Thứ Hai, 18 tháng 12, 2023

Xử lý nghiêm cán bộ mắc sai phạm, tạo sự đồng thuận trong xã hội

 Cần nhận diện rõ âm mưu chống phá thâm hiểm của các đối tượng chống phá, thù địch để nhận thức rõ quyết tâm lớn của Đảng, Nhà nước ta trong xử lý cán bộ mắc sai phạm, khuyết điểm góp phần làm trong sạch nội bộ Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự nghiêm minh của pháp luật.

Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Đắk Nông đã khởi tố, bắt tạm giam một số cán bộ, công chức sai phạm trong việc bồi thường đất đai.

Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Đắk Nông đã khởi tố, bắt tạm giam một số cán bộ, công chức sai phạm trong việc bồi thường đất đai.

Thời gian qua, việc một số cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý bị xử lý sai phạm theo nguyên tắc của Đảng và các quy định pháp luật được thực hiện một cách dân chủ, công bằng, công khai đã tạo sự đồng thuận trong xã hội, được người dân đồng tình ủng hộ, đánh giá cao.

Song các đối tượng chống phá, thù địch đã lập tức lợi dụng vấn đề này để đưa ra những luận điệu xuyên tạc, nhằm bôi nhọ, vu cáo Đảng và Nhà nước ta, phủ nhận những thành quả trong công tác cán bộ nói riêng và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung.

Do đó, cần nhận diện rõ âm mưu chống phá thâm hiểm đó để nhận thức rõ quyết tâm lớn của Đảng, Nhà nước ta trong xử lý cán bộ mắc sai phạm, khuyết điểm góp phần làm trong sạch nội bộ Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự nghiêm minh của pháp luật.

Thực tiễn cho thấy phần lớn cán bộ sai phạm ở Việt Nam bắt nguồn từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống nên đã sa vào chủ nghĩa cá nhân, dẫn đến tham ô, tham nhũng.

Thống kê cho thấy có khoảng 70% các vụ án xử lý cán bộ sai phạm ở nước ta thời gian qua đều liên quan đến tham nhũng, tiêu cực. Vì thế, đa phần các luận điệu sai trái, thù địch đều nhắm đến việc xử lý cán bộ sai phạm do nguyên nhân này, và tập trung xoay quanh hai luồng ý kiến:

Một là, cho rằng nếu quá tập trung vào xử lý cán bộ sai phạm sẽ làm "nhụt chí", "chùn bước" những người dám nghĩ, dám làm và "cản trở" quá trình phát triển của đất nước. Những người đưa ra ý kiến này cố tình tỏ ra lo ngại trước sự quyết liệt của Đảng, Nhà nước ta khi xử lý những cán bộ, đảng viên mắc sai phạm, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cao. Họ cho rằng nếu tình trạng này kéo dài thì "không ai còn dám làm việc nữa"! Trước mỗi kỳ họp của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xuất hiện không ít ý kiến dạng "tâm thư" đề nghị công tác xử lý cán bộ cần phải có "trọng tâm", "trọng điểm", tránh tình trạng làm tràn lan, ồ ạt kiểu "phong trào".

Hai là, có ý kiến cho rằng việc xử lý cán bộ sai phạm ở nước ta thời gian qua thực chất là "thanh trừng bè phái", "đấu đá nội bộ". Hoặc có ý kiến cho rằng việc xử lý đó chỉ là "trò che mắt thế gian", "chỉ dám đánh con tôm con tép" hoặc "hạ bệ", "triệt tiêu" những người không cùng "nhóm lợi ích"! Những luận điệu này một phần xuất phát từ những người hạn chế về nhận thức, thiếu thông tin, thiếu sự tin tưởng vào quyết tâm lớn của Đảng, Nhà nước song phần lớn xuất phát từ âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch muốn xuyên tạc, phủ nhận những nỗ lực của Việt Nam trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng vì sự phát triển của đất nước.

Việc xử lý cán bộ sai phạm ở Việt Nam hiện đang diễn ra quyết liệt và có sức lan tỏa vô cùng mạnh mẽ, được đông đảo quần chúng nhân dân đồng tình ủng hộ, đánh giá cao.

Phát biểu về vấn đề này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: "Có thể nói, chưa bao giờ chúng ta xử lý nghiêm khắc nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao sai phạm như vừa qua. Đây là điều không ai mong muốn, thậm chí rất đau xót, rất đau lòng; nhưng vì sự nghiệp chung, vì sự nghiêm minh của kỷ luật Đảng, thượng tôn pháp luật của Nhà nước, sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng, Nhà nước và ý nguyện của nhân dân, chúng ta phải làm và kiên quyết làm, làm quyết liệt, mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới".

Những nỗ lực của Việt Nam trong xử lý cán bộ sai phạm do tham nhũng, tiêu cực được thể hiện rõ cả trong quan điểm chỉ đạo và thực tiễn triển khai. Về quan điểm chỉ đạo, có thể thấy rõ từ khi đổi mới đến nay, nhiệm kỳ nào Trung ương Đảng cũng có những nghị quyết chuyên đề liên quan đến công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực.

Tiêu biểu là Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII về "Một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay"; Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa IX về "Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí"; Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí"; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay"; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ"...; Kết luận Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"…

Để cụ thể hóa quan điểm của Đảng và phát huy hiệu quả trên thực tiễn, Nhà nước ta đã ban hành hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đến xử lý các sai phạm của cán bộ do tham nhũng, tiêu cực như Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm chống lãng phí… Đây là căn cứ chính trị, pháp lý quan trọng để xử lý những cán bộ mắc sai phạm. Bên cạnh đó, góp phần tăng cường kỷ cương, kỷ luật đảng, công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử cũng được chỉ đạo quyết liệt; tạo nên những bước chuyển biến rõ rệt trong việc phát hiện, xử lý sai phạm của cán bộ, đảng viên.

Về thực tiễn triển khai, việc xử lý cán bộ sai phạm ở nước ta hiện được thực hiện theo đúng phương châm "không có vùng cấm", "không có ngoại lệ". Bằng chứng là, thời gian qua nhiều vụ án nghiêm trọng đã được đưa ra xét xử nhanh chóng, đúng người đúng tội, khắc phục đáng kể tình trạng án đọng kéo dài gây bức xúc trong dư luận xã hội.

Điều đó cho thấy rõ quyết tâm rất lớn cũng như năng lực, bản lĩnh của Đảng, Nhà nước trong việc phát hiện, xử lý những sai phạm của cán bộ, đảng viên, kể cả những người đã và đang giữ chức vụ quan trọng trong hệ thống chính trị.

