Thứ Ba, 19 tháng 12, 2023

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG THÁNG 12 NĂM 1972!

Tháng 12 năm 1972
Chuẩn bị cho chiến dịch sát thủ Linerbaker II, Mỹ tập trung 200 máy bay chiến lược B-52 ( 150 từ Guam, 50 từ Thái Lan ) và 1070 máy bay chiến thuật, với 350 F-4E, 72 F-4D cùa Tập Đoàn Không Quân số 7 và 8, cùng 140 máy bay A-6, A-7 của 2 tàu sân bay USS Coral Sea và USS Hancock, cùng các loại cường kích, tiêm kích, yểm trợ khác. Nhiều tàu chỉ huy, dẫn đường, tên lửa, radar, bảo vệ, cấp cứu … cũng tập trung cho chiến dịch tội ác nầy. Một “ cơn hồng hỏa ” chưa từng có trên bầu trời, mặt đất Bắc Việt Nam sắp xảy ra mà Thượng Đế không hề hay biết-hoặc có biết mà vẫn mặc nhiên để cho Mỹ hành động-vì Chúa Trời yêu quý đế quốc Mỹ hơn con trai Jesus của mình đã hạ thế 2.000 năm trước với bao khó nhọc tội tình nhằm gầy dựng thế gian theo ý của Ngài ?! Ôi ! Chúa kính mến và nhân từ của nhân loại !
     Phần ta, Sư đoàn Phòng Không 361 được bố trí bảo vệ Hà Nội, gồm 3 Trung đoàn SAM-2 có tên mật hiệu Thành Loa, Cờ Đỏ, Hùng Vương ; 5 Trung đoàn cao xạ .
     Sư đoàn 363 bảo vệ Hải Phòng, gồm 2 Trung đoàn tên lửa SAM-2, có tên Hạ Long, Nam Triệu và Trung đoàn cao xạ Sông Cấm .
     Sư đoàn 365, 375 Phòng Không được bố trí xung quanh các vùng lân cận liên hoàn .
     4 Trung đoàn radar có tên Phù Đổng, Sông Mã, Ba Bể, Tô Hiệu khẩn trương và bí mật vào vị trí chiến đấu .
     Ngoài ra, ta còn có 364 đội Tự vệ, Dân quân với 1.428 khẩu 12 ly 7, 14 ly 5, pháo 57 ly cùng hàng vạn khẩu súng trường … tham gia bố trí thành thiên la địa võng để bảo vệ bầu trời mặt đất Hà Nội-Hải Phòng và các vùng lân cận trước cuộc tấn công lớn nhất lịch sử nước Mỹ từ cổ chí kim dành cho một Dân Tộc yêu chuộng hòa bình và tự do .
     Ta không có được tên lửa hiện đại của Liên Xô viện trợ vì sự thỏa hiệp, hòa hoãn của Liên Xô với Mỹ kéo dài từ thời Nikita Khrut sôp“ xét lại ” đến giờ, nên các loại khí tài như SAM-3, SAM-4, SAM-5... ta không được trang bị. Phải dốc sức thương thảo với bạn, mãi-một thỏa thuận về vũ khí phòng không trong mức độ khả dĩ nhất-mới đạt được giữa hai Chính Phủ từ đầu năm 1972. Đã vậy ta còn phải có thời gian chờ đợi trong tâm trạng của kẻ cô thân sắp bị cướp tràn vào nhà với đầy đủ hung khí và thần chết đi theo. Tháng một, rồi tháng hai. Tháng ba, rồi tháng năm. Rồi qua hết những ngày giữa năm. Rồi tháng chín, tháng mười. Rồi tháng mười một cho đến những ngày giữa tháng 12 năm 1972 ... hỏa tiển SAM-3 mà Nhân Dân ta rất cần vẫn chưa tới kịp trong những sớm hôm mòn mỏi đợi chờ. Và buồn thay, khi ta nhận được tin vui thì những ngày khốc liệt cuối cùng cũng đã qua rồi sau mùa Noel máu lửa. Đó là khi ta phải chờ đến những tờ lịch cuối cùng năm 1972 sắp gỡ xuống, Binh Chủng Phòng Không Việt Nam mới nhận được loại tên lửa SAM-3 hiện đại hơn loại ta đang có là SAM-2. Một sự trễ nải không đáng có và rất đáng buồn cho tình đồng chí anh em một thời mặn nhạt. SAM-3 sở hữu tốc độ nhanh, 2 tên lửa được đặt trên một bệ phóng, khả năng chống nhiễu cao. Vậy mà, trong những ngày sinh tử, mất còn với tên đế quốc hùng mạnh và hung dữ nhất hành tinh, ta vẫn buộc phải chiến đấu với cái mà ta đã có, cái mà anh em bè bạn đã dành cho ta trong những năm tháng bùi ngọt chát chua bên những nghịch cảnh trớ trêu đôi lúc đến phũ phàng .
     Nhưng, giặc cướp đã đến nhà, không thể chờ người anh em xa ( Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Liên Xô Berezhnev vừa đón tên sát nhân chủ Nhà Trắng trên một du thuyền ) hay ông hàng xóm nhà gần vừa ngoảnh mặt quay lưng đón tiếp Tổng Thống Hoa Kỳ bằng món chân vịt Bắc Kinh trước khi Nixon lên đường đến Mạc Tư Khoa. Thằng anh Cả, thằng anh Hai đã mặc nhiên mở cửa sau cho giặc vào nhà và nói cho chúng nghe những điều cơ mật. Một sự phản bội có chọn lọc của những tên khôn lõi Sô-vanh ? Mặc ! Thánh Gióng nhổ được tre làng làm vũ khí, ta cũng phải học Tổ Tiên để mà đánh giặc giữ nhà, giữ đất nước ta yêu ! Cay đắng ư ? Nhân Dân ta chẳng đùa cho ai cái vị bồ hòn xót lòng, cái vị ớt xé dạ ấy, mà phải nuốt vào ngực, nuốt vào bụng, nuốt vào tận tâm can mình để biết trên đời nầy còn có một thứ tinh đồng chí anh em đảo điên, phũ phàng như vậy ! Ta phải ngẫng mặt lên trước sự bẽ bàng để hiểu vết đâm sau lưng của những người không phải kẻ thù nó đau đớn thế nào, nó quằn quại ra làm sao bên nụ cười lẳng lơ của tình bè bạn !
