Thứ Hai, 18 tháng 12, 2023

 

Thủ tướng Phạm Minh Chính gặp Chủ tịch Thượng viện, Chủ tịch Hạ viện Nhật Bản

Ngày 18.12, trong khuôn khổ chuyến công tác, dự Hội nghị Cấp cao kỷ niệm 50 năm quan hệ ASEAN - Nhật Bản, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã có các cuộc hội kiến với Chủ tịch Thượng viện Nhật Bản Otsuji Hidehisa, Chủ tịch Hạ viện Nhật Bản Nukaga Fukushiro.

Theo Báo Chính phủ, hội kiến Chủ tịch Thượng viện Nhật Bản Otsuji Hidehisa, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đề nghị Chủ tịch Otsuji và Thượng viện Nhật Bản phát huy và tăng cường hơn nữa vai trò của hai Quốc hội đối với sự phát triển quan hệ hai nước; ủng hộ và hỗ trợ Việt Nam thực hiện 3 đột phá chiến lược; thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa;

Thúc đẩy giao lưu nghị sĩ trẻ, nghị sĩ nữ cũng như giao lưu các nhóm nghị sĩ hữu nghị giữa hai nước, giao lưu thế hệ trẻ; quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng hơn 520.000 người Việt Nam sinh sống tại Nhật Bản, trong đó có vấn đề chính sách miễn các khoản thuế cho lao động Việt Nam.

Bày tỏ vui mừng trước việc Tuyên bố chung ASEAN - Nhật Bản tại Hội nghị cấp cao kỷ niệm 50 năm quan hệ nhất trí tiếp tục duy trì chương trình giao lưu thanh niên ASEAN - Nhật Bản, Chủ tịch Thượng viện cho rằng các chương trình giao lưu đã đóng góp tích cực vào thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau giữa thế hệ trẻ hai nước Việt Nam, Nhật Bản nói riêng và giữa Nhật Bản với các nước ASEAN nói chung.

Chủ tịch Otsuji khẳng định mong muốn thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt - Nhật trên tất cả các lĩnh vực, tăng cường giao lưu, hợp tác chặt chẽ giữa cơ quan lập pháp của hai nước trong thời gian tới.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Chủ tịch Hạ viện Nhật Bản Nukaga Fukushiro. Ảnh: TTXVN
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Chủ tịch Hạ viện Nhật Bản Nukaga Fukushiro. Ảnh: TTXVN

Hội kiến với Chủ tịch Hạ viện Nhật Bản Nukaga Fukushiro, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cảm ơn sự hợp tác và ủng hộ của Hạ viện Nhật Bản đối với sự phát triển của quan hệ Việt Nam - Nhật Bản thời gian qua; cảm ơn sự hỗ trợ của Quốc hội Nhật Bản đối với phát biểu chính sách của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng tại Hạ viện trong chuyến thăm chính thức Nhật Bản cuối tháng 11.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đề nghị Chủ tịch Nukaga và Hạ viện Nhật Bản quan tâm, ủng hộ tăng cường quan hệ hợp tác nhiều mặt Việt Nam - Nhật Bản theo khuôn khổ quan hệ mới Đối tác chiến lược toàn diện; tăng cường hợp tác, giao lưu Quốc hội hai nước, tăng cường trao đổi đoàn cấp cao, giao lưu giữa các nghị sĩ, nghị sĩ trẻ, nữ nghị sĩ hai nước; ủng hộ và thúc đẩy kết nối hai nền kinh tế, hỗ trợ Việt Nam xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; tiếp tục ủng hộ Việt Nam trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thúc đẩy hợp tác Việt Nam - Nhật Bản trong lĩnh vực chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chống biến đổi khí hậu, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên; tăng cường hợp tác an ninh quốc phòng giữa hai nước.

Thủ tướng Chính phủ cũng đề nghị Chủ tịch Hạ viện Nhật Bản thúc đẩy triển khai có hiệu quả chương trình ODA thế hệ mới có tính ưu đãi cao, thủ tục đơn giản, linh hoạt cho các dự án phát triển hạ tầng chiến lược quy mô lớn của Việt Nam, các lĩnh vực chuyển đổi xanh, chuyển đổi số; tăng cường hợp tác địa phương, giao lưu nhân dân, hợp tác lao động, đào tạo nguồn nhân lực.

Chủ tịch Hạ viện Nukaga Fukushiro đánh giá cao những phát triển vượt bậc và thực chất của quan hệ Việt Nam - Nhật Bản, đặc biệt là những thành quả về chính trị, kinh tế đạt được trong những năm gần đây. Chủ tịch Hạ viện Nukaga bày tỏ mong hai bên tiếp tục tăng cường giao lưu, hợp tác chặt chẽ giữa cơ quan lập pháp của hai nước trong thời gian tới.

Chia sẻ kỷ niệm lần đầu tiên thăm Việt Nam vào 35 năm trước, Chủ tịch Hạ viện Nukaga cho biết rất ấn tượng và khâm phục sự phát triển vượt bậc của Việt Nam thời gian qua. Đánh giá cao sự cần cù, năng động của người lao động, lợi thế về dân số và nguồn nhân lực của Việt Nam, Chủ tịch Hạ viện cam kết sẽ hỗ trợ các chính sách nâng cao điều kiện sống cho người Việt Nam tại Nhật Bản, cải thiện thu nhập trong bối cảnh đồng yên mất giá; ủng hộ việc đơn giản hoá thủ tục tiến tới miễn visa cho công dân Việt Nam nhập cảnh Nhật Bản.

CĐ,VS (st)

"VOI CHUI LỖ KIM" LÀM MẤT NIỀM TIN NGHIÊM TRỌNG

 “Con voi chui lọt lỗ kim” là câu ta thán của không ít người dân, nhất là ở những cơ quan, đơn vị, địa phương có cán bộ, công chức (hoặc người thân quen của cán bộ, công chức) ngang nhiên vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước mà các cơ quan chức năng “không biết”, không xử lý.

