Thứ Hai, 18 tháng 12, 2023

 

Quan điểm của Đảng về bảo vệ môi trường vì sự phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc


Theo quan điểm của Đảng, bảo vệ môi trường là một nội dung, biện pháp quan trọng bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước và vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Bài viết làm rõ quan điểm, đường lối của Đảng; thực trạng và đề xuất một số giải pháp bảo vệ môi trường vì sự phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

1. Quan điểm, đường lối của Đảng về bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững đất nước

C. Mác từng nhấn mạnh: “Con người là bộ phận của giới tự nhiên”(1). Luận điểm kinh điển của C. Mác cho thấy vấn đề cơ bản là quá trình hình thành, phát triển của xã hội loài người gắn liền với tự nhiên; con người sinh sống gắn liền với tự nhiên, giới tự nhiên chính là thân thể vô cơ của con người, đó chính là mối quan hệ biện chứng giữa con người với giới tự nhiên, không rời nhau. Kế thừa quan điểm, tư tưởng của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã có nhiều bài viết, bài nói về vấn đề bảo vệ môi trường sống của con người. Người phát động các phong trào trồng cây gây rừng, Tết trồng cây, giữ gìn vệ sinh, diệt ruồi, muỗi. Các phong trào do Người khởi xướng và phát động đã nhận được sự đồng tình, hưởng ứng sôi nổi của các tầng lớp nhân dân.

Người sớm đặc biệt quan tâm, chú trọng bảo vệ môi trường, bảo vệ môi trường sống của con người. Người chỉ rõ: “Mình dù nghèo, ai cấm mình ăn ở sạch sẽ? Sạch sẽ là một phần của đời sống mới. Sạch sẽ thì ít đau ốm”(2).
Để bảo vệ môi trường, một trong những nội dung, biện pháp được Người đặc biệt nhấn mạnh đó là phải trồng cây xanh. Bởi theo Người, trồng cây xanh không chỉ đơn thuần là trồng cho nhiều, mà trồng cây xanh còn nhằm góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của mỗi người trong bảo vệ môi trường, đem lại không khí trong lành, xanh mát, hạn chế, giảm thiểu hạn hán, lũ lụt, thiên tai.

Như vậy, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đều nhấn mạnh vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của môi trường, là môi trường mà hàng ngày, hàng giờ con người sống và làm việc. Những tư tưởng đó của các đã được Đảng ta quan tâm, cụ thể hóa vào thực tiễn

Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) xác định: “tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ, công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái”(3). Đó là vấn đề căn cốt bảo đảm cho sự phát triển ổn định, bền vững của quốc gia, dân tộc trong tiến trình đi lên CNXH.

Nghị quyết 24 -NQ/TW ngày 3-6-2013 của Ban Chấp hành Trung ương khẳng định: “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường là những vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn, quan hệ, tác động qua lại, cùng quyết định sự phát triển bền vững của đất nước”(4).

Việt Nam từ điểm xuất phát thấp, trình độ, công nghệ lạc hậu, nếu không quan tâm, chú trọng bảo vệ môi trường sẽ để lại hậu quả đến thế hệ mai sau. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng chỉ rõ: “Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường”(5). Và “không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ công bằng xã hội, càng không hy sinh tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần”(6).

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (năm 1930) cho đến trước năm 1975, dân tộc ta tập trung mọi nguồn lực cho đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược để giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước, Đảng ta chưa có nhiều điều kiện để đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường. Song, những quan điểm, chủ trương của Đảng về chăm lo sức khoẻ nhân dân, phát động các phong trào giữ gìn vệ sinh, trồng cây xanh, đắp đê ngăn lũ, xây dựng các công trình thủy lợi… đã cho thấy việc bảo vệ môi trường được Đảng ta quan tâm, chú trọng.

Từ Đại hội VI của Đảng (năm 1986) với đường lối đổi mới toàn diện nền đất nước, xóa bỏ cơ chế bao cấp chuyển sang cơ chế hoạch toán kinh doanh, tập trung nguồn lực xây dựng, phát triển đất nước, Đảng ta đã nhận thức rõ loài người đang đứng trước nhiều vấn đề mới có tính chất toàn cầu, trong đó có vấn đề sử dụng quá mức tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH được Đại hội VII (năm 1991) của Đảng thông qua cũng xác định: Tuân thủ nghiêm ngặt việc bảo vệ môi trường, giữ gìn cân bằng sinh thái cho thế hệ hiện tại và mai sau.
Bước tiến quan trọng đánh dấu tư duy đổi mới, nhìn nhận, đánh giá về bảo vệ môi trường thời kỳ CNH, HĐH đất nước của Đảng ta là Chỉ thị số 36-CT/TW, ngày 25-6-1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chỉ thị nhấn mạnh, bảo vệ môi trường là một vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại; là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc đấu tranh xóa đói, giảm nghèo ở mỗi nước, với cuộc đấu tranh vì hòa bình và tiến bộ xã hội trên phạm vi toàn thế giới.

Tiếp đó, Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15-11-2004 của Bộ Chính trị khóa IX về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã xác định quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp bảo vệ môi trường, là một trong những nội dung quan trọng. Bộ Chính trị nhấn mạnh: Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại, là nhân tố bảo đảm sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế.

Trước yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và những thách thức của những vấn đề toàn cầu, Đảng ta ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 3-6-2013 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Trong đó, Đảng ta xác định quan điểm, mục tiêu: Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường là những vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn, quan hệ, tác động qua lại, cùng quyết định sự phát triển bền vững của đất nước.

Đại hội XII của Đảng (năm 2016) xác định: “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường”(7). Kết luận số 56-KL/TW ngày 23-8-2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã khẳng định: Môi trường không chỉ là không gian sinh tồn của con người, mà còn là điều kiện, nền tảng, yếu tố tiên quyết cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế.

Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) tiếp tục nhấn mạnh quan điểm bảo vệ môi trường sinh thái, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên “lấy bảo vệ môi trường sống và sức khỏe nhân dân làm mục tiêu hàng đầu… xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường”(8).

Quan điểm, chủ trương của Đảng ta từ Đại hội VI (năm 1986) đến Đại hội XIII (năm 2021) đều xác định bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu là vấn đề sống còn của quốc gia, dân tộc, có tác động qua lại đến sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội của đất nước; ứng phó với biến đổi khí hậu, xây dựng môi trường sinh thái hài hòa, thân thiện đòi hỏi phải có sự chung tay, góp sức của cả cộng đồng thế giới. Đối với Việt Nam, đó là sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương các doanh nghiệp và mỗi người dân. Cùng với đó là thực hiện các giải pháp đồng bộ, thiết thực, cụ thể để khai thác, sử dụng, tái tạo các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhằm phát triển kinh tế - xã hội và góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của các tầng nhân dân, bảo vệ môi trường trong lành, không gây ô nhiễm bởi tiếng ồn, nguồn nước, chất thải từ các nhà máy, xí nghiệp.

2. Thực trạng bảo vệ môi trường ở Việt Nam

Sau gần 40 năm đổi mới đất nước, với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, công tác bảo vệ môi trường ở nước ta thời gian qua đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống của các tầng lớp nhân dân, mở rộng quan hệ đối ngoại hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Chính phủ và các cơ quan, ban, ngành ở Trung ương và địa phương đã tích cực, chủ động trong kiểm soát, đưa ra phương án, biện pháp khoa học, toàn diện với từng vùng, từng địa bàn chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu để phối hợp giải quyết; các chỉ tiêu về môi trường trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở các ngành, địa phương.

Cụ thể là: “Tỷ lệ người dân đô thị được cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung đến năm 2020 đạt khoảng 90%, tỷ lệ người dân nông thôn sử dụng nguồn nước ăn uống hợp vệ sinh ước đạt 90,2% tăng mạnh so với năm 2015 (86,2%). Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường năm 2020 là 90%. Tỷ lệ che phủ rừng đến năm 2020 khoảng 42%, đạt mục tiêu, kế hoạch đề ra”(9).

Hợp tác quốc tế, tham gia vào các hội nghị quốc tế chống biến đổi khí hậu được Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm, tiêu biểu như: cam kết của Chính phủ về phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 (Net Zero) tại Hội nghị COP26; tham gia Thỏa thuận Đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP) với một số nước G7 và đối tác quốc tế khác; tham dự Hội nghị Thượng đỉnh về Hiệp ước Tài chính toàn cầu mới tại Pháp ngày 21 đến 24-6-2023.

Cụ thể hóa quan điểm, đường lối của Đảng, chương trình, dự án của Chính phủ, các địa phương ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, điển hình như Cần Thơ đã đề ra nhiều giải pháp ứng phó với biển đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, xây dựng đô thị văn minh, hiện đại, như: đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến người dân và doanh nghiệp, nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững; trong sản xuất nông nghiệp, nhân rộng sản xuất theo quy trình vietGAP, Global GAP, ứng dụng kỹ thuật tiên tiến; đẩy mạnh hợp tác quốc tế về biến đối khí hậu (tham gia thỏa thuận các thị trưởng toàn cầu về biến đổi khí hậu và năng lượng; tham gia mạng lưới các thành phố BreatheLife; thành viên trong mạng lưới 100 thành phố toàn cầu có khả năng chống chịu…); tổ chức nhiều hội thảo, tập huấn phổ biến thông tin, kiến thức về môi trường, biến đổi khí hậu cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong thành phố(10).

Để ứng phó với biến đổi khí hậu, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Kiên Giang đã triển khai thực hiện nhiều công trình, dự án chống xói mòn, sạt lở đất ven biển, phục hồi rừng ngập mặn, xây dựng kè chống sạt lở ven biển, xây dựng hàng rào giữ bùn gây bồi, tạo bãi phát triển rừng ngập mặn, xây dựng 2 dự án đê biển, xây dựng công trình thủy lợi cống Kênh Nhánh ngăn mặn, giữ ngọt cho vùng Tứ giác Long Xuyên. Tiến hành giao khoán bảo vệ rừng gần 10.000 ha cho hộ dân sản xuất theo mô hình lâm - ngư kết hợp, khoanh nuôi tái sinh hơn 500 ha và trồng rừng gần 1.000 ha(11).

Thành phố Hồ Chí Minh đặt ra mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể cho từng giai đoạn để chủ động ứng phó với biến đổi khi hậu: phấn đấu đến năm 2025, giảm 30% thiệt hại về người đối với các loại hình thiên tai có cường độ, quy mô lớn; 100% hộ gia đình được tiếp nhận thông tin về thiên tai; giai đoạn 2021 – 2025, giảm 50% thiệt hại do thiên tai gây ra; tăng cường đầu tư nghiên cứu cơ bản về thiên tai, nâng cao năng lực cảnh báo, dự báo, nâng cấp trang thiết bị(12).

Bên cạnh kết quả đạt được, công tác bảo vệ môi trường còn nhiều bất cập, hạn chế. Ý thức, trách nhiệm của một bộ phận người dân, doanh nghiệp chưa tốt, không có kế hoạch, phương án dự phòng, đề phòng những rủi ro có thể xảy ra khi gặp sự cố.

Ở nhiều địa phương, xây dựng nhà máy, xí nghiệp sản xuất kinh doanh ngay ở trong khu dân cư nhưng không bảo đảm về môi trường; vẫn còn tình trạng doanh nghiệp xả thải không qua xử lý ra môi trường tự nhiên; người dân xả thải, rác bừa bãi xuống kênh, hồ, ao; nhiều bãi rác tập trung được thu gom ở gần khu dân cư; có địa phương, lãnh đạo tỉnh bắt tay với doanh nghiệp khai thác quặng, than đá, cát gây ra những hậu quả nghiêm trọng trong sạt lở đất, lở núi, ngập nước, hủy diệt hệ sinh thái, sa mạc hóa những cánh đồng trù phú, tình trạng xâm nhập mặn; những bãi bồi bị mất đi do nạn hút “cát tặc”.
Nhận thức rõ thực trạng này, Đảng ta chỉ rõ: “Khai thác tài nguyên thiếu bền vững, hiệu quả, quản lý, sử dụng chưa cao, chưa theo nguyên tắc của thị trường, nhất là đất đai…. Việc quản lý và xử lý chất thải rắn đô thị còn hạn chế, môi trường nước ở một số đô thị bị ô nhiễm… rác thải ở khu vực nông thôn, ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, các nhà máy sản xuất công nghiệp gia tăng”(13).

