóng đài Truyền hình Việt Nam (VTV4), được đăng phát trên VTVgo, nền tảng quảng bá hình ảnh Việt Nam - https://vietnam. vn và một số nền tảng số khác.
Với tổng giá trị giải thưởng lên tới hơn 400 triệu đồng, Ban tổ chức sẽ trao 2 Giải Nhất trị giá 100 triệu đồng/giải, 2 Giải Nhì trị giá 30 triệu đồng/giải, 2 Giải Ba trị giá 20 triệu đồng/giải, cùng với 20 Giải Khuyến khích và các giải thưởng khác…
Cuộc thi là một minh chứng sinh động thể hiện sự quan tâm sâu sắc và chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước đối với công tác chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, lấy người dân làm trung tâm, trên tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau” và tạo mọi điều kiện thuận lợi để người dân tham gia, đóng góp, phát huy năng lực, trí tuệ của mình vào công cuộc xây dựng, phát triển, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.
Đồng thời, cuộc thi cũng tạo cơ hội cho người dân cả nước, bà con kiều bào ở nước ngoài và bạn bè quốc tế thể hiện tình yêu quê hương, đất nước và tâm huyết của mình trong việc sáng tác ảnh và video quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra thế giới, khơi dậy khát vọng phát triển quốc gia phồn vinh, hạnh phúc, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong thời đại mới./.
ST

"NỮ HOÀNG CỦA CÁC LOÀI HOA" Ở QUẦN ĐẢOTRƯỜNG SA”

 

Được mệnh danh là nữ hoàng của các loài hoa trên Quần đảo Trường Sa, hoa bàng vuông từ lâu đã trở thành biểu tượng của vẻ đẹp thiên nhiên nơi đầu sóng ngọn gió.
Trước phong ba bão táp, cây bàng vuông vẫn bám chặt vào nền đá san hô, vươn lên tươi tốt, cành lá sum suê một màu xanh của sự sống, tạo nên một dáng đứng hiên ngang như tinh thần quả cảm, vượt gian khó của các chiến sĩ Hải quân đang ngày đêm bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc./.
ST

Thủ tướng Phạm Minh Chính tiếp cựu Thủ tướng Nhật Bản Fukuda Yasuo

 Ngày 17-12, trong khuôn khổ chuyến công tác, dự Hội nghị cấp cao kỷ niệm 50 năm quan hệ ASEAN - Nhật Bản, Thủ tướng Phạm Minh Chính tiếp cựu Thủ tướng Nhật Bản Fukuda Yasuo.