Suy cho cùng, những vụ việc kiểu “con voi chui lọt lỗ kim” chính là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân giảm sút niềm tin vào Đảng, Nhà nước; là nguy cơ xuất hiện các biểu hiện "tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
1. Về các địa phương tiếp xúc, trò chuyện với người dân, chúng ta được nghe khá nhiều chuyện về hiện tượng “con voi chui lọt lỗ kim”, như: Khu homestay ngang nhiên xây trên đất nông nghiệp là của em trai ông cán bộ tỉnh đấy!; ngôi nhà của lãnh đạo quận xây vượt 2 tầng so với giấy phép, cao vọt hẳn lên so với những ngôi nhà xây đúng quy định, nhưng có bị xử lý gì đâu?; ông phó chủ tịch xã học chưa hết cấp 3, dân làng xì xào mà không hiểu sao ông ta vẫn có bằng đại học, vẫn thăng tiến; đất nhà mình ở từ thời ông cha thì đề nghị mãi vẫn không được cấp sổ đỏ, trong khi đó đất nông nghiệp gia đình cán bộ lấn chiếm thì có sổ đỏ hết rồi; quán bia đó bao năm chiếm hết vỉa hè nhưng không bị dẹp vì có cán bộ “bảo kê”, những nhà khác vừa bày vài cái ghế ra đã bị nhắc nhở, xử phạt...
Điều rất đáng lo ngại là khi kể những chuyện như trên, người dân thường bày tỏ thái độ bất bình. Không chỉ bức xúc với những cán bộ, người trực tiếp liên quan đến sự việc vi phạm “cả làng, cả phố biết nhưng cơ quan chức năng “không biết”, không xử lý!” mà một số người dân còn bày tỏ sự thiếu tin tưởng vào cấp ủy, chính quyền địa phương, kỷ cương phép nước, thậm chí giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước.
Ví dụ mới đây, việc ông Nguyễn Công Thắng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Bắc Ninh sử dụng bằng thạc sĩ giả khiến dư luận hết sức bất bình, bởi qua bao nhiêu cấp, bao nhiêu lượt kiểm tra mà vẫn lọt “con voi”; nhiều người đặt câu hỏi: Liệu có sự bao che, tiếp tay cho cán bộ này?...
Hay nhiều nhất là tình trạng xây dựng không phép hoặc xây vượt giấy phép được cấp mà cán bộ và cơ quan chức năng "làm ngơ". Chất vấn Bộ trưởng Bộ Xây dựng tại phiên họp cuối năm 2022, đại biểu Nguyễn Thị Thủy, Phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội nêu thực tế ở nhiều nơi, rằng: Người dân chỉ cần chở một xe cát để sửa chữa nhỏ ngôi nhà trong ngõ sâu thì cán bộ cơ sở, thanh tra xây dựng biết ngay; thế nhưng có những công trình xây dựng lớn, vi phạm "tày đình" ở ngay mặt đường mà lực lượng chức năng lại "không phát hiện ra"! Điển hình là trường hợp "đại gia điếu cày" Lê Thanh Thản ngang nhiên "xây chui" cả tòa chung cư cao tầng ở phường Kiến Hưng (Hà Đông, Hà Nội) nhưng chính quyền cơ sở "không biết", cho đến khi những người mua nhà tại đây không làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng thì mới phát hiện ra (!).
2. Có lẽ cán bộ, đảng viên nào cũng biết lời nhắc nhở, răn dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền" và "Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước".
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên phải mẫu mực nêu gương, trước hết là người đứng đầu. Đặc biệt, những năm qua, Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định về việc cán bộ, đảng viên phải gương mẫu, như: Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) và Kết luận của Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Quy định số 101-QÐ/TW ngày 7-6-2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; Quy định số 55-QĐ/TW ngày 19-12-2016 của Bộ Chính trị về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên; Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương; Quy định về những điều đảng viên không được làm...
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Thực hiện nghiêm các quy định của Ðảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu. Ðảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiền phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng. Nêu gương là trách nhiệm, bổn phận và là đạo lý của người đảng viên của Ðảng trước nhân dân; trách nhiệm nêu gương đó phải được thể hiện từ trong tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tự phê bình và phê bình đến trong quan hệ với quần chúng, trách nhiệm trong công tác, ý thức tổ chức kỷ luật, đoàn kết nội bộ”.
Thực tế những năm qua, Đảng, Nhà nước kiên quyết xử lý nhiều cán bộ, đảng viên có vi phạm, khuyết điểm với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”. Từ năm 2012 đến 2022, cả nước đã xử lý kỷ luật 2.740 tổ chức đảng và hơn 167.700 cán bộ, đảng viên có sai phạm, trong đó hơn 190 cán bộ diện Trung ương quản lý. Chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, đã khởi tố, điều tra 1.304 vụ/3.523 bị can về các tội tham nhũng (tăng hơn 2 lần về số vụ án và hơn 3 lần về số bị can so với nửa đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng); thi hành kỷ luật 91 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 17 Ủy viên và nguyên Ủy viên Trung ương Đảng (tăng gần 2 lần so với nửa đầu nhiệm kỳ Đại hội XII)... Qua đó cho thấy Đảng, Nhà nước ta không bao che, dung túng cho những cán bộ, đảng viên có vi phạm.
Thế nhưng, những sự việc kiểu “con voi chui lọt lỗ kim” mà người dân vẫn thấy ở không ít cơ quan, đơn vị, địa phương, nhất là ở cấp cơ sở vẫn là điều rất đáng báo động. Đáng lưu ý là thông tin hiện nay được lan tỏa rất nhanh và rộng thông qua internet, mạng xã hội, có tác động rất lớn tới tư tưởng, tình cảm, tâm lý của mọi người và dư luận xã hội. Hơn nữa, thời đại văn minh, xã hội dân chủ thực sự rất bất bình, bức xúc trước những sự việc cán bộ, đảng viên đặc quyền, đặc lợi, tham nhũng, tiêu cực, nhất là những biểu hiện ngang nhiên coi thường kỷ cương phép nước. Nếu vẫn còn hiện tượng “con voi chui lọt lỗ kim” thì niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, Nhà nước sẽ bị suy giảm nghiêm trọng; không kiên quyết ngăn chặn hiệu quả sẽ là mối nguy của Đảng, dẫn đến hậu quả khôn lường. Đây chính là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
3. Cổ nhân đã đúc rút “Mất niềm tin là mất tất cả” và “Đẩy thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân”. Thấu hiểu sự vô cùng nguy hại của việc cán bộ, đảng viên “Nói một đằng, làm một nẻo” cũng như để xảy ra các vụ việc tiêu cực kiểu "Con voi chui lọt lỗ kim", Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh: Cán bộ mà không gương mẫu thì dân sẽ không tin; cán bộ giữ cương vị càng cao càng phải tiền phong, gương mẫu... Tại Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Trọng tâm là phải phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, coi đây là gốc của mọi vấn đề”...
Nghị quyết về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới mà Hội nghị Trung ương 8, khóa XIII vừa ban hành cũng đã xác định: Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và tính chiến đấu, sự nêu gương của Đảng. Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu có đủ phẩm chất, đạo đức, năng lực, uy tín, có tầm nhìn chiến lược. Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, hoạt động hiệu lực, hiệu quả...
Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xử lý nghiêm những cán bộ có động cơ sai trái, tư tưởng cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”... Đồng thời, nghị quyết cũng nêu rõ phương châm phải dựa vào sức mạnh của nhân dân, “dân là gốc”, là trung tâm, chủ thể; xây dựng “thế trận lòng dân" vững chắc, "yên dân" là nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phải giữ vững, củng cố niềm tin của nhân dân, tạo đồng thuận xã hội...
Thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, văn bản quy phạm pháp luật xác định rất rõ trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức (trong đó có trách nhiệm nêu gương) cũng như trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, tổ chức trong hệ thống chính trị và nhân dân trong công tác kiểm tra, giám sát với phương châm kịp thời phát hiện, kiên quyết xử lý nghiêm khắc những vi phạm, làm trong sạch đội ngũ, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước...
Để những nghị quyết, chỉ thị, quy định, phương châm này được thực thi hiệu quả, đòi hỏi chúng ta phải triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ nhiều biện pháp, nhưng thiết nghĩ việc quan trọng nhất là cần triệt để vận dụng bài học lịch sử “dựa vào dân” theo đúng phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” mà Đảng ta đã xác định.
Trong đó, cần có những quy chế, quy định cụ thể hơn để phát huy tối đa trách nhiệm và tai mắt của hàng triệu quần chúng nhân dân, kịp thời phát hiện, tố giác những cán bộ, đảng viên có vi phạm, khuyết điểm; đặc biệt là phải có hệ thống tiếp nhận thông tin tố giác thuận tiện, nhanh chóng và cơ chế bảo vệ, khen thưởng xứng đáng cho người tố giác đúng. Cùng với đó, kiên quyết thực hiện việc truy trách nhiệm đến cùng, xử lý thật nghiêm những cán bộ và cơ quan chức năng để xảy ra vụ việc vi phạm theo kiểu “con voi chui lọt lỗ kim” làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới niềm tin của nhân dân vào kỷ cương phép nước; không để các thế lực thù địch, phản động có cớ lợi dụng công kích, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta.

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TU DƯỠNG, RÈN LUYỆN PHẨM CHẤT “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”, HIỆN THỰC HÓA KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN TRONG SỰ NGHIỆP BẢO VỆ TỔ QUỐC

 Sự nghiệp xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đang đặt ra cho thế hệ trẻ ngày nay nhiệm vụ, trọng trách nặng nề nhưng rất vẻ vang. Nhận rõ trách nhiệm của mình, thanh niên Quân đội phát huy tinh thần xung kích, đổi mới, sáng tạo, quyết thắng, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, làm sáng mãi phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trên mọi lĩnh vực và luôn xem đó là giải pháp thiết thực để hiện thực hóa khát vọng cống hiến, trưởng thành.

