Thứ Hai, 18 tháng 12, 2023

Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý

 Xét về loại hình quyền, quyền sở hữu đất đai là quyền sở hữu đặc biệt. Tính chất đặc biệt của quyền sở hữu đất đai thể hiện ở những khía cạnh cơ bản sau đây:

Một là, sự đặc biệt về nguồn gốc hình thành - tiền đề cho việc xác lập tính chất xã hội của quyền sở hữu đất đai.

Đất đai có khởi nguồn và là kết quả của quá trình kiến tạo tự nhiên trên vỏ địa cầu. Về phương diện này, khác với các tài sản, tài nguyên thông thường, đất đai không có nguồn gốc từ sự sáng tạo lao động của con người. Tuy vậy, để có thể biến đất đai từ trạng thái tự nhiên thành tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt hay không gian sinh tồn, lại đòi hỏi hao phí sức lao động, trí tuệ, thậm chí là sinh mạng của con người. Do đó, quyền sở hữu đất đai có tính chất xã hội bao trùm và rộng lớn hơn các quyền về tài sản khác. Đây là điều đặc biệt, song ít được chú ý vì trong xã hội hiện đại, người ta thường chỉ quan tâm tới tính năng có thể sử dụng của đất đai, còn nguồn gốc xuất phát của nó lại bị che mờ theo thời gian. Theo đó, quyền sở hữu đất đai, từ bản thân nó đã thuộc về xã hội, không phải là một loại quyền tư nhân điển hình, thuần túy như quyền sở hữu các loại tài sản khác. Đây cũng là căn cứ để xác lập các trình độ xã hội của quyền sở hữu đất đai.

Trình độ xã hội của quyền sở hữu đất đai phụ thuộc vào trình độ phát triển của phân công lao động xã hội và chịu sự tác động bởi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Ở trình độ phát triển đầy đủ nhất, đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Sở dĩ như vậy là vì, đất đai là không gian sinh tồn, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, là kết quả của sự cống hiến, hao phí trí và lực một cách lâu dài, là sinh mệnh của toàn dân, của xã hội. Do đó, sở hữu toàn dân về đất đai sẽ phản ánh được hết sự đóng góp của tất cả thế hệ thành viên trong xã hội trong việc tạo nên loại tài sản đặc biệt này. Trong chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, mọi thành viên trong xã hội đều được hưởng dụng đầy đủ các quyền thuộc về cấu trúc quyền sở hữu. Điều này sẽ không thể xảy ra trong điều kiện sở hữu tư nhân về đất đai. Sở hữu tư nhân về đất đai làm mờ đi nguồn gốc xã hội của đất đai, đồng nhất nguồn gốc tự nhiên, nguyên thủy của đất đai với nguồn gốc lịch sử - xã hội của đất đai khi đất đai đã trở thành tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt, không gian sinh tồn của con người. Với ý nghĩa đó, quyền sở hữu đất đai phải được đặt trong mối quan hệ lịch sử - xã hội của sự hình thành đất đai. Thoát ly khỏi mối quan hệ này, cách tiếp cận quyền sở hữu đất đai sẽ mang tính phi lịch sử và giống như việc tiếp cận tài sản trong môi trường chân không.

Hai là, sự đặc biệt về mức độ và phạm vi ảnh hưởng của quyền sở hữu đất đai.

Trong quá trình sinh tồn và lao động, sản xuất, các thành viên trong xã hội dù là chủ thể quản lý, sản xuất, kinh doanh hay là người dân bình thường, đều liên quan trực tiếp tới vấn đề đất đai - với tư cách là tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt hay là cương vực quốc gia, lãnh thổ, không gian sinh tồn của các dân tộc. Với ý nghĩa đó, mối quan hệ giữa con người với con người liên quan tới đất đai là một trong những mối quan hệ thường xuyên, thiết thân với mọi thành viên trong xã hội, và việc giải quyết mối quan hệ này là một trong những vấn đề hệ trọng với mọi quốc gia. Lịch sử giải quyết các quan hệ xã hội liên quan tới đất đai của loài người từ thời cổ đại đến nay luôn chứng kiến những bối cảnh phức tạp, khi công khai, khi âm thầm. Chế độ sở hữu đất đai, quyền sở hữu đất đai luôn được xác lập dựa trên những điều kiện lịch sử - xã hội nhất định. Vì thế, việc bảo hộ quyền sở hữu đất đai của các quốc gia cũng là vấn đề thực tiễn lịch sử. Quan hệ đất đai không thể vượt ra ngoài khuôn khổ chế độ chính trị, con đường phát triển của xã hội và ý chí của giai cấp cầm quyền. Lô-gíc tất yếu đó là bằng chứng thép khẳng định cho tính tương thích giữa quan hệ sở hữu đất đai với chế độ chính trị - xã hội tương ứng.

Ba là, sự đặc biệt về tính chính trị, tính thiêng liêng của quyền sở hữu đất đai.

Ngay sau khi chuyển hóa thành tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt, không gian sinh tồn, cương vực quốc gia, đất đai là sự kết tinh bởi trí tuệ, sức lực của những tập đoàn người dưới những chế độ chính trị nhất định. Công cuộc khẩn hoang hay phòng, chống thiên tai không thể là của một số ít người, của một thế hệ, mà là của các thế hệ nối tiếp nhau. Với tính chất đó, quyền sở hữu vốn đã mang tính chất xã hội rộng khắp, lại mang ý nghĩa chính trị, tính thiêng liêng sâu sắc. Bất kỳ sự hy sinh chính nghĩa nào của các thế hệ đi trước để bảo vệ bờ cõi, chế ngự thiên nhiên, đều rất thiêng liêng và là trách nhiệm, bổn phận đối với các thế hệ tiếp nối trong xã hội.

Trong cấu trúc quyền sở hữu đất đai, có đầy đủ quyền năng để các chủ thể được giao quyền có thể sử dụng và khai thác lợi ích từ đất đai. Vì thế, trong xã hội hiện đại, đôi khi người ta lầm tưởng, đồng nhất quyền sở hữu và quyền sử dụng, từ đó không nhận biết đủ sâu sắc về tính chính trị, tính thiêng liêng của quyền sở hữu đất đai. Mọi kết tinh hao phí sức lao động của con người đều thiêng liêng, nhưng đối với đất đai, sự kết tinh đó lớn hơn gấp nhiều lần so với các loại tài sản khác. Tính thiêng liêng của quyền sở hữu đất đai, vì thế, cũng tăng lên gấp bội.

Có thể thấy, tính chất đặc biệt của quyền sở hữu đất đai nổi bật hơn cả là, ngay từ tiền đề hình thành, nó đã thuộc về xã hội và do tính xã hội quy định. Quan hệ sở hữu là quan hệ xã hội từ trong bản chất của nó, song, đối với các loại tài sản thông thường, quyền sở hữu có thể thuộc về tư nhân và thể hiện tính chất tư nhân. Việc khai thác lợi ích của quyền sở hữu tài sản thông thường có thể được thực hiện một cách đầy đủ trong cấu trúc quyền sở hữu tư nhân. Trái lại, đối với quyền sở hữu đất đai, việc khai thác lợi ích của quyền sở hữu này chỉ có thể thực hiện được một cách đầy đủ trong cấu trúc quyền sở hữu xã hội, đầy đủ hơn cả là ở tính chất toàn dân của quyền sở hữu.

Sở hữu toàn dân về đất đai là phương thức để thực hiện một cách đầy đủ quyền tài sản và hưởng dụng lợi ích lớn nhất từ quyền sở hữu. Trong cấu trúc quyền sở hữu tư nhân về đất đai, lợi ích và sự hưởng dụng lợi ích từ quyền sở hữu vẫn có thể được thực hiện, tuy nhiên đó không phải là lợi ích lớn nhất, chưa phải là sự tối đa hóa lợi ích, bởi vì, với quyền sở hữu này, hàng loạt quyền mang tính lịch sử của các thế hệ người đã bị tước bỏ. Trong chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, không những các quyền sở hữu của thế hệ hiện tại được bảo hộ, mà các quyền sở hữu của các thế hệ từ trong lịch sử cũng được tôn trọng. Như vậy, tính chất đặc biệt của quyền sở hữu đất đai lại được thể hiện rõ hơn so với bất kỳ loại hình tài sản nào và các quyền sở hữu tài sản thông thường nào.


Kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế

 Trước hết cần khẳng định, Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Điều này thể hiện rõ trong các nghị quyết, văn kiện Đại hội Đảng và thực tiễn sinh động của đất nước. Trong hơn 35 năm đổi mới, đường lối độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng và Nhà nước ta đã góp phần quan trọng tạo môi trường hòa bình, ổn định, điều kiện thuận lợi và tranh thủ được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tăng cường quốc phòng - an ninh, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Do vậy, có thể khẳng định, nhất quán kiên định thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Việt Nam xuất phát trước hết vì lợi ích quốc gia - dân tộc, phù hợp với xu thế thời đại là hòa bình, độc lập, phát triển và hội nhập quốc tế.

Bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc là mục tiêu xuyên suốt, nhất thành bất biến, không thể đánh đổi, không thể thỏa hiệp, dù trong bất cứ thời đoạn, hoàn cảnh nào. Trong mỗi bước đường lịch sử cách mạng, trong mỗi giai đoạn và hoàn cảnh khác nhau, lợi ích quốc gia - dân tộc Việt Nam đều có những thứ tự ưu tiên trước sau, nhưng mục đích xuyên suốt vẫn là độc lập, chủ quyền, tự do cho đất nước, hạnh phúc cho nhân dân. Chúng ta sẽ không vì bất cứ lợi ích trước mắt, lợi ích cục bộ nào mà đánh đổi hoặc nhân nhượng. Đây là nguyên tắc tối cao, bất biến trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, để đạt được và bảo vệ lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, dù nhiều lần đứng trước thách thức nghiệt ngã của lịch sử, nhưng chúng ta vẫn giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ, “dĩ bất biến ứng vạn biến”, giành chiến thắng từng bước, thậm chí có lúc phải nhân nhượng để tranh thủ khoảng thời gian hòa bình quý báu, tránh tối đa tình thế bất lợi cho cách mạng, đồng thời bảo toàn, củng cố lực lượng, dồn sức cho cuộc đấu tranh trường kỳ gian khổ, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu bảo đảm và bảo vệ lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc.

Thưc hiện nhiệm vụ đối ngoại vì lợi ích quốc gia - dân tộc là mục tiêu tối thượng, hàng đầu, xuyên suốt đã được Đảng ta khẳng định trong các văn kiện đại hội Đảng. Đại hội XI đã nêu rõ mục tiêu đối ngoại là “vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh”. Đại hội XII khẳng định: “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”(1). Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam”(2).

Theo đó, nhiệm vụ xuyên suốt, bao trùm của đối ngoại là đưa đất nước vào vị trí có lợi nhất trong mọi diễn biến bất định của tình hình thế giới, khu vực, xu thế quốc tế và tương quan lực lượng chính trị thế giới; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phục vụ phát triển, bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Kiên định thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ

Độc lập, tự chủ trong chính sách đối ngoại là khả năng tự quyết trong các vấn đề liên quan tới hoạch định và triển khai chính sách, chiến lược, hành động của mình, mà không chịu bất kỳ sức ép hay tác động, áp đặt từ các yếu tố bên ngoài, nhằm mục tiêu bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Độc lập, tự chủ còn là khả năng đứng vững, chống chịu trước mọi biến động của thời cuộc, thể hiện rõ tinh thần độc lập, tự cường, dựa vào chính mình để bảo vệ lợi ích của đất nước, dân tộc. Độc lập, tự chủ không đồng nghĩa với biệt lập. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, độc lập, tự chủ chính là sự chủ động tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế, xử lý đúng đắn, hài hòa, cân bằng các mối quan hệ lợi ích dân tộc và giai cấp, quốc gia và thời đại. Và trong quá trình mở rộng hợp tác với thế giới, độc lập, tự chủ chính là “mỏ neo” quy định quá trình hội nhập quốc tế. Nói cách khác, độc lập, tự chủ của một quốc gia sẽ quyết định mức độ, phạm vi, chiều hướng hội nhập quốc tế của quốc gia đó.

Hiện nay, thế giới đang trong ngã rẽ của những biến chuyển liên quan đến cạnh tranh nước lớn cũng như những điều chỉnh chính sách của họ. Mọi động thái của các cường quốc đều ảnh hưởng, chi phối đến sự vận động, phát triển của thế giới. Trong môi trường quốc tế bất định, bất an đó, các nước, nhất là các nước nhỏ, đều chuẩn bị cho mình một tâm thế tự chủ, khả năng độc lập trước mọi biến động của tình hình, không ngả nghiêng, dao động, không chịu bất kỳ sức ép bên ngoài nào. Giữa muôn vàn quan hệ lợi ích đa chiều, chồng chéo, đan xen và sự cạnh tranh đối đầu quyết liệt giữa các nước lớn, sức ép của các nước lớn với các nước vừa và nhỏ cũng theo chiều hướng gia tăng, đòi hỏi phải có đối sách thận trọng, mềm dẻo và khôn khéo để duy trì quan hệ cân bằng, tạo thế đan xen lợi ích, giữ được thế trung lập và chính sách ngoại giao độc lập, tự chủ, tránh rơi vào tình trạng đối đầu hay lệ thuộc, vừa bảo vệ độc lập, chủ quyền, vừa bảo vệ hòa bình. 

Độc lập, tự chủ là mục tiêu cao nhất của cách mạng Việt Nam, là căn cứ quan trọng nhất để hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại của nước ta. Thực tiễn cách mạng Việt Nam trong quá trình đấu tranh, bảo vệ, giữ vững nền độc lập Tổ quốc, trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước đã cho thấy điều đó.

Sau hơn 35 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, hội đủ tiền đề nội lực để có thể phát huy thế mạnh, bảo đảm sự tự chủ trong các quyết sách liên quan đến vận mệnh phát triển và an ninh của đất nước. Điều này thể hiện rõ trong sự đi lên của đất nước, với cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế ngày càng nâng cao. Việt Nam đã tích cực tham gia vào đời sống quốc tế, góp phần tạo dựng, duy trì, củng cố và gìn giữ môi trường hòa bình, an ninh, ổn định, phát triển. Đảm đương xuất sắc vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch ASEAN nhiệm kỳ 2020 - 2021, liên tục được bầu chọn vào các vị trí quan trọng trong các tổ chức khu vực, quốc tế là những minh chứng cho một Việt Nam ngày càng tự chủ, tự tin, độc lập. Trước những diễn biến mới, phức tạp của một số quốc gia, khu vực trên thế giới, Việt Nam vẫn luôn kiên trì, kiên định giữ vững lập trường đối ngoại, tạo dựng được lợi thế quốc gia và vị thế quốc tế. Do đó, việc cho rằng Việt Nam  cần đi theo và dựa vào một bên để làm điểm tựa chống lại bên khác như một số “luận điệu rao giảng”, sẽ chỉ là ảo tưởng, phi thực tế và vô căn cứ.

Nhất quán chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa

Trong dòng chảy toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, thực hiện chính sách đối ngoại cân bằng, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại là một trong những lựa chọn của không ít các quốc gia trên thế giới nhằm tối ưu hóa lợi ích quốc gia.

Trong lịch sử thế giới, mọi quốc gia, dân tộc trong giải quyết các mối quan hệ đối ngoại đều đề cao và đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc mình lên trên hết. Đặc biệt, trong quan hệ quốc tế đương đại, các nước vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau, vừa là đối thủ, vừa là đối tác của nhau. Không có một quốc gia nào vì quyền lợi nước khác mà hy sinh quyền lợi của nước mình. Do đó, quan điểm liên minh với nước này để chống nước khác hoàn toàn là phi thực tế. Hơn nữa, nếu chỉ trông chờ ảo tưởng vào sự trợ giúp của nước ngoài thì quốc gia đó sẽ trở thành quân cờ trong bàn cờ chiến lược của họ. Nếu chỉ dựa vào một bên, rơi vào quỹ đạo ảnh hưởng của nước khác, không sớm thì muộn, sẽ trở thành đối tượng chiến lược, đối đầu với nước lớn khác, thậm chí còn làm trầm trọng, căng thẳng và phức tạp thêm tình hình. Nó sẽ khiến quốc gia phải lệ thuộc vào chính sự lựa chọn này, là một trong những nguồn gốc làm mất tính độc lập, tự chủ, làm xói mòn sức mạnh, vị thế của đất nước. Nhiều bài học xương máu của các nước trong lịch sử và cả hiện tại minh chứng rõ điều đó.

Bối cảnh phức tạp của tình hình thế giới hiện nay buộc các nước, nhất là các nước vừa và nhỏ, phải có chính sách đối ngoại khôn khéo, giữ cân bằng quan hệ trên tinh thần đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi và phù hợp với luật pháp quốc tế. 

Mở rộng quan hệ đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới không phân biệt chế độ chính trị - xã hội là chủ trương của Đảng và Nhà nước ta thể hiện  trong các văn kiện Đại hội. Trong hơn 35 năm đổi mới, nhất là trong thời gian vừa qua, chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa giúp Việt Nam tạo dựng một mạng lưới quan hệ rộng khắp, tranh thủ được nhiều yếu tố thuận lợi cho công cuộc phát triển đất nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia, nâng cao vị thế quốc tế. 

Thực hiện chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa, đan xen lợi ích với các đối tác chính là nhằm giúp đất nước tránh bị “ngả” về một bên, tránh bị lệ thuộc hoặc bị “kẹt” trong những toan tính chiến lược của các nước khác, bảo đảm sự vững vàng về tâm thế độc lập, tự chủ thông qua sự gia tăng tùy thuộc lẫn nhau giữa nước ta với các nước trên thế giới.

