Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn coi nhiệm vụ xây dựng chính quyền địa phương (CQĐP) là một trọng tâm trong chiến lược củng cố chính quyền dân chủ nhân dân. Tuy nhiên, do hoàn cảnh đất nước có chiến tranh kéo dài nên trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, chính quyền địa phương vẫn tồn tại như là “cánh tay nối dài” của chính quyền trung ương, mô hình tổ chức và hoạt động của CQĐP chủ yếu vẫn mang tính trực thuộc.
Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam mở ra tiến trình đổi mới đất nước. Tại Đại hội này, Đảng khẳng định: “Phải kiên quyết thực hiện phân cấp quản lý theo nguyên tắc tập trung dân chủ”(1). Theo đó, Đảng ta coi phân cấp quản lý là giải pháp chủ yếu để đổi mới tổ chức và hoạt động của CQĐP. Chủ trương phân cấp đối với CQĐP tiếp tục được nhấn mạnh tại Đại hội Đảng VII (năm 1991). Đến Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (tháng 6-1997), Đảng chỉ đạo: “Nghiên cứu, phân biệt sự khác nhau giữa hoạt động của Hội đồng nhân dân và nhiệm vụ quản lý hành chính ở đô thị với hoạt động của Hội đồng nhân dân và nhiệm vụ quản lý hành chính ở nông thôn, có thể tiến hành thí điểm ở một vài địa phương để thấy hết các vấn đề cần giải quyết”(2). Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (tháng 4-2006) nêu rõ: “Tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, phân định lại thẩm quyền đối với chính quyền địa phương ở nông thôn, đô thị, hải đảo”; “phân biệt rõ những khác biệt giữa chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị để tổ chức bộ máy phù hợp”(3). Chủ trương thí điểm không tổ chức hội đồng nhân dân (HĐND) quận, huyện, phường được Đảng thông qua tại Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa X bằng Nghị quyết số 17/NQ-TW là cơ sở chính trị quan trọng để Quốc hội thí điểm không tổ chức HĐND ở huyện, quận, phường ở 10 tỉnh, thành phố trên cả nước trong giai đoạn 2009 - 2016. Kết quả thí điểm không tổ chức HĐND ở huyện, quận, phường theo Nghị quyết số 26/2008/QH12 của Quốc hội trong giai đoạn 2009 - 2016 là căn cứ thực tiễn quan trọng để Quốc hội tiếp tục thí điểm mô hình chính quyền đô thị ở Hà Nội, Đà Nẵng và chính thức tổ chức mô hình chính quyền đô thị ở Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 và ngay sau đó là Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 ra đời đã tạo lập những nền tảng pháp lý mới đối với việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính quyền địa phương ở Việt Nam. Theo đó, chính quyền địa phương là một trong những chế định pháp lý quan trọng được trình bày ở chương IX với 7 điều (từ Điều 110 đến Điều 116) trong Hiến pháp. Lần đầu tiên, khái niệm “cấp chính quyền địa phương” được Hiến định tại khoản 2 Điều 111: “Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định”... Về phương diện kỹ thuật tổ chức, Điều 111 của Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: “Chính quyền địa phương tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (...) phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt”. Tiếp nối tinh thần của Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định: “Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”(Khoản 1, Điều 4). Khái niệm “cấp chính quyền địa phương” và “đơn vị hành chính tương đương” trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã mở ra khả năng có thể tổ chức mô hình chính quyền khác nhau giữa địa bàn đô thị và nông thôn và đang dần được hiện thực hóa trong thực tiễn.
Trước, trong và sau các chuyến thăm của lãnh đạo các nước đến Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tìm cách xuyên tạc về công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước, nhân dân ta nói chung, xuyên tạc về công tác đối ngoại của ta với các nước có lãnh đạo, nguyên thủ đến thăm nói riêng.
Thời gian qua, hoạt động đối ngoại diễn ra sôi động với nhiều nhà lãnh đạo, nguyên thủ các nước trên thế giới đến thăm chính thức Việt Nam như Tổng thống Mỹ Joe Biden, Tổng thống Mông Cổ Ukhnaagiin Khurelsukh, Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk Yeol, Thủ tướng Australia Anthony Albanese… và gần đây nhất là chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình, chuyến thăm của Thủ tướng Campuchia Hun Manet.
Tuy nhiên, lợi dụng điều này, trước, trong và sau các chuyến thăm của lãnh đạo các nước đến Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tìm cách xuyên tạc về công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước, nhân dân ta nói chung, xuyên tạc về công tác đối ngoại của ta với các nước có lãnh đạo, nguyên thủ đến thăm nói riêng.
Nhận diện những luận điệu xuyên tạc
Việc xuyên tạc nội dung, ý nghĩa các hoạt động đối ngoại của lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam, đặc biệt là trong những dịp Việt Nam tham dự các sự kiện ngoại giao quan trọng là một chiêu trò thường thấy của các thế lực xấu. Lợi dụng những dịp này, các đối tượng đưa ra các nhận định mang tính võ đoán, tung luận điệu bôi nhọ dưới dạng “phân tích, bình luận, kiến nghị” với mục đích gây ra sự phân tâm trong dư luận xã hội, phá hoại chủ trương, đường lối ngoại giao của Việt Nam, hạ uy tín, vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế.
Trong bối cảnh mở cửa, hội nhập quốc tế sâu rộng, Việt Nam đã sáng suốt và kịp thời có những thay đổi tư duy về công tác đối ngoại, tạo nền tảng quan trọng giúp công tác đối ngoại có những bước phát triển đột phá. Trong suốt quá trình đó, chúng ta chủ trương “là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Điều này cho thấy, Việt Nam luôn chú trọng đưa quan hệ với các nước trên thế giới, khu vực đi vào chiều sâu, ổn định và tăng cường sự tin cậy lẫn nhau, tạo sự đan xen lợi ích nhằm củng cố vị thế của nước ta và bảo đảm lợi ích quốc gia trong quan hệ quốc tế. Có thể nhận thấy, đây là một thông điệp đối ngoại phù hợp vì việc xây dựng lòng tin và thúc đẩy quan hệ tin cậy lẫn nhau góp phần đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển ổn định của quan hệ giữa các nước.
Tuy vậy, đi ngược lại chính sách vì lợi ích, quốc gia dân tộc, các thế lực xấu cố tình xuyên tạc, bóp méo chính sách đối ngoại của Việt Nam nhằm phá hoại công cuộc hội nhập, phát triển của đất nước. Chúng rêu rao rằng, đối ngoại của Việt Nam là “gió chiều nào theo chiều ấy”, uốn kiểu nào cũng được, từ đó bôi nhọ ngoại giao cây tre là “ẻo lả không có lập trường, không đáng tin cậy”. Với thủ đoạn dựa vào những phát ngôn, hình ảnh của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta rồi cắt xén, thêm thắt, bình luận, làm sai lệch nội dung, bản chất vấn đề, cố tình thổi phồng theo hướng kích động chia rẽ kiểu “bắt tay bên này để chống bên kia”, từ đó họ lấy cớ xuyên tạc, bóp méo đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam. Tính chất nguy hiểm của các luận điệu nêu trên là tạo ra sự hoang mang, dao động, gây chia rẽ từ bên trong, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước, nhất là các nước đối tác, đối tác chiến lược, khiến dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về Việt Nam.
Đáng chú ý, các thế lực thù địch, phản động thường tìm cách cường điệu hóa khi đặt Việt Nam trong mối quan hệ với những cường quốc, từ đó đưa ra quan điểm “khuyên” Việt Nam nên chọn theo nước này, chống nước kia và ngược lại; thậm chí còn “khuyến cáo” Việt Nam nên bỏ chính sách đối ngoại “bốn không” để nghiêng về phương Tây, gắn với thực hiện “dân chủ hóa Việt Nam”, xem đây là giải pháp để “bảo toàn chủ quyền lãnh thổ”. Từ đó, cổ súy, kích động tư tưởng dân tộc cực đoan, làm “ngòi nổ” để truyền bá tư tưởng chống đối, gây chia rẽ, kỳ thị về ngoại giao, gây sự hiểu nhầm đối với người dân trong đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước. Có thể thấy, không riêng gì chuyến thăm Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình hay chuyến thăm của Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden mà nhiều chuyến thăm của lãnh đạo, nguyên thủ các quốc gia khác đến Việt Nam cũng bị các thế lực thù địch, các tổ chức, phần tử phản động lưu vong xuyên tạc, bóp méo.