Nguyên nhân của những hạn chế, khuyết điểm trên là do: (1) Nhận thức, trách nhiệm của một số cấp ủy, tổ chức đảng các cấp chưa làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục cho người dân và doanh nghiệp nâng cao ý thức bảo vệ môi trường; thấy lợi ích trước mắt về kinh tế mà chưa tính đến việc bảo đảm phát triển bền vững trong mỗi một chủ trương, dự án. Chúng ta “Chưa nhận thức đầy đủ và xử lý tốt quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, xây dựng con người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu”(14). (2) Hệ thống pháp luật, Luật bảo vệ môi trường tuy khá hoàn chỉnh, song vẫn còn kẽ hở, chưa đủ mạnh để răn đe, chế tài quá nhẹ đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. (3) Người đứng đầu chính quyền các cấp ở một số địa phương buông lỏng lãnh đạo, quản lý, thiếu sâu sát kiểm tra, đánh giá việc bảo vệ môi trường sinh thái. (4) Các cơ quan chức năng, ban, ngành chưa có sự phối kết hợp chặt chẽ trong xử lý, giải quyết các vấn đề có liên quan đến bảo vệ môi trường; (5) Năng lực dự báo, đánh giá tình hình và xử lý vi phạm đối với tập thể, cá nhân vi phạm đến môi trường chưa thật quyết liệt, mạnh mẽ, còn nể nang, né tránh, bao che, dung túng, tiếp tay cho sai phạm.

Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Các thách thức về biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường, cạn kiệt tài nguyên, sử dụng nguồn nước xuyên biên giới, nhất là nguồn nước sông Mê Kông, thiên tai, dịch bệnh và thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng, đặt ra yêu cầu ngày càng cấp bách về tăng cường hợp tác xử lý, đặt ra nhiều vấn đề, thách thức lớn chưa từng có cho phát triển nhanh và bền vững”(15). Trong khi đó, yêu cầu, nhiệm vụ phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc phấn đấu đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước là trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, theo định hướng XHCN, đỏi hỏi các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để bảo đảm phát triển bền vững.

3. Một số biện pháp bảo vệ môi trường vì sự phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc

Một là, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mỗi chủ thể về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường.

Một trong những giải pháp quan trọng được Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 3-6-2013 của Ban Chấp hành Trung ương xác định: “Tăng cường, đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, hình thành ý thức chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường”(16). Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu”(17). Theo đó, người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần quán triệt nghiêm túc quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ môi trường.

Đến nay, các văn bản của Đảng, Nhà nước về bảo vệ môi trường đã tương đối hoàn thiện, đồng bộ, toàn diện cho từng ngành, lĩnh vực; người đứng đầu các sở, ban, ngành ở các tỉnh, thành cần phải tích cực, chủ động cụ thể hóa thành các chương trình, dự án hành động cụ thể, thiết thực, không thụ động, trông chờ sự giúp đỡ, hỗ trợ, định hướng từ Trung ương.
Trên cơ sở đặc điểm tình hình ở mỗi khu vực, địa bàn, người đứng đầu ở nơi đó xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể trong tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nhưng phải bảo đảm môi trường, không gây tổn hại đến đời sống của nhân dân, không để lại những bức xúc, gây cản trở trong sinh hoạt đời sống của người dân; nâng cao ý thức, trách nhiệm của mỗi người đối với sự phát triển bền vững của địa phương, không vì lợi ích trước mắt mà đánh đổi sức khoẻ, tính mạng của người dân; đa dạng hóa các hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục người dân, doanh nghiệp trên địa bàn, cam kết chấp hành nghiêm quy định của pháp luật, địa phương và những tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường; xây dựng các mô hình “Ngày thứ Bảy, Chủ nhật xanh”; “Nhà tôi xanh, sạch, đẹp”; “Chống rác thải nhựa”… và lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống các văn bản của Đảng, Nhà nước về bảo vệ môi trường

Đại hội XIII của Đảng xác định: “Hoàn thiện chính sách, pháp luật, nhất là cơ chế tài chính về khai thác, sử dụng về tài nguyên nước, bảo đảm công bằng, hiệu quả, bền vững trên nguyên tắc của thị trường và quản lý tổng hợp nguồn nước, bảo đảm nghiêm ngặt an ninh nguồn nước, nhất là nước sạch cho sinh hoạt”(18). Quán triệt tinh thần trên, các cơ quan, ban, ngành có liên quan đề cao tinh thần, trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và nhân dân, tham mưu, đề xuất những nội dung đúng, trúng, có liên quan trực tiếp đến thực tiễn ô nhiễm môi trường, hiện trạng khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên ở các địa phương, từ đó, tổng hợp tình hình, báo cáo cấp có thẩm quyền ban hành các quy định, hướng dẫn, điều chỉnh, bổ sung về bảo vệ môi trường phù hợp với đặc điểm tình hình, yêu cầu, nhiệm vụ ở mỗi vùng, địa phương. Đồng thời, tăng cường cơ chế kiểm tra, giám sát khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên, kinh phí chống biến đổi khí hậu, tránh lạm dụng quyền lực trong xây dựng cơ chế, chính sách, lồng ghép động cơ cá nhân, “lợi ích nhóm”. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Đấu tranh, ngăn chặn và xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật về tài nguyên môi trường, đẩy lùi tình trạng ô nhiễm, xâm hại môi trường, suy thoái tài nguyên và suy giảm đa dạng sinh học”(19).

Ba là, tập trung xử lý, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề, đô thị lớn, các cụm công nghiệp.

Người đứng đầu các địa phương cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa biện pháp tuyên truyền, giáo dục với xử lý theo quy định pháp luật đối với hộ gia đình, chủ sản xuất không tuân thủ quy định về môi trường. Ở những khu vực, địa bàn thường xuyên xảy ra ô nhiễm môi trường, nguồn nước sinh hoạt của người dân bị ảnh hưởng, chính quyền các cấp cần tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, không để tình trạng đó kéo dài, ảnh hưởng đến sản xuất, cuộc sống của người dân.

Tăng cường sử dụng phương tiện kỹ thuật hiện đại vào xử lý ô nhiễm môi trường, huy động sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng có liên quan, đặc biệt là nhân dân trong bảo vệ môi trường.

Bốn là, quản lý chặt chẽ, hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm cho sự phát triển bền vững.

Nước ta đang đứng trước nguy cơ khai thác cạn kiệt tài nguyên rừng, tài nguyên đất, tài nguyên khoáng sản… Các cơ quan, ban, ngành cần tăng cường công tác quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Việc khai thác, sử dụng tài nguyên đều tính đến tái sinh, phát triển bền vững, đem lại hiệu quả thiết thực, phục vụ hữu ích cho sự phát triển của địa phương. Nâng cao ý thức, trách nhiệm người dân trong bảo vệ tài nguyên rừng, đẩy mạnh việc trồng rừng, không để kẻ xấu chặt cây, phá rừng, khai thác gỗ lậu; tăng đầu tư kinh phí, hỗ trợ cho bộ phận, lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ rừng, nhất là ở khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa. Cần tính toán trước khi quyết định xây dựng các nhà máy thủy điện ở các địa phương, do những ảnh hưởng đến lòng đất và tài nguyên thiên nhiên mà không thể tái tạo được.

_________________

Ngày nhận bài: 22-8-2023; Ngày bình duyệt: 29-8-2023; Ngày duyệt đăng:17-9-2023.

 (1) C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập,t. 42, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.135.

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.114.

(3) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.85.

(4), (16) ĐCSVN: Nghị quyết 24-NQ/TW ngày 03-6-2013 của BanChấp hànhTrung ương về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.

(5), (6) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021,tr.21, 27.

(7), (14)ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.271, 153, 86.

(8), (18), (19), (20) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.171, 154-155, 154.

(9), (13), (15), (17) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.2, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021,tr.50 -51, 73-74, 89-90, 142.

(10) Cần Thơ thực hiện nhiều giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, https://dangcongsan.vn, ngày 13-7-2022.

(11) Kiên Giang nỗ lực chống biến đổi khí hậu và cải thiện sinh kế cho cư dân ven biển, https://dangcongsan.vn, ngày 16-9-2021.

(12) Thành phố Hồ Chí Minh, phòng, chống thiên tai, thích ứng biến đổi khí hậu hướng đến cuộc sống bền vững và an toàn, https://baotainguyenmoitruong.vn, ngày 20-2-2023. 

CĐ,VS (st)

Tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường của cách mạng Việt Nam

Tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường của cách mạng Việt Nam Lượt xem: 509263 Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc và con người được khẳng định trước toàn thế giới qua Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Người khởi thảo 1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người Bằng hoạt động thực tiễn và tư duy lý luận, Hồ Chí Minh đã giải quyết một cách cơ bản vấn đề dân tộc, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người trong thời đại đế quốc chủ nghĩa. 1.1. Về vấn đề dân tộc thuộc địa Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa đầu thế kỷ XX là xác định đúng con đường phát triển của dân tộc. Độc lập dân tộc là nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc thuộc địa. Quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Với tinh thần đó, Người khẳng định quyết tâm: “Dù hi sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập” và “thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, “không có gì quý hơn độc lập tự do”. 1.2. Về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong phong trào giải phóng dân tộc Người khẳng định: vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp có quan hệ chặt chẽ với nhau. Giải phóng dân tộc là vấn đề trên hết, trước hết. Độc lập dân tộc mà chưa giành được thì vấn đề giai cấp cũng không giải quyết được. Giải phóng dân tộc tạo tiền đề để giải phóng giai cấp. 1.3. Về cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng con người Mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc trước hết là phải giành lại nền độc lập cho Tổ quốc. Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản. Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc phải được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc. Lực lượng của cách mạng giải phóng dân tộc là sức mạnh của toàn dân tộc. Cách mạng là sự nghiệp của dân chúng bị áp bức, bao gồm lực lượng của cả dân tộc. Trong lực lượng toàn dân tộc, Hồ Chí Minh hết sức nhấn mạnh vai trò động lực cách mạng của công nhân và nông dân, lực lượng nòng cốt trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc và con người được khẳng định trước toàn thế giới qua Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Người khởi thảo. Thừa nhận những “lời bất hủ” trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ (1776) và “những lẽ phải không thể chối cãi được” của “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp” (1789), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Nâng quyền tự nhiên của con người lên thành quyền dân tộc và gắn chặt quyền con người với quyền dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền tảng cho một trật tự và pháp lý quốc tế mới về quyền con người, quyền dân tộc và sự bình đẳng giữa các quốc gia - dân tộc. 2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội thể hiện sự nhất quán trong tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh, thể hiện một cách tập trung những luận điểm sáng tạo lớn về lý luận của Hồ Chí Minh, là sự phản ánh mục đích, lý tưởng, khát vọng và ham muốn tột bậc của danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh: nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội phản ánh tính triệt để cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng đó đặt vấn đề giải phóng con người, hạnh phúc của con người ở mục tiêu cao nhất của sự nghiệp cách mạng. Độc lập dân tộc là mục tiêu trực tiếp, trước hết, là cơ sở, tiền đề để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Theo Hồ Chí Minh, con đường cách mạng Việt Nam có hai giai đoạn: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Ở giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ thì độc lập dân tộc là mục tiêu trực tiếp, trước mắt, cấp bách, nhưng không phải là mục tiêu cuối cùng của cách mạng Việt Nam. Tính chất tạo tiền đề của cách mạng dân tộc dân chủ được thể hiện: - Về chính trị: xác định và xây dựng các yếu tố của hệ thống chính trị do giai cấp công nhân lãnh đạo. - Về kinh tế: bước đầu xây dựng được các cơ sở kinh tế mang tính chất xã hội chủ nghĩa, từng bước cải thiện đời sống Nhân dân. - Về văn hóa xã hội, đời sống tinh thần: trong cách mạng dân tộc dân chủ, khối quần chúng công - nông - trí thức và các giai tầng xã hội khác đã có ý thức giác ngộ, đoàn kết trong một mặt trận dân tộc thống nhất; những nhân tố mới của văn hóa, giáo dục đã được hình thành dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Độc lập dân tộc tạo tiền đề, điều kiện để nhân dân lao động tự quyết định con đường đi tới chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trong thời đại mới, chủ nghĩa xã hội là xu hướng phát triển tất yếu của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Điều này làm cho con đường cứu nước giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh khác biệt về chất so với con đường cứu nước những năm đầu thế kỷ XX ở nước ta và của nhiều nhân vật nổi tiếng trên thế giới. Cách mạng Việt Nam thuộc phạm trù cách mạng vô sản. Điều đó quyết định vai trò lãnh đạo cách mạng tất yếu thuộc về giai cấp công nhân mà đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản Việt Nam. Lực lượng tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc là toàn dân Việt Nam yêu nước mà nòng cốt là khối liên minh công - nông - trí thức. Những nhân tố này lại quy định tính tất yếu dẫn đến phương hướng phát triển lên chủ nghĩa xã hội của cách mạng giải phóng dân tộc. Rõ ràng định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam được chi phối và chế định bởi các nhân tố bên trong của cuộc cách mạng đó. Chủ nghĩa xã hội là con đường củng cố vững chắc độc lập dân tộc, giải phóng dân tộc một cách hoàn toàn triệt để. Về lý luận, độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội thể hiện mối quan hệ giữa mục tiêu trước mắt và mục tiêu cuối cùng; mối quan hệ giữa hai giai đoạn của một quá trình cách mạng. Cách mạng dân tộc dân chủ xác lập cơ sở, tiền đề cho cách mạng xã hội chủ nghĩa, cách mạng xã hội chủ nghĩa khẳng định và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Theo Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc bao giờ cũng gắn liền với đời sống ấm no, hạnh phúc của quần chúng nhân dân, những người đã trực tiếp làm nên thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ. Để bảo đảm vững chắc độc lập dân tộc, để không rơi vào lệ thuộc, đói nghèo, lạc hậu, chặng đường tiếp theo chỉ có thể là đi lên chủ nghĩa xã hội. Do những đặc trưng nội tại của mình, chủ nghĩa xã hội sẽ củng cố những thành quả đã giành được trong cách mạng dân tộc dân chủ, tạo điều kiện để bảo đảm cho độc lập và phát triển dân tộc. Hồ Chí Minh khẳng định: chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng triệt để các dân tộc bị áp bức khỏi ách nô lệ; chỉ có cách mạng xã hội chủ nghĩa mới bảo đảm cho một nền độc lập thật sự, chân chính.