Lịch sử dân tộc đã chứng minh, để bảo vệ được chủ quyền, độc lập dân tộc,  ông cha ta đã phải rất khéo léo trong việc xử lý mối quan hệ bang giao. Nằm ở vị trí địa - chính trị xung yếu, trong hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, Việt Nam luôn phải đối mặt với việc xử lý mối quan hệ với các nước lớn. Do vậy, sự lựa chọn duy nhất trong hoàn cảnh lịch sử bấy giờ buộc ông cha ta phải đứng lên chống ngoại xâm, giành và bảo vệ vững chắc độc lập, song vẫn phải giữ đối sách ứng xử mềm, khôn khéo nhằm bình ổn đất nước, giữ yên bờ cõi.

Ngoại giao đa phương trong tư tưởng Hồ Chí Minh là chính sách đối ngoại làm bạn với tất cả các nước, không gây thù oán với ai đã được Người vận dụng khéo léo trong mọi hoàn cảnh. Năm 1947, thay mặt nhân dân, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người gửi thông điệp tới nhân dân toàn thế giới là: Việt Nam chủ trương làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai(3). Người hết sức coi trọng tình hữu nghị và hợp tác với các nước láng giềng có chung biên giới; mở rộng bang giao với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đối với kẻ thù khi bị sa lầy, bại trận, Người luôn tạo điều kiện, sẵn sàng mở cho đối phương một con đường rút lui trong danh dự. Trong ứng xử với các nước lớn, Người luôn khôn khéo xây dựng và giữ gìn được mối quan hệ tốt đẹp, tranh thủ được sự ủng hộ của quốc tế đối với sự nghiệp cách mạng chính nghĩa của dân tộc. Khoan hòa, nhưng rất kiên quyết, kiên định nguyên tắc với kẻ thù. Người từng chỉ rõ, nguyên tắc thì phải vững chắc, nhưng sách lược cần linh hoạt. Chính vì vậy, cách ứng phó linh hoạt, mềm dẻo của Người, thậm chí có lúc chấp nhận lùi một bước để tiến những bước xa hơn, không những tranh thủ được thời cơ vàng để đưa cách mạng tiến lên, mà còn thu phục được sự nể trọng của đối phương.

Đường lối ngoại giao đa phương của Việt Nam ngày nay mang dấu ấn đậm nét tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh. Đó là, “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”(4). Trong triển khai chính sách đối ngoại đa phương, Việt Nam xây dựng, củng cố, phát triển mạng lưới quan hệ quốc tế đa dạng, duy trì cân bằng quan hệ với các nước lớn, “coi trọng phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị, truyền thống với các nước láng giềng;... đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác, tạo thế đan xen lợi ích và tăng độ tin cậy”(5).

Đối với các nước lớn, Việt Nam thực hiện chính sách đối ngoại “không chọn bên”, đặt mục tiêu lợi ích quốc gia trong ứng xử với các nước này. Tăng cường đa dạng hóa, mở rộng quan hệ đối ngoại với nhiều đối tác sẽ giúp tạo nên một không gian lựa chọn rộng lớn nhiều chiều, nhiều tuyến, nhiều tầng nấc... nhằm tránh bị lệ thuộc vào một vài đối tác, thị trường, thúc đẩy và bảo vệ các lợi ích an ninh và phát triển của Việt Nam, góp phần huy động những nguồn lực và sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong điều kiện hiện nay, giữ cân bằng trong quan hệ với các nước lớn được hiểu là không ngả nghiêng, dao động, không chịu sức ép trước sự lôi kéo, tác động ảnh hưởng từ bên ngoài. Cân bằng trong quan hệ đối ngoại thể hiện sự độc lập, tự chủ trong chính sách, tránh sự lệ thuộc một chiều vào một bên. Trong thế giới toàn cầu hóa và cạnh tranh nước lớn, giữ được thế cân bằng đòi hỏi phải có thực lực và tinh thần tự chủ. Trong hơn 35 năm đổi mới, thực lực cũng như  vị trí, vai trò của Việt Nam trên thế giới không ngừng được nâng cao. Quan hệ song phương và đa phương của Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế, khu vực ngày càng mở rộng, đi vào thực chất, hiệu quả. Việt Nam giữ vững chính sách quốc phòng “bốn không”: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Theo đó, chúng ta không dựa vào bên nọ để chống bên kia và ngược lại; phát triển quan hệ đối ngoại đa phương, thiết lập, củng cố quan hệ với tất cả các nước, nhất là các đối tác chiến lược; gia tăng đan xen lợi ích chung với nhiều nước, tranh thủ tối đa và tạo sự ủng hộ, giúp đỡ của cộng đồng quốc tế; ngăn ngừa nguy cơ và đối phó hiệu quả với mọi hình thức chiến tranh xâm lược...

Đứng vững trên cơ sở luật pháp quốc tế, Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, sự công bằng, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc.

Thực tế sinh động diễn ra trong hơn 35 năm đổi mới, nhất là những năm gần đây, đã minh chứng cho tính đúng đắn trong đường lối đối ngoại của của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Với mục tiêu tối thượng là bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế của Việt Nam đã góp phần bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa. Quan hệ đối ngoại của Việt Nam được mở rộng, ngày càng đi vào chiều sâu, ổn định; chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; đời sống nhân dân được nâng cao, cải thiện. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, có quan hệ đối tác chiến lược với 17 nước và đối tác toàn diện với 13 nước. Trên bình diện đa phương, Việt Nam là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, như Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM)... Trong thực hiện đường lối đối ngoại, Việt Nam luôn tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước. Đối với những vấn đề phức tạp của các quốc gia, Việt Nam luôn giương cao ngọn cờ hòa bình, hợp tác, tích cực trao đổi, đàm phán, tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài cho các tranh chấp bằng biện pháp hoà bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam luôn phát huy vai trò thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, thực hiện tốt các nghĩa vụ đối ngoại. Vai trò, vị thế, uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Thực tế đó là minh chứng không thể phủ nhận về đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong một thế giới đầy biến động, cạnh tranh chiến lược phức tạp và nhiều xu hướng tập hợp lực lượng đa chiều hiện nay./.

Sự tinh vi của những luận điệu chống phá chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam

 Trong thời gian qua, tình hình thế giới và khu vực chuyển biến nhanh chóng với nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song các nhân tố bất ổn ngày càng gia tăng. Đặc biệt, trong hơn hai năm qua, đại dịch COVID-19 tác động nghiêm trọng và để lại hậu quả nặng nề trên mọi mặt của đời sống xã hội ở hầu hết các quốc gia. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt hơn, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa đơn phương, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy. Các thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống ngày càng gay gắt. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ. Quá trình định hình lại cấu trúc chính trị, kinh tế thế giới đang diễn ra ngày càng nhanh với những tập hợp lực lượng đa dạng, phức tạp, đan xen, tác động nhiều chiều đến hòa bình, an ninh và phát triển của các nước.

Lợi dụng bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp, nhiều biến động mới; tình hình trong nước còn nhiều khó khăn, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ráo riết tung ra những luận điệu xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Mục tiêu cuối cùng mà sự chống phá của các thế lực này hướng tới không gì khác là nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, của chế độ xã hội chủ nghĩa và chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Sự tinh vi của những thủ đoạn này ở chỗ, họ lợi dụng không gian mạng xã hội - nơi khởi phát nhanh chóng những thông tin thật - giả, đúng - sai, tốt - xấu... đa chiều, phức tạp, để tung ra thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Thậm chí, một số “nhà hoạt động”, “nhà dân chủ”, “học giả” tự xưng..., kể cả ở ngoài nước, đưa ra những “ý kiến”, “tư vấn”, “phản biện”, tạo những “cơn sóng ngược” trên mạng xã hội, mưu toan gieo rắc tâm lý hoang mang, mất phương hướng, tạo sự bức xúc, tâm lý chống đối, gây mất ổn định xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

Chẳng hạn, họ xuyên tạc rằng đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay là “đu dây”, “tự sát”, bị lệ thuộc, chi phối bởi các cường quốc; rằng sự lạc hậu về chính sách đối ngoại sẽ khiến Việt Nam khó giữ được các quan hệ an ninh với các “phên dậu láng giềng”. Rồi họ đưa ra “lời khuyên”, “chỉ đường” cho Việt Nam nên bỏ chính sách “bốn không” để nghiêng về phương Tây, gắn với thực hiện “dân chủ hóa Việt Nam”. Xem đây là giải pháp để bảo vệ chủ quyền quốc gia. Và rằng, một nền dân chủ đích thực sẽ giúp đất nước thoát khỏi tình thế suy yếu, bị chèn ép...

Tính chất nguy hiểm của các luận điệu nêu trên là tạo ra sự hoang mang, dao động, gây chia rẽ từ bên trong, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước, nhất là các nước đối tác, đối tác chiến lược, khiến dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về Việt Nam.

