Thứ Hai, 18 tháng 12, 2023

 

Hải Phòng cải thiện môi trường đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng và phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

(LLCT) - Hải Phòng là thành phố trực thuộc Trung ương, có nhiều lợi thế về phát triển sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch vụ… Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Hải Phòng luôn quan tâm tạo lập, cải thiện môi trường đầu tư để thu hút các nguồn lực. Bài viết làm rõ kết quả cải thiện môi trường đầu tư của Hải Phòng, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cải thiện môi trường đầu tư của Hải Phòng trong thời gian tới.


Ngày 24-01-2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 45-NQ/TW về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị là kết quả của quá trình chuẩn bị công phu, tổng kết sâu sắc cả về thực tiễn và lý luận 15 năm thực hiện Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 5-8-2003 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Việc ban hành Nghị quyết đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước đối với thành phố Hải Phòng. Bộ Chính trị đã xem xét toàn diện các yếu tố trước mắt và lâu dài, các mối quan hệ giữa thành phố với các địa phương khác trong vùng và cả nước, khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của Hải Phòng trong sự phát triển chung của đất nước,… Từ đó, đề ra chủ trương phát triển thành phố Hải Phòng với hệ quan điểm chỉ đạo, mục tiêu tổng quát, cụ thể và các nhóm nhiệm vụ, giải pháp nhằm phát huy những tiềm năng, lợi thế của Hải Phòng thành nguồn lực cho thực hiện các mục tiêu phát triển. Thực hiện Nghị quyết số 45-NQ/TW, việc cải thiện môi trường đầu tư (MTĐT) là vấn đề cấp thiết hàng đầu của Hải Phòng.

1. Quan điểm và mục tiêu của Đảng về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng 

Tại Nghị quyết số 45, Bộ Chính trị xác định rõ 5 quan điểm chỉ đạo là: 

Xây dựng và phát triển Hải Phòng trên cơ sở khai thác hiệu quả các lợi thế, tiềm năng, mối tương quan, liên kết với các tỉnh ven biển Bắc Bộ, khu vực đồng bằng sông Hồng, các tỉnh phía Bắc và kết nối quốc tế. Hải Phòng không chỉ là một cực phát triển quan trọng trong tam giác phát triển Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh mà còn là động lực phát triển của vùng Bắc Bộ và của cả nước. 

Chú ý giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển nhanh và bền vừng; giữa kế thừa và phát triển; giữa phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu, trong đó phát triển theo chiều sâu là chủ đạo, để Hải Phòng đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH của cả nước, sớm trở thành thành phố công nghiệp gắn với cảng biển phát triển hiện đại, thông minh, bền vững với những ngành mũi nhọn như kinh tế biển, cơ khí chế tạo, chế biến, điện tử, dịch vụ logistics, khoa học và công nghệ biển.

Các chủ trương, chính sách, dự án phát triển kinh tế - xã hội của Hải Phòng phải gắn liền với mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường, sinh thái; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, phát huy đầy đủ vai trò làm chủ của nhân dân; chú trọng chăm lo xây dựng đội ngũ công nhân Hải Phòng thực sự là lực lượng tiên phong trong CNH, HĐH; đẩy mạnh cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới phù hợp với tiến trình CNH và đô thị hóa.

Xây dựng và thực hiện các cơ chế, chính sách có tính đột phá, khả thi cao, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, tạo môi trường đầu tư, sản xuất kinh doanh hấp dẫn, thuận lợi, có khả năng cạnh tranh cao, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước. Chú trọng đầu tư phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo động lực đẩy mạnh CNH, HĐH. 

Tăng cường năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng; hiệu lực, hiệu quả quản lý của các cấp chính quyền; phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, truyền thống cách mạng của các tầng lóp nhân dân Hải Phòng.

Bộ Chính trị xác định mục tiêu xây dựng và phát triển Hải Phòng thành thành phố đi đầu cả nước trong sự nghiệp CNH, HĐH; động lực phát triển của vùng Bắc Bộ và của cả nước; có công nghiệp phát triển hiện đại, thông minh, bền vững; kết cấu hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại kết nối thuận lợi với trong nước và quốc tế bằng cả đường bộ, đường sắt, đường biển, đường hàng không; trọng điểm dịch vụ logistics; trung tâm quốc tế về giáo dục, đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ, kinh tế biển; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao ngang tầm với các thành phố tiêu biểu ở châu Á; trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm, quốc phòng, an ninh được giữ vững.

Trong đó, cụ thể đến năm 2025: Hải Phòng cơ bản hoàn thành sự nghiệp CNH, HĐH; đạt các tiêu chí đô thị loại I; trở thành thành phố công nghiệp theo hướng hiện đại; là trọng điểm kinh tế biển của cả nước, trung tâm dịch vụ logistics quốc gia, trung tâm đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ biển của cả nước, trung tâm nghề cá, dịch vụ hậu cần nghề cá và tìm kiếm cứu nạn khu vực phía Bắc; Cát Bà, Đồ Sơn cùng với Hạ Long trở thành trung tâm du lịch quốc tế. Hoàn thành việc di chuyển trung tâm hành chính thành phố sang phía Bắc sông Cấm; xây dựng chính quyền đô thị với bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Đến năm 2030, hải Phòng trở thành thành phố công nghiệp phát triển hiện đại, thông minh, bền vững tầm cỡ khu vực Đông Nam Á; trung tâm dịch vụ logistics quốc tế hiện đại bằng cả đường biển, đường hàng không, đường bộ cao tốc, đường sắt tốc độ cao; trung tâm quốc tế về đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ với các ngành nghề hàng hải, đại dương học, kinh tế biển. Cơ bản đạt các tiêu chí của đô thị loại đặc biệt. Hoàn thành việc chuyển đổi 50% số huyện thành đơn vị hành chính quận. Chính quyền đô thị được xây dựng và hoàn thiện phù hợp với yêu cầu của thành phố thông minh.

Tầm nhìn đến năm 2045: Hải Phòng trở thành thành phố có trình độ phát triển cao trong nhóm các thành phố hàng đầu châu Á và thế giới(1).

2. Thực trạng môi trường đầu tư của thành phố Hải Phòng 

MTĐT được hiểu là bao gồm các yếu tố, điều kiện về pháp luật, kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, các yếu tố về cơ sở hạ tầng, năng lực thị trường và cả các lợi thế của một quốc gia có ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư tại một quốc gia, là tập hợp các yếu tố đặc thù địa phương đang định hình cho các cơ hội và động lực giúp doanh nghiệp đầu tư có hiệu quả, tạo việc làm và mở rộng sản xuất, trên cơ sở đó làm tăng thu nhập. Trong xu thế hội nhập sâu rộng, với sự tác động mạnh mẽ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, xây dựng, cải thiện MTĐT có ý nghĩa, vai trò đặc biệt quan trọng, trực tiếp góp phần tạo cơ hội, thúc đẩy đầu tư phát triển nhanh, tạo động lực cho hoạt động đầu tư hiệu quả của mọi doanh nghiệp, mở rộng hoạt động, tạo công ăn việc làm cho người lao động, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội.

Hải Phòng là thành phố lớn, có lợi thế của thành phố là cảng biển, hạ tầng và truyền thống hoạt động sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch vụ, việc nâng cao hiệu quả cải thiện MTĐT càng trở nên thiết yếu. Nhận thức rõ vấn đề này, Đảng bộ thành phố đã quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của địa phương, để hoạch định chủ trương về xây dựng, cải thiện môi trường đầu tư, nhằm thu hút, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững. 

Các cấp ủy đảng đã triển khai đồng bộ các nhiệm vụ liên quan trực tiếp và gián tiếp về xây dựng, cải thiện MTĐT, hình thành môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh hơn, tăng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp và đáp ứng các yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; phù hợp với thể chế kinh tế thị trường, thông lệ, cam kết, chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở các Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XV nhiệm kỳ 2015-2020, lần thứ XVI nhiệm kỳ 2020 - 2025, Thành ủy đã chỉ đạo quán triệt, thực hiện xây dựng, cải thiện MTĐT một cách đồng bộ, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ phát triển thành phố từng giai đoạn.

Nhờ đó, trong những năm qua, MTĐT, hoạt động sản xuất kinh doanh của Hải Phòng được cải thiện mạnh mẽ, việc huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển đạt mức cao. 

 Trong tổng thể kinh tế - xã hội của Hải Phòng, ba trụ cột kinh tế (công nghiệp công nghệ, cảng biển - logistics, du lịch - thương mại) có bước phát triển vượt bậc và đóng góp quan trọng nhất cho sự phát triển của thành phố. Trong đó, ngành công nghiệp được điều chỉnh cơ cấu, phát triển theo hướng công nghiệp công nghệ cao, thân thiện môi trường, với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng bình quân 20,64%/năm, gấp 2,12 lần giai đoạn 2010 - 2015 và hơn hai lần tốc độ tăng chung của cả nước. Cảng biển quốc tế Hải Phòng đã đưa vào vận hành hai bến khởi động, đủ khả năng tiếp nhận tàu có tải trọng 200 nghìn tấn.

Trong 5 năm 2015-2020, Hải Phòng thu hút đầu tư đạt 564.295 tỷ đồng, gấp 3 lần 5 năm trước đó.Trong đó, vốn khu vực ngoài nhà nước và FDI đạt 532.150 tỷ đồng, gấp 6,14 lần so với nhiệm kỳ trước. Vốn đăng ký đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 9,41 tỷ USD, gấp 1,23 lần nhiệm kỳ trước. Chủ trương đổi mới công tác đầu tư, khơi thông mọi tiềm năng, huy động mọi nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển đã đạt bước đột phá quan trọng với cơ cấu vốn đầu tư chuyển mạnh theo hướng xã hội hóa. Vốn đầu tư từ nguồn lực xã hội chiếm khoảng 90%, vốn đầu tư từ ngân sách là 10%(2)

Từ nguồn vốn đầu tư phát triển huy động được, Hải Phòng đã phát triển mạnh mẽ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, trước hết là kết cấu hạ tầng giao thông. Cùng với không gian đô thị, thành phố Hải Phòng triển khai đồng bộ kết cấu hạ tầng với những bước phát triển đột phá mới. 

Trong tổng thể kinh tế - xã hội của Hải Phòng, ba trụ cột kinh tế (công nghiệp công nghệ, cảng biển - logistics, du lịch - thương mại) có bước phát triển vượt bậc và đóng góp quan trọng nhất cho sự phát triển của thành phố. Trong đó, ngành công nghiệp được điều chỉnh cơ cấu, phát triển theo hướng công nghiệp công nghệ cao, thân thiện môi trường, với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng bình quân 20,64%/năm, gấp 2,12 lần giai đoạn 2010 - 2015 và hơn hai lần tốc độ tăng chung của cả nước. Cảng biển quốc tế Hải Phòng đã đưa vào vận hành hai bến khởi động, đủ khả năng tiếp nhận tàu có tải trọng 200 nghìn tấn.

Bên cạnh kết quả đạt được, công tác xây dựng, cải thiện MTĐT Hải Phòng cũng còn những hạn chế: Chưa ban hành được nhiều cơ chế, chính sách có tính đột phá, làm đòn bẩy để tạo ra những nguồn lực mới, những chuyển biến mang tính bước ngoặt, thúc đẩy mạnh mẽ phát triển kinh tế - xã hội. Công tác chỉ đạo, điều hành, quản lý nhà nước của một số cấp, ngành, địa phương, cơ sở còn yếu kém, nhất là trong các lĩnh vực quản lý về xây dựng MTĐT, quy hoạch, quản lý đất đai, tài nguyên, bảo vệ môi trường. Một số ngành kinh tế phát triển chưa tương xứng với lợi thế, tiềm năng của thành phố. 

2. Mục tiêu và một số giải pháp 

Hải Phòng xác định mục tiêu giai đoạn 2020-2025 tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 1.200 nghìn tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu đến năm 2025 đạt 35 tỷ USD. Sản lượng hàng hóa thông qua các cảng trên địa bàn năm 2025 đạt 300 triệu tấn(3). Để thực hiện có hiệu quả công tác cải thiện MTĐT, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết của Đảng bộ thành phố nhiệm kỳ 2020-2025, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận trong cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với việc xây dựng, cải thiện môi trường đầu tư 

Tuyên truyền nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, tổ chức đảng, chính quyền và các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò của việc xây dựng môi trường đầu tư có ý nghĩa quan trọng trong hoạch định chủ trương, chỉ đạo, tổ chức xây dựng, cải thiện MTĐT. Bởi chỉ có trên cơ sở nhận thức đúng, thì mới có những đầu tư thỏa đáng trong hoạch định chủ trương, chỉ đạo, tổ chức thực hiện xây dựng MTĐT hiệu quả. 