Trong không khí thân tình, Thủ tướng Phạm Minh Chính bày tỏ ấn tượng đối với Học thuyết “từ trái tim đến trái tim” do Thủ tướng Fukuda Takeo (cha của cựu Thủ tướng Fukuda Yasuo) đưa ra vào năm 1977 đã đặt nền móng cho sự phát triển mạnh mẽ của quan hệ giữa Nhật Bản với ASEAN, trong đó có quan hệ Việt Nam - Nhật Bản; cho biết đây cũng là một trong những lý do Thủ tướng Chính phủ đã chọn đi thăm tỉnh Gunma, mảnh đất địa linh nhân kiệt của Nhật Bản trong chuyến thăm lần này; chia sẻ trong phát biểu tại cuộc họp cấp cao ASEAN-Nhật Bản đã bổ sung khái niệm “từ hành động đến hành động, từ cảm xúc đến hiệu quả” vào định hướng phát triển quan hệ ASEAN-Nhật Bản trong tình hình mới.
Bày tỏ vui mừng khi quan hệ hữu nghị hợp tác giữa hai nước đã có những bước phát triển vượt bậc trên tất cả các lĩnh vực với sự tin cậy chính trị cao kể từ thời điểm thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1973 cách đây 50 năm, Thủ tướng Phạm Minh Chính đánh giá việc nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình và thịnh vượng tại châu Á và trên thế giới sẽ mở ra trang mới đưa quan hệ hợp tác nhiều mặt Việt Nam - Nhật Bản phát triển mạnh mẽ, hiệu quả và toàn diện hơn nữa trên tinh thần tin cậy, chân thành.
Thủ tướng Phạm Minh Chính cảm ơn và đánh giá cao tình cảm đặc biệt và những đóng góp to lớn mà cựu Thủ tướng Fukuda đã dành cho quan hệ hợp tác hữu nghị Việt Nam - Nhật Bản trên cương vị Thủ tướng và nhiều cương vị khác nhau, cũng như sự gắn bó thân thiết của các thành viên gia đình cựu Thủ tướng Fukuda với Việt Nam; đồng thời, đề nghị cựu Thủ tướng Fukuda tiếp tục ủng hộ quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Nhật Bản phát triển thực chất, hiệu quả.
Cựu Thủ tướng Fukuda Yasuo hoan nghênh việc hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện; cho rằng chuyến công tác, dự Hội nghị cấp cao kỷ niệm 50 năm quan hệ ASEAN - Nhật Bản của Thủ tướng Phạm Minh Chính sẽ mở ra một giai đoạn phát triển mới thực chất, hiệu quả hơn nữa của quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa Nhật Bản với khu vực ASEAN, trong đó có Việt Nam. Cựu Thủ tướng Fukuda đánh giá cao vai trò và những đóng góp quan trọng của Việt Nam ở khu vực và quốc tế; khẳng định Chính phủ Nhật Bản sẵn sàng hợp tác với Việt Nam thực hiện công nghiệp hóa-hiện đại hóa.
Chia sẻ về đánh giá tích cực của của các doanh nghiệp Nhật Bản đối với nguồn nhân lực cần cù và giỏi tay nghề của Việt Nam, cựu Thủ tướng Fukuda khẳng định Nhật Bản coi việc thúc đẩy hợp tác với các nước châu Á, trong đó có Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực nguồn nhân lực, là ưu tiên trong chính sách đối ngoại; mong muốn tiếp tục hợp tác trong tiếp nhận nguồn nhân lực, lao động từ Việt Nam.
Cựu Thủ tướng Fukuda bày tỏ sẵn sàng tiếp tục thúc đẩy thắt chặt hơn nữa quan hệ hữu nghị, tăng cường tình cảm, hiểu biết lẫn nhau giữa người dân hai nước thông qua các hoạt động giao lưu văn hóa, giao lưu nhân dân đa dạng; nhấn mạnh sẽ tiếp tục ủng hộ và hỗ trợ Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản tổ chức thành công Lễ hội Việt Nam tại công viên Yoyogi trong những năm tới.
*Cùng ngày, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã có các cuộc tiếp Thống đốc các tỉnh Aichi, Tochigi, Niigata, Kanagawa và Yamanashi của Nhật Bản.
Tại các buổi tiếp, Thủ tướng Phạm Minh Chính bày tỏ vui mừng trước sự phát triển tốt đẹp của quan hệ hợp tác nhiều mặt Việt Nam - Nhật Bản, trong đó có sự phát triển vượt bậc của hợp tác địa phương; khẳng định một trong những mục đích chính của chuyến thăm lần này là ưu tiên thúc đẩy hợp tác địa phương Việt Nam - Nhật Bản, mở rộng giao lưu, hợp tác trên tinh thần đem lại lợi ích thiết thực cho cả hai nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính đánh giá cao những thành quả hợp tác giữa tỉnh Aichi, Tochigi, Niigata, Kanagawa và Yamanashi với các Bộ, ngành, địa phương đối tác của Việt Nam, cũng như tình cảm, sự quan tâm và ủng hộ của các Thống đốc cùng chính quyền các tỉnh trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác với Việt Nam trong thời gian qua; đề nghị lãnh đạo các địa phương của Nhật Bản thúc đẩy quan hệ hợp tác với các địa phương Thái Bình, Khánh Hoà, Hải Dương, Cần Thơ… cùng tham gia đoàn công tác của Chính phủ lần này.
Thủ tướng Chính phủ đề nghị các Thống đốc tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác với Việt Nam nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng sẵn có thông qua đẩy mạnh các hoạt động giao lưu, trao đổi đoàn các cấp; thúc đẩy đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực, giáo dục với các địa phương của Việt Nam.
Thủ tướng chính phủ cũng đề nghị các tỉnh tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng người Việt Nam đóng góp tích cực hơn nữa vào sự phát triển của tỉnh cũng như quan hệ hữu nghị tốt đẹp giữa hai nước.
Tại các buổi tiếp, Thống đốc các địa phương Nhật Bản bày tỏ vinh dự được tiếp kiến Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính trong chuyến công tác tới Nhật Bản tham dự Hội nghị cấp cao kỷ niệm 50 năm quan hệ ASEAN – Nhật Bản; bày tỏ vui mừng trước việc hai nước vừa nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện tháng 11-2023 vừa qua.
Thống đốc các địa phương đều đánh giá cao đóng góp tích cực của cộng đồng người Việt Nam vào sự phát triển kinh tế - xã hội sở tại và bày tỏ mong muốn tăng cường tiếp nhận người Việt Nam sang học tập, làm việc tại tỉnh; khẳng định sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa để cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh hòa nhập hơn với cuộc sống sở tại./.
ST

MỘT TRÁI TIM TRÀN ĐẦY NHIỆT HUYẾT CÁCH MẠNG

 Trước khi được gặp anh Nguyễn Chí Thanh năm 1950, tôi đã nghe nhiều cán bộ ca ngợi tinh thần kiên quyết, dũng cảm và tài lãnh đạo của anh. Họ nói anh là linh hồn của cuộc chiến đấu vô cùng gian khổ mà anh dũng của quân và dân Bình Trị Thiên những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp. Sau này anh ra Bắc, làm Phó bí thư Tổng Quân ủy, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, là thủ trưởng trực tiếp của anh Lê Quang Đạo-chồng tôi, thì những gì tôi biết và chứng kiến càng khẳng định nhận định đó là đúng.