Nhiều vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, được dư luận xã hội quan tâm đã được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật, vừa có tác dụng cảnh báo, răn đe; vừa siết chặt kỷ luật, kỷ cương của Đảng; được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ; được dư luận quốc tế đánh giá cao.

Ông Thomas Bo Pedersen, Tổng Giám đốc Công ty Mascot Việt Nam và Lào bình luận: "Đảng và Chính phủ phòng chống tham nhũng, tiêu cực rất quyết liệt và theo một cách có hệ thống. Tôi cho rằng, đây là động thái đúng đắn và cho tôi hy vọng rằng tham nhũng, tiêu cực sẽ không diễn ra khi thấy Đảng và Chính phủ xử lý tham nhũng, tiêu cực quyết liệt như thế cũng như nhìn thấy hậu quả nếu tham nhũng, tiêu cực. Bên cạnh đó, việc thành lập Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh mới đây cũng là một quyết định đúng".

Có thể thấy rõ, việc xử lý những cán bộ sai phạm không những không làm cản trở sự phát triển của đất nước như một số người lo ngại mà còn tạo thêm nhiều xung lực mới cho đất nước phát triển.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: "Cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực đã góp phần rất quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững ổn định chính trị, đặc biệt là đã từng bước lấy lại và củng cố niềm tin của nhân dân".

Thực tiễn những năm qua cho thấy, việc xử lý quyết liệt các vụ án tham nhũng không chỉ ngăn chặn tình trạng thất thoát nguồn tài sản lớn của Nhà nước mà quan trọng hơn cả là góp phần đáng kể trong việc củng cố niềm tin của nhân dân, tạo thêm xung lực mới để cổ vũ, động viên khích lệ nhân dân tiếp tục đóng góp cho sự phát triển đất nước.

Việc xử lý những sai phạm của cán bộ cũng được tiến hành một cách cẩn trọng, bài bản chứ không phải kiểu "phong trào" như các đối tượng chống phá, thù địch vẫn rêu rao, quy chụp. Hơn nữa, thực chất của việc xử lý những cán bộ sai phạm ở Việt Nam thời gian qua là "trị bệnh cứu người", góp phần xây dựng, chỉnh đốn đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh toàn diện. Đây là cuộc đấu tranh chống "giặc nội xâm", không phải là cuộc đấu tranh giữa các "phe cánh", hay "đấu đá nội bộ", "thanh trừng bè phái"… như có người không hiểu hoặc cố tình xuyên tạc với động cơ, dụng ý xấu.

Cũng cần phải thẳng thắn nhìn nhận rằng tại một số địa phương, cấp, ngành, công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực nói chung và việc xử lý sai phạm của cán bộ, đảng viên nói riêng vẫn còn những hạn chế.

Cơ bản nhất là việc tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý tham nhũng, lãng phí trong nội bộ cơ quan, đơn vị vẫn là khâu yếu; tham nhũng, tiêu cực trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp với biểu hiện ngày càng tinh vi khiến cho tham nhũng vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Do đó, mỗi cán bộ, người dân, cơ quan, đơn vị cần tiếp tục nêu cao tinh thần: kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, triệt để hơn, hiệu quả hơn.

Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi tham nhũng, lãng phí, bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng, không có vùng cấm, không có ngoại lệ.

Từ quyết tâm lớn của Đảng, Nhà nước trong việc xử lý cán bộ sai phạm, cũng đặt ra yêu cầu đối với mỗi cán bộ, đảng viên phải phát huy tinh thần tự giác: "tự soi", "tự sửa", "tự chịu trách nhiệm" trước những việc làm của mình để góp phần xây dựng đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh toàn diện./.

LHQ-ST

Nguyên nhân của tình trạng tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên và giải pháp chủ yếu để ngăn chặn, đẩy lùi

 Mặc dù Đảng, Nhà nước đã có khá nhiều chủ trương, quyết định, quy định nhằm ngăn chặn, đẩy lùi, từng bước hạn chế, loại trừ tình trạng tố cáo sai sự thật của người dân và của cán bộ, đảng viên; đồng thời, đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyết liệt và xử lý nghiêm minh những người tố cáo sai sự thật, nhất là cán bộ, đảng viên; song, tình trạng này vẫn tồn tại ở nhiều nơi; vẫn còn trên 50% tố cáo loại này. Đơn cử, qua kết quả thực hiện chỉ thị, quy định của Đảng đối với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trong năm 2022 của tỉnh Nghệ An, cho thấy tố cáo sai chiếm tỷ lệ 59,2%(8), trong đó có một số tố cáo của cán bộ, đảng viên. Ở khá nhiều nơi, tình trạng này đang có xu hướng gia tăng.

Tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên thường do một số nguyên nhân chủ yếu sau:

Thứ nhất, một bộ phận cán bộ, đảng viên nhận thức chưa sâu sắc, đầy đủ về vai trò, tác dụng của việc tố cáo, nhất là tố cáo trong Đảng; về những điều nghiêm cấm trong Luật Tố cáo và những quy định của Đảng về những vấn đề, hành vi bị nghiêm cấm liên quan đến việc tố cáo.

Thứ hai, bản lĩnh chính trị của một số cán bộ, đảng viên không vững vàng, còn nhẹ dạ, cả tin vào những lời bịa đặt của một số người khác, trong đó có một số cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất chưa bị phát hiện và xử lý; do đó, đã tiến hành tố cáo không đúng sự thật đối với cán bộ, đảng viên, cấp ủy, tập thể lãnh đạo, quản lý cơ quan, đơn vị.

Thứ ba, một số cán bộ, đảng viên có mục đích, động cơ không trong sáng, không muốn người khác hơn mình, kèn cựa địa vị, tranh giành quyền lực... nên đã trực tiếp hoặc xúi giục, dụ dỗ, thậm chí khống chế người khác tiến hành tố cáo sai sự thật.

Thứ tư, trình độ, năng lực, kinh nghiệm giải quyết tố cáo và nhận diện tố cáo sai sự thật của nhiều cơ quan, cán bộ có thẩm quyền giải quyết tố cáo của công dân và giải quyết tố cáo trong Đảng còn hạn chế; có lúc, có nơi chưa thật sự coi trọng thỏa đáng việc xử lý người, cán bộ, đảng viên có hành vi tố cáo sai sự thật; chưa xử lý nghiêm, kịp thời theo kỷ luật đảng và pháp luật nên chưa đủ sức răn đe.

Để ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên, cần tập trung thực hiện những giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức đầy đủ, sâu sắc cho cán bộ, đảng viên với những quy định về tố cáo trong Đảng, nhất là Quy định số 22-QĐ/TW, ngày 28-7-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng”; Luật Tố cáo, Luật Cán bộ, công chức; góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, và từ đó, nêu cao tinh thần gương mẫu trong thực hiện các quy định này.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện các văn bản của Nhà nước về tố cáo và các quy định của Đảng về tố cáo, giải quyết tố cáo trong Đảng.

