Chủ Nhật, 17 tháng 12, 2023

Kiên định - chủ động - kịp thời - sáng tạo - hiệu quả trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Kiên định - chủ động - kịp thời - sáng tạo - hiệu quả trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Những kết quả trên đã góp phần tăng cường niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng. Bên cạnh đó, đất nước cũng đối mặt với không ít khó khăn, thách thứcTình hình thế giới có những diễn biến phức tạp, khó lường, chưa có tiền lệ, vượt ngoài dự báonổi lên là cạnh tranh giữa các nước lớn, xung đột quân sự giữa Nga và Ukraine; lạm phát gia tăng và nguy cơ suy thoái kinh tế thế giới; các vấn đề an ninh phi truyền thống như dịch bệnh, thiên tai, biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh thông tin,... Tranh chấp chủ quyền và vấn đề an ninh hàng hải trên biển, nhất là khu vực Biển Đông vẫn diễn biến phức tạp. Trong nước, bên cạnh những kết quả đạt được, nước ta còn không ít thách thức phải đối mặt, đời sống của một bộ phận cán bộ, công chức, công nhân, người lao động, đồng bào vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tăng cường lợi dụng những khó khăn nêu trên, đồng thời, tập trung lợi dụng các sự kiện chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa - xã hội quan trọng (nhất là các vấn đề an sinh xã hội), các vụ việc phức tạp, nhạy cảm, các sự kiện quốc tế lớn, vấn đề căng thẳng trên biển Đông và nhất là cuộc xung đột quân sự Nga - Ukraine để xuyên tạc, chống phá Đảng và Nhà nước.

Trước bối cảnh đó, năm 2022, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở các cấp, các ngành đã có nhiều nỗ lực, đạt được những kết quả đáng khích lệ, kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống”; phát huy hiệu quả tiềm lực, khẳng định vai trò, vị thế, uy tín ngày càng được nâng lên trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ, nhất là trên môi trường mạng xã hội. Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” tiếp tục được cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đánh giá là một trong những nghị quyết được triển khai quyết liệt, bài bản, hiệu quả trong thời gian qua. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo 35 các cấp được triển khai chủ động, quyết liệt, hiệu quả, sát với tình hình thực tế; tổ chức liên lạc, trao đổi thông tin hai chiều thông suốt, kịp thời, thống nhất phương án xử lý các vụ việc phức tạp, nhạy cảm phát sinh tại một số cơ quan, đơn vị, địa phương. Công tác chuyển trạng thái lãnh đạo, chỉ đạo được thực hiện nhanh chóng, kịp thời; tích cực kiện toàn, xây dựng lực lượng; tăng cường lan tỏa thông tin tích cực; kiên trì đấu tranh phản bác thông tin xấu độc, các quan điểm sai trái, thù địch.

Bên cạnh những kết quả đạt được, còn một số hạn chế trong công tác đấu tranh xử lý những thông tin xấu độc trên không gian mạng trong năm 2022, đó là: Công tác theo dõi, nắm bắt, phát hiện, dự báo thông tin xấu độc, các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội có thời điểm chưa kịp thời, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Việc xử lý các đối tượng là nguồn tán phát thông tin xấu, độc trên mạng xã hội còn chậm. Một số Ban Chỉ đạo 35 các cấp còn thiếu linh hoạt trong lựa chọn phương án đấu tranh, xử lý thông tin xấu độc; chưa thực sự phát huy vai trò, trách nhiệm trong một số tình huống cụ thể; còn bị động, lúng túng. Một số cơ quan báo chí, truyền thông có thời điểm còn thiếu nhạy bén, “giật tít”, “câu view” liên quan đến vụ việc phức tạp, nhạy cảm bị các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước lợi dụng để xuyên tạc, chống phá...

Bước sang năm 2023, dự báo tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường mang đến cả cơ hội và thách thức lớn đối với an ninh, phát triển của thế giới, trong đó có Việt Nam. Trong nước, chúng ta bước vào năm bản lề thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII với nhiều chương trình phát triển kinh tế - xã hội lớn như xây dựng hạ tầng giao thông, hạ tầng số, triển khai quy hoạch tổng thể quốc gia. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị sẽ tiếp tục lợi dụng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, Internet, mạng xã hội và sơ hở trong triển khai các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở một số bộ, ngành, địa phương để gia tăng các hoạt động chống phá, xuyên tạc, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước.

Trong bối cảnh đó, phương châm công tác của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch năm 2023 là “Kiên định - Chủ động - Kịp thời - Sáng tạo - Hiệu quả”. Đây là khẩu hiệu để các cấp ủy đảng, các cơ quan chức năng quán triệt, làm kim chỉ nam cho các hoạt động trong năm 2023. Phương châm được đưa ra trên cơ sở đánh giá những kết quả đạt được cũng như những hạn chế, nguyên nhân của lĩnh vực công tác này trong năm 2022, trên cơ sở dự báo tình hình và yêu cầu của lĩnh vực công tác này trong thời gian tới.

Phải “Kiên định” là do bối cảnh quốc tế vẫn diễn biến phức tạp, khó lường, có những sự kiện xảy ra chưa có tiền lệ, vượt ra ngoài những dự báo. Tình hình này cộng với các xu hướng tư tưởng đang nổi lên trên thế giới thời gian gần đây đã tác động sâu sắc đến tâm lý, tư tưởng, dư luận xã hội ở tất cả các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Ở nước ta, lâu nay, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị luôn xác định mục tiêu tấn công, phá hoại về tư tưởng, lý luận là chủ yếu bởi đây là lĩnh vực có tính chất nền tảng của chế độ. Trong bối cảnh tình hình trong và ngoài nước đều có nhiều thách thức, chúng càng đẩy mạnh tấn công trên mặt trận tư tưởng. Để vững vàng trong cơn sóng gió của thời cuộc, hơn lúc nào hết, chúng ta phải kiên định với nền tảng tư tưởng đã được Đảng và nhân dân ta xác định, từ đó, kiên quyết, kiên trì đấu bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ. Với tinh thần đó, càng phải kiên định thực hiện Nghị quyết 35. Theo đó, phải tiếp tục chỉ đạo phối hợp, tổ chức thực hiện các Kế hoạch, Kết luận của Ban Bí thư thực hiện Nghị quyết 35; quán triệt sâu sắc hơn nữa về vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, trách nhiệm của Ban Chỉ đạo 35 các cấp trong thực hiện công tác này. Đồng thời, cần đẩy mạnh nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, về đường lối đổi mới đất nước, đặc biệt là bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Qua đó, cung cấp kịp thời những luận cứ khoa học vững chắc về lý luận và thực tiễn, có tính chiến đấu, sức thuyết phục cao cho Ban Chỉ đạo 35 các cấp để phục vụ hiệu quả cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận, phản bác thông tin xấu độc, các quan điểm sai trái, thù địch.