Nhiệt huyết cách mạng và tư thế sẵn sàng xốc tới
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, tôi vẫn giữ những ấn tượng sâu sắc, kỷ niệm tốt đẹp về anh Thanh, một nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng và Quân đội. Khi còn sống, anh Lê Quang Đạo cũng nhiều lần kể với tôi về anh Thanh với sự tin tưởng và khâm phục. Anh Đạo khẳng định, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh có công rất lớn trong việc xây dựng chế độ, nền nếp công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội, bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng đối với Quân đội. Anh Thanh rất quan tâm đến công tác xây dựng Đảng, xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ Quân đội cách mạng, chính quy, mạnh dạn đề bạt cán bộ công, nông, đồng thời coi trọng trí thức cách mạng.
Anh đã cùng các đồng chí trong Tổng Quân ủy (nay là Quân ủy Trung ương) kết hợp chặt chẽ 3 mặt quân sự-chính trị-hậu cần, không ngừng kiện toàn tổ chức và nâng cao sức chiến đấu của Quân đội, thắt chặt mối quan hệ đoàn kết quân dân; phát triển công tác bảo vệ chính trị nội bộ; phát triển công tác binh, địch vận... Không một công tác nào mà anh không có ý kiến chỉ đạo sắc sảo, vững chắc và uốn nắn những lệch lạc, sai lầm. Nhiều ý kiến của anh rất có sức thuyết phục. Anh thường nhắc nhở các đồng chí trong cơ quan Tổng cục Chính trị: Quân đội phải chính quy hóa, nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành điều lệnh, nâng cao kỷ luật nhưng không hạn chế dân chủ. Anh đã có những đóng góp rất quan trọng đưa Quân đội ta trưởng thành, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Tôi nhớ, khi tham gia biên soạn Bản tổng kết công tác chính trị trong kháng chiến chống thực dân Pháp do anh Thanh chủ trì, anh Đạo không ít lần được anh gọi gặp riêng thảo luận. Nhiều hôm quá nửa đêm vẫn chưa thấy chồng về tôi cũng sốt ruột. Có vài lần tôi đi họp cùng đoàn cán bộ hội phụ nữ, tranh thủ ghé thăm anh Đạo thì thấy anh cùng mấy đồng chí đang trò chuyện, có anh Thanh ở đó cũng mời tôi ngồi lại. Quan sát tôi thấy anh có tác phong rất quần chúng, gần gũi, quý trọng anh em, rất dân chủ, rất sâu sát, lắng nghe ý kiến mọi người, từ đó rút ra được nhiều ý kiến hay.
Anh Đạo nói với tôi: “Tuệ (tên gọi khác của nhà văn Nguyệt Tú-PV) biết không, đối với anh Nguyễn Chí Thanh tha hồ tranh luận, nhưng anh cũng kiên quyết giữ ý kiến và kiên trì thuyết phục mọi người những vấn đề anh thấy là đúng. Anh có ý kiến độc lập về những vấn đề lớn, nhưng khi ý kiến còn chưa thống nhất, anh biết chờ đợi để giữ sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Làm việc với anh Thanh, mình và anh em đều thấy thoải mái, chan hòa, thân tình, tin cậy, dù có khi còn có ý kiến khác nhau. Nếu vấn đề đã được tập thể kết luận, nhất là những vấn đề đã có nghị quyết của Trung ương Đảng, của tập thể Tổng Quân ủy, anh chấp hành và đôn đốc việc thực hiện rất nghiêm túc, triệt để.
Nhưng khi phát hiện sai lầm, anh cũng thẳng thắn nêu ra trước tổ chức. Đức tính nổi bật nhất của anh Thanh là tinh thần cách mạng tiến công. Bất cứ ở đâu, bất cứ nhận nhiệm vụ gì, dù khó khăn, nguy hiểm, phức tạp đến đâu, anh cũng không bao giờ lùi bước mà tìm mọi cách làm cho bằng được. Trong trái tim anh lúc nào cũng tràn đầy ngọn lửa nhiệt huyết cách mạng, với tư thế luôn luôn sẵn sàng xốc tới, rõ nhất là khi đánh Mỹ. Mình phải học anh ấy nhiều lắm, Tuệ ạ!”.
Tôi thấy nhận định của anh Đạo về Đại tướng Nguyễn Chí Thanh rất đúng và thực tế đã chứng minh điều đó. Khi được phân công vào miền Nam công tác, với tầm nhìn chiến lược, anh Nguyễn Chí Thanh cùng các đồng chí lãnh đạo trong đó chuẩn bị và tiến hành đánh thắng chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ. Anh cùng anh em xây dựng quyết tâm đánh thắng Mỹ ngay từ trận đầu. Anh xuống tận các đơn vị chiến đấu, cùng cán bộ, chiến sĩ rút kinh nghiệm tìm cách đánh thắng Mỹ.
Anh nêu ra khẩu hiệu nổi tiếng: “Bám thắt lưng địch mà đánh”; “Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt” và cổ vũ phong trào thi đua “Dũng sĩ diệt Mỹ” được quân dân miền Nam hưởng ứng nhiệt liệt. Cũng là một người viết chuyên nghiệp, nhưng khi đọc những bài viết nảy lửa của anh trên Báo Nhân Dân và Báo Quân đội nhân dân với bút danh Trường Sơn, Bến Tre... tôi thấy bản thân còn phải nỗ lực học hỏi, trải nghiệm thực tế nhiều hơn nữa.
Sáng trong như ngọc
Qua những câu chuyện cuộc sống và chiến đấu mà tôi được biết, anh Nguyễn Chí Thanh là một tài năng lớn nhưng rất khiêm tốn. Trong tâm sự với những người thân thiết cũng như trong hành động thực tế, anh không bao giờ để các vấn đề địa vị, cấp bậc, chức vụ, danh vọng cá nhân làm vẩn đục tâm hồn trong sáng và cao thượng của mình. Có câu chuyện làm cho gia đình tôi xúc động, ghi nhớ mãi. Ấy là năm 1953, ở căn cứ Việt Bắc, một lần vợ chồng tôi đều đi công tác xa, hai con trai của chúng tôi còn rất nhỏ, gửi ở cơ quan, không may bị ốm nặng cận kề cái chết.
Ngay khi biết tin, anh Thanh đã trực tiếp chỉ thị phải bằng mọi cách cứu được hai cháu và thường xuyên đôn đốc kiểm tra. Thi hành chỉ thị của anh, các thầy thuốc ngày đêm tận tụy cứu chữa giúp hai cháu tai qua nạn khỏi. Tôi được biết có nhiều trường hợp cán bộ khác, anh cũng chăm lo chu đáo như vậy. Anh còn rất thích ghép đôi, làm “ông tơ” cho nhiều cặp và hầu hết họ đều sống vui vẻ, hạnh phúc. Tôi không quên đám cưới của anh Phạm Đức Nhuận và chị Võ Thị Thể do anh xe duyên, diễn ra tại nhà anh và đích thân anh làm chủ hôn, vui vẻ, đầm ấm biết bao!
Anh sống rất giản dị, không ưa những nghi thức long trọng. Tôi nhớ sau khi miền Bắc giải phóng, anh Thanh được bố trí ở trong một biệt thự cạnh Hồ Tây. Một hôm, anh Lê Tự Đồng (sau này là Trung tướng, Phó giám đốc về Chính trị Học viện Quân sự cấp cao-nay là Học viện Quốc phòng) đến thăm, anh Thanh liền rủ cùng đạp xe đi dạo cho thư thái. Trước khi đi, anh nói nhỏ: “Đi nhanh không thằng Chắt (bảo vệ của anh Thanh - PV) nó biết. Tao phải trốn nó đấy!”.
Ấy vậy mà khi hai người vừa dựng xe, ngồi xuống quán nước ở vườn hoa cạnh hồ Hoàn Kiếm chưa lâu đã thấy anh Chắt hốt hoảng chạy đến: “Anh đi đâu sao không báo cho tôi biết?”. Trước câu hỏi có phần hơi gắt của cấp dưới, anh Thanh vẫn nhỏ nhẹ bảo: “Thì bọn mình đi thay đổi không khí tí thôi mà!”. “Thôi mời anh về!”-vừa nói vừa thở, trên mặt anh bảo vệ Chắt vẫn chưa hoàn hồn. Còn anh Thanh và anh Đồng không nói gì thêm, lẳng lặng đứng dậy lấy xe đạp để đi về dưới sự “áp tải” của anh Chắt...
Khi Đại tướng Nguyễn Chí Thanh ra làm Trưởng ban Nông nghiệp Trung ương, tôi là phóng viên của Báo Phụ nữ Việt Nam theo dõi lĩnh vực này. Một lần anh đến một hợp tác xã ở vùng công giáo, có đội kèn đồng của nhà thờ thổi kèn đón. Bị bất ngờ, anh bảo đồng chí chủ tịch ủy ban hành chính (nay là ủy ban nhân dân) tỉnh ra nhận sự chào đón ấy, còn anh lặng lẽ vào sau. Anh theo gương Bác Hồ, không cầu kỳ, hình thức. Anh luôn luôn coi trọng giữ gìn đoàn kết nội bộ như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Anh không chỉ quan tâm đến các vấn đề chính trị, quân sự, kinh tế mà còn rất yêu văn học, nghệ thuật.
Nhiều lần tôi được nghe anh bình văn, bình thơ, đặc biệt, anh rất say mê các làn điệu dân ca, hò Huế. Có mấy lần anh Đạo tháp tùng anh đi công tác ở Quảng Bình, cùng anh đến dự nghe đồng bào Huế, Thừa Thiên tản cư ra đó hát hò, tự anh Thanh cũng say sưa cùng hò đến tận đêm khuya. Đến nhà anh chơi, biết có bọn trẻ đi cùng, anh đã vào bếp tự tay làm món cơm hến của xứ Huế mà anh rất thích. Bữa cơm đặc biệt ấy đến giờ tôi vẫn nhớ mãi!
Tôi cũng không thể quên được cái đêm vĩnh biệt anh. Ngay khi biết tin, từ nhà, anh Lê Quang Đạo đến thẳng bệnh viện còn tôi ở bên chị Cúc. Đêm 5-7-1967, trời Hà Nội oi bức. Vì sớm hôm sau sẽ lên đường trở lại miền Nam nên trước đó, anh Thanh làm việc với anh Song Hào và anh Đạo đến tối muộn mới nghỉ. Chị Cúc thấy anh Thanh trằn trọc không ngủ được cũng tỉnh giấc. Anh bảo thấy khó chịu, cảm giác như có nước chảy ào ào trong người và kêu chị gọi xe đưa anh đi bệnh viện. Nhưng bệnh tình nguy kịch, dù được các bác sĩ hết sức tích cực cấp cứu, anh đã không thể qua khỏi. Anh ra đi quá sớm trong lúc tài năng đang nở rộ và Tổ quốc đang rất cần có anh!./.
ST