 

Bảo đảm tính đảng và tính khoa học của khoa học lịch sử và khoa học chính trị trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Thực tiễn đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch gắn liền với việc giải quyết mối quan hệ giữa tính đảng và tính khoa học. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận về tính đảng và tính khoa học trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; làm rõ thực trạng, đề xuất một số giải pháp bảo đảm mối quan hệ giữa tính đảng và tính khoa học nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
 

1. Một số vấn đề về tính đảng và tính khoa học trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Tính đảng và tính khoa học là hai khuynh hướng cơ bản mà mỗi cá nhân, tổ chức chính trị biểu hiện trong các hoạt động của một hình thái kinh tế - xã hội xác định. Thực tiễn xã hội luôn thay đổi, biến động liên tục, đòi hỏi mỗi cá nhân, tổ chức phải bảo đảm tính khoa học để nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động và thích ứng môi trường để tồn tại, phát triển; song trong một hình thức chính trị xác định, các cá nhân, tổ chức còn phải bảo vệ lợi ích chung của nhóm chủ thể quyền lực chính trị - đảng chính trị mà họ tham gia, để duy trì, ổn định và phát triển. Thực tế đó đặt ra đối với mỗi cá nhân, tổ chức chính trị là giải quyết mối quan hệ giữa tính đảng và tính khoa học trong mỗi hoạt động xã hội.

Tính đảng là sự thể hiện nhất quán và xuyên suốt quan điểm, hệ tư tưởng của một đảng chính trị nhất định trong xã hội. Theo Từ điển tiếng Việt, tính đảng là “khuynh hướng trong công tác, hoạt động, v.v. thấm nhuần hệ tư tưởng của đảng”(1). Tính đảng còn là khuynh hướng phản ánh đầy đủ nhất sự bảo đảm, bảo vệ và đấu tranh một cách tích cực và chủ động cho những lợi ích của một đảng chính trị xác định trong các hoạt động đời sống xã hội. V.I.Lênin cho rằng: “Tính đảng là kết quả và là biểu hiện chính trị của những đối lập giai cấp đã phát triển cao độ”(2) và cụ thể đó là “tư tưởng xã hội chủ nghĩa”(3). Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Bất kỳ bao giờ, bất kỳ việc gì, đều phải tính đến lợi ích chung của Đảng, phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết, việc của cá nhân và lợi ích của cá nhân phải để lại sau. Đó là nguyên tắc tối cao của Đảng. Mỗi một đảng viên phải ghi chắc điều đó. Chúng ta gọi nó là Đảng tính”(4).

Mặc dù không nêu rõ các công cụ bảo đảm, bảo vệ tính đảng, song, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn đến ba vấn đề mang tính sống còn của Đảng và thể hiện rõ nhất trong Di chúc của Người: (1) Giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí trong toàn Đảng; (2) Thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình; (3) Thấm nhuần, nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân(5).

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là hoạt động làm rõ bản chất phản động, phản cách mạng của những quan điểm sai trái, thù địch, từ đó vạch trần, lên án và làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch về mặt tư tưởng, lý luận. Đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, và do đó, là biểu hiện sinh động của tính đảng trong thực tiễn.

Phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ “chống” trong toàn cục của nhiệm vụ “xây” - bảo vệ, tăng cường nền tảng tư tưởng của Đảng. Suy cho cùng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch “là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”(6). Đây là những yêu cầu mang tính nguyên tắc của tính đảng trong nội dung đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Tính khoa học trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch chính là việc bảo đảm nguyên tắc của khoa học lịch sử và khoa học chính trị. Để bảo đảm sự thuyết phục trong đấu tranh phản bác, thì những thông tin phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cần bảo đảm yêu cầu, nguyên tắc của khoa học lịch sử và khoa học chính trị. Nội hàm các quan điểm sai trái, thù địch được xác định gắn liền hai nội dung chính trị và lịch sử.

Khoa học lịch sử hay sử học là khoa học nghiên cứu về quá khứ loài người. Để tìm hiểu lịch sử, người nghiên cứu phải dựa vào sử liệu(7): tìm kiếm, sưu tầm, chọn lọc, giải mã các thông tin trong sử liệu, đặc biệt là cần phê phán sử liệu, xác định tính xác thực của sử liệu và độ tin cậy của các thông tin mà sử liệu phản ánh, bởi “nguồn càng xác thực, thông tin có mức độ tin cậy càng cao, thì sự kiện lịch sử được phản ánh trong sử liệu càng trung thực”(8). Do vậy, khoa học lịch sử là quá trình tương tác liên tục, phát triển giữa nhà sử học và sử liệu được nhà sử học tích lũy, phê phán(9). Khoa học lịch sử gắn liền với các sự kiện trong quá khứ, đòi hỏi phải bảo đảm ba nguyên tắc cơ bản: khách quan, trung thực và nhân văn, tiến bộ(10).

Để bảo đảm yêu cầu, nguyên tắc của khoa học lịch sử, nội dung đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch thể hiện: Một là, các sự kiện, nhân vật lịch sử, nhất là lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam cần phản ánh một cách khách quan trên cơ sở nhận thức khoa học về sự kiện, nhân vật lịch sử đó. Hết sức tránh cách trình bày một chiều, “tô hồng” hoặc “bôi đen”, tránh trình bày phiến diện. Hai là, phải dựa trên nguồn tài liệu, sử liệu xác thực và có độ tin cậy cao. Đây là yêu cầu quan trọng hàng đầu của khoa học lịch sử. Xã hội tất yếu phát triển, tri thức khoa học ngày được bổ khuyết, cái mới trong khoa học lịch sử ngày càng được khám phá. Do đó, cần phải thường xuyên bổ sung, cập nhật những thông tin sử học mới nhất, bổ khuyết các “khoảng trống” trong nghiên cứu, liên hệ và liên kết các sự kiện để tìm ra những kinh nghiệm, bài học và quy luật mới, từ đó không những chủ động phản bác các luận điệu sai trái, thù địch mà còn đập tan các quan điểm sai trái, thù địch ngay dưới dạng “ý tưởng”, trong “trứng nước”. Ba là, nội dung đấu tranh hướng đến việc tôn trọng và trân trọng quá khứ, bảo vệ hòa bình, xây dựng xã hội văn minh, tiến bộ, không kỳ thị, kích động hận thù.

Khoa học chính trị hay chính trị học là “một khoa học nghiên cứu chính trị như một chỉnh thể nhằm nhận thức và vận dụng những quy luật và tính quy luật chung nhất của chính trị”(11). Khoa học chính trị có một nguyên tắc cơ bản nhất là khách quan(12). Nguyên tắc khách quan xuất phát từ ý tưởng về sự thống nhất của khoa học, chủ yếu là cách nhận biết thế giới - sự hiểu biết thông qua kinh nghiệm quan sát trực tiếp, được hệ thống hóa theo các quy luật logic. Nhận thức về thực tế không đòi hỏi một sự hiểu biết, tư duy trừu tượng, mà là sự khám phá và phân tích các sự kiện thực tế. Điều quan trọng nhất trong nguyên tắc khách quan là: (a) sự xác minh (kiểm chứng bằng kinh nghiệm, thực nghiệm) và (b) tính rõ ràng (sự rõ ràng của các phạm trù, khái niệm được sử dụng và khả năng hoạt động của chúng)(13). Một trong phương pháp kiểm chứng, bảo đảm khách quan trong khoa học chính trị chính là lịch sử. Sir J.R. Seeley cho rằng: “Lịch sử mà không có khoa học chính trị thì không có kết quả; khoa học chính trị mà không có lịch sử thì không có gốc rễ”(14).

Để bảo đảm yêu cầu, nguyên tắc của khoa học chính trị, nội dung đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cần phản ánh rõ ràng, trung thực, khách quan chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thể hiện đầy đủ, đúng đắn thực tiễn, thực tế công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc trên hết, trước hết;... Đồng thời, xác thực (chứng minh) bằng thực tiễn sinh động việc tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và những vấn đề khác của Đảng. Từ đó, mọi thông tin phản bác các quan điểm sai trái, thù địch bảo đảm tính khách quan của khoa học chính trị, thể hiện sự thuyết phục cũng như chia sẻ của mọi người dân về những thành công cũng như một số hạn chế được Đảng thừa nhận, khắc phục trong lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

Xét đến cùng, khoa học lịch sử và khoa học chính trị thuộc nhóm ngành khoa học xã hội và nhân văn, mang đầy đủ đặc trưng của nhóm ngành này, đó là “khoa học cụ thể nhất và đặc biệt nhất, phụ thuộc nhiều nhất vào các ngành khoa học sớm hơn và trừu tượng hơn, một trong đó các sự kiện khó thu thập và phân tích hơn và do đó là cái cuối cùng xuất hiện trên sân khấu”(15). Do vậy, trong công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch phải nắm chắc các yêu cầu, nguyên tắc của khoa học lịch sử và khoa học chính trị.