Mục đích của các thế lực thù địch nhằm xuyên tạc đường lối đối ngoại của Việt Nam, trong đó xuyên tạc mối quan hệ Việt Nam với các nước khác. Các luận điệu xuyên tạc nhằm tìm cách cô lập, hạ thấp vị thế, uy tín Việt Nam trên trường quốc tế; phá hoại mối quan hệ nước ta với các nước, chia rẽ tinh thần đoàn kết, hợp tác, hữu nghị của Việt Nam với các nước; khiến dư luận hiểu sai để tạo sự kỳ thị, ác cảm với Việt Nam. Mục tiêu cuối cùng mà các thế lực này hướng tới không gì khác là nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xoá bỏ con đường phát triển đất nước mà Đảng, nhân dân ta đã lựa chọn.
Đối ngoại góp phần khẳng định vị thế Việt Nam
Đại hội XIII của Đảng xác định nền ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại bao gồm ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân. Nhiệm vụ của đối ngoại là phát huy vai trò tiên phong trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước. Triển khai thực hiện hiệu quả đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng, công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế trong hơn nửa nhiệm kỳ vừa qua tiếp tục được mở rộng, đạt nhiều kết quả quan trọng; tiếp tục củng cố, nâng cao vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế.
Những hoạt động đối ngoại cấp cao của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta trong năm 2023 không chỉ truyền tải thông điệp về một Việt Nam phát triển năng động, đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả mà còn giới thiệu hình ảnh Việt Nam đóng góp tích cực, chủ động, có trách nhiệm vào các công việc chung của cộng đồng quốc tế. Có thể nói năm 2023 là một năm rất thành công về công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta với nhiều lãnh đạo, nguyên thủ các nước đến thăm và làm việc tại Việt Nam, trong đó có chuyến thăm của Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden tới Việt Nam từ ngày 10-11/9/2023; chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình từ ngày 12-13/12.
Trong các chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam, lãnh đạo các nước còn có dịp trải nghiệm không gian văn hoá và sự mến khách của người Việt như: Thủ tướng Malaysia cùng Thủ tướng Việt Nam đi dạo phố sách, thưởng thức cà phê; Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk Yeol cùng Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đi dạo ven hồ Hoàn Kiếm, điểm tâm sáng ở nhà hàng ẩm thực Hà thành; Thủ tướng Luxembourg cùng Thủ tướng Việt Nam đi thăm Văn Miếu, Bảo tàng Mỹ thuật; Thủ tướng Úc đi tìm hiểu một món rất dân dã, phổ biến của Hà Nội là bia hơi, bánh mì. Các chuyến thăm khác của Thủ tướng Singapore (8/2023); Tổng thống Mông Cổ (11/2023)… cũng có nhiều hoạt động bên lề ý nghĩa. Hay trước đây, trong chuyến thăm đến Việt Nam năm 2016, Tổng thống Mỹ Obama đã dành thời gian đi thưởng thức bia chai, bún chả Hà Nội.
Hiện nay, với hơn 500 hiệp định song phương và đa phương cùng việc phê chuẩn, triển khai có hiệu quả Hiệp định thương mại tự do Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA), tham gia ký Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) và đã có hơn 70 quốc gia công nhận Việt Nam là một nền kinh tế thị trường, nước ta đã trở thành mắt xích quan trọng trong nhiều liên kết kinh tế. Qua đó tạo ra động lực to lớn cho sự phát triển.
Những hoạt động đối ngoại quan trọng của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta đã thể hiện dấu ấn đậm nét của ngoại giao đa phương, đóng góp quan trọng vào việc nâng cao vai trò và vị thế của đất nước trên trường quốc tế. Chúng ta không chỉ giới thiệu một Việt Nam đổi mới, năng động mà còn giới thiệu một Việt Nam là điểm hẹn của cơ hội, của tiềm năng và môi trường đầu tư. Qua đó, chúng ta bảo vệ và thúc đẩy các lợi ích chính đáng của đất nước; triển khai mạnh mẽ đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng XIII là “độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại”… Đây cũng là dịp để Việt Nam và các nước bạn bè đối tác tạo thêm xung lực mới cho hợp tác đa phương năm 2024 và các năm tiếp theo, vì hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực và thế giới.
Thứ nhất, nghiêm túc quán triệt, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ cũng như phát huy dân chủ trong quần chúng nhân dân(24). Bên cạnh đó, chú trọng nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức, phong cách, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, xem đây là nhiệm vụ thường xuyên, căn bản và trọng yếu trong việc mở rộng các khía cạnh trong công tác xây dựng Đảng trên tinh thần “phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(25).
Thứ hai, nâng cao trách nhiệm, tinh thần cống hiến vì mục tiêu mang lại lợi ích của nhân dân, coi lợi ích của nhân dân là trên hết. Từ tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người lãnh đạo ngày nay cần đặt lợi ích của nhân dân lên cao nhất, theo đó trong công việc, nhiệm vụ, phải có sự tận tâm, lo lắng, quyết tâm xử lý, giải quyết những vấn đề nảy sinh liên quan đến cuộc sống và sinh kế của người dân. Bên cạnh đó, luôn giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng, nhất là đức tính trung thực, kiên định, khiêm tốn, minh bạch. Cụ thể, người lãnh đạo cần giữ lời hứa, thực hiện các cam kết, từ đó, tạo niềm tin vững chắc cũng như sự tôn trọng từ nhân dân. Mặt khác, cần đổi mới để có các biện pháp xử lý phù hợp, đủ mạnh, đủ sức răn đe hơn, tránh kẽ hở, yếu kém để các đối tượng vị lợi, thoái hóa, biến chất lợi dụng hòng tham nhũng, trục lợi, chà đạp lên lợi ích, vô trách nhiệm với đời sống người dân.
Thứ ba, chú trọng đúng mức nhiệm vụ đổi mới, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Theo đó, đội ngũ lãnh đạo cần nhanh chóng nghiên cứu, ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích sáng tạo và đổi mới phương thức quản lý và phát triển xã hội. Mặt khác, nâng cao ý thức học hỏi và tự phát triển, cập nhật kiến thức và phát triển kỹ năng lãnh đạo của mình để có khả năng đối phó với thách thức của tình hình mới; tạo điều kiện kết hợp giáo dục rèn luyện trong tập thể với phát huy tính chủ động, tự giác trong rèn luyện và tu dưỡng cá nhân. Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước cần tăng cường giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Thứ tư, biết lắng nghe, thương yêu, có trách nhiệm với đời sống người dân. Người cán bộ lãnh đạo ngày nay cần lắng nghe ý kiến của cộng đồng, đồng thời tạo cơ hội cho người dân được tham gia vào quá trình ra quyết định về các vấn đề chung. Ngoài ra, “vị thế công bộc” cần được đi kèm với trách nhiệm và lòng tự trọng; tuân thủ nguyên tắc đạo đức và dám chịu trách nhiệm trong tất cả quyết định và hành động của mình. Hiện nay, để tránh tình trạng không dám nghĩ, dám làm, “sợ sai”, “sợ trách nhiệm”, đội ngũ cán bộ, lãnh đạo vừa phải không ngừng trau dồi bản lĩnh, ý chí kiên định thực hiện mục tiêu cách mạng, vừa luôn học hỏi và lắng nghe nhân dân; dám nghĩ, dám làm và dám ra quyết định ở những thời điểm khó khăn, có tính bước ngoặt; gần gũi, chân thành, tin tưởng đồng chí, đồng bào,... để quy tụ được mọi người, kiến tạo nguồn sức mạnh của khối đoàn kết trong chính quyền và nhân dân.