“Chiến dịch quân sự đặc biệt” mà Nga thực hiện ở U-crai-na là một sự kiện quốc tế được các thế lực thù địch, phản động, lợi dụng triệt để nhằm bóp méo, xuyên tạc chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Quan điểm của Việt Nam hết sức khách quan, rõ ràng, thể hiện qua bốn lần bỏ phiếu, đó là đều khẳng định lập trường nhất quán về giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc, đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ, không sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, tiếp tục kêu gọi các bên giảm căng thẳng, ngừng bắn, nối lại đối thoại, tìm giải pháp lâu dài cho các bất đồng trên cơ sở tính tới quyền và lợi ích chính đáng của các bên liên quan. Phát biểu của Trưởng Phái đoàn Việt Nam tại Liên hợp quốc trong Phiên họp lần thứ 11 của Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thể hiện rất rõ quan điểm rằng, Việt Nam hết sức lo ngại về tình hình xung đột vũ trang hiện nay ở U-crai-na, một quốc gia có chủ quyền, thành viên của Liên hợp quốc. Việt Nam cho rằng, điều cấp bách hiện nay là cần kiềm chế tối đa và chấm dứt ngay lập tức việc sử dụng vũ lực để tránh thêm thương vong và tổn thất, đặc biệt là đối với dân thường. Việt Nam kêu gọi các bên liên quan giảm leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải pháp lâu dài có tính đến lợi ích và quan ngại của tất cả các bên, trên cơ sở luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, trên các trang mạng, diễn đàn, tài khoản mạng xã hội của các tổ chức, cá nhân thù địch, chống đối liên tục đăng tải tin, bài, cố tình đưa ra những luận điệu sai trái, suy diễn, võ đoán, quy chụp rằng quan điểm của Việt Nam là “mơ hồ”, “không kiên định”, “lập trường không dứt khoát”, “rõ ràng”; rằng Việt Nam “lạc lõng” trước thời cuộc. Từ đó, họ đưa ra những kết luận hàm hồ, vô căn cứ rằng Việt Nam sẽ “mất đi sự ủng hộ của các nước vì thực chất đã “chọn phe””.

Phê phán các luận điệu phủ nhận, xuyên tạc đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam

 Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Điều này đã được khẳng định rõ trong các Văn kiện Đảng và trong thực tiễn công cuộc đổi mới đất nước hơn 35 năm qua. Tuy nhiên, trong âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động, thì chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam là một trong những mục tiêu mà họ nhắm tới và tìm mọi thủ đoạn thâm độc để chống phá.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc chủ trì lễ đón chính thức Tổng thư ký Liên hợp quốc António Guterres thăm Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 45 năm Việt Nam tham gia Liên hợp quốc _Ảnh: TTXVN

 

Phát triển nguồn nhân lực để du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Quảng Ngãi

(LLCT) - Quảng Ngãi có nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa đa dạng, phong phú, thuận lợi cho việc phát triển du lịch. Trong những năm gần đây, du lịch của tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều đóng góp tích cực đối với phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao thu nhập và mức sống cho người dân địa phương. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, nguồn nhân lực ngành du lịch của tỉnh còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập… do đó cần có sự đầu tư hiệu quả để đưa du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn và phát triển bền vững.


Du lịch là ngành đóng góp lớn vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước. Nhận thức rõ tầm quan trọng của ngành du lịch, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 16-01-2017 về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn để phát triển kinh tế đất nước. Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 22-01-2020 Thủ tướng phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030” khẳng định: phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển các ngành và lĩnh vực khác, góp phần quan trọng hình thành cơ cấu kinh tế hiện đại. Phát triển du lịch bền vững và bao trùm, trên nền tảng tăng trưởng xanh, tối đa hóa sự đóng góp của du lịch cho các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc. Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị và Quyết định số 147/QĐ-TTg đều khẳng định nguồn nhân lực phát triển du lịch có vai trò quan trọng, đặc biệt nguồn nhân lực chất lượng cao, đủ số lượng và chất lượng… mới có thể đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch bền vững cho Việt Nam trong bối cảnh mở rộng hội nhập và môi trường du lịch cạnh tranh gay gắt.

Quảng Ngãi có nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân văn đa dạng, phong phú, thuận lợi cho phát triển du lịch. Thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều chính sách nhằm phát triển nguồn nhân lực du lịch, thu hút đầu tư, hình thành các sản phẩm du lịch phù hợp, qua đó đóng góp tích cực đối với nền kinh tế - xã hội, nâng cao thu nhập, mức sống, tạo việc làm cho người dân địa phương. Song thực tế cho thấy, du lịch tỉnh Quảng Ngãi chưa phát huy hết được tiềm lực của mình, trong đó có nguyên nhân là nhân lực cho ngành du lịch còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập. 

1. Tiềm năng phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi

Quảng Ngãi là tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ, nơi đây mang nhiều dấu ấn riêng biệt với nền văn hóa cổ Sa Huỳnh, công viên địa chất núi lửa đảo Lý Sơn và các dấu ấn lịch sử cách mạng. Đây là lợi thế quan trọng để tỉnh Quảng Ngãi phát triển các sản phẩm du lịch, vừa có nét chung của vùng, song lại có đặc trưng riêng, đáp ứng đa dạng du cầu của du khách trong và ngoài nước.

Quảng Ngãi có 30 điểm đến du lịch hấp dẫn, bao gồm: thành cổ Quảng Ngãi, núi Thiên Ấn, bãi biển Mỹ Khê, bãi tắm Dung Quất, đồng muối Sa Huỳnh, khu du lịch thác Trắng - bãi Dứa, núi Cà Đam, khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng, đèo Vi Ô Lắc, khu lưu niệm cố thủ tướng Phạm Văn Đồng, bãi biển Khe Hai, đèo Long Môn, đảo Lý Sơn, thành cổ Châu Sa, cửa biển Sa Cần, mũi Ba Làng An, sông Trà Khúc, thắng cảnh Gành Yến, làng Bích Họa 3D Gành Yến, Thạch Kỳ Điếu Tẩu, chùa Ông, suối khoáng nóng Nghĩa Thuận, La Hà thạch trận, chùa Đục, đình làng An Hải, đỉnh Thới Lới, cột cờ Tổ quốc... Trong đó bãi biển Mỹ Khê được tạp chí Forbes của Mỹ bình chọn là một trong 10 bãi biển đẹp nhất Việt Nam và trong những năm qua, đây là điểm đến hấp dẫn thu hút khá đông khách du lịch trong nước và quốc tế. 

Toàn tỉnh có 25 dân tộc, trong đó các dân tộc thiểu số có bản sắc văn hóa độc đáo như: Hrê, Co, Xơ Đăng và một số dân tộc di cư từ các tỉnh phía Bắc. Đây là một lợi thế để Quảng Ngãi khai thác, phát huy các giá trị văn hóa để phát triển du lịch, đồng thời cũng là nguồn nhân lực quan trọng có thể tham gia vào hoạt động phục vụ du lịch, nhất là du lịch cộng đồng.

Với lợi thế về tài nguyên du lịch biển đảo, tỉnh Quảng Ngãi có thể đẩy mạnh sản phẩm du lịch này trở thành thế mạnh, là điểm nhấn và phấn đấu đưa du lịch biển đảo trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Tại Hội thảo toàn quốc về du lịch năm 2023 với chủ đề “Đẩy nhanh phục hồi, tăng tốc phát triển diễn ra vào ngày 15-3-2023 tại Hà Nội, các bộ, ngành, các địa phương đã khẳng định du lịch phải được xác định là một ngành kinh tế mũi nhọn, cần hướng tới phát triển du lịch bền vững, xác định các sản phẩm du lịch mang tính đặc trưng và có 5 sản phẩm du lịch mà Việt Nam sẽ tập trung đẩy mạnh, phát triển trong thời gian tới, trong đó có du lịch biển đảo, du lịch văn hóa…

Tuy nhiên, để du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, yêu cầu về đổi mới nhận thức, tư duy về phát triển du lịch, đặc biệt đòi hỏi phải có 1 nguồn nhân lực du lịch tương xứng, bảo đảm cả về số lượng và chất lượng.

2Thực trạng phát triển du lịch và nguồn nhân lực du lịch Quảng Ngãi

Thời gian qua, tỉnh Quảng Ngãi luôn xác định du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn. Quan điểm chung của ngành du lịch tỉnh Quảng Ngãi là phát triển đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa sản phẩm, đa dạng hóa các chuỗi cung ứng dịch vụ, phát huy tài nguyên du lịch, từ đó chú trọng việc thu hút khách quốc tế từ các thị trường Bắc Mỹ, Tây Âu (Pháp, Đức, Hà Lan,...), Đông Bắc Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản), ASEAN (Thái Lan, Xinhgapo, Malaixia) và khách trong nước đến tham quan, nghỉ dưỡng và trải nghiệm.

Năm 2018, lượng khách đến Quảng Ngãi ước đạt khoảng 1 triệu lượt người, đạt 117% so với kế hoạch, tăng 23% so với cùng kỳ năm 2017, chiếm 4,8% lượng khách du lịch của toàn vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (19.058.194 người). Trong đó, có 86.000 lượt khách quốc tế (chiếm 1,14% ), đạt 122% so với kế hoạch và tăng 25% so với cùng kỳ năm 2017. Riêng huyện đảo Lý Sơn đón 230.320 lượt khách, tăng 11,7% so với cùng kỳ năm trước.