     Chỉ thương cho người bạn thủy chung cắt máu ăn thề Cuba khi nhận tin Việt Nam sắp vào trận lớn, đã gom góp những quả tên lửa Sam-3 bỏ xuống tàu, sốt lòng sốt dạ ngày đêm tăng tốc vượt Đại Tây Dương, Thái Bình Dương chở sang cho người anh em Việt nam đánh giặc ... thì mãi đến tháng 1-1973 con tàu keo sơn tình sâu nghĩa nặng đó mới cặp được bến cảng Hải Phòng. Những giọt nước mắt thâm tình đã rơi trong những ngày mùa đông ấm nghĩa bạn bè muối mặn gừng thơm .
     Lệnh từ Bộ Tư lệnh Phòng Không-Không Quân đã đến từ mấy hôm trước :
     - Tình hình rất khẩn trương. Các cấp chỉ huy cần cho Bộ đội sẵn sàng chiến đấu. Cần có kế hoạch tiếp đạn cho tên lửa thật đầy đủ. Phải bảo đảm vũ khí, trang bị sẵn sàng chiến đấu với hệ số kỹ thuật cao nhất. Thông tin liên lạc phải thường xuyên thông suốt. Cần tổ chức báo động để kiểm tra các đơn vị …
     Và bọn chằn tinh mũi lõ, mắt xanh, tay móng vuốt bên kia Tây bán cầu đã tới. Chúng sẽ dội bom lên nỗi kinh hoàng của nhân loại trong thế kỷ 20 .
    Trong một cuộc họp mở rộng để bàn thêm về cách đánh địch, nhiều phi công đã bàn và đưa tay tình nguyện chọn cách biến máy bay MiG thành tên lửa lao thẳng vào B-52. Một phương án mà không một cán bộ chỉ huy nào dám đưa ra khi nghe Đại tướng Võ Nguyên Giáp trước đó đã có ý kiến phê bình tư tưởng chiến đấu “ một đổi một ” trong trận đánh chiều ngày 10 tháng 5 của các phi công. Nhưng trận nầy là trận cuối cùng, Mỹ muốn ăn thua đủ với Nhân Dân ta, muốn bình địa Hà nội, muốn đưa Hà nội trở về thời kỳ đồ đá, thì đã chạm đến trái tim và linh hồn của Dân Tộc Việt Nam từ ngàn đời Âu Lạc, việc phải hy sinh bản thân mình cho thắng lợi của Dân Tộc, không một phi công nào không muốn sẵn sàng biến thân mình thành trái đạn lửa để hiến dâng cho Tổ Quốc ! Các cán bộ chỉ huy đơn vị nhìn anh em, xúc động đến nghẹn ngào, mãi sau mới nói được :
    - … Nhưng trước hết ta phải tìm cách tiếp cận và đánh chúng bằng tên lửa. Phải hy sinh là trường hợp cuối cùng, các đồng chí à !
     Bất ngờ tiếng vỗ tay vang lên. Một giai điệu hùng tráng xuất phát từ tình yêu dành cho NHÂN DÂN-ĐẤT NƯỚC không chút gượng ép, khiên cưỡng. Quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh !
     - Chúng tôi tình nguyện, các Thủ trưỏng. Hãy tin tưởng chúng tôi !
    Rồi một vị chỉ huy cấp trên bước vào, vừa kịp nghe ý kiến sau chót của các phi công, đã nghiêm sắc mặt, hạ mệnh lệnh cùng anh em :
     - Các đồng chí phải tuân thủ nghiêm ngặt chiến thuật và lối đánh đã được phổ biến. Không được đánh theo cách đánh riêng của mình. Rõ chưa !? Bộ Tư Lệnh Binh Chủng chưa cần các đồng chí phải biến mình thành tên lửa !
     - Rõ, thưa đồng chí Thủ trưởng ! Nhưng …
     - Ở đây là mệnh lệnh !
     - Dạ, rõ !
     Nguyễn Văn Bảy-người từng sử dụng cách đánh giáp lá cà bằng MiG-17-từng lái MiG-17 chỉ có súng 37 mm và 23 mm mà hạ 4 con ma F-4, 1 con F-8, 1 con F-105, và 1 tên “ hiệp sĩ thánh chiến ”-vừa bước vào, nháy mắt rồi đưa tay chào các phi công trẻ . 
    - Tốt lắm. Sự dũng cảm chỉ sợ thiếu, không sợ thừa. Phi công thì hơn ai hết cần phải cho bọn Mỹ biết rằng Phi công Việt Nam còn sở hữu cái quý giá hơn cả những chiếc máy bay hiện đại, tối tân của Mỹ. Đó là tinh thần quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh. Nhưng trong trường hợp nầy, trươc hết các đồng chí nên nghe lệnh chỉ huy. Chừng nào ta không còn cách đánh nào khả dĩ hơn để khuất phục thằng Mỹ, tôi sẽ đi cùng các đồng chí ..! Chúc thắng lợi !
     Các phi công đàn em vổ tay hét vang tên anh hùng Nguyễn Văn Bảy :
