Thứ Hai, 18 tháng 12, 2023

Luận điệu lừa bịp không thể ảnh hưởng tới công cuộc phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam

 Kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, các cơ quan phòng, chống tham nhũng, bảo vệ tư pháp là yêu cầu cấp thiết từ thực tế công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thời gian qua.

Toàn cảnh phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 8 Khóa XIII. (Ảnh: TTXVN)

Toàn cảnh phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 8 Khóa XIII. (Ảnh: TTXVN)

Việc Bộ Chính trị mới đây ban hành Quy định 131-QĐ/TW và Quy định số 132-QĐ/TW cho thấy quyết tâm của Đảng trong chống “giặc nội xâm”, hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa sự lạm quyền, vi phạm kỷ luật, kỷ cương, kịp thời khắc phục những bất cập, bịt kín những "khoảng trống", "kẽ hở" bằng “lồng cơ chế” và đáp ứng được mong mỏi của đảng viên, nhân dân.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” và “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Người cũng chỉ rõ vị trí, vai trò của cán bộ trong bộ máy nhà nước: “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt”.

Thấm nhuần lời dạy của Bác, Đảng ta luôn xác định: “Cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ; công tác cán bộ được coi là khâu then chốt trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng”. Đảng ta nhận thức rất rõ, nếu quyền lực của người đứng đầu không được kiểm soát tốt sẽ dẫn đến lạm quyền, tha hóa quyền lực của người đứng đầu.

Do đó, việc kiểm soát quyền lực được Đảng ta cụ thể hóa chủ trương bằng các quy chế, quy định khá cụ thể và tổ chức thực hiện nghiêm túc. Đảng ta đã chú trọng cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách phù hợp tình hình thực tế, xác định quyền và trách nhiệm của tập thể và cá nhân người đứng đầu. Tăng cường phân cấp, phân quyền theo hướng tăng thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu, đồng thời từng bước có cơ chế, chế tài cụ thể xác định, xử lý trách nhiệm người đứng đầu khi có khuyết điểm, vi phạm.

Nhưng thực tế cho thấy, vẫn còn nhiều hạn chế trong kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, nhất là cán bộ của các cơ quan chức năng có nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, các hoạt động vốn mang tính nhạy cảm, đòi hỏi tính liêm chính cao như: thanh tra, kiểm toán, kiểm tra, giám sát, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Điều này biểu hiện rõ qua hàng loạt vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực đã và đang bị phanh phui với không ít cán bộ thoái hóa, biến chất khiến dư luận không khỏi bức xúc.

Điển hình như năm 2022, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu bị bắt quả tang khi đang nhận tiền của một nữ bị cáo để chuyển 6 tháng tù giam thành 6 tháng tù treo. Tháng 7/2023, Tỉnh ủy viên, Chánh Thanh tra tỉnh Lai Châu Nguyễn Thanh Trì bị khai trừ ra khỏi Đảng do liên quan đến vụ án đưa, nhận hối lộ xảy ra tại Thanh tra tỉnh và các Ban Quản lý rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh này.

Xung quanh vụ án xảy ra tại Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, Ngân hàng SCB và một số đơn vị khác có liên quan đang được dư luận đặc biệt quan tâm, mới đây, Phó trưởng Ban Nội chính Trung ương Nguyễn Văn Yên cho hay, tất cả thành viên đoàn thanh tra liên ngành thời điểm thanh tra đã nhận tiền, quà và lợi ích vật chất từ Ngân hàng SCB. Với số tiền nhận hối lộ trên 5 triệu USD, đây là vụ nhận hối lộ lớn nhất từ trước đến nay, tính đến thời điểm hiện tại. Riêng Trưởng Đoàn Thanh tra nhận trên 5 triệu USD.

Nhìn nhận những hạn chế dẫn đến “kẽ hở” trong cơ chế kiểm soát quyền lực, dư luận cho rằng có nhiều nguyên nhân. Nổi lên là tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, tham nhũng, lãng phí. Nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” đâu đó còn nặng tính hình thức, không xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân; khi sai sót, khuyết điểm thì không ai chịu trách nhiệm…

Cũng chính vì vậy, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, giải pháp, quy định nhằm xây dựng, hoàn thiện thể chế, cơ chế, biện pháp, cách thức để kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thực sự hiệu quả. Các quy định, nghị quyết được quán triệt, thực hiện nghiêm túc, đi vào cuộc sống, sẽ "nhốt quyền lực trong lồng cơ chế", dần khắc phục được những sơ hở, bất cập trước đây làm phát sinh tiêu cực, tham nhũng..

Điển hình là tháng 10/2023, Bộ Chính trị ban hành Quy định 131-QĐ/TW về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán. Tiếp đó, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 132-QĐ/TW về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.

Việc ban hành hai quy định này cho thấy, Đảng không chỉ quyết tâm làm trong sạch đội ngũ cán bộ trong các lĩnh vực dễ xảy ra tiêu cực, đòi hỏi tính liêm chính rất cao, Đảng còn quyết liệt bảo vệ sự lành mạnh trong quan hệ xã hội, sự minh bạch của hệ thống công quyền và củng cố niềm tin, sự ủng hộ, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội trên nhiều mặt trong quá trình đổi mới toàn diện đất nước. Đồng thời, hướng tới mục tiêu xây dựng bộ máy tố tụng trong sạch, minh bạch; quyền lực luôn đi kèm nghĩa vụ và trách nhiệm.

Thế nhưng các thế lực thù địch ở nước ngoài và phần tử cơ hội chính trị lại lợi dụng việc này để hạ thấp uy tín, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hòng tiến tới xóa bỏ chế độ Xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Phải khẳng định dứt khoát rằng, những lập luận này hoàn toàn sai trái!

 Tệ nạn tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực. Ở đâu có quyền lực, ở đó có nguy cơ xảy ra tham nhũng, một khi quyền lực bị lạm dụng. Nếu quyền lực được kiểm soát chặt chẽ với cơ chế quản lý, phòng ngừa đồng bộ, ngày càng hoàn thiện, quyền lực sẽ không thể bị lạm dụng; người có quyền lực sẽ “không thể,” “không dám”, “không muốn” và “không cần” tham nhũng, tình trạng tham nhũng sẽ được kiểm soát và hạn chế tối đa.

Không khó để nhận thấy động cơ của những thế lực thù địch đó là lợi dụng công cuộc phòng, chống tham nhũng để lừa bịp, kích động, gây mơ hồ ảo tưởng, nhận thức sai lệch của nhân dân về Đảng.

Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đang được tiến hành quyết liệt trên cả hai mặt “xây” và “chống”. Dư luận xã hội đang rất trông đợi và kỳ vọng, các quy định mới đây của Đảng ta sẽ giải quyết được những nhức nhối gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng và góp phần xóa bỏ những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng. Những hành vi tiêu cực, vi phạm pháp luật của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong quá trình thực thi công vụ sẽ tiếp tục được xử lý nghiêm minh. Như mới đây là việc nghiêm trị các cán bộ cấp cao liên quan đến những vi phạm trong vụ án “Chuyến bay giải cứu”. Trong vụ án này, cựu Phó Giám đốc Công an thành phố Hà Nội Nguyễn Anh Tuấn bị phạt 5 năm tù về tội "Nhận hối lộ"; Vũ Anh Tuấn, cựu cán bộ Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an và Hoàng Văn Hưng - cựu Trưởng Phòng 5, Cơ quan An ninh điều tra, Bộ Công an đều nhận mức án tù chung thân về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Đặc biệt, tháng 11/2023, Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chức năng tiếp tục đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, tập trung xử lý dứt điểm những việc đang dở dang, những khâu còn yếu, những vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm. Nhất là tập trung kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, xử lý nghiêm các vi phạm liên quan đến các vụ án, vụ việc xảy ra tại Công ty Việt Á, Công ty AIC, Tập đoàn FLC, Tân Hoàng Minh, Vạn Thịnh Phát…

Có thể khẳng định, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam đã trở thành phong trào, xu thế không thể đảo ngược, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao, được bạn bè quốc tế ghi nhận. Quyết tâm “chống giặc nội xâm”, khắc phục những bất cập bằng “lồng cơ chế” đó, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Phải phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thực hành liêm chính ngay trong các cơ quan phòng, chống tham nhũng, tiêu cực./.

LHQ-ST

Quy định số 131-QĐ/TW: Quyết liệt bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

 Quy định 131 chính là liều “vaccine” đủ mạnh để đội ngũ cán bộ, đảng viên tại hệ thống các tổ chức Đảng, chính quyền, các cơ quan hành pháp soi vào, tự răn mình, tự sửa mình, chú trọng việc nêu gương, thống nhất giữa nói và làm, nhất là đối với người đứng đầu tại hệ thống các cơ quan công quyền trong quá trình kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực

 

BẢO VỆ SỰ MINH BẠCH CỦA CÁC CƠ QUAN CÔNG QUYỀN

Trong những năm qua, công tác đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực được lãnh đạo, chỉ đạo triển khai khá toàn diện, quyết liệt, với nhiều giải pháp đồng bộ để xây dựng, hoàn thiện thể chế về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cả hệ thống chính trị; trong đó có việc nghiên cứu, ban hành mới cũng như sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện một số quy định của Đảng và các quy định của pháp luật nhằm hình thành khuôn khổ pháp lý vững chắc để không thể tham nhũng, không dám tham nhũng, nhất là đội ngũ cán bộ thực thi công tác phòng, chống tham nhũng. Cùng với Quy định “Kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án” (Quy định 132), Quy định số 131-QĐ/TW về “Kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán” (Quy định 131) ra đời và sớm được triển khai trong hoạt động của các cấp ủy, tổ chức Đảng và quá trình công tác của mỗi cán bộ, đảng viên đã thực sự là “thanh bảo kiếm” bảo vệ sự minh bạch của các cơ quan công quyền; đồng thời cũng là liều “vaccine” đủ mạnh để mỗi cán bộ, đảng viên tự soi, tự răn, tự sửa mình, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày càng trong sạch vững mạnh.

Quy định 131 gồm  4 chương và 11 điều; trong đó đã giải thích rõ: Kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán là việc sử dụng cơ chế, biện pháp nhằm bảo đảm thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy chế làm việc, quy định, quy trình nghiệp vụ… để phòng ngừa và phát hiện, ngăn chặn, xử lý các vi phạm, lạm dụng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao (trong quá trình công tác)...

Trên thực tế, hoạt động thanh tra, kiểm toán vốn là những lĩnh vực “nhạy cảm”, liên quan đến công việc kiểm tra, đánh giá, kết luận và xác nhận tính đầy đủ, hợp lý, hợp pháp của số liệu, tài liệu kế toán, báo cáo tài chính của các cơ quan, tổ chức có liên quan đến thu, chi ngân sách nhà nước; liên quan đến việc phát hiện sơ hở trong cơ chế, chính sách, pháp luật và phòng ngừa, phát hiện, xử lý hành vi vi phạm pháp luật, trong đó có hành vi tham nhũng, tiêu cực... Vì thế, công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng trong những lĩnh vực này càng thêm “nhạy cảm” hơn, vì phải thường xuyên phải đối mặt với những cám dỗ về vật chất và tinh thần, với những tiêu cực nảy sinh trong quá trình công tác như: Sử dụng thẩm quyền không đúng mục đích; lợi dụng quyền hạn để trục lợi cá nhân hoặc “nhóm lợi ích”; nhận hối lộ để bao che, giúp đối tượng không bị xử lý hoặc giảm nhẹ khi xem xét xử lý kỷ luật... Và cũng vì thế, việc tạo nên bức “trường thành vững chắc” để ngăn ngừa những việc tiêu cực diễn ra trước, trong và sau quá trình công tác; đồng thời bịt kín những kẽ hở gây bức xúc trong dư luận đối với lĩnh vực công tác “nhạy cảm” này là rất cần thiết. Trên tinh thần đó, việc ban hành Quy định 131 đã thêm một lần khẳng định chủ trương, quyết tâm, biện pháp hữu hiệu của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với việc phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay.

Điều 4 của Quy định 131 chỉ rõ 22 mục (các hành vi tham nhũng, tiêu cực) bị nghiêm cấm trong quá trình công tác. Cụ thể là: “Hối lộ, nhận hối lộ, môi giới hối lộ, mua chuộc người có trách nhiệm, chức vụ, quyền hạn hoặc người có liên quan nhằm giảm nhẹ, trốn tránh trách nhiệm cho đối tượng vi phạm; cung cấp, tiết lộ thông tin, tài liệu, hồ sơ của đối tượng kiểm tra cho tổ chức và cá nhân không có thẩm quyền, trách nhiệm, nhất là thông tin, tài liệu, hồ sơ đang trong quá trình kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng hoặc thanh tra, kiểm toán; nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác hoặc lợi ích phi vật chất, tham gia hoạt động vui chơi, giải trí của đối tượng kiểm tra hoặc người có liên quan đến đối tượng kiểm tra…” và “lợi dụng các mối quan hệ thân quen hoặc sử dụng lợi thế, vị trí công tác, uy tín của mình, người khác để tác động, tranh thủ, gây sức ép với đối tượng kiểm tra hoặc tổ chức, cá nhân có liên quan nhằm trục lợi hoặc động cơ cá nhân khác” cũng như việc “để người có quan hệ gia đình lợi dụng ảnh hưởng chức vụ, quyền hạn của mình nhằm thao túng, can thiệp vào việc kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán; chỉ đạo hoặc cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật, chưa được phép công bố hoặc không thực hiện đúng kết luận, kiến nghị về kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán”… Việc nhận diện đúng những hành vi tham nhũng, tiêu cực này chính là hành động quyết liệt của Đảng trong công tác giám sát để phòng, chống tham nhũng nói chung cũng như kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng và bịt lại những kẽ hở trong hoạt động thanh tra, kiểm toán nói riêng.