2. Thực trạng và giải pháp bảo đảm mối quan hệ giữa tính đảng và tính khoa học trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Trong những năm qua, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng, được Đảng tập trung lãnh đạo và đạt nhiều kết quả rõ rệt. Tuy nhiên, “đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi tính chiến đấu chưa cao, còn bị động, lúng túng”(16). Một trong những nguyên nhân của hạn chế trên là do cán bộ, đảng viên, mà nòng cốt là lực lượng chức năng (tuyên giáo, công an, quân đội, thông tin và truyền thông) chưa xử lý hài hòa mối quan hệ giữa tính đảng và tính khoa học trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Biểu hiện cụ thể ở một số nội dung sau:

Một là, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kỹ thuật số phát triển mạnh mẽ, cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch chủ yếu gắn liền với không gian mạng. Một số thông tin sai trái, thù địch phát tán trên không gian mạng nhanh chóng, mức độ rộng khắp, khó kiểm soát, lực lượng chức năng chưa áp dụng hiệu quả nguyên tắc của khoa học cũng như công cụ bảo vệ tính đảng, nên dẫn đến bị động đối phó.

Hai là, trong một số trường hợp, chưa nắm bắt thông tin, động cơ, mục đích của những người cụ thể có những ý kiến khác với quan điểm của Đảng, có bị các đối tượng phản động, thù địch lợi dụng, mua chuộc hay không, làm cho hoạt động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trở nên lúng túng, không đạt kết quả.

Ba là, lực lượng tham gia đấu tranh thiếu phương pháp khoa học về các vấn đề “khoảng trống” trong lịch sử, nên còn tuyên truyền đấu tranh một chiều, phiến diện, thiếu sự thuyết phục, thậm chí “bỏ ngỏ” trong việc phản bác các quan điểm sai trái, thù địch phê phán Đảng có những hạn chế trong lịch sử...

Bốn là, trong một số sự kiện chính trị của đất nước, một số thông tin nội bộ về nhân sự dự kiến, chủ trương, chính sách dự thảo của Đảng và Nhà nước còn trong quá trình nghiên cứu, bàn bạc bị rò rỉ, các thế lực thù địch, phản động nắm được, đưa ra các luận điệu xuyên tạc, nhằm lôi kéo dư luận, và khi các thông tin nội bộ trở thành sự thật chính trị, các thế lực thù địch khai thác để dẫn dắt dư luận. Ngoài ra, một số thông tin thời sự chính trị thiếu sự chia sẻ, chủ động giải thích kịp thời, nên người dân bị các thế lực thù địch kích động, xúi giục. Điều đó làm cho lực lượng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch bị động, lúng túng trong việc định hướng dư luận và phản bác các thông tin sai trái, thù địch trong các sự kiện chính trị của đất nước.

Để bảo đảm mối quan hệ giữa tính đảng và tính khoa học nhằm nâng cao hiệu quả trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cần tập trung một số nhóm giải pháp chủ yếu sau:

Thứ nhất, nắm vững và vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp khoa học để bảo đảm, bảo vệ tính đảng

Việc khám phá ra cái mới, giải thích cái mới bằng các lý thuyết và kiểm tra cái mới bằng thực nghiệm là quá trình định hình, củng cố và xác lập tư duy, nhận thức mới. Quá trình này gắn liền với việc định hình ý tưởng, xác lập giả thuyết và chứng minh giả thuyết bằng các phương pháp logic hình thức và logic biện chứng, đó là các phép suy luận diễn dịch, quy nạp và loại suy, phép tuyển và phép hội trong logic hình thức; đó là 2 nguyên lý, 3 quy luật, 6 cặp phạm trù trong logic biện chứng, gắn với cách tiếp cận cá biệt và so sánh, lịch sử và logic, phân tích và tổng hợp, cấu trúc và hệ thống, v.v.. Nắm vững tư duy logic gắn với việc linh hoạt, sáng tạo trong các cách tiếp cận, giải quyết là chìa khóa công cụ cho mọi vấn đề thực tiễn đặt ra.

Để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phải trên cơ sở phương pháp khoa học, tìm ra các cách đấu tranh phù hợp: 1) Chủ động đưa ra các quan điểm đúng đắn, phù hợp bằng phép hội logic và dự báo các khả năng mà các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc, để nghiên cứu và nhanh chóng đưa ra thông tin kịp thời, kịp thời nắm bắt và dẫn dắt dư luận ngay khi các thế lực đưa ra quan điểm sai trái, thù địch; 2) Khi kẻ thù đưa ra các quan điểm sai trái, thù địch, thì nhanh chóng bác bỏ bằng phép tuyển logic, chứng minh phản chứng, chứng minh loại suy/phân liệt.

Đối với các vấn đề liên quan đến nhân vật lịch sử, nhân vật chính trị đương đại, cần nắm vững cách tư duy logic biện chứng và nguyên tắc khách quan của khoa học. Đánh giá đúng đắn, đầy đủ đóng góp cũng như thừa nhận một số hạn chế của các nhân vật đó, không “tô hồng” nhân vật trái với thực tiễn. Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nhấn mạnh: “trong quá trình tham gia lãnh đạo, trong cấp cao của Đảng và Nhà nước ta, không ai hoàn hảo đến độ là không có khuyết điểm trong đời hoạt động cách mạng của mình. Đó là sự bình thường... Vấn đề quan trọng là phải thấy hết và phải đánh giá đúng sự nổi trội và sự đóng góp lớn của một con người. Đây là phương pháp luận khoa học, là quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng giúp cho chúng ta có được một nhân sinh quan đúng đắn trong việc nhận xét cán bộ. Không thể đánh giá con người bằng việc lấy cái nhỏ, cá biệt để thay thế cho cái lớn bao trùm”(17).

Thứ hai, tính đảng phải thực hiện trong thực tiễn và trở thành thực tiễn khách quan

Tính đảng là sự đoàn kết, nhất trí trong toàn Đảng; thực hành dân chủ, tự phê bình và phê bình; nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Thực chất, đây là các nhiệm vụ cơ bản và trọng tâm nhằm xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh toàn diện, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, thắt chặt mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Tính đảng phải được thực hiện trong thực tiễn và kiểm nghiệm từ thực tiễn.

Đoàn kết, nhất trí trong Đảng trước hết là ở mỗi đảng viên có tình đồng chí, yêu thương giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, ở người đứng đầu các cấp gương mẫu, nêu gương, sáng tạo, nói đi đôi với làm, nêu cao tinh thần trách nhiệm, đặt lợi ích của quốc gia - dân tộc, nhân dân lên trên hết; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; ở một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động dựa trên đường lối đúng đắn của Đảng(18). Nội bộ Đảng đoàn kết, nhất trí thì những thông tin nội bộ, bí mật nội bộ cũng được kiểm soát chặt chẽ và không phát tán ra bên ngoài; đồng thời, làm vô hiệu hóa âm mưu phá hoại Đảng của các đối tượng thù địch, phản động.

Tự phê bình và phê bình là một nguyên tắc quan trọng hàng đầu để giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng. Đó là bản thân tự mình soi rọi mình, tự nghiêm khắc, thật thà, công khai nhận khuyết điểm của mình để tìm cách sửa chữa; nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của đồng chí, tổ chức mình, trên tinh thần xây dựng, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, cầu thị, lắng nghe, không công kích gây mâu thuẫn nội bộ. Theo nghĩa rộng hơn, đó là Đảng tự phê bình và chân thành lắng nghe sự phê bình trong nhân dân. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đảng viên và cán bộ, Đảng, các đoàn thể nhân dân và chính quyền cần phải hoan nghênh và khuyến khích nhân dân phê bình. Nếu phê bình sai, thì phải giải thích. Phê bình đúng, thì phải công khai thừa nhận và sửa chữa”(19).

Trong công việc hằng ngày, mỗi cán bộ, đảng viên cần rèn luyện và giữ vững đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; nâng cao giác ngộ cách mạng, kiên quyết, dũng cảm, hy sinh, vượt qua cám dỗ tiền tài, vật chất, danh vọng, địa vị. Cần nhận thức rõ rằng: “danh dự mới là điều thiêng liêng cao quý nhất, tiền bạc lắm làm gì, chết có mang theo được đâu”(20); “chức quyền là phương tiện để có thể làm nên một sự nghiệp nào đó cho dân cho nước. Mượn lấy chức quyền để xây dựng sự nghiệp cá nhân là hỏng, là lợi dụng chức quyền”(21). Qua đó, xứng đáng là đảng viên cách mạng, đấu tranh ngăn ngừa, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng cảnh báo: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(22).

Thứ ba, tôn trọng thực tiễn khách quan, bảo đảm nguyên tắc của khoa học

Nắm rõ quan điểm “chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo”(23) nên nhiều khi đường lối cách mạng phải trải qua nhiều thử nghiệm và sáng tạo mới đạt đến chân lý. Trong quá trình triển khai đường lối, chắc hẳn có những hạn chế, sai lầm. Đó là vấn đề thường xảy ra trong lãnh đạo của các đảng cầm quyền trên thế giới. Điều quan trọng là thành thật nhận lỗi một cách nghiêm túc, đầy đủ, công khai và minh bạch về hạn chế, sai lầm, không bao biện; nhanh chóng khắc phục hạn chế, tiến hành sửa sai và kiên quyết không để hạn chế, sai lầm đó tái diễn tương tự(24).

Thừa nhận hạn chế, sai lầm trong thực tiễn không chỉ là bảo đảm nguyên tắc khách quan của khoa học, mà còn là bảo đảm nguyên tắc tự phê bình và phê bình của Đảng; có sai lầm thì cho cơ hội, tạo điều kiện sửa sai; việc đoàn kết, nhất trí tiến hành khắc phục hạn chế, sai lầm của Đảng cũng chính là đạo đức cách mạng, và đó chính là bảo đảm tính đảng.

Cần tôn trọng các ý kiến xây dựng, đóng góp của nhà nghiên cứu, trí thức, sớm nhận thức rõ hạn chế, khuyết điểm; đồng thời, thông tin chính xác, kịp thời hạn chế, khuyết điểm và cố gắng khắc phục hạn chế, khuyết điểm. Song song với đó, cần đề phòng và đấu tranh với các đối tượng thù địch, phản động dựa vào hạn chế, sai lầm của Đảng mà lợi dụng xuyên tạc, đưa ra quan điểm suy diễn  để hạ thấp uy tín, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân.

Nghiên cứu, đúc rút những bài học kinh nghiệm nhằm hạn chế, khuyết điểm của Đảng trong lịch sử và đương đại, đóng góp trí tuệ để Đảng ta lãnh đạo thực hiện hiệu quả mục tiêu vì lợi ích quốc gia - dân tộc, không để xuyên tạc, bôi nhọ, hạ thấp uy tín và năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Đó chính là nguyên tắc của khoa học lịch sử.

Thứ tư, sự lãnh đạo của Đảng phải tuân theo quy luật khách quan.

Một nguyên tắc cơ bản nhất của khoa học chính là khách quan. Nguyên tắc khách quan đòi hỏi sự tôn trọng thực tiễn, thực tế, quy luật vận động và phát triển của mọi sự vật, hiện tượng. Còn nguyên tắc của tính đảng là đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng nhấn mạnh: “Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân... Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan. Phải phòng và chống những nguy cơ lớn: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên”(25).

Lợi ích quốc gia - dân tộc là một phạm trù rất rộng, song trong bối cảnh hiện nay, Đảng ta xác định: “Lợi ích quốc gia - dân tộc của chúng ta lúc này vẫn là bảo đảm môi trường quốc tế thuận lợi để phát triển. Điều đó hoàn toàn phù hợp với lợi ích của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”(26). Vì vậy, cán bộ, đảng viên, nòng cốt là lực lượng chức năng cần giải thích cho mọi người dân hiểu rõ và thấu triệt chủ trương này của Đảng. Từ đó, người dân có sự đề kháng trước các quan điểm xuyên tạc của kẻ thù về một số vấn đề lịch sử “nhạy cảm”, chủ quyền biên giới, biển đảo và các sự kiện chính trị mà Đảng chưa công bố, nhằm phòng tránh bị các thế lực thù địch lợi dụng, lôi kéo, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đất nước.