    - Chúng em sẽ làm theo ý kiến anh Bảy. Chúng em sẽ giáp lá cà ..!
     Sau đó là tiếng cười thật vang, thật đượm cùng những cái vẫy tay thấm thiết dành cho người đồng đội từng trải, gan lỳ .
    Một ngày ắng lặng đi qua trong cảm giác bão táp đối với những người lính dạn dày trận mạc. Sự im lặng sau một trận đánh thường báo hiệu cho trận đánh dữ dội tiếp đến. Mấy lượt máy bay trinh sát của Mỹ đã bay vào vùng trời Hà Nội từ sáng sớm đến chiều. Trực chiến 24/24 từ Bộ Tổng, Bộ Tư Lệnh Quân Chủng Phòng Không-Không Quân đến đơn vị Dân quân, Du kích. Mắt thần và mắt người đều hướng lên bầu trời. Và …
     Thang lệnh vào trạng thái chiến đấu cấp I
      19 giờ 20 phút ngày 18 tháng 12 năm 1972 đã đến trong màu sương mù của mùa đông gió mùa .
     Một đơn vị radar đã phát hiện địch và thông tin được truyền đi khẩn cấp .
     19 giờ 30 phút . 
     Loa phát thanh từ các đầu đường, ngõ hẽm, ngõ làng vang lên giọng nói khẩn trương lo lắng của người nữ phát thanh viên yêu mến .
     - Đồng bào chú ý. Máy bay địch xuất hiện cách Hà Nội 50 km từ hướng Tây … Đồng bào chuẩn bị …
      Những chiếc xe đạp trên đường tấp vào lề. Ngươi đi bộ trên phố nhìn lên trời, lắng tai nghe ngóng, nói với nhau mấy lời rồi dắt nhau đến bên các hố tránh bom trên các vĩa hè bình tỉnh chờ đợi. Người già và trẻ em được đỡ xuống hầm trước. Thanh niên, đàn ông, trật tự khu phố tiếp tục quan sát và kêu gọi người đi dường khẩn trương tìm chỗ trú ẩn, không được chủ quan, khinh địch .
       Một bầy F-111A bất thần đột nhập, trút bom ào ạt xuống các sân bay, trận địa tên lửa, ụ pháo phòng không. Một quả bom rớt xuống cách vị trí tên lửa của Tiểu đoàn 59 thuộc Trung đoàn 261 hơn 50 mét, nhưng các sĩ quan điều khiển, trắc thủ đều bám chắc trận địa. Bốn quả tên lửa đã được bắn đi trước đó nhưng không đem lại kết quả .
    18 giờ 44 phút, hàng trăm lượt bom B-52 đồng loạt trút xuống Long Biên, Đông Anh, Yên Viên, Gia Lâm … Bầu trời, mặt đất đỏ lửa. Cả thành phố và nội ngoại vi tròng trành như đang trôi trên sóng động đất chia phân lục địa .
    Tiểu đoàn 59 của Trung đoàn 261 vừa tinh chỉnh lại các thiết bị sau khi bị một quả bom của bọn cường kích áp chế nổ gần .
    19 giờ 59 phút .
    Tiểu đoàn Trưởng Nguyễn Thăng đang đứng bên bộ phận radar hét to cho sĩ quan điều khiển Dương Văn Thuận sau khi nhận mệnh lệnh từ Sở chỉ huy Trung đoàn phải bám diệt cho kỳ được tốp 671 đang bay vào ở độ cao 10.000 mét :
    - Mục tiêu ! Phương vị 350, cự ly 30 km, độ cao 10.000 mét, phát sóng !
    - Phát hiện mục tiêu. Phương vị 352, không rõ cự ly, Độ cao 10.000 mét, theo tốp, bay vào …
    Tiểu đoàn Trưởng Nguyễn Thăng nhanh chân bước qua chỗ màn hiện sóng của sĩ quan điều khiển, rồi quay lại vị trí chỉ huy để kiểm tra tín hiệu tốp mục tiêu cùng đường bay trên bản tiêu đồ và lập tức ra lệnh cho sĩ quan điều khiển Dương Văn Thuận chuẩn bị phóng tên lửa .
   - Chuẩn bị …
   Lệnh tiếp tục :
   - Bám sát !
  Khi thấy chiếc B-52 đội dải nhiễu tiến vào trên màn hiện sóng, Thuận báo cáo :
  - Nhìn thấy mục tiêu !
 Tiểu đoàn Trưởng Nguyễn Thăng khoát tay, ra lệnh :
   - Phóng !
   Sau đó vị chỉ huy cùng các trắc thủ tập trung vào màn hiện sóng và tay quay, vừa bám sát mục tiêu vừa lái đạn. ( vê tay quay rất khó, sơ suất chút là bị giật ngược, hoặc lỡ trớn và đường đạn sẽ xê dịch hàng km ) 10 giây. 20 giây. Và 24 giây .. ! Quả tên lửa vẫn bay tới. Chợt đèn báo hiệu sáng lên, xác nhận ngòi nổ cận đích. Rồi quả thứ hai nháy sáng trên bảng điều khiển, báo hiệu đạn nổ tốt. Các trắc thủ căng mắt nhìn dải nhiễu các mục tiêu biến mất trên màn hiện sóng phương vị và nhanh chống tụt độ cao trên màn hiện sóng góc tà, rồi hét to : 
    - Trúng mục tiêu ! B-52 rơi rồi ..!
     Chiếc B-52 đầu tiên có ký hiệu “ G ” mang mật danh Charoal do Bob Certain lái bị bắn hạ khi vừa bay tới mục tiêu quăng bom. Một chiến công làm nức lòng tất cả các đơn vị. Lúc đó kim đồng hồ chỉ : 20 giờ 18 phút !