Phải “Chủ động” là do âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cũng như các phần tử xấu ngày càng tinh vi, xảo quyệt; bất cứ thời điểm nào, bất kỳ chuyện gì, bất cứ lĩnh vực gì, ở đâu, chúng cũng có thể lợi dụng, thêu dệt, quy kết theo chiều hướng tiêu cực để phá hoại nội bộ, phá hoại cách mạng nước ta. Chúng triệt để tận dụng các thành quả của cuộc cách mạng khoa học công nghệ để tổ chức các phương thức đấu tranh có tính bảo mật, ẩn danh cao nhằm đẩy chúng ta rơi vào thế bị động, bất ngờ. Bởi vậy, đòi hỏi các lực lượng chúng ta cần chủ động tuyên truyền thông tin tích cực, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”, góp phần xây dựng “thế trận lòng dân”, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc và đấu tranh phản bác thông tin xấu độc, các quan điểm sai trái, thù địch trên báo chí, Internet, mạng xã hội. Chủ động trong mọi tình huống; chủ động trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo; chủ động nắm tình hình, chủ động dự báo các tình huống phát sinh và chuẩn bị các phương án tác chiến; chủ động tất cả các biện pháp đấu tranh đảm bảo hiệu quả. Sự chủ động không chỉ đòi hỏi ở Ban Chỉ đạo 35 Trung ương mà cần cả ở Ban Chỉ đạo 35 của tất cả các tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Trung ương; không chỉ các lực lượng nòng cốt mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải luôn chủ động trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Phải “Kịp thời” là do đặc tính của Internet và các nền tảng OTT, mạng xã hội xuyên biên giới là lan tỏa nhanh, vô hướng; do đó, sẽ nhanh chóng, dễ dàng truyền tải thông tin đến tất cả người sử dụng. Với các nền tảng mạng xã hội xuyên biên giới, nếu không ứng phó kịp thời thì các hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị sẽ nhanh chóng tác động trực diện, sâu sắc đến đông đảo người dùng, dẫn dắt dư luận theo chiều hướng tiêu cực, gây ra những hậu quả nghiêm trọng không thể lường trước được; giống như những đám cháy nếu không kịp thời dập tắt sẽ bùng lên, lây lan sang các khu vực lân cận, không dễ dập tắt. Do đó, phải kịp thời nắm bắt âm mưu, thủ đoạn, các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị; kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo, kịp thời áp dụng các biện pháp đấu tranh nhằm ngăn chặn hiệu quả các hoạt động chống phá, các luận điệu sai trái, thù địch, các thông tin xấu độc trên không gian mạng, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Kịp thời cung cấp thông tin cho báo chí để thông tin trên báo chí giữ vai trò định hướng, giúp các tổ chức, cá nhân, nhất là tổ chức, cá nhân nước ngoài hiểu đầy đủ, toàn diện và có thái độ khách quan trong nhìn nhận, đánh giá về tình hình Việt Nam.

Cần phải “Sáng tạo” là do các đối tượng chống phá chúng ta rất đa dạng, phức tạp, cả trong và ngoài nước, cả tổ chức lẫn cá nhân, … với những cách thức, thủ đoạn chống phá rất khác nhau, cả bằng các hoạt động hợp pháp hoặc kết hợp nửa hợp pháp và bất hợp pháp. Mặt khác, với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, các tính năng của mạng xã hội ngày càng mới; những nhiệm vụ, giải pháp mà Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo Trung ương đề ra chỉ mang tính cơ bản, định hướng, đòi hỏi các cấp, các ngành phải bám sát tình hình thực tiễn để có những cách làm sáng tạo mới để có thể đáp ứng được yêu cầu của công tác. “Sáng tạo” đòi hỏi chúng ta phải căn cứ vào mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, định hướng công tác, các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, cơ bản của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch để vận dụng phù hợp với tình hình thực tiễn, như Bác Hồ đã dạy “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Ban Chỉ đạo 35 các ngành, các cấp không thụ động, trông chờ biện pháp giải quyết của Ban Chỉ đạo 35 Trung ương mà cần bám sát chỉ đạo Trung ương để xử lý sao cho kịp thời “phủ xanh” thông tin chính thống, kịp thời phản bác, ngăn chặn, bóc gỡ các thông tin xấu độc, kịp thời ngăn chặn hành vi chống phá của các thế lực thù địch, không để hậu quả lan rộng khó giải quyết hơn.

“Hiệu quả” luôn là thước đo cao nhất của mọi mặt công tác, nhất là khi nguồn lực của ta có hạn, tính phức tạp của tình hình ngày càng gia tăng, sự chống phá của các thế lực thù địch ngày càng quyết liệt, tinh vi. Để đấu tranh hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch, các thông tin xấu độc, điều kiện tiên quyết là phải triển khai đúng, đủ các phương châm đã nêu trên: phải kiên định con đường; phải chủ động trong dự báo, lãnh đạo, chỉ đạo; phải kịp thời trong ứng phó; phải sáng tạo trong các biện pháp. Đồng thời, cần triển khai một cách đồng bộ các giải pháp, phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng từ Trung ương đến địa phương, giữa các ngành, các cấp.

Việc triển khai công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đúng theo phương châm Kiên định - Chủ động - Kịp thời - Sáng tạo - Hiệu quả chắc chắn sẽ mang lại những kết quả mới đáng khích lệ trên mặt trận đấu tranh rất cam go này. Trước thềm Xuân mới, mặc dù tình hình thế giới còn nhiều phức tạp, đất nước còn đối mặt với nhiều thách thức, song toàn dân, toàn quân ta vẫn sắt son niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng ta trong 93 năm qua, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của dân tộc ta. Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng sẽ tiếp tục nỗ lực góp phần vào củng cố, tăng cường “thành trì tư tưởng” của chế độ, góp phần giữ vững định hướng của con thuyền cách mạng Việt Nam trong những sóng gió mà cả nhân loại đều đang phải đối mặt./.

Việc triển khai công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đúng theo phương châm Kiên định - Chủ động - Kịp thời - Sáng tạo - Hiệu quả chắc chắn sẽ mang lại những kết quả mới đáng khích lệ trên mặt trận đấu tranh rất cam go này.