Đồng thời, Điều 5 của Quy định 131 cũng nêu rõ trách nhiệm của cấp uỷ, tổ chức đảng, người đứng đầu, thành viên cấp uỷ, tổ chức đảng trong quá trình công tác phải thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát cấp ủy, tổ chức Đảng thuộc thẩm quyền quản lý. Theo đó, các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy và Ủy ban Kiểm tra của cấp ủy phải thực hiện nghiêm quy định của Đảng, chỉ đạo của cấp ủy, Ủy ban Kiểm tra cấp trên để không chỉ kịp thời chấn chỉnh hạn chế, khuyết điểm trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng, mà còn phải thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực một cách kịp thời đi liền cùng với việc chủ động phát hiện, xử lý nghiêm vi phạm trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng. Cùng với đó là kịp thời xem xét, thi hành kỷ luật nghiêm minh theo quy định của Đảng đối với cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên có hành vi tham nhũng, tiêu cực, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán… Toàn bộ những nội dung này cũng cho thấy, chừng nào những văn bản pháp luật và cả luật còn “kẽ hở” dễ bị lợi dụng, thì chừng đó còn phải rà soát, sửa đổi, điều chỉnh, bổ sung luật và các văn bản dưới luật, các quy định để phòng ngừa và nhất là không để đối tượng lợi dụng, lạm dụng quyền lực thực hiện hành vi tham nhũng, tiêu cực, trục lợi cá nhân và cho nhóm lợi ích…

Trên tinh thần đó, có thể thấy Quy định 131 khẳng định tính dân chủ, khách quan, khoa học và minh bạch của công tác chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần làm trong sạch Đảng và hệ thống chính trị. Việc ban hành, thực thi Quy định 131 cũng đồng thời cho thấy rõ tính minh bạch của hệ thống các cơ quan công quyền ở Việt Nam và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam thực sự không có vùng cấm, không có vùng đặc biệt nào cần phải “né tránh”, góp phần xây dựng và hoàn thiện, bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

CHÚ TRỌNG LÀM TRONG SẠCH ĐỘI NGŨ

Để công cuộc phòng và đấu tranh chống tham nhũng hiệu quả, Đảng và Nhà nước không chỉ trao quyền và phát huy cao độ vai trò của các cơ quan kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán (các cơ quan) cùng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức công tác tại các cơ quan này, mà còn chú trọng kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong quá trình công tác. Một đội ngũ cán bộ luôn nỗ lực bảo đảm sự nghiêm minh, hiệu lực, hiệu quả khi thực thi nhiệm vụ sẽ góp phần tạo dựng và củng cố lòng tin vững chắc trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

Từ những vụ án đã và đang được đưa ra xét xử (vụ án nguyên Chánh Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông Ðặng Anh Tuấn cản trở hoạt động đoàn kiểm tra trong vụ án “đánh bạc nghìn tỷ” do Nguyễn Văn Dương cầm đầu (2019); nhóm cán bộ thanh tra Bộ Xây dựng lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản tại tỉnh Vĩnh Phúc (2019) và Nguyễn Kiên Cường, nguyên Chánh Thanh tra Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Thái Bình làm lộ bí mật nhà nước (2021) và các vụ án đưa/nhận hối lộ giữa cán bộ thanh tra tỉnh Lai Châu và cán bộ các ban quản lý dự án rừng phòng hộ tỉnh Lai Châu; Chánh Thanh tra tỉnh Lâm Ðồng nhận hối lộ; vụ án đưa/nhận hối lộ của 4 cán bộ thanh tra giao thông tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu…) mới đây được đăng tải trên các phương tiện thông tin truyền thông, có thể thấy việc cần phải “bịt kín” những “kẽ hở” của pháp luật để kiểm soát quyền lực nói chung, khống chế, ngăn chặn/kiểm soát quyền lực trong các cơ quan và đội ngũ làm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nói riêng là yêu cầu tất yếu trong quá trình thực thi quyền lực Nhà nước. Vì thế, Quy định 131 đã ra đời và việc triển khai thực hiện nghiêm Quy định này sẽ hạn chế đến mức thấp nhất và đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực trong quá trình công tác của những tổ chức, cá nhân có trọng trách kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán…. Từ đó, không chỉ hạn chế tối đa việc thông cung, chạy tội, chạy án của người có vi phạm, mà còn khắc phục được tình trạng tiêu cực, tham nhũng xảy ra trong chính các cơ quan chống tham nhũng, tiêu cực khi cán bộ có thẩm quyền đã dùng quyền lực, chức vụ của mình kéo bè, kéo cánh đe dọa người không cùng quan điểm hay người phát hiện ra những khuất tất của mình trong quá trình công tác…

Đặc biệt, Quy định 131 sẽ góp phần ngăn chặn và xử lý những cách thức tham nhũng tập thể; hối lộ tập thể như vụ Vạn Thịnh Phát, Ngân hàng SCB...; cũng chính là nhằm khống chế các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân (hống hách, cửa quyền, độc quyền, lợi dụng quyền lực để o ép, áp đảo, đe dọa…) nhằm trục lợi của những người được giao nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán; nhất là để phòng và tránh được oan sai hay bỏ lọt khuyết điểm, tội lỗi…

Vì thế, những nội dung của Quy định 131 chính là liều “vaccine” đủ mạnh để đội ngũ cán bộ, đảng viên tại hệ thống các tổ chức Đảng, chính quyền, các cơ quan hành pháp soi vào, tự răn mình, tự sửa mình, chú trọng việc nêu gương, thống nhất giữa nói và làm, nhất là đối với người đứng đầu tại hệ thống các cơ quan công quyền trong quá trình kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Theo đó, người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức đảng phải “chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước” cũng như phải chịu “trách nhiệm khi để xảy ra vi phạm quy định về kiểm soát quyền lực, tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán”. Để đảm bảo khách quan, công tâm và nhất là phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng trong quá trình công tác, người đứng đầu cần phải “triệu tập đầy đủ, đúng thành phần, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ trong thảo luận và quyết định các vấn đề theo thẩm quyền; không được vận động, dẫn dắt, thao túng, áp đặt ý kiến chủ quan, tác động, gây sức ép để người khác nhận xét, đánh giá, biểu quyết, quyết định theo ý mình. Báo cáo kịp thời, trung thực, khách quan, đầy đủ ý kiến của tập thể lãnh đạo với cấp có thẩm quyền, nhất là những vấn đề còn có ý kiến khác nhau”... như Điều 5 của Quy định.

Điều 7 của Quy định nghiêm cấm các hành vi “can thiệp trái quy định vào hoạt động kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán; lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người làm nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán. Thiết lập quan hệ để hối lộ, mua chuộc người có trách nhiệm, chức vụ, quyền hạn hoặc người có liên quan nhằm mục đích chạy tội, trốn tránh trách nhiệm cho đối tượng vi phạm. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc dùng uy tín, ảnh hưởng của bản thân và gia đình gợi ý, tác động, gây áp lực để người có thẩm quyền quyết định hoặc tham mưu, đề xuất, nhận xét, đánh giá, biểu quyết về kết luận, quyết định kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán không đúng bản chất sự việc”… cũng chính là minh chứng cho thấy Đảng không chỉ quyết tâm làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức tại các cơ quan công quyền, thiết thực bảo vệ chế độ, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà còn quyết liệt bảo vệ sự lành mạnh của các quan hệ xã hội, sự minh bạch của hệ thống công quyền, góp phần củng cố niềm tin, sự ủng hộ của nhân dân đối với Đảng và chế độ.