     Một bầu trời thiên la địa võng với các lưới lửa giăng đầy từ mặt đất lên tầng cao hơn 10 km trên không trung mùa đông buốt giá .
     Đêm 18 tháng 12, có tất cả 90 chiếc B-52 với 3 lượt bom ném xuống Hà Nội và vùng xung quanh. Một chiếc pháo đài bay B-52 mang 30 tấn bom. Chưa tính hàng trăm phi vụ cường kích trút bom như rải cát xuống nội thành và ngoại vi Hà Nội .
    Nhưng cuối cùng, qua đêm đầu , Mỹ đã mất 3 chiếc B-52 bị bắn rơi tại chỗ. Một chiếc bị thương cùng 7 máy bay chiến thuật đền tội. 15 tên giặc lái bị bắt sống cùng số khác vùi xác xuống đất đen, khém rừng, đầm cỏ.
    Ngày 19 tháng 12, hàng trăm lượt B-52 và các loại máy bay cường kích ném bom 3 lần vào trút bom xuống cầu Long Biên, Đài tiếng nói Việt Nam, nhà máy Cao Su Sao Vàng cùng một số mục tiêu quân sự, kinh tế khác ở trung tâm Hà Nội và vùng ngoại thành .
     Cả nước và cả thế giới lo lắng và cảm thấy bất an cho Hà Nội. Chưa bao giờ giọng nói của người xướng ngôn viên quan trọng và thiêng liêng đến vậy. Không một nơi nào trên thế giới có thể chịu đựng được sự tàn phá khủng khiếp và đầy đe dọa của pháo đài bay chiến lược B-52. Mỹ biết Việt Nam không có vũ khí nào tối tân hơn Sam-2 và những vũ khí đã sử dụng. Trong những tính toán của Mỹ sau khi Nixon tới Trung Hoa gặp Mao Trạch Đông và các tay to mặt lớn trong Tử Cấm Thành đỏ uống rượu Mao Đài và sang Liên Xô gặp Leonid Brezhnev Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Liên Xô cùng những ly Vodka nồng đượm, thì Việt Nam sẽ không thể nào vượt qua được thử thách quá sức chịu đựng của lần tập kích lớn nhất lịch sử chiến tranh nầy của Mỹ. Sam-2 và MiG-21 không thể làm trầy da trốc dảy được B-52 của Không lực Hoa Kỳ. Cơn hồng thủy bằng lửa đặc đang đổ xuống Hà Hội và nó sẽ cuốn trôi tất cả ý chí, tinh thần, năng lực bé mọn, nghèo nàn của Bắc Việt Nam. Thượng đế đang đứng về phía Mỹ !
     Tin B-52 bị bắn rơi làm Nixon đau đầu nhức óc, nhưng chừng ấy thì chưa đủ để tên kền kền mũi to mặt bự và bụng dạ đầy nham hiểm ấy tin rằng Việt Nam không cúi đầu khuất phục. Tin hàng chục chiếc B-52 và các máy bay tối tân khác bị rơi, bị hỏng không làm Nixon biểu hiện sự nao núng ra mặt. Hắn ta ra lệnh giấu nhẹm thông tin xấu nhận được về B-52. Một cốc Wishky làm hắn sáng suốt quyết định tiếp tục thực hiện chiến dịch Linebacker II cho đến thắng lợi cuối cùng !
    Thủ Đô Hà Nội thành toa lâu đài lửa, thành bãi tha ma, thành hỏa ngục, thành hoang mạc tiền sử, thành mảng lục địa lửa bị cắt rời ra và đang trôi đỏ trong sự tưởng tượng đầy mơ mộng của Lầu Năm Góc cùng cái đầu chếnh choáng mấy chút thi vị có mùi máu khét của Nixon .
     Vậy rồi … 9 phút sau, người phát thanh viên của Đài tiếng nói Việt Nam lại cất giọng triu mến, thân thương gửi đi tin tức và tình cảm yêu thương đến với mọi người. “ Đây là tiếng nói Việt Nam, phát thanh từ Hà Nội, Thủ Đô nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa …” Cũng giọng nói ấy. Cũng cái giọng Việt Nam hiền hòa, hồn hậu, nhẫn nhịn và kiên dũng ấy vừa đưa tin cho đồng bào cả nước và nhân loại yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới biết rằng trước sức mạnh tàn bạo phi nhân của đế quốc Mỹ, Hà Nội-Việt nam vẫn ngẩng cao đầu, Hà Nội-Việt Nam vẫn chiến đấu và chiến thắng. Hơn 10 máy bay B-52 đã bị bắn hạ cùng với hàng chục chiếc máy bay tiêm kích, cường kích hung hăng khác. Hơn 30 giặc lái đã bị bắt sống…
       Hàng trăm phóng viên các hãng Thông tấn và báo chí phương Tây ngay lập tức có mặt tại khách sạn Metropon chụp hình, phỏng vấn tù binh Mỹ và đưa tin về cho các tờ báo, bản tin, chương trinh phát thanh, truyền hình chính quốc. Một làn sóng phản đối chiến tranh, lên án đế quốc Mỹ dâng cao chưa từng có sau những bản tin chứa đựng đầy sự thật, giá trị nhân bản và tính chất khốc liệt có được từ Hà Nội-Việt nam. Bản chất tàn bạo vô nhân và vô liêm sỉ của đế quốc Mỹ và bọn hiếu chiến trong Nhà Trắng bị bốc trần dưới nắng mặt trời. Thượng đế đi vắng. Chúa của người Mỹ đang bị mê hoặc bởi rượu và những ngôi sao được đúc nên bằng thịt nguội trong các Thánh đường .