Nhận diện, đấu tranh với biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân - từ chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân của Đảng ta hiện nay

 

Nhận diện, đấu tranh với biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân - từ chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân của Đảng ta hiện nay

TS NGUYỄN THỊ THU HUYỀN
Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
01:26, ngày 10-09-2023

TCCS - Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân nói riêng; Người đã đưa ra nhiều chỉ dẫn quan trọng về chống chủ nghĩa cá nhân. Trong bối cảnh mới, tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phòng, chống chủ nghĩa cá nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là cơ sở để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; để mỗi cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa, xứng đáng với niềm tin và sự kỳ vọng lớn lao của quần chúng nhân dân.

Hội Chữ thập đỏ tỉnh Hòa Bình triển khai chương trình “Chung tay vì sức khỏe cộng đồng” tổ chức phiên chợ nhân đạo, nhằm giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn_Ảnh: TTXVN

Chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân

Bản chất của chủ nghĩa cá nhân

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh, đặc thù đối tượng để chỉ rõ, nêu ví dụ hoặc đưa ra những so sánh phù hợp mô tả, giúp mọi người hiểu thế nào là chủ nghĩa cá nhân. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng thuật ngữ chủ nghĩa cá nhân, Người so sánh “chủ nghĩa cá nhân là như một thứ vi trùng rất độc”(1), “là bệnh chính, bệnh mẹ, do đó mà sinh ra nhiều chứng bệnh khác”(2); “là kẻ địch nguy hiểm của chủ nghĩa xã hội”(3)... Mặt khác, Người chỉ rõ bản chất của chủ nghĩa cá nhân là tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, tách rời, coi thường và đối lập với lợi ích chung của tập thể, cộng đồng, xã hội; thể hiện tập trung ở khuynh hướng cực đoan, làm cho lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, cộng đồng, trái ngược với yêu cầu chăm lo đến lợi ích cá nhân chính đáng; sẵn sàng “đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc”(4) và “chủ nghĩa cá nhân, lợi mình hại người, tự do vô tổ chức, vô kỷ luật và những tính xấu khác”(5).