Thực tế, trước năm 2005, nhận thức của các chủ thể, các lực lượng liên quan xây dựng MTĐT chưa đầy đủ, coi việc xây dựng MTĐT chỉ là của một số ít ngành, cơ quan chức năng nhà nước. Do vậy, việc xác định nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận trong xây dựng, cải thiện môi trường, thu hút đầu tư phải được đặt lên nhiệm vụ hàng đầu của cả hệ thống chính trị.

Nhiệm vụ này cần được quán triệt sâu rộng trong toàn hệ thống chính trị, được tuyên truyền tới toàn thể đội ngũ cán bộ lãnh đạo thành phố, lãnh đạo các sở, ngành, chính quyền các cấp, cán bộ, đảng viên để nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận về vai trò của xây dựng MTĐT đối với phát triển kinh tế - xã hội; sự thống nhất nhận thức về thực trạng của môi trường đầu tư và sự cần thiết phải xây dựng, cải thiệnMTĐT để thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH. Tuyên truyền giúp nhân dân nhận thức rõ mục tiêu của thu hút đầu tư để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ, đẩy mạnh CNH, HĐH.

Đặc biệt, phải tuyên truyền để thống nhất trong cấp ủy, chính quyền các cấp và nhân dân các nội dung chủ yếu liên quan đến MTĐT nhằm thực hiện tốt quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, định hướng giải phápmà Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định, đó là: “Xây dựng và thực hiện các cơ chế, chính sách có tính đột phá, khả thi cao, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường đầu tư, sản xuất kinh doanh hấp dẫn, thuận lợi, có khả năng cạnh tranh cao, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước. Chú trọng đầu tư phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố Hải Phòng”(4).

Trước hết là thực hiện các mục tiêu đến năm 2025 đã được Đại hội Đảng bộ thành phố xác định: “Đến năm 2025, thành phố Hải Phòng cơ bản hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; trở thành thành phố công nghiệp theo hướng hiện đại; là trọng điểm phát triển kinh tế biển, trung tâm du lịch quốc tế; hoàn thành các tiêu chí đô thị loại I;… tạo nền tảng vững chắc để trở thành thành phố công nghiệp phát triển hiện đại, văn minh, bền vững tầm cỡ khu vực Đông Nam Á vào năm 2030”(5).

Tuyên truyền vận động để cán bộ, đảng viên, nhân dân nhận thức rõ hiệu quả của nền sản xuất nông nghiệp hiện nay là rất thấp, do vậy, cùng với giữ vững kinh tế nông nghiệp bảo đảm an ninh lương thực, cần thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ. Tăng cường tuyên truyền, phổ biển, giáo dục chính sách, pháp luật liên quan đến cải thiện MTĐT, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh bằng nhiều hình thức trong các lĩnh vực phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, hỗ trợ doanh nghiệp. Tăng cường tuyên truyền giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ, công chức, làm thay đổi tư duy, nhận thức, đáp ứng yêu cầu đổi mới. Tạo sự thống nhất cao trong nhận thức từ lãnh đạo thành phố tới các sở, ban, ngành, chính quyền các cấp về thu hút đầu tư là yếu tố quyết định cho sự tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo. 

Hai là, đổi mới cơ chế, chính sách, tạo môi trường pháp lý cho hoạt động đầu tư

Xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách là một trong những nội dung quan trọng để xây dựng MTĐTthuận lợi. Thông qua đó, các chủ đầu tư nắm được thực trạng cơ sở hạ tầng, những vấn đề ưu đãi đối với các ngành, lĩnh vực, những khó khăn và hướng phát triển của lĩnh vực, ngành mà chủ thể có ý định đầu tư. Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị đã nêu rõ: “Không ngừng cải thiện, tạo lập môi trường đầu tư, sản xuất, kinh doanh có sức hấp dẫn, cạnh tranh cao. Đẩy mạnh xã hội hóa, thu hút đầu tư, nhất là theo hình thức hợp tác công - tư (PPP);… Nghiên cứu thực hiện thí điểm một số cơ chế, chính sách mới, có tính đột phá, đặc thù cho thành phố Hải Phòng, đặt trong mối tương quan hợp lý với các thành phố lớn khác trong cả nước; thực hiện phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm của chính quyền địa phương, người đứng đầu trong một số lĩnh vực như quản lý quy hoạch, đất đai, quản lý đô thị, đầu tư, tài chính - ngân sách, tổ chức, nhân sự và tiền lương”(6).

Cụ thể hóa Nghị quyết của Bộ Chính trị, Đảng bộ thành phố Hải Phòng đã nêu rõ: Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố; tiếp tục tăng cường kỷ cương thu, chi ngân sách, cải thiện MTĐT kinh doanh; khơi dậy mọi tiềm năng, lợi thế, thu hút nguồn lực tập trung phát triển đột phá hạ tầng giao thông, đô thị, ba trụ cột kinh tế của thành phố. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững. Thu hút các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn, giữ vai trò dẫn dắt, có sức lan tỏa đầu tư vào thành phố. Chủ động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài có chọn lọc, phù hợp với định hướng cơ cấu nền kinh tế và yêu cầu phát triển bền vững.

Thành phố xác định cần tiếp tục chỉ đạo triển khai thực hiện tốt và giám sát việc thực thi pháp luật như: Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật môi trường...  và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan. Cải thiện môi trường pháp lý trong quá trình thực thi pháp luật, đó là tiến hành triển khai cơ chế, chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư phù hợp với thực tiễn, đặc thù của địa phương. 

Kết hợp với các khung quy định của cấp trên, thành phố chủ động triển khai xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách và các công cụ hỗ trợ liên quan đến đầu tư và quản lý hoạt động đầu tư của cấp chính quyền. Đồng thời, tổng kết thành dữ liệu đầu tư theo các chuyên đề: chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư liên quan đến chi phí thuê lao động, thuế tiếp cận đất đai, chế độ hưởng chi phí giải phóng mặt bằng...; lĩnh vực đầu tư trong các khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp và khu công nghệ cao...; vùng được hưởng chế độ ưu tiên.

Ba là, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng cao tính minh bạch và chất lượng thực thi công vụ và hiệu quả cải thiện môi trường đầu tư

Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị đã nêu rõ: “cải cách hành chính, đặc biệt là trong các lĩnh vực cấp phép đầu tư, tiếp cận đất đai và các nguồn lực, dịch vụ tài chính - ngân hàng, thủ tục hải quan, cải cách thuế quan, giảm tối đa chi phí logistics, minh bạch hóa công tác thanh tra, kiểm tra”(7). Đồng thời, Bộ Chính trị yêu cầu phát triển mạnh các thành phần kinh tế để tạo đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, đặc biệt là trong các ngành kinh tế mũi nhọn, có lợi thế; Tập trung thực hiện sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu thông qua tạo lập MTĐT thuận lợi, tránh việc cạnh tranh dẫn đến cắt giảm thuế, phí quá mức, gây bất bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, gây thất thoát ngân sách nhà nước. 

Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, thành phố Hải Phòng đã “quyết liệt trong việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, trọng tâm là đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, xây dựng chính quyền điện tử, nâng cao chất lượng công vụ của bộ máy hành chính. Phấn đấu Hải Phòng là một trong những địa phương đi đầu trong việc xây dựng chính quyền điện tử, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, cởi mở, thông thoáng”(8).

Trong đó, tập trung thực hiện phát triển hạ tầng số đồng bộ, hiện đại và cung cấp các dịch vụ giải pháp, hệ thống thông tin nền tảng số… để đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi từ chính quyền điện tử sang chính quyền số, đáp ứng nhu cầu ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện chuyển đổi số cho các cơ quan nhà nước và các tổ chức, công dân trên địa bàn thành phố. 

Cùng với đó, thực hiện cung cấp các dịch vụ giải pháp, hệ thống thông tin nền tảng số; triển khai thí điểm mô hình chuyển đổi số trong một số cơ quan, đơn vị giúp đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi từ chính quyền điện tử sang chính quyền số thành phố Hải Phòng, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, cởi mở, thông thoáng. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững. Thu hút các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn, giữ vai trò dẫn dắt, có sức lan tỏa đầu tư vào thành phố. Chủ động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài có chọn lọc, phù hợp với định hướng cơ cấu nền kinh tế và yêu cầu phát triển bền vững.

Phát huy tốt vai trò của các cơ quan thông tin đại chúng trong việc tuyên truyền đẩy mạnh cải cách hành chính. Hằng năm, các cấp ủy đảng và người đứng đầu các cơ quan, đơn vị lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chương trình, kế hoạch thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính của địa phương, cơ quan, đơn vị mình một cách phù hợp, cụ thể, quyết liệt và hiệu quả; gắn thực hiện cải cách hành chính nhà nước với đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh.

_________________

Ngày nhận bài: 27-7-2023; Ngày bình duyệt: 29-7-2023; Ngày duyệt đăng: 12-8-2023.

 (1), (4), (6), (8) Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24-01-2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

(2), (3) Cổng thông tin điện tử thành phố Hải Phòng: Hải Phòng nỗ lực đổi mới, https://haiphong.gov.vn/tin-tuc-su-kien/Hai-Phong-no-luc-doi-moi-53744.html

(5), (7) Đảng bộ thành phố Hải Phòng: Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hải Phòng lần thứ XV nhiệm kỳ 2020 - 2025, Hải Phòng, 2020.

Nguồn: NGUYỄN TRUNG DŨNG

Học viện Chính trị Công an nhân dân


 

Phát huy giá trị của di sản văn hóa trong phát triển du lịch ở Thái Nguyên hiện nay


(LLCT) - Thái Nguyên có nhiều tiềm năng, lợi thế về tự nhiên và nhân văn, vị trí địa lý, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử… để phát triển kinh tế du lịch với các loại hình như: du lịch về nguồn, du lịch sinh thái nghỉ dưỡng, du lịch cộng đồng, du lịch làng nghề gắn với các vùng chè... Bài viết làm rõ tiềm năng, thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát huy giá trị của di sản văn hóa trong phát triển du lịch ở tỉnh Thái Nguyên.
 



1. Tiềm năng di sản văn hóa trong phát triển du lịch Thái Nguyên

Tỉnh Thái Nguyên thuộc khu vực trung du và miền núi phía Bắc với diện tích tự nhiên 3.526,64km², là vùng đất được hình thành từ lâu đời, nơi hội tụ, giao lưu, sinh sống của 46 dân tộc, trong đó có 8 dân tộc có dân số đông trên 2.000 người là: Kinh, Tày, Dao, Nùng, Sán Dìu, Sán Chay, Mông, Hoa(1). Do là nơi sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số nên văn hóa tộc người biểu hiện rất đa dạng và độc đáo, tạo nên dấu ấn riêng trong văn hóa của địa phương.

Thái Nguyên có một kho tàng di sản văn hóa lớn, với trên 1.000 di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh được đưa vào danh mục kiểm kê. Trong đó có 01 di tích được xếp hạng cấp quốc gia đặc biệt với 13 điểm di tích; 52 di tích được xếp hạng cấp quốc gia và 221 di tích xếp hạng cấp tỉnh; 19 di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia(2).

Là “Thủ đô gió ngàn” gắn với nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc, có nhiều khu di tích lịch sử, cách mạng như: ATK (Định Hóa), có các di tích địa điểm công bố Ngày Thương binh liệt sĩ toàn quốc 27-7, nơi thành lập cơ sở đảng đầu tiên của tỉnh Thái Nguyên; khu di tích đền thờ Lý Nam Đế (Đền Mục) xã Tiên phong; khu di tích Mai Sơn (Kha Sơn); di tích lịch sử thanh niên xung phong đại đội 915 (Gia Sàng); quần thể di tích núi Văn - núi Võ; cụm di tích khởi nghĩa Thái Nguyên 1917;…

Thái Nguyên có nhiều danh thắng nổi tiếng như: hồ Núi Cốc; hồ Suối Lạnh; hồ Vai Miếu; hồ Ghềnh Chè… với cảnh quan đẹp, không khí trong lành, thu hút được nhiều khách tham quan du lịch.