    Một nhà báo Pháp bình luận : Bầu trời, mặt dất Hà Nội những ngày nầy nói lên một điều tương phản giữa hai nguồn sức mạnh : Một sức mạnh vật chất tàn bạo của thời đại đối đầu với một sức mạnh của chân lý “ Không có gì quý hơn độc lập-tự do ” từ một Dân Tộc kiên cường, bất khuất !
     Hoặc ý kiến của một nhà báo châu Âu khác : Cứ cái đà nầy, thì liệu lực lượng Không Quân chiến lược của Mỹ sẽ còn được bao nhiêu chiếc pháo đài bay B-52 nữa nếu chiến dịch kéo dài đến giữa năm 1973 ? Người Mỹ có 3 cái để tự hào : Tên lửa tầm xa, tàu ngầm hạt nhân, máy bay ném bom chiến lược B-52. Bây giờ thì một con bài chiến lược, một vầng hào quang của Mỹ đã tắt lịm dưới bầu trời Hà Nội vào những ngày nầy mất rồi. Thật tội nghiệp cho nước Mỹ ! Thượng đế lại động lòng thương cho sức mạnh hùng đồ của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ vừa bị tổn thương .
     Ngày 20 tháng 12, 78 lần chiếc B-52 ném bom, nhân cho 3 lượt trận cùng với hơn 100 bận máy bay cường kích Mỹ trút bom xuống Hà Hội và vùng lân cận. Cũng là ngày và đêm tử thần của phương Đông xa xôi dành cho giặc lái Mỹ. Bộ đội Phòng Không của ta bắn 36 quả tên lửa. Có chiếc B-52 trúng cả 3 quả tên lửa cùng một lúc làm cho 30 tấn bom chưa kịp ném nổ tung trên không, chỉ 2 tên giặc lái trong kíp lái còn sống sót và bị bắt làm tù binh. Tư Lệnh Binh Chủng Phòng Không Lê Văn Trị phải lên máy liên lạc để thông báo tình hình cho các đơn vị : “ Chúng nó đang rối loạn đội hình, hoảng loạn kêu cứu. Các đơn vị bám lấy quyết tâm mà tiếp tục đánh tốt lên, giành chiến thắng lớn hơn ..! ” 
    Đợt hai, hơn 50 máy bay B-52 chuẩn bị rời sân lên đường mang bom đến Hà Nội để gây tội ác, lập tức có lệnh hủy bỏ. Một việc làm chưa hề có tiền lệ đối với B-52. Thêm 3 B-52 bị rơi, 1 chiếc bị thương, cùng 12 máy bay chiến thuật khác làm mồi cho tên lửa và các cỡ pháo, súng phòng không. 14 tên giặc lái được dẫn về Hỏa Lò cho mặc áo tù .
    Ngày 22 tháng 12. Thêm một ngày, một đêm ác liệt chưa từng với người Hà Nội. Bọn địch dã man ném bom đánh sập Bệnh Viện Bạch Mai, giết chết 28 bác sĩ, y tá, nhân viên bệnh viện và hàng trăm bệnh nhân. Hàng nghìn người dân, gồm cả học sinh, trẻ con ở các trường học, nhà trẻ, khu dân cư khác bị thương, bị giết vì hàng ngàn tấn bom rải thảm trong ngày. 5 máy bay B-52 bị tên lửa hạ, 8 chiiếc máy bay chiến thuật khác của địch bị bắn rơi .
    Trước đó, các Trung đoàn Không Quân đều cho các Biên đội xuất kích, nhưng chủ yếu là làm nhiệm vụ phối hợp chiến thuật với Bộ đội tên lửa và pháo phòng không. Một điều kiện không thuận lợi nữa mà các sĩ quan tham mưu Không Quân chưa lường hết được là khả năng phát nhiễu của các lực lượng cường kích và tiêm kích Mỹ. Riêng B-52 sở hữu đến 15 thiết bị gây nhiểu. F-4 thế hệ mới và các loại máy bay chiến thuật khác sở hữu 19 loại thiết bị kỹ thuật phát nhiễu, thu nhiễu để có thể gây khó cho tiêm kích MiG của chúng ta. Vì vậy, tuy rất muốn xả thân vì Hà Nội, xả thân vì các người anh em cùng Quân Chủng Phòng Không-Không Quân bắn hạ thật nhiều máy bay địch, các phi công nhiệt huyết và dũng cảm của ta cũng không có phương án tối ưu để thực hiện được ước muốn của mình. Lại chủ yếu là đánh đêm. Toàn bộ lực lượng phi công tiêm kích của ta chỉ có 17 tay lái được đào tạo sau khi tham gia chương trình huấn luyện đánh đêm từ hai năm nay-1971-1972-nhưng chưa thật sự có nhiều kinh ngiệm, cũng như tìm ra cách đánh hiệu quả. Dù vậy, với chiếc F-4 mà Nguyễn Văn Nghĩa bắn hạ trong buổi chiều ngày 23 tháng 12 đã thành tin vui có sức động viên tinh thần các phi công, nhất là các phi công lái đêm, tạo sự tư tin cho toàn đơn vị vào trận trong những ngày ác liệt sắp tới .
   Đó là một trận quyết chiến bất ngờ diễn ra trên bầu trời Bắc Thanh Hóa-Nam Hòa Bình-chiều 23 tháng 12 của hai phi công ta với gần 30 máy bay của địch .
    14 giờ, Biện đội 2 chiếc MiG-21 nhận mật lệnh “ Ấp Bắc-Cờ Hồng ” ( mật mã ), lập tức rời đường băng xuất kích. Số 1 là phi công Nguyễn Văn Nghĩa, số 2-phi công Nguyễn Văn Kiền .