Như vậy, chủ nghĩa cá nhân là hệ thống quan điểm, thái độ, hành vi của chủ thể nhằm thỏa mãn nhu cầu lợi ích của chủ thể ấy trên cơ sở tuyệt đối hóa vai trò và lợi ích cá nhân, tách rời và đối lập, làm tổn hại đến lợi ích của cộng đồng, xã hội.

Biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân

Qua nhiều tác phẩm, bài phát biểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra những biểu hiện khác nhau của chủ nghĩa cá nhân, bởi những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân rất đa dạng, biến hóa “muôn hình vạn trạng”. Tổng hợp các quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể khái quát biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân bằng 10 “căn bệnh” sau:

1- Bệnh quan liêu: nghĩa là trong công việc thì trọng hình thức mà không xem xét toàn diện, không vào sâu vấn đề, không sát với công việc thực tế, không theo dõi và giáo dục cán bộ, không gần gũi quần chúng.

 2- Bệnh tham lam: “bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân”(6), trong những trường hợp nhất định thường sinh ra tham ô, lãng phí, đây là một thứ “giặc ở trong lòng”, “giặc nội xâm”, là con đẻ của chủ nghĩa cá nhân.

3- Bệnh lười biếng: “không chịu khó học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ”(7) và còn là lười suy nghĩ, ngại làm việc, lười đổi mới, sáng tạo,...

4- Bệnh kiêu ngạo: những người mắc bệnh này thường nghĩ rằng cái gì họ cũng biết, cũng làm được, dẫn đến coi thường tổ chức “xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng mà chỉ muốn làm thầy quần chúng”(8).

5- Bệnh hiếu danh: theo Người, “những người đó chỉ biết lên mà không biết xuống. Chỉ chịu được sướng mà không chịu được khổ. Chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ, chớ không ham công tác thiết thực”(9).

6- Bệnh “hữu danh vô thực”: loại bệnh này có biểu hiện là “làm được ít suýt ra nhiều, để làm một bản báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ lại thì rỗng tuếch”(10).

7- Bệnh cận thị: nghĩa là chỉ để ý đến cái nhỏ, vụn vặt, không thấy cái lớn, cái quan trọng, “không trông xa thấy rộng. Những vấn đề to tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chú những việc tỉ mỉ”(11).

8- Bệnh tị nạnh: nghĩa là luôn so sánh hơn thiệt giữa mình với người khác, luôn đòi hỏi sự bình đẳng nhưng thực chất họ “không hiểu rằng: Người khỏe gánh nặng, người yếu gánh nhẹ. Người làm việc nặng phải ăn nhiều, người làm việc dễ thì ăn ít. Thế là bình đẳng”(12).

9- Bệnh xu nịnh: biểu hiện của căn bệnh này là “trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu(13); “theo gió bẻ buồm, không có khí khái”(14).

10- Bệnh a dua và kéo bè kéo cánh: biểu hiện của căn bệnh này là chỉ dùng những người bảo vệ lợi ích của mình (dù không có tài); ham dùng người nhà, anh em quen biết, bè bạn; những kẻ khéo nịnh hót mình mà chán ghét những người chính trực,...

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thứ bệnh trên đều do một thứ “vi trùng độc” là chủ nghĩa cá nhân sinh ra; tất cả cán bộ, đảng viên mắc các loại bệnh này là sa vào chủ nghĩa cá nhân và đều có tội với Đảng, với nhân dân.

Sự cần thiết phải đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân

Trước tiên, chống chủ nghĩa cá nhân nhằm mục tiêu xây dựng và rèn luyện đạo đức cách mạng; đồng thời, phát hiện và loại bỏ “căn bệnh” này khỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trước yêu cầu phát triển của cách mạng, nếu cán bộ, đảng viên không được giáo dục, tổ chức tốt, không tự rèn luyện tốt thì sẽ nảy sinh những tiêu cực, thoái hóa xuất phát từ chính chủ nghĩa cá nhân. Do vậy, “để làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng”(15), chúng ta phải kịp thời phát hiện và kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên quan điểm: “chủ nghĩa cá nhân trái ngược với đạo đức cách mạng, nếu nó còn lại trong mình, dù là ít thôi, thì nó sẽ chờ dịp để phát triển, để che lấp đạo đức cách mạng, để ngăn trở ta một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng”(16). Vì vậy, để xây dựng và hoàn thiện giá trị đạo đức cách mạng thì nhất thiết phải đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, đồng thời nuôi dưỡng, bồi đắp tinh thần tập thể.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ yêu cầu “chống”, mà còn phải “trừ bỏ, quét sạch, tiêu diệt” chủ nghĩa cá nhân. “Xây” và “chống” có mối quan hệ hữu cơ với nhau ở chỗ xây dựng đạo đức cách mạng đi đôi với đấu tranh loại bỏ và chống ảnh hưởng xấu của chủ nghĩa cá nhân; xây dựng đạo đức mới, đạo đức xã hội chủ nghĩa gắn liền với việc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân và các tàn dư tư tưởng. Người phân tích, ví như chúng ta mua sắm được bộ bàn ghế, giường tủ mới, thì trước khi kê vào phòng, cần phải quét dọn nhà cửa sạch sẽ đã. Do đó, phải “quét sạch” hết chủ nghĩa cá nhân ra khỏi tư tưởng của từng cán bộ, đảng viên thì mới có thể xây dựng được đạo đức cách mạng, con người mới.