PGS. TS. Lê Hải Bình
Ủy viên Dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương

“BỐ KHÔNG PHẢI LÀ CÁI Ô”

 Bố mẹ chỉ nuôi con ăn học, vào đời tự con phấn đấu. Bố không phải là cái ô để che, không phải là cái thang để con bước...”. Lời nói đó của bố luôn văng vẳng bên tai tôi suốt cuộc đời quân ngũ, là động lực để tôi bước đi bằng chính đôi chân của mình...

Bố tôi-Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, vừa được Đảng, Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ngày 17-10-2023. Ông sinh năm 1928. Sau khi tham gia khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Phú Thọ, bố tôi vào Quân đội trực tiếp chiến đấu.
Đón nhận vinh dự này, những kỷ niệm về ông lại ùa về trong hồi ức của tôi. Dù bố biền biệt xa gia đình, hiếm hoi lắm mới tranh thủ về thăm nhà và “lần nào cũng vội”, nhưng không vì thế mà sự dạy bảo của ông dành cho anh em tôi bị xem nhẹ. Những lá thư còn vương mùi khói lửa, đạn bom chiến trường ông gửi về, chúng tôi hầu như đều thuộc những lời ông căn dặn. Mẹ tôi, một nhà giáo suốt đời đi dạy người, dạy con chữ cho đời đã luôn thông hiểu, chia sẻ, truyền đạt những lời dặn dò của bố tới chúng tôi một cách rất tinh tế. Ngày ấy, lũ trẻ khu tập thể chúng tôi rất nghịch với cái tên khá nổi tiếng “Quân khu Nam Đồng”. Có lần tôi mải chơi, nghịch ngợm, mẹ tôi nói không được, bà liền lấy thư của bố bảo tôi đọc và tự suy ngẫm. Trong thư ông căn dặn: “Con là anh cả, chưa giúp gì cho mẹ được thì cũng hãy để các em nó nhìn theo. Đừng để bố ở chiến trường lại phải lo nghĩ nhiều về con!”.
Với bố tôi, một phần đời quan trọng của ông gắn bó với mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ và dữ dội. Chính vì thế ông thấu hiểu đất và người Tây Nguyên. Ông dành cho mảnh đất này những tình cảm sâu nặng, thiêng liêng. Cùng vào sinh ra tử với ông là những người lính mà mỗi lần nhắc đến, ông vô cùng xúc động. Tôi nhớ, cứ mỗi lần ngồi chuyện trò với Đại tá, nhà văn Lê Hải Triều-người chấp bút cuốn hồi ký “Ký ức Tây Nguyên” của ông - tôi lại thấy mắt ông ngân ngấn nước, làm nhà văn Lê Hải Triều cũng xúc động lặng người...
Bố là người nghiêm khắc nhưng cũng rất giàu tình cảm. Hồi còn công tác, một vài con cháu muốn qua ông để về chỗ này, chỗ kia, nhưng ông không đồng ý và nhắc nhở cần phải tự mình nỗ lực phấn đấu, tự đi bằng đôi chân của chính mình. Ngày em gái tôi-Thượng tá, bác sĩ Đặng Thị Bích Liên (Bệnh viện Trung ương Quân đội 108) bị tai nạn giao thông, ông đã buồn lo hàng tháng trời. Thương và lo cho con gái, ông sút gần chục cân. Ông đã dồn tình yêu thương cho các con, các cháu, quan tâm từ việc học hành cho đến sinh hoạt thường nhật. Ông ngồi với em rể tôi nhiều hơn, chia sẻ, động viên em trong công việc.
Khi viết những dòng này, hình ảnh bố tôi lại hiện lên trong tôi rõ nhất. Cuộc đời của ông là tấm gương sáng cho anh em chúng tôi noi theo. Tự hào về ông, chúng tôi càng phải ra sức phấn đấu, học tập và tu dưỡng là những người đảng viên, người công dân tốt có ích cho xã hội, để ở cõi vĩnh hằng, bố tôi luôn mỉm cười!
ST

KỶ NIỆM 77 NĂM NGÀY TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN (19/12/1946 – 19/12/2023)

 

Tháng 9/1945, không chấp nhận để Việt Nam và Đông Dương giành độc lập, dưới sự ủng hộ của quân Anh với danh nghĩa là lực lượng Đồng minh vào giải giáp quân Nhật, thực dân Pháp đã quyết tâm trở lại xâm lược nước ta. Trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” đó, Đảng ta, Chính phủ và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã tìm mọi cơ hội hòa hoãn, kéo dài thời gian hòa bình nhằm chuẩn bị cho cuộc kháng chiến có thể không thể tránh khỏi.
Thế nhưng, trước dã tâm và những hành động ngoan cố của thực dân Pháp hòng áp đặt sự cai trị Việt Nam và Đông Dương một lần nữa, các nỗ lực cứu vãn nền hòa bình của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đều bất thành. Quyết tâm giữ vững nền tự do, độc lập của dân tộc, của đất nước, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định cùng nhân dân cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp.
Ngày 19/12/1946, tại Vạn Phúc, Hà Đông (nay thuộc Thủ đô Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” với nội dung:
“Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!
Giờ cứu quốc đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước.
Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!
Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm!
Kháng chiến thắng lợi muôn năm!
“Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” là lời hiệu triệu toàn dân tộc Việt Nam đoàn kết một lòng chống Pháp với đường lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh”.
Hưởng ứng Lời kêu gọi đó, nhân dân cả nước từ già đến trẻ, từ thành thị đến nông thôn, từ miền ngược đến miền xuôi và mọi tầng lớp trong xã hội đã nhất tề đứng lên chống Pháp. Hà Nội là một trong những chiến trường chính trong những ngày đầu kháng chiến toàn quốc. Từ đêm 19/12/1946, quân và dân Thủ đô đã đồng loạt tấn công chủ động, bất ngờ vào các căn cứ của quân Pháp. Với tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, quân dân Thủ đô kiên cường bám trụ, giành giật với địch từng mái nhà, góc phố, con đường, làm tiêu hao sinh lực địch, giam chân Pháp trong thành phố nhiều ngày để tạo điều kiện cho các cơ quan đầu não, chủ lực kịp thời sơ tán lên chiến khu Việt Bắc một cách an toàn và bước vào giai đoạn trường kỳ kháng chiến vào tháng 3/1947.
Đồng thời, quân và dân cả nước đã đồng loạt anh dũng đứng lên chống Pháp với ý chí căm thù giặc sục sôi, với niềm tin tất thắng.
Đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chính phủ ta đã phát huy tối đa truyền thống đoàn kết, yêu nước của dân tộc Việt Nam. Đây là nền tảng quan trọng để quân dân ta đánh bại chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp, tạo tiền đề vững chắc cho những thắng lợi tiếp theo, từng bước bẻ gãy ý chí xâm lược của chúng./.
ST

Đấu tranh, ngăn chặn luận điệu xuyên tạc vấn đề nhân quyền ở Việt Nam

 

Đấu tranh, ngăn chặn luận điệu xuyên tạc vấn đề nhân quyền ở Việt Nam

Các trò chơi dân gian của đồng bào dân tộc thiểu số huyện Lâm Bình (Tuyên Quang) được duy trì.