    Vừa cất cánh, Biên đội được lệnh lấy độ cao 8.000 mét. Hướng bay 200 độ. Sau đó 290 độ. Tốc độ 1.200 km/h .
     Thông báo từ đài dẫn đường cho hay : quạ đen 6 tốp, bên phải 45 độ, khoảng cách 25 km, độ cao 6.000 m. Một tốp địch khác ở vòng ngoài-cách 40 km . 
    Nguyễn Văn Nghĩa nhận định : tình huống sẽ rất khẩn cấp, trận chiến sẽ phức tạp, căng thẳng ! Nghĩa nhắc số 2 giữ cự ly, bám chặt đội hình, tập trung quan sát .
    Vưa lấy nghiêng, Nghĩa phát hiện 4 con F-4, cự ly 20 km. Cùng lúc số 2 cũng hô to : bên phải 4 chiếc !
    Địch đông gấp hơn 10 lần, đánh sao đây ? Nghĩa không chần chừ, quyết định đâm thẳng vào tốp 4 gần nhất, phía bên phải. Thời gian sẽ là “ lực lượng tăng cường ”. Nghĩa lập tức ra lệnh cho Nguyễn Văn Kiền tấn công tốp bên trái .
    Máy bay địch đông như ruồi, lúc nhúc vòng trong, vòng ngoài. Tên lửa dày như nan quạt, chúng phóng như mưa, phải hết sức nhanh nhẹn và tỉnh táo để tránh, vừa lừa thế công kích địch. Vừa lúc đó thì một tình huống có lợi xuất hiện trong tích tắc. Vã mồ hôi. Nghĩa thấy mặt mình bị phù lên vì áp lực gia trọng lớn từ các động tác lái kỹ thuật để tránh tên lửa một cách quá kịch liệt. Chiếc MiG-21 của Nghĩa có lúc bị chấn động, rùng lắc dữ dội bởi tên lửa địch bay gần. Chút lợi thế phù du đã đi qua .
    Cứ như vậy cho đến lúc Nguyễn Hồng Nhị-chỉ huy từ mặt đất hét vang lên trong máy liên lạc : “ Kiên quyết tấn công ! Đánh nhanh, rút nhanh !”
    Thật dễ chịu, ngay lúc hỗn nghiệt đó thì tình thế xuất hiện, vị trí tấn công thuận lợi. Ngĩa liền đưa một con F-4 vào vòng ngắm. Ở cự ly bắn hiệu quả, bằng đường ngắm kinh ngiệm, Ngĩa ấn nút phóng tên lửa. Con ma trúng đạn. Số 2 reo to : “ Cháy rồi !” Nghĩa lập tức kéo máy bay vụt lên cao theo động tác xuyên khoan, ngửa mình rồi lật úp lại một cách điêu luyện và đầy xuất thần trước bầy F-4 đang ngơ ngác hỏi vì sao chúng bắn hàng chục quả tên lửa mà không trúng một quả nào ? Hình ảnh Đại tá Toon huyền thoại lái MiG xuất hiện trong đầu đầu bọn giặc lái Mỹ .
   Vừa ghé mắt quan sát phía bên trái, Nghĩa lại nhìn thấy con F-4 đang vòng phải, anh nhanh chống tăng lực, vòng gấp chiếm lĩnh phía sau tạo lợi thế, chỉnh điểm ngắm, và ấn nút phóng quả tên lửa còn lại ở cự ly 1.000 mét, rồi giật mạnh cần lái, thoát ra khỏi vùng nổ của tên lửa .
   Nghĩa gọi qua radio cho số 2, nhận được trả lời “ Nghe tốt ”. Thật sung sướng ! Số 2 an toàn nhận lệnh “ Thu quân ! ”, rồi cùng số 1 bay về Đa Phúc .
   Tình huống bất ngờ xảy đến. Sở chỉ huy cho hay : “ Tất cả các sân bay đều bị địch phong tỏa. Đường băng sân bay Đa Phúc bị đánh hỏng nặng !”
   Nhiên liệu đang cạn dần. Lệnh từ Sở chỉ huy cho hai phi công bay về hướng Vạn Tường-Vĩnh Phúc, giữ độ cao 4.000 mét để nhảy dù !
   Thoáng băn khoăn khi nghĩ đến việc rởi bỏ con MiG thân yêu khi nó vẫn tỏ ra kiên cường vừa cùng anh trải qua cuộc chiến đấu sinh tử và hiện vẫn ngoan ngoản theo sự điều khiển của anh. Anh quyết định chớp nhoáng : cùng con MiG bay về Đa Phúc, dù có hạ cánh xuống đường lăn cũng cam !
   Nguyễn Văn Nghĩa đã hạ cánh xuống đường lăn đúng như sự mường tượng của mình. Đất đá ngổn ngang, xung quanh đầy bụi khói. Các chiếc F-4 đang gầm rú vỡ trời. Mặc chúng, sau khi tiếp đất với những cú rung giật tội nghiệp như cơn đau tấy nhức của con MiG, Nghĩa cố đưa chiếc máy bay đáng thương của mình vào ụ sơ tán an toàn dưới làn đạn Miligan dày như trấu rải của quân thù. Anh âu yếm vỗ nhẹ vào con MiG, thầm thẻ với nó: “Tuyệt vời, con cưng à!”
Ở đầu đằng Đông sân bay, Nguyễn Văn Kiền cũng hạ cánh thành công trong tọa độ lửa của địch, hiên ngang như một kiện tướng dũng mãnh.
Biên đội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Anh em xúm lại với Kiền và Nghĩa trong niềm vui sướng vô bờ.
   - Một kỳ công !
   - Một trận đánh không có trong bất kỳ giáo án huấn luyện nào !
   - Một trận thắng mở màn!
Chiến công nối tiếp chiến công./.