“Bộ đội Cụ Hồ” - tên gọi bình dị nhưng vô cùng cao quý; là sự tôn vinh của nhân dân dành cho Quân đội nhân dân Việt Nam, Quân đội anh hùng của dân tộc anh hùng, với những phẩm chất, truyền thống cao đẹp được trao truyền, xây đắp nên từ sự phấn đấu, hy sinh vô bờ của lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ trong suốt gần 80 năm qua. Danh xưng đó còn thể hiện niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, được kết tinh trong lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.
Thanh niên Quân đội là một bộ phận quan trọng của thanh niên Việt Nam, lực lượng đông đảo, nòng cốt ở các cơ quan, đơn vị, nhà trường toàn quân và có vị trí, vai trò quan trọng trong thực hiện các nhiệm vụ của Quân đội, nhất là ở đơn vị cơ sở, luôn mang trong mình khát vọng cống hiến, góp phần vào thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chặng đường lịch sử của thanh niên Quân đội gắn liền với quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Trong các giai đoạn cách mạng, thanh niên Quân đội luôn trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân, phát huy vai trò nòng cốt, xung kích, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hoàn thành thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; cùng các thế hệ cán bộ, chiến sĩ toàn quân xây đắp nên truyền thống, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”.
Trong những năm qua, nhận thức rõ việc tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, tổ chức đoàn các cấp trong toàn quân đã quán triệt, triển khai thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 855-CT/QUTW, ngày 12/8/2019 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tổ chức đợt sinh hoạt chính trị với chủ đề: “Thanh niên Quân đội - Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân”; xây dựng kế hoạch, hướng dẫn cho từng cá nhân viết cam kết thực hiện; thường xuyên kiểm tra, định kỳ sơ kết, tổng kết, tôn vinh các điển hình tiên tiến. Đáng chú ý, cùng với toàn quân và tuổi trẻ cả nước, thanh niên Quân đội ra sức thi đua thực hiện tốt các phong trào hành động cách mạng: “Thanh niên Quân đội vươn tới những đỉnh cao”, “Thanh niên Quân đội tiến quân vào khoa học và công nghệ”, “Thanh niên Quân đội rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”,... đạt nhiều kết quả cao. Qua đó, tạo động lực để thanh niên Quân đội xung kích, vươn lên chiếm lĩnh, xác lập những đỉnh cao mới trong học tập, công tác, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân,... phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, nhất là trong phòng, chống đại dịch Covid-19 và làm nghĩa vụ quốc tế, tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và luận điệu xuyên tạc, “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, v.v. Có thể khẳng định, ở bất kỳ cương vị, công việc và điều kiện, hoàn cảnh nào, thanh niên Quân đội cũng luôn xung kích, tiên phong, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, góp phần thực hiện tốt chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”, không ngừng bồi đắp và làm ngời sáng thêm phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.
Hiện nay, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc có sự phát triển, đặt ra những yêu cầu mới, cao hơn đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong đó có thanh niên Quân đội với cả thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ cao cả này, tuổi trẻ cả nước nói chung, thanh niên Quân đội nói riêng được Đảng, Nhà nước và Nhân dân tin tưởng, trao cho trọng trách quan trọng, xung kích trên tuyến đầu, đột phá vào những việc mới, việc khó. Đó là niềm vinh dự, tự hào, trách nhiệm cao cả của tuổi trẻ trước Đảng, Tổ quốc và Nhân dân. Nhận thức rõ trọng trách đó, cán bộ, đoàn viên, thanh niên Quân đội xác định, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” và luôn xem đó là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu, nhằm hiện thực hóa khát vọng cống hiến trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Để thực hiện được điều đó, cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung chủ yếu sau:
Một là, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về thanh niên và công tác thanh niên; tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác Đoàn và phong trào thanh niên. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”; vì vậy, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp tiếp tục cụ thể hóa bằng nghị quyết chuyên đề, hoàn thiện hệ thống quy chế, quy định lãnh đạo, chỉ đạo công tác thanh niên. Quan tâm quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ đoàn, cán bộ đảm nhiệm công tác thanh niên để bổ sung nguồn cán bộ trẻ cho Quân đội. Chỉ đạo xây dựng các tổ chức đoàn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và hành động, đóng góp cho sự phát triển của tổ chức đảng. Đồng thời, quan tâm nắm, giải quyết kịp thời tâm tư, nguyện vọng chính đáng của thanh niên, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của tổ chức đoàn và phong trào thanh niên ngày càng đi vào chiều sâu, nền nếp, hiệu quả. Tích cực, chủ động phòng ngừa các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và tác động tiêu cực của mặt trái xã hội, thông tin xấu độc, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch; xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh trong cơ quan, đơn vị; bảo vệ, nuôi dưỡng, phát triển và hoàn thiện các giá trị cốt lõi của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, làm cơ sở để hiện thực hóa khát vọng cống hiến và trưởng thành của thanh niên Quân đội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hai là, tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức về phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” cho cán bộ, đoàn viên, thanh niên. Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu để nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho tuổi trẻ Quân đội kế thừa, không ngừng phát huy, làm sáng mãi phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới. Các cấp cần thực hiện tốt công tác giáo dục cho thanh niên thấy được những giá trị về phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; hiểu rõ danh xưng cao quý đó không phải tự nhiên có được, mà là kết quả quá trình đấu tranh kiên cường, bất khuất của biết bao thế hệ cha anh đã không tiếc công sức, máu xương của mình xây đắp nên. Đặc biệt là giáo dục cho thanh niên Quân đội phải tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân, luôn đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân; có ý chí quyết tâm cao, sẵn sàng hy sinh, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; có đạo đức cách mạng trong sáng, tinh thần tự lực, tự cường, lòng nhân ái, tinh thần đồng chí, đồng đội, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau. Chú trọng giáo dục truyền thống; xây dựng niềm tin, mục tiêu lý tưởng cách mạng; truyền thụ kinh nghiệm để thanh niên có kiến thức tổng hợp, chuyên sâu; phát huy tinh thần dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung v.v. Không ngừng đổi mới nội dung, hình thức giáo dục, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục chung, giáo dục riêng và giáo dục theo nhiệm vụ, tập trung thực hiện hiệu quả khâu đột phá về “Công tác bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, khơi dậy khát vọng cống hiến, nâng cao ý thức trách nhiệm cho cán bộ, đoàn viên, thanh niên”. Tăng cường các hình thức diễn đàn, tọa đàm, trao đổi; phát triển và duy trì hoạt động “Câu lạc bộ lý luận trẻ”; xây dựng, phát huy đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên của Đoàn; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, tận dụng tối đa ưu thế các phương tiện truyền thông hiện đại, mạng xã hội. Đồng thời, tăng cường đấu tranh trên mặt trận tư tưởng; bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.
Ba là, đẩy mạnh các phong trào hành động cách mạng của tuổi trẻ Quân đội, gắn với các cuộc vận động của Đảng, Nhà nước, Quân đội, Trung ương Đoàn. Trong phong trào hoạt động của tuổi trẻ cả nước nói chung, tuổi trẻ Quân đội nói riêng, thông qua thực tiễn để rèn luyện, tạo điều kiện cho đoàn viên, thanh niên học tập, công tác, cống hiến là vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết. Các cấp bộ đoàn cần tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Thanh niên Quân đội rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới” bằng những nội dung, chỉ tiêu, hành động cụ thể, hiệu quả; trong đó, tập trung xây dựng hình mẫu thanh niên Quân đội: “Khát vọng đẹp - Trách nhiệm cao; Học tập tốt - Hành động giỏi; Đoàn kết tốt - Kỷ luật nghiêm”. Gắn phong trào của Đoàn Thanh niên với phong trào Thi đua Quyết thắng, các cuộc vận động, nhất là Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, các nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy đảng các cấp về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, v.v. Phát huy tinh thần xung kích, sáng tạo của tuổi trẻ, tích cực học tập, rèn luyện, nghiên cứu khoa học và áp dụng thành tựu khoa học, công nghệ vào hoạt động quân sự; nắm vững tri thức, làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật; xung kích, sáng tạo để đột phá trong nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và lao động sản xuất, v.v. Với tinh thần: “Đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”, thanh niên Quân đội phải là lực lượng nòng cốt, xung kích, đi đầu trong bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng và thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của Quân đội, nhất là ở những nơi khó khăn, gian khổ, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.
Bốn là, nâng cao ý thức, trách nhiệm “tự soi, tự sửa” trong quá trình tu dưỡng và rèn luyện đạo đức, lối sống của thanh niên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Theo đó, thanh niên Quân đội cần nêu cao tinh thần tự giác, trung thực và thẳng thắn, “tự soi” mình để nhận rõ những hạn chế, khuyết điểm, đặc biệt là trong tư tưởng, lối sống của bản thân. Từ đó, chủ động “tự sửa”, ngăn chặn, đẩy lùi và loại bỏ những hành vi và suy nghĩ không phù hợp với chuẩn mực đạo đức cách mạng, giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”. Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích chung và riêng, theo nguyên tắc: đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của Nhân dân, của Quân đội và tập thể cơ quan, đơn vị lên trên hết, trước hết; kiên quyết không để tư tưởng cơ hội, vụ lợi hoặc thu vén vì lợi ích cá nhân hay gia đình làm ảnh hưởng đến lợi ích chung của tập thể. Chỉ khi từng quân nhân, nhất là từng đoàn viên, thanh niên Quân đội hết lòng, hết sức phụng sự vì lợi ích chung, góp ích cho sự ổn định, phát triển của cơ quan, đơn vị thì chủ nghĩa cá nhân mới có thể được đẩy lùi, góp phần cho phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” được giữ gìn và ngày càng được bồi đắp, phát huy. Hiện nay, trước tác động cả tích cực và tiêu cực của nền kinh tế thị trường, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, phản động,… mỗi thanh niên Quân đội cần nêu cao tính tự giác, tu dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng, tạo cơ sở cho bản lĩnh, trí tuệ, khát vọng của thanh niên Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh không ngừng vươn cao.
Năm là, nâng cao chất lượng, hiệu quả phối hợp với tổ chức đoàn địa phương, đơn vị kết nghĩa, các lực lượng có liên quan, góp phần thực hiện tốt chức năng đội quân công tác. Tiếp tục thực hiện hiệu quả Chương trình phối hợp số 159/CTr-CT-TWĐ ngày 20/01/2021 giữa Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam với Trung ương Đoàn về phát huy vai trò xung kích của tuổi trẻ tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc giai đoạn 2021 - 2025 và những năm tiếp theo. Tăng cường các hoạt động phối hợp với cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể, tổ chức đoàn địa phương, đơn vị kết nghĩa, làm tốt công tác dân vận, tham gia tích cực vào các chương trình an sinh xã hội, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn,... góp phần xây dựng cơ sở chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố mối quan hệ đoàn kết gắn bó quân - dân và “thế trận lòng dân” vững chắc. Đồng thời, tích cực tham gia thực hiện tốt công tác đối ngoại quốc phòng, góp phần thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối hội nhập quốc tế của Đảng.
Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đang bước vào giai đoạn phát triển mới, với khí thế mới, niềm tin mới. Kế thừa, phát huy truyền thống vẻ vang gần 80 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam, cán bộ, đoàn viên, thanh niên Quân đội nguyện thi đua rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”, hiện thực hóa khát vọng cống hiến xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, xứng đáng với niềm tin yêu và sự mong đợi của Đảng, Nhà nước, Nhân dân, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng./.