Các trò chơi dân gian của đồng bào dân tộc thiểu số huyện Lâm Bình (Tuyên Quang) được duy trì.

Nhiều năm trở lại đây, vấn đề dân chủ, nhân quyền là một trong những mục tiêu trọng tâm mà các thế lực thù địch, đối tượng cơ hội, phản động thường xuyên lợi dụng, khai thác để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Các đối tượng liên tục đưa ra những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Theo đó, một số phúc trình, báo cáo về nhân quyền thế giới đưa ra những nhận định, đánh giá thiếu khách quan, không chính xác về vấn đề tự do tôn giáo, dân chủ nhân quyền ở Việt Nam. Mặt khác, các đối tượng chống phá không ngừng rêu rao về cái gọi là “tù nhân lương tâm”, từ đó lợi dụng, đòi quyền can thiệp tình hình nội bộ Việt Nam, cổ súy, kích động những đối tượng vi phạm pháp luật, bất mãn và cơ hội chính trị tố cáo Việt Nam vi phạm quyền con người.

Chẳng hạn, báo cáo của Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam (VNHR) - một trong những tổ chức phản động người Việt lưu vong tại California, Mỹ đã dựng lên việc hiện có gần 300 “tù nhân lương tâm” đang bị giam giữ trong các nhà tù ở Việt Nam và gần 80 người bị chính quyền bắt giữ trong năm 2021.

Một số đối tượng được gọi tên và tung hô trên các diễn đàn như “anh hùng” vì đã dũng cảm đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, nhưng trên thực tế lại là các đối tượng thường xuyên kích động nhân dân chống đối chính quyền soạn thảo, phát tán nhiều tài liệu chống phá Đảng, Nhà nước, bôi xấu chế độ hoặc vi phạm pháp luật nhà nước.

Ngoài ra, cũng phải nhắc tới một số cá nhân vì bất mãn cá nhân hoặc mục đích riêng thường xuyên trả lời phỏng vấn báo đài, nước ngoài xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền; thậm chí tập hợp lực lượng là các phần tử, tổ chức trong nước và ngoài nước, hướng dẫn kỹ năng hoạt động chống phá chính quyền.

Tổ chức khủng bố Việt Tân còn dựng lên “giải thưởng nhân quyền Lê Đình Lượng”, đồng thời coi đây như “một nỗ lực đóng góp cụ thể vào công cuộc đấu tranh cho nhân quyền và tự do của dân tộc Việt Nam”!

Với chiêu bài cổ súy, bảo vệ cho những hành vi xem thường luật pháp, gây rối trật tự xã hội, xâm phạm an ninh quốc gia, chống phá chế độ, các đối tượng chống đối trong nước móc ngoặc với các thế lực thù địch bên ngoài tìm mọi cơ hội để lan truyền những thông tin ngụy tạo, sai sự thật hòng đánh lừa dư luận về những sai lầm khuyết điểm của các tổ chức cá nhân, lên án “sự yếu kém của chế độ”, xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Mục đích mà các đối tượng hướng đến là nhằm gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự; hạ thấp uy tín, vị thế của Việt Nam; kích động chia rẽ làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước phục vụ cho chiến lược “diễn biến hòa bình” và đích cuối cùng là nhằm chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.

Cần khẳng định rằng, trong tiến trình xây dựng nền văn minh, Việt Nam cũng như các quốc gia trên thế giới đều quản lý xã hội bằng công cụ pháp luật. Những đối tượng vi phạm pháp luật đều phải bị xử lý nghiêm khắc theo quy định của luật pháp.

Pháp luật Việt Nam được xây dựng phù hợp quy định của pháp luật quốc tế và yêu cầu thực tiễn nhằm bảo đảm cho sự phát triển tự do của nhân dân, góp phần xây dựng và duy trì xã hội trật tự, ổn định, ngăn chặn các tổ chức và cá nhân lợi dụng quyền tự do, dân chủ để xâm phạm quyền con người.

Trong đó, tôn trọng và bảo đảm nhân quyền là quan điểm nhất quán, xuyên suốt trong đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam.

Các luận điệu chống phá mà những đối tượng cơ hội, phản động, các thế lực thù địch đưa ra không dựa trên những thông tin chính thống, có kiểm chứng mà dựa trên những thông tin thu thập theo kiểu cóp nhặt, cắt xén có dụng ý, với động cơ chính trị rõ ràng để bôi nhọ Việt Nam.

Như cái gọi là “tù nhân lương tâm” chỉ là sự bịa đặt, sai lệch về pháp lý, bởi lẽ khi có hành vi phạm tội, đối tượng phải chịu sự điều tra, truy tố, xét xử công khai, bị tuyên án và phải chịu hình phạt theo quyết định có hiệu lực của tòa án.

Ở Việt Nam hoàn toàn không có “tù nhân lương tâm”, chỉ có những đối tượng vi phạm pháp luật và bị các cơ quan chức năng truy tố, xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, việc kích động hay ra sức bảo vệ các đối tượng gọi là “tù nhân lương tâm” chỉ là sự cổ súy cho những kẻ vi phạm pháp luật bị kết án nhưng không chấp hành hình phạt, đội lốt dân chủ, lợi dụng dân chủ để chống phá đất nước, chuyển hóa chế độ xã hội tại Việt Nam.

Có thể thấy rất rõ mưu đồ này qua việc tổ chức khủng bố Việt Tân ra sức tung hô, đánh bóng và lấy tên giải thưởng nhân quyền Lê Đình Lượng - vốn là tên một thành viên của tổ chức này, song trên thực tế lại là đối tượng có nhiều hoạt động vi phạm pháp luật.

Ngày 18/10, tại thành phố Vinh (Nghệ An), Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Lê Đình Lượng về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo Điều 79 Bộ luật Hình sự năm 1999. Quá trình xét xử tại phiên phúc thẩm tiếp tục làm rõ Lê Đình Lượng là đối tượng phản động đặc biệt nguy hiểm; là đối tượng tích cực tuyên truyền, lôi kéo các đối tượng có tư tưởng chống đối trên địa bàn Nghệ An, Hà Tĩnh tham gia vào tổ chức Việt Tân.