Thứ năm, phát huy vai trò của các cơ quan truyền thông trong việc phát hiện những biểu hiện thoái hóa, biến chất cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp cao nhằm trục lợi, tham ô, tham nhũng, gây hậu quả nghiêm trọng. Mặt khác, kiên trì giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về đức tính liêm khiết, chính trực; xây dựng văn hóa tiết kiệm; cấp ủy, đảng viên phải luôn luôn dựa vào dân, lắng nghe dân, gắn bó máu thịt với nhân dân,... Cán bộ, đảng viên, trước hết là người lãnh đạo cần giữ gìn đức tính trong sạch, trọng liêm sỉ, danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân có hành vi tham nhũng, tiêu cực, ỷ lại, vô trách nhiệm với nhân dân, đất nước./.
Về nội hàm, thuật ngữ “công” nghĩa là thuộc về nhà nước, việc chung cho mọi người, “bộc” có nghĩa là “đầy tớ”(1); như vậy, cụm từ “công bộc của dân” dùng để mô tả “người đầy tớ chung của dân”(2).Thực tế, công bộc của dân thường được hiểu như một triết lý, tư duy quản lý gắn trách nhiệm và nghĩa vụ của quan chức, người nắm quyền lãnh đạo (hoặc mở rộng là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước) trong thực hiện nhiệm vụ vì lợi ích của nhân dân. Trên thế giới, khái niệm công bộc của dân (servant of the people) xuất hiện khá sớm, có nguồn gốc từ tiếng La-tinh “servus” với nghĩa là nô lệ. Ở nước ta thời phong kiến, người thực hiện điều hành cơ quan công quyền là “quan” và “lại”, khi đó, khái niệm “công bộc của dân” chưa xuất hiện. Đến năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thành lập, các khái niệm cán bộ, công chức, viên chức lần lượt ra đời, được Chủ tịchHồ Chí Minh gói gọn trong thuật ngữ “công bộc của dân”.
Thực tế, lợi ích của đảng cộng sản cầm quyền luôn gắn bó, thống nhất với lợi ích giai cấp, như C. Mác và Ph. Ăng-ghen chỉ rõ: “Họ tuyệt nhiên không có một lợi ích nào tách khỏi lợi ích của toàn thể giai cấp vô sản(3)”. Theo đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng ngoài lợi ích của nhân dân và của giai cấp công nhân, Đảng ta không có lợi ích nào khác(4)vàchính bản thân Người là một tấm gương sáng về đạo đức, tác phong của người cán bộ trong vai trò “người công bộc”; là hình ảnh đẹp, vĩ đại để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân noi theo. Trong hệ thống quan điểm của Người về công tác cán bộ, “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo đất nước là nội dung nổi bật; các phát biểu, bài viết của Người đã nhiều lần nhấn mạnh chức vụ, quyền lực của mỗi cán bộ lãnh đạo là do nhân dân tín nhiệm, ủy thác, cho nên, cùng với việc Đảng cầm quyền, được giao đảm nhiệm các vị trí trọng yếu trong cơ quan Nhà nước, khi thực thi các quyền lực đó, cán bộ lãnh đạo là những người đại diện cho nhân dân, là “công bộc của dân”, chứ không phải “làm quan cách mạng, ăn trên ngồi trốc. Cán bộ Đảng cũng như cán bộ chính quyền, ngay cả Bác là cán bộ cao nhất đều là đày tớ của nhân dân”(5), điều này cũng có nghĩa,“tất cả các cán bộ, từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào - đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Tất cả cán bộ đều phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân”(6) và làm cán bộ chính là “suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân”(7),...
Trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng đất nước, Người chỉ rõ: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”(8). Người tin tưởng và đề cao vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo giữ trọng trách lèo lái đất nước; coi họ là người có trách nhiệm chính định hình chính sách, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm sự thống nhất, đoàn kết của nhân dân. Nhìn chung, quan điểm của Chủ tịchHồ Chí Minh về “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, “vị thế công bộc” của cán bộ lãnh đạo biểu hiện ở lòng trung thành với Đảng, với nhân dân. Sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một nhà nước của dân, do dân, vì dân được thành lập vào năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân... Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra”(9). Theo đó, vị thế công bộc, đầy tớ của cán bộ bắt nguồn từ bản chất của chế độ dân chủ, cụ thể: “Dân chủ là thế nào? Là dân làm chủ. Dân làm chủ thì Chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, ủy viên này khác là làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng”(10). Như vậy, nhân dân là chủ thể đích thực của chế độ, người dân chỉ trao cho Đảng, Nhà nước quyền thực thi quyền lực lãnh đạo, quản lý xã hội theo ý tưởng và lợi ích của dân. Do đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải là công bộc, là đầy tớ cho người đã giao quyền cho mình và có quyền phế truất mình; nhân dân là ông chủ nắm chính quyền, bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấyvà nếu “Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”(11). Để giữ được “vị thế” trong lòng dân, Người căn dặn đội ngũ cán bộ lãnh đạo, những đại biểu thay mặt nhân dân thi hành quyền lực nhà nước phải yêu thương và trung thành tuyệt đối với Đảng và lợi ích dân tộc, không ngừng tạo dựng niềm tin, sự ủng hộ từ nhân dân.
Thứ hai, “vị thế công bộc” của cán bộ lãnh đạo được thể hiện ở sự tận tụy và trách nhiệm với nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nhiệm vụ của chính quyền và các đoàn thể là phụng sự nhân dân, là làm đầy tớ cho dân(12). Tuy nhiên,từ “đầy tớ” ở đây không có nghĩa là “tôi tớ”, “tay sai” mà là tinh thần tận tâm, tận lực phụng sự, mang lại lợi ích cho nhân dân. Người yêu cầu: “Đã phụng sự nhân dân, thì phải phụng sự cho ra trò”(13), tức là “việc gì lợi cho dân, thì phải làm cho kỳ được. Việc gì hại cho dân, thì phải hết sức tránh”(14); rằng “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi”(15). Theo đó, Người yêu cầu cán bộ lãnh đạo phải ghi nhớ rằng họ đang phục vụ lợi ích của nhân dân, đất nước với tinh thần “Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”(16). Thực tế, sứ mệnh phụng sự nhân dân chính là phụng sự chân lý lớn nhất, nên dù người cán bộ thực hiện vai trò gì, công việc gì, nhưng có lòng tận tụy vì dân thì đều là điều cao quý; đồng thời, cần xác định có làm tốt chức năng của “người lãnh đạo” mới có cơ sở làm tốt chức năng của “người đầy tớ” và chỉ khi làm tốt chức năng “người đầy tớ” thì mới có thể làm tốt chức năng “người lãnh đạo”. Thêm vào đó, người đầy tớ tận tâm, tận lực với dân thì sẽ được dân tin yêu, ủng hộ và quyền lãnh đạo của người làm lãnh đạo, cũng như “vị thế công bộc” được Đảng và nhân dân giao phó sẽ được bảo đảm. Như vậy, “vị thế công bộc” của cán bộ lãnh đạo được thể hiện ở việc luôn đặt quyền lợi của nhân dân lên trên hết, đó cũng là phương pháp, tiêu chí đánh giá năng lực của chính người cán bộ lãnh đạo.