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, VU KHỐNG CỦA VIỆT TÂN

 Đây hoàn toàn là luận điệu xuyên tạc, vu khống trắng trợn của Việt tân, vẫn là cái luận điệu muôn thủa như bao bài viết khác, đề cập về các vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam theo tiêu chí của các tổ chức phản động chống phá Việt Nam. Với lý lẽ, quan điểm và cách nhìn phiến diện chúng đề cao vai trò của những kẻ vi phạm pháp luật Việt Nam được chúng gọi là: “Các tù nhân chính trị”, “Tù nhân lương tâm” phạm tội trong quá trình đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền, tuy nhiên lại phản ánh không đúng với thực tế những gì đang diễn ra ở Việt Nam.

Ngày 12/12/2023, trên trang facebook của Tổ chức khủng bố Việt Tân đăng bài “Thống kê nhanh về tình hình nhân quyền tại Việt Nam hiện nay” trong bài viết này tác giả Gia Minh đã viết “từ năm 2022 đến nay, chính quyền Việt Nam đã truy tố 123 người và kết án tù 98 người vì các lý do chính trị và tôn giáo”; “các tổ chức nhân quyền quốc tế như Tổ chức Ân xá Quốc tế, Human Rights Watch, và Liên minh Châu Âu đã lên án việc Việt Nam giam giữ các tù nhân chính trị”… Đây hoàn toàn là luận điệu xuyên tạc, vu khống trắng trợn của Việt tân, vẫn là cái luận điệu muôn thủa như bao bài viết khác, đề cập về các vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam theo tiêu chí của các tổ chức phản động chống phá Việt Nam. Với lý lẽ, quan điểm và cách nhìn phiến diện chúng đề cao vai trò của những kẻ vi phạm pháp luật Việt Nam được chúng gọi là: “Các tù nhân chính trị”, “Tù nhân lương tâm” phạm tội trong quá trình đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền, tuy nhiên lại phản ánh không đúng với thực tế những gì đang diễn ra ở Việt Nam.
Đảng và Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam luôn tôn trọng quyền con người và xác định việc thực thi quyền con người là một trong những mục tiêu quan trọng. vấn đề này đã được khẳng định nhất quán trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cụ thể tại Điều 3, Hiến pháp 2013 quy định “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Trên cơ sở Hiến pháp, các quy định về quyền con người tiếp tục được quy định cụ thể trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật như Luật Tín ngưỡng Tôn giáo năm 2016, Luật An ninh mạng năm 2018, Luật Báo chí năm 2016…
Trên lĩnh vực quốc tế, Việt Nam đã và đang tham gia hầu hết các Công ước quốc tế cơ bản về quyền con người như: Công ước về các Quyền Dân sự và Chính trị 1966 (ICCPR), gia nhập ngày 24/9/1982; Công ước về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa 1966, gia nhập ngày 24/9/1982; Công ước về Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ 1979... và những đóng góp lớn được cộng đồng quốc tế công nhận. Đặc biệt, ngày 11/10/2022, Việt Nam đã trúng cử trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 tại phiên họp của Đại hội đồng Liên Hợp quốc khóa 77. Kết quả này không chỉ là minh chứng rõ ràng nhất về thành tựu và những giá trị tốt đẹp về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam mà còn là lời khẳng định sự tín nhiệm của quốc tế đối với Việt Nam trong lĩnh vực này.
Những luận điệu xuyên tạc của các tổ chức phản động chống phá Việt Nam nói chung và tổ chức khủng bố Việt Tân nói riêng dù tiếp cận ở góc độ nào, bằng phương pháp này hay phương pháp khác như: Các chiêu trò “trao giải nhân quyền” hay “Yêu cầu chính quyền Việt Nam trả tự do cho các tù nhân lương tâm” … Đều nhắm vào vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền. Việc lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền là một âm mưu cực kỳ nham hiểm, một mũi nhọn tổng thể trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, đặc biệt là Tổ chức khủng bố Việt Tân. Thực chất, là hình thành các phong trào ly khai, tổ chức đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, để lấy cớ tạo ra các cuộc bạo động, biểu tình chống đối chính quyền các cấp, gây mất ổn định chính trị, xã hội của đất nước, tạo điều kện để các thế lực thù địch lợi dụng nhằm thực hiện âm mưu, hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, xâm phạm an ninh quốc gia, tiến đến làm chuyển hóa chế độ chính trị ở nước ta. Thủ đoạn của chúng hiện nay là hằng ngày, hằng giờ đánh vào tâm lý của quần chúng nhân dân, kích động sự hoài nghi vào Đảng, Nhà nước, cổ suý cho cái tự do, dân chủ, nhân quyền kiểu phương tây. Do đó, mỗi người dân chúng ta hãy luôn tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch nhằm gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, làm giảm sút lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng và không để bị chúng dụ dỗ, mua chuộc hay kích động, lôi kéo.