Số ngày lưu trú của khách quốc tế và khách trong nước tăng ổn định qua các năm. Năm 2010, số ngày lưu trú của khách quốc tế là 2,5 ngày và khách trong nước là 1,9 ngày, đến năm 2018, con số này đã tăng lên tương ứng là 2,9 ngày và 2,7 ngày. Theo đó, mức chi tiêu bình quân của khách quốc tế năm 2010 là 70 USD/ngày và khách trong nước là 600.000 đồng/ngày... Điều đó đã góp phần không nhỏ vào tăng trưởng GDP cho toàn tỉnh, đồng thời tạo ra việc làm cho nhiều người dân(1).

Năm 2018, toàn tỉnh có 300 cơ sở lưu trú du lịch (năm 2010 chỉ có 59 cơ sở), chủ yếu tập trung tại thành phố Quảng Ngãi, các huyện Đức Phổ, Bình Sơn, Sơn Tịnh, Lý Sơn… Tổng số buồng lưu trú trên địa bàn tỉnh cũng tăng đáng kể, từ 1.080 buồng năm 2010 lên 4.020 buồng năm 2018; tốc độ tăng trưởng trung bình cả giai đoạn 2010 - 2018 là 10,8%/năm. Trong đó, năm 2010, số buồng đạt tiêu chuẩn 3-5 sao là 538 buồng và dưới 3 sao là 129 buồng; năm 2018 đã tăng tương ứng là 538 buồng và 347 buồng.

Có thể thấy, hệ thống cơ sở lưu trú ở tỉnh Quảng Ngãi tăng về số lượng mà không có nhiều sự thay đổi về chất lượng, số buồng đạt tiêu chuẩn 3-5 sao giai đoạn 2010 - 2018 là không thay đổi(2).

Về nguồn nhân lực trong ngành du lịch, tính đến hết năm 2018, tổng số lao động hoạt động trong lĩnh vực du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi là 12.400 người. Trong đó, số lượng lao động trực tiếp là 4.000 người (chiếm 32,3%), lao động gián tiếp là 8.400 người (chiếm 67,7%). 

Tốc độ tăng trưởng nhân lực ngành du lịch giai đoạn 2010-2019 bình quân là 10,45%. Cụ thể, năm 2010, số lao động du lịch là 6.045 người, chiếm 0,83% lực lượng lao động toàn tỉnh, song đến năm 2019, tổng số lao động du lịch là 13.500 người, tăng 11% so với năm 2018 và tăng 74,55% so với năm 2010.

 

Để du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn và phát triển nguồn nhân lực đúng trọng tâm, chất lượng, hiệu quả, đòi hỏi tỉnh Quảng Ngãi phải có một chiến lược phát triển du lịch cho từng giai đoạn rõ ràng, chú trọng tính đa dạng hóa thị trường khách du lịch, đa dạng các sản phẩm du lịch... để từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phù hợp...

Mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong thời gian tới nên tập trung xây dựng lực lượng lao động ngành du lịch đáp ứng yêu cầu về chất lượng, hợp lý về cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo để bảo đảm tính chuyên nghiệp, đủ sức cạnh tranh và hội nhập, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch, đáp ứng nhu cầu xã hội.

Năm 2020, ngành du lịch tỉnh Quảng Ngãi bị ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19, do vậy, lực lượng lao động trong ngành du lịch cũng có sự sụt giảm đáng kể, giảm 4.800 người so với năm 2019(3).

Thực tế ở các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh du lịch, nhân lực chủ yếu là lao động địa phương, lao động phổ thông chưa qua đào tạo về du lịch hoặc không đúng chuyên ngành du lịch. Lao động có trình độ từ trung cấp trở lên chiếm 52,7% (trong đó trên đại học 6,2%, đại học chiếm 14,6%, cao đẳng chiếm 15,4% và trung cấp chiếm 16,5%), lao động được đào tạo ngắn hạn bao gồm sơ cấp nghề chiếm 14,8%, bồi dưỡng ngắn hạn chiếm 7,7%. Số lao động chưa qua đào tạo chiếm 21,7% tổng số lao động trực tiếp của ngành du lịch(4)

Lao động ngành du lịch tỉnh Quảng Ngãi không được đào tạo về ngoại ngữ còn khá lớn, chiếm 76,8%. Đây là một trở ngại lớn cho việc phát triển du lịch của tỉnh. Kết quả khảo sát cho thấy, trong số lao động du lịch đã qua đào tạo ngoại ngữ thì tiếng Anh chiếm lớn nhất, với 21,9%, tiếp sau đó là tiếng Pháp, tiếng Trung và tiếng Nga, không có tiếng Nhật, Hàn. Tỷ lệ lao động có thể sử dụng ngoại ngữ khác tiếng Anh còn rất thấp, chưa đáp ứng được sự phát triển của thị trường khách quốc tế đến với Quảng Ngãi(5)

Nhân lực du lịch của tỉnh Quảng Ngãi, bên cạnh ưu điểm là số lượng ngày càng tăng, có ý thức trách nhiệm, nhiệt tình, chăm chỉ..., vẫn còn những hạn chế là số lượng nhân lực còn ít, cơ cấu chưa đồng bộ và năng lực thực tiễn chưa cao; nhân lực có tay nghề cao chưa nhiều, chủ yếu là nhân lực nông thôn, gián tiếp tham gia vào hoạt động du lịch, còn thiếu những cán bộ nòng cốt trong đào tao nhân lực trẻ; kiến thức hội nhập, ngoại ngữ, tin học còn yếu; chưa nắm bắt được đầy đủ thông tin nên chưa đủ năng lực phân tích, đánh giá, sáng tạo... để hình thành các sản phẩm du lịch đặc trưng; năng lực lãnh đạo, quản lý, quản trị và kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế, chưa tương xứng với sự phát triển của ngành và khả năng hội nhập với thị trường du lịch thế giới chưa cao. 

Từ giữa năm 2022 trở lại đây, dịch bệnh đã được kiểm soát, Việt Nam xác định phát triển du lịch trong trạng thái mới sau Covid-19 và quyết tâm phục hồi, tăng tốc, đẩy mạnh phát triển. Theo đó, du lịch phải bảo đảm tính chuyên nghiệp, hiện đại và phát triển bền vững, trong đó vai trò của nhân lực du lịch rất quan trọng. Để du lịch chiếm vị trí mũi nhọn trong nền kinh tế, tỉnh Quảng Ngãi cần xác định đầy đủ, rõ ràng về yếu tố con người, yếu tố nguồn lực để phục vụ, quản lý, điều hành, phân phối… các sản phẩm du lịch.

Con người không phải là khách thể của du lịch, đứng ngoài du lịch mà là một yếu tố cấu thành sản phẩm du lịch. Con người với toàn bộ tiềm năng của mình như tri thức, kỹ năng, hành vi, thái độ, thậm chí là cả hình thức được coi là một bộ phận của sản phẩm du lịch. Chất lượng của dịch vụ du lịch phụ thuộc vào con người, phụ thuộc vào phẩm chất của người làm du lịch(6)

Do đó, để du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển bền vững thì việc quan tâm, đầu tư và nắm bắt được các đặc điểm cơ bản của nhân lực du lịch, bao gồm nhân lực du lịch trực tiếp và gián tiếp; nhân lực du lịch thường xuyên và mùa vụ; nhân lực du lịch chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp; trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kinh nghiệm của nhân lực du lịch…(7) là hết sức quan trọng.

3. Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnh Quảng Ngãi

Phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt nguồn nhân lực chất lượng cao được coi là yếu tố quyết định sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam nói chung, ngành du lịch tỉnh Quảng Ngãi nói riêng. Để phát triển nguồn nhân lực cần phải hiểu rõ đặc điểm của nhân lực du lịch để từ đó có cách phân loại trong sử dụng, đào tạo, đầu tư và phát triển. 

Nghị quyết 08 - NQ/TW ngày 16-01-2017 khẳng định nguồn nhân lực du lịch cần được chú trọng đào tạo đủ số lượng và đạt chất lượng cao, phát triển nguồn nhân lực du lịch cần tập trung: (1) Nhà nước có chính sách thu hút đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực du lịch; (2) Tăng cường năng lực cho các cơ sở đào tạo du lịch cả về cơ sở vật chất kỹ thuật, nội dung, chương trình và đội ngũ giáo viên; (3) Đẩy mạnh xã hội hóa và hợp tác quốc tế, thu hút nguồn lực phát triển nguồn nhân lực du lịch; (4) Đa dạng hóa các hình thức đào tạo du lịch; (5) Đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến trong đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực du lịch; (6) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cả về quản lý nhà nước, quản trị doanh nghiệp và lao động nghề du lịch; (7) Chú trọng nâng cao kỹnăng nghề, ngoại ngữ và đạo đức nghề nghiệp cho lực lượng lao động ngành du lịch; (8) Hoàn thiện bộ tiêu chuẩn nghề quốc gia về du lịch tương thích với các tiêu chuẩn trong ASEAN; (9) Thành lập Hội đồng nghề du lịch quốc gia và Hội đồng cấp chứng chỉ nghề du lịch.

Nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao, trước hết là nguồn nhân lực trực tiếp của ngành du lịch được đào tạo bài bản với đầy đủ kỹ năng cứng và kỹ năng mềm, có thể đáp ứng được môi trường làm việc quốc tế đa dạng, hội nhập. Như vậy, nhân lực trực tiếp chất lượng cao của ngành du lịch phải có đủ năng lực với vai trò nòng cốt trong phát triển du lịch, có khả năng tiếp cận, làm chủ, chuyển giao khoa học công nghệ tiên tiến, sáng tạo và truyền bá tinh hoa dân tộc trong lĩnh vực du lịch, thu hút nhiều khách du lịch, có sức khỏe tốt, phát triển toàn diện về trí tuệ, ý chí, năng lực và đạo đức, có năng lực tự học, tự đào tạo cao, năng động, chủ động, có tri thức và thích nghi(8).

Tuy nhiên, để du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn và phát triển nguồn nhân lực đúng trọng tâm, chất lượng, hiệu quả, đòi hỏi tỉnh Quảng Ngãi phải có một chiến lược phát triển du lịch cho từng giai đoạn rõ ràng, chú trọng tính đa dạng hóa thị trường khách du lịch, đa dạng các sản phẩm du lịch... để từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phù hợp.

Trên cơ sở xác định rõ mục tiêu và phân khúc thị trường du lịch, các sản phẩm du lịch, tỉnh Quảng Ngãi tập trung vào chiến lược lựa chọn, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch. Mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong thời gian tới nên tập trung xây dựng lực lượng lao động ngành du lịch đáp ứng yêu cầu về chất lượng, hợp lý về cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo để bảo đảm tính chuyên nghiệp, đủ sức cạnh tranh và hội nhập, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch, đáp ứng nhu cầu xã hội.  Để làm được điều này cần tập trung vào một số nội dung quan trọng sau:

Một là, các giải pháp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi, để du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn cần bám sát tinh thần nội dung của Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 16-01-2017, trong đó có đề cập đến các phương án phát triển nguồn nhân lực du lịch.

Hai là, tập trung xây dựng và tổ chức thực hiện đề án, kế hoạch phát triển nhân lực du lịch phù hợp với nhu cầu phát triển du lịch từng thời kỳ; từng bước thực hiện chuẩn hóa nhân lực du lịch phùhợp tiêu chuẩn quốc gia, khu vực và quốc tế. Áp dụng việc đào tạo kỹ năng nghề và chuẩn hóa nghề theo tiêu chuẩn ASEAN. 

Ba là, nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo, có tay nghề, có kỹ năng tổ chức, thực hiện, quản lý du lịch. Đến năm 2025, phấn đấu trên 70% và trên 80% vào năm 2030 lao động trong lĩnh vực du lịch được đào tạo bồi dưỡng chuyên môn và chuyên môn sâu về du lịch.

Bốn là, tập trung ưu tiên đào tạo kỹ năng các nghề du lịch cho các hộ gia đình làm du lịch cộng đồng, các hộ dân làng chài, nhất là phụ nữ và đồng bào dân tộc thiểu số. Phát huy tốt các chương trình, dự án hỗ trợ từ các chính phủ, tổ chức nhà nước, các tổ chức phi chính phủ...

Năm là, từ nay đến năm 2030, tập trung phát triển nguồn nhân lực bậc cao bao gồm đội ngũ quản lý, lực lượng chuyên gia đầu ngành, đội ngũ nghiên cứu và lao động kỹ năng cao. Đẩy nhanh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong ngành du lịch.

Sáu là, có chính sách và cơ chế nhằm gắn kết giữa ba (03) nhà: Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp. Chú trọng đến việc bảo đảm sự liên kết chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp kinh doanh du lịch trong đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nhân lực có chất lượng cho ngành du lịch; đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn giáo viên giảng dạy về du lịch.

Chủ động tiến hành các hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch, hợp tác với các cơ sở đào tạo du lịch trong nước, đặc biệt với Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Hà Nội, TP. HCM để có thêm nguồn lực cho công tác đào tạo nhân lực ngành du lịch của Quảng Ngãi; trường Cao đẳng Quảng Ngãi đang đẩy mạnh hợp tác quốc tế để sinh viên được thực hành, thực tập tại nước ngoài như Thái Lan, Nhật, Hàn Quốc và Ôxtrâylia…

_________________

Ngày nhận bài: 9-6-2023; Ngày bình duyệt: 12-6-2023; Ngày duyệt đăng: 9-7-2023.

 

(1), (2), (3), (4), (5) Sở Văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Quảng Ngãi: Đề án phát triển nguồn nhân lực đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, 2019.

(6), (8) Phan Huy Xu, Võ Văn Thành: Du lịch Việt Nam từ lí thuyêt đến thực tiễn, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, 2018, tr.202, 205.

(7) Nguyễn Phạm Hùng: Văn hóa du lịch, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2022, tr.308.

PGS, TS NGUYỄN THỊ SONG HÀ

Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

TS NGUYỄN XUÂN HÒA

Viện Địa lý nhân văn, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

 

Hải Phòng cải thiện môi trường đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng và phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

(LLCT) - Hải Phòng là thành phố trực thuộc Trung ương, có nhiều lợi thế về phát triển sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch vụ… Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Hải Phòng luôn quan tâm tạo lập, cải thiện môi trường đầu tư để thu hút các nguồn lực. Bài viết làm rõ kết quả cải thiện môi trường đầu tư của Hải Phòng, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cải thiện môi trường đầu tư của Hải Phòng trong thời gian tới.


Ngày 24-01-2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 45-NQ/TW về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị là kết quả của quá trình chuẩn bị công phu, tổng kết sâu sắc cả về thực tiễn và lý luận 15 năm thực hiện Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 5-8-2003 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Việc ban hành Nghị quyết đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước đối với thành phố Hải Phòng. Bộ Chính trị đã xem xét toàn diện các yếu tố trước mắt và lâu dài, các mối quan hệ giữa thành phố với các địa phương khác trong vùng và cả nước, khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của Hải Phòng trong sự phát triển chung của đất nước,… Từ đó, đề ra chủ trương phát triển thành phố Hải Phòng với hệ quan điểm chỉ đạo, mục tiêu tổng quát, cụ thể và các nhóm nhiệm vụ, giải pháp nhằm phát huy những tiềm năng, lợi thế của Hải Phòng thành nguồn lực cho thực hiện các mục tiêu phát triển. Thực hiện Nghị quyết số 45-NQ/TW, việc cải thiện môi trường đầu tư (MTĐT) là vấn đề cấp thiết hàng đầu của Hải Phòng.

1. Quan điểm và mục tiêu của Đảng về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng 

Tại Nghị quyết số 45, Bộ Chính trị xác định rõ 5 quan điểm chỉ đạo là: 

Xây dựng và phát triển Hải Phòng trên cơ sở khai thác hiệu quả các lợi thế, tiềm năng, mối tương quan, liên kết với các tỉnh ven biển Bắc Bộ, khu vực đồng bằng sông Hồng, các tỉnh phía Bắc và kết nối quốc tế. Hải Phòng không chỉ là một cực phát triển quan trọng trong tam giác phát triển Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh mà còn là động lực phát triển của vùng Bắc Bộ và của cả nước. 

Chú ý giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển nhanh và bền vừng; giữa kế thừa và phát triển; giữa phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu, trong đó phát triển theo chiều sâu là chủ đạo, để Hải Phòng đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH của cả nước, sớm trở thành thành phố công nghiệp gắn với cảng biển phát triển hiện đại, thông minh, bền vững với những ngành mũi nhọn như kinh tế biển, cơ khí chế tạo, chế biến, điện tử, dịch vụ logistics, khoa học và công nghệ biển.

Các chủ trương, chính sách, dự án phát triển kinh tế - xã hội của Hải Phòng phải gắn liền với mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường, sinh thái; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, phát huy đầy đủ vai trò làm chủ của nhân dân; chú trọng chăm lo xây dựng đội ngũ công nhân Hải Phòng thực sự là lực lượng tiên phong trong CNH, HĐH; đẩy mạnh cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới phù hợp với tiến trình CNH và đô thị hóa.

Xây dựng và thực hiện các cơ chế, chính sách có tính đột phá, khả thi cao, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, tạo môi trường đầu tư, sản xuất kinh doanh hấp dẫn, thuận lợi, có khả năng cạnh tranh cao, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước. Chú trọng đầu tư phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo động lực đẩy mạnh CNH, HĐH. 

Tăng cường năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng; hiệu lực, hiệu quả quản lý của các cấp chính quyền; phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, truyền thống cách mạng của các tầng lóp nhân dân Hải Phòng.

Bộ Chính trị xác định mục tiêu xây dựng và phát triển Hải Phòng thành thành phố đi đầu cả nước trong sự nghiệp CNH, HĐH; động lực phát triển của vùng Bắc Bộ và của cả nước; có công nghiệp phát triển hiện đại, thông minh, bền vững; kết cấu hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại kết nối thuận lợi với trong nước và quốc tế bằng cả đường bộ, đường sắt, đường biển, đường hàng không; trọng điểm dịch vụ logistics; trung tâm quốc tế về giáo dục, đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ, kinh tế biển; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao ngang tầm với các thành phố tiêu biểu ở châu Á; trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm, quốc phòng, an ninh được giữ vững.