Bảo đảm tính đảng và tính khoa học là vấn đề nguyên tắc, phương pháp luận trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, đòi hỏi kỹ năng, phương pháp khoa học, tư duy logic cao, biện chứng, đồng thời có khả năng am hiểu và giác ngộ chính trị, lịch sử, nắm rõ lý luận, bám sát thực tiễn. Để công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đạt hiệu quả, Đảng cần nâng cao chất lượng giác ngộ chính trị, tri thức khoa học cho cán bộ, đảng viên, nòng cốt là lực lượng chức năng, tuyến đầu đấu tranh; đồng thời, tập trung xây dựng lực lượng đấu tranh chuyên nghiệp, bài bản, có năng lực giác ngộ chính trị, lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết, có tri thức khoa học liên ngành, bảo đảm sức chiến đấu cao.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 545 (tháng 7-2023)

Ngày nhận bài: 19-6-2023; Ngày bình duyệt: 15-7-2023; Ngày duyệt đăng: 24-7-2023.

(1) Viện Ngôn ngữ học: Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học, Hà Nội - Đà Nẵng, 2023, tr.999.

(2) V.I. Lênin: Toàn tập, t.13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.348.

(3) V.I. Lênin: Toàn tập, t.12, Sđd, tr.165.

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.290.

(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.15, Sđd, tr.622.

(6) Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng: Tăng cường công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.28.

(7) Sử liệu “bao gồm mọi nguồn tri thức lịch sử (trực tiếp hoặc gián tiếp), tức là mọi thông tin (theo nghĩa của lý thuyết thông tin) về quá khứ của con người, bất cứ nơi nào thông tin đó được tìm thấy, cùng với các cách truyền tải thông tin đó (các kênh thông tin)”. Xem Jerzy Topolski (1992), Metodología De La Historia (tercera edición), Cátedra, Madrid, pág.300.

(8) Xem Phạm Xuân Hằng (Chủ biên): Đại cương về sử liệu học và các nguồn sử liệu chữ viết lịch sử Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2016, tr.43.

(9) Theo Edward Hallett Carr, “đó là một quá trình tương tác liên tục giữa nhà sử học và các dữ kiện của nhà sử học, một cuộc đối thoại không hồi kết giữa hiện tại và quá khứ”. Xem Edward Hallett Carr (1961), What is History?, Vintage Books, New York, p.35.

(10) Trong nghiên cứu lịch sử, tính khách quan là tái hiện lại hiện thực lịch sử, đưa lại nhận thức đầy đủ nhất (tiệm cận hoặc chính xác) về quá khứ của con người dựa trên những thông tin đáng tin cậy. Đây là nguyên tắc đầu tiên và cũng là quan trọng nhất của khoa học lịch sử; tính trung thực là tôn trọng sự thật lịch sử và mô tả lại quá khứ một cách chân thực dựa trên những sử liệu đáng tin cậy, không xuyên tạc sự thật lịch sử; tính nhân văn, tiến bộ là giúp con người hiểu rõ về quá khứ, từ đó rút ra kinh nghiệm, bài học, quy luật có ích. Khoa học lịch sử vừa phải phản ánh sự thật trong quá khứ, nhưng không kích động hận thù, xung đột hoặc kỳ thị, thành kiến..., vừa phải góp phần bảo vệ hòa bình, xây dựng xã hội văn minh, tiến bộ.

(11) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Khoa học chính trị: Tập bài giảng Chính trị học (hệ cao cấp lý luận chính trị), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2004, tr.9. Cũng trong cuốn sách này (trang 8), thuật ngữ chính trị được định nghĩa là quan hệ giữa các giai cấp, các quốc gia, các dân tộc, các lực lượng xã hội trong việc giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị, tập trung là quyền lực nhà nước.

(12) Nguyên tắc khách quan nhằm khắc phục các lối suy nghĩ, thách thức trong chính trị học ngay từ khi ra đời: 1) Thái độ “kỳ lạ” của nhiều người đã quen với việc dành phần lớn nỗ lực của họ để phân tích ý kiến của người khác; 2) Niềm tin về những ý tưởng của sự vật sở hữu một số thực tế siêu việt; 3) Giải thích các sự kiện ở thế giới bên ngoài theo hình ảnh chủ quan theo các lý thuyết “vật linh”, tìm kiếm trong tâm trí về một cách diễn giải có mục đích và hài lòng. Xem Naresh Chandra Roy, Jyotirindra Das Gupta, Jayanta Kumar Ray (1963), Principles of political science, Macmillan and Company Limited, Calcutta, pp.4-5.

(13) В. П. Пугачев, А. И. Соловьев (2004), Введение В Политологию, Аспект Пресс, Москва, c.43.

(14) Sir J.R. Seeley (1896), Introduction to political science: two series of lectures, Macmillan and Co., London and New York, p.4.

(15) H.C. Carey (1888), Principles of social science, J.B. Lippincott Company, Philadelphia, vol.1, p.37.

(16) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.172.

(17) Võ Văn Kiệt: “Anh Sáu Thọ - Một chiến sĩ cộng sản nhiệt thành, một nhà lãnh đạo tài năng” trong Lê Đức Thọ - Người cộng sản kiên cường, nhà lãnh đạo tài năng (Hồi ký), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.45-46.

(18) Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.15, Sđd, tr.621-622.

(19) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Sđd, tr.114. Người nhấn mạnh: “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Sđd, tr.301.

(20) Nguyễn Phú Trọng: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr.38.

(21) Trích ghi chép cá nhân của đồng chí Võ Văn Kiệt. Xem Nhiều tác giả: Võ Văn Kiệt - Người thắp lửa, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2010, tr.533.

(22) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.15, Sđd, tr.672.

(23) ĐCSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, t.37, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.351.

(24) Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng thừa nhận: “Trong lãnh đạo, Đảng có lúc cũng phạm sai lầm, khuyết điểm, có những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng do giáo điều, chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan. Đảng đã nghiêm túc tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, chỉnh đốn để tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên”. Xem ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.64.

(25) Đảng ta xác định: Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội. Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. Xem ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.66, 69, 70.

(26) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.188.

CĐ,VS (st)

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc Cập nhật: 09:25 16-11-2023  Ảnh tư liệu. (nguồn: Tuyengiao.vn) (Thanhuytphcm.vn) - Giữa thế kỷ IXX, hai nhà sáng lập chủ nghĩa cộng sản khoa học làm K.Marx và F.Engels đã đưa ra khẩu hiệu hành động nổi tiếng “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại!”. Đến đầu thế kỷ XX, V.Lenin bổ sung thành khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!” có sức cổ vũ rất mạnh. Người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc, tức Hồ Chí Minh sau này, trong quá trình tìm đường cứu nước giải phóng dân tộc đã tiếp thu một cách sáng tạo chân lý của chủ nghĩa Marx – Lenin, trong đó có kế thừa và phát triển quan điểm về đoàn kết. Đồng thời, Người cũng tìm thấy trong truyền thống dân tộc những triết lý sâu sắc: “Một cây làm chẳng lên non/ Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”, “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng”. Từ đó, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh hết sức quan tâm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm tập hợp mọi lực lượng cách mạng, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để giành thắng lợi. Người luôn khẳng định vai trò của đại đoàn kết toàn dân và đoàn kết quốc tế, xem đó là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng, hình thành sức mạnh vĩ đại của toàn dân tộc trước những kẻ thù vốn rất hung bạo, hiểm độc. Không chỉ thế, tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh còn là đạo lý sống và lối ứng xử Việt Nam vô cùng cao đẹp. Theo chiều dài 4.000 năm lịch sử, nhân dân ta đã trải qua bao lúc thăng trầm, Hồ Chí Minh đã sáng suốt phân tích khi viết trên báo Việt Nam Độc Lập số 117, ra ngày 1/2/1942: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn. Vậy nay ta phải biết đoàn kết đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi…”. Người kêu gọi: “Dân ta xin nhớ chữ đồng Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh” Tuy nhiên, trong một quốc gia dân tộc, bao giờ cũng có nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau, quyền lợi mâu thuẫn với nhau. Hồ Chí Minh đã giải quyết nhuần nhuyễn, đã tìm được mẫu số chung để xây dựng được khối đại đoàn kết toàn dân tộc là tinh thần yêu nước, cùng hướng vào mục tiêu độc lập cho dân tộc, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Người giải thích, đoàn kết dân tộc là đoàn kết rộng rãi không phân biệt bất cứ một ai, miễn là người Việt Nam yêu nước, chống đế quốc xâm lược và tán thành công cuộc xây dựng xã hội mới công bằng, văn minh. Người yêu cầu phải đoàn kết chặt chẽ các tầng lớp nhân dân, đoàn kết tốt các đảng phái, các đoàn thể, các nhân sĩ, thực hiện hợp tác lâu dài, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau tiến bộ. Phải đoàn kết các dân tộc anh em, cùng nhau xây dựng Tổ quốc. Phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng bào các tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hòa thuận. Người cũng chỉ rõ, lấy liên minh công - nông - lao động trí óc làm nền tảng cho khối đại đoàn kết dân tộc. Hồ Chí Minh coi đoàn kết nội bộ Đảng là vấn đề cốt lõi, là chỗ dựa, là cơ sở để đoàn kết dân tộc. Theo Người, sự đoàn kết thống nhất của Đảng phải trên cơ sở thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Marx - Lenin và tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp và dân tộc thì mới chắc chắn. Trong Di chúc để lại, Người căn dặn kỹ càng: “Từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi trong mắt mình. Trong Đảng phải thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên tiến hành tự phê bình và phê bình; mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân”. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm xây dựng khối đoàn kết quốc tế. Đoàn kết quốc tế chính là cơ sở để thực hiện chủ trương “Phát huy sức mạnh tổng hợp của dân tộc với sức mạnh của thời đại để chiến thắng kẻ thù”. Tiến trình giao tiếp, hội nhập quốc tế rất đa dạng và phức tạp, chứa đựng nhiều vấn đề thống nhất và đối lập, cần thực hiện nguyên tắc “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” mà Người nêu ra và thực hiện rất thành công. Còn chính sách Mặt trận dân tộc thống nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi là một chính sách lớn; công tác Mặt trận là công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạng. Vì vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc không thể chỉ dừng lại ở quan niệm, ở tư tưởng mà phải biến thành sức mạnh vật chất, thành lực lượng vật chất được quy tụ trong Mặt trận dân tộc thống nhất. Người đánh giá rất cao kết quả chính sách Mặt trận dân tộc thống nhất của Đảng ta qua các giai đoạn cách mạng, từ Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Người cũng khẳng định: “Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Mặt trận dân tộc thống nhất vẫn là một trong những lực lượng to lớn của cách mạng Việt Nam”. Ảnh tư liệu. (nguồn: Tuyengiao.vn) Ảnh tư liệu. (nguồn: Tuyengiao.vn) Trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đặt đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược cơ bản, lâu dài của cách mạng Việt Nam, tích cực phát huy mạnh mẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trở thành động lực của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Trong diễn văn khai mạc Đại hội lần thứ 13 của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay… Đạt được những kết quả nêu trên có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân quan trọng nhất là ý chí, quyết tâm cao, sự nỗ lực phấn đấu, đoàn kết, chung sức, chung lòng của cả hệ thống chính trị và toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta”.

 

Quan điểm "Dân là gốc" trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng

“Dân là gốc” là một trong những nội dung phản ánh quan điểm của Đảng ta về mục tiêu, động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những nội dung toàn diện và sâu sắc của quan điểm “dân là gốc” trong Văn kiện Đại hội XIII sẽ tiếp tục định hướng công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong bối cảnh mới. 