Thứ ba, cán bộ lãnh đạo cần giữ gìn chuẩn mực đạo đức cách mạng. Theo Chủ tịchHồ Chí Minh, những phẩm chất đạo đức của cán bộ lãnh đạo, như “công tâm, trung thành, sốt sắng với quyền lợi dân chúng, có năng lực làm việc, được đông đảo dân làng tín nhiệm”(17) là phẩm chất căn cốt của người “đầy tớ” nhân dân. Để khẳng định “vị thế công bộc” của mình, người cán bộ phải tuân theo những chuẩn mực nhất định, như “Phải thiết thực quan tâm đến đời sống của nhân dân. Phải cần, kiệm, liêm, chính. Phải gương mẫu. Phải có tinh thần trách nhiệm cao độ. Phải chống quan liêu, mệnh lệnh, hình thức. Chống tham ô, lãng phí. Phải làm đúng những điều đó mới xứng đáng là người đày tớ trung thành của nhân dân”(18); mặt khác, luôn sẵn sàng đi đầu trong công việc, nỗi lo của dân, nhưng thành quả, niềm vui đạt được thì nhân dân phải được thụ hưởng trước; tránh biến quyền lực dân trao thành quyền lực cá nhân.
Thứ tư,“vị thế công bộc” còn được biểu hiện ở những đức tính, như cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư và phong cách ứng xử văn hóa, nhân văn, trọng nghĩa tình, nói đi đôi với làm, sống giản dị,... Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có một đặc điểm rất nổi bật là sự khiêm tốn, giản dị. Trong một chế độ mà ngay cả vị Chủ tịch nước luôn coi mình là đầy tớ của dân và khiêm tốn, dám nhận sai, không ngừng học tập, trau dồi để đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước thì chế độ ấy đích thực là của dân, do dân làm chủ. Theo Người, đức tính khiêm tốn, giản dị là một trong những đức tính quan trọng nhất của con người, do đó người cán bộ lãnh đạo phải luôn lắng nghe, cập nhật kiến thức, phục vụ nhân dân một cách tận tâm, tránh lối sống tự phụ, xa cách với cuộc sống khó khăn, cực nhọc của người dân.
Ngoài ra, người cán bộ lãnh đạo phải có tinh thần tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Mặt khác, cần học hỏi và bàn bạc, giải thích với dân chúng về mọi việc, nhưng “tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng”(19), dân chúng nói gì cũng làm theo, mà phải có bản lĩnh vững vàng để vừa nâng cao trình độ giác ngộ, dân trí của quần chúng, vừa tránh “sợ sai”, “sợ khuyết điểm”; phải có tư duy độc lập, không bị ảnh hưởng bởi mọi yếu tố ngoại lai; tuyệt đối tránh tư duy cá nhân, thái độ kiêng kỵ, vừa tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của một bộ phận quần chúng “chậm tiến”, vừa thực hiện tốt vai trò “cầm lái” của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, chính tư tưởng bảo thủ, duy ý chí, không chịu đổi mới là sợi dây cột chân cột tay người ta, kìm hãm sự tiến bộ, phát triển nên phải tháo bỏ nó đi. Theo Người, muốn cán bộ công tác giỏi, muốn sự nghiệp đổi mới tiến lên, gặt hái được nhiều thành tựu năm sau to hơn năm trước thì nhất định phải dám nghĩ, dám làm, có gan phụ trách; bởi “Nếu đào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo “đập đi, hò đứng” không dám phụ trách. Như thế là một việc thất bại cho Đảng”(20). “Vị thế công bộc” của người lãnh đạo chính là ở ý chí kiên định và dám làm, dám chịu trách nhiệm như vậy.
Thứ năm, duy trì tinh thầnluôn học hỏi, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kinh nghiệm và tự cải thiện bản thân để có năng lực đáp ứng công việc. Thực tế, năng lực để “phục vụ nhân dân” được thể hiện qua các yếu tố, như tri thức, kỹ năng, thái độ, hành vi,... Trong đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi việc học hỏi, tự cải thiện là điều cần thiết cho người cán bộ lãnh đạo, phải “học tập, học tập nữa, học tập mãi” để nâng cao trình độ và khả năng lãnh đạo của mình. Người cũng đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng một đội ngũ cán bộ lãnh đạo chất lượng, tận tụy, có đủ tri thức, khả năng thích nghi với tình hình và giải quyết các vấn đề phức tạp - yếu tố quan trọng để bảo đảm sự phát triển bền vững của dân tộc. Người xem xét vị thế công bộc của người cán bộ lãnh đạo như một sứ mệnh lớn, phải đảm nhận trách nhiệm cao cả để thực hiện mục tiêu của cuộc cách mạng và phục vụ cho lợi ích của nhân dân, đất nước.
Dựa trên quan điểm của Chủ tịchHồ Chí Minh về “vị thế công bộc” của đội ngũ cán bộ và quá trình đúc kết kinh nghiệm trong thực tiễn, đến nay, đã có nhiều chủ trương, chính sách được Đảng và Nhà nước ban hành nhằm bảo đảm xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh gắn với nâng cao năng lực, phẩm chất, trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, công chức, như Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 7-6-2012, của Ban Bí thư, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW,ngày 19-12-2016, của Bộ Chính trị, “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường trách nhiệm nêu gương”; Quy định số 08-QĐi/TW,ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”, trong đó, đề cao tinh thần hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, tránh tình trạng độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, thờ ơ, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của nhân dân; đặc biệt, Quy định số 214-QĐ/TW, ngày 2-1-2020, của Bộ Chính trị, về “Khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý” xác định rõ đội ngũ cán bộ, quản lý phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn về phẩm chất năng lực và đạo đức cách mạng(21). Đại hội XIII của Đảng cũng nhấn mạnh, phải xây dựng “đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”(22).
Một số vấn đề đặt ra:
Hiện nay, dưới tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, như mặt trái của nền kinh tế thị trường, quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, sự phát triển của khoa học - công nghệ,... đã hướng sự quan tâm của con người đến lợi ích vật chất, khiến một số người quá đề cao các yếu tố vật chất, hình thành, phát triển lối sống thực dụng, bỏ qua những giá trị, chuẩn mực đạo đức, nhân cách con người, văn hóa xã hội; trong đó có một bộ phận không nhỏ nằm trong hàng ngũ “công bộc của dân”. Mặt khác, nhiệm vụ đổi mới tư duy chính trị và đổi mới tư duy kinh tế chưa có sự đồng bộ, thống nhất nên còn diễn ra tình trạng “đánh trống bỏ dùi”, “đầu voi đuôi chuột”. Thêm vào đó, công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên có nơi, có lúc chưa thường xuyên; tính trung thực (cả trong tư tưởng, chính trị và đạo đức) của không ít cán bộ, đảng viên bị suy giảm nghiêm trọng; vấn nạn tham nhũng ngày càng diễn biến phức tạp và tinh vi, gây nhức nhối về đạo đức trong Đảng, làm suy giảm nghiêm trọng niềm tin của nhân dân và xã hội,...
Bên cạnh đó, căn bệnh “sợ trách nhiệm” đang có dấu hiệu ngày càng xuất hiện phổ biến và dễ lây lan, khó chữa trị; là biểu hiện tâm lý sợ bị liên lụy, thiếu tinh thần, trách nhiệm trong hoạt động công vụ, lo rằng lợi ích cá nhân bị ảnh hưởng, thiệt thòi... của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Những người mắc bệnh “sợ trách nhiệm” sẽ không dám đương đầu với khó khăn, thách thức, không dám đổi mới, sáng tạo; thường rụt rè, do dự, chỉ muốn làm việc cầm chừng cho “đủ bổn phận”, mong tránh phạm phải khuyết điểm; ngại “va chạm” trong quan hệ công việc, cơ quan, nhất là với cấp trên, thậm chí, lấy lý do làm việc tập thể, tôn trọng tập thể để dựa dẫm vào tập thể(23),... Từ thực tiễn đó, Đảng ta đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22-9-2021, của Bộ Chính trị, “Về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung” nhằm chấn chỉnh những đối tượng đang “mắc phải” bệnh sợ trách nhiệm, đồng thời, bảo vệ đội ngũ cán bộ chính trực, dám nghĩ, dám làm.
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Đảng vững mạnh, thì đất nước phát triển, dân tộc trường tồn, nhân dân hạnh phúc; do đó, bảo vệ Đảng và đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch là một nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, lâu dài.