Do đó, tòa giữ nguyên bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo Lê Đình Lượng chịu mức án 20 năm tù giam và 5 năm quản chế. Do đó, không ai bất ngờ khi giải thưởng Lê Đình Lượng được lập ra chỉ nhằm trao và cổ súy cho những “nhà hoạt động nhân quyền” cũng đều là những đối tượng vi phạm pháp luật, bị tòa kết án.

Trên thực tế, ngay từ khi thành lập, Nhà nước Việt Nam luôn đặt quyền tự do, dân chủ, nhân quyền của công dân lên hàng đầu, và vấn đề này được quy định rõ trong Hiến pháp và pháp luật. Hiến pháp năm 2013 quy định nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi công dân một cách đầy đủ. Cụ thể tại Điều 15, Hiến pháp 2013 quy định rõ: Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội; việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

Công dân Việt Nam được đảm bảo về nhân quyền như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do lập hội, quyền khiếu nại, tố cáo… Pháp luật tôn trọng và bảo vệ những tư tưởng, ý chí, nguyện vọng của mỗi tổ chức và cá nhân nếu phù hợp tinh thần xây dựng và thượng tôn pháp luật, phù hợp chuẩn mực đạo đức và truyền thống văn hóa của dân tộc.

Đồng thời, nếu những tổ chức và cá nhân có mục đích xấu, động cơ không trong sáng, viện cớ về quyền tự do dân chủ, nhân quyền nhưng lại chà đạp lên quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước thì đều phải chịu các chế tài xử phạt tương ứng.

Với cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm, ưu tiên phát triển con người và thúc đẩy bình đẳng trong các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, Việt Nam đã có những nỗ lực không mệt mỏi trong nhiều năm qua để thúc đẩy và bảo đảm nhân quyền.

Nhiều thành tựu về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam được các tổ chức của Liên hợp quốc đánh giá cao. Việt Nam xứng đáng với vai trò là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Thời gian qua, Việt Nam tích cực tham gia và chủ trì các nghị quyết đề cao Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, biến đổi khí hậu và quyền con người,… từ đó có nhiều đóng góp thiết thực đối với hoạt động của Liên hợp quốc.

Việt Nam luôn cầu thị và nỗ lực làm tốt hơn trong vấn đề bảo đảm nhân quyền cho mọi người dân. Trong nhiều báo cáo chính thức của Việt Nam trước các cơ quan nhân quyền Liên hợp quốc đã thẳng thắn đề cập trực tiếp về những khó khăn Việt Nam gặp phải trong công tác nhân quyền, từ đó đề ra những giải pháp để cải thiện trong thời gian tới.

Thực tế tuy đạt nhiều thành tựu về kinh tế-xã hội với tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định, được sự hỗ trợ, quan tâm từ Chính phủ nhưng nguồn lực của đất nước vẫn còn hạn chế nên cơ sở vật chất các ngành giáo dục, khoa học, văn hóa, thể thao, y tế... còn thiếu thốn, ảnh hưởng đến việc hưởng thụ đầy đủ quyền của người dân, nhất là khu vực miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa.

Hệ thống pháp luật hiện hành còn thiếu đồng bộ, chưa thật sự sát với thực tiễn. Nhưng quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân ta là “không ai bị bỏ lại phía sau” và để đạt được điều đó cần sự chung sức, đồng hành, quyết tâm của toàn xã hội.

Trong bối cảnh hiện nay xuất hiện những đối tượng có mục đích đen tối, thiếu trách nhiệm với đất nước, với cộng đồng, cố tình lợi dụng quyền tự do, dân chủ để làm tổn hại lợi ích của Nhà nước và các tổ chức, cá nhân; thường xuyên sử dụng chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Để không bị kẻ xấu dẫn dắt, tin nghe theo những luận điệu sai sự thật, mỗi người cần nâng cao nhận thức, tỉnh táo và cảnh giác trước những thông tin không chính thống xuyên tạc việc bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam. Các cá nhân trong điều kiện và khả năng thực tế cần tích cực tham gia đóng góp công sức vào quá trình phát triển của đất nước; chủ động đấu tranh, ngăn chặn làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động./.

TS. MAI DIỆU ANH (nhandan.vn)

PHẢN HỒI

“Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”

 7 tháng sau ngày nhập ngũ thì anh hy sinh tại chiến trường Quảng Trị khi mới ở tuổi 18. Những kỷ niệm về anh-liệt sĩ Nguyễn Văn Quang vẫn được người em gái Nguyễn Thị Vinh, ở phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, TP Hà Nội trân trọng giữ gìn.