Từ thực tiễn công tác phòng, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực đã cho thấy rằng tham nhũng, tiêu cực không chỉ là nguy cơ mà đã hiện hữu trong hoạt động của các cơ quan phòng, chống tham nhũng và những người làm nhiệm vụ tại các cơ quan này. Cho nên, nếu đã vi phạm các nội dung nêu trong điều 4 Quy định 131, thì những người đang công tác sẽ bị đình chỉ công tác, chức vụ, không bố trí làm công tác tham mưu, nghiệp vụ về kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán cũng như không quy hoạch, điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, phong, thăng cấp bậc hàm, giới thiệu bầu cử, ứng cử chức vụ tương đương hay phong tặng danh hiệu, khen thưởng theo quy định… theo Điều 8 và Điều 9.

Cuối cùng, có thể khẳng định rằng: Trên cơ sở cập nhật đường lối, chủ trương, quan điểm, nguyên tắc của Ðảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật, thanh tra, kiểm toán; về phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực phù hợp chính sách, pháp luật của Nhà nước, Quy định 131 đã tập trung quy định về nguyên tắc; các hành vi tham nhũng, tiêu cực; biện pháp phòng ngừa; chế tài xử lý răn đe… để làm cơ sở để xác định trách nhiệm, thủ tục tiến hành. Nội dung của Quy định thể hiện rõ tinh thần kết hợp giữa xây và chống; trong đó xây là chính, chống phải kiên quyết và lấy chống để xây rất nhân văn, phù hợp với yêu cầu thực tiễn công cuộc phòng, đấu tranh chống tham nhũng gắn với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Việc ban hành Quy định 131 góp phần hoàn thiện cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để mọi quyền lực được kiểm soát “trong lồng cơ chế”; đồng thời và việc thực thi Quy định này chính là để quyền hạn phải gắn với trách nhiệm; công khai, minh bạch, nghiêm minh phải gắn với trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng, hoạt động thanh tra, kiểm toán, đảm bảo làm trong sạch đội ngũ và bảo vệ các cơ quan công quyền./.

LHQ-ST

Lịch sử khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất đủ uy tín và năng lực lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi

 Sự thực là, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam đủ uy tín, năng lực lãnh đạo thắng lợi trong đấu tranh giành chính quyền (1930 - 1945).

Vừa mới ra đời, trong điều kiện chủ yếu phải hoạt động bí mật, trong 15 năm (1930 - 1945), tổ chức đảng bị thực dân đế quốc khủng bố, hệ thống tổ chức của Đảng hai lần phải xây dựng lại. Trong 15 năm ấy, Đảng chịu nhiều tổn thất, 4 đồng chí Tổng Bí thư của Đảng đã hy sinh, nhưng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng vẫn kiên trung vì lợi ích dân tộc, không nhụt chí trước kẻ thù. Đường lối chiến lược vạch ra trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên và bổ sung ở Luận cương (tháng 10-1930) đã đáp ứng khát vọng giải phóng dân tộc. Đi theo ngọn cờ của Đảng, dân tộc Việt Nam đã làm nên kỳ tích vĩ đại trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, xóa bỏ chế độ thuộc địa nửa phong kiến, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Với sự kiện này, “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(6). Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, làm thay đổi vận mệnh dân tộc, thay đổi thân phận của người dân Việt Nam, từ người nô lệ trở thành người làm chủ nước nhà.

Bình luận về ý nghĩa lịch sử và tác động của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến những bước tiến của lịch sử Việt Nam trong thế kỷ XX, nhà sử học người Pháp Charles Fourniau khẳng định: Cách mạng Tháng Tám “đã đem đến chiều sâu lịch sử của nó vào cuộc đấu tranh mà nhân dân Việt Nam đã tiến hành thắng lợi từ 1945 đến 1975”(7).

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dù có những tổ chức ra sức công kích, tranh giành quyền lãnh đạo, nhưng chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo thắng lợi các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Giai đoạn 1945 - 1954: Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2-9-1945, thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, chính thức khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên, không bao lâu sau, thực dân Pháp đã quay lại xâm lược Việt Nam, đánh dấu bằng việc chúng nổ súng ở Nam Bộ. Lúc này, ở Việt Nam, vừa có hoạt động của trên 30 vạn quân ngoại quốc (Nhật, Tưởng, Anh, Pháp), vừa có các đảng phái phản động, nhất là Việt Quốc, Việt Cách. Trước bối cảnh chính quyền còn non trẻ, Đảng vừa ra hoạt động công khai, nắm chính quyền cách mạng lại phải đối phó với vô vàn khó khăn, buộc phải rút vào hoạt động bí mật, nhưng vẫn giữ vững sự lãnh đạo đối với cách mạng. Trước 3 thứ giặc (giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm), cách mạng Việt Nam rơi vào tình thế như “nghìn cân treo sợi tóc”. Được nhân dân tin tưởng, Đảng đã khéo vận dụng nguyên tắc “dĩ bất biến ứng vạn biến”, đưa cách mạng vượt qua tình thế hiểm nghèo trong những năm 1945 - 1946, vững tâm thế bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc, với đường lối toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính.

Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp của đế quốc Mỹ (1945 - 1954) đã bảo vệ và phát triển thành quả Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp, giải phóng miền Bắc, đưa cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn mới, giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiếp tục tiến hành cách mạng giải phóng ở miền Nam. “Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là một thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới”(8).

Tại Đại hội III của Đảng (tháng 9-1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Trong 31 đồng chí hiện nay là Ủy viên Trung ương Đảng ta, trước ngày khởi nghĩa đã được đế quốc Pháp tặng cho 222 năm tù đày”(9). Chỉ tính trong 15 năm đấu tranh trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và 9 năm kháng chiến, biết bao đảng viên ưu tú và quần chúng cách mạng đã vì dân, vì Đảng mà hy sinh một cách cực kỳ oanh liệt. Chỉ riêng trong cấp Trung ương, đã có 14 đồng chí bị thực dân Pháp bắn, chém, hoặc giết trong nhà tù. Bản lĩnh của Đảng sáng chói. Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Đúng là: Sự hy sinh anh dũng của các chiến sĩ cộng sản, của các anh hùng, liệt sĩ chiến đấu dưới ngọn cờ của Đảng đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do.

Giai đoạn 1954 - 1975: Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, với mưu đồ biến miền Nam Việt Nam thành “con đê” ngăn chặn “làn sóng đỏ” (tức sự phát triển của chủ nghĩa xã hội) sang Đông Nam Á, đế quốc Mỹ đã xâm lược miền Nam, chia cắt đất nước Việt Nam. Những năm 1965 - 1968 và 1972, đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân Việt Nam đã tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng, đồng tâm hiệp lực, hướng về mục tiêu giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước. Đây là một điểm sáng tạo độc đáo của đường lối cách mạng Việt Nam trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước.

Sự thực là, sau 21 năm kháng chiến kiên cường, bất khuất, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã đánh thắng hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược kiểu mới của đế quốc Mỹ, chấm dứt ách thống trị kéo dài hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên cả nước. Chiến công ấy là “một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỉ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”(10). Dân tộc Việt Nam tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên cả nước hòa bình, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội.