Tiếp tục đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng

 Một là, tổ chức và phân chia hợp lý các đơn vị hành chính - lãnh thổ.

Hiện nay, nước ta có 63 tỉnh, thành phố với quy mô diện tích và dân số nhỏ hơn nhiều so với các nước trong khu vực và trên thế giới; các đơn vị hành chính cấp tỉnh đều có đặc điểm chung là khá nhỏ về diện tích và quy mô dân số, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh không đều nhau, do đó, cần có sự liên kết trong các lĩnh vực, như địa lý, kinh tế, văn hóa,... trên cơ sở xây dựng mô hình chính quyền cấp vùng, tạo khả năng liên kết, phối hợp giữa các địa phương; tập trung các nguồn lực đầu tư, phát triển toàn vùng, hạn chế việc đầu tư dàn trải, thiếu hiệu quả, xóa bỏ sự cạnh tranh không lành mạnh và các xung đột về lợi ích cục bộ giữa các địa phương,  phát huy vai trò của liên kết vùng trong phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ hai, nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ công chức, viên chức. Song song với việc tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp, cần nghiên cứu, sắp xếp đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, tránh gây ra sự biến động lớn về vị trí việc làm, chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ được bố trí, sắp xếp lại vị trí việc làm, đặc biệt là ở các địa phương đang triển khai mô hình chính quyền đô thị. Mặt khác, tăng cường thực hiện bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm mới; có chính sách thu hút, đãi ngộ hợp lý đối với cán bộ đủ đức, đủ tài nhằm phát huy năng lực phục vụ của cán bộ, công chức trong bộ máy chính quyền các cấp.

Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện chính quyền địa phương, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng.

Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện thể chế pháp lý chính quyền địa phương trên cơ sở phân định vị rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa chính quyền Trung ương và địa phương, cũng như giữa các cấp chính quyền địa phương. Cụ thể, trong cơ cấu tổ chức chính quyền địa phương, cấp tỉnh là cấp cao nhất, có địa vị pháp lý quan trọng, có thẩm quyền và chịu trách nhiệm chính đối với sự phát triển của địa phương; do đó, hoàn thiện thể chế chính quyền cấp tỉnh theo hướng tăng cường trao quyền và các nguồn lực, điều kiện đi kèm để đủ công cụ và thẩm quyền trong quản lý, điều hành công việc của địa phương, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả trong quản lý kinh tế - xã hội và kỷ luật, kỷ cương  trên địa bàn. Đối với chính quyền địa phương cấp huyện (cấp chính quyền trung gian), cần chú trọng thực hiện chức năng, nhiệm vụ và xây dựng mô hình tổ chức cần linh hoạt theo đặc thù của các đơn vị hành chính). Đối với chính quyền địa phương cấp xã, (cấp chính quyền gần dân nhất, nơi thường xuyên tiếp nhận và giải quyết các vấn đề của nhân dân địa phương, có vai trò trực tiếp trong cung ứng các dịch vụ công và quyết định chất lượng thực thi dân chủ ở cơ sở),  cần chú trọng xây dựng và hoàn thiện chính quyền cấp xã, bảo đảm chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Thứ tư, tiếp tục đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phươngnâng cao hiệu quả hoạt động và bảo đảm thực quyền của cơ quan dân cử các cấp (HĐND).

Từ những nền tảng pháp lý hiện có về chính quyền địa phương, cần tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện hệ thống quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức của chính quyền địa phương, nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế và bộ máy các cấp. Bên cạnh đó, cần tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động và bảo đảm điều kiện để HĐND thực sự là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, có đủ năng lực quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương, do đó cần thực hiện một số giải pháp cụ thể sau: một là, đổi mới cơ chế tuyển chọn đại biểu ứng cử HĐND các cấp theo hướng chú trọng phẩm chất, năng lực; tăng số lượng đại biểu chuyên trách, giảm số lượng đại biểu kiêm nhiệm; hai là, hoàn thiện cơ chế giám sát của HĐND ở hai phương diện: 1- Công khai, minh bạch hóa hoạt động giám sát; 2- Quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn và quy trình giám sát của HĐND và các cơ quan của HĐND, đại biểu HĐND gắn với cơ chế tự chịu trách nhiệm của HĐND và đại biểu HĐND trong quá trình giám sát; ba là, trao quyền quyết nghị của HĐND về các vấn đề của địa phương do luật định, tránh sự can thiệp vào quá trình thực hiện vai trò, trách nhiệm của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.

Thứ năm, tăng cường xây dựng chính quyền điện tử.

Thúc đẩy quá trình xây dựng chính quyền điện tử, góp phần nâng cao mức độ hài lòng của người dân, tăng cường hiệu quả và bảo đảm minh bạch các hoạt động của chính quyền; giữ vững tính công bằng, chuẩn mực, hiệu quả, tiết kiệm trong quản lý nhà nước. Hiện nay, theo đánh giá của Liên hợp quốc, “Việt Nam đã có sự tăng hạng về chính phủ điện tử liên tục trong 6 năm (từ vị trí thứ 99 năm 2014 lên vị trí thứ 86 trong năm 2022)”(13), tuy nhiên đó vẫn là vị trí khá thấp trong bối cảnh bùng nổ khoa học - công nghệ. Thời gian tới, cần tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, kết nối và vận hành phần mềm quản lý tác nghiệp, từng bước mở rộng việc cung cấp các loại hình dịch vụ công; rà soát, bổ sung kịp thời các quy định để hoàn thiện cơ sở pháp lý và đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước và cung ứng dịch vụ công, như quy định về quản lý, kết nối, chia sẻ dữ liệu; tăng cường giải quyết thủ tục hành chính bằng môi trường điện tử, chuyển dần từ hình thức làm việc bàn giấy sang điều hành, xử lý công việc trên môi trường điện tử; nâng cao tỷ lệ và mức độ hiệu quả của việc tiếp nhận, xử lý thủ tục hành chính dịch vụ công, đẩy mạnh cải cách hành chính, công khai, minh bạch, chống tham nhũng, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp./.

LHQ-ST

Thực trạng xây dựng, đổi mới chính quyền địa phương hiện nay

 Chủ trương, chính sách của Đảng về xây dựng chính quyền địa phương là tiền đề chính trị, pháp lý quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương qua các thời kỳ. Từ những kết quả đã đạt được, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nêu rõ: “Tiếp tục hoàn thiện tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với địa bàn nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính, kinh tế đặc biệt theo luật định; thực hiện và tổng kết việc thí điểm chính quyền đô thị nhằm xây dựng và vận hành các mô hình quản trị chính quyền đô thị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”(4). Những quan điểm, chủ trương của Đảng được Nhà nước triển khai thực hiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp trong thời gian qua và được thể hiện cụ thể ở một số nội dung sau:

Thứ nhất, nhiều chính sách cải cách chính quyền địa phương trên lĩnh vực thể chế, hành chính được đẩy mạnh, bao gồm việc thí điểm không tổ chức HĐND cấp quận, huyện, phường (giai đoạn 2009 - 2016)(5), tổ chức mô hình chính quyền đô thị và cải cách bộ máy hành chính nhà nước theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả,... Mặt khác, Chính phủ và các bộ, ngành liên quan phối hợp cùng các địa phương ban hành nhiều văn bản quy định, hướng dẫn thực hiện, chuẩn bị điều kiện cần thiết để triển khai hiệu quả các đề án thí điểm về đổi mới chính quyền địa phương. Nam 2012, Thành phố Hồ Chí Minh đề xuất xây dựng Đề án chính quyền đô thị, qua đó, mỗi cấp chính quyền đầy đủ, bao gồm HĐND và Ủy ban nhân dân (UBND); có tư cách pháp nhân, có ngân sách riêng; có cơ cấu tổ chức bộ máy và nhân sự để triển khai thực hiện nhiệm vụ; các cấp hành chính trung gian không có HĐND, không có tư cách pháp nhân, thay vào đó là cơ quan hành chính nhằm thực hiện các chức năng do chính quyền cấp trên giao(6). Thành phố Đà Nẵng cũng đã hoàn tất đề án Chính quyền đô thị; theo đó, đề xuất mô hình chính quyền đô thị hai cấp: cấp hoàn chỉnh và cấp hành chính trung gian. Cấp chính quyền hoàn chỉnh sẽ có các đặc điểm cơ bản: 1- Có đầy đủ cơ quan dân cử và cơ quan hành chính; 2- Có tư cách pháp nhân; 3- Có ngân sách riêng; 4- Có cơ cấu tổ chức bộ máy và nhân sự để triển khai thực hiện nhiệm vụ. Cấp hành chính trung gian không có cơ quan dân cử (HĐND), không có tư cách pháp nhân, chỉ có cơ quan hành chính nhằm tổ chức thực hiện một số chức năng quản lý được chính quyền cấp trên phân cấp.