Thái Nguyên có hệ thống hang động tự nhiên, hoang sơ, được che phủ bởi những tán rừng xanh tạo nên cảnh quan hấp dẫn, kỳ thú. Một số hang động mới được khai thác trong thời gian gần đây để phục vụ phát triển du lịch như chùa Hang (huyện Định Hóa), hang Phượng Hoàng - suối Mỏ Gà (huyện Võ Nhai) và nhiều hang động khác có tiềm năng lớn cho phát triển du lịch khám phá thiên nhiên, như: hang Sa Khao (huyện Võ Nhai), hang Chùa (huyện Đồng Hỷ),…

Về di tích lịch sử văn hóa tâm linh, trên địa bàn tỉnh có khu di tích khảo cổ học Thần Sa, chùa Phủ Liễn, chùa Đán, chùa Ha, chùa Thiên Tây Trúc, đình Hộ Lệnh, đình Phương Độ, đền Lục Giác, đền Đuổm,...

Cùng với các di tích lịch sử, các di sản văn hóa truyền thống, đậm đà bản sắc như múa, hát, nghi lễ dân gian, cũng được lưu giữ, phát huy giá trị, như: lễ hội Lồng Tồng, lễ hội Đình - Đền - Chùa Cầu Muối; lễ hội đền Đuổm, lễ hội đình Phương Độ, lễ hội Chùa Hang, lễ hội múa rối Tày Thẩm Rộc - Định Hóa, Lễ hội Đền Giá,...

Di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu gồm: văn hóa trà Thái Nguyên, múa Tắc Xình - Sinh Ca, hát Then, Soọng Cô, Pả Dung, hát ví Bên Sông Cầu,...

Làng nghề truyền thống của tỉnh Thái Nguyên gồm: vùng chè Tân Cương, vùng chè Minh Lập (Đồng Hỷ), vùng chè Trại Cài, vùng chè Tức Tranh, Vô Tranh, Phú Đô (Phú Lương), vùng chè La Bằng (Đại Từ),...

Sản phẩm văn hóa ẩm thực đặc sắc như gạo bao thai Định Hóa, nấm hương, măng, trám, miến Việt Cường, nếp Thầu Dầu Phú Bình, nếp Vải Ôn Lương,...

Phong cảnh hữu tình, núi non hùng vĩ, nhiều di tích lịch sử, văn hóa… là tiềm năng, lợi thế để tỉnh Thái Nguyên phát triển các sản phẩm du lịch độc đáo, đặc trưng, tạo điểm nhấn thu hút du khách.

2. Thực trạng phát huy giá trị các di sản văn hóa trong phát triển du lịch ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay

 Nhận thức rõ những tiềm năng và lợi thế về du lịch, trong những năm qua, Chính phủ, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành nhiều nghị quyết, quyết định, đề án…để đẩy mạnh phát triển kinh tế du lịch.

Ngày 18-11-2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2228/QĐ-TTg về việc “Quy hoạch phát triển tổng thể khu du lịch quốc gia Hồ Núi Cốc tỉnh Thái Nguyên đến năm 2025, định hướng đến 2030”; Tỉnh ủy Thái Nguyên đã ban hành Nghị quyết số 08/NQ-TU ngày 8-8-2018 về định hướng phát triển du lịch tỉnh Thái Nguyên đến năm 2030; năm 2015, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên ban hành Kế hoạch số 30/KH - UBND thực hiện Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020”; năm 2021, Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Nguyên ban hành Nghị quyết số 25/2021/NQ - HĐND Quy định chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2022 - 2025.

 Ngày 14-04 -2021, Ủy ban Nhân dân tỉnh Thái Nguyên ra Quyết định số 1114/QĐ-UBND về việc ban hành Đề án Phát triển du lịch tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030 với mục tiêu đưa Thái Nguyên trở thành trung tâm du lịch của khu Việt Bắc với việc phát huy các di sản văn hóa đặc sắc nổi tiếng. Thực hiện các chủ trương, kế hoạch trên, du lịch Thái Nguyên đã và đang trở thành ngành kinh tế quan trọng của địa phương với sản phẩm du lịch đa dạng, chất lượng ngày càng được nâng cao, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thúc đẩy Thái Nguyên thành điểm đến du lịch đặc sắc, tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của tỉnh.

Việc phát huy giá trị các di sản văn hóa trong phát triển kinh tế du lịch ở tỉnh Thái Nguyên được thể hiện rõ ở các loại hình:

Du lịch cộng đồng

Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch có sự tham gia của cộng đồng dân cư vào chuỗi cung ứng và quản lý du lịch. Mô hình du lịch cộng đồng được hình thành và phát triển dựa trên cơ sở văn hóa do cộng đồng dân cư ở khu vực bản địa quản lý, tổ chức và hưởng lợi. Trải nghiệm du lịch cộng đồng, du khách được tham gia cùng cuộc sống của người dân, được tham gia các hoạt động, sinh hoạt thường ngày cùng cộng đồng dân cư bản địa. Đây là cơ hội để du khách khám phá, tìm hiểu về văn hóa, giá trị truyền thống của địa phương. Du lịch cộng đồng phát huy hiệu quả, giúp người dân tạo sinh kế, tăng thu nhập và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống. Thái Nguyên là địa phương có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch cộng đồng. Trong thời gian qua, hoạt động du lịch cộng đồng gắn với khai thác các di sản văn hóa đã từng bước được đầu tư, khai thác và đã đạt được một số kết quả nhất định, bước đầu hình thành một số sản phẩm du lịch tiêu biểu như: Khu bảo tồn làng nhà sàn dân tộc sinh thái Thái Hải, Không gian văn hóa Trà - vùng chè Tân Cương, Làng văn hóa dân tộc Bản Quyên,… Gắn với chương trình mỗi xã một sản phẩm OCOP  giai đoạn 2018 - 2020, khu bảo tồn làng nhà sàn dân tộc sinh thái Thái Hải là điểm đầu tiên ở Thái Nguyên được xếp hạng 4 sao trong nhóm dịch vụ du lịch nông thôn và điểm du lịch. Ngoài ra, một số hộ gia đình bước đầu phát triển dịch vụ homestay, thu hút du khách.

Du lịch văn hóa, lịch sử, tâm linh

Thái Nguyên có nhiều điều kiện để phát triển du lịch văn hóa, lịch sử, tâm linh dựa trên lợi thế về văn hóa của địa phương. Khu di tích lịch sử sinh thái ATK Định Hóa được công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt năm 2012 với 13 điểm di tích và là địa chỉ đỏ trong chương trình du lịch về nguồn của tỉnh Thái Nguyên. Hằng năm, khu di tích đón hơn 600 nghìn lượt khách(3). Các điểm đến trong chương trình du lịch văn hóa, tâm linh, về nguồn tiêu biểu như: Khu di tích lịch sử quốc gia Đại đội 915, Đội 91 Bắc Thái; khu di tích Lý Nam Đế; địa điểm công bố Ngày Thương binh, liệt sỹ 27-7; quần thể núi Văn - núi Võ; Bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam; đền Đuổm; chùa Hang; chùa Phủ Liễn; đình - đền - chùa Cầu Muối,...

Sản phẩm du lịch văn hóa, tâm linh, lịch sử, về nguồn có nhiều điểm đến đặc sắc của Thái Nguyên, nhưng việc khai thác phát triển du lịch chưa thật sự hiệu quả, khách du lịch chủ yếu đi trong ngày, chưa có các dịch vụ du lịch bổ trợ giữ khách lưu lại dài ngày.

Du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch kết hợp sự kiện, hội nghị, hội thảo (MICE)

Sản phẩm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng trọng điểm ở Thái Nguyên hiện nay là Khu du lịch quốc gia Hồ Núi Cốc (đã được Thủ tướng phê duyệt theo Quyết định số 2228/QĐ-TTg) với các loại hình du lịch như tham quan, nghỉ dưỡng, mua sắm, vui chơi giải trí, phù hợp với nhiều đối tượng khách, chủ yếu từ Thành phố Hà Nội và các tỉnh lân cận như: Lạng Sơn, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh,... Hằng năm khu du lịch này đón khoảng 300 nghìn lượt khách. Bên cạnh đó, một số điểm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng được đầu tư, đưa vào đón khách như: khu du lịch hang Phượng Hoàng - suối Mỏ Gà (đón khoảng 150 nghìn lượt khách/năm)(4); khu vực sườn Đông Tam Đảo với các điểm nổi bật như Khe Lánh - Khe Đù, hồ Vai Miếu, hồ Ghềnh Chè, hồ Suối Lạnh, thác Cửa Tử, suối Kẹm,…

Mặc dù có nhiều tài nguyên du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng đa dạng, hấp dẫn nhưng hiện loại hình du lịch này chưa được đầu tư tương xứng với tiềm năng, chưa thu hút được các nhà đầu tư lớn; các doanh nghiệp khai thác du lịch với quy mô còn hạn chế, chưa xây dựng được các sản phẩm dịch vụ bổ trợ, vui chơi giải trí thu hút khách du lịch lưu lại.

Du lịch thể thao, khám phá hang động

Với lợi thế là tỉnh trung tâm về kinh tế, văn hóa, giáo dục của khu vực các tỉnh miền núi phía Bắc, có các khu công nghiệp công nghệ cao quy mô lớn, gần Thủ đô Hà Nội, hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, cơ sở vật chất kỹ thuật đang được hoàn thiện tương đối tốt, sản phẩm MICE, thể thao, khám phá hang động mạo hiểm đang được tạo điều kiện thuận lợi phát triển tại một số điểm như: Khu du lịch quốc gia Hồ Núi Cốc, khu vực sườn Tây, sườn Đông dãy Tam Đảo, khu bảo tồn làng nhà sàn sinh thái Thái Hải, khu vực Đồng Hỷ - Võ Nhai…

Bên cạnh đó, tỉnh Thái Nguyên đang kêu gọi đầu tư xây dựng 3 sân golf nhằm tạo sản phẩm du lịch phong phú, có chất lượng, đầu tư xây dựng các trung tâm tổ hợp thể thao liên hoàn tại thành phố Thái Nguyên phục vụ tổ chức các giải thể thao quốc gia, khu vực nhằm thu hút khách du lịch đến Thái Nguyên như: giải golf, giải chạy marathon, leo núi, khám phá hang động mạo hiểm…

Trong những năm qua, sản phẩm du lịch khám phá hang động mạo hiểm của Thái Nguyên chưa được đầu tư khai thác nhiều. Đến nay, chỉ có một số hang động mới đi vào hoạt động phục vụ khách du lịch như: chùa Hang (huyện Định Hóa), Hang Phượng Hoàng - suối Mỏ Gà (huyện Võ Nhai).

Nhờ khai thác tốt các di sản văn hóa phục vụ du lịch nên kinh tế du lịch Thái Nguyên dần khẳng định thương hiệu và đang trên đà phát triển. Một số khu du lịch đã phát triển được các sản phẩm du lịch đặc thù bằng cách khai thác các di sản văn hóa để phát triển. Hệ thống hạ tầng giao thông, cơ sở vật chất kỹ thuật đã được đầu tư nâng cấp, trước mắt đáp ứng được nhu cầu cơ bản cho khai thác các di sản văn hóa để phát triển du lịch; công tác quảng bá các di sản văn hóa được chú ý đầu tư và mở rộng; công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ khai thác các di sản văn hóa cho du lịch từng bước được nâng cao. Công tác quản lý nhà nước về khai thác các di sản văn hóa cho phát triển du lịch được quan tâm. Chính vì vậy, ngành du lịch đã từng bước khẳng định vị trí và vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh.

Tuy nhiên, việc khai thác các di sản văn hóa phục vụ phát triển kinh tế du lịch ở Thái Nguyên vẫn còn một số hạn chế nhất định. Sản phẩm du lịch của tỉnh chưa có sự khác biệt rõ rệt so với các tỉnh trong vùng, khả năng cạnh tranh chưa cao. Công tác quảng bá di sản văn hóa, xúc tiến du lịch còn hạn chế; nội dung chưa phong phú, thiếu tính chuyên nghiệp; nguồn lực đầu tư cho xúc tiến quáng bá di sản văn hóa nói riêng, du lịch nói chung còn hạn hẹp, nhất là đối với công tác khảo sát, nghiên cứu các di sản văn hóa, thị trường du lịch.