Sự thật cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất khởi xướng, lãnh đạo đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, nâng tầm vị thế của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế.

Trong hơn 10 năm 1975 - 1986, trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng đã tìm tòi con đường thích hợp đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, lãnh đạo các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở hai đầu biên giới; đồng thời, từng bước tháo gỡ khó khăn từ cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, hoạch định đường lối đổi mới toàn diện đất nước, tạo một bước ngoặt mới của cách mạng trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.

Nêu cao trách nhiệm trước dân tộc, Đại hội VI của Đảng (12-1986) đã xác định 4 nội dung trọng tâm cần đổi mới: “Đảng phải đổi mới về nhiều mặt: đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; đổi mới tổ chức; đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác”(11). Gần 40 năm đổi mới đất nước (từ năm 1986 đến nay), trong bối cảnh quốc tế hết sức phức tạp, các thế lực thù địch không ngừng chống phá, song với bản lĩnh chính trị vững vàng và quyết tâm đổi mới, kiên định mục tiêu mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân đã chọn, Đảng đã giữ vững vai trò lãnh đạo, đưa cách mạng vượt qua cơn chấn động của thời cuộc, nhất là khi chủ nghĩa xã hội hiện thực ở các nước Đông Âu và Liên Xô khủng hoảng và đi vào đổ vỡ. Thông qua đổi mới, Việt Nam đã phá thế bị bao vây, cấm vận, mở rộng quan hệ quốc tế, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Việt Nam “tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tiếp tục đưa đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội với nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp thực tiễn Việt Nam”(12).

Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam đang đi vào chiều sâu, đánh dấu sự trưởng thành mọi mặt về sự lãnh đạo của Đảng, mang tầm vóc và ý nghĩa cách mạng. Thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử ấy thể hiện ở chỗ: Việt Nam đã thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế mạnh mẽ và sâu rộng. Kinh tế tăng trưởng cao và ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; văn hóa, xã hội có bước phát triển mới; đời sống nhân dân từng bước được nâng lên; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị được củng cố; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên, nếu năm 1989 GDP mới đạt 6,3 tỷ USD(13); năm 2000 là 40 tỷ USD(14), thì đến năm 2022 đạt 409 tỷ USD(15). Gần 40 năm đổi mới cũng là một chặng đường từng bước hội nhập quốc tế sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức. Đại hội XIII của Đảng khẳng định sự thật: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(16).

Qua gần 40 năm đổi mới, trong một thời gian không dài, trong những điều kiện rất khó khăn, phức tạp, những thành tựu ấy đã minh chứng thuyết phục cho tính chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang xây dựng. Đó cũng là cơ sở để khơi dậy khát vọng của nhân dân Việt Nam về một xã hội xã hội chủ nghĩa phồn vinh, hạnh phúc.

Niềm tin chiến thắng _Nguồn: nld.com.vn

Nhiều học giả, chính trị gia, chuyên gia quốc tế đã có đánh giá tốt về thành tựu công cuộc đổi mới của Việt Nam. Đồng chí Tề Kiến Quốc, Đại sứ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tại Việt Nam khẳng định: “Với những thành tựu nổi bật, công cuộc đổi mới đã làm thay đổi sâu sắc bộ mặt đất nước..., có ảnh hưởng vượt tầm quốc gia, gây ấn tượng cho cả thế giới”(17).  PGS, TS V.I. An-tô-sơ-chen-cô, Phó Giám đốc Trung tâm Việt Nam học thuộc Đại học quốc gia Mát-xcơ-va, Liên bang Nga, nhận xét: “Mười lăm năm trong tiến trình hàng nghìn năm lịch sử của Việt Nam là một khoảng thời gian vô cùng ngắn ngủi, nhưng nhân dân Việt Nam đã làm được những việc phi thường. Thắng lợi của công cuộc đổi mới đã chứng tỏ với thế giới rằng Việt Nam không phải chỉ là một dân tộc kiên cường bất khuất, giỏi chống giặc ngoại xâm mà còn có đủ tài trí để xây dựng và phát triển đất nước”(18). GS, TS Cho Jae Hyun, Đại học Ngoại ngữ Hàn Quốc, nhấn mạnh: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã xây dựng được đường lối chính trị đúng - một đường lối thể hiện sự kiên định về chiến lược; sự sắc sảo, mềm dẻo về sách lược; sự phong phú, sáng tạo và linh hoạt về phương pháp cách mạng... Việc Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam thừa nhận sự tồn tại của sản xuất hàng hóa và thị trường thực sự là một bước đổi mới tư duy. Điều này cũng cho thấy rằng, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin cũng được Việt Nam vận dụng sáng tạo trong điều kiện cụ thể của mình... Công cuộc đổi mới ở Việt Nam là một chiến lược rất đúng đắn”(19).

Tính chính danh của Đảng Cộng sản Việt Nam - lực lượng duy nhất lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam còn được đấu tranh bảo vệ bằng cơ sở pháp lý. Việc hiến định vai trò lãnh đạo của Đảng đã trở thành yêu cầu khách quan trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, được khẳng định trong tiến trình xây dựng Hiến pháp Việt Nam từ năm 1946 đến nay.

Hiến pháp đầu tiên của đất nước Việt Nam hiện đại (năm 1946) ghi rõ: Quốc hội nhận thấy rằng Hiến pháp Việt Nam phải ghi lấy những thành tích vẻ vang của Cách mạng. Lời nói đầu Hiến pháp năm 1959 khẳng định: Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, ngày nay là Đảng lao động Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã tiến lên một giai đoạn mới; Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân ta đoàn kết rộng rãi trong Mặt trận dân tộc thống nhất, nhất định sẽ giành được những thắng lợi vẻ vang. Hiến pháp năm 1980 hiến định: Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam, được vũ trang bằng học thuyết Mác - Lê-nin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội; là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng tồn tại và phấn đấu vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam. Hiến pháp năm 1992 tiếp tục hiến định: Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đến Hiến pháp năm 2013, Khoản 1, Điều 4 khẳng định và làm rõ hơn, đầy đủ hơn bản chất, vai trò lãnh đạo của Đảng: Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; Khoản 2, Điều 4 bổ sung nội dung mới, thể hiện rõ hơn vai trò, trách nhiệm của Đảng đối với nhân dân: Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình. Cả hai chiều quan hệ: Đảng với nhân dân và nhân dân với Đảng được xác định một cách biện chứng, bản chất là giải quyết mối quan hệ giữa lực lượng cầm quyền và cơ sở xã hội của nó.

Từ lịch sử đến hiện tại, vai trò lãnh đạo và trọng trách của Đảng đã được khẳng định trong Hiến pháp - luật cơ bản của Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất, ghi nhận địa vị pháp lý của đảng cầm quyền và được pháp luật bảo vệ. Đây là cơ sở pháp lý tối thượng, phản ánh ý chí, nguyện vọng và quyền lực thực sự của nhân dân Việt Nam; là kết quả vận động tất yếu khách quan của lịch sử. Những cơ sở lịch sử và pháp lý đó góp phần cung cấp luận cứ chủ yếu, cần được nắm vững và sử dụng hiệu quả trong đấu tranh bảo vệ tính chính danh, chính đáng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn mới./.