Tiếp chúng tôi trong căn phòng nhỏ trên gác hai của khu tập thể số 2 Hàng Chiếu, phường Đồng Xuân, bà Nguyễn Thị Vinh bồi hồi: “Căn nhà này là nơi anh tôi ở trước khi nhập ngũ. Hồi ấy, cả nhà 7 người (gồm bà ngoại, bố mẹ và 4 anh chị em bà Vinh-PV) chúng tôi ở chung trong căn hộ 45m2. Sau này, bà rồi bố mất, các chị đều có gia đình riêng, tôi là con út ở cùng mẹ đến nay. Anh Quang hy sinh, nhưng đồng đội, bạn bè của anh vẫn luôn quan tâm đến gia đình tôi. Một đồng đội của anh là kiến trúc sư, khi biết chuyện các hộ tầng dưới không đồng ý để gia đình tôi sửa nhà, đã giúp thiết kế, sửa lại toàn bộ căn hộ mà không gây ảnh hưởng đến tầng dưới. Phần mộ của anh Quang ở Quảng Trị cũng được một đồng đội tìm thấy và báo về cho gia đình, đến nay đã được quy tập về Nghĩa trang Liệt sĩ Ngọc Hồi (Thanh Trì, Hà Nội)...”.
Trong tập tài liệu được lưu giữ cẩn thận, chúng tôi được bà Vinh cho xem cuốn nhật ký cùng những lá thư của anh trai gửi về từ chiến trường. Những lá thư được viết trên nhiều khổ giấy, có khi chỉ là vài dòng ngắn ngủi anh viết vội rồi gửi qua người đồng đội được về thăm nhà. Tôi lật giở những trang viết đã úa màu thời gian, nhiều chỗ bị nhòe mực, không còn đọc được rõ chữ. Bà Vinh chia sẻ: “Những chỗ này có lẽ đều là nước mắt của mẹ tôi đã rơi xuống khi đọc đi đọc lại thư và nhật ký của anh. Nỗi nhớ thương con khiến mẹ tôi khóc đến mờ cả mắt!”...
Sinh năm 1954, Nguyễn Văn Quang là con thứ hai của bà Đào Thị Bê. Đang là học sinh Trường cấp 3 Chu Văn An (nay là Trường THPT Chu Văn An), Nguyễn Văn Quang đã dùng máu của mình viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Quyết định ấy anh đã giấu gia đình. Chỉ đến khi có giấy gọi nhập ngũ, bố mẹ anh mới biết. Bố anh thì ủng hộ quyết định của con trai, nhưng mẹ anh thì rất giận. Anh chưa thuộc diện nhập ngũ, lại là con trai duy nhất trong nhà, quan trọng hơn là anh đã giấu bà cho đến ngày lên đường. Vừa giận vừa thương con là tâm trạng của bà Đào Thị Bê khi ấy.
Sau này, ở nơi đóng quân, tranh thủ phút rảnh rỗi, anh viết thư về nhà vừa để giải thích vừa mong bố mẹ hiểu cho quyết định của mình: “Bố mẹ ạ, con biết khi con ra đi, gia đình rất thương và rất lo cho con... Giờ đây xa gia đình, con càng thấm thía tình cảm đầm ấm của gia đình ta. Nhưng bố mẹ ạ, giữa tình cảm gia đình còn phải gắn liền với tình cảm cách mạng. Con ra đi là một trách nhiệm vinh dự của thanh niên”, và rằng: “Biết bao bà má còn bị đọa đày trong cảnh gông cùm... thì bây giờ ai là người giải thoát cho những người mẹ đó? Chính là chúng con, những người thanh niên mới”. Thậm chí, anh động viên ngược lại người ở nhà: “Trước lúc con đi chiến đấu, con mong gia đình hãy tạm gác bỏ tình cảm riêng tư về đứa con trai duy nhất của gia đình để an tâm công tác, làm tròn trách nhiệm của một gia đình công nhân sống trong xã hội chủ nghĩa”.
Vào chiến trường, hằng ngày đối diện với đạn bom, gian khổ, hy sinh, Nguyễn Văn Quang ngày càng trưởng thành và chín chắn hơn. Anh nhắn gửi: “Bố mẹ kính mến, từ giờ con đã trở thành một chiến sĩ Giải phóng quân rồi. Tất cả bước đi và sự trưởng thành của con đều lớn mạnh theo lá cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng. Chúng con đã trở thành một người lính... người lính cầm súng chiến đấu vì độc lập, tự do cho Tổ quốc”.
Là chiến sĩ Đại đội 1, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 48, Sư đoàn 320, sống và chiến đấu giữa chiến trường Quảng Trị thiếu thốn và ác liệt, anh vẫn đầy lạc quan. Anh kể “đời sống của chúng con ở trong này tạm ổn” nhưng có một nỗi giày vò vô cùng lớn: “Chỉ có một điều là con nhớ nhà vô cùng. Nghe tiếng chim kêu, tiếng lá cây xào xạc mà nhớ Hà Nội thân thương”; “Hà Nội ơi, sao tôi nhớ đến thế! Nhớ từng con người, từng đường phố, từng lối đi. Những kỷ niệm xa xôi lại trỗi dậy”. Người chiến sĩ ấy có một tâm hồn đầy lãng mạn. Thế nên vì tiếc nhớ một giấc mơ về Hà Nội mà anh phải ghi ngay vào nhật ký: “Ôi giấc mơ thật là tuyệt đẹp, nó đã làm mình sống lại với những ngày học ở Ba Đình. Nhưng than ôi giấc mơ ngắn quá! Mình vừa tỉnh dậy thì trời đã sáng mất rồi. Đàn chim con đang ríu rít gọi nhau, tiếng suối nước Cồn Tiên vẫn dội ào ào như nhà máy lọc nước Yên Phụ”. Kể về một ca gác mà nếu theo đúng kế hoạch thì giờ ấy sẽ bước vào một trận đánh, anh viết: “Còn giờ đây thì ta đang ngồi gác trên một cồn cát trắng dưới bóng mát của một cụm phi lao đang lay mình trong gió biển... Lác đác tiếng kêu của vài con chim nhỏ. Bầu trời trong xanh, cao lồng lộng đang rung mình theo tiếng rít của máy bay...”.
Bà Vinh kể rằng, anh trai là người sống rất chan hòa, tình cảm, hay giúp đỡ mọi người. Anh đi bộ đội khi còn là học sinh, cũng chưa hề có “mảnh tình vắt vai” nào nên mọi nỗi nhớ thương anh dành cả cho gia đình, đặc biệt là cho mẹ. Mọi tâm tư sâu kín, kể cả những phút yếu lòng nhất, anh dễ dàng trút hết với mẹ: “Con chỉ có một nguyện vọng cuối cùng là được trở về với mẹ. Con thương mẹ vô cùng!”; có khi là lời động viên: “Mẹ đừng buồn mẹ nhé, mẹ phải hãnh diện lên chứ!”; “Mẹ có nghe tiếng gọi của lòng con không? Tiếng gọi của tình thương, nỗi nhớ như trăm nghìn hạt bụi nhỏ li ti đang truyền đi từ trái tim con đến nơi mẹ đó”. Với bà ngoại đầy yêu kính thì: “Còn bà tôi, sao tôi nhớ thế, thương thế không biết! Có bao giờ tôi lại được gặp bà tôi không?”. Rồi với các em gái thì: “Anh thương các em vô cùng, mới tí tuổi đầu mà đã phải làm bao nhiêu việc. Giá mà anh có ở nhà thì cũng đỡ được các em đôi phần”...
Trang nhật ký của Nguyễn Văn Quang dừng lại vào ngày 24-11-1972, một ngày trước khi anh hy sinh. Sau này, trong những di vật được trao lại cho gia đình, bà Vinh mới biết một người đồng đội của anh trai đã viết tiếp những trang nhật ký. Bây giờ, cuốn nhật ký ấy được chia làm hai, phần đầu gia đình bà Vinh giữ, phần sau được gửi lại cho gia đình người đồng đội kia. Đối với gia đình bà Vinh, tấm gương chiến đấu, hy sinh của anh Nguyễn Văn Quang luôn là động lực để con cháu phấn đấu và cống hiến!
ST

Vị tướng viết "Thư nhà"

 Trong số các nhà văn Quân đội tài năng, không mấy người được đeo quân hàm cấp tướng. Hẳn nhiên người đó bên cạnh tài năng văn học phải có tài năng quân sự, có bề dày công tác, cống hiến, có đạo đức chuẩn mực... Hồ Phương là một trong số ít ấy.