Trong đó, cụ thể đến năm 2025: Hải Phòng cơ bản hoàn thành sự nghiệp CNH, HĐH; đạt các tiêu chí đô thị loại I; trở thành thành phố công nghiệp theo hướng hiện đại; là trọng điểm kinh tế biển của cả nước, trung tâm dịch vụ logistics quốc gia, trung tâm đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ biển của cả nước, trung tâm nghề cá, dịch vụ hậu cần nghề cá và tìm kiếm cứu nạn khu vực phía Bắc; Cát Bà, Đồ Sơn cùng với Hạ Long trở thành trung tâm du lịch quốc tế. Hoàn thành việc di chuyển trung tâm hành chính thành phố sang phía Bắc sông Cấm; xây dựng chính quyền đô thị với bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Đến năm 2030, hải Phòng trở thành thành phố công nghiệp phát triển hiện đại, thông minh, bền vững tầm cỡ khu vực Đông Nam Á; trung tâm dịch vụ logistics quốc tế hiện đại bằng cả đường biển, đường hàng không, đường bộ cao tốc, đường sắt tốc độ cao; trung tâm quốc tế về đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ với các ngành nghề hàng hải, đại dương học, kinh tế biển. Cơ bản đạt các tiêu chí của đô thị loại đặc biệt. Hoàn thành việc chuyển đổi 50% số huyện thành đơn vị hành chính quận. Chính quyền đô thị được xây dựng và hoàn thiện phù hợp với yêu cầu của thành phố thông minh.

Tầm nhìn đến năm 2045: Hải Phòng trở thành thành phố có trình độ phát triển cao trong nhóm các thành phố hàng đầu châu Á và thế giới(1).

2. Thực trạng môi trường đầu tư của thành phố Hải Phòng 

MTĐT được hiểu là bao gồm các yếu tố, điều kiện về pháp luật, kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, các yếu tố về cơ sở hạ tầng, năng lực thị trường và cả các lợi thế của một quốc gia có ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư tại một quốc gia, là tập hợp các yếu tố đặc thù địa phương đang định hình cho các cơ hội và động lực giúp doanh nghiệp đầu tư có hiệu quả, tạo việc làm và mở rộng sản xuất, trên cơ sở đó làm tăng thu nhập. Trong xu thế hội nhập sâu rộng, với sự tác động mạnh mẽ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, xây dựng, cải thiện MTĐT có ý nghĩa, vai trò đặc biệt quan trọng, trực tiếp góp phần tạo cơ hội, thúc đẩy đầu tư phát triển nhanh, tạo động lực cho hoạt động đầu tư hiệu quả của mọi doanh nghiệp, mở rộng hoạt động, tạo công ăn việc làm cho người lao động, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội.

Hải Phòng là thành phố lớn, có lợi thế của thành phố là cảng biển, hạ tầng và truyền thống hoạt động sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch vụ, việc nâng cao hiệu quả cải thiện MTĐT càng trở nên thiết yếu. Nhận thức rõ vấn đề này, Đảng bộ thành phố đã quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của địa phương, để hoạch định chủ trương về xây dựng, cải thiện môi trường đầu tư, nhằm thu hút, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững. 

Các cấp ủy đảng đã triển khai đồng bộ các nhiệm vụ liên quan trực tiếp và gián tiếp về xây dựng, cải thiện MTĐT, hình thành môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh hơn, tăng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp và đáp ứng các yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; phù hợp với thể chế kinh tế thị trường, thông lệ, cam kết, chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở các Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XV nhiệm kỳ 2015-2020, lần thứ XVI nhiệm kỳ 2020 - 2025, Thành ủy đã chỉ đạo quán triệt, thực hiện xây dựng, cải thiện MTĐT một cách đồng bộ, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ phát triển thành phố từng giai đoạn.

Nhờ đó, trong những năm qua, MTĐT, hoạt động sản xuất kinh doanh của Hải Phòng được cải thiện mạnh mẽ, việc huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển đạt mức cao. 

 Trong tổng thể kinh tế - xã hội của Hải Phòng, ba trụ cột kinh tế (công nghiệp công nghệ, cảng biển - logistics, du lịch - thương mại) có bước phát triển vượt bậc và đóng góp quan trọng nhất cho sự phát triển của thành phố. Trong đó, ngành công nghiệp được điều chỉnh cơ cấu, phát triển theo hướng công nghiệp công nghệ cao, thân thiện môi trường, với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng bình quân 20,64%/năm, gấp 2,12 lần giai đoạn 2010 - 2015 và hơn hai lần tốc độ tăng chung của cả nước. Cảng biển quốc tế Hải Phòng đã đưa vào vận hành hai bến khởi động, đủ khả năng tiếp nhận tàu có tải trọng 200 nghìn tấn.

Trong 5 năm 2015-2020, Hải Phòng thu hút đầu tư đạt 564.295 tỷ đồng, gấp 3 lần 5 năm trước đó.Trong đó, vốn khu vực ngoài nhà nước và FDI đạt 532.150 tỷ đồng, gấp 6,14 lần so với nhiệm kỳ trước. Vốn đăng ký đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 9,41 tỷ USD, gấp 1,23 lần nhiệm kỳ trước. Chủ trương đổi mới công tác đầu tư, khơi thông mọi tiềm năng, huy động mọi nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển đã đạt bước đột phá quan trọng với cơ cấu vốn đầu tư chuyển mạnh theo hướng xã hội hóa. Vốn đầu tư từ nguồn lực xã hội chiếm khoảng 90%, vốn đầu tư từ ngân sách là 10%(2)

Từ nguồn vốn đầu tư phát triển huy động được, Hải Phòng đã phát triển mạnh mẽ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, trước hết là kết cấu hạ tầng giao thông. Cùng với không gian đô thị, thành phố Hải Phòng triển khai đồng bộ kết cấu hạ tầng với những bước phát triển đột phá mới. 

Trong tổng thể kinh tế - xã hội của Hải Phòng, ba trụ cột kinh tế (công nghiệp công nghệ, cảng biển - logistics, du lịch - thương mại) có bước phát triển vượt bậc và đóng góp quan trọng nhất cho sự phát triển của thành phố. Trong đó, ngành công nghiệp được điều chỉnh cơ cấu, phát triển theo hướng công nghiệp công nghệ cao, thân thiện môi trường, với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng bình quân 20,64%/năm, gấp 2,12 lần giai đoạn 2010 - 2015 và hơn hai lần tốc độ tăng chung của cả nước. Cảng biển quốc tế Hải Phòng đã đưa vào vận hành hai bến khởi động, đủ khả năng tiếp nhận tàu có tải trọng 200 nghìn tấn.

Bên cạnh kết quả đạt được, công tác xây dựng, cải thiện MTĐT Hải Phòng cũng còn những hạn chế: Chưa ban hành được nhiều cơ chế, chính sách có tính đột phá, làm đòn bẩy để tạo ra những nguồn lực mới, những chuyển biến mang tính bước ngoặt, thúc đẩy mạnh mẽ phát triển kinh tế - xã hội. Công tác chỉ đạo, điều hành, quản lý nhà nước của một số cấp, ngành, địa phương, cơ sở còn yếu kém, nhất là trong các lĩnh vực quản lý về xây dựng MTĐT, quy hoạch, quản lý đất đai, tài nguyên, bảo vệ môi trường. Một số ngành kinh tế phát triển chưa tương xứng với lợi thế, tiềm năng của thành phố. 

2. Mục tiêu và một số giải pháp 

Hải Phòng xác định mục tiêu giai đoạn 2020-2025 tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 1.200 nghìn tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu đến năm 2025 đạt 35 tỷ USD. Sản lượng hàng hóa thông qua các cảng trên địa bàn năm 2025 đạt 300 triệu tấn(3). Để thực hiện có hiệu quả công tác cải thiện MTĐT, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết của Đảng bộ thành phố nhiệm kỳ 2020-2025, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận trong cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với việc xây dựng, cải thiện môi trường đầu tư 

Tuyên truyền nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, tổ chức đảng, chính quyền và các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò của việc xây dựng môi trường đầu tư có ý nghĩa quan trọng trong hoạch định chủ trương, chỉ đạo, tổ chức xây dựng, cải thiện MTĐT. Bởi chỉ có trên cơ sở nhận thức đúng, thì mới có những đầu tư thỏa đáng trong hoạch định chủ trương, chỉ đạo, tổ chức thực hiện xây dựng MTĐT hiệu quả. 

Thực tế, trước năm 2005, nhận thức của các chủ thể, các lực lượng liên quan xây dựng MTĐT chưa đầy đủ, coi việc xây dựng MTĐT chỉ là của một số ít ngành, cơ quan chức năng nhà nước. Do vậy, việc xác định nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận trong xây dựng, cải thiện môi trường, thu hút đầu tư phải được đặt lên nhiệm vụ hàng đầu của cả hệ thống chính trị.