Bản sắc không thể mập mờ, lịch sử không thể xuyên tạc

 Thời gian gần đây, bám vào một số sự kiện văn hóa, văn học nghệ thuật (VHNT) gây ồn ào trên không gian mạng, nhiều phương tiện truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại và các tài khoản cá nhân trên mạng xã hội có tư tưởng thù địch ra sức cổ xúy cho cái gọi là “nói khác”, “nói ngược”...

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Họ kích động rằng, muốn nổi tiếng thì các tác giả phải “nói khác”, “nói ngược” trong lao động nghệ thuật. Thực chất, đó là chiêu bài nguy hiểm nhằm kích động, lôi kéo môi trường VHNT đi ngược lại định hướng của Đảng.

THẤY GÌ TỪ THÁI ĐỘ ÁM CHỈ, BÓNG GIÓ

Lợi dụng đời sống VHNT để truyền bá tư tưởng phản động, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc... không phải là thủ đoạn mới mẻ gì. Nó xuất hiện, tồn tại lâu nay và các thế lực thù địch triệt để lợi dụng, khai thác nhằm kích động, lôi kéo công chúng. Những năm gần đây, khi không gian mạng trở thành một “thế giới thứ hai” của đời sống con người và xã hội, âm mưu, thủ đoạn lợi dụng VHNT, thị trường giải trí để chống phá đất nước trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa của các thế lực thù địch lại càng diễn biến phức tạp. Để tạo hiệu ứng đám đông, họ sẵn sàng dựng lên một “mẫu hình” nhà văn, nghệ sĩ nổi tiếng từ những đối tượng cực đoan, bất mãn, suy thoái... và ra sức tô vẽ thành “thần tượng” để dụ dỗ, lừa bịp công chúng. Chẳng hạn một nhà văn Việt Nam suy thoái tư tưởng, đã rời bỏ Tổ quốc ra nước ngoài sinh sống, lại được Viện Hàn lâm Pháp trao cho cái giải thưởng văn học hồi tháng 4 vừa qua là một ví dụ. Từ chuyện này, một số tổ chức truyền thông có tư tưởng thù địch với Việt Nam ở hải ngoại đã thực hiện các chiến dịch tô vẽ “thần tượng”; xuyên tạc môi trường VHNT trong nước, bôi xấu, hạ bệ những nhà văn yêu nước. Họ tuyên truyền rằng, văn nghệ sĩ Việt Nam muốn nổi tiếng, muốn thành danh thì phải học cách “nói ngược”, “nói khác” với quan điểm, chủ trương của Đảng. Họ suy diễn về tự do sáng tạo, về tư duy “khai phóng”, vượt khỏi những rào cản, định kiến để vươn tầm quốc tế...

Nhìn lại những diễn biến chính của đời sống VHNT trong thời kỳ đổi mới, nhất là giai đoạn gần đây, chúng ta thấy rõ những dấu ấn đột phá của hội nhập. Nhờ đẩy mạnh các hoạt động giao lưu, hội nhập theo định hướng của Đảng mà đời sống VHNT có sự khởi sắc đáng ghi nhận. Chẳng hạn ở lĩnh vực điện ảnh. Nhiều đạo diễn Việt kiều nổi tiếng trở về nước làm phim, mang đến luồng gió mới. Nhiều bộ phim có giá trị nội dung, nghệ thuật tốt, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc; phản ánh đậm nét những góc nhìn cận cảnh về lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc; ca ngợi vẻ đẹp đất nước, nền văn hóa, con người Việt Nam... thông qua những lát cắt điển hình, được đông đảo công chúng hào hứng đón nhận. Thành quả đó đã tạo động lực, khích lệ văn nghệ sĩ trong nước phải vượt lên, tự đổi mới, làm mới bản thân để cạnh tranh với các đồng nghiệp Việt kiều và các sản phẩm quốc tế nhập khẩu.

Tuy nhiên, sự hội nhập của VHNT cũng là môi trường được các thế lực thù địch, thông qua truyền thông và không gian mạng, gieo rắc, lèo lái tư tưởng phản động, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc. Cách đây 10 năm, khi còn sống, nhà văn Lê Văn Thảo, nguyên Chủ tịch Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh, trong một lần trả lời phỏng vấn Báo Quân đội nhân dân, đã nhấn mạnh rằng, điều ông và các nhà văn đã từng lăn lộn qua chiến tranh lo ngại nhất chính là sự xuất hiện của thái độ “ám chỉ” trong sáng tác VHNT. Lợi dụng vào tính hư cấu của VHNT, không ít tác giả đã bày tỏ khuynh hướng sáng tạo đi ngược lại quan điểm, đường lối của Đảng bằng kiểu ám chỉ, do họ bị tiêm nhiễm, kích động, ảnh hưởng bởi các luồng tư tưởng thù địch từ bên ngoài. Hệ lụy của lối tư duy “ám chỉ” đó là một số văn nghệ sĩ đã suy thoái về tư tưởng chính trị, rời bỏ quê hương ra nước ngoài sinh sống, sử dụng chính ngòi bút, vốn sống, cảm xúc nội tại để “nói ngược”, “viết ngược”, làm phương hại đến nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Thậm chí, đã có một số ít nghệ sĩ nổi tiếng, bị lôi kéo tham gia vào những bộ phim có nội dung xuyên tạc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, bóp méo, bôi đen hình tượng Bộ đội Cụ Hồ trong chiến tranh...

Nếu như trước đây, cách nói, cách viết, cách thể hiện nhân vật theo lối “ám chỉ” được thể hiện một cách trực cảm, trực giác... thì nay, trước làn sóng dư luận đa chiều, họ cổ xúy kiểu thái độ bóng gió, mập mờ... Với hình thức thể hiện này, trong không ít tác phẩm VHNT, bản sắc văn hóa dân tộc, sắc thái vùng miền, lịch sử quê hương, đất nước hiện lên méo mó, lai căng, biến dạng. Trên phương diện luật pháp, rất khó để bắt bẻ kiểu tư duy bóng gió, mập mờ này. Nhưng, dưới góc nhìn của công tác tư tưởng-văn hóa, khi mỗi thứ lệch lạc đi một chút, mỗi thứ méo mó, lai căng đi một chút... thì hệ lụy lâu dài đối với văn hóa dân tộc và tương lai thế hệ trẻ là rất khó lường...

Thời gian gần đây, trong đời sống VHNT và thị trường giải trí xuất hiện một số tác phẩm có biểu hiện như vậy. Dư luận truyền thông thể hiện những góc nhìn đa chiều. Những tranh cãi nổ ra không chỉ trên các diễn đàn không gian mạng mà còn kéo theo sự vào cuộc của đông đảo chuyên gia, nhà quản lý, phân tích, mổ xẻ dưới nhiều góc nhìn, góc độ khác nhau. Thậm chí, trong một số trường hợp, những ồn ào trên không gian mạng về vấn đề này còn trở thành chủ đề trên bàn nghị sự của Quốc hội.