Cho đến nay, việc đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương các cấp đạt được nhiều kết quả quan trọng. Thành phố Hồ Chí Minh đã chính thức áp dụng mô hình chính quyền đô thị theo tinh thần Nghị quyết số 131/2020/QH14 của Quốc hội khóa XIV. Riêng Hà Nội và Đà Nẵng đang thận trọng ở bước thí điểm theo Nghị quyết số 97/2019/QH14 (đối với Hà Nội) và Nghị quyết số 119/2020/QH14 (đối với Đà Nẵng). Đây là kết quả của quá trình nỗ lực cải cách thể chế chính quyền địa phương trong suốt thời gian dài, kể từ khi Quốc hội tiến hành thí điểm không tổ chức HĐND ở huyện, quận, phường ở 10 tỉnh, thành phố trên cả nước trong giai đoạn 2009 - 2016 theo Nghị quyết số 26/2008/QH12 cho đến khi Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ra đời. Mô hình chính quyền đô thị được thí điểm ở Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã có sự phân hóa để phù hợp với đặc điểm của từng địa phương. Theo đó, mô hình chính quyền đô thị ở Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh là mô hình chính quyền địa phương một cấp ở đô thị (cấp thành phố), không tổ chức HĐND ở quận, phường. Thành phố Hà Nội xây dựng mô hình chính quyền hai cấp đô thị (thành phố, quận), chỉ không tổ chức HĐND ở phường. Sở dĩ có sự khác nhau này là để phù hợp với thực tiễn pháp lý lúc bấy giờ.  Nghị quyết số 97/2019/QH14 về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại Hà Nội được Quốc hội thông qua khi Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 chưa được sửa đổi, bổ sung nên chưa có căn cứ pháp lý để không tổ chức HĐND ở phường. Do đó, Nghị quyết của Quốc hội mới chỉ dừng ở bước thí điểm. Đối với Đà Nẵng, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 119/2020/QH14 về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị ở Đà Nẵng khi Luật tổ chức chính quyền địa phương sửa đổi, bổ sung năm 2019 chưa có hiệu lực thi hành. Do đó, Đà Nẵng cũng chưa có đầy đủ cơ sở pháp lý để chính thức tổ chức mô hình chính quyền đô thị. Riêng Thành phố Hồ Chí Minh, Nghị quyết số 131/2020/QH14 ban hành sau khi Luật tổ chức chính quyền địa phương sửa đổi, bổ sung năm 2019 đã có hiệu lực thi hành. Với số lượng huyện, quận, phường tham gia thí điểm không tổ chức HĐND theo Nghị quyết số 26/2008/QH12 của Quốc hội trong giai đoạn 2009 - 2016 là nhiều nhất cả nước, việc tổ chức mô hình chính quyền đô thị ở Thành phố Hồ Chí Minh đã có đầy đủ cơ sở pháp lý và thực tiễn để áp dụng chính thức mà không cần phải thông qua thí điểm. Đây là những bước đi nhằm cụ thể hóa chính sách đa dạng hóa mô hình tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với địa bàn nông thôn, đô thị, hải đảo và các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Bên cạnh đó, Quốc hội tiếp tục nghiên cứu mô hình đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, tổ chức sắp xếp lại các đơn vị hành chính - lãnh thổ theo hướng tăng quy mô, giảm số lượng các đầu mối nhằm phát huy lợi thế về quy mô trong quá trình phát triển địa phương.

Thứ hai, các nghị quyết, chỉ thị về tổ chức lại đơn vị hành chính cấp huyện, xã chưa đạt tiêu chuẩn theo quy định được xử lý dứt điểm(7) (việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã giai đoạn 2019 - 2021 từng bước được hoàn thành theo đúng chủ trương, kế hoạch đề ra). Bên cạnh đó, Quốc hội cũng ban hành nhiều nghị quyết về việc thành lập, sáp nhập, điều chỉnh địa giới của một số đơn vị hành chính tại 25 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; thành lập 11 thành phố, 9 thị xã, 16 thị trấn, 136 phường trên cơ sở các đơn vị hành chính nông thôn hoặc đô thị hiện có(8), góp phần phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương; kiện toàn bộ máy chính quyền đô thị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; giải quyết khó khăn, bất cập trong công tác quản lý trật tự xây dựng đô thị, quản lý quy hoạch, quản lý sử dụng tài nguyên đất và bảo đảm quốc phòng - an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên từng địa bàn.

Thứ ba, hệ thống chính sách, quy định về phân cấp, phân quyền giữa chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương dần được hoàn thiện, mang lại nhiều hiệu ứng tích cực trong thực tiễn. Chủ trương phân cấp, phân quyền được đề ra từ Đại hội VI (năm 1986) của Đảng, cụ thể: “Việc phân cấp quản lý phải bảo đảm quyền làm chủ của ba cấp: quyền quyết định của Trung ương (bao gồm cả các ngành trung ương) đối với những lĩnh vực then chốt, những vấn đề có ý nghĩa chiến lược, bảo đảm cho sự phát triển cân đối của toàn bộ nền kinh tế; quyền chủ động của các địa phương trong việc thực hiện trách nhiệm quản lý kinh tế - xã hội trên địa bàn lãnh thổ; quyền tự chủ sản xuất - kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở và vai trò làm chủ của các tập thể lao động. Trong sự phân công, phân cấp quản lý, trách nhiệm phải đi đôi với quyền hạn, nghĩa vụ gắn liền với lợi ích”(9), đáp ứng nhu cầu tất yếu, khách quan và được thể chế hóa lần lượt trong nội dung của những văn bản pháp lý cao nhất, như Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2019,... cùng với các luật chuyên ngành, các nghị quyết, chỉ thị của Quốc hội và Chính phủ(10). Chính sách về phân cấp, phân quyền hiện nay được tập trung áp dụng đối với chính quyền cấp tỉnh trên nhiều lĩnh vực, như hành chính, tổ chức bộ máy, nhân sự,...; đặc biệt, thời gian gần đây, chính sách phân cấp, phân quyền được đẩy mạnh hơn đối với một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bằng cơ chế, chính sách đặc thù (như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng).

Thứ tư, thực tiễn tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương kể từ khi đổi mới đất nước cho thấy, hoạt động cải cách chính quyền địa phương không ngừng được phát triển, hoàn thiện, từ đó từng bước nâng cao chất lượng hoạt động, bảo đảm tính phù hợp, hiệu lực, hiệu quả của bộ máy; tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương được đổi mới, mang lại nhiều kết quả quan trọng trong phát triển kinh tế bền vững, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Mặt khác, chính quyền địa phương dần được đổi mới theo hướng đa dạng hóa về mô hình tổ chức để phù hợp với tính chất từng đơn vị hành chính - lãnh thổ; bộ máy chính quyền cấp huyện, cấp xã được sắp xếp tinh gọn hơn nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; chính sách phân cấp, phân quyền được đẩy mạnh đã mang lại nhiều quyền tự chủ và không gian chính sách trong quá trình phát triển của các địa phương.