Tốc độ tăng trưởng chung của ngành du lịch, đặc biệt là tốc độ tăng trưởng khách du lịch từ năm 2020 giảm mạnh do ảnh hưởng của đại dịch Covid -19. Số lượt khách du lịch đến Thái Nguyên năm 2020 là 1.183.000 lượt khách (thấp nhất tính từ năm 2010 cho đến nay)(5). Hạ tầng phục vụ khai thác di sản văn hóa cho phát triển du lịch chưa đáp ứng được nhu cầu; các khu, điểm du lịch phát triển chậm, thiếu những khu du lịch cao cấp (năm 2020 trong tổng số 450 cơ sở lưu trú du lịch chỉ có 50 cơ sở lưu trú đạt chuẩn khách sạn)(6).

Nguồn nhân lực trong ngành du lịch, đặc biệt là đội ngũ hướng dẫn viên, thuyết minh viên, nhân viên kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng, thái độ phục vụ, ngoại ngữ, các đơn vị kinh doanh du lịch chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ, vốn, nhân lực và kinh nghiệm quản lý còn hạn chế. Nhận thức của một bộ phận không nhỏ dân cư về khai thác di sản văn hóa cho phát triển du lịch còn hạn chế.

3. Một số giải pháp phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch Thái Nguyên hiện nay

Thứ nhất, tuyên truyền nâng cao nhận thức của cán bộ, nhân dân địa phương về việc phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch

Để nâng cao hiệu quả khai thác các di sản văn hóa trong phát triển du lịch ở Thái Nguyên hiện nay, trước hết cần đổi mới nhận thức của cán bộ và nhân dân địa phương về vai trò của các di sản văn hóa trong phát triển du lịch. Tổ chức các hoạt động tuyên truyền bằng nhiều hình thức, để từ đó hình thành văn hóa du lịch, kỹ năng làm du lịch cho các tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng; thường xuyên phối hợp với các tổ chức, cá nhân mở các lớp bồi dưỡng nhằm tuyên truyền những nội dung về bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn di sản văn hóa, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên.

Muốn bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa cho phát triển du lịch, cần nâng cao nhận thức của cộng đồng, từ đó giúp họ điều chỉnh hành vi. Khi nhận thức của người dân về vấn đề này được nâng cao thì vai trò của họ trong việc tham gia vào quan lý, tôn tạo, bảo tồn và phát huy giá trị các di tích ngày càng cao. Vì vậy, cộng đồng dân cư địa phương phải tham gia vào hoạt động quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích cho phát triển kinh tế - xã hội. Sự ủng hộ của cộng đồng, phát huy vai trò của nhân dân là yếu tố quan trọng, bởi vì chính cộng đồng tạo ra di tích và cũng chính cộng đồng là người sử dụng di tích, tham gia quản lý, bảo vệ di tích.

Thứ hai, làm tốt công tác quản lý nhằm khai thác các sản phẩm du lịch gắn với văn hóa trà trong phát triển kinh tế du lịch. Cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện môi trường đầu tư, đơn giản hóa các thủ tục cấp chứng nhận đầu tư du lịch và các thủ tục liên quan đến hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch; ưu tiên đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt là các tuyến đường giao thông liên kết các khu, điểm du lịch. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để quản lý tốt các hoạt động khai thác di sản văn hóa cho phát triển du lịch; xây dựng quy chế phối hợp quản lý du lịch giữa ngành du lịch, chính quyền địa phương và các ngành, lĩnh vực liên quan. Đẩy mạnh công tác chuyển đổi số trong quản lý nhà nước về khai thác di sản văn hóa cho phát triển du lịch cũng như quảng bá các di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch.

Thứ ba, xây dựng, quảng bá thương hiệu du lịch và hợp tác, hội nhập quốc tế về du lịch. Để thu hút khách du lịch tại các điểm đến du lịch cần xây dựng chiến lược, kế hoạch quảng bá các di sản văn hóa với tâm điểm là du lịch kết hợp với các dịch vụ địa phương có thể cung ứng như di chuyển, lưu trú, ăn uống... trong từng giai đoạn và hằng năm. Chú trọng các phương thức quảng bá di sản văn hóa, sản phẩm du lịch thông qua công nghệ truyền thông như: Các kênh review du lịch trên mạng xã hội (facebook, youtube), cổng thông tin du lịch thông minh,... Có cơ chế khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng hệ thống quầy hàng trưng bày và bán sản phẩm hàng lưu niệm, quà tặng du lịch đặc thù của địa phương; thiết kế bộ sản phẩm hàng lưu niệm, quà tặng có liên quan đến văn hóa Trà Thái Nguyên. Ngoài ra, cần tiếp tục tăng cường công tác xúc tiến quảng bá ở nước ngoài bằng nhiều hình thức và thông qua các chương trình hợp tác của tỉnh.

Thứ tư, phát triển đa dạng các sản phẩm du lịch gắn với khai thác các di sản văn hóa. Trong thời gian tới, cần tận dụng những tiềm năng, lợi thế về du lịch của tỉnh để khai thác đa dạng các sản phẩm du lịch. Trong đó, đặc biệt chú trọng đến du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, thể thao, vui chơi giải trí và du lịch MICE. Tập trung xây dựng mô hình du lịch cộng đồng nông nghiệp gắn với khai thác các di sản văn hóa, trong đó có văn trà, nhằm tạo ra sản phẩm du lịch hấp dẫn, hỗ trợ các sản phẩm du lịch khác như du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm, khám phá thiên nhiên…

Căn cứ vào lợi thế về du lịch, theo Kế hoạch triển khai Đề án du lịch của tỉnh, đến năm 2025, tỉnh Thái Nguyên dự kiến công nhận ít nhất 5 điểm du lịch cấp tỉnh, xây dựng ít nhất 05 điểm du lịch cộng đồng gắn với văn hóa trà, du lịch về nguồn; đến năm 2030 đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt công nhận Khu du lịch quốc gia Hồ Núi Cốc; thu hút đầu tư sản phẩm hang động mạo hiểm – thể thao trở thành sản phẩm độc lập, có sức hấp dẫn cao; phấn đấu trở thành điểm đến về du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, cộng đồng - sinh thái, du lịch văn hóa, lịch sử, tâm linh, về nguồn(7).

Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực du lịch. Trong thời gian qua, chất lượng nguồn nhân lực du lịch của tỉnh chưa đáp ứng được yêu cầu. Vì vậy, ngành du lịch cần tập trung nâng cao chất lượng đào tạo, kỹ năng thực hành nhằm chuyển tải tối đa hàm lượng văn hóa vào trong các sản phẩm du lịch. Để phát triển nguồn nhân lực du lịch có chất lượng, cần đa dạng các hình thức đào tạo, đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích doanh nghiệp tham gia đào tạo nhân lực du lịch; chú trọng đào tạo kỹ năng nghề và kỹ năng mềm cho lực lượng lao động trực tiếp phục vụ du lịch, đặc biệt là đội ngũ hướng dẫn viên, thuyết minh viên du lịch tại khu, điểm du lịch; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho cộng đồng dân cư tham gia kinh doanh du lịch, góp phần quảng bá điểm đến, hình ảnh du lịch của địa phương. Phát huy lợi thế các cơ sở đào tạo, trường đào tạo nghề du lịch trên địa bàn để nâng cao chất lượng lao động chuyên nghiệp cho các doanh nghiệp du lịch trong tỉnh; khuyến khích hình thành đội ngũ tình nguyện viên hướng dẫn, hỗ trợ khách du lịch.

Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch, Đề án phát triển du lịch tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030 đề ra lộ trình đào tạo dự kiến bao gồm hai giai đoạn:

Giai đoạn 2021-2025, đào tạo, bồi dưỡng 3.500 lao động trực tiếp (số lao động du lịch trực tiếp năm 2020 khoảng 3.500 lao động). Trung bình một năm đào tạo, bồi dưỡng 700 lao động (tương đương 7-14 lớp/năm; quy mô lớp trung bình từ 50-100 học viên);

Giai đoạn 2026-2030, đào tạo, bồi dưỡng 3.000 lao động trực tiếp (số lao động du lịch trực tiếp dự kiến đã qua đào tạo đến đến năm 2025 đạt 7.000 lao động). Trung bình một năm đào tạo, bồi dưỡng 600 lao động (tương đương 6 -12 lớp/năm; quy mô lớp trung bình từ 50-100 học viên)(8). Dự kiến đến năm 2030 tạo việc làm cho 24 nghìn lao động, trong đó lao động trực tiếp là 10 nghìn người, 75% số lao động trực tiếp đã qua đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ(9).

Thứ sáu, huy động vốn đầu tư phát triển du lịch. Để nâng cao hiệu quả khai thác các di sản văn hóa trong phát triển kinh tế du lịch ở Thái Nguyên cần huy động mọi nguồn lực, trong đó ưu tiên nguồn vốn ngân sách đầu tư cơ sở hạ tầng. Phối hợp, liên kết với các chương trình, đề án, dự án của các ngành lĩnh vực khác để cùng phát triển như: chương trình xây dựng nông thôn mới; chương trình Mỗi xã, phường một sản phẩm, sản phẩm (OCOP) gắn với du lịch cộng đồng, nông nghiệp, nông thôn. Tại kỳ họp thứ tư Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Nguyên khóa XIV đã  ban hành Nghị quyết Quy định chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng giai đoạn 2022- 2025, trong đó quy định chính sách hỗ trợ phát triển 05 điểm du lịch cộng đồng và hỗ trợ tối đa 5 tỷ đồng đối với 01 điểm du lịch cộng đồng)(10).

Bên cạnh đó, cần huy động nguồn vốn xã hội hóa từ các doanh nghiệp du lịch và các tổ chức kinh tế cho công tác đào tạo, phát triển các sản phẩm dịch vụ du lịch, phát triển nguồn nhân lực du lịch, quảng bá du lịch, bảo tồn, tôn tạo và phát huy các di tích lịch sử văn hóa và các giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội dân gian phục vụ du lịch, phát triển du lịch và bảo vệ mội trường.

Thứ bảy, ứng dụng khoa học và công nghệ. Việc ứng dụng các giải pháp khoa học công nghệ trong việc khai thác di sản văn hóa cho phát triển du lịch mang đến cho du khách nhiều tiện ích, cơ quan quản lý thuận lợi hơn trong việc nắm bắt thông tin và doanh nghiệp du lịch dễ dàng thiết kế các sản phẩm theo hướng gia tăng giá trị trải nghiệm cũng như quảng bá sản phẩm tới du khách. Đây là một ưu điểm nổi bật mà du lịch thông minh đem lại. Trong thời gian tới, cần tiếp tục triển khai có hiệu quả Đề án phát triển du lịch thông minh tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2019 - 2025. Xây dựng cổng thông tin du lịch điện tử Thái Nguyên, đáp ứng yêu cầu trong công tác quản lý nhà nước về du lịch, phục vụ hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và đáp ứng kịp thời nhu cầu phục vụ khách du lịch; ứng dụng công nghệ thông tin, phát triển kênh truyền thông chia sẻ thông tin và đánh giá về các di tích, các điểm đến du lịch. Khuyến khích sử dụng năng lượng sạch, tái tạo; áp dụng mô hình “3R” trong các cơ sở dịch vụ du lịch; hỗ trợ người dân tại các điểm du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất và tổ chức trải nghiệm du lịch cho du khách.

Thực hiện hiệu quả các giải pháp trên sẽ giúp nâng tầm và khai thác hiệu quả các di sản văn hóa cho phát triển ngành du lịch Thái Nguyên; để du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, từng bước khẳng định vị trí và vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh và đất nước.

_________________

Ngày nhận bài: 28-9-2023; Ngày bình duyệt: 01-10-2023; Ngày duyệt đăng: 21-10-2023.

(1) Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên: Niên giám thống kê năm 2020, tr.51.

(2) Huy Lê: “Đánh thức” tiềm năng du lịch Thái Nguyên, https://dangcongsan.vn/, ngày 13-4-2021.