TỪ THỊ HIẾU THẨM MỸ ĐỂ ĐẾN BẢN LĨNH THẨM MỸ

Nhìn vào những diễn biến đời sống văn hóa, VHNT mỗi khi có tác phẩm, sản phẩm gây “sốt”, chúng ta thấy rõ những tác động toàn diện của hiệu ứng không gian mạng. Nó thể hiện rõ tính hai mặt của một vấn đề. Thứ nhất là, hội chứng đám đông từ những cơn “lên đồng” tập thể, nó có thể tạo sức hút vô cùng mạnh mẽ kéo theo mọi thứ, mọi thành phần trong dòng chảy ấy vào cuộc. Nếu đó là một khuynh hướng tốt, có ích cho đời sống xã hội, phục vụ cho lợi ích quốc gia, dân tộc, sẽ rất có lợi cho công tác tuyên truyền, giáo dục, quảng bá những giá trị tốt đẹp đến với người dân và du khách quốc tế. Nhưng, nếu đó là một sản phẩm có chứa đựng yếu tố gây hại, sự mập mờ trong quan điểm nghệ thuật giống như một loại virus gây bệnh, xâm nhập vào tư duy, thị hiếu của công chúng, nguy hiểm khôn lường. Thứ hai là, chính nhờ hiệu ứng mạnh mẽ của không gian mạng sẽ giúp các tác giả và giới chuyên gia, nhà quản lý nhìn nhận vấn đề dưới những góc nhìn đa chiều, từ đó có sự sàng lọc, thẩm định, định hướng sáng tạo theo quan điểm của Đảng.

Trong những năm tới, đất nước ta có nhiều ngày lễ lớn, trong đó có kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và đại lễ mừng 50 năm đất nước thống nhất. Trên lĩnh vực văn hóa, VHNT, các thế lực thù địch đã và đang tiếp tục đẩy mạnh các chiến dịch tuyên truyền, tung ra các sản phẩm xấu độc; sử dụng truyền thông và không gian mạng cổ xúy, lôi kéo các tác giả “nói ngược”, “nói khác” nhằm bóp méo, bôi đen, làm méo mó hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ và lịch sử đấu tranh cách mạng. Họ sử dụng các phương thức ám chỉ, bóng gió, mập mờ, so sánh Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh với các thành phố lớn đã và đang xảy ra xung đột vũ trang trên thế giới... để xuyên tạc lịch sử, văn hóa vùng đất Nam Bộ và cuộc đấu tranh của đồng bào Nam Bộ, góp phần to lớn giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là những biểu hiện nguy hiểm nhằm kích động hận thù dân tộc, âm mưu chia tách lịch sử, văn hóa Nam Bộ ra khỏi nền văn hóa và lịch sử dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ. Một trong những biểu hiện phổ biến hiện nay là họ cổ xúy, ca ngợi công lao của Nguyễn Ánh (Chúa Nguyễn, Vua Gia Long), coi nhân vật “cõng rắn cắn gà nhà” trong lịch sử dân tộc như là một “anh hùng”, “cụ tổ” của lịch sử, văn hóa Nam Bộ. Đáng tiếc là đã có một số người trong giới sáng tác có biểu hiện dao động, bị cuốn theo lối tư duy này nên trong một số tác phẩm VHNT, đã thổi phồng, thần thánh hóa công lao, che mờ tội của Chúa Nguyễn (Vua Gia Long), làm sai lệch lịch sử, làm mập mờ, méo mó sắc thái văn hóa và bản chất tốt đẹp của con người Nam Bộ. Từ góc nhìn sai lệch về nhân vật này, các thế lực thù địch áp dụng lối tư duy liên tưởng để dụ dỗ, dẫn dắt công chúng hiểu sai lệch lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc và hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng dân Nam Bộ.

Để tạo tiềm lực văn hóa tinh thần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực văn hóa, VHNT, chúng ta phải bám sát quan điểm của Đảng. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nêu rõ nhiệm vụ: “Chủ động nâng cao sức đề kháng của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên đối với các văn hóa phẩm ngoại lai độc hại”...; “Nâng cao vai trò của văn hóa, nghệ thuật trong việc bồi dưỡng tâm hồn, nhân cách của con người Việt Nam, nhất là trong thế hệ trẻ”... Như vậy, giải pháp căn bản và lâu dài là chúng ta phải chủ động nâng cao sức đề kháng, nói cách khác chính là củng cố, nâng cao bản lĩnh chính trị trong các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là giới trẻ. Muốn định hướng thị hiếu thẩm mỹ, phải xây dựng được bản lĩnh thẩm mỹ. Với chức năng hướng đến “chân, thiện, mỹ”, dù thể hiện dưới góc nhìn nào thì trong đời sống văn hóa, VHNT, bản sắc dân tộc là giá trị không thể mập mờ, cương thổ quốc gia, lịch sử dân tộc là giá trị không thể xuyên tạc, đảo ngược.

Quy luật sàng lọc, tiếp thu, tiếp biến và đào thải của văn hóa chính là cán cân công bằng, là thước đo công tâm để khẳng định giá trị đích thực của tác phẩm, sản phẩm VHNT. Những người làm văn hóa, đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa và giới chuyên gia thẩm định chất lượng sản phẩm VHNT các cấp cần bám sát tính quy luật, nhất quán quan điểm của Đảng để đưa ra những nhận xét, nhận định, dự báo; từ đó có giải pháp định hướng dư luận và định hướng sáng tạo, lao động nghệ thuật một cách đúng đắn. Không nên bị dẫn dắt bởi dư luận đám đông dẫn đến “đẽo cày giữa đường”, tạo cớ cho các thế lực thù địch xuyên tạc, chống phá, cũng không nên chỉ dựa vào các quy định của pháp luật để bày tỏ chính kiến một cách cực đoan, võ đoán, máy móc.../.

LHQ-ST

Dân tộc Việt Nam chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo cách mạng - một sự thật lịch sử không thể phủ nhận

 Để giải phóng mình khỏi ách thống trị của đế quốc, thực dân, tại sao dân tộc Việt Nam không chọn một tổ chức chính trị nào khác, mà chọn Đảng Cộng sản Việt Nam? Phải chăng đó chỉ là ý chí chủ quan của một bộ phận người yêu nước Việt Nam như điều mà các thế lực thù địch vẫn đang xuyên tạc?! Những người hiểu biết cơ sở lịch sử và pháp lý sẽ đáp trả rằng: Không! Dứt khoát không phải như vậy. Sự lựa chọn đó là của dân tộc Việt Nam, một sự lựa chọn tất yếu khách quan mang tính quy luật lịch sử.

Sự thực là, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đã xuất hiện những ngọn cờ cứu nước, cứu dân, những đảng phái khác nhau, song những ngọn cờ ấy, những đảng phái ấy không đủ sức đảm đương sứ mệnh giải phóng dân tộc.

Tháng 9-1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Sau khi hoàn thành giai đoạn vũ trang xâm lược, chúng đặt nền cai trị hà khắc ở Việt Nam về chính trị, kinh tế, văn hóa... Từ một nước phong kiến độc lập, có chủ quyền, Việt Nam trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. Nước Việt Nam mất độc lập, nhân dân Việt Nam trở thành nô lệ.