Cần quan tâm hơn đến việc cụ thể hóa, hướng dẫn thực hiện những nội dung về tố cáo, giải quyết tố cáo trong các văn bản nêu trên, nhất là những điều nghiêm cấm khi tiến hành tố cáo; bổ sung quy định về xử lý hành vi tố cáo sai sự thật, đặc biệt là của cán bộ, đảng viên.

Ba là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để hạn chế và đẩy lùi tình trạng cán bộ, đảng viên tố cáo sai sự thật.

Cấp ủy các cấp tăng cường lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát của các cấp ủy trực thuộc, ủy ban kiểm tra cùng cấp và cấp dưới về tố cáo, giải quyết tố cáo; đồng thời, chú trọng việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của cấp ủy về tố cáo, giải quyết tố cáo. Ủy ban kiểm tra các cấp coi trọng và tăng cường công tác kiểm tra về tố cáo và giải quyết tố cáo của cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới và việc tố cáo của đảng viên. Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp tăng cường kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi phạm những quy định về tố cáo, nhất là vi phạm những điều nghiêm cấm về tố cáo; tăng cường giám sát về vấn đề này để phòng ngừa, ngăn chặn việc tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên ngay từ khi mới manh nha; qua đó, thiết thực góp phần hạn chế, loại trừ tố cáo loại này.

Bốn là, nâng cao chất lượng các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo của Nhà nước và của Đảng; nâng cao trình độ mọi mặt của đội ngũ cán bộ các cơ quan này, có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

Nâng cao chất lượng các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo của Nhà nước và của Đảng theo các nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Ban Chấp hành Trung ương, “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; coi trọng xác định đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, xây dựng và thực hiện quy chế làm việc và chọn, bố trí đúng người đứng đầu. Đồng thời, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ của các cơ quan này, đáp ứng tốt yêu cầu giải quyết đúng đắn, nghiêm minh, hiệu quả, kịp thời đơn tố cáo, nhất là tố cáo của cán bộ, đảng viên; kết luận chính xác, kịp thời tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên; xử lý theo thẩm quyền và đề nghị cấp có thẩm quyền xử lý nghiêm minh, thỏa đáng theo pháp luật và kỷ luật đảng. Coi trọng bồi dưỡng cập nhật kiến thức, nâng cao năng lực, kỹ năng và kinh nghiệm nhận diện, phát hiện những tố cáo của cán bộ, đảng viên có khả năng là tố cáo sai sự thật; giải quyết kịp thời, hiệu quả, chính xác các tố cáo, nhất là tố cáo của cán bộ, đảng viên.

Năm là, cấp ủy tăng cường quản lý cán bộ, đảng viên, chú trọng việc quản lý của chi ủy, chi bộ; phát huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong tham gia ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên.

Chi ủy, chi bộ cần xác định rõ trách nhiệm của mình trong thực hiện nhiệm vụ quản lý đảng viên, kể cả đảng viên là cán bộ cấp trên, về thực hiện Điều lệ Đảng, những quy định của Đảng, Nhà nước về tố cáo; chủ động phát hiện sớm và ngăn chặn từ xa đảng viên có ý định tố cáo sai sự thật.  

Cấp ủy các cấp cần tạo điều kiện thuận lợi và hướng dẫn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân nắm rõ những vấn đề chủ yếu về tố cáo, về giải quyết tố cáo trong Đảng; về giám sát hoạt động tố cáo của cán bộ, đảng viên, phát hiện và báo cáo cấp ủy về những đảng viên có khả năng tiến hành tố cáo sai sự thật để có giải pháp ngăn chặn kịp thời, hiệu quả; coi trọng việc thực hiện chủ trương, quy định của Đảng về giám sát, phản biện xã hội(9)./.

Tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên - những dấu hiệu chính và hậu quả

 Một số dấu hiệu về tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên

Một là, tố cáo sai sự thật thường xuất hiện cùng với sự xuất hiện của những tố cáo của công dân và tập trung nhiều hơn vào thời điểm chuẩn bị bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp; đại hội đảng bộ các cấp, bầu cấp ủy khóa mới; quy hoạch, luân chuyển cán bộ; bổ nhiệm cán bộ; cử cán bộ đi học...

Số lượng tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên gia tăng, nhiều khi tăng nhanh trong những thời điểm diễn ra những hoạt động nêu trên, nhất là khi thực hiện quy trình nhân sự lãnh đạo, quản lý. Ở một số nơi, khi cấp ủy có thẩm quyền cử cán bộ đi học, nhất là học chương trình cao cấp lý luận chính trị ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, thì tố cáo sai sự thật cũng xuất hiện. Điều này đồng nghĩa với việc làm cho cán bộ bị tố cáo đó sẽ không được đưa vào quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý và quy hoạch cấp ủy cho các nhiệm kỳ tiếp theo.

Tố cáo sai sự thật thường xuất hiện vào thời điểm chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp, bầu cấp ủy khóa mới (Trong ảnh: Các đại biểu biểu quyết thông qua nghị quyết đại hội đại biểu đảng bộ cấp huyện nhiệm kỳ 2020 - 2025)_Ảnh: TTXVN _Ảnh: TTXVN

Hai là, đối tượng của tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên chủ yếu là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt, người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị.

Thực tế cho thấy, tố cáo sai sự thật thường tập trung vào những cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt, đặc biệt là người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị; có ít và rất ít tố cáo sai sự thật đối với cấp ủy, tập thể lãnh đạo, quản lý cơ quan, đơn vị. Điều này có thể xuất phát từ nguyên nhân là do việc tố cáo sai sự thật đối với cấp ủy, tập thể lãnh đạo, quản lý cơ quan, đơn vị thường không dễ được nhiều người, nhất là cán bộ, đảng viên chấp nhận và tin theo; đồng thời, việc xử lý khi có thông tin tố cáo (dù sau này được xác định là bịa đặt) với cá nhân sẽ đem lại kết quả nhanh chóng và trực tiếp hơn (dừng quy hoạch, bổ nhiệm...), đúng với ý đồ, “mục tiêu” của những đơn, thư loại này.

Ba là, những tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên thường chỉ do một cán bộ (cán bộ này là đảng viên), đảng viên ký tên vào đơn thư tố cáo.

Việc này chủ yếu để đối phó với quy định của Đảng là cấm từ hai đảng viên trở lên cùng ký tên vào đơn tố cáo, và không giải quyết đơn tố cáo có từ hai người trở lên cùng ký tên vào đơn tố cáo. Song, trên thực tế, vẫn có một số đơn tố cáo có từ hai người trở lên cùng ký tên vào đơn (những người này không là đảng viên); họ tố cáo do bị kích động, xúi giục, mua chuộc, thậm chí bị cưỡng ép từ phía cán bộ, đảng viên. Về thực chất, đây cũng có thể coi là tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên.

Bốn là, tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên thường do một số cán bộ đã được miễn nhiệm chức vụ, hoặc do cán bộ, đảng viên nghỉ hưu tiến hành.

Thực tế cho thấy, cán bộ, đảng viên đương chức hầu như không tố cáo sai sự thật đối với cán bộ, tổ chức đang thực hiện nhiệm vụ được giao. Bởi vì, họ nhận thức rõ rằng, khi còn đang làm việc trong tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, nếu tiến hành tố cáo sai sự thật, qua kết quả xác minh, giải quyết tố cáo, chắc chắn họ sẽ bị xử lý nghiêm khắc theo kỷ luật đảng và pháp luật. Khi nghỉ hưu, một số người mới tiến hành tố cáo sai sự thật đối với cán bộ, cấp ủy, tổ chức đảng đang thực hiện nhiệm vụ được giao; một số tố cáo loại này, đối với cán bộ nghỉ hưu, là về sự việc diễn ra trong thời gian họ còn đương chức. Song, họ thường dùng chiêu bài là tiến hành tố cáo để “góp phần chống tiêu cực, suy thoái”; đến khi kết quả giải quyết tố cáo kết luận đó là tố cáo sai sự thật, họ mới nhận sai phạm và phải chịu kỷ luật đảng, xử lý theo quy định của pháp luật.       

Hậu quả của việc cán bộ, đảng viên tố cáo sai sự thật

Thứ nhất, gây phức tạp, rối ren, thậm chí mất đoàn kết trong tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị.

Tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên ở những mức độ khác nhau đều gây nên những phức tạp, sự rối ren trong tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, ảnh hưởng nhất định đến chất lượng, hiệu quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị. Nguy hại hơn, nếu cán bộ, đảng viên tố cáo sai sự thật là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt, người đứng đầu tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị thì sẽ gây mất đoàn kết nội bộ nặng nề, gây hậu quả lớn đến mọi hoạt động, nhất là việc thực hiện nhiệm vụ của các tổ chức này, ảnh hưởng đến việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của cấp trên. Nếu tố cáo đó không được giải quyết kịp thời, xử lý nghiêm minh, cấp ủy, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị đó kém vững vàng, không kiên quyết, hạn chế về năng lực trong giải quyết và xử lý, thì tình trạng rối ren, mất đoàn kết sẽ ngày càng nghiêm trọng, kéo dài, gây nên những hậu quả khó lường.

Thứ hai, gây ra sự lãng phí thời gian, công sức, tài sản của cá nhân, cơ quan liên quan.

Ở các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị có cán bộ, đảng viên tố cáo sai sự thật, cấp ủy, tập thể lãnh đạo, quản lý của cơ quan, đơn vị thường phải dành thời gian chuẩn bị thông tin cần thiết để cung cấp cho cán bộ, tổ giải quyết tố cáo và phải họp nhiều lần, kể cả họp bất thường, gây lãng phí lớn về thời gian, công sức. Trong khá nhiều trường hợp, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị cũng phải họp nhiều lần và không khí khá căng thẳng, làm lãng phí thời gian, gây nên những phức tạp trong tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị. Tình trạng này ảnh hưởng không nhỏ đến việc tập trung lãnh đạo của cấp ủy, tập thể lãnh đạo, quản lý trong thực hiện nhiệm vụ của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị; tác động tiêu cực đến hoạt động thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên, khiến kết quả thực hiện nhiệm vụ không cao.

Cán bộ, tổ giải quyết tố cáo phải tiến hành những công việc cần thiết để giải quyết việc tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên; thậm chí, có những tố cáo phức tạp, kéo dài, cán bộ, tổ giải quyết tố cáo phải thực hiện nhiều công việc và tiến hành nhiều lần để giải quyết dứt điểm. Điều này gây lãng phí lớn về thời gian, công sức, trí tuệ của cán bộ giải quyết tố cáo, ảnh hưởng không nhỏ đến công việc và tiến độ của việc giải quyết các tố cáo đúng đắn khác.

Thứ ba, gây hậu quả cho người, cơ quan, tổ chức bị tố cáo và công tác tổ chức, cán bộ của cấp ủy, cơ quan, đơn vị.

Cán bộ lãnh đạo, quản lý tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị bị cán bộ, đảng viên tố cáo sai sự thật là đối tượng phải gánh chịu nhiều hậu quả, thậm chí là rất nghiêm trọng. Họ phải chuẩn bị những nội dung cần thiết để giải trình và trực tiếp giải trình với cán bộ, tổ giải quyết tố cáo, gây lãng phí thời gian, công sức, ảnh hưởng đến chất lượng việc lãnh đạo, điều hành, tổ chức mọi hoạt động của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị. Nguy hiểm hơn là, những tố cáo đó nhằm mục đích vu khống, hạ bệ, làm mất uy tín của cán bộ và khi lan truyền trong xã hội, mặc dù đã được cơ quan chức năng xác minh, kết luận là không đúng, nhưng nó cũng làm cho người bị tố cáo phải chịu sức ép rất lớn về tâm lý trong tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, kể cả trong quan hệ gia đình, đồng chí, bạn bè.

Người bị tố cáo sai sự thật chịu thiệt thòi lớn trong công tác cán bộ, nhất là khi quy hoạch, luân chuyển cán bộ, bổ nhiệm cán bộ, giới thiệu bầu cử vào cấp ủy trong các đại hội tổ chức đảng nhiệm kỳ tiếp theo. Bởi vì, về nguyên tắc, những người đang có đơn tố cáo sẽ bị tạm dừng việc đề bạt, bổ nhiệm vào chức vụ đã định; không được giới thiệu bầu vào cấp ủy trong đại hội tổ chức đảng nhiệm kỳ tiếp theo. Đặc biệt, tố cáo sai sự thật gây hậu quả nghiêm trọng đối với uy tín, danh dự của cá nhân, tập thể khi các thông tin bịa đặt, sai sự thật được phát tán trên các phương tiện truyền thông đại chúng, mạng xã hội.

Thứ tư, gây phức tạp trong xã hội và ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự.

Tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên đối với cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng ở địa phương đều gây phức tạp trong xã hội, bất ổn về an ninh, trật tự, kìm hãm sự phát triển mọi mặt của địa phương, cơ quan, đơn vị. Mức độ nghiêm trọng và phức tạp trong xã hội và với an ninh, trật tự sẽ lớn hơn, khi tố cáo sai sự thật nhằm vào cán bộ chủ chốt, người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị ở các cấp.

Vì vậy, có thể khẳng định, tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên là hành vi gây rối, nhằm phá hoại Đảng, Nhà nước, chế độ và cần được kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh, thỏa đáng.

Một số vấn đề chủ yếu về tố cáo sai sự thật

 Luật Tố cáo năm 2018 giải thích: “Tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”(1).

Hiến pháp năm 2013, quy định: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”(2).

Như vậy, tố cáo là quyền của công dân do Hiến pháp, pháp luật quy định. Cán bộ, đảng viên cũng là công dân và họ cũng có quyền tố cáo theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

Từ những điều nêu trên, có thể hiểu: Tố cáo là quyền của công dân Việt Nam do Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định; đó là việc người dân theo quy định của Luật Tố cáo báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; để cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền tiến hành giải quyết, nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. 

Nội dung tố cáo: Một là, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức; hoặc của người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ; người không còn là cán bộ, công chức, viên chức, nhưng đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian là cán bộ, công chức, viên chức; người không còn được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ, nhưng đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Hai là, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào về việc chấp hành quy định của pháp luật, trừ hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.

Hình thức tố cáo: Việc tố cáo được thực hiện bằng đơn hoặc được trình bày trực tiếp tại cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Luật Tố cáo giải thích: Giải quyết tố cáo là việc thụ lý, xác minh, kết luận nội dung tố cáo và xử lý kết luận nội dung tố cáo của người giải quyết tố cáo. Do vậy, có thể hiểu: Giải quyết tố cáo là hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền làm cho các hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị ngăn chặn, loại trừ, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. 

Luật Tố cáo cũng quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong tố cáo, bao gồm cố ý tố cáo sai sự thật; cưỡng ép, lôi kéo, kích động, dụ dỗ, mua chuộc người khác tố cáo sai sự thật; sử dụng họ tên của người khác để tố cáo; lợi dụng quyền tố cáo để tuyên truyền chống Nhà nước, xâm phạm lợi ích của Nhà nước; gây rối an ninh, trật tự công cộng; xuyên tạc, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác.

Cùng với quyền tố cáo theo quy định của pháp luật, người cán bộ còn phải chấp hành nghiêm quy định về tố cáo trong Luật Cán bộ, công chức. Luật này quy định cán bộ không được làm những việc khác với quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền. Như vậy, cán bộ phải gương mẫu chấp hành nghiêm chỉnh những điều nghiêm cấm về tố cáo, theo Luật Tố cáo và Luật Cán bộ, công chức,

Đảng viên có quyền tố cáo theo quy định của pháp luật, gương mẫu chấp hành những điều nghiêm cấm trong tố cáo theo Luật Tố cáo nêu trên; đồng thời, còn phải chấp hành những quy định của Đảng về tố cáo. Quy định số 22-QĐ/TW, ngày 28-7-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng” chỉ rõ: “Những người lợi dụng việc tố cáo để xuyên tạc sự thật, vu khống, tố cáo bịa đặt, đả kích, chia rẽ bè phái, gây rối nội bộ, tố cáo nhiều lần có dụng ý xấu phải được xem xét, xử lý nghiêm theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước”(3); “Không giải quyết đơn tố cáo nặc danh, giấu tên,... đơn tố cáo có từ hai người trở lên cùng ký tên”(4); “Cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp giải quyết tố cáo phải xử lý hoặc đề nghị xử lý nghiêm những trường hợp... lợi dụng tố cáo để xuyên tạc sự thật, vu khống, tố cáo mang tính bịa đặt, đả kích, gây dư luận xấu đối với người khác”(5).

Điều 6, Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Quy định về những điều đảng viên không được làm”, chỉ rõ những hành vi cụ thể, không được làm là: “Tố cáo có nội dung mang tính bịa đặt; cùng người khác viết, ký tên trong đơn tố cáo; viết đơn tố cáo giấu tên, mạo tên. Gửi hoặc phát tán đơn khiếu nại, tố cáo dưới mọi hình thức đến nơi không có thẩm quyền giải quyết...; kích động, xúi giục, mua chuộc, cưỡng ép người khác khiếu nại, tố cáo”(6).

Tố cáo đúng đắn, nghiêm túc và việc giải quyết tố cáo đúng đắn, kịp thời, hiệu quả sẽ có tác dụng to lớn về nhiều mặt: Góp phần thực hiện nghiêm pháp luật, trước hết là Luật Tố cáo, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xử lý kịp thời cá nhân, tập thể sai phạm, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên, góp phần giữ nghiêm kỷ luật đảng, kỷ cương phép nước; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị; bảo đảm an ninh, trật tự ở địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của địa phương và đất nước; thông qua giải quyết tố cáo, Đảng và Nhà nước tiến hành xem xét lại tính đúng đắn, sự phù hợp của đường lối, chính sách, pháp luật với thực tiễn, để chỉnh sửa, bổ sung hoàn thiện hơn và ban hành những văn bản mới để ngăn chặn, hạn chế việc tố cáo sai sự thật, giải quyết kịp thời, hiệu quả tố cáo.

Theo Đại từ điển tiếng Việt: “Sự thật là cái có thật, có xảy ra”(7), “Sai sự thật” được hiểu là cái không có thật, không xảy ra. Như vậy, có thể hiểu: Tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên được hiểu là việc cán bộ, đảng viên bịa ra sự việc, hành vi không có thật, không xảy ra của cá nhân, tổ chức và báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về sự việc, hành vi đó nhằm mục đích đả kích, chia rẽ, bè phái, gây dư luận xấu, gây rối nội bộ.

Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng tố cáo sai sự thật của một số cán bộ, đảng viên hiện nay

 Tố cáo sai sự thật gây ra những hậu quả khôn lường, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, danh dự của cá nhân, tổ chức bị tố cáo, gây phức tạp tình hình an ninh, trật tự và gây ra nhiều hệ lụy đối với xã hội. Bởi vậy, việc đấu tranh, ngăn chặn, xử lý hành vi tố cáo sai sự thật của cán bộ, đảng viên cần được nhận diện, nghiên cứu một cách cẩn trọng, thấu đáo, để tìm ra giải pháp xử lý thực sự hiệu quả, đồng bộ và khả thi.

Cán bộ, đảng viên thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một nội dung cơ bản, hệ trọng của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Để góp phần phản bác, đẩy lùi những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng là mỗi cán bộ, đảng viên phải thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương, đi đầu trong bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị khoá XII, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” (Nghị quyết số 35-NQ/TW) đã xác định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là công việc tự giác, thường xuyên của cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu. Quan điểm trên khẳng định vai trò quan trọng của cán bộ, đảng viên trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”C. Mác, Ph. Ăng-ghen viết: “… về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên; về mặt lý luận họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản”(1). Các ông cũng chỉ rõ: “Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn”(2). Kế thừa, phát triển tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăng-ghen,  khi bàn về vai trò của Đảng, của đội ngũ đảng viên, V.I. Lê-nin đã khẳng định: “Hãy cho chúng tôi một tổ chức những người cách mạng, và chúng tôi sẽ đảo ngược nước Nga lên!”(3). Tổ chức những người cách mạng, theo quan điểm của V.I. Lê-nin, là những người ưu tú nhất của giai cấp, được tôi luyện bằng kinh nghiệm đấu tranh cách mạng bền bỉ, luôn đặt lợi ích của giai cấp và quần chúng lên trên hết, sẵn sàng hy sinh vì lợi ích cao cả ấy.

Là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc đánh giá đúng vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Người nhấn mạnh: “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(4). Chính vì vậy, Người đặt lên hàng đầu công tác giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, trước hết là về phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, trong đó có vai trò nêu gương. Bởi, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(5). Trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, đề cập về vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Nhân dân ta thường nói: đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Đó là một lời khen chân thành đối với đảng viên và cán bộ chúng ta”(6). Để được nhân dân tin yêu, quý trọng và xứng đáng là người lãnh đạo của nhân dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thực sự tiên phong, gương mẫu cả về phẩm chất, nhân cách, đạo đức, tri thức…, luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết, thực sự là người đầy tớ trung thành của nhân dân, làm tròn bổn phận mà Đảng và nhân dân giao phó.

Cán bộ, chiến sĩ quân đội giúp nhân dân cứu lúa ở đồng bằng sông Cửu Long _Nguồn: tienphong.vn

Nghị quyết số 35-NQ/TW xác định, một trong những mục tiêu chủ yếu, căn cốt của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng, tích cực tham gia xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, bảo đảm cho Đảng ta thực sự là người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Niềm tin của nhân dân đối với Đảng không chỉ là nhân tố tạo ra nguồn lực, động lực của cách mạng, sức mạnh nội sinh to lớn của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mà còn quyết định đến sự tồn vong của Đảng và chế độ. Niềm tin đó không chỉ xuất phát từ sự đúng đắn của đường lối, chủ trương, quyết sách của Đảng trên các lĩnh vực; từ bản lĩnh, trách nhiệm của Đảng trong nhận thức và sự nghiêm túc sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm, mà còn xuất phát từ tư cách đạo đức, tính tiền phong, gương mẫu của hàng triệu cán bộ, đảng viên. Thực tiễn cách mạng nước ta qua các thời kỳ đã chứng minh, trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, dù ở vào tình thế khó khăn, hiểm nguy nhất, nhưng nếu đội ngũ cán bộ, đảng viên phát huy tốt vai trò tiền phong, gương mẫu, không quản ngại gian khổ, hy sinh, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, thì sức mạnh lãnh đạo của Đảng được bảo đảm, niềm tin của nhân dân đối với Đảng được nâng lên, đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Tuy nhiên, bên cạnh những đảng viên mẫu mực, cán bộ kiên trung đã góp phần tô thắm truyền thống vẻ vang của Đảng, làm nên những thắng lợi to lớn của cách mạng, Đảng ta cũng thẳng thắn chỉ ra hiện nay vẫn còn “một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá””(7). Thực trạng đó không chỉ gây bức xúc trong xã hội, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, mà còn làm suy yếu năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta, nếu không được ngăn chặn, khắc phục. Những năm qua, từ khi Đảng ta đẩy mạnh công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, nhiều vụ “đại án” đã được đưa ra xét xử. Trong nửa đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, có hơn 1.000 tổ chức đảng và gần 52 nghìn đảng viên bị thi hành kỷ luật (tăng gấp 2 lần về số tổ chức đảng và hơn 1,5 lần về số đảng viên so với cùng kỳ của nhiệm kỳ trước)(8); 23 vụ án trọng điểm đã được đưa ra xét xử với 31 cán bộ Trung ương quản lý bị xử lý hình sự (9)… Thực trạng đó cho thấy sự suy thoái của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả những người giữ cương vị cao trong bộ máy Đảng, Nhà nước đã làm tổn hại đến danh dự và uy tín của Đảng, tạo ra những “mảnh đất” cho các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước ta, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Một trong những nguyên nhân chủ yếu của sự suy thoái dẫn đến “nhúng chàm” và vướng vào lao lý của không ít cán bộ, đảng viên thời gian qua chính là do không thường xuyên nêu gương, rèn luyện đạo đức cách mạng, tu dưỡng theo những chuẩn mực của người cán bộ, đảng viên và “do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa”(10).

Hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đang đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, “nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(11). Để hiện thực hóa mục tiêu ấy, đòi hỏi phải nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và nền văn hoá, con người Việt Nam. Một trong những nhân tố quan trọng bảo đảm cho các nhiệm vụ, giải pháp trên đạt hiệu quả là phải phát huy tốt vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên trên tất cả các lĩnh vực, trong đó, “bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; … là công việc tự giác, thường xuyên của cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp của từng địa phương, cơ quan, đơn vị của từng cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu”(12). Bởi, trong nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nhân dân vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của sự bảo vệ, là lực lượng to lớn, có vai trò quan trọng hàng đầu quyết định hiệu quả của nhiệm vụ này. Để dân hiểu, dân tin, dân theo; để nền tảng tư tưởng của Đảng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội thì điều có ý nghĩa quan trọng không chỉ là làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, mà còn phải thông qua những “tấm gương sáng”, sự nêu gương một cách tự giác, thường xuyên của cán bộ, đảng viên trong sinh hoạt, học tập, công tác. “Cán bộ, đảng viên, trước hết là Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương phải nghiêm chỉnh chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; gương mẫu thực hiện Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 7-6-2012, của Ban Bí thư "Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chủ chốt các cấp"; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016, của Bộ Chính trị "Về một số việc cần làm ngay để tăng cường trách nhiệm nêu gương". Cán bộ, đảng viên giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu nêu gương”(13).

Theo đó, cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

Thứ nhất, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của cán bộ, đảng viên trong trách nhiệm nêu gương để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Chất lượng, hiệu quả, mức độ chuyển biến trong việc nêu gương của cán bộ, đảng viên đối với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch phụ thuộc trước hết vào nhận thức, trách nhiệm chính trị của từng cán bộ, đảng viên. Thực tiễn cho thấy, nơi nào mà cán bộ, đảng viên nhận thức đúng đắn vị trí, tầm quan trọng của việc nêu gương thì vai trò, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên sẽ được phát huy tốt trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị. Theo đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao vai trò tiền phong, gương mẫu trong tuyên truyền, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; chấp hành và thực hiện nghiêm túc Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng và chính sách, pháp luật Nhà nước. Để tạo chuyển biến về trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong việc nêu gương, cần quan tâm công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức trong toàn hệ thống chính trị về ý nghĩa, mối quan hệ của việc nêu gương của cán bộ, đảng viên với công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấm nhuần những quan điểm, nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về nêu gương để trên cơ sở đó thực hành đạt hiệu quả. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước hết phải từ nội bộ Đảng, thông qua những tấm gương sáng, người thật, việc thật trong hàng ngũ của Đảng để tạo sức thuyết phục và lan tỏa mạnh mẽ đến nhân dân.

Cán bộ Đồn Biên phòng Xuân Trường, Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng luôn gần gũi, gắn bó với đồng bào _Nguồn: bienphong.com.vn

Thứ hai, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp đối với việc nêu gương của cán bộ, đảng viên để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Các cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là ở cơ sở, phải nắm vững quan điểm, nguyên tắc, nội dung, giải pháp được nêu trong Nghị quyết số 35-NQ/TW; các quy định về nêu gương của cán bộ, đảng viên đã được xác định trong các nghị quyết, chỉ thị về xây dựng, chỉnh đốn Đảng(14). Trên cơ sở đó, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng căn cứ vào tình hình, đặc điểm và thực trạng đội ngũ cán bộ, đảng viên của cơ quan, đơn vị mình để xác định phương hướng, mục tiêu, nội dung, biện pháp thực hiện cho phù hợp và triển khai thực hiện sâu rộng đến các tổ chức, các lực lượng. Chủ động, sáng tạo xây dựng chương trình, kế hoạch và tổ chức thực hiện theo từng nhóm đối tượng cụ thể. Kết hợp chặt chẽ giữa việc thực hiện các quy định về nêu gương với thực hiện Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””. Trong quá trình thực hiện, cấp ủy các cấp phải thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, giám sát, chủ động nghiên cứu, nắm bắt, đánh giá đầy đủ thuận lợi, khó khăn và kết quả đạt được, linh hoạt chỉ đạo, đề xuất những nội dung, biện pháp mới theo sự phát triển của tình hình. Trong từng giai đoạn, cần lãnh đạo, chỉ đạo sơ, tổng kết rút kinh nghiệm nghiêm túc, kịp thời nhân rộng các mô hình hay, cách làm sáng tạo, biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu.

Thứ ba, nêu cao vai trò, trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng bằng những hành động thiết thực, việc làm cụ thể.

Người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị là người trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện thắng lợi các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Người đứng đầu phát huy tốt vai trò, trách nhiệm nêu gương sẽ tạo ra hiệu ứng to lớn trong việc tuyên truyền, động viên cán bộ, đảng viên, cấp dưới noi theo. Sự nêu gương của người đứng đầu chính là nhân tố bảo đảm cho “tiền hô hậu ủng”, “nhất hô bá ứng”, “trên dưới đồng lòng”, “dọc ngang thông suốt”. Người đứng đầu phải thực sự là tấm gương về phẩm chất đạo đức, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, tận tụy trong công việc, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy sắc bén, có uy tín chuyên môn, luôn thực hành dân chủ, sâu sát cơ sở, nói đi đôi với làm, quan tâm, chăm lo đến những lợi ích chính đáng của nhân dân, của cấp dưới,... từ đó truyền cảm hứng và lôi cuốn, thúc đẩy cán bộ, đảng viên noi theo. 

Thứ tư, phát huy tốt vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong giám sát việc nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Để nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đạt hiệu quả cao, phải tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng và đảng viên trong việc chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng; đồng thời, kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Trong công tác này, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân có vai trò rất quan trọng, vì “Dân biết nhiều việc mà các cấp lãnh đạo không biết. Việc gì cũng bàn với dân; dân sẽ có ý kiến hay. Phải làm tốt công tác báo công, bình công ngoài nhân dân”(15). Mọi ưu điểm, hạn chế của cán bộ, đảng viên, nhất là về đạo đức, lối sống, đều được bộc lộ thông qua công tác, sinh hoạt và giao tiếp với nhân dân. Qua đó, nhân dân sẽ phản ánh trực tiếp hoặc gián tiếp về những ưu điểm, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên, giúp cho tổ chức đảng, cơ quan chức năng nhận xét, đánh giá và có biện pháp giáo dục, uốn nắn, rèn luyện cán bộ, đảng viên. Để phát huy tốt vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong giám sát việc nêu gương của cán bộ, đảng viên, các cấp ủy, tổ chức đảng cần tăng cường lãnh đạo công tác tuyên truyền, tổ chức thực hiện tốt những quy định của Trung ương về dân chủ cơ sở; giám sát và phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền…(16), với những hình thức và cách làm cụ thể, sáng tạo, nhằm phát huy đầy đủ vai trò của nhân dân trong giám sát cán bộ, đảng viên, tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng./.

--------------------------------

(1) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2002, t.4, tr. 614 - 615
(2) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.181
(3) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, t.6, tr.162
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t.5, tr.313, 309
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr. 284
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr. 546
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t.I, tr. 92
(8) Ban Thời sự: “Nửa đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII: Hơn 1.000 tổ chức đảng, gần 52.000 đảng viên bị kỷ luật”, Báo điện tử Đài Truyền hình Việt Nam, ngày 27-9-2023, https://vtv.vn/chinh-tri/nua-dau-nhiem-ky-dai-hoi-xiii-hon-1000-to-chuc-dang-gan-52000-dang-vien-bi-ky-luat-20230927115008758.htm
(9) Thu Hà: “Án tham nhũng tăng hơn 2 lần, 31 cán bộ Trung ương quản lý bị xử lý hình sự”, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 16-8-2023, https://dangcongsan.vn/thoi-su/an-tham-nhung-tang-hon-2-lan-31-can-bo-trung-uong-quan-ly-bi-xu-ly-hinh-su-644341.html
(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 547
(11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. I, tr. 36
(12) Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đáu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”
(13) Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”
(14) Quy định số 101-QÐ/TW, ngày 7-6-2012, của Ban Bí thư, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016, của Bộ Chính trị, "Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên"; Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương
(15) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t.15, tr. 526
(16) Như: Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12-12-2013, của Bộ Chính trị, ban hành “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội”; Quyết định 218-QĐ/TW, ngày 12-12-2013, của Bộ Chính trị, ban hành “Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; Quy định số 213-QĐ/TW, ngày 2-1-2020, của Bộ Chính trị, “Về trách nhiệm của đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với tổ chức đảng và nhân dân nơi cư trú”; “Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở”

Tiếp tục khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc - Một số giải pháp chủ yếu trong thời gian tới

 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu: “Luôn phải có các chính sách, biện pháp phù hợp để khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(13). Do vậy, để khơi dậy được khát vọng phát triển đất nước của các tầng lớp nhân dân trong thời gian tới, cần tiến hành đồng bộ một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, truyền cảm hứng về khát vọng phát triển đất nước sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân.

Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; tăng cường tuyên truyền, giáo dục để cán bộ, đảng viên, nhân dân nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; từ đó, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Đổi mới việc học tập lý luận chính trị, chú trọng giáo dục lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, nhân dân trước các vấn đề chính trị thời sự của đất nước. Cần tăng cường tuyên truyền, giác ngộ, truyền cảm hứng về khát vọng phát triển đất nước để lan tỏa sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, với sự sinh động, phong phú, thiết thực và hiệu quả bằng các hình thức, phương pháp khác nhau. “Tập trung khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào, ý chí tự cường, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội và khát vọng phát triển đất nước của toàn dân tộc”(14). Trong đó, cần chú trọng “Tăng cường giáo dục thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa, nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, khát vọng vươn lên; nêu cao tinh thần trách nhiệm đối với đất nước, với xã hội”(15).

Đặc biệt, dưới góc độ kinh tế, khát vọng phát triển đất nước được thể hiện chủ yếu ở tinh thần quyết tâm vươn lên, không cam chịu đói nghèo, lạc hậu, chậm phát triển. Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước chính là khơi dậy ý thức lao động hăng say, sáng tạo, nỗ lực vươn lên làm giàu chính đáng, hợp pháp của mỗi người dân Việt Nam; nhất là sự cố gắng phấn đấu của thanh niên nước nhà trong học tập, lao động, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, lập nghiệp.

Hai là, chú trọng xây dựng cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam.

Đảng, Nhà nước cần chủ động tạo lập các yếu tố, điều kiện và môi trường xã hội thuận lợi để khơi dậy và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường ở mỗi con người Việt Nam; phải tập trung “xây dựng các cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam(16).

Cần phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, coi trọng “ban hành đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật tạo nền tảng chính trị, pháp lý, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân. Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(17). Phát huy tính tích cực chính trị - xã hội, trí tuệ, quyền và trách nhiệm của nhân dân trong tham gia vào các công việc chung của đất nước. Thực hiện triệt để, thực chất phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Thực hiện tốt đại đoàn kết toàn dân tộc; tạo lập và phát huy sức mạnh đồng thuận của nhân dân ở trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài để tạo động lực và nguồn lực mạnh mẽ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thực hiện những cải cách có tính đột phá về thể chế, cơ chế, chính sách, xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, toàn diện, minh bạch, gắn kết chặt chẽ với tầm nhìn chiến lược phát triển dài hạn. Bảo đảm kết hợp giữa quản lý, kiểm soát bằng các quyết định hành chính với quản trị hiện đại, phục vụ nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững; xây dựng, kiến tạo và thực thi hiệu quả cơ chế, chính sách chuyển đổi sang mô hình phát triển theo chiều sâu dựa trên cơ sở đổi mới sáng tạo và ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến, nhằm thúc đẩy khởi nghiệp gắn với cơ cấu lại và nâng cao chất lượng doanh nghiệp nhà nước, cơ cấu lại đầu tư; nâng cao năng lực cạnh tranh, đặc biệt là hiệu quả sử dụng, quản lý đầu tư công.

Tập trung kiến tạo môi trường, thiết chế, chính sách thuận lợi, minh bạch, nhằm bảo đảm giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, ổn định an ninh chính trị và bảo vệ Tổ quốc. Trọng tâm là rà soát, điều chỉnh, bổ sung các chính sách an sinh xã hội, trợ giúp xã hội, ưu đãi xã hội, hệ thống hỗ trợ tích cực, như chính sách việc làm, chính sách tiền lương và thu nhập, từng bước tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản cho các đối tượng và vùng đặc thù, nhất là chính sách xóa nghèo bền vững; giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường.

Ba là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị trong khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam nói chung, trong thực hiện khát vọng, mục tiêu, tầm nhìn phát triển đất nước nói riêng. Do vậy, phải chú trọng “xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(18); “giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(19); phát huy tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong các phong trào hành động cách mạng, phát triển kinh tế - xã hội, vươn lên làm giàu chính đáng. Đảng ta luôn nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bám sát thực tiễn để hoạch định đường lối đúng đắn, phù hợp với thực tiễn. Theo đó, cần tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức công tác tư tưởng bảo đảm tính khoa học, thiết thực, kịp thời, hiệu quả. Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, dám nghĩ, dám làm, dám dấn thân, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung, có khát vọng đổi mới và phát triển.

Xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, bảo đảm đồng bộ cả lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp, sự gắn kết giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương; nêu cao sứ mệnh phục vụ nhân dân; làm rõ nội dung mối quan hệ giữa “Nhà nước, thị trường và xã hội” trong quá trình phát triển. Tăng cường kiểm soát quyền lực, thực hiện nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Các cơ quan nhà nước cần ban hành hệ thống văn bản pháp luật, chính sách đồng bộ nhằm tạo điều kiện cho các tầng lớp nhân dân, người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển chung của đất nước.

Tích cực đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, thực chất, hiệu quả nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của nhân dân. Đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, vận động nhân dân theo hướng thiết thực; hướng về cơ sở, chú ý những nhân tố mới, những cách làm sáng tạo. Nâng cao hiệu quả công tác tiếp xúc cử tri, giám sát, tiếp dân, đối thoại, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của nhân dân. Đấu tranh với các biểu hiện thờ ơ, vô cảm, cửa quyền, hách dịch, nhũng nhiễu đối với nhân dân, doanh nghiệp.

“Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” là chủ trương đúng đắn, khoa học của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng ta có đủ cơ sở lý luận và thực tiễn thuyết phục, vững chắc, sinh động để phản bác các luận điệu chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Trong hành trình vĩ đại của dân tộc trên con đường tiến lên giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần đoàn kết, nỗ lực phấn đấu không mệt mỏi, đồng lòng, bền gan vững chí, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu, tầm nhìn phát triển mà Đại hội XIII của Đảng đã hoạch định, như di nguyện của Bác Hồ và ước vọng của toàn dân tộc./.