1. Quan điểm “dân là gốc” trong Văn kiện Đại hội XIII được đúc rút từ lịch sử và tổng kết thực tiễn cách mạng Việt Nam, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tiến trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh vai trò to lớn, vị thế quan trọng của nhân dân. Thực tế lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam cho thấy, triều đại nào quan tâm đến lòng dân, ý dân và thực hiện tốt vấn đề dân sinh, tạo được lòng tin của nhân dân, cố kết được dân tâm, huy động được cả nước đồng lòng, góp sức thì cường thịnh và dựng nên nghiệp lớn. Trái lại, triều đại nào chỉ lo cuộc sống xa hoa, “mặc dân khốn khổ, chẳng hề đoái nghĩ”, “nhân dân oán hận mà không biết, lòng người oán trách mà chẳng kinh”, dân chúng chống lại, lòng người ly tán... thì cuối cùng đều phải bại vong. Từ thực tế đó và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa tư tưởng đương thời, nhiều bậc tiền nhân trong lịch sử nước ta đã khẳng định, muốn làm nên nghiệp lớn phải “lấy dân làm gốc”, phản ánh vai trò to lớn của quần chúng nhân dân, như: “trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân” (Lý Công Uẩn); “khoan thư sức dân”, “chúng chí thành thành” (Trần Quốc Tuấn); “lật thuyền mới rõ dân như nước”, do đó phải “yêu nuôi nhân dân, để khắp các nơi làng mạc không có tiếng oán giận, than sầu” (Nguyễn Trãi); “Xưa nay nước lấy dân làm gốc/ Được nước là bởi lẽ được dân”, nên “Thất thiên kim, chớ thất nhân tâm” (Nguyễn Bỉnh Khiêm)... 

Mặc dù, về cơ bản vẫn chưa vượt ra ngoài khuôn khổ của hệ tư tưởng phong kiến với nòng cốt là Nho giáo, song yếu tố tiến bộ của những tư tưởng ấy trở thành giá trị văn hóa tinh thần vô giá của dân tộc, để lại bài học quý báu: “Coi trọng dân thì thành công, coi thường dân thì thất bại”.

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin với quan điểm khoa học: “nhân dân là chủ thể của lịch sử”, “quần chúng là động lực của cách mạng”, “cách mạng là ngày hội của đông đảo quần chúng nhân dân”... Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện “cách mạng hóa” và bổ sung quan điểm “dân là gốc” bằng sức sống thời đại. Người khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(1). Thực tế chứng minh, tin dân, dựa vào dân, biết khơi dậy sự đồng lòng và phát huy ý chí, khát vọng toàn dân tộc mới bảo đảm được sự trường tồn của non sông đất nước. Từ đó, Người chỉ rõ: “Nước lấy dân làm gốc... Gốc có vững cây mới bền/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”(2)

Quan điểm “dân là gốc” của Đảng ta chính là sự tiếp nối bài học từ truyền thống dân tộc và kế thừa trực tiếp chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân. Mặt khác, những nội dung của quan điểm đó không ngừng được hoàn thiện, ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn từ thực tiễn đổi mới ở Việt Nam. Trong nhiều văn kiện của Đảng đều nhất quán khẳng định vai trò của nhân dân đối với sự thành bại của đổi mới, đồng thời xác định mục tiêu đổi mới là vì nhân dân, chỉ rõ bài học nổi bật: “dân là gốc”, tất cả “vì dân, do dân”, “đổi mới vì hạnh phúc của nhân dân và dựa vào nhân dân để đổi mới”(3)

Tiếp nối tinh thần đó, Văn kiện Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân”; kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”(4)

Điều đó khẳng định, “dân là gốc” là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ cương lĩnh, chủ trương, đường lối, chính sách và phản ánh quan điểm của Đảng về mục tiêu, động lực của công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Mặc dù ở những giai đoạn cụ thể và trong những thời điểm nhất định, cách thức diễn đạt có thể khác nhau, song đều nhất quán khẳng định vai trò quan trọng của nhân dân. 

2. Quan điểm “dân là gốc” trong Văn kiện Đại hội XIII mang nội dung toàn diện và sâu sắc, không chỉ khẳng định “vị trí trung tâm”, mà còn nhấn mạnh và đề cao “vai trò chủ thể” của nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng nói chung và trong công cuộc đổi mới đất nước nói riêng.

Một là, khơi dậy và phát huy mọi nguồn lực, sức mạnh của nhân dân để xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân

Xây dựng, phát triển đất nước phồn vinh, thịnh vượng, bảo đảm cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân là khát vọng ngàn đời của dân tộc ta. Chăm lo lợi ích và phấn đấu vì hạnh phúc của nhân dân là “mục đích thiêng liêng, lý tưởng cao cả” của Đảng và cũng là “động lực của công cuộc đổi mới đất nước”. “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, “con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” là một trong những đặc trưng bản chất của xã hội XHCN mà chúng ta hướng đến. Do đó, sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta không lấy lợi nhuận của một thiếu số dựa trên sự chiếm đoạt lợi ích cộng đồng làm mục tiêu tối thượng, không vì tăng trưởng kinh tế đơn thuần mà “hy sinh” tiến bộ, công bằng xã hội. Trái lại, phải gắn kết hài hòa kinh tế với văn hóa, xã hội và môi trường; bảo đảm “mỗi chính sách kinh tế phải đi liền với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội”, đồng thời “mỗi chính sách xã hội phải tạo động lực để kinh tế phát triển bền vững”. 

Trên tinh thần ấy, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé”, vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm”(5). Thời gian qua, đại dịch Covid-19 tác động tiêu cực đến nền kinh tế đất nước, song Đảng, Nhà nước ta vẫn nhất quán khẳng định “bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người dân là trên hết, trước hết” và dành nhiều nguồn lực để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp vượt qua khó khăn của đại dịch. Điều đó thể hiện rõ tính nhân văn, tất cả vì con người, vì nhân dân của chế độ ta, không ai có thể phủ nhận.

Để thực hiện mục tiêu và khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, nhân dân hạnh phúc, phải dựa vào chính sức mạnh, phát huy các nguồn lực to lớn của nhân dân, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “đem tài dân, sức dân mà làm lợi cho dân”, vì “không có lực lượng nhân dân, thì việc nhỏ mấy, dễ mấy, làm cũng không xong, có lực lượng nhân dân, thì việc khó mấy, to mấy, làm cũng được”(6). Thực tiễn cũng đã chứng minh, nhờ phát huy được nguồn lực và sức mạnh to lớn của nhân dân mà công cuộc đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu, lập nên những kỳ tích, ghi dấu ấn đậm nét trong lịch sử dân tộc. Qua 35 năm đổi mới, đất nước phát triển mạnh mẽ, toàn diện trên mọi lĩnh vực; quy mô, chất lượng nền kinh tế không ngừng nâng cao; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân đều được cải thiện rõ rệt; nước ta trở thành điểm sáng trong hoàn thành các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, được bạn bè quốc tế ca ngợi. 

Nhìn lại thực trạng nền kinh tế - xã hội của đất nước những năm trước đổi mới, với nền kinh tế lạc hậu, thấp kém, đời sống nhân dân gặp muôn vàn khó khăn, thách thức, “nhiều nhu cầu chính đáng tối thiểu của nhân dân về đời sống vật chất và văn hóa chưa được bảo đảm”, “công bằng xã hội bị vi phạm”... chúng ta càng tự hào và thấy rõ ý nghĩa lớn lao của những thành quả mà đất nước ta, nhân dân ta bằng ý chí, nỗ lực, quyết tâm để đạt được. Vì thế, “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(7)

Thực tế đó góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo, tạo động lực, khí thế mới, cổ vũ tinh thần lao động sáng tạo, khơi dậy “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” và cống hiến vì sự cường thịnh, trường tồn của dân tộc. Tuy nhiên, các nguồn lực và tiềm năng sáng tạo của nhân dân chưa thực sự được khai thác và phát huy hiệu quả, đời sống của một bộ phận nhân dân chưa hết khó khăn. Vì vậy, một trong những đòi hỏi bức thiết là phải “Tập trung khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào, ý chí tự cường, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội và khát vọng phát triển đất nước của toàn dân tộc. Xây dựng các cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam”(8).

Hai là, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; thực hành dân chủ, bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân.

Sinh thời, V.I.Lênin từng cảnh báo: “Đối với đảng cộng sản..., thì một trong những nguy hiểm lớn nhất và đáng sợ nhất là tự cắt đứt liên hệ với quần chúng”(9). Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng căn dặn, Đảng Cộng sản Việt Nam “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phấn đấu”, và “ngoài lợi ích của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác”. Do đó, “phải dựa vào nhân dân mà xây dựng Đảng. Tức là: hết lòng ra sức phụng sự nhân dân, tin tưởng vào lực lượng của nhân dân, học hỏi nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân và không một phút nào xa rời nhân dân, cùng nhân dân kết thành một khối”(10). 

Tiếp nối tinh thần ấy, đồng thời trên cơ sở tổng kết các bài học thành công và chưa thành công từ thực tiễn, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: “Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng”(11). Vì thế, phải “Thường xuyên tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân, phát huy vai trò của nhân dân và thật sự dựa vào dân để xây dựng Đảng”(12), đồng thời “Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên”(13)

Thực tiễn đã chứng minh, mối liên hệ gắn bó máu thịt với nhân dân là truyền thống của Đảng ta. Chính nhân dân tạo nên sức mạnh của Đảng, cùng Đảng làm nên những kỳ tích lịch sử. Trong những năm đổi mới, việc đối thoại, lắng nghe tâm nguyện của nhân dân được coi trọng; những nguyện vọng, kiến nghị, lợi ích hợp pháp, chính đáng và nhiều vấn đề bức xúc của nhân dân được giải quyết kịp thời đã góp phần củng cố, tăng cường mối quan hệ chặt chẽ giữa Đảng với nhân dân, vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng không ngừng được phát huy. 

Quan điểm “dân là gốc” cũng được quán triệt trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, từ hoạch định chính sách đến tổ chức thực hiện. Bằng chứng thực tế là, Quốc hội “thực sự là cơ quan quyền lực, đại biểu cao nhất của nhân dân”; nền hành chính nhà nước ngày càng “chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch, dân chủ, vì dân”; nền tư pháp không ngừng hướng đến “công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa từng bước được hiện thực hóa, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy; cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” đi vào thực chất và vận hành hiệu quả hơn. 

Trong bối cảnh mới hiện nay, một trong những nhiệm vụ và yêu cầu bức thiết đặt ra là phải tiếp tục thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân, không ngừng củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ, tăng cường đồng thuận xã hội. Do đó, phải “có cơ chế phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới” và không ngừng “thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân”.

Ba là, dựa vào nhân dân để bảo vệ thành quả của công cuộc đổi mới, vì cuộc sống yên bình, hạnh phúc của nhân dân

Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật của sự hình thành, phát triển dân tộc Việt Nam. Xây dựng CNXH gắn liền với bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài của cách mạng nước ta hiện nay. Tạo lập căn cứ vững chắc trong lòng dân, xây dựng lực lượng quân sự hùng hậu bằng sức mạnh của nhân dân; lấy làng xã làm pháo đài, dựa vào dân để chiến đấu là một trong những nghệ thuật quân sự đặc sắc, là cách thức xây dựng quân đội để bảo vệ Tổ quốc rất hiệu quả của người Việt từ xưa đến nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ, sự đồng lòng của nhân dân sẽ “đúc thành một bức tường đồng” vững chắc, mà bất cứ kẻ địch nào đụng phải đều cam chịu thất bại. Từ truyền thống lịch sử và thực tiễn cách mạng, Đảng và Nhà nước ta khẳng định, quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Do đó, phải chú trọng củng cố “thế trận lòng dân” một cách vững chắc trên nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và sự đồng thuận xã hội. Văn kiện Đại hội XIII xác định: Xây dựng “thế trận lòng dân”, kết hợp với xây dựng “thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân” vững chắc làm nền tảng cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc”(14).

Thực tiễn những năm qua đã chứng minh một cách hùng hồn, “lòng dân” là cội nguồn sức mạnh, quyết định sự thành bại của công cuộc đấu tranh bảo vệ thành quả xây dựng đất nước, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia. Tin vào dân, quy tụ được lòng dân, khơi dậy và phát huy sức mạnh toàn dân tộc là nhân tố quan trọng đảm bảo an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân”. 