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lịch sử dân tộc ta sang trang mới với tiền đồ huy hoàng và rực rỡ. Sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo, dù phải trải qua nhiều hy sinh, gian khổ, song nhất định sẽ xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước Việt Nam. Đảng lãnh đạo, dẫn dắt nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Bất chấp sự thật hiển nhiên đó, các thế lực thù địch vẫn không ngừng chống phá, xuyên tạc về vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận những thành tựu vĩ đại mà đất nước ta đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng. Những luận điệu đó hoàn toàn sai trái, lạc lõng, bị chính lịch sử và thực tiễn bóc trần, phủ nhận.
Đảng lãnh đạo nhân dân ta tiến lên xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa - xã hội thật sự vì con người, giải phóng con người toàn diện và triệt để. Độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội; bởi vì, chỉ có đi lên chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm giữ vững độc lập dân tộc, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Chủ nghĩa tư bản mặc dù đã có những sự điều chỉnh, nhưng nó không thể giải quyết được những mâu thuẫn nội tại và che đậy được bản chất bóc lột của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, và rõ ràng, chủ nghĩa tư bản không phải là tương lai của loài người. Nó chỉ thay hình thức bóc lột này bằng hình thức bóc lột khác xảo quyệt và tinh vi hơn.
Phấn đấu đi tới một xã hội công bằng, bình đẳng, không còn chế độ người bóc lột người là mơ ước ngàn đời của nhân dân Việt Nam, của nhân loại trên toàn thế giới. Tuy nhiên, chỉ đến khi xuất hiện lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, thì chủ nghĩa xã hội khoa học mới ra đời và trở thành hiện thực, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam và toàn thế giới mới tìm thấy con đường đấu tranh để giải phóng khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, thực hiện triệt để mục tiêu tiến bộ xã hội đó. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) xác định, xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng gồm 8 đặc trưng, trong đó có mục tiêu con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện… Trải qua những khúc quanh của lịch sử, với bản lĩnh và trí tuệ vững vàng, Đảng ta đã khẳng định, theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội.
Trải qua quá trình cách mạng, Đảng đã dẫn dắt nhân dân ta giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Thực dân Pháp nổ súng xâm lược đã khiến nhân dân ta chịu kiếp lầm than, nô lệ. Nhân dân ta với truyền thống yêu nước nồng nàn đã kiên cường đấu tranh chống ách áp bức đô hộ. Từ con đường cứu nước của các sĩ phu, khởi nghĩa nông dân đến cách mạng tư sản đều thất bại, mà nguyên nhân chủ yếu là thiếu một đường lối đúng đắn. Chỉ trong vòng 15 năm từ khi ra đời, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Nhân dân chào cờ và hát Quốc ca trên Quảng trường Cách mạng Tháng Tám _Ảnh: Tư liệu
Nước Việt Nam non trẻ mới ra đời cùng lúc phải đối mặt với “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”, vận nước như “ngàn cân treo sợi tóc”. Với đường lối đúng đắn, sáng tạo, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân làm nên thắng lợi Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc thực dân Pháp phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam. Đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam, âm mưu chia cắt nước ta lâu dài, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã anh dũng, kiên cường “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là điều thiêng liêng nhất trong tâm thức của mọi người dân Việt Nam. Nhân dân ta “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ không chỉ bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, mà còn bảo vệ lương tri, phẩm giá con người. Thắng lợi đó không chỉ của nhân dân Việt Nam, mà còn là thắng lợi chung của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới, giáng đòn mạnh mẽ làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân kiểu cũ và kiểu mới, cổ vũ các dân tộc bị áp bức đứng lên đòi quyền sống, quyền tự do, bình đẳng. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược là kết tinh bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam mấy nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, được phát huy cao độ trong thời đại Hồ Chí Minh. Dù phải trải qua gian khổ và trường kỳ nhưng rất vẻ vang, thế hệ cha ông sẵn sàng hy sinh để con cháu muôn đời Việt Nam được hưởng tự do, hòa bình, được ngẩng cao đầu với thế giới, tự hào về dòng dõi Lạc Hồng anh hùng, bất khuất, không chịu cúi đầu trước bất kỳ thế lực ngoại xâm nào. Vừa trải qua chiến tranh với những hậu quả nặng nề, Đảng ta lại tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta chiến đấu bảo vệ biên giới Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế cao cả giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng và hồi sinh đất nước. Rõ ràng, sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo, kiên cường của Đảng đã làm nên thắng lợi vẻ vang, to lớn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và đưa đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới.
Với đường lối đổi mới năm 1986, Đảng ta đã mở ra giai đoạn phát triển toàn diện đất nước. Từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bị bao vây cấm vận, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân vô cùng khó khăn, đến nay, nước ta đã thoát khỏi tình trạng nước nghèo, chậm phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình.Năm 1986, GDP của nước ta đạt khoảng 8 tỷ USD, xếp thứ 9/10 trong khối ASEAN. Từ giai đoạn 1986 - 2022, Việt Nam lọt top 5 nước có quy mô kinh tế tăng nhiều nhất thế giới(1). Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, GDP năm 2022 của Việt Nam tăng 8,02% với quy mô đạt 9,513 triệu tỷ đồng, tương đương 409 tỷ USD, bình quân GDP đạt 95,6 triệu đồng/người, tương đương 4.110 USD, tăng 393 USD so với năm 2019(2). Mặc dù tình hình thế giới và trong nước có nhiều khó khăn, thách thức bất thường, phức tạp hơn nhiều so với dự báo, “trong 9 tháng đầu năm 2023, kinh tế nước ta vẫn tiếp tục là điểm sáng trong bức tranh không mấy sáng sủa của kinh tế toàn cầu; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; lạm phát, nợ công, nợ chính phủ, nợ nước ngoài, bội chi ngân sách nhà nước được kiểm soát; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Tăng trưởng kinh tế và công nghiệp từng bước được phục hồi, quý sau cao hơn quý trước, tháng sau tích cực hơn tháng trước. Dự báo đến hết năm 2023, tăng trưởng GDP của cả nước đạt khoảng trên 5%, mặc dù thấp hơn chỉ tiêu đề ra (khoảng 6,5%) nhưng vẫn là mức khá cao so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Chỉ số giá tiêu dùng ước tăng 3,5% (thấp hơn nhiều so với mục tiêu khoảng 4,5%). An sinh xã hội được bảo đảm; đời sống nhân dân được cải thiện, thu nhập bình quân của người lao động tăng 6,8% so với cùng kỳ. Việt Nam đã có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện và đối tác chiến lược với tất cả các nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các nước G20”(3).
“Theo Báo cáo của Liên hợp quốc, Việt Nam là một trong số ít các nước hoàn thành sớm các mục tiêu thiên niên kỷ bao gồm xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực, phổ cập giáo dục tiểu học, tăng cường bình đẳng giới và vị thế cho phụ nữ cũng như những tiêu chuẩn về chăm sóc y tế cộng đồng”(4).So với nhiều nước có cùng quy mô kinh tế, Việt Nam đã giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội tốt hơn, tăng trưởng kinh tế luôn gắn với tiến bộ và công bằng xã hội. Thành quả của sự nghiệp cách mạng hôm nay là kết tinh truyền thống từ mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của nhân dân ta với biết bao hy sinh, gian khổ. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta hoàn toàn có thể tự hào “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đại hội XIII của Đảng khẳng định, “sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”(5); đồng thời, đưa ra tầm nhìn và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc: “Phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(6). Mặc dù còn muôn vàn khó khăn, thách thức, nhưng với bản lĩnh chính trị, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín của mình, được nhân dân hết lòng ủng hộ, Đảng ta nhất định chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam cập bến bờ vinh quang.
Xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, giữ vững bản chất cách mạng, để Đảng mạnh từ bên trong, là một cách bảo vệ Đảng hữu hiệu nhất; theo đó, cần thực hiện một số yêu cầu, nhiệm vụ sau:
Một là, Đảng phải thường xuyên tự chỉnh đốn, tự đổi mới, xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(7). Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta không tránh khỏi có những lúc mắc sai lầm, khuyết điểm; nhưng, mỗi lần Đảng công khai tự chỉ rõ sai lầm, khuyết điểm và quyết tâm sửa chữa, khắc phục, thì uy tín của Đảng càng tăng, nhân dân càng thêm tin yêu Đảng. Việc Đảng tự chỉnh đốn là quá trình khó khăn, phức tạp, song Đảng luôn ý thức được rằng, nhiệm vụ đó có vai trò, ý nghĩa quyết định đến sự sống còn của Đảng nên phải tiến hành thường xuyên, liên tục, kiên trì và bền bỉ.
Việc ban hành, thực hiện Nghị quyết, Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng cho thấy sự cương quyết trong “phòng, chống, ngăn ngừa và đặc trị các loại bệnh tật phát sinh trong cơ thể của Đảng và hệ thống chính trị”(8) để giúp Đảng ta mạnh thêm, được nhân dân hoàn toàn ủng hộ, đồng tình với Đảng. Kết quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã phát huy tác dụng tích cực; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng ngày càng được củng cố.
Đảng phải luôn tự đổi mới để nâng cao năng lực lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, kịp thời đề ra đường lối đúng đắn, tranh thủ thời cơ đưa nước ta vững bước phát triển.
Đảng chỉ có thể hoàn thành sứ mệnh vẻ vang khi là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Đảng phải luôn giữ vững bản chất cách mạng là đội tiền phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc; luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có đường lối đúng đắn, tổ chức chặt chẽ, gắn bó mật thiết với nhân dân, đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động. Khi Đảng là của nhân dân, hết lòng vì lợi ích của nhân dân thì không kẻ thù nào phá hoại được sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.
Hai là, Đảng phải xây dựng và rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ đức và tài vì sự nghiệp cách mạng.
Lịch sử cách mạng đã chứng minh, trong hoàn cảnh khó khăn, đảng viên của Đảng đã nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, gương mẫu, tiên phong, “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Bài học từ sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã cảnh tỉnh rằng, khi đội ngũ cán bộ, đảng viên quan liêu, xa dân, suy thoái đạo đức, lối sống thì Đảng sẽ mất năng lực lãnh đạo, cầm quyền. Một chính đảng chỉ làm tròn vai trò dẫn dắt quần chúng nhân dân khi mỗi cán bộ, đảng viên của đảng nêu cao tinh thần, trách nhiệm nêu gương; ngược lại, sẽ đánh mất vai trò lãnh đạo khi cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, không nêu cao tinh thần gương mẫu, xa rời quần chúng, quan liêu. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh tỉnh: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(9).
“Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, do đó “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Sự nghiệp cách mạng mỗi giai đoạn đều đặt ra những nhiệm vụ khác nhau, song để hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, mỗi cán bộ, đảng viên phải đủ đức, đủ tài, “vừa hồng, vừa chuyên”. Đức là gốc của người cách mạng, nếu không có đạo đức cách mạng thì dù tài giỏi đến đâu cũng không thể hoàn thành nhiệm vụ; thậm chí, còn có hại cho sự nghiệp cách mạng. Đặc biệt, hiện nay, Đảng ta là Đảng duy nhất cầm quyền trong điều kiện kinh tế thị trường thì việc rèn luyện đạo đức cách mạng lại càng trở nên quan trọng, bức thiết hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, có đức chưa đủ, mà mỗi cán bộ, đảng viên còn phải nỗ lực học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, góp phần xứng đáng vào việc tham mưu hoạch định đường lối và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng. Cần tập trung xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu, cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, uy tín và năng lực, ngang tầm nhiệm vụ. Tạo cơ chế, chính sách để cán bộ, đảng viên có điều kiện để phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; đồng thời, cương quyết loại bỏ khỏi hàng ngũ của Đảng những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, không đủ tư cách. Thực hiện nghiêm việc tự phê bình và phê bình trong Đảng, để mỗi cán bộ, đảng viên không ngừng tiến bộ và khắc phục những hạn chế, khuyết điểm; lòng dạ trong sáng, đặt lợi ích của Đảng lên trên lợi ích cá nhân, thật sự nghiêm túc, cầu thị, lắng nghe ý kiến phê bình.
Ba là, tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Quần chúng nhân dân là người làm nên lịch sử. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dễ mười lần không dân cũng chịu,/ Khó trăm lần dân liệu cũng xong”(10). Được nhân dân ủng hộ, giúp đỡ thì dù khó khăn đến đâu cũng làm được; ngược lại, mất lòng tin của nhân dân là mất tất cả. Sự nghiệp cách mạng của Đảng là vì nhân dân; do đó, Đảng phải vận động, đoàn kết toàn dân thành một khối thống nhất.
Kịp thời đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch hòng chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tăng cường công tác tư tưởng, tuyên truyền để nhân dân thực sự hiểu đúng chủ trương, đường lối của Đảng. Khi “ý Đảng” hợp “lòng dân” sẽ tạo ra sức mạnh vô địch. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thực hiện trách nhiệm nêu gương để nhân dân hiểu và tin vào chủ trương, đường lối của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Nhân dân ta rất tốt. Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”(11). Khi cán bộ, đảng viên gương mẫu, đặc biệt là những người đứng đầu, người giữ cương vị lãnh đạo quan trọng, sẽ là nhân cách đẹp để nhân dân thêm tin yêu Đảng và sẵn sàng che chở, đùm bọc và bảo vệ Đảng./.
Người đứng đầu tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương là người lãnh đạo, quản lý, chịu trách nhiệm chính, trách nhiệm cao nhất của tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương đó. Người đứng đầu được trao thẩm quyền sử dụng một số quyền lực để thi hành chức trách, nhiệm vụ được giao. Đó là quyền lực của tập thể và họ là người đại diện cho quyền lực của tập thể để thực thi công vụ sao cho đạt hiệu quả cao nhất. Quyền lực mà họ đang nắm giữ, đang thực thi, không phải là của cá nhân họ và do vậy, để phòng, tránh nguy cơ “tha hóa quyền lực”, người đứng đầu phải luôn đề cao và giữ nghiêm tính đảng của người đảng viên.
Tính đảng của cán bộ, đảng viên được hiểu là sự thừa nhận một cách tự nguyện và tuyệt đối trung thành với nền tảng tư tưởng, mục tiêu cách mạng của Đảng; sự tuân thủ tính tổ chức và tính kỷ luật; là những chuẩn mực đạo đức cách mạng trong mọi cử chỉ, hành vi, lời nói trong các hoạt động xã hội. Trong bất kỳ giai đoạn nào của sự nghiệp cách mạng, trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, việc nâng cao tính đảng của người cán bộ, đảng viên có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, nhằm tạo ra sự đồng thuận về mục tiêu, lý tưởng cách mạng; sự thống nhất, đoàn kết trong hành động; bảo đảm vai trò tiên phong và là tấm gương sáng có sức thu hút, động viên, dẫn dắt quần chúng nhân dân thực hiện các nhiệm vụ cách mạng trong mỗi thời kỳ.
Nhận thức được vị trí, vai trò, ý nghĩa quan trọng đó, nhiều doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa đã thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp nhằm nâng cao tính đảng, phát huy vai trò của người đứng đầu trong công tác xây dựng Đảng và đạt được những kết quả tích cực, cụ thể như sau:
Công tác xây dựng Đảng luôn được chú trọng và thực hiện nghiêm túc, hiệu quả trên các mặt công tác.