Ông tên thật là Nguyễn Thế Xương, sinh năm 1930, trưởng thành từ những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, là “chiến sĩ Quyết tử” trực tiếp tham gia cuộc chiến đấu bảo vệ Thủ đô Hà Nội (tháng 12-1946), sau này là nhiều chiến dịch lớn trong đội hình Đại đoàn 308 như: Biên giới (1950); Điện Biên Phủ (1953-1954)... 17 tuổi, ông bắt đầu viết những truyện ngắn đầu tay về bộ đội, đến năm 1949 phụ trách tờ báo Quân Tiên Phong.
Là một trong những người tham gia thành lập Tạp chí Văn nghệ Quân đội (1957), từng giữ chức Phó tổng biên tập, ông cũng là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957). Năm 1990, ông được phong quân hàm Thiếu tướng; được trao tặng Giải thưởng Nhà nước (2001) và Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học-nghệ thuật (2012).
Hồ Phương tiêu biểu cho thế hệ nhà văn-chiến sĩ đi qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, vừa cầm bút vừa cầm súng, sớm hình thành phong cách giàu có chất sống và đậm đà tinh thần nhân văn. Với truyện ngắn đầu tay gây được tiếng vang có tên “Lưỡi mác xung kích” (1948); Hồ Phương được đánh giá là nhà văn trẻ tài năng. Tiếp theo là “Thư nhà” (truyện, 1948); “Những tiếng súng đầu tiên” (tiểu thuyết, 1955); “Vài mẩu chuyện về Điện Biên Phủ” (truyện, 1956); “Lá cờ chuẩn đỏ thắm” (truyện, 1957); “Cỏ non” (1959). Trong đó, “Thư nhà” và “Cỏ non” đã sớm ghi dấu ấn vào lịch sử văn xuôi hiện đại trước năm 1960. Sau đó, với các tác phẩm: “Xóm mới” (truyện ngắn, 1963); “Nhằm thẳng quân thù mà bắn” (truyện ngắn, 1965); “Chúng tôi ở Cồn Cỏ” (ký sự, 1966); “Kan Lịch” (tiểu thuyết, 1967); “Khi có một mặt trời” (truyện ký, 1972); “Những tầm cao” (tiểu thuyết hai tập, 1975)... ông đã phản ánh trung thực cuộc sống anh hùng của nhân dân ta thời kỳ chống Mỹ, cứu nước.
Sau năm 1975 vẫn phong cách ấy, Hồ Phương tiếp tục khai thác đề tài chiến tranh cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội với các tiểu thuyết: “Biển gọi” (1980); “Bình minh” (1981); “Mặt trời ấm sáng” (1985); “Cánh đồng phía Tây” (1994); “Yêu tinh” (2001); “Ngàn dâu” (2002); “Những cánh rừng lá đỏ” (2005). Riêng tiểu thuyết “Cha và con” (2007) rẽ sang mạch khác, dựng lại chân dung cụ Nguyễn Sinh Sắc và thời trai trẻ của Bác Hồ.
Một trong những sự kiện nổi bật thúc đẩy ngòi bút Hồ Phương đi về phía chân trời của cái chân, cái thiện là được Bác Hồ đọc tác phẩm và trực tiếp được gặp Bác. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, về thăm Trường Phan Chu Trinh, Bác có đọc bài văn của Xương và tặng cậu học trò này một cuốn sổ. Đầu năm 1946, khi đang là phóng viên Báo Cứu quốc, Hồ Phương may mắn lại được gặp Bác. Năm 1950, trong một lần về nói chuyện với Đại đoàn 308, với trí nhớ tuyệt vời, Bác nhận ra chàng phóng viên và khuyến khích “cố gắng chiến đấu nhé!”. Lại có lần Bác đùa vui khi Hồ Phương vẽ Bác giống cụ... Hồ Tùng Mậu. Năm 1968, khi đang ở Trung Quốc, Bác đọc ký sự “Chúng tôi ở Cồn Cỏ” và nhận xét đó “là một cuốn sách hay”...
Ở mảng văn xuôi, Hồ Phương đã để lại dấu ấn riêng, có đóng góp xứng đáng vào nền văn học cách mạng yêu nước. Hôm nay nhìn lại càng thấy rõ hơn truyện ngắn “Thư nhà” phải được coi là một thành tựu của văn xuôi chống Pháp ở chỗ đã đưa ra một cái nhìn nghệ thuật mới: Tố cáo tội ác vô luân, tàn bạo của quân xâm lược không bằng chất liệu của chiến tranh (súng đạn, khói lửa, chết chóc...) mà thông qua số phận một người phụ nữ bị giặc hãm hiếp, nhưng lại bị chồng ruồng bỏ. Mạch ngầm của truyện là cuộc đấu tranh giữa cái nhân văn mới mẻ và cái thủ cựu phong kiến đã thức tỉnh bao con người lạc hậu, bảo thủ đang còn là tù binh của quan niệm chữ “trinh” lỗi thời. Không chỉ là tiếng kêu thức tỉnh, sâu xa hơn là tình thương, sự che chắn, bảo vệ người phụ nữ đã chịu quá nhiều bất hạnh.
Truyện ngắn “Cỏ non” từng đoạt giải ba Báo Văn nghệ năm 1959-1960 và được đưa vào giảng dạy trong nhà trường nhiều năm. Truyện tả nhân vật Nhẫn chăn bò, một công việc rất bình thường nhưng nhờ có tình yêu lao động mà trở nên rất mực thi vị. Chất hiện thực của truyện đằm sâu đến mức nhiều người tưởng anh hùng Hồ Giáo là nguyên mẫu của nhân vật Nhẫn. Chính nhà văn kể, nguyên mẫu là một người lính chống Pháp phục viên ở Hòa Bình. Mến yêu, kính phục một người lính vừa buông súng là về chăn bò cho nông trường, không so đo, tính toán, không đòi hỏi gì cho riêng mình, nhà văn đã sáng tác được một truyện ngắn xuất sắc.
Một chi tiết bị nhiều người “kết án” là nhà văn đã “vật hóa” con người: “Nom những cái mõm gặm cỏ sao mà ngon thế! Ngon đến nỗi phải ứa nước miếng. Nhẫn cũng muốn cúi xuống gặm một đám cỏ lưỡi gà, đuôi rắn kia mà nhai ngấu nghiến”. Tức đã biến Nhẫn thành con bò vì chỉ có bò mới ăn cỏ. Thế thì oan cho nhà văn quá! Xét về nghĩa thực, ai từng là trẻ chăn trâu ở nhà quê ngày trước thì ít nhiều đã ăn loài cỏ lưỡi gà này. Nó rất ngọt. Về nghĩa biểu cảm thì một người tha thiết với “nghề chăn bò” như thế, thấy cỏ non như vậy mà “ứa nước miếng” là hợp lý. Là trẻ chăn trâu, yêu trâu, được đưa trâu đến thảm cỏ như vậy, sẽ có rất nhiều đứa trẻ cùng tâm trạng với Nhẫn. Nói thế để thấy Hồ Phương không chỉ giàu có về vốn sống mà còn khá tinh tế trong miêu tả tâm lý con người.
Hầu hết sáng tác của Hồ Phương là viết về cái anh hùng, cái tốt đẹp thật đáng ca ngợi nên có ý kiến “phê” nhà văn viết một chiều, đơn giản. Không phải thế! Đó mới là cái nhìn bề ngoài, nếu đi sâu vào các tầng nghĩa tác phẩm sẽ thấy khác. Như qua “Thư nhà” và “Cỏ non” vừa giới thiệu ở trên, sẽ thấy tác phẩm của Hồ Phương, ngoài sự phong phú, dồi dào chất đời thực còn sâu sắc một quan niệm sống phải hướng về phía cái thiện, cái tốt, cái đẹp. Đúng vậy, nhà văn còn kiến tạo những hình tượng mới mẻ vừa thật trong đời sống, vừa mới về triết lý nhân sinh qua các nhân vật: Cụ Nguyễn Sinh Sắc, Kan Lịch, chiến sĩ Cồn Cỏ...
Đóng góp của Hồ Phương ở thể loại tiểu thuyết nổi bật ở 3 tác phẩm: “Cánh đồng phía Tây”, “Những cánh rừng lá đỏ”, “Cha và con”. “Cánh đồng phía Tây” tái hiện một sự kiện lịch sử lớn thời chống Pháp là Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Nhờ có độ lùi thời gian 40 năm và vốn sống cùng sự suy ngẫm về lịch sử, về lối viết, tiểu thuyết này cung cấp những tư liệu mới, qua đó giúp bạn đọc hiểu thêm và cắt nghĩa vì sao chúng ta chiến thắng một thực dân đầu sỏ. Xuyên suốt tiểu thuyết là câu chuyện tình mang tính bi kịch của Nguyệt Lệ, Hồng Đăng, Dũng Linh như một lý giải tình yêu của mỗi công dân gắn liền với tình yêu đất nước. Đất nước tự do, giải phóng thì tình yêu cũng không chịu kiếp tù đày...
Với bút pháp hiện thực, “Những cánh rừng lá đỏ” miêu tả Chiến dịch Biên giới (1950) một cách như vốn có. Không chỉ là tái hiện, xử lý chi tiết hợp lý, nhuần nhuyễn, tiểu thuyết vươn tới cảm hứng sử thi hùng tráng rất đáng tự hào. Câu chuyện tình nồng nàn giữa Phấn (cô gái dân công vùng sơn cước) và Tuấn (một chỉ huy Quân đội) như một minh chứng đẹp cho tình đoàn kết quân dân. Đó là nguồn cội của chiến thắng. “Cha và con” dành phần lớn số trang miêu tả, khắc họa hình ảnh cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đáng kính, người cha của Chủ tịch Hồ Chí Minh, như một sự cắt nghĩa để có những anh hùng phải có những bậc cha mẹ anh hùng.
Ảnh hưởng của nếp nhà là rất quan trọng, góp phần vào sự trưởng thành của một nhân cách. Những điều ấy không mới nhưng thiết thực với hôm nay, khi mà văn hóa gia đình đang có nguy cơ xuống cấp, mai một. Bút pháp không gian theo bước nhân vật cứ mở ra giàu chất điện ảnh, từ làng Sen, làng Chùa, kinh đô Huế, Phan Thiết, Sài Gòn... Đây là một tiểu thuyết có cái nhìn mới về tiểu sử, cuộc đời của cụ Nguyễn Sinh Sắc và chân dung thời nhỏ đầy cá tính của Bác Hồ. Tiểu thuyết có lời giới thiệu trang trọng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp!
ST

BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT KỶ NIỆM 79 NĂM NGÀY THÀNH LẬP QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

 Kỷ niệm 79 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22.12.1944 – 22.12.2023), các đơn vị nghệ thuật của Hà Nội tổ chức nhiều đêm biểu diễn phục vụ nhân dân các quận, huyện, thị xã.

Theo đó, 7 đơn vị nghệ thuật trực thuộc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội sẽ tổ chức các đêm biểu diễn trong tháng 12. Cụ thể, Nhà hát Kịch Hà Nội sẽ có đêm diễn tại trung tâm huyện Ứng Hòa vào tối 20.12. Nhà hát Chèo Hà Nội sẽ biểu diễn tại trung tâm huyện Phúc Thọ vào tối 20.12 và tại trung tâm huyện Đan Phượng vào tối 22.12. Nhà hát Ca Múa Nhạc Thăng Long sẽ tổ chức 2 đêm diễn vào các tối: 19.12 tại trung tâm quận Ba Đình, tối 20.12 tại trung tâm quận Nam Từ Liêm.
Nhà hát Cải lương Hà Nội sẽ biểu diễn tại trung tâm huyện Ứng Hòa vào tối 21.12 và tại trung tâm huyện Đông Anh vào tối 22.12. Nhà hát Nghệ thuật Xiếc và tạp kỹ Hà Nội sẽ biểu diễn vào tối 21.12 tại trung tâm huyện Mê Linh. Nhà hát Múa Rối Thăng Long với 2 đêm diễn: tối 20.12 tại trung tâm huyện Hoài Đức và tối 21.12 tại sân khấu vườn hoa đền Bà Kiệu, Hoàn Kiếm. Trung tâm Văn hóa thành phố sẽ tổ chức 2 đêm diễn, dự kiến tại trung tâm thị xã Sơn Tây vào tối 20.12 và tại trung tâm huyện Gia Lâm vào tối 22.12.
Các chương trình nghệ thuật được dàn dựng công phu với nhiều tiết mục ca múa nhạc, kịch… đặc sắc mang chủ đề ca ngợi Đảng, Bác Hồ và tình yêu quê hương, đất nước, đặc biệt là những ca khúc về người lính./.
ST