Yêu nước ST.

Lợi dụng vu cáo, bôi nhọ Đảng, Nhà nước từ vụ án liên quan ông Lưu Bình Nhưỡng

 

Theo thông tin từ Công an tỉnh Thái Bình, ngày 14/11/2023, ông Lưu Bình Nhưỡng (nguyên Phó trưởng Ban Dân nguyện của Ủy ban Thường vụ Quốc hội) bị Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thái Bình ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh khám xét nơi ở, nơi làm việc để điều tra về tội "Cưỡng đoạt tài sản", quy định tại Điều 170, Bộ luật Hình sự.

NGĂN CHẶN, ĐẨY LÙI “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HOÁ” CỦA SĨ QUAN CẤP PHÂN ĐỘI TRONG QUÂN ĐỘI – TỪ GÓC ĐỘ THA HOÁ

 


Ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” của sĩ quan cấp phân đội có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ trong Quân đội; là vấn đề có tính nguyên tắc, sống còn và là nội dung cốt lõi để xây dựng “Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức”.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH - SỰ HỘI TỤ VÀ KẾT TINH ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM!

     Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến đạo đức và quá trình tu dưỡng đạo đức của người cách mạng. Sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh gắn liền với sự phát triển và xây dựng đạo đức cách mạng mà Người là biểu tượng sáng ngời!

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của một người cộng sản mẫu mực, kiên định trên lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp với chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa quốc tế chân chính của giai cấp công nhân. Đó là đạo đức của người kiên trì đấu tranh, dâng hiến trọn cuộc đời và sự nghiệp của mình cho lý tưởng và mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng xã hội và giải phóng con người.

Đạo đức Hồ Chí Minh là sự hội tụ và kết tinh đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam. Người là tấm gương mẫu mực về giữ gìn, phát huy những giá trị đạo đức truyền thống đó để trở thành nguồn lực nội sinh của dân tộc, góp phần thúc đẩy sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Trung với nước, hiếu với dân
Trung, hiếu là đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam nói riêng và của người phương Đông nói chung, được Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển trong điều kiện mới. Theo Người, trung với nước là trung thành vô hạn với lợi ích quốc gia, dân tộc, với sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Đảng, với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, làm cho đất nước “sánh vai với các cường quốc năm châu”.

Ngay từ những ngày đầu cách mạng, khi mở lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ đầu tiên ở Quảng Châu, Trung Quốc, một trong những vấn đề đầu tiên Hồ Chí Minh quan tâm là đào tạo những người tự nguyện phấn đấu, hy sinh suốt đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người; trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, biết đoàn kết và tổ chức nhân dân cùng phấn đấu vì sự nghiệp chung.

Khi Đảng được thành lập, Người luôn nhắc nhở các đồng chí của mình: “Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau...”(2).

Lòng yêu nước, trung với nước là cơ sở để Hồ Chí Minh đúc rút thành thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”(3).

Về chữ hiếu, theo Hồ Chí Minh là hiếu với dân. Người chỉ rõ: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân… Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ lợi ích của nhân dân”(4). Hiếu với dân là “phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(5). Theo đó, Đảng lãnh đạo để nhân dân có quyền và thực hiện quyền làm chủ; lãnh đạo phải gần dân, sát dân để hiểu dân tình, dân tâm, dân nguyện; phải “kính trọng, lễ phép” với nhân dân, học hỏi nhân dân, thường xuyên quan tâm cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí để nhân dân hiểu và thực hiện đúng quyền và trách nhiệm. Vì vậy, “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh(6) .

Trung với nước, hiếu với dân kết tinh trong đạo đức đạo đức Hồ Chí Minh là lòng yêu nước thương nòi, tự hào với truyền thống của dân tộc như Người đã khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy càng sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”(7); là bổn phận và trách nhiệm của mỗi người dân với cộng đồng, với sự nghiệp cách mạng, với sự hưng vong của đất nước; là ý chí và nghị lực vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hy sinh vì mục tiêu chung; là sự tin yêu, kính trọng nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân…

Yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình
Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh là tấm gương cao đẹp về tình yêu thương con người. Khi đất nước chưa được độc lập, tự do, tình yêu thương con người, yêu nước là động lực thôi thúc Người ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Khi tìm thấy con đường cứu nước và giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh tìm cách khơi dậy trong con người Việt Nam lòng yêu nước, niềm tin, ý chí cách mạng để họ đứng lên đấu tranh giải phóng mình, biến ước mơ, lý tưởng thành hiện thực. Đất nước hòa bình, thống nhất, nhân dân bắt tay xây dựng cuộc sống mới, tình yêu thương con người của Hồ Chí Minh là quan hệ gắn bó với nhân dân, là những quan tâm tới đời sống vật chất, tinh thần của mọi tầng lớp trong xã hội.

Tình yêu thương, nhân ái của Hồ Chí Minh là nhân tố xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Hiểu thấu tâm tư, tình cảm của nhân dân, Người đã khơi gợi lòng tự hào, tự tôn dân tộc, biến khát vọng độc lập, tự do thành mục tiêu chung của toàn dân trong từng thời kỳ cách mạng. Lấy lòng nhân ái làm gốc, Hồ Chí Minh nhiều lần kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân vượt qua mọi định kiến để phát huy tài năng, trí tuệ, xây dựng khối đại đoàn kết: “không phân biệt tầng lớp nào, tín ngưỡng nào, chính kiến nào và trước đây đã đứng về phe nào, chúng ta hãy thật thà cộng tác, vì dân nước mà phấn đấu để thực hiện hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ”(8).

Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi vấn đề để giải quyết. Người đã gạn lọc những nét hay, nét đẹp trong đạo lý làm người của ông cha ta để xây dựng nên những chuẩn mực, nhân cách mới cho con người Việt Nam thời đại mới. Đây là phẩm chất nổi bật, cơ bản, trung tâm của đạo đức Hồ Chí Minh; gắn liền với hoạt động hàng ngày của Người, được Người xem là nền tảng của đời sống mới, là mối quan hệ “với tự mình”. Đây cũng là phẩm chất Người đề cập nhiều nhất trong giáo dục cán bộ, đảng viên.

Ngay từ năm 1927, khi viết tập bài giảng Đường kách mệnh cho lớp đào tạo cán bộ đầu tiên của Đảng, người đã yêu cầu cán bộ cách mạng “Tự mình phải: Cần kiệm/ Hòa mà không tư/ Cả quyết sửa lỗi mình/ Cẩn thận mà không nhút nhát/ Hay hỏi/ Nhẫn nại (chịu khó)/ Hay nghiên cứu, xem xét/ Vị công vong tư/ Không hiếu danh, không kiêu ngạo/ Nói thì phải làm/ Giữ chủ nghĩa cho vững/ Hy sinh/ Ít lòng ham muốn về vật chất/ Bí mật. Đối người phải: Với từng người thì khoan thứ/ Với đoàn thể thì nghiêm/ Có lòng bày vẽ cho người/ Trực mà không táo bạo/ Hay xem xét người. Làm việc phải: Xem xét hoàn cảnh kỹ càng/ Quyết đoán/ Dũng cảm/ Phục tùng đoàn thể”(9). Năm 1947, trong tác phẩm Sửa đổi lề lối làm việc, những phẩm chất, tư cách đạo đức đó được Người đúc rút thành: “Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm” và sau này là “Cần, kiệm, liêm, chính”.

Phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính luôn được Hồ Chí Minh nhắc đến mỗi khi Người đề cập đến vấn đề đạo đức; coi là phẩm chất đạo đức cần thiết đối với tất cả mọi người, càng cần thiết đối với cán bộ, đảng viên: “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông/ Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc/ Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính/ Thiếu một mùa, thì không thành trời/ Thiếu một phương, thì không thành đất. Thiếu một đức, thì không thành người(10).

Cần là lao động cần cù, siêng năng, chăm chỉ; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ý lại, không dựa dẫm. Có cần thì việc gì dù khó khăn đến mấy cũng làm được.

Kiệm là tiết kiệm tiền của dân, của nước, của bản thân mình, tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, từ nhiều cái to đến nhiều cái nhỏ, vì nhiều cái nhỏ cộng lại thành cái to, không hoang phí, không bừa phô trương, hình thức. Tiết kiệm là để tích trữ vốn, mở rộng sản xuất, không phải là keo kiệt, bủn xỉn. “Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc lợi ích cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm…Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm”(11).

Liêm là trong sạch, “luôn luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của dân”(12), “không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân”(13), “không tham địa vị, không tham tiền tài... Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa...”(14).

Chính là ngay thẳng, đúng đắn, chính trực. Đối với mình không tự cao, tự đại; đối với người không nịnh trên, khinh dưới, không dối trá, lừa lọc, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết. Đối với việc thì để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà.

Chí công là rất mực công bằng công tâm; vô tư là không được có lòng riêng, thiên vị. Muốn “chí công vô tư” phải chiến thắng chủ nghĩa cá nhân, phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng. Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là dày xéo lên lợi ích cá nhân, mà phải giải quyết hài hòa quan hệ chung riêng, cần ưu tiên lợi ích chung. 

Tinh thần quốc tế trong sáng.
Đây là phẩm chất đạo đức được Hồ Chí Minh thể hiện trong mối quan hệ quốc tế ngay từ những ngày Người bôn ba tìm đường cứu nước. Đó là tình hữu ái với những người lao động, những người vô sản các nước với tinh thần “Bốn phương vô sản đều là anh em”; là tình đoàn kết chiến đấu với những người yêu nước ở các nước thuộc địa và những người cộng sản trong phong trào cộng sản quốc tế; tình hữu nghị với nhân dân các nước, đặc biệt nhân dân Pháp, Liên Xô, Trung Quốc; ủng hộ sự nghiệp cách mạng của mỗi nước và bằng sự giúp đỡ chí tình với tinh thần “giúp bạn cũng là tự giúp mình”.

Đạo đức Hồ Chí Minh về đại đoàn kết quốc tế là sự mở rộng những quan niệm đạo đức, nhân đạo, nhân văn của Người ra phạm vi toàn nhân loại, vì Người là “Người Việt Nam nhất”, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: KHI ĐÃ LẤY BINH LÀM NGHIỆP - NGHỀ LUÔN SẴN SÀNG HY SINH CẢ TÍNH MẠNG!

     LTS: Binh nghiệp - một từ nghe rất đỗi gần gũi, mộc mạc, giản dị nhưng cũng phảng phất, chất chứa đầy gian nan, thử thách. Và thực tế, quyết định gắn bó, công tác lâu dài trong Quân đội nhân dân Việt Nam - theo con đường binh nghiệp cũng là chấp nhận mọi hy sinh, gian khổ, chỉ được phép tiến lên với mục tiêu: Vì nhân dân phục vụ. Để hiểu rõ hơn về một nghề mà đức hy sinh phải trở thành lẽ sống, coi mục tiêu, lý tưởng cao hơn sinh mệnh bản thân, Báo Quân đội nhân dân gửi tới bạn đọc loạt bài “Khi đã lấy binh làm nghiệp”!

Binh nghiệp là gì? Vì sao không gọi là nghề bộ đội hay nghề Quân đội như cách gọi nhiều nghề nghiệp khác mà lại gọi là binh nghiệp? Những câu hỏi tưởng chừng đơn giản nhưng không phải ai cũng hiểu hết, đã thôi thúc chúng tôi tìm hiểu để lý giải thỏa đáng.
Hơn cả một nghề

Vì tính chất nghề nghiệp, đặc thù nhiệm vụ nên ngoài đáp ứng yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ, chỉ những người có phẩm chất chính trị, đạo đức, sức khỏe, lý lịch rõ ràng và tự nguyện phục vụ mới được tuyển chọn vào công tác lâu dài trong Quân đội. Tiêu chuẩn, nghĩa vụ hàng đầu của họ là tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với nhân dân, với Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Đặc biệt, đối với sĩ quan và QNCN còn phải thực hiện nghĩa vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ nhân dân, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao... theo quy định của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam năm 2014, Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng năm 2015.

Thượng tá Nguyễn Đình Tuấn, Chính ủy Trung đoàn 2, Sư đoàn 395 (Quân khu 3) cho rằng: “Vì lý tưởng cách mạng, tinh thần sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân nên quân nhân khác với lao động ở các ngành nghề khác. Họ không đơn thuần chỉ thực hiện chức trách, nhiệm vụ để nhận lương, không thích thì nghỉ việc, nhảy việc khác mà phải chấp hành quy định, kỷ luật khắt khe, chấp nhận nhiều hy sinh, chịu đựng mọi gian khổ, rèn luyện ý chí sắt đá mới dám xông pha vào những nơi gian khó dù biết phía trước là hiểm nguy, phải hy sinh tính mạng. Chính vì thế, binh nghiệp còn hơn cả một nghề và càng không thể gọi là nghề bộ đội hay