Nhìn chung, các đảng bộ doanh nghiệp, từ tập thể cấp ủy đến mỗi đảng viên, luôn đoàn kết và nhận thức sâu sắc trách nhiệm của mình. Đoàn kết giữa bí thư và các thành viên trong cấp ủy, đoàn kết giữa đảng viên, người lao động và đồng nghiệp ở các phòng ban, đơn vị làm việc, công tác; đoàn kết với các đơn vị thành viên, chính quyền và nhân dân địa phương luôn được đảng bộ các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa chú trọng và coi đó là nội dung trọng tâm trong hoạt động của tổ chức đảng và lãnh đạo doanh nghiệp. Đoàn kết trước hết là ở sự thống nhất mục tiêu, kế hoạch nhân sự, sản xuất kinh doanh hằng năm, hằng quý, hằng tháng của doanh nghiệp trên cơ sở công khai, minh bạch để thống nhất trong hành động, nâng cao quyết tâm hành động. Vì vậy, các đảng bộ xác định rõ, tổ chức cơ sở đảng luôn là nền móng của Đảng, có vai trò hạt nhân chính trị cơ sở, là cầu nối trực tiếp giữa hội đồng quản trị, ban giám đốc và người lao động.
Trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa mà Nhà nước không nắm giữ cổ phần chi phối, để nâng cao vị thế, vai trò lãnh đạo của Đảng, thì điều quan trọng là cấp ủy, người đứng đầu và mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự nêu cao ý thức trách nhiệm, tinh thần tự giác nêu gương và năng lực thực thi công việc hoàn thành nhiệm vụ, để quần chúng, người lao động noi theo. Trong cơ chế mới, để đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh, cấp ủy và hội đồng quản trị luôn nỗ lực tạo sự đồng thuận cao trong việc nâng cao năng lực thực hiện công việc cho mọi cán bộ, đảng viên và người lao động, tạo điều kiện cho mỗi người tự giác học tập, như mở các lớp tập huấn về luật pháp, nghiệp vụ kinh doanh. Nhờ đó, năng lực giám sát hoạt động sản xuất, kinh doanh và đề ra chủ trương, nghị quyết của thành viên cấp ủy được nâng cao, sát với thực tế, phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ của mình, tạo sự đồng thuận cao giữa cấp ủy và hội đồng quản trị. Xác định sức thuyết phục của cán bộ, đảng viên đối với quần chúng, người lao động là năng lực công tác, hiểu biết phù hợp với thời đại khoa học - công nghệ đang phát triển mạnh mẽ, hiểu đúng và làm việc theo pháp luật, nên doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa luôn chú trọng nâng cao kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin, ngoại ngữ cho cán bộ ở các phòng, ban. Nhờ đó, quá trình sản xuất, kinh doanh của nhiều doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa trong thời kỳ kinh tế số, xã hội số, kinh tế xanh được thuận lợi hơn, đạt hiệu quả thiết thực.
Đảng bộ các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa luôn tích cực đổi mới công tác quản trị nhân sự, từ vấn đề nhân sự trong công tác cán bộ, sắp xếp lại và kiện toàn đội ngũ cán bộ từ cấp doanh nghiệp đến các phòng, ban phù hợp với cương vị lãnh đạo, yêu cầu chuyên môn của từng vị trí công việc. Việc học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, đảng viên trong nhiều doanh nghiệp đã trở thành phong trào, có tính tự giác cao. Hằng năm, các đảng ủy doanh nghiệp nhà nước cổ phẩn hóa chú trọng công tác phát triển đảng, cử quần chúng ưu tú học lớp tìm hiểu về Đảng, các lớp bồi dưỡng lý luận chính trị cho đảng viên mới.
Xây dựng và tạo lập được mối quan hệ tốt giữa cấp ủy, bí thư cấp ủy với hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng quản trị, ban giám đốc doanh nghiệp.
Nhờ có sự đồng thuận giữa cấp ủy và hội đồng quản trị trong đánh giá năng lực làm việc của từng người, có chế độ khen thưởng công bằng, minh bạch đối với những người làm việc có hiệu quả thường xuyên hoặc đột xuất, nên không khí, môi trường làm việc, tinh thần phấn đấu, cống hiến cho doanh nghiệp, vì sự phát triển của doanh nghiệp của cán bộ, đảng viên, người lao động càng rõ nét, khởi sắc. Thực tế tại nhiều doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa cho thấy, đội ngũ đảng viên đảm nhận hầu hết vị trí quan trọng ở các phòng, ban và lãnh đạo doanh nghiệp, nên tính đảng được phát huy và thể hiện ở ý thức trách nhiệm đối với công việc của đội ngũ cán bộ, đảng viên này. Trong bối cảnh cán bộ, người lao động thường xuyên thay đổi công việc do nhu cầu cá nhân hoặc từ nguyên nhân khách quan, các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa luôn chủ động công tác nhân sự, bảo đảm đội ngũ cán bộ tại chỗ đủ tiêu chuẩn và năng lực để bổ sung, thay thế, đề bạt kịp thời, không để xảy ra sự hụt hẫng về cán bộ quản lý.
Tại các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa mà Nhà nước không nắm giữ cổ phần chi phối, công tác lãnh đạo, quản lý của hội đồng quản trị và đảng ủy các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa đều được thực hiện tốt; đảng viên và người lao động dù ở vị trí, cương vị nào đều luôn tuân thủ, chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy chế, kỷ luật hoạt động của doanh nghiệp mình. Với tinh thần “chi bộ là gốc rễ của Đảng trong quần chúng, chi bộ tốt thì mọi đường lối, chủ trương của Đảng đều được thi hành tốt”, các chi bộ thường xuyên đổi mới nội dung sinh hoạt, bảo đảm thiết thực, sát với thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp, tuân thủ định hướng chiến lược hoạt động của doanh nghiệp mà hội đồng quản trị đã đề ra. Mọi đảng viên đều có thể đóng góp ý kiến vào việc sản xuất, kinh doanh, bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích người lao động. Đảng viên thực hiện tốt, nghiêm các quy định về những điều đảng viên không được làm. Trong bối cảnh các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị không ngừng bịa đặt, xuyên tạc chống phá Đảng trên không gian mạng, cấp ủy, đảng viên trong đảng bộ doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa luôn quán triệt sâu sắc, nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của chúng và không tham gia phát tán, truyền bá tin tức không phù hợp, chưa được kiểm chứng. Các chi bộ không ngừng đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt, chú trọng tuyên truyền những điểm mới trong chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để đảng viên yên tâm với công việc, người lao động say mê lao động và cống hiến, biến lời nói thành hành động. Doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa luôn xác định, việc học tập, lao động hiệu quả, theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước không chỉ là nhiệm vụ chính trị, mà còn là thước đo chuẩn mực đạo đức, phẩm chất của cán bộ, đảng viên.
Sản xuất sợi quang tại Công ty cổ phần Thiết bị bưu điện (Postef)_Ảnh: TTXVN
Gắn chặt công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy và người đứng đầu trong các lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa thường xuyên duy trì nền nếp công tác kiểm tra, giám sát. Trước hết, cấp ủy, bí thư cấp ủy luôn nhận thức rõ: Lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát là một trong những nhiệm vụ thường xuyên của cấp ủy; qua đó, giúp đảng viên nâng cao ý thức chính trị, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, uốn nắn, không để xảy ra tình trạng đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật... Để thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, trên cơ sở nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, của doanh nghiệp, ngay từ đầu các nhiệm kỳ, cấp ủy, ban thường vụ đảng ủy tiến hành xây dựng quy chế làm việc của ban chấp hành đảng bộ. Một mặt, công tác kiểm tra được cụ thể hóa thành mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể, xử lý những vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ giữa chủ đầu tư và quyền lợi khách hàng, bảo đảm hài hòa quyền lợi, đúng pháp luật với các địa phương nơi dự án triển khai,... Mặt khác, cấp ủy luôn lắng nghe ý kiến của tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên, phòng, ban nghiệp vụ. Công đoàn và đoàn thanh niên chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, động viên cán bộ, đoàn viên, người lao động tích cực hưởng ứng, tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh. Tổ chức đảng, công đoàn và đoàn thanh niên phối hợp chặt chẽ, tạo ra sức mạnh cộng hưởng, vừa giúp doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh, vừa đại diện, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho người lao động và giữ vững sự ổn định của doanh nghiệp, giúp cho đảng bộ doanh nghiệp có được vai trò, uy tín cao đối với chủ đầu tư và người lao động.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa còn nhiều bất cập, hạn chế. Đó là việc một số cấp ủy chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc quan điểm, chủ trương về công tác xây dựng Đảng trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa; từ đó, hoạt động của tổ chức đảng ở những nơi này chậm đổi mới, nội dung chưa hấp dẫn và phương thức hoạt động ít nhiều còn mang tính hình thức. Thời gian tới, để nâng cao tính đảng và tăng cường xây dựng Đảng trong doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm sau:
Một là,cấp ủy,người đứng đầu lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh.