Nhiệm vụ này cần được quán triệt sâu rộng trong toàn hệ thống chính trị, được tuyên truyền tới toàn thể đội ngũ cán bộ lãnh đạo thành phố, lãnh đạo các sở, ngành, chính quyền các cấp, cán bộ, đảng viên để nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận về vai trò của xây dựng MTĐT đối với phát triển kinh tế - xã hội; sự thống nhất nhận thức về thực trạng của môi trường đầu tư và sự cần thiết phải xây dựng, cải thiệnMTĐT để thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH. Tuyên truyền giúp nhân dân nhận thức rõ mục tiêu của thu hút đầu tư để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ, đẩy mạnh CNH, HĐH.

Đặc biệt, phải tuyên truyền để thống nhất trong cấp ủy, chính quyền các cấp và nhân dân các nội dung chủ yếu liên quan đến MTĐT nhằm thực hiện tốt quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, định hướng giải phápmà Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định, đó là: “Xây dựng và thực hiện các cơ chế, chính sách có tính đột phá, khả thi cao, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường đầu tư, sản xuất kinh doanh hấp dẫn, thuận lợi, có khả năng cạnh tranh cao, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước. Chú trọng đầu tư phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố Hải Phòng”(4).

Trước hết là thực hiện các mục tiêu đến năm 2025 đã được Đại hội Đảng bộ thành phố xác định: “Đến năm 2025, thành phố Hải Phòng cơ bản hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; trở thành thành phố công nghiệp theo hướng hiện đại; là trọng điểm phát triển kinh tế biển, trung tâm du lịch quốc tế; hoàn thành các tiêu chí đô thị loại I;… tạo nền tảng vững chắc để trở thành thành phố công nghiệp phát triển hiện đại, văn minh, bền vững tầm cỡ khu vực Đông Nam Á vào năm 2030”(5).

Tuyên truyền vận động để cán bộ, đảng viên, nhân dân nhận thức rõ hiệu quả của nền sản xuất nông nghiệp hiện nay là rất thấp, do vậy, cùng với giữ vững kinh tế nông nghiệp bảo đảm an ninh lương thực, cần thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ. Tăng cường tuyên truyền, phổ biển, giáo dục chính sách, pháp luật liên quan đến cải thiện MTĐT, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh bằng nhiều hình thức trong các lĩnh vực phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, hỗ trợ doanh nghiệp. Tăng cường tuyên truyền giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ, công chức, làm thay đổi tư duy, nhận thức, đáp ứng yêu cầu đổi mới. Tạo sự thống nhất cao trong nhận thức từ lãnh đạo thành phố tới các sở, ban, ngành, chính quyền các cấp về thu hút đầu tư là yếu tố quyết định cho sự tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo. 

Hai là, đổi mới cơ chế, chính sách, tạo môi trường pháp lý cho hoạt động đầu tư

Xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách là một trong những nội dung quan trọng để xây dựng MTĐTthuận lợi. Thông qua đó, các chủ đầu tư nắm được thực trạng cơ sở hạ tầng, những vấn đề ưu đãi đối với các ngành, lĩnh vực, những khó khăn và hướng phát triển của lĩnh vực, ngành mà chủ thể có ý định đầu tư. Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị đã nêu rõ: “Không ngừng cải thiện, tạo lập môi trường đầu tư, sản xuất, kinh doanh có sức hấp dẫn, cạnh tranh cao. Đẩy mạnh xã hội hóa, thu hút đầu tư, nhất là theo hình thức hợp tác công - tư (PPP);… Nghiên cứu thực hiện thí điểm một số cơ chế, chính sách mới, có tính đột phá, đặc thù cho thành phố Hải Phòng, đặt trong mối tương quan hợp lý với các thành phố lớn khác trong cả nước; thực hiện phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm của chính quyền địa phương, người đứng đầu trong một số lĩnh vực như quản lý quy hoạch, đất đai, quản lý đô thị, đầu tư, tài chính - ngân sách, tổ chức, nhân sự và tiền lương”(6).

Cụ thể hóa Nghị quyết của Bộ Chính trị, Đảng bộ thành phố Hải Phòng đã nêu rõ: Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố; tiếp tục tăng cường kỷ cương thu, chi ngân sách, cải thiện MTĐT kinh doanh; khơi dậy mọi tiềm năng, lợi thế, thu hút nguồn lực tập trung phát triển đột phá hạ tầng giao thông, đô thị, ba trụ cột kinh tế của thành phố. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững. Thu hút các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn, giữ vai trò dẫn dắt, có sức lan tỏa đầu tư vào thành phố. Chủ động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài có chọn lọc, phù hợp với định hướng cơ cấu nền kinh tế và yêu cầu phát triển bền vững.

Thành phố xác định cần tiếp tục chỉ đạo triển khai thực hiện tốt và giám sát việc thực thi pháp luật như: Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật môi trường...  và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan. Cải thiện môi trường pháp lý trong quá trình thực thi pháp luật, đó là tiến hành triển khai cơ chế, chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư phù hợp với thực tiễn, đặc thù của địa phương. 

Kết hợp với các khung quy định của cấp trên, thành phố chủ động triển khai xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách và các công cụ hỗ trợ liên quan đến đầu tư và quản lý hoạt động đầu tư của cấp chính quyền. Đồng thời, tổng kết thành dữ liệu đầu tư theo các chuyên đề: chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư liên quan đến chi phí thuê lao động, thuế tiếp cận đất đai, chế độ hưởng chi phí giải phóng mặt bằng...; lĩnh vực đầu tư trong các khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp và khu công nghệ cao...; vùng được hưởng chế độ ưu tiên.

Ba là, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng cao tính minh bạch và chất lượng thực thi công vụ và hiệu quả cải thiện môi trường đầu tư

Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị đã nêu rõ: “cải cách hành chính, đặc biệt là trong các lĩnh vực cấp phép đầu tư, tiếp cận đất đai và các nguồn lực, dịch vụ tài chính - ngân hàng, thủ tục hải quan, cải cách thuế quan, giảm tối đa chi phí logistics, minh bạch hóa công tác thanh tra, kiểm tra”(7). Đồng thời, Bộ Chính trị yêu cầu phát triển mạnh các thành phần kinh tế để tạo đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, đặc biệt là trong các ngành kinh tế mũi nhọn, có lợi thế; Tập trung thực hiện sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu thông qua tạo lập MTĐT thuận lợi, tránh việc cạnh tranh dẫn đến cắt giảm thuế, phí quá mức, gây bất bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, gây thất thoát ngân sách nhà nước. 

Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, thành phố Hải Phòng đã “quyết liệt trong việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, trọng tâm là đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, xây dựng chính quyền điện tử, nâng cao chất lượng công vụ của bộ máy hành chính. Phấn đấu Hải Phòng là một trong những địa phương đi đầu trong việc xây dựng chính quyền điện tử, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, cởi mở, thông thoáng”(8).

Trong đó, tập trung thực hiện phát triển hạ tầng số đồng bộ, hiện đại và cung cấp các dịch vụ giải pháp, hệ thống thông tin nền tảng số… để đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi từ chính quyền điện tử sang chính quyền số, đáp ứng nhu cầu ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện chuyển đổi số cho các cơ quan nhà nước và các tổ chức, công dân trên địa bàn thành phố. 

Cùng với đó, thực hiện cung cấp các dịch vụ giải pháp, hệ thống thông tin nền tảng số; triển khai thí điểm mô hình chuyển đổi số trong một số cơ quan, đơn vị giúp đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi từ chính quyền điện tử sang chính quyền số thành phố Hải Phòng, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, cởi mở, thông thoáng. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững. Thu hút các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn, giữ vai trò dẫn dắt, có sức lan tỏa đầu tư vào thành phố. Chủ động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài có chọn lọc, phù hợp với định hướng cơ cấu nền kinh tế và yêu cầu phát triển bền vững.

Phát huy tốt vai trò của các cơ quan thông tin đại chúng trong việc tuyên truyền đẩy mạnh cải cách hành chính. Hằng năm, các cấp ủy đảng và người đứng đầu các cơ quan, đơn vị lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chương trình, kế hoạch thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính của địa phương, cơ quan, đơn vị mình một cách phù hợp, cụ thể, quyết liệt và hiệu quả; gắn thực hiện cải cách hành chính nhà nước với đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh.

_________________

Ngày nhận bài: 27-7-2023; Ngày bình duyệt: 29-7-2023; Ngày duyệt đăng: 12-8-2023.

 (1), (4), (6), (8) Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24-01-2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

(2), (3) Cổng thông tin điện tử thành phố Hải Phòng: Hải Phòng nỗ lực đổi mới, https://haiphong.gov.vn/tin-tuc-su-kien/Hai-Phong-no-luc-doi-moi-53744.html

(5), (7) Đảng bộ thành phố Hải Phòng: Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hải Phòng lần thứ XV nhiệm kỳ 2020 - 2025, Hải Phòng, 2020.

Nguồn: NGUYỄN TRUNG DŨNG

Học viện Chính trị Công an nhân dân