Thứ hai, chống chủ nghĩa cá nhân góp phần xây dựng xã hội mới tốt đẹp, đúng bản chất của xã hội xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, cần xây dựng xã hội mới, một xã hội “cần, kiệm, liêm, chính”. Xuất phát từ mục tiêu của cách mạng là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận diện kẻ thù nguy hiểm nhất, trực tiếp nhất là chủ nghĩa cá nhân. Theo Người, “chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”(17). Nói cách khác, “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có người xã hội chủ nghĩa... Muốn thành người xã hội chủ nghĩa, phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, phải chống chủ nghĩa cá nhân”(18), bởi chủ nghĩa xã hội hướng tới giải phóng con người khỏi áp bức, bất công và xây dựng nền dân chủ thật sự gắn với sự công bằng, văn minh vì lợi ích chân chính của cộng đồng.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay

Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) chỉ rõ: “nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở... Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao. Trong khi đó, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”(19). Đây chính là những biểu hiện tập trung nhất của “căn bệnh” chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Do đó, chủ nghĩa cá nhân chính là kẻ địch “nội xâm” của những người cộng sản, là “kẻ thù nguy hiểm mà mỗi người chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo đề phòng và kiên quyết tiêu diệt”(20).

Quán triệt quan điểm về chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều văn bản quan trọng để cụ thể hóa chủ trương của Đảng về công tác xây dựng Đảng(21). Để thực hiện tốt quyết tâm chính trị đó, trên cơ sở quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân, Đảng và Nhà nước ta trong thời gian tới cần tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ bản trong thời gian tới:

Nhóm giải pháp về tổ chức đảng

Trước tiên, “Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên”(22). Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân chỉ thực sự hiệu quả khi mỗi cán bộ, đảng viên hiểu rõ mục tiêu, lý tưởng, đường lối của Đảng; tiêu chuẩn, tư cách đạo đức của người cộng sản. Yêu cầu đặt ra là cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải chú trọng công tác giáo dục nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên qua tổ chức học tập chính trị kết hợp với rèn luyện trong thực tiễn. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tiếp tục quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị(23); việc quán triệt phải song song với tuyên truyền sâu, rộng để cán bộ, đảng viên hiểu rõ mục đích, yêu cầu, tính chất quan trọng của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, từ đó tạo ra sự đồng thuận, quyết tâm, tự giác đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân ở mỗi cán bộ, đảng viên.

Thứ hai, “phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên”(24) nhằm tạo sự thống nhất về ý chí và hành động, phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm. Tự phê bình và phê bình phải được thực hiện một cách thường xuyên, nghiêm túc và có lý, có tình. Đồng thời, Đảng ta cần phát huy vai trò của nhân dân trong hoạt động giám sát, lên án và phê bình cán bộ, đảng viên có biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân; có cơ chế khuyến khích việc phát hiện và tố giác hành vi, biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân bằng việc mở rộng cơ hội tiếp cận thông tin cho người dân; làm tốt công tác tiếp nhận, xử lý thông tin và bảo vệ người tố cáo.

Thứ ba, thực hiện “sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc”(25) và “kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh”(26). Bởi, chi bộ là tổ chức tế bào của Đảng, tạo thành nền tảng của Đảng, là nơi thể hiện đầy đủ các mặt hoạt động và sức chiến đấu của Đảng. Do đó, yêu cầu đặt ra trong sinh hoạt chi bộ là mỗi cán bộ, đảng viên phải chấp hành đúng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng. Mỗi đảng viên phải chịu sự quản lý của chi bộ, tham gia sinh hoạt chi bộ nghiêm túc dù ở bất kỳ cương vị công tác nào. Đồng thời, việc thi hành kỷ luật Đảng phải nghiêm minh, tránh bao che hoặc trù dập, trả thù lẫn nhau; kiên quyết sàng lọc, đưa ra khỏi Đảng đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phần tử cơ hội, thực dụng, mang nặng chủ nghĩa cá nhân.

Thứ tư, để chống chủ nghĩa cá nhân thì “công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”(27), nhằm thể hiện tính răn đe đối với cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Vì vậy, công tác kiểm tra phải được tiến hành một cách có tổ chức, bài bản và khoa học. Không để tạo ra “vùng cấm”, không “ưu tiên” bất cứ cá nhân và tổ chức nào, không mắc “bệnh thành tích”, “bệnh hình thức” trong kiểm tra. Để công tác kiểm tra của Đảng phát huy hiệu quả, cần chú trọng kiểm tra, đánh giá năng lực, phẩm chất đạo đức người đứng đầu trong công tác lãnh đạo, quản lý; đồng thời, tiến hành kiểm tra, đánh giá thái độ tích cực của cán bộ, đảng viên với công việc, với nhân dân; kiểm tra, đánh giá kết quả tu dưỡng đạo đức, lối sống và kết quả hoàn thành nhiệm vụ được giao của cán bộ, đảng viên.