Cấp ủy và ban giám đốc doanh nghiệp phải thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo phù hợp với tình hình thực tiễn, điều kiện hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Phối hợp chặt chẽ, nâng cao tinh thần đồng thuận giữa người đứng đầu với cấp ủy và các phòng, ban chuyên môn trong quản lý, chỉ đạo triển khai thực hiện các nhiệm vụ xây dựng chiến lược đầu tư phát triển, kế hoạch sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và thế giới đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như hiện nay.
Hai là, nâng cao thẩm quyền, trách nhiệm của bí thư đảng ủy, chủ tịch hội đồng quản trị, giám đốc doanh nghiệp.
Chú trọng xây dựng những quy định gắn với trách nhiệm người đứng đầu trước doanh nghiệp, đoàn thể, người lao động. Để nâng cao được tính đảng trong đảng bộ các doanh nghiệp, thì điều quan trọng là phải phát huy hiệu quả vai trò, thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu cả về năng lực lãnh đạo, phẩm chất đạo đức, ý thức pháp luật. Muốn phát huy tốt, khẳng định vai trò của mình, người đứng đầu, tập thể cấp ủy và lãnh đạo phải bám sát cuộc sống, không ngừng đổi mới sáng tạo, đặt lợi ích tập thể, lợi ích người lao động lên trên hết, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Theo đó, một yêu cầu không thể thiếu đối với người đứng đầu là phải hết sức quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kiến thức cho đội ngũ lãnh đạo các cấp.
Quyền lực và trách nhiệm là hai mặt của một vấn đề trong công tác cán bộ; do đó, cấp ủy khi phân công và giao nhiệm vụ cho cán bộ thì phải rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, phù hợp với yêu cầu công việc.
Ba là, chú trọng công tác xây dựng Đảng, phát triển đảng viên, nâng cao tính đảng cho cán bộ, đảng viên.
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ như hiện nay, không ít cán bộ, đảng viên do thiếu trách nhiệm, nên thờ ơ, thậm chí cổ xúy cho những thông tin tiêu cực; vì vậy, trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo phải đẩy mạnh đấu tranh chống tin tức xuyên tạc, xấu, độc, nguy cơ làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Để tổ chức đảng trong doanh nghiệp phát triển tương xứng và hiệu quả, đảng bộ các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa phải luôn chú trọng công tác phát triển đảng viên, bảo đảm chất lượng đảng viên, lấy ý thức trách nhiệm với tập thể, năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao và có uy tín trong quần chúng làm tiêu chuẩn và thước đo hàng đầu trong kết nạp đảng viên.
Nâng cao tính đảng xuất phát từ yêu cầu tự thân của Đảng, nhằm luôn giữ vững bản chất, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Tính đảng cần được nhận thức không chỉ là giá trị tự thân của mỗi đảng viên, mà còn là niềm tự hào của gia đình, dòng họ, cộng đồng làng xã, thôn xóm để mỗi cán bộ, đảng viên luôn tự giác nỗ lực, phấn đấu hy sinh cho sự nghiệp cao cả mà mình đã lựa chọn. Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đòi hỏi sự đoàn kết, thống nhất cao trong toàn Đảng. Củng cố và nâng cao hơn nữa tính đảng sẽ nhân thêm sức mạnh nội lực của Đảng; đồng thời, tạo ra thế và lực mới trong lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, đưa sự nghiệp cách mạng nước ta giành thêm những thắng lợi mới.
Bốn là, tuân thủ nghiêm tính tổ chức và tính kỷ luật của Đảng, của doanh nghiệp.
Tăng cường kiện toàn và thắt chặt tính tổ chức, quán triệt, duy trì nghiêm khắc tính kỷ luật nhằm tạo sự chủ động trong công tác xây dựng Đảng, thực hiện đồng bộ và triệt để các giải pháp nhằm tạo chuyển biến căn bản trong nhận thức cũng như hành động của cán bộ, đảng viên. Trong công tác xây dựng Đảng, người đứng đầu phải biết lắng nghe ý kiến đóng góp, nhắc nhở của cấp ủy, tổ chức đảng; kịp thời điều chỉnh hành vi và ứng xử trong quan hệ với tổ chức đảng, cấp ủy và trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ với thẩm quyền và chức trách của mình.
Đặc điểm, phạm vi hoạt động của nhiều doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, nhất là các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, liên quan rất nhiều đến quy định của pháp luật, đồng thời có nhiều mối liên hệ với chính quyền các địa phương, lợi ích của người dân. Do đó, các doanh nghiệp này phải luôn nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục ý thức pháp luật cho mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt. Ngoài ra, việc thường xuyên tiếp xúc, đối thoại với người dân là một trong những yêu cầu quan trọng của công tác lãnh đạo, quản lý, nhằm kịp thời giải quyết vướng mắc, khó khăn ngay từ đầu, không né tránh, đùn đẩy trách nhiệm cho địa phương hay các cơ quan quản lý của Nhà nước.
Năm là, xây dựng quy chế phối hợp, tạo mối quan hệ gắn bó, hài hòa giữa cấp ủy với hội đồng quản trị, tổng giám đốc (giám đốc) doanh nghiệp.
Một trong những giải pháp quan trọng là tăng cường hơn nữa sự phối hợp giữa cấp ủy với hội đồng quản trị, bí thư cấp ủy với chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc (giám đốc); bảo đảm vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng, chức năng quản lý của hội đồng quản trị, sự điều hành của ban giám đốc. Cấp ủy chủ động trao đổi với hội đồng quản trị, ban giám đốc doanh nghiệp về việc thực hiện chủ trương, nghị quyết của tổ chức đảng; ý kiến của cán bộ, đảng viên, người lao động về việc thực hiện nhiệm vụ và chính sách, chế độ trong doanh nghiệp. Hội đồng quản trị, ban giám đốc trao đổi với cấp ủy về hoạt động của doanh nghiệp để cấp ủy thảo luận, ra nghị quyết lãnh đạo cán bộ, đảng viên, quần chúng thực hiện. Bí thư cấp ủy phải chịu trách nhiệm trước tổ chức đảng và cấp ủy cấp trên về hoạt động của tổ chức đảng, các tổ chức đoàn thể trong doanh nghiệp. Chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc (giám đốc) phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và tổ chức đảng (nếu là đảng viên) khi để xảy ra vi phạm pháp luật, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong doanh nghiệp.
Công tác xây dựng Đảng ở doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa có vai trò phát huy sức sáng tạo trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước với tinh thần phục vụ lợi ích của xã hội, của người dân, góp phần phát triển đất nước. Trên lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa luôn động viên, cổ vũ cán bộ, đảng viên, người lao động tích cực tìm kiếm và nắm bắt cơ hội do công nghệ và thị trường mang lại. Mặc dù còn phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, nhưng với sự đoàn kết, đồng thuận, quyết tâm cao của cán bộ, đảng viên và người lao động, doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa luôn chú trọng xây dựng chiến lược sản xuất, kinh doanh, đầu tư, phối hợp để phát huy tiềm năng, thế mạnh, nguồn nhân lực, nguồn lực kinh tế, khoa học - công nghệ, nhằm tạo ra sản phẩm có tính cạnh tranh cao, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước./.