(3) Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo hàng năm của Sở Văn hóa Thể thao Du lịch Thái Nguyên.

(4) Tổng hợp từ Báo cáo hàng năm của Sở Văn hóa Thể thao Du lịch Thái Nguyên.

(5) Tổng hợp từ Báo cáo hàng năm của Sở Văn hóa Thể thao Du lịch Thái Nguyên.

(6) Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2020.

(7) Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án phát triển du lịch tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030, số 200/KH-UBND, 2021.

CỘT CỜ TỔ QUỐC TRÊN ĐẢO LÝ SƠN - CỘT MỐC KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO

 Đến với núi Thới Lới, ngọn núi cao nhất ở đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, hình ảnh lá cờ tung bay trong gió trên chiếc cột cờ đứng sừng sừng giữa không gian bao la khiến ai nhìn thấy cũng có cảm giác vô cùng tự hào.

Cách đây tròn 10 năm, vào ngày 16/12/2013, Cột cờ Tổ quốc được xây dựng trên núi Thới Lới, ngọn núi cao nhất ở đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, đã hoàn thành sau gần 3 tháng xây dựng.
Nằm trong chương trình “Hướng về biển đảo quê hương”, cột cờ được xây dựng từ đóng góp của đoàn viên, thanh niên cả nước với tổng kinh phí khoảng 850 triệu đồng.
Việc xây dựng cột cờ nhằm khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên vùng biển, đảo Tổ quốc, đồng thời thể hiện tấm lòng của tuổi trẻ cả nước hướng về biển đảo quê hương.
Cột cờ có chiều cao 20m, đường kính 3m, lá cờ có kích thước 4x6m, mặt chính cột cờ hướng ra quần đảo Hoàng Sa.
Công trình có dạng kiến trúc gồm đài cột, thân cột cờ, bậc thềm và khuôn viên xung quanh có 4 bức phù điêu hình ngọn lửa dựa trên biểu trưng của Hội Sinh viên Việt Nam.
Phần móng được chôn sâu dưới lớp đá với kỹ thuật kết cấu móng thường sử dụng cho những ngọn hải đăng vững chắc.
Đài cột cờ cao 5m, có thân màu trắng được bọc ngang bởi khối màu đỏ mang sắc màu lá quốc kỳ.
Du khách tới tham quan cột cờ Tổ quốc đảo Lý Sơn sẽ được đắm mình vào không gian bao la, thoáng mát, rộng mở ngay trước mắt. Phía xa xa là hướng biển lớn, bên dưới là bãi biển trong xanh.
Cột cờ Tổ quốc trên đỉnh Thới Lới ở đảo Lý Sơn không chỉ mang ý nghĩa nhân văn mà còn được ví như cột mốc khẳng định chủ quyền biển đảo của đất nước. Đây là công trình thể hiện sự chung sức, đồng lòng, sẵn sàng bảo vệ lãnh thổ Tổ quốc của thế hệ trẻ cả nước.
Tỉnh Quảng Ngãi định hướng xây dựng hình ảnh Lý Sơn là biểu tượng lịch sử, là bảo tàng sống chứng minh chủ quyền Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tỉnh đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2025, Lý Sơn đón khoảng 700.000 - 800.000 lượt khách, trong đó có khoảng 30.000 - 40.000 lượt khách quốc tế (tăng gấp 3 lần so với năm 2019); tổng doanh thu từ du lịch đạt khoảng 1.500 - 2.000 tỷ đồng; giải quyết việc làm cho 6.000 - 7.000 lao động trực tiếp.
Phấn đấu đến năm 2030, Lý Sơn đón khoảng 1,5 - 1,6 triệu lượt khách, trong đó có khoảng 100.000 - 150.000 lượt khách quốc tế; tổng doanh thu từ du lịch 3.000 - 3.500 tỷ đồng; giải quyết việc làm cho 20.000 - 25.000 lao động trực tiếp.
Hiện nay, tỉnh Quảng Ngãi đang xây dựng Kế hoạch Hành động thực hiện Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị và Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 26 với nhiệm vụ trọng tâm là phát triển huyện đảo Lý Sơn trở thành trung tâm du lịch biển, đảo.
Có 5 nhóm giải pháp trọng tâm được tỉnh đề ra nhằm thu hút nguồn lực phát triển huyện đảo. Đó là, tập trung thực hiện tốt công tác quy hoạch, cùng với nguồn lực từ ngân sách, đẩy mạnh huy động các nguồn lực ngoài ngân sách để đầu tư cơ sở hạ tầng và các dịch vụ phục vụ phát triển du lịch.
Đặc biệt là việc đầu tư xây dựng Cảng hàng không Quốc tế Lý Sơn trong tương lai sẽ là đòn bẩy tạo sự bứt phá trong thu hút nguồn lực đầu tư phát triển du lịch biển đảo; đưa Lý Sơn trở thành điểm đến của du khách trong nước và quốc tế.
Bên cạnh đó, khai thác, phát huy hiệu quả lợi thế về tài nguyên du lịch biển, đảo của Lý Sơn. Phát triển du lịch nghỉ dưỡng biển cao cấp, tổ hợp giải trí kết nối khu đô thị - dịch vụ tại Lý Sơn; đẩy mạnh phát triển các sản phẩm du lịch văn hóa - lịch sử - tâm linh, bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể, phi vật thể như Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, các lễ hội truyền thống đặc sắc của địa phương; khuyến khích phát triển các loại hình du lịch cộng đồng.
Đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá du lịch và liên kết, hợp tác phát triển du lịch, mở rộng thị trường nội địa và quốc tế. Tăng cường liên kết, hợp tác phát triển du lịch với các tỉnh, các nước trong khu vực để quảng bá du lịch.
Báo Vietnam+

 

Bảo đảm quyền con người trong hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính trong quản lý đất đai

(LLCT) - Lý luận, pháp luật và thực tiễn kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính trong quản lý đất đai là nhằm góp phần bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay. Qua phân tích vấn đề lý luận và pháp lý, thực trạng hiện nay, bài viết đề xuất sự cần hoàn thiện thể chế, tổ chức và cán bộ, tăng cường công tác phối hợp cũng như kiến nghị với các cơ quan Trung ương nhằm bảo đảm nhân quyền trong kiểm sát việc giải quyết các vụ án.



Trong những năm gần đây, Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và Phòng Kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính thuộc các VKSND cấp tỉnh khu vực phía Nam thực hiện nhiều hoạt động kiểm sát để giải quyết vụ án hành chính trong quản lý đất đai, nhằm góp phần bảo đảm quyền, lợi ích và nghĩa vụ hợp pháp giữa bên (cơ quan, tổ chức, cá nhân) khởi kiện và bên bị kiện đồng thời duy trì, củng cố hiệu lực quản lý nhà nước đối với đất đai.

 1. Một số vấn đề lý luận và pháp lý về kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính trong quản lý đất đai nhằm góp phần bảo đảm quyền con người

a) Về lý luận

Bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực kiểm sát này là một hoạt động rất phức tạp, vì nó liên quan đến quyền, lợi ích, nghĩa vụ của cả cơ quan, tổ chức cũng như cá nhân trong và ngoài Nhà nước; của bên khởi kiện, bên bị kiện và cả những người có liên quan đến quyền, lợi ích, nghĩa vụ của vụ án, thậm chí còn có yếu tố nước ngoài; và quyền con người ở đây không thể dừng ở những phẩm giá, nguyên tắc pháp lý chung chung, mà phải được xác định cụ thể về tiền, vật chất, kể cả về tinh thần, phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội.

Trong khi đó, việc thực hiện quyền quản lý nhà nước về đất đai  thông qua các quyết định hành chính (QĐHC) và hành vi hành chính (HVHC) luôn chứa đựng những khả năng gây tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quyền, lợi ích, nghĩa vụ của các chủ thể khác nhau trong việc sử dụng đất đai. Từ đó làm phát sinh khiếu kiện hành chính về đất đai trong quản lý nhà nước về đất đai (Khác với các vụ án dân sự về tranh chấp quyền sử dụng đất, việc tranh chấp này thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Tố tụng hành chính (TTHC).

Các QĐHC và HVHC về quản lý đất đai của cơ quan, tổ chức, cá nhân dễ làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích, nghĩa vụ pháp lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng đất hoặc đang sử dụng đất(1). Xét về quy định tố tụng thì quyền, lợi ích và nghĩa vụ pháp lý giữa hai bên chủ thể (bên khởi kiện và bên bị kiện) là công bằng, nhưng do địa vị pháp lý giữa một bên là cơ quan hành chính thực thi quyền lực công và một bên chủ yếu là công dân, nên trong thực tiễn tố tụng hành chính, vị thế giữa hai bên thường không ngang bằng nhau.

b) Về pháp lý 

Để bảo đảm công bằng một cách hợp pháp và hiệu lực, hiệu quả đối với quyền, lợi ích, nghĩa vụ trong công tác kiểm sát này, cần phải làm rõ và xác định, triển khai, thực hiện đúng, đủ các yếu tố pháp lý sau:

Về đối tượng khởi kiện

 Theo quy định của Luật TTHC năm 2015 và pháp luật về đất đai thì đối tượng khởi kiện vụ án hành chính trong lĩnh vực này phải là QĐHC, HVHC; đồng thời nó phải liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ của người khởi kiện. QĐHC về vấn đề này có thể bao gồm: (i) QĐHC được cơ quan hành chính nhà nước, tổ chức có thẩm quyền hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành trong khi giải quyết, xử lý những việc cụ thể trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai. QĐHC được ban hành sau khi có khiếu nại và có nội dung sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ. (ii) HVHC là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính. Vì đây thực chất là quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai và được áp dụng một lần đối với một hoặc vài đối tượng cụ thể. (iii) Yêu cầu bồi th¬ường thiệt hại do QĐHC, HVHC trong quản lý đất đai gây ra - cũng là đối tượng khởi kiện khi người khởi kiện yêu cầu đồng thời với QĐHC, HVHC bị khởi kiện.

 Về bên khởi kiện và bên bị kiện

Bên khởi kiện (hay chủ thể): Gồm các cơ quan, tổ chức, cá nhân bị tác động trực tiếp hoặc gián tiếp bởi các QĐHC, HVHC về quản lý đất đai. Theo Điều 5 Luật TTHC năm 2015: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình” và thực hiện quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với những trường hợp theo Điều 115 Luật trên.  Điều kiện để người khởi kiện thực hiện quyền khởi kiện là: Phải có năng lực chủ thể tham gia quan hệ pháp luật TTHC. Đối với cá nhân phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực hành vi TTHC, trường hợp người khởi kiện là cá nhân đã chết thì người thừa kế của họ sẽ thực hiện quyền khởi kiện vụ án hành chính. Đối với cơ quan, tổ chức phải là pháp nhân theo Điều 74 Bộ luật Dân sự năm 2015 và thực hiện quyền khởi kiện vụ án thông qua người đại diện theo pháp luật. Một số tổ chức, mặc dù không phải là pháp nhân nhưng do pháp luật quy định có quyền tham gia các quan hệ pháp lý một cách độc lập nên cũng có quyền khởi kiện, như: Hộ gia đình, tổ hợp tác, hộ kinh doanh,....; và họ phải có quyền lợi, nghĩa vụ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi QĐHC, HVHC về quản lý đất đai.

Bên bị kiện: Gồm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc người có thẩm quyền (đã ban hành QĐHC, thực hiện HVHC) tham gia tố tụng với tư cách là người bị kiện. Họ có thể được xem là chủ thể đặc biệt vì đối tượng khởi kiện của loại án này thường là các QĐHC về thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; các quyết định xử lý vi phạm hành chính, các quyết định giải quyết tranh chấp về đất đai hoặc hành vi cấp hoặc không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ)... của Chủ tịch UBND huyện, Chủ tịch UBND tỉnh, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường.

Về thời hiệu khởi kiện

Theo Khoản 2 Điều 116 Luật TTHC năm 2015, thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện kể từ ngày nhận được, biết được QĐHC, HVHC cho đến ngày khởi kiện(2). Ngoài ra, trong trường hợp bất khả kháng, bên khởi kiện không khởi kiện được trong thời hạn quy định thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác không tính vào thời hiệu khởi kiện.