Cán bộ, đảng viên hướng dẫn đồng bào Pa Dí ở xã Tung Chung Phố, huyện biên giới Mường Khương, tỉnh Lào Cai kỹ thuật trồng quýt cho giá trị kinh tế cao_Ảnh: TTXVN 

Nhóm giải pháp về sự tự ý thức rèn luyện của cán bộ, đảng viên

Trước tiên, mỗi cán bộ, đảng viên cần xác định một cách rõ ràng trong nhận thức, “phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết”(28) và “phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật”(29). Mỗi cán bộ, đảng viên không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc, cho nhân dân; nếu khi lợi ích chung của Đảng, của Tổ quốc mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân thì sẵn sàng hy sinh lợi ích của cá nhân; kiên quyết đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân.

Thứ hai, cán bộ, đảng viên “phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân”(30). Bởi lẽ, Đảng ta là đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và cả dân tộc. Đảng chỉ có sức mạnh nếu giữ vững được mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng. Muốn làm cho quần chúng phấn khởi, tin tưởng, người đảng viên phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân; không lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh, ra oai.

Thứ ba, cán bộ, đảng viên “phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”(31). Mỗi cán bộ, đảng viên cùng với đạo đức cách mạng còn phải có năng lực và trình độ, vì có năng lực mới hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; phải ra sức học tập nâng cao hiểu biết về đường lối, chủ trương của Đảng và trình độ chuyên môn; có thái độ và phương pháp học tập đúng đắn, lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học phải đi đôi với hành.

Nhóm giải pháp bảo đảm về điều kiện, môi trường làm việc

Trước tiên, huy động mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm an sinh xã hội. Bởi, kinh tế - xã hội phát triển, chất lượng cuộc sống được bảo đảm, nguồn vốn tích lũy không ngừng tăng cao là điều kiện thuận lợi để hạn chế sự phát triển của chủ nghĩa cá nhân hiệu quả. Để huy động tối đa mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, năng lực nội tại và tính tự chủ của nền kinh tế; phát triển kinh tế nhanh và bền vững, góp phần nâng cao chất lượng đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân...

Thứ hai, xây dựng và triển khai thực hiện quy tắc ứng xử, chuẩn mực đạo đức công vụ của cán bộ, đả#ng viên. Các chuẩn mực và quy tắc ứng xử công vụ cần được xây dựng theo hướng hài hòa giữa lợi ích riêng và lợi ích chung, tăng cường tính công tâm và thanh liêm trong giải quyết công vụ; đồng thời, xây dựng quy định về xử lý kỷ luật. Các quy tắc đạo đức phải hướng vào điều chỉnh việc nhận quà biếu, cấm hối lộ và các hình thức lạm dụng công quyền để thu vén lợi ích cá nhân.

Thứ ba, xây dựng môi trường làm việc thân thiện, đoàn kết, tạo điều kiện để đội ngũ cán bộ, đảng viên yên tâm công tác, rèn luyện và phấn đấu. Xây dựng và phát huy lối sống “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”, có ý thức trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội; sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, phù hợp thuần phong mỹ tục Việt Nam. Kịp thời ngăn chặn thông tin sai trái tác động đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên, nhất là trên không gian mạng. Tăng cường quản lý và định hướng thông tin, kịp thời ngăn chặn thông tin xấu, độc, thông tin cổ xúy lối sống thực dụng, chủ nghĩa cá nhân trên không gian mạng.

Thứ tư, phải “có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín với nhân dân”(32).

1- Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực đủ sức ngăn chặn các hành vi lạm quyền, chuyên quyền, sử dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân. Xây dựng chế độ giám sát quyền lực thông qua các hình thức: chế độ giám sát của Hội đồng nhân dân, chế độ giám sát trong nội bộ Đảng, chế độ giám sát trong bộ máy nhà nước; có cơ chế khuyến khích người phát hiện và tố giác hành vi, biểu hiện chủ nghĩa cá nhân bằng việc mở rộng cơ hội tiếp cận thông tin cho người dân.

2- Đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước. Tăng cường và nâng cao hiệu quả việc lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài... Nâng cao chất lượng công tác đánh giá đúng, chính xác chất lượng cán bộ để biết đâu là cán bộ tốt, đâu là cán bộ yếu kém, vi phạm để sàng lọc; nếu vi phạm nghiêm trọng thì loại bỏ. Đồng thời, thực hiện nghiêm Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3-11-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ”.

3- Xây dựng chế tài đủ mạnh đối với hành vi cố ý “không làm” của các cơ quan công quyền, của đội ngũ cán bộ, đảng viên có quyền quyết định chính sách khi họ có đủ thông tin về một chính sách có lợi cho đất nước, cho nhân dân, nhưng cố tình trì hoãn hoặc không quyết định vì mục đích vụ lợi cá nhân, lợi ích nhóm./.

--------------------------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 295
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 156
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 66
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 156
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 66
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 611
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 14, tr. 29
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 609
(9) (10), (11), (12), (13, (14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 295, 297, 297, 300, 301, 301
(15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 547
(16), (17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 602, 609
(18) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 123
(19) Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr. 12
(20) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 14, tr. 469
(21) Như: Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30-10-2016, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; Quy định số 102-QĐ/TW, ngày 15-11-2017, của Ban Chấp hành Trung ương, “Quy định xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm”; Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, “Quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”,...
(22) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 547
(23) Như: Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 7-6-2012, của Ban Bí thư, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh””,...
(24) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 547
(25), (26), (27), (28), (29), (30), (31) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 547
(32) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 178 - 179

KHAI MẠC TUẦN PHIM KỶ NIỆM NGÀY THÀNH LẬP QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