Trước bối cảnh trong nước và quốc tế nhiều biến động rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo hiện nay, để xử lý tốt các vấn đề an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống, giữ vững “chủ quyền số quốc gia trên không gian mạng”, tạo “vành đai an ninh”, ngăn ngừa từ sớm, từ xa các nguy cơ gây bất ổn xã hội, “lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy” để không bị động, bất ngờ trước mọi tình huống, bảo vệ vững chắc Tổ quốc cùng những thành quả của công cuộc đổi mới, thì còn phải dựa vào nhân dân, khai thác mọi nguồn lực trong dân, phát huy tiềm năng, sức mạnh toàn dân tộc. Đó là “nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên” của Đảng, Nhà nước và của cả hệ thống chính trị. Mặt khác, phải dựa vào dân để “xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại” với ba trụ cột là “đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân”, tạo nên thế trận liên hoàn, sức mạnh tổng hợp để bảo vệ cuộc sống yên bình, hạnh phúc của nhân dân.

3. Quan điểm “dân là gốc” sẽ tiếp tục định hướng công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam

Quán triệt quan điểm “Dân là gốc” trước yêu cầu của đất nước trong bối cảnh mới, Văn kiện Đại hội XIII đã chỉ rõ, phải thực hiện nghiêm túc và hiệu quả phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”:

Để thực hiện phương châm “dân biết”, cần công khai, minh bạch, dân chủ trong hoạch định và thực thi chủ trương, đường lối, chính sách, trước hết là sự công khai, minh bạch về thông tin, bảo đảm “quyền được thông tin và cơ hội tiếp cận thông tin của nhân dân”; đáp ứng “quyền được biết” của người dân về những chính sách liên quan trực tiếp đến đời sống, sinh kế của họ. Đồng thời, phải không ngừng nâng cao dân trí kết hợp với đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền để mọi người dân nắm bắt kịp thời, hiểu biết đúng đắn các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cũng như quyền lợi và trách nhiệm công dân. 

Trong nhân dân cũng có nhiều bộ phận, với trình độ, hiểu biết không đồng đều, năng lực không giống nhau. Do đó, chủ trương, chính sách đúng nhưng dân chưa hiểu, chưa đồng tình thì cần phải kiên trì tuyên truyền, giải thích cho dân để dân biết, dân hiểu, tạo sự đồng thuận, nhất trí từ nhận thức đến hành động. Thực hiện tốt phương châm “dân biết” sẽ là tiền đề cần thiết để thực hiện phương châm “dân bàn”, bởi biết mới có thể bàn, và bàn trên cơ sở của sự hiểu biết mới mang lại hiệu quả thực sự.

Để thực hiện phương châm “dân bàn”, cần tạo lập môi trường dân chủ, khơi dậy tính tích cực của mỗi công dân, bảo đảm điều kiện để nhân dân được tham gia vào các công việc của Đảng, Nhà nước và xã hội; tham gia đóng góp ý kiến trong mọi khâu của quá trình, từ hoạch định đến tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhắc nhở, không được coi thường dân, cho dân là dốt nên không thèm bàn bạc, mà trái lại, “việc gì cũng phải bàn với dân”, “coi trọng ý kiến của nhân dân”, bởi “dân chúng có nhiều sáng kiến mà những người tài giỏi nghĩ mãi không ra”. Do đó, phải “Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn và hệ trọng của đất nước”(15). Khi dân đã được biết, được bàn và hiểu rõ, họ sẽ chủ động, tích cực, tự giác, ra sức thực hiện trên tinh thần vui vẻ, đồng thuận và “nhất định việc gì cũng thành công”.

Để thực hiện phương châm “dân làm”, mọi đường lối, chính sách đều phải hợp lòng dân, bởi “Được lòng dân, thì việc gì cũng làm được/ Trái ý dân, thì chạy ngược chạy xuôi”(16). Khi nhân dân nhận thấy chủ trương, đường lối phản ánh đúng yêu cầu, nguyện vọng của mình, họ sẽ tiếp nhận, ủng hộ và tích cực tham gia thực hiện. Muốn vậy, mọi công việc đều phải vì lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, lấy lợi ích và sự hài lòng, tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chuẩn đánh giá chất lượng, hiệu quả công việc của các cơ quan, tổ chức cũng như của mỗi cán bộ, đảng viên. 

Mặt khác, trong mọi công việc, cán bộ phải đi đầu, nêu gương làm trước theo đúng tinh thần “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Đồng thời, cần tạo điều kiện công bằng, bình đẳng để mọi người dân được tiếp cận với các cơ hội phát triển, được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm, được cống hiến tài năng và công sức cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Để thực hiện phương châm “dân kiểm tra, dân giám sát”, cần hoàn thiện thể chế; xây dựng hệ thống pháp luật chặt chẽ và thi hành pháp luật một cách nghiêm minh, công bằng, chính trực; thực hiện trách nhiệm giải trình của các cơ quan, tổ chức và của từng cá nhân cán bộ lãnh đạo quản lý trước nhân dân. Mặt khác, mọi phát hiện đúng đắn của nhân dân về các sai phạm, quan liêu, tham ô, tham nhũng, tiêu cực... phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ” để củng cố niềm tin của nhân dân về quyền được kiểm tra, giám sát đối với mọi công việc của các cơ quan, tổ chức; thường xuyên đối thoại, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân trên tinh thần cầu thị, tập trung giải quyết các khó khăn, bức xúc của nhân dân về đời sống, việc làm, đất đai, môi trường... nghiêm cấm sự trù dập dân dưới mọi hình thức. Do đó, phải “Đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới cơ sở; xây dựng và thực hiện phong cách làm việc khoa học, tập thể, dân chủ, trọng dân, gần dân, hiểu dân, vì dân, bám sát thực tiễn, cầu thị, học hỏi, nói đi đôi với làm”(17).

Để thực hiện phương châm “dân thụ hưởng”, cần bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội bền vững, hài hòa; hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội, thực hiện xóa đói, giảm nghèo bền vững; bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, quan tâm đến mọi người dân, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, giải quyết tốt chính sách lao động, việc làm, nâng cao thu nhập, đồng thời thực hiện tốt và chú trọng nâng cao phúc lợi xã hội, trợ giúp cho các nhóm đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương. Phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm bình đẳng về cơ hội phát triển, giải quyết hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, “bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng” và không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân, “không để ai bị bỏ lại phía sau” trên con đường phát triển chung của đất nước. 

“Dân là gốc” là một trong những nội dung cốt lõi, xuyên suốt trong Cương lĩnh, đường lối của Đảng ta. Đó không phải sự sao chép từ bất cứ học thuyết có sẵn nào mà thể hiện sự kế thừa, tiếp nối bài học từ chiều sâu lịch sử dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong Văn kiện Đại hội XIII, quan điểm “dân là gốc” được bổ sung toàn diện, phong phú và sâu sắc hơn, phản ánh tính khoa học và cách mạng, tính nhân văn và sáng tạo trong nhận thức lý luận của Đảng. Quan điểm đó tiếp tục định hướng công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước ta trong bối cảnh hiện nay.

__________________

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.453.

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.501-502.

(3) ĐCSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, t.50, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2007, tr.550.

(4), (7), (8), (13), (14), (15), (17) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.96-97, 25, 47, 191-192, 9, 71, 198-199.

(5) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.21. 

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.176.

(9) V.I.Lênin: Toàn tập, t.41, Nxb Chính trị quốc gia  Sự thật, Hà Nội, 2006, tr.426.

(10), (16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.281, 163.

(11) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.65.

(12) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.226.

CĐ,VS (st)