  Về các bên tham gia bảo đảm quyền con người

Trong quan hệ TTHC, không chỉ cơ quan tiến hành tố tụng (TAND, VKSND), người tiến hành TTHC (Chánh án, thẩm phán, hội thẩm nhân dân, thẩm tra viên, thư ký; viện trưởng, kiểm sát viên, kiểm tra viên), mà còn gồm các chủ thể khác, như: Đương sự (bên khởi kiện, bên bị kiện, bên có quyền và nghĩa vụ liên quan) và những người tham gia tố tụng khác (đại diện ủy quyền của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người phiên dịch, người giám định). Như vậy, công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính là các bên tham gia TTHC tuân theo Hội đồng xét xử (HĐXX)  của Tòa án, để góp phần bảo đảm các bên tuân thủ đầy đủ, nghiêm túc các quy định pháp luật, nhằm giải quyết vụ án hành chính kịp thời, đúng pháp luật và tôn trọng, bảo vệ, thực hiện một cách công bằng quyền, lợi ích và nghĩa vụ hợp pháp của các chủ thể tham gia TTHC.

Về nhiệm vụ, công vụ (hay thẩm quyền) của hội đồng xét xử

 HĐXX của TAND có thẩm quyền xem xét tính hợp pháp của QĐHC, HVHC trong quản lý đất đai bị khởi kiện. Từ đó, quyết định bác yêu cầu khởi kiện hoặc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Trong trường hợp chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, HĐXX sẽ tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ QĐHC trái pháp luật và buộc cơ quan, người có thẩm quyền trong cơ quan thực hiện thẩm quyền theo quy định của pháp luật và kiến nghị cách thức xử lý đối với QĐHC trái pháp luật đã bị hủy; hay tuyên bố HVHC là trái pháp luật, tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan (nếu có); buộc cơ quan hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan này chấm dứt HVHC trái pháp luật(3).

Về sự tác động của vụ án hành chính đến quyền, lợi ích và nghĩa vụ hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân

Việc giải quyết các vụ án hành chính, nhất là trong lĩnh vực quản lý đất đai là vấn đề chuyên môn, pháp lý được giải quyết theo quy định của pháp luật, nhưng có ảnh hưởng đến tình hình kinh tế - xã hội, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội của địa phương. Do vậy, khi kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính và kiểm sát thi hành những vụ án này, bên cạnh việc áp dụng đúng đắn quy định của pháp luật để bảo đảm cho bản án, quyết định của TAND giải quyết vụ án hành chính đúng pháp luật và được thi hành nghiêm chỉnh, thì VKSND các cấp phải bảo vệ quyền, lợi ích, nghĩa vụ hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, công dân; và cần tránh được tình trạng khiếu kiện kéo dài, đông người, phức tạp; từ đó tác động tiêu cực đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội, gây bất ổn về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, nguy cơ các thế lực phản động kích động, xúi giục tạo điểm nóng về chính trị.

 Về việc thi hành bản án, quyết định của tòa án

 Trường hợp thi hành bản án hay quyết định của Tòa án về việc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện thì QĐHC, HVHC tiếp tục được thực hiện và bị cưỡng chế hành chính nếu bên phải thi hành án không tự nguyện thi hành(4). Đối với trường hợp thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã hủy toàn bộ hoặc một phần QĐHC, tuyên bố HVHC là trái pháp luật; còn trong trường hợp bên phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì cơ quan thi hành án dân sự có văn bản kiến nghị cơ quan, bên có thẩm quyền xử lý trách nhiệm đối với bên phải thi hành án nhưng chậm thi hành án, không chấp hành, hoặc chấp hành không đúng, không đầy đủ nội dung bản án, quyết định của tòa án, mà không cần thực hiện các biện pháp cưỡng chế(5).

Về xác định những vi phạm của tòa án cấp sơ thẩm trong việc bảo đảm nhân quyền dẫn đến Tòa án cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm phải hủy, sửa án, tuyên hủy QĐHC, tuyên bố HVHC trái pháp luật

Gồm: (i) Xác định không đúng điều kiện hoặc quyền, nghĩa vụ hay làm mất quyền khởi kiện của đương sự: Theo quy định tại Khoản 3 Điều 115; (ii) Xác định không đúng thời hiệu khởi kiện: Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật TTHC năm 2015; (iii) Xác định không đúng đối tượng khởi kiện; (iv) Xác định không đúng tư cách tham gia tố tụng của người bị kiện dẫn đến bỏ sót yêu cầu khởi kiện của đương sự; (v) Không đưa người bị kiện tham gia tố tụng; (vi) Không đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng; (vii)  Vi phạm quy định về nhập vụ án hành chính; (viii)  HĐXX cấp sơ thẩm quyết định vượt quá thẩm quyền; (ix)  Vi phạm về thu thập chứng cứ, chưa làm rõ những nội dung quan trọng để làm cơ sở giải quyết vụ án; (x) Không phát hiện vi phạm pháp luật của QĐHC bị khởi kiện.

2. Thực trạng kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính trong quản lý đất đai nhằm góp phần bảo đảm quyền con người

a) Kết quả đạt được

Về thực tiễn hoạt động kiểm sát

Trong những năm gần đây, tại khu vực phía Nam (gồm các tỉnh Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ), công tác kiểm sát giải quyết vụ án hành chính trong quản lý đất đai được quan tâm và tăng cường thực hiện. Trong năm 2019, Viện cấp cao 3 tại Thành phố Hồ Chí Minh đã kiểm sát thụ lý 1.140 vụ án theo thủ tục phúc thẩm, tăng 21,28% so với số thụ lý năm 2018; trong đó có 42 kháng nghị của viện kiểm sát (25 của viện kiểm sát cấp tỉnh, 17 của Viện cấp cao 3). Viện này đã giải quyết 810 vụ (đạt tỷ lệ 71,05%); trong đó: Đình chỉ xét xử phúc thẩm 58/810 vụ (chiếm tỷ lệ 17,16%); giữ nguyên bản án sơ thẩm 562 vụ/810 vụ (đạt tỷ lệ 69,38%); hủy, sửa án sơ thẩm 188/810 vụ (chiếm tỷ lệ 23,21%). Thụ lý 21 kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm (05 của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, 16 của Viện cấp cao 3). Đã giải quyết 15/21 kháng nghị giám đốc thẩm (13 kháng nghị của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh , 02 kháng nghị của Viện cấp cao 3); trong đó chấp nhận 15/15, đạt tỷ lệ 100% trên số kháng nghị giám đốc thẩm đã giải quyết(6).

Về công tác kháng nghị phúc thẩm, trong năm 2019 có 15/23 Thành phố Hồ Chí Minh  cấp tỉnh ban hành 40 kháng nghị, gồm: Bà Rịa - Vũng Tàu 04/29 vụ bị hủy, sửa (đạt tỷ lệ 13,79%); Bạc Liêu 02/03 vụ bị hủy, sửa (đạt tỷ lệ 66,67%); Bến Tre 02/06 vụ bị hủy, sửa (đạt tỷ lệ 33,33%); Bình Dương 06/09 vụ bị hủy, sửa (đạt tỷ lệ 66,67%); Bình Thuận 05/14 vụ bị hủy, sửa (đạt tỷ lệ 35,71%); Cà Mau 03/08 vụ hủy, sửa (đạt tỷ lệ 37,5%)(7)...

Về thành quả bảo đảm nhân quyền

Số lượng tập thể, cá nhân cần được bảo đảm nhân quyền khi kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính trong quản lý đất đai hàng năm luôn tăng cùng với sự gia tăng các vụ án hành chính thuộc lĩnh vực này. Nhưng với sự nỗ lực thường xuyên, cơ quan kiểm sát các cấp ở  khu vực phía Nam đã phối hợp với Tòa án cùng cấp giải quyết được một khối lượng khá lớn các vụ án. Riêng Viện cấp cao 3 Thành phố Hồ Chí Minh đã kiểm sát thụ lý và lập hồ sơ kiểm sát 2.853 vụ án với hàng nghìn đối tượng cần được tôn trọng, bảo vệ, thực hiện quyền, lợi ích và nghĩa vụ hợp pháp. Trong đó, năm 2016: 206 vụ; năm 2017: 540 vụ; năm 2018: 946 vụ và năm 2019: 1.161 vụ. Đặc biệt, công tác bảo đảm nhân quyền được quan tâm thực thi trong kiểm sát 2.815 vụ án phúc thẩm, 38 vụ án giám đốc thẩm cũng như khi tham gia 1.625 phiên tòa phúc thẩm và 28 phiên tòa giám đốc thẩm.

Số đối tượng được giải quyết vấn đề bảo đảm quyền con người cũng tăng hàng năm: Năm 2017 tăng hơn 400%, năm 2018 tăng 73%, năm 2019 tăng 70%. Về chất lượng, theo thủ tục sơ thẩm có chiều hướng nâng lên do thực hiện đúng các quy định về tố tụng và áp dụng đúng pháp luật về nội dung kiểm sát. Chất lượng nghiên cứu hồ sơ vụ án, bài phát biểu của kiểm sát viên về bảo đảm nhân quyền của các đối tượng liên quan đến các vụ án tại các phiên tòa phúc thẩm của Viện cấp cao 3 đạt chất lượng khá cao. Cụ thể, tỷ lệ quan điểm của kiểm sát viên được tòa án cùng cấp chấp nhận 1.246/1.422 vụ (đạt tỷ lệ bình quân 87,62%); trong đó, năm 2016 và 2017 đạt tỷ lệ trên 90%(8). Qua đó, đã góp phần tích cực vào việc tôn trọng, bảo vệ, thực hiện quyền, lợi ích và nghĩa vụ hợp pháp của các bên tham gia các vụ án này.

b) Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế.

Trong năm 2018, tỷ lệ kháng nghị về bảo đảm quyền con người liên quan đến các vụ án hành chính về quản lý đất đai của cơ quan kiểm sát phía Nam được chấp nhận còn thấp, chỉ đạt 33,33%. Một số viện kiểm sát cấp tỉnh chưa quan tâm đúng mức đến công tác thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm ngang cấp như ở: Bình Phước, Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu Giang, Sóc Trăng, Tây Ninh, Trà Vinh và Vĩnh Long. Trong việc giải quyết một số vụ án hành chính về quản lý đất đai, còn chưa có sự phối hợp thường xuyên, hiệu quả giữa ngành kiểm sát và ngành tòa án, như về hồ sơ thụ lý, tài liệu phát sinh của bên khởi kiện, bị kiện,… nhằm tạo điểu kiện xác định kịp thời, đúng đắn mức độ vi phạm, hình thức xử lý vi phạm để bảo kiểm sát viên cho viện kiểm sát thực hiện tốt quyền kiểm sát theo đúng quy định của pháp luật.

 Ngoài những nguyên nhân chủ quan (như hạn chế về năng lực nghiệp vụ, đầu tư chưa đúng mức cho công tác kiểm sát vụ án hành chính, điều kiện làm việc không được ưu tiên như các khâu công tác kiểm sát khác...), phải kể đến số lượng vụ án hành chính ngày càng tăng với mức độ đa dạng, phức tạp cao; trong khi quy định của pháp luật về TTHC, về giải quyết khiếu nại, tố cáo, về quản lý đất đai,... còn nhiều bất cập, chưa cụ thể, thậm chí chồng chéo, mâu thuẫn và trình độ chuyên môn của đội ngũ kiểm sát viên còn hạn chế.

 3. Giải pháp nâng cao chất lượng kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính trong quản lý đất đai nhằm góp phần bảo đảm quyền con người

Công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính trong quản lý đất đai được VKSND tổ chức thực hiện nhằm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng và các bên tham gia TTHC trong việc bảo đảm công bằng kịp thời, đúng pháp luật về quyền, lợi ích và nghĩa vụ hợp pháp của các bên khởi kiện và bị kiện. Để nâng cao chất lượng công tác bảo đảm nhân quyền trong hoạt động kiểm sát giải quyết vụ án hành chính trong quản lý đất đai tại khu vực phía Nam, thời gian tới cần thực hiện một số giải pháp có tính khả thi sau:

Thứ nhất, về hoàn thiện thể chế

Đối với Luật TTHC năm 2015, tuy đã có nhiều tiến bộ so với Luật TTHC năm 2010 nhưng cần tiếp tục hoàn thiện một số thể chế như: Về phạm vi của công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính cần được xác đinh: Từ khi Tòa án thụ lý cho đến khi kết thúc việc giải quyết vụ án(9); về quyền yêu cầu tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ(10); về quyền yêu cầu tòa án chuyển hồ sơ cho viện kiểm sát cấp trên trực tiếp xem xét việc kháng nghị phúc thẩm(11)...