 Tối 17-12, Điện ảnh Quân đội nhân dân đã tổ chức khai mạc Tuần phim kỷ niệm kỷ niệm 79 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 / 22-12/2023), 79 năm Ngày Truyền thống Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 / 22-12-2023) và 34 năm ngày hội Quốc phòng toàn dân (22-12-1989 / 22-12-2023), tại rạp chiếu phim Điện ảnh Quân đội nhân dân, 17 Lý Nam Đế, Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Những bộ phim được chọn để chiếu tại Tuần phim do Điện ảnh Quân đội nhân dân và các hãng phim trong nước sản xuất gồm: Phim tài liệu “Thanh âm đại ngàn”; phim truyện “Đường thư”; phim tài liệu “O Chẩm”; phim truyện “Đất lành”; phim tài liệu “Thép trong lòng biển sâu”; phim truyện “Tiểu đội hoa hồng”.
Hai bộ phim được chọn chiếu khai mạc gồm: Phim tài liệu “Khát vọng thiên thanh” của đạo diễn Nguyễn Diệu Hoa, “Sao xanh nơi biển sóng” của đạo diễn NSƯT Bùi Tuấn Dũng.
Phát biểu tại buổi khai mạc, Thiếu tướng Lê Xuân Sang, Phó cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam nhấn mạnh: Để chuẩn bị cho Tuần phim, Điện ảnh Quân đội nhân dân đã chủ động tham mưu, đề xuất, lựa chọn các tác phẩm Điện ảnh về đề tài chiến tranh cách mạng và hậu chiến, với những khắc họa sống động và rõ nét hình tượng Bộ đội Cụ Hồ, có giá trị cao về nội dung và chất lượng nghệ thuật. Tổ chức tuần phim để thông qua đó thể hiện sự tri ân, tôn vinh lịch sử vẻ vang truyền thống anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam; khẳng định ý nghĩa, tầm vóc, vai trò lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Nhà nước qua các giai đoạn của lịch sử, và trong thời kỳ đổi mới, hội nhập phát triển đất nước.
Thiếu tướng Lê Xuân Sang đánh giá: Qua các tác phẩm điện ảnh công chiếu lần này, hình ảnh, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong mọi giai đoạn cách mạng được tiếp cận gần hơn với khán giả, tạo được ấn tượng sâu sắc hơn trong lòng mỗi người dân. Qua đó, đưa các hoạt động và đời sống học tập công tác của bộ đội trong thời bình đến gần với khán giả trên mọi miền đất nước, để nhân dân thêm hiểu và càng tin yêu, đồng cảm hơn với những khó khăn vất vả, những hy sinh, mất mát của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam trong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thiếu tướng Lê Xuân Sang đánh giá cao tinh thần trách nhiệm, sự tâm huyết, nỗ lực của các cán bộ, nhân viên, chiến sĩ, nghệ sĩ Điện ảnh Quân đội nhân dân trong công tác phối hợp, hiệp đồng để tổ chức Tuần phim ý nghĩa này.
Tuần phim diễn ra đến ngày 20-12./.
ST

"HUYỀN THOẠI NGƯỜI CHIẾN SĨ CẦM B41 TẠI CỘT MỐC SỐ 0 "

 Người chiến sĩ cầm B41 chống lại quân t.hù ở cột mốc số 0, Lạng Sơn 1979 trong bức ảnh được xem là "biểu tượng nhất" của cuộc chiến chống quân Trung Quốc x.âm lược chính là chiến sĩ Trần Huy Cung.

Chiến sĩ Trần Huy Cung (sinh năm 1946 tại xã Tây Giang, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình). Năm 1967, ông Cung nhập ngũ, tham gia chiến trường Vĩnh Linh - Quảng Trị. Sau 2 năm chiến đấu, năm 1969, ông Cung xuất ngũ về làm công nhân cho Nhà máy xay tỉnh Thái Bình.
Tháng 12/1978, ông Cung tái ngũ và tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc. Bà Tô Thị Huê - Vợ ông Cung tâm sự: “Trước lúc lên đường nhập ngũ, ông ấy nói với tôi: Đất nước đang lâm nguy, anh phải ra chiến trường lần nữa. Em ở nhà chịu khó nuôi con một mình. Lúc đó con trai tôi đứa lên 6, đứa lên 3. Nhưng vì việc nước, tôi đành gạt nước mắt để ông ra chiến trận”
Chiến sĩ Trần Huy Cung thuộc biên chế Trung đoàn 540, Quân đoàn 14. Ngày 18/2/1979, Trung đoàn 540 thuộc Sư đoàn Bộ binh 327 được Quân khu 3 điều từ Quảng Ninh tăng cường cho Quân khu 1 bảo vệ Lạng Sơn. Tại đây bức ảnh lịch sử đã ra đời.
Sau 4 năm chiến đấu căng mình ở chiến trường biên giới phía Bắc, năm 1982, ông xuất ngũ và về làm việc tại Nhà máy xay lương thực Thái Bình. Đến năm 1988 ông chuyển về Nhà máy xay Tiền Hải công tác tại đó cho đến lúc về hưu. Tháng 8/1992 ông Cung dẫn cậu con trai lớn vào đầu quân cho Trung đoàn 88, Sư 302 đóng quân tại Bà Rịa. Kể từ đó, gia đình ông Cung - bà Huê và các con chuyển từ Thái Bình vào Bà Rịa - Vũng Tàu sinh sống và lập nghiệp.
Sau những trận ốm nặng, tháng 5/2015 ông Cung qua đời tại Bà Rịa - Vũng Tàu.
Hình ảnh người chiến sỹ hiên ngang vác trên vai khẩu súng lớn, hướng về phía quân x.âm lược, bên cạnh là cột mốc số 0 như một lời tuyên bố mạnh mẽ sẵn sàng đáp trả bất cứ đội quân nào nào x.âm phạm đến lãnh thổ, đến biên giới nước ta, dù đó là đội quân đông nhất, mạnh nhất!
ST