Một số khó khăn, hạn chế

Thứ nhất, việc phân chia đơn vị hành chính - lãnh thổ ở nước ta vẫn còn những hạn chế, bất cập. Sau nhiều lần thực hiện sáp nhập/tách đơn vị hành chính dẫn đến sự biến động liên tục về số lượng, đặc biệt là số tỉnh, thành phố; số lượng đơn vị hành chính lớn, nhưng diện tích tự nhiên và quy mô dân số của mỗi địa phương nhỏ là rào cản khiến các địa phương không phát huy được lợi thế kinh tế từ quy mô, đồng thời dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh nhằm giành các ưu tiên về nguồn lực từ Trung ương; thậm chí, kích thích lợi ích cục bộ địa phương, nguy cơ xâm phạm đến lợi ích dài hạn của quốc gia. Mặt khác, các vấn đề đơn vị hành chính - lãnh thổ chưa được làm rõ cả về lý luận lẫn thực tiễn, dẫn đến sự lúng túng nhất định trong việc lựa chọn mô hình tổ chức chính quyền địa phương phù hợp.

Thứ hai, nhiều địa phương thiếu nguồn lực và điều kiện để tự chủ, dẫn đến năng lực tự xử lý, giải quyết và tự chịu trách nhiệm trong quá trình quản lý, điều hành công việc còn hạn chế, khó khăn. Số lượng cán bộ cấp xã và viên chức trong các đơn vị sự nghiệp có phẩm chất, năng lực uy tín còn hạn chế, một số cán bộ thiếu tính chuyên nghiệp, chưa đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới; nhận thức, triển khai đổi mới tổ chức bộ máy một số cơ quan trung ương và địa phương chưa đều, chưa thật đồng bộ.

Thứ ba, mặc dù các mô hình chính quyền đô thị hiện đại được triển khai ở một số đô thị, song mới đang ở giai đoạn bắt đầu, còn có nhiều quy trình phải thực hiện để có thể xây dựng và vận hành được tổ chức bộ máy trong thực tiễn. Ngoài ra, việc nghiên cứu, xây dựng thể chế về mô hình chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt vẫn còn gặp nhiều trở ngại, cần sự nỗ lực và đồng thuận rất lớn giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Mặt khác, tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương một số nơi chưa đổi mới mạnh mẽ; chức năng, nhiệm vụ, phân cấp, phân quyền chưa thật rõ ràng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa cao.

Thứ tư, vai trò của các tổ chức liên kết vùng còn hạn chế, chưa thực sự tạo ra tác động tích cực trong hoạt động liên kết vùng. Ví dụ, ở 9 tỉnh, thành phố từ Thừa Thiên Huế đến Bình Thuận, những hoạt động liên kết giữa các địa phương hiện nay được thông qua Ban Điều phối vùng và Hội đồng vùng(11); tuy vậy, với cơ chế liên kết tự nguyện, Ban Điều phối vùng chưa phát huy hết vai trò và hiệu quả trong điều phối hoạt động của các địa phương. Hiện nay, hoạt động của Ban Điều phối vùng phải tạm dừng do chưa có các thành viên ban điều phối mới thay thế, nhất là chưa có thành viên đảm nhiệm vị trí chủ tịch. Mặt khác, Hội đồng vùng(12) chủ yếu triển khai công tác phối hợp thông qua hội thảo, tọa đàm khoa học và tham vấn chính sách chứ chưa có tác động trực tiếp, đủ trọng lượng tới quá trình liên kết giữa các địa phương.

LHQ-ST

Cơ sở chính trị về đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương

 Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn coi nhiệm vụ xây dựng chính quyền địa phương (CQĐP) là một trọng tâm trong chiến lược củng cố chính quyền dân chủ nhân dân. Tuy nhiên, do hoàn cảnh đất nước có chiến tranh kéo dài nên trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, chính quyền địa phương vẫn tồn tại như là “cánh tay nối dài” của chính quyền trung ương, mô hình tổ chức và hoạt động của CQĐP chủ yếu vẫn mang tính trực thuộc.

Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam mở ra tiến trình đổi mới đất nước. Tại Đại hội này, Đảng khẳng định: “Phải kiên quyết thực hiện phân cấp quản lý theo nguyên tắc tập trung dân chủ”(1). Theo đó, Đảng ta coi phân cấp quản lý là giải pháp chủ yếu để đổi mới tổ chức và hoạt động của CQĐP. Chủ trương phân cấp đối với CQĐP tiếp tục được nhấn mạnh tại Đại hội Đảng VII (năm 1991). Đến Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (tháng 6-1997), Đảng chỉ đạo: “Nghiên cứu, phân biệt sự khác nhau giữa hoạt động của Hội đồng nhân dân và nhiệm vụ quản lý hành chính ở đô thị với hoạt động của Hội đồng nhân dân và nhiệm vụ quản lý hành chính ở nông thôn, có thể tiến hành thí điểm ở một vài địa phương để thấy hết các vấn đề cần giải quyết”(2). Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (tháng 4-2006) nêu rõ: “Tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, phân định lại thẩm quyền đối với chính quyền địa phương ở nông thôn, đô thị, hải đảo”; “phân biệt rõ những khác biệt giữa chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị để tổ chức bộ máy phù hợp”(3). Chủ trương thí điểm không tổ chức hội đồng nhân dân (HĐND) quận, huyện, phường được Đảng thông qua tại Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa X bằng Nghị quyết số 17/NQ-TW là cơ sở chính trị quan trọng để Quốc hội thí điểm không tổ chức HĐND ở huyện, quận, phường ở 10 tỉnh, thành phố trên cả nước trong giai đoạn 2009 - 2016. Kết quả thí điểm không tổ chức HĐND ở huyện, quận, phường theo Nghị quyết số 26/2008/QH12 của Quốc hội trong giai đoạn 2009 - 2016 là căn cứ thực tiễn quan trọng để Quốc hội tiếp tục thí điểm mô hình chính quyền đô thị ở Hà Nội, Đà Nẵng và chính thức tổ chức mô hình chính quyền đô thị ở Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 và ngay sau đó là Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 ra đời đã tạo lập những nền tảng pháp lý mới đối với việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính quyền địa phương ở Việt Nam. Theo đó, chính quyền địa phương là một trong những chế định pháp lý quan trọng được trình bày ở chương IX với 7 điều (từ Điều 110 đến Điều 116) trong Hiến pháp. Lần đầu tiên, khái niệm “cấp chính quyền địa phương” được Hiến định tại khoản 2 Điều 111: “Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định”... Về phương diện kỹ thuật tổ chức, Điều 111 của Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: “Chính quyền địa phương tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (...) phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt”. Tiếp nối tinh thần của Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định: “Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”(Khoản 1, Điều 4). Khái niệm “cấp chính quyền địa phương” và “đơn vị hành chính tương đương” trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã mở ra khả năng có thể tổ chức mô hình chính quyền khác nhau giữa địa bàn đô thị và nông thôn và đang dần được hiện thực hóa trong thực tiễn.

LHQ-ST

DẤU ẤN HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI GÓP PHẦN KHẲNG ĐỊNH VỊ THẾ VIỆT NAM, PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI

 Trước, trong và sau các chuyến thăm của lãnh đạo các nước đến Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tìm cách xuyên tạc về công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước, nhân dân ta nói chung, xuyên tạc về công tác đối ngoại của ta với các nước có lãnh đạo, nguyên thủ đến thăm nói riêng.