 Thứ hai, về hoàn thiện công tác xây dựng tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức, đặc biệt đội ngũ kiểm sát viên

Đối với viện kiểm sát các cấp: Cần đẩy mạnh đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, trước hết là đổi mới nhận thức về mục tiêu, hình thức, chế độ đào tạo, bồi dưỡng nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, đặc biệt đội ngũ kiểm sát viên, có đủ tiêu chuẩn, năng lực thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành trong tình hình mới, đáp ứng tốt yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế. Chú  trọng công tác tổng kết thực tiễn, xây dựng chuyên đề rút kinh nghiệm để tổ chức những lớp tập huấn chuyên đề hoặc bồi dưỡng chuyên sâu nhằm đổi mới cách thức trang bị kiến thức, kỹ năng cho đội ngũ kiểm sát viên để có thể phục vụ tốt yêu cầu, nhiệm vụ của ngành nhằm bảo đảm tốt nhân quyền. Ngoài ra, cần tăng cường nâng cao chất lượng tổ chức phiên tòa; từ đó rút kinh nghiệm thiết thực thiết thực cho đội ngũ kiểm sát viên trong việc bảo đảm nhân quyền khi giải quyết các vụ án hành chính trong quản lý đất đai. 

Thứ ba, về tăng cường công tác phối hợp

Về quan hệ phối hợp trong ngành: Đối với những quan điểm không thống nhất giữa các ngành về giải quyết vụ án thì viện kiểm sát cấp dưới phải chủ động báo cáo viện kiểm sát cấp trên cho ý kiến. Trong quá trình chỉ đạo nghiệp vụ, VKSND tối cao cần trao đổi thông tin và phối hợp với VKSND cấp cao để bảo đảm việc chỉ đạo của viện kiểm sát cấp trên đối với viện kiểm sát các địa phương được thống nhất. Phân định rõ nội dung, phạm vi của công tác chỉ đạo, quản lý nghiệp vụ giữa các vụ thuộc VKSND tối cao và các bộ phận chuyên môn của VKSND cấp cao với VKSND cấp tỉnh trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ đã được xác định phù hợp với pháp luật nhằm vừa bảo đảm không trùng lắp, vừa khắc phục sự ỷ lại cấp trên, cũng như nâng cao trách nhiệm của từng cấp kiểm sát.

- Về quan hệ phối hợp liên ngành: Viện kiểm sát các cấp phải chủ động phối hợp với cơ quan tòa án cùng cấp nhằm xây dựng được quy chế phối hợp trong quá trình giải quyết các vụ án hành chính, để làm cơ sở để các bên triển khai, thực hiện. Nội dung phối hợp phải bảo đảm không can thiệp và gây tác động đến tính độc lập trong quá trình thực hiện nhiệm vụ theo đúng quy định của pháp luật của các kiểm sát viên, thẩm phán. Viện kiểm sát phối hợp với tòa án cùng lựa chọn và tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm chung cho đội ngũ cán bộ, công chức làm nghiệp vụ của các cấp kiểm sát; kiểm sát viên tham gia đầy đủ các hoạt động để xác minh thu thập chứng cứ do tòa án tiến hành khi được mời như tham gia xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản.

Ngoài ra, ngành kiểm sát cần phối hợp với cơ quan truyền thông để thông tin, tuyên truyền về vị trí, vai trò của ngành KSND trong TTHC, để mọi tầng lớp nhân dân hiểu được chức năng, nhiệm vụ của cơ quan tố tụng trong việc tôn trọng, bảo vệ, thực hiện nhân quyền. Qua đó, giúp người dân nâng cao nhận thức về pháp luật, tin tưởng vào nền pháp chế XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Thứ tư, về trang bị phương tiện, điều kiện làm việc

Đầu tư trang thiết bị làm việc để phục vụ hiệu quả cho việc tra cứu văn bản quy phạm pháp luật; mua sắm, trang bị cho mỗi cán bộ, kiểm sát viên làm nghiệp vụ các văn bản luật quan trọng, trước hết liên quan trực tiếp đến công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính trong quản lý đất đai. Chú trọng việc áp dụng công nghệ trong công tác lập hồ sơ kiểm sát để giúp kiểm sát viên tiến hành tố tụng hiệu quả tại các phiên tòa.

_________________

Ngày nhận bài: 12-10-2023; Ngày bình duyệt: 15-10-2023; Ngày duyệt đăng: 29-10-2023.

(1) Xem: Khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 3 Luật TT HC năm 2015.

(2) Xem: Điều 120 Luật TTHC năm 2015 và Điều 4 Nghị quyết 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30-6-2016 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.

(3) Xem: Khoản 2 Điều 193 Luật TTHC năm 2015.

(4 )Xem: Điều 15 Nghị định số 71/2016/NĐ-CP.

(5) Xem: Khoản 5 Điều 14 Nghị định số 71/2016/NĐ-CP.

(6), (7), (8) Dẫn theo Phụ lục 4, 9 và 12 trong Báo cáo tổng hợp đề tài: “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, VKSND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, 2022.

(9) Xem: Khoản 2 Điều 25 Luật TTHC năm 2015.

(10) Xem: Khoản 6, Điều 84 Luật TTHC năm 2015 và Khoản 1, Điều 22 Thông tư liên tịch số 03/2016.

(11) Xem: Điều 5 Thông tư liên tịch số 03/2016.