Tin vui cho ước mơ lao động Việt

Những tin vui ấy đến trong cùng một buổi chiều nắng đẹp ở Tokyo - nơi diễn ra một sự kiện với rất nhiều điều đặc biệt - Diễn đàn hợp tác lao động Việt Nam và Nhật Bản. Đây là diễn đàn quốc gia đầu tiên về lao động tổ chức tại nước ngoài và được tổ chức tại Nhật Bản, nơi có hơn 500.000 người Việt đang sinh sống, làm việc, trong đó có 350.000 người lao động Việt. Bộ trưởng báo tin vui và ước mơ lao động Việt đi làm thuê, về làm chủ - 1 Theo chương trình, Bộ trưởng Lao động - Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung phát biểu khai mạc Diễn đàn và sau khi Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu, Bộ trưởng rời sự kiện, tháp tùng Thủ tướng dự hội đàm với Thủ tướng Nhật Bản Kishida Fumio. Khi cuộc hội đàm vừa kết thúc, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung ngay lập tức xin phép Thủ tướng quay trở lại Diễn đàn để "mang tới tin vui" để chia sẻ với hàng trăm người lao động Việt Nam tại Nhật Bản. Tin vui ấy vừa được người đứng đầu Chính phủ hai nước Việt Nam và Nhật Bản thống nhất trong cuộc hội đàm. Đó là quyết định tổ chức thi kỹ năng đặc định tại Việt Nam trong thời gian sớm nhất. Thi kỹ năng đặc định, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung nói đó là "nỗi đau" của ông, khi Việt Nam và Nhật Bản chính thức ký bản ghi nhớ hợp tác về khung pháp lý để triển khai chương trình "lao động kỹ năng đặc định" từ năm 2019, song từ đó đến nay, việc này vẫn chưa được thực hiện. Lâu nay, Việt Nam dù là quốc gia có số lượng thực tập sinh sang Nhật làm việc lớn nhất, nhưng một nghịch lý đang xảy ra khi lao động Việt phải mất thêm chi phí, bỏ tiền qua Campuchia, Indonesia để thi tuyển sang Nhật làm việc. Con số này tuy không lớn, song vẫn khiến người đứng đầu Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phải trăn trở. Bộ trưởng báo tin vui và ước mơ lao động Việt đi làm thuê, về làm chủ - 3 Vì vậy, trong chuyến tháp tùng Thủ tướng Phạm Minh Chính tới Nhật lần này, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung đã tận dụng cơ hội trao đổi ngay với Bộ trưởng Bộ Tư pháp nước bạn Koizumi Ryuji để thúc đẩy giải quyết nút thắt này. Và nỗ lực ấy đã có kết quả khi lãnh đạo hai nước thống nhất sẽ tổ chức kỳ thi kỹ năng đặc định ngay tại Việt Nam vào thời gian sớm nhất. Mốc thời gian Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội dự kiến đưa ra là đầu năm 2024. Bên cạnh đó, để chăm lo cho một bộ phận lao động ở khu vực phi lợi nhuận, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết, Việt Nam sẽ bỏ kinh phí để tất cả những lao động ở các huyện nghèo chọn đi Nhật, hoặc đi bất cứ quốc gia nào, sẽ được miễn hoàn toàn kinh phí, từ đào tạo, dạy ngoại ngữ, lo thủ tục xuất cảnh tới tạo điều kiện việc làm khi về nước. Trước đông đảo người lao động Việt, Bộ trưởng thông tin việc lấy ngày 16/12 làm ngày Lao động Việt Nam tại Nhật Bản. Bộ trưởng báo tin vui và ước mơ lao động Việt đi làm thuê, về làm chủ - 5 Cùng với quan hệ Việt Nam - Nhật Bản, Bộ trưởng Lao động - Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung cho rằng hợp tác về phát triển nguồn nhân lực giữa hai nước đạt những kết quả rất đáng khích lệ, thể hiện trên 3 lĩnh vực lớn: Lao động; dạy nghề và giáo dục nghề nghiệp; phát triển hệ thống an sinh xã hội. Trong đó, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung nhấn mạnh định hướng, Việt Nam tiến tới là quốc gia tiên phong trong an sinh xã hội và việc làm bền vững, để mọi người dân không ai bị bỏ lại phía sau. Trong lĩnh vực hợp tác lao động, Bộ trưởng đánh giá, Việt Nam phát triển khá nhanh với khoảng 350.000 lao động người Việt đang làm việc tại Nhật Bản, đứng đầu trong 15 quốc gia có lao động làm việc tại đây. Nhưng điều đáng mừng không chỉ là sự tăng trưởng về số lượng, mà quan trọng hơn, đó là việc nâng cao về chất lượng khi rất nhiều người sau khi làm việc ở Nhật trở về đã thành ông chủ. Không chỉ có vậy, các lãnh đạo Nhật Bản cũng đánh giá cao vai trò nguồn nhân lực Việt Nam cung cấp cho nước này, cả về số lượng, chất lượng và niềm tin. Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết, vừa qua Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã phối hợp tổ chức tọa đàm với những người lao động từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan… trở về, để lắng nghe từng người nêu ý tưởng. Bộ trưởng Dung và Thủ tướng Phạm Minh Chính, Bộ trưởng KH&ĐT đã nhất trí sau diễn đàn ở Nhật Bản sẽ nghiên cứu có chính sách riêng cho những người đi lao động nước ngoài về và có nhu cầu khởi nghiệp. Nhắc đến con đường từ đi làm thuê để về phấn đấu làm chủ, Bộ trưởng Lao động cho biết thực tế đã có những người thành công. Có người chưa thể làm chủ, nhưng chắc chắn cũng trưởng thành hơn rất nhiều, đặc biệt là những thanh niên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa của những huyện nghèo nhất của vùng núi phía Bắc như Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai… Bộ trưởng báo tin vui và ước mơ lao động Việt đi làm thuê, về làm chủ - 7 Nhắc đến câu chuyện tại diễn đàn Quốc hội, các đại biểu chất vấn đề cân đối nguồn lực trong và ngoài nước cũng như chăm lo, bồi dưỡng lực lượng lao động dân tộc thiểu số, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung nhấn mạnh "đây là công việc cần rất nhiều sự kỳ công". "Phải chăm lo thực sự, coi những lao động đó như con như em mình, vừa dạy vừa cầm tay chỉ việc, vừa dỗ dành, vừa dạy kỹ năng, dạy văn hóa và tác phong công việc, để các cháu hội nhập, từng bước thích nghi môi trường mới", Bộ trưởng chia sẻ. Điều quan trọng, theo ông, khi lao động trở về không chỉ có tiền, mà có nhận thức mới, đó mới là điều đáng quý hơn cả. Thời gian tới, Bộ trưởng Lao động định hướng cần đưa hợp tác về lao động lên tầm cao mới, chuyển sang chú trọng đào tạo nhân lực chất lượng cao. "Đã đến lúc Việt Nam cần giảm mạnh việc đưa lao động không có tay nghề, kỹ năng hoặc có trình độ thấp đi làm việc ở nước ngoài", Bộ trưởng Đào Ngọc Dung quán triệt. Bộ trưởng Dung phân tích bối cảnh Việt Nam hiện nay, nguồn lao động trong nước không còn dồi dào, doanh nghiệp Việt Nam cũng có nhu cầu rất lớn về nhân lực. Bên cạnh đó, ngoài những thị trường tiềm năng như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Việt Nam còn hướng đến nhiều thị trường khác như Canada, Đức, Rumani, Úc, New Zealand… Bộ trưởng báo tin vui và ước mơ lao động Việt đi làm thuê, về làm chủ - 9 Vì vậy, phương châm Việt Nam hướng đến là tạo điều kiện, khuyến khích doanh nghiệp làm ăn chính đáng. Việt Nam và Nhật Bản thống nhất, nếu nghiệp đoàn của Nhật không sòng phẳng thì phải xử lý, doanh nghiệp Việt Nam làm ăn không chân chính cũng tương tự. "Vừa qua, chúng tôi xử lý rất nhiều doanh nghiệp vi phạm, đình chỉ nhiều, thu hồi giấy phép và chuyển cơ quan điều tra cũng nhiều. Có những doanh nghiệp từng nhận huân chương vẫn bị thu hồi. Doanh nghiệp thậm chí đòi kiện, nhưng tôi nói cứ kiện, tinh thần là phải minh bạch", Bộ trưởng Đào Ngọc Dung kể. Theo Bộ trưởng, với mỗi doanh nghiệp, thương hiệu và nhân lực là hai yếu tố quan trọng nhất. Nếu nhân lực toàn tâm toàn ý làm việc, chắc chắn doanh nghiệp sẽ thành công. Vị tư lệnh ngành mong doanh nghiệp Việt Nam và nghiệp đoàn Nhật Bản tiếp tục phối hợp khắc phục bất cập, phát huy điểm tốt để tất cả cùng chiến thắng. Thủ tướng Phạm Minh Chính khi phát biểu tại Diễn đàn hợp tác lao động Việt - Nhật cũng lưu ý, thông qua hoạt động hợp tác với Nhật Bản, Việt Nam cần hướng đi thiết thực, phù hợp thực tế, như tuyển dụng, phái cử lao động có trình độ, kỹ năng; có khát khao học hỏi, kiên trì, vươn lên bắt kịp sự phát triển của thời đại trong những lĩnh vực mới như bán dẫn, công nghệ thông tin. Thủ tướng cũng đề nghị các cơ quan chức năng của Nhật Bản và Việt Nam phối hợp, tạo điều kiện sống và làm việc tốt nhất cho lao động Việt Nam nhằm giảm thiểu rủi ro và sự bất bình đẳng, để người lao động an tâm làm việc. Bên cạnh đó, Thủ tướng mong cơ quan hai nước phối hợp chặt chẽ, khơi thông điểm nghẽn, giải quyết bất cập như miễn giảm thuế thu nhập, thuế cư trú với lao động người Việt. Bộ trưởng báo tin vui và ước mơ lao động Việt đi làm thuê, về làm chủ - 11 Với thực tập sinh, lao động Việt Nam, Thủ tướng mong quãng thời gian ở Nhật Bản sẽ là kỷ niệm khó quên trong cuộc đời mỗi người. Dẫn câu nói "đi một ngày đàng, học một sàng khôn", Thủ tướng tin tưởng, những người lao động đi quãng đường dài từ Việt Nam sang Nhật Bản sẽ có sự trưởng thành về mọi mặt, tận dụng tốt cơ hội sống và làm việc tại Nhật, học tập phong cách, thái độ làm việc nghiêm túc, chuyên nghiệp của người Nhật, để quay trở về xây dựng đất nước. Bộ trưởng báo tin vui và ước mơ lao động Việt đi làm thuê, về làm chủ - 13 Chia sẻ với phóng viên Dân trí từ góc độ của doanh nghiệp trong lĩnh vực lao động, ông Lê Long Sơn, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Công ty TNHH ESUHAI Group, nói "rất vui khi nghe những thông điệp từ người đứng đầu ngành lao động, thương binh và xã hội". Đây là đơn vị đã có 20 năm hoạt động trong lĩnh vực đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam sang Nhật Bản. Diễn đàn hợp tác lao động Việt Nam - Nhật Bản, theo ông Sơn, là một sự kiện "nâng tầm lao động Việt Nam". Ông Sơn cũng chia sẻ thực tế có nhiều lao động người Việt sang Nhật có kỹ năng tốt, chất lượng cao, số lượng ngày càng nhiều, và nhiều người dần trưởng thành, sau khi đi lao động ở Nhật đã về nước làm chủ, làm quản lý. Bộ trưởng báo tin vui và ước mơ lao động Việt đi làm thuê, về làm chủ - 15 Với việc lãnh đạo hai nước quyết định sẽ sớm tổ chức kỳ thi kỹ năng đặc định tại Việt Nam, ông Lê Long Sơn cho rằng đây là một "tin vui lớn" với người lao động Việt và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực lao động, giúp người lao động giảm chi phí và thủ tục, nâng cao cơ hội được làm việc ở những thị trường tiềm năng. Trước đây, khi kỳ thi kỹ năng đặc định chưa được tổ chức ở Việt Nam, ông Sơn cho biết, nhiều người lao động muốn sang Nhật làm việc nhưng luôn có tâm lý bất an khi phải bỏ chi phí sang nước khác thi. Vậy mà việc thi này cũng "không có gì đảm bảo" vì thực hiện qua trung gian, dễ phát sinh thêm chi phí, tiêu cực. Vì vậy, việc tổ chức kỳ thi này, theo ông Sơn, phải do cơ quan Nhà nước quản lý và có sự kiểm soát để tránh phát sinh tiêu cực. Đại diện doanh nghiệp kiến nghị Chính phủ Việt Nam phối hợp với phía Nhật Bản sớm tổ chức kỳ thi kỹ năng đặc định đảm bảo chất lượng và công khai mọi thông tin để người lao động được biết. Ông Sơn kỳ vọng trong bối cảnh Việt Nam đang ở thời kỳ dân số vàng, có nguồn lao động dồi dào, mọi việc sẽ thuận lợi, nâng tầm được chuyên môn, kỹ năng, đưa được nguồn nhân lực trẻ, có trình độ, có kiến thức sang Nhật học hỏi, lao động để sau này trở về xây dựng đất nước. Thực tế, doanh nghiệp và ngành công nghiệp, dịch vụ của Nhật Bản mong đợi tiếp nhận nguồn nhân lực Việt Nam không chỉ là lao động giản đơn, mà còn là những nhân sự có chuyên môn, kiến thức, ý thức tác phong tốt. Vì vậy, cần chú trọng đào tạo và trang bị cho người lao động tư duy "lấy ngắn nuôi dài", vừa làm vừa học để nâng cao năng lực chuyên môn, năng lực ngoại ngữ, kỹ năng làm việc, kỹ năng quản lý… Ông Sơn cho rằng việc này sẽ giúp người lao động phát triển nghề nghiệp tương lai. Lãnh đạo ESUHAI Group kỳ vọng Nhật Bản tiếp tục hỗ trợ cho sự phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam, bởi chính nguồn nhân lực này sẽ góp phần vào sự phát triển của Nhật, qua đó cùng chung tay xây dựng một Việt Nam phát triển và một Nhật Bản phồn vinh. Ông Trần Thanh Lương, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Quốc tế (TIC), cũng chung cảm nhận phấn khởi sau khi dự một diễn đàn về hợp tác lao động với rất nhiều điều đặc biệt. TIC là công ty có chức năng cung ứng nguồn nhân lực với kinh nghiệm hoạt động gần 20 năm, trong đó thị trường cung ứng chính là ở Nhật Bản. Đến nay, công ty này đã đưa hàng nghìn lượt thực tập sinh sang Nhật thực tập kỹ thuật. Bộ trưởng báo tin vui và ước mơ lao động Việt đi làm thuê, về làm chủ - 17 Theo ông Lương, trong quá trình tổ chức hoạt động đưa người lao động đi làm việc tại nước ngoài, quy trình tuyển chọn nguồn lao động là khâu vô cùng quan trọng. Nếu thực hiện tốt công tác này ngay từ đầu sẽ có được những hạt giống nhân lực tốt, làm tiền đề thực hiện các công tác tiếp theo, nhằm cho ra đời những nhân tố thực sự chất lượng. Thực tế, ông Lương cho rằng, khó khăn trong công tác tuyển nguồn lao động đã xảy ra khi suy thoái kinh tế chưa có sự hồi phục sau đại dịch Covid-19, rất nhiều quốc gia trên thế giới đã lâm vào tình trạng thiếu hụt nhân lực. Để không lỡ "chuyến tàu phục hồi" sau giai đoạn này, lãnh đạo TIC đưa ra nhiều kiến nghị. Trước hết, ông nhấn mạnh, cần nâng cao chất lượng hoạt động của doanh nghiệp phái cử để tạo niềm tin cho người lao động khi lựa chọn doanh nghiệp đưa đi, trên cơ sở hoạt động theo đúng quy định của pháp luật hai nước. Bên cạnh đó, cần yêu cầu doanh nghiệp phái cử áp dụng triệt để quy định của pháp luật, quy tắc do các tổ chức hiệp hội đưa ra, cam kết tuyển chọn lao động dựa trên tiêu chuẩn khách quan và theo yêu cầu của người sử dụng lao động nước ngoài. Với các cơ quan Nhà nước, ông Lương kiến nghị tăng cường công tác thanh kiểm tra, sàng lọc những doanh nghiệp không đủ điều kiện hoạt động. Đặc biệt, cần sớm đưa ra chế tài mạnh để ngăn chặn tình trạng tổ chức, cá nhân không có chức năng tham gia vào quá trình tuyển lao động và thu phí; tổ chức chiến dịch tuyên truyền để người lao động chọn đúng kênh hợp pháp đi làm việc ở nước ngoài thay vì phải qua khâu trung gian, dẫn dắt bên ngoài.