Thời gian qua, hoạt động đối ngoại diễn ra sôi động với nhiều nhà lãnh đạo, nguyên thủ các nước trên thế giới đến thăm chính thức Việt Nam như Tổng thống Mỹ Joe Biden, Tổng thống Mông Cổ Ukhnaagiin Khurelsukh, Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk Yeol, Thủ tướng Australia Anthony Albanese… và gần đây nhất là chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình, chuyến thăm của Thủ tướng Campuchia Hun Manet.
Tuy nhiên, lợi dụng điều này, trước, trong và sau các chuyến thăm của lãnh đạo các nước đến Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tìm cách xuyên tạc về công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước, nhân dân ta nói chung, xuyên tạc về công tác đối ngoại của ta với các nước có lãnh đạo, nguyên thủ đến thăm nói riêng.
Nhận diện những luận điệu xuyên tạc
Việc xuyên tạc nội dung, ý nghĩa các hoạt động đối ngoại của lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam, đặc biệt là trong những dịp Việt Nam tham dự các sự kiện ngoại giao quan trọng là một chiêu trò thường thấy của các thế lực xấu. Lợi dụng những dịp này, các đối tượng đưa ra các nhận định mang tính võ đoán, tung luận điệu bôi nhọ dưới dạng “phân tích, bình luận, kiến nghị” với mục đích gây ra sự phân tâm trong dư luận xã hội, phá hoại chủ trương, đường lối ngoại giao của Việt Nam, hạ uy tín, vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế.
Trong bối cảnh mở cửa, hội nhập quốc tế sâu rộng, Việt Nam đã sáng suốt và kịp thời có những thay đổi tư duy về công tác đối ngoại, tạo nền tảng quan trọng giúp công tác đối ngoại có những bước phát triển đột phá. Trong suốt quá trình đó, chúng ta chủ trương “là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Điều này cho thấy, Việt Nam luôn chú trọng đưa quan hệ với các nước trên thế giới, khu vực đi vào chiều sâu, ổn định và tăng cường sự tin cậy lẫn nhau, tạo sự đan xen lợi ích nhằm củng cố vị thế của nước ta và bảo đảm lợi ích quốc gia trong quan hệ quốc tế. Có thể nhận thấy, đây là một thông điệp đối ngoại phù hợp vì việc xây dựng lòng tin và thúc đẩy quan hệ tin cậy lẫn nhau góp phần đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển ổn định của quan hệ giữa các nước.
Tuy vậy, đi ngược lại chính sách vì lợi ích, quốc gia dân tộc, các thế lực xấu cố tình xuyên tạc, bóp méo chính sách đối ngoại của Việt Nam nhằm phá hoại công cuộc hội nhập, phát triển của đất nước. Chúng rêu rao rằng, đối ngoại của Việt Nam là “gió chiều nào theo chiều ấy”, uốn kiểu nào cũng được, từ đó bôi nhọ ngoại giao cây tre là “ẻo lả không có lập trường, không đáng tin cậy”. Với thủ đoạn dựa vào những phát ngôn, hình ảnh của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta rồi cắt xén, thêm thắt, bình luận, làm sai lệch nội dung, bản chất vấn đề, cố tình thổi phồng theo hướng kích động chia rẽ kiểu “bắt tay bên này để chống bên kia”, từ đó họ lấy cớ xuyên tạc, bóp méo đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam. Tính chất nguy hiểm của các luận điệu nêu trên là tạo ra sự hoang mang, dao động, gây chia rẽ từ bên trong, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước, nhất là các nước đối tác, đối tác chiến lược, khiến dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về Việt Nam.
Đáng chú ý, các thế lực thù địch, phản động thường tìm cách cường điệu hóa khi đặt Việt Nam trong mối quan hệ với những cường quốc, từ đó đưa ra quan điểm “khuyên” Việt Nam nên chọn theo nước này, chống nước kia và ngược lại; thậm chí còn “khuyến cáo” Việt Nam nên bỏ chính sách đối ngoại “bốn không” để nghiêng về phương Tây, gắn với thực hiện “dân chủ hóa Việt Nam”, xem đây là giải pháp để “bảo toàn chủ quyền lãnh thổ”. Từ đó, cổ súy, kích động tư tưởng dân tộc cực đoan, làm “ngòi nổ” để truyền bá tư tưởng chống đối, gây chia rẽ, kỳ thị về ngoại giao, gây sự hiểu nhầm đối với người dân trong đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước. Có thể thấy, không riêng gì chuyến thăm Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình hay chuyến thăm của Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden mà nhiều chuyến thăm của lãnh đạo, nguyên thủ các quốc gia khác đến Việt Nam cũng bị các thế lực thù địch, các tổ chức, phần tử phản động lưu vong xuyên tạc, bóp méo.
Mục đích của các thế lực thù địch nhằm xuyên tạc đường lối đối ngoại của Việt Nam, trong đó xuyên tạc mối quan hệ Việt Nam với các nước khác. Các luận điệu xuyên tạc nhằm tìm cách cô lập, hạ thấp vị thế, uy tín Việt Nam trên trường quốc tế; phá hoại mối quan hệ nước ta với các nước, chia rẽ tinh thần đoàn kết, hợp tác, hữu nghị của Việt Nam với các nước; khiến dư luận hiểu sai để tạo sự kỳ thị, ác cảm với Việt Nam. Mục tiêu cuối cùng mà các thế lực này hướng tới không gì khác là nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xoá bỏ con đường phát triển đất nước mà Đảng, nhân dân ta đã lựa chọn.
Đối ngoại góp phần khẳng định vị thế Việt Nam
Đại hội XIII của Đảng xác định nền ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại bao gồm ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân. Nhiệm vụ của đối ngoại là phát huy vai trò tiên phong trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước. Triển khai thực hiện hiệu quả đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng, công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế trong hơn nửa nhiệm kỳ vừa qua tiếp tục được mở rộng, đạt nhiều kết quả quan trọng; tiếp tục củng cố, nâng cao vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế.
Những hoạt động đối ngoại cấp cao của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta trong năm 2023 không chỉ truyền tải thông điệp về một Việt Nam phát triển năng động, đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả mà còn giới thiệu hình ảnh Việt Nam đóng góp tích cực, chủ động, có trách nhiệm vào các công việc chung của cộng đồng quốc tế. Có thể nói năm 2023 là một năm rất thành công về công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta với nhiều lãnh đạo, nguyên thủ các nước đến thăm và làm việc tại Việt Nam, trong đó có chuyến thăm của Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden tới Việt Nam từ ngày 10-11/9/2023; chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình từ ngày 12-13/12.
Trong các chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam, lãnh đạo các nước còn có dịp trải nghiệm không gian văn hoá và sự mến khách của người Việt như: Thủ tướng Malaysia cùng Thủ tướng Việt Nam đi dạo phố sách, thưởng thức cà phê; Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk Yeol cùng Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đi dạo ven hồ Hoàn Kiếm, điểm tâm sáng ở nhà hàng ẩm thực Hà thành; Thủ tướng Luxembourg cùng Thủ tướng Việt Nam đi thăm Văn Miếu, Bảo tàng Mỹ thuật; Thủ tướng Úc đi tìm hiểu một món rất dân dã, phổ biến của Hà Nội là bia hơi, bánh mì. Các chuyến thăm khác của Thủ tướng Singapore (8/2023); Tổng thống Mông Cổ (11/2023)… cũng có nhiều hoạt động bên lề ý nghĩa. Hay trước đây, trong chuyến thăm đến Việt Nam năm 2016, Tổng thống Mỹ Obama đã dành thời gian đi thưởng thức bia chai, bún chả Hà Nội.
Hiện nay, với hơn 500 hiệp định song phương và đa phương cùng việc phê chuẩn, triển khai có hiệu quả Hiệp định thương mại tự do Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA), tham gia ký Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) và đã có hơn 70 quốc gia công nhận Việt Nam là một nền kinh tế thị trường, nước ta đã trở thành mắt xích quan trọng trong nhiều liên kết kinh tế. Qua đó tạo ra động lực to lớn cho sự phát triển.
Những hoạt động đối ngoại quan trọng của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta đã thể hiện dấu ấn đậm nét của ngoại giao đa phương, đóng góp quan trọng vào việc nâng cao vai trò và vị thế của đất nước trên trường quốc tế. Chúng ta không chỉ giới thiệu một Việt Nam đổi mới, năng động mà còn giới thiệu một Việt Nam là điểm hẹn của cơ hội, của tiềm năng và môi trường đầu tư. Qua đó, chúng ta bảo vệ và thúc đẩy các lợi ích chính đáng của đất nước; triển khai mạnh mẽ đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng XIII là “độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại”… Đây cũng là dịp để Việt Nam và các nước bạn bè đối tác tạo thêm xung lực mới cho hợp tác đa phương năm 2024 và các năm tiếp theo, vì hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực và thế giới.