MANG TẾT ẤM ĐẾN VỚI TRẺ EM VÙNG CAO

Tết Nguyên đán 2024 đang đến rất gần. Công tác chăm lo Tết cho người nghèo, đối tượng chính sách đang được các cấp, ngành, địa phương... tích cực quan tâm. Trong những tháng cuối cùng của năm, các chuyến quà Tết đã và đang đến với các vùng khó khăn, đến với trẻ em nghèo, trẻ em vùng cao. Với sự chung tay của toàn xã hội, các em sẽ có một Tết ấm áp.
Sẻ chia yêu thương
Những ngày đầu tháng 12/2023, trong tiết trời se lạnh, vượt hơn 200 cây số, qua những con đường bê tông uốn lượn quanh những ngọn đồi trồng thông, quế, hồi của bà con DTTS, gần 100 ĐVTN của Đài Truyền hình Việt Nam (THVN) và Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh đã có mặt tại thôn Khe O (xã Lục Hồn, huyện Bình Liêu) để tổ chức chương trình “Tình nguyện mùa đông yêu thương”. Hơn 100 suất quà trị giá trên 50 triệu đồng của đoàn thiện nguyện đã được trao tận tay cho những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Chị Thái Mai Quyên, Ủy viên BTV Đoàn Thanh niên Đài THVN, trưởng đoàn thiện nguyện, cho biết: Mỗi dịp Tết đến, Xuân về chúng tôi luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến việc chăm lo Tết cho các hộ gia đình và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Năm nay chúng tôi huy động được tổng giá trị quà tặng hơn 50 triệu đồng để trao tặng cho trẻ em và các hộ dân có hoàn cảnh khó khăn xã Lục Hồn, huyện Bình Liêu. Trong đó trao tặng 5 suất quà cho 5 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, tổng trị giá 10 triệu đồng; 60 suất quà, gồm chăn ấm, áo ấm, thuốc bổ, bánh kẹo, đồ dùng học tập, đồ chơi cho 60 học sinh mầm non và tiểu học ở các điểm trường Khe O, Cao Thắng.
Mặc dù mỗi suất quà có giá trị vật chất không lớn, nhưng với các em những món quà này thực sự có ý nghĩa, giúp gia đình các em giảm được một phần chi tiêu trong ngày Tết. Đây cũng là nguồn động viên tinh thần, nhằm chia sẻ với những trẻ em có hoàn cảnh kém may mắn, để các em đón Tết vui vẻ, đầm ấm hơn. Không giấu được niềm vui khi được nhận những chăn ấm, những bộ quần áo đẹp để diện Tết, em Lỷ Thị Kim, học sinh có hoàn cảnh khó khăn tại điểm trường Khe O, chia sẻ: “Sắp Tết rồi, hôm nay em được nhận quần áo mới, dép mới, áo ấm, chăn ấm nữa. Em cảm thấy rất vui!”.
Trên 90% người dân ở các thôn Khe O, thôn Cao Thắng (xã Lục Hồn) là đồng bào dân tộc Dao, phần lớn làm nông, đi rừng, công việc, thu nhập bấp bênh. Khi bữa ăn hằng ngày còn đang là nỗi lo, thì việc có một cái Tết đủ đầy, sắm sửa quần áo đẹp cho con cái vẫn là trăn trở của nhiều hộ dân có hoàn cảnh khó khăn nơi đây. Bởi vậy những món quà từ các chuyến thiện nguyện thật thiết thực và ý nghĩa, tạo thêm động lực cho các gia đình đưa con đến trường học.
Chị Chíu Nhì Múi, phụ huynh của 2 học sinh ở điểm trường Cao Thắng, chia sẻ: “Tết đến, không chỉ được chính quyền xã thăm hỏi, tặng quà Tết, mà gia đình tôi cũng như nhiều hộ khó khăn trong thôn còn được nhiều đoàn thiện nguyện ủng hộ quần áo, bánh kẹo, chăn ấm. Tết có quần áo mới, lại ấm nữa, các con cũng như phụ huynh chúng tôi thấy rất vui và hạnh phúc".
Từ đầu tháng 12/2023 đến nay đã có hàng chục đoàn thiện nguyện đến với huyện miền núi Bình Liêu mang hàng trăm suất quà Tết trao tặng học sinh các điểm trường khó khăn trên địa bàn huyện, góp phần giúp các em vùng cao đón Tết thêm đầm ấp, đầy đủ hơn.
Các em học sinh Trường TH&THCS Đồng Lâm 2 (TP Hạ Long) cũng phấn khởi, xúc động khi được đón nhận những món quà Tết sớm từ các thành viên của CLB Đầu tư và Khởi nghiệp TP Hạ Long và Hội Doanh nghiệp Truyền Đăng. 18 suất học bổng (1 triệu đồng/suất) đã được trao tặng cho 18 học sinh có hoàn cảnh khó khăn của Trường. Những phần quà Tết như chăn ấm, balo, sách kỹ năng sống (tổng trị giá gần 35 triệu đồng) đã được đoàn thiện nguyện trao tặng cho học sinh và nhà trường, góp phần phục vụ yêu cầu giảng dạy, tiếp thêm động lực cho học sinh vùng cao tới trường.
Xúc động trước tình cảm của những tấm lòng thiện nguyện không quản đường sá xa xôi, khó khăn đến với trẻ em vùng cao, cô giáo Đỗ Thị Thu Huyền, Phó hiệu trưởng Trường TH&THCS Đồng Lâm 2, chia sẻ: “Từ tấm lòng mình, tôi cảm ơn tất cả tình cảm của các anh, chị trong các đoàn thiện nguyện đã mang những tình cảm, sự chia sẻ đến với chúng tôi, học sinh trong những ngày đông giá lạnh. Điều kiện của các con còn nhiều khó khăn; khi nhận các phần quà các con cũng như gia đình rất phấn khởi vì được đón nhận những tấm lòng hảo tâm của các ân nhân. Những phần quà này sẽ tạo động lực lớn cho các cháu. Chắc chắn rằng đến Tết này các con sẽ cảm thấy ấm áp, thoải mái hơn rất nhiều”.
Sự yêu thương, sẻ chia cũng là cảm nhận của các ĐVTN trong đợt ra quân chiến dịch "Tình nguyện mùa đông năm 2023 - Xuân tình nguyện năm 2024" tại xã Thanh Sơn (huyện Ba Chẽ) do BTV Tỉnh Đoàn tổ chức. Trong ngày ra quân, 30 góc học tập cùng 56 suất quà Tết gồm áo ấm, chăn ấm và tiền mặt đã được trao tặng cho cho các học sinh có hoàn cảnh khó khăn và các hộ gia đình chính sách xã Thanh Sơn, tổng trị giá hơn 100 triệu đồng. Đây là hoạt động ý nghĩa thiết thực, thể hiện tình cảm, tinh thần trách nhiệm, chia sẻ của tuổi trẻ toàn tỉnh đối với thanh thiếu nhi tại các địa bàn miền núi khó khăn dịp Tết đến, Xuân về, góp phần đảm bảo an sinh xã hội của địa phương.
Hàng loạt chương trình tình nguyện đã góp phần mang mùa xuân đến sớm với trẻ em và người dân khó khăn. Nụ cười và những lời cảm ơn của bà con khiến thành viên trong các đoàn thiện nguyện cảm thấy hạnh phúc, thấy cuộc sống ý nghĩa hơn. Đó có lẽ là tâm niệm của tất cả những người làm tình nguyện, với họ “cho đi là được nhận lại nhiều hơn”.
Để Xuân thêm ấm áp
Toàn tỉnh hiện có trên 372.000 trẻ em dưới 16 tuổi; trong đó gần 3.700 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trên 8.500 trẻ em có nguy cơ cao rơi vào hoàn cảnh đặc biệt. Thời gian qua, các cấp ủy đảng, chính quyền, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội luôn quan tâm chỉ đạo sâu sát nhiệm vụ bảo vệ và chăm sóc trẻ em, nhất là đối với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt khó khăn.
Theo ông Vũ Quang Trực, Phó Giám đốc Sở LĐ-TB&XH, hằng năm tỉnh bố trí ngân sách, bộ máy tổ chức để thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em cũng như phát triển các dịch vụ trợ giúp trẻ trong các lĩnh vực phù hợp với nhu cầu của trẻ. Đồng thời tích cực vận động các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, đơn vị trường học, LLVT nhận đỡ đầu, nuôi dưỡng; tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho trẻ em vào các dịp lễ, Tết; vận động ủng hộ, xây dựng Quỹ Bảo trợ trẻ em, tạo nguồn lực để hỗ trợ, chăm lo cho trẻ em nghèo, có hoàn cảnh khó khăn.
Từ đầu năm 2023 đến nay, Quỹ Bảo trợ trẻ em đã vận động được 111 cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, nhà hảo tâm hỗ trợ cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn trên 5 tỷ đồng, bao gồm tiền, hiện vật, chương trình, công trình, dự án... Quỹ đã triển khai hỗ trợ gần 8.000 lượt trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, tổng kinh phí trên 4,2 tỷ đồng, gồm bảo trợ dài hạn, học bổng, tặng xe đạp, đồ dùng học tập, hỗ trợ đột xuất, khám sàng lọc bệnh tim bẩm sinh, dị tật mắt, phẫu thuật vùng hàm mặt, công trình nước sạch...
Đặc biệt, tỉnh đã ban hành các chính sách đặc thù nhằm hỗ trợ các mục tiêu ưu tiên vì trẻ em. Năm 2023 toàn tỉnh có 3.078 lượt trẻ em được hỗ trợ trên 39,2 tỷ đồng theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP của Chính phủ; 5.372 lượt trẻ có hoàn cảnh khó khăn được hỗ trợ gần 16 tỷ đồng theo Nghị quyết số 21/2021/NQ-HĐND của HĐND tỉnh. Tỉnh đã ban hành một số nghị quyết hỗ trợ học phí các năm học 2021-2022, 2022-2023 cho trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, học viên giáo dục thường xuyên tại các cơ sở giáo dục trên địa bàn. Đây là chủ trương có ý nghĩa xã hội lớn, động viên, khích lệ học sinh và chia sẻ, giảm bớt khó khăn với người dân sau thời gian dài chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19; khẳng định sự quan tâm chăm lo đặc biệt của tỉnh đối với sự nghiệp giáo dục, đào tạo, sự nghiệp "trồng người".
Đặc biệt, tại Kỳ họp thứ 15, HĐND tỉnh khóa XV đã ban hành Nghị quyết số 22 về việc tiếp tục thực hiện chính sách đặc thù của tỉnh quy định tại Nghị quyết số 204 ngày 30/7/2019 và Nghị quyết số 248 ngày 31/3/2020 của HĐND tỉnh cho đối tượng ở các xã đã ra khỏi vùng khó khăn và thôn, xã đã ra khỏi diện đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh. Tỉnh tiếp tục hỗ trợ trên 31,3 tỷ đồng/năm cho học sinh vùng sâu, vùng xa, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của tỉnh tới sự nghiệp giáo dục, được nhân dân đồng tình, ủng hộ cao. Các chính sách đặc thù hỗ trợ tiền ăn trưa cho trẻ em mầm non; hỗ trợ kinh phí tổ chức dạy hè, tổ chức nấu ăn cho trẻ em mầm non; hỗ trợ tiền ăn cho học sinh bán trú; hỗ trợ kinh phí chăm sóc học sinh bán trú và một số chính sách khác…, góp phần quan trọng đảm bảo tăng tỷ lệ huy động trẻ/học sinh ra lớp; duy trì sĩ số, chuyên cần đối với học sinh các cấp nói chung và việc tổ chức học 2 buổi/ngày đối với cấp tiểu học; qua đó thực hiện hiệu quả chương trình giáo dục phổ thông mới, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của các cấp học và công tác phổ cập giáo dục, xóa mù chữ.
Dường Thị Phương, học sinh (Trường PTDT bán trú TH&THCS Đồng Văn, huyện Bình Liêu), phấn khởi nói: "Em rất thích đến trường. Ở trường không chỉ được tham gia rất nhiều hoạt động học tập, vui chơi, chúng em còn được ăn bữa trưa rất đầy đủ với nhiều món ngon, có thịt, có cá. Em mong Tết này ai cũng có bữa cơm ngon, nhiều dinh dưỡng, mọi người hạnh phúc bên nhau".
Bám sát chỉ đạo của UBND tỉnh, năm 2023 các cấp, ngành, địa phương trong tỉnh tiếp tục thăm hỏi, động viên, trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Hội Bảo trợ NKT&TMC tỉnh phối hợp với Sở LĐ-TB&XH và Trung tâm Truyền thông tỉnh tổ chức phát động “Nối vòng tay nhân ái vì người khuyết tật - trẻ mồ côi tỉnh Quảng Ninh”, tiếp nhận số tiền trên 8 tỷ đồng của hàng trăm cơ quan, đơn vị, chính quyền địa phương, tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh ủng hộ. Hưởng ứng Tháng hành động vì trẻ năm 2023 với chủ đề “Chung tay giảm thiểu tổn hại trẻ em”, Hội Bảo trợ NKT-TMC tỉnh phối hợp với các cơ quan, đơn vị, nhà hảo tâm tổ chức thăm hỏi, trợ giúp, đỡ đầu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Đến nay Hội Bảo trợ NKT-TMC tỉnh đã phối hợp thực hiện đỡ đầu gần 500 trẻ em với tổng số tiền trên 500 triệu đồng.
Sự chăm lo của các cấp, ngành, đơn vị, nhà hảo tâm trong tỉnh thời gian qua không chỉ góp phần bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, nhất là chăm lo cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn vùng DTTS, miền núi, biên giới hải đạo, tạo cơ hội phát triển bình đẳng, toàn diện cho trẻ em, mà còn góp phần khơi dậy những lòng nhân ái, nhân văn, tình yêu thương, trách nhiệm của xã hội, các tổ chức, cá nhân đối với trẻ em.

Báo Quảng Ninh 

VIỆT NAM - NHẬT BẢN KÝ 30 THOẢ THUẬN, VĂN KIỆN HỢP TÁC

 Tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam - Nhật Bản với 600 đại biểu, trước sự chứng kiến của Thủ tướng, các bộ ngành, cơ quan, doanh nghiệp Việt Nam và Nhật Bản đã trao 30 thỏa thuận, văn kiện hợp tác.

Việt Nam là nơi trú ẩn an toàn trước cơn bão
Sáng 16/12, tại Tokyo, Thủ tướng Phạm Minh Chính tham dự Diễn đàn Kinh tế Việt Nam - Nhật Bản do Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản phối hợp với Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) tổ chức.
Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng, diễn ra đúng dịp kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản và đặc biệt là chỉ chưa đầy 1 tháng sau khi hai nước chính thức nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện vì hòa bình và thịnh vượng tại châu Á và trên thế giới nhân chuyến thăm Nhật Bản của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng vừa qua.
Tại đây, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã chứng kiến lễ trao 30 thỏa thuận, văn kiện hợp tác giữa các bộ ngành, cơ quan, doanh nghiệp Việt Nam và Nhật Bản.
Trong đó, ông Ngô Đông Hải, Bí thư Tỉnh ủy Thái Bình trao giấy chứng nhận đầu tư dự án nhà máy điện khí LNG trị giá 1,99 tỷ USD cho liên danh 3 nhà đầu tư gồm Công ty Tokyo gas, Công ty Điện lực Bắc Kyuden của Nhật Bản và Tập đoàn Trường Thành của Việt Nam.
Phát biểu tại Diễn đàn, trước 600 đại biểu tham dự và hội trường không còn chỗ trống nào, Thủ tướng Phạm Minh Chính trước hết cảm ơn sự có mặt đông đảo của các nhà lãnh đạo, các doanh nghiệp Nhật Bản, mang lại tình cảm ấm áp và hy vọng to lớn về quan hệ hai nước.
Tại Diễn đàn, Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI) Ken Saito đánh giá cao tốc độ tăng trưởng cao với chính sách phù hợp, thị trường lớn và nguồn nhân lực ưu tú của Việt Nam.
Còn ông Ishiguro Norihiko - Chủ tịch JETRO cho biết, trong 6 năm liên tục, Việt Nam đứng ở vị trí thứ hai trong các địa điểm mà doanh nghiệp Nhật Bản mong muốn đầu tư.
Thủ tướng cho biết trong năm 2023 - kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, gần 500 hoạt động ý nghĩa đã được tổ chức tại cả Việt Nam và Nhật Bản, góp phần tăng cường quan hệ hợp tác và làm sâu sắc tình cảm hữu nghị, sự hiểu biết giữa nhân dân hai nước, tin cậy chính trị giữa hai nước ở mức rất cao.
Nhật Bản hiện là đối tác kinh tế hàng đầu của Việt Nam, đứng thứ 2 về hợp tác lao động, đứng thứ 3 về hợp tác đầu tư và du lịch, đứng thứ 4 về hợp tác thương mại. Hai nền kinh tế có tính bổ trợ, bổ sung cho nhau cùng phát triển.
Chia sẻ về tình hình Việt Nam, Thủ tướng khẳng định: "Có thể nói, Việt Nam là nơi trú ẩn an toàn trước cơn bão, trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều rủi ro như hiện nay".
Thủ tướng kêu gọi doanh nghiệp Nhật Bản tiếp tục đầu tư và thành công tại Việt Nam
Thủ tướng cho biết thời gian tới, Việt Nam tiếp tục tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng phát triển nhanh, bền vững; tập trung phát triển những lĩnh vực mới nổi, xu thế của thế giới như đổi mới sáng tạo, c.h.u.y.ể.n đ.ổ.i s.ố, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ.
Trong quá trình đó, tiếp tục giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển hạ tầng kinh tế-xã hội…
Thủ tướng nêu rõ, việc Việt Nam và Nhật Bản nâng cấp quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện là nền tảng chính trị quan trọng để tiếp tục mở rộng không gian hợp tác trong những lĩnh vực mới mà hai bên có thế mạnh.
Việt Nam cần phía Nhật Bản, trong đó có các doanh nghiệp, tiếp tục hợp tác, hỗ trợ trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; hỗ trợ về tài chính với lãi suất ưu đãi; hỗ trợ về chuyển giao công nghệ tiên tiến, quản trị hiện đại; góp ý xây dựng, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách.
Thủ tướng cũng đề nghị phía Nhật hỗ trợ Việt Nam đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và Việt Nam sẽ cung ứng nguồn nhân lực cho các đối tác. Cùng với đó, đẩy mạnh hợp tác giữa các địa phương; thúc đẩy giao lưu nhân dân và hợp tác văn hóa.
Thủ tướng kêu gọi các doanh nghiệp Nhật Bản tiếp tục đến đầu tư và thành công tại Việt Nam, thu được kết quả ngày càng cao hơn, thành công của nhà đầu tư cũng là thành công của Việt Nam.
Báo Giao Thông