Vì lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp, một bộ phận phong kiến Việt Nam đã đứng lên giương cao ngọn cờ chống thực dân Pháp, ròng rã gần 40 năm (1858 - 1896), vẫn không chống được chủ nghĩa thực dân - một kẻ thù mới của dân tộc, có trình độ phát triển về phương thức sản xuất hơn hẳn. Phong trào Cần Vương do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết, tiếp đến là Phan Đình Phùng lãnh đạo, kéo dài đến cuối thế kỷ XIX thì lụi tắt. Đầu năm 1896, những tiếng súng cuối cùng của phong trào Cần Vương chấm dứt, cũng là tín hiệu kết thúc sứ mệnh lịch sử của giai cấp phong kiến Việt Nam trong thời đại mới.

Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX diễn ra sôi nổi, song có hạn chế lớn trong xác định mục tiêu, kẻ thù và phương thức đấu tranh. Tiêu biểu như: Phan Bội Châu xác định chống đế quốc nhằm giành độc lập và thiết lập nền quân chủ lập hiến ở Việt Nam (dựa vào Nhật để chống Pháp, dẫn đến không thành công); Phan Châu Trinh tập trung chống phong kiến (dựa vào Pháp để đánh đổ ngôi vua và bọn phong kiến hủ bại, coi đó như là điều kiện tiên quyết để giành độc lập, cũng đi đến thất bại)...

Trong công cuộc giải phóng dân tộc, những thập niên đầu thế kỷ XX,  đã có nhiều đảng phái đại diện cho các giai cấp, tầng lớp xã hội từng nỗ lực trên vũ đài chính trị, như Nghĩa hưng (1907); Lập hiến (1923); Việt Nam nghĩa đoàn; Đảng Thanh niên; Đảng An Nam độc lập (1927), Việt Nam Quốc dân Đảng (1927)...; kể cả một số đảng của những kẻ tay sai cho đế quốc, như Đại Việt quốc gia xã hội Đảng, Đại Việt quốc dân Đảng trong những năm 40 của thế kỷ trước; hay các đảng phản động, như Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt Cách)... cũng cố thực hiện mưu đồ chính trị. Thế nhưng, sự thực là, các đảng phái đó không được dân tộc Việt Nam lựa chọn giữ quyền lãnh đạo.

Tiếp tục truyền thống yêu nước, bất khuất, kiên cường chống ngoại xâm, các phong trào chống thực dân Pháp đã diễn ra quyết liệt, liên tục, trên các vùng lãnh thổ Việt Nam, hướng tới mục tiêu đánh đổ chế độ thuộc địa, giành độc lập dân tộc. Tuy nhiên, các phong trào cứu nước lần lượt thất bại. Thực tế thất bại của các phong trào đó cho thấy sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng tư sản trước nhiệm vụ lịch sử đặt ra. Cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ đứng trước sự khủng hoảng sâu sắc về đường lối, thiếu lý luận cách mạng tiên tiến dẫn dắt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Lịch sử đặt cho dân tộc Việt Nam một câu hỏi mang tầm thời đại: Giải phóng dân tộc bằng con đường nào mới giành thắng lợi? Lực lượng nào đủ khả năng hoạch định đường lối và tổ chức thực hiện đường lối cứu nước, cứu dân? Câu hỏi đó vẫn chưa có lời giải trong suốt mấy thập niên đấu tranh. Đây chính là nhu cầu lịch sử và tất yếu phải có sự ra đời của lực lượng tiên phong.

Sự thực là, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là lời giải đúng cho công cuộc giải phóng dân tộc - bước ngoặt vĩ đại, chính thức chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc ở Việt Nam.

Trước yêu cầu lịch sử, với hành trang là chủ nghĩa yêu nước, lòng yêu nước vô hạn và thương dân sâu sắc, Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh) đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước; cuộc hành trình lịch sử ấy bắt đầu từ ngày 5-6-1911. Trên con đường vạn dặm, “Người đi hỏi khắp bóng cờ châu Mỹ, châu Phi/Những đất tự do, những trời nô lệ/Những con đường cách mạng đang tìm đi”(1). So sánh các cuộc cách mạng, Người chỉ rõ, kết cục của các cuộc cách mạng tư sản là “cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức. Cách mệnh An Nam nên nhớ những điều ấy”(2). Điều đó có nghĩa là, cách mạng Việt Nam khi đó quyết không chọn con đường cách mạng tư sản, không thể đặt nhiệm vụ ấy cho giai cấp tư sản.

Bằng tư duy mới, coi trọng khảo cứu thực tiễn, đối sánh, cùng với sự nhạy bén đặc biệt về chính trị, Nguyễn Ái Quốc đã tìm và chọn được con đường giải phóng dân tộc triệt để nhất - con đường cách mạng vô sản, theo Cách mạng Tháng Mười Nga, trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Trong Đường Cách mệnh, Nguyễn Ái Quốc khẳng định dứt khoát: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(3). Nghiên cứu lý luận, đối chiếu với thực tiễn chính trị - xã hội, Người đi đến kết luận: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(4). Tuân theo tính quy luật, để làm cách mạng vô sản thì điều kiện tiên quyết phải tổ chức ra Đảng Cộng sản.

Nhận thức được chân lý của thời đại, Nguyễn Ái Quốc đã nỗ lực xúc tiến chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, tổ chức, về đội ngũ cán bộ ban đầu đã dẫn tới sự ra đời các tổ chức tiền thân của đảng cộng sản. Những năm 1929 - 1930, phong trào dân tộc theo xu hướng cộng sản thể hiện rõ sự thắng thế so với các xu thế khác, các tổ chức cộng sản cũng phát triển mạnh mẽ. Nhu cầu cần có một đảng cộng sản duy nhất để tập trung sự lãnh đạo trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết.

Trong bối cảnh đó, Nguyễn Ái Quốc chủ động hợp nhất các tổ chức cộng sản (Đông Dương Cộng sản Đảng; An Nam Cộng sản Đảng, tiếp đến là Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) thành Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930 -  bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Đảng ra đời vạch ngay một Cương lĩnh đúng, đưa cách mạng Việt Nam đi theo xu thế thời đại, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, chính thức chấm dứt sự khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước ở Việt Nam, đảm nhận sứ mệnh mà các lực lượng trước đó không giải quyết được. “Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”(5).

Đảng ra đời với đường lối đúng, đẩy mạnh tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, được toàn dân tin theo và ủng hộ. Đây là bước đầu quyết định, chứng tỏ cách mạng Việt Nam đã có một lực lượng lãnh đạo đủ uy tín, năng lực đưa cách mạng vượt qua khó khăn, thử thách, làm nên những kỳ tích trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và kiến tạo đất nước, đáp ứng khát vọng của nhân dân, phù hợp với xu thế của lịch sử.

Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930 

Nắm vững cơ sở lịch sử và pháp lý, kiên quyết bảo vệ tính chính danh của Đảng

 Sự lãnh đạo và quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam phản ánh ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân Việt Nam. Thực hiện quyền lãnh đạo đối với Nhà nước, xã hội; gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân là mệnh lệnh của lịch sử, là phẩm chất, văn hóa của Đảng; đồng thời, cũng là trách nhiệm của Đảng. Dù các thế lực phản động, thù địch có cố tình xuyên tạc ra sao thì các nội dung trên là sự thực không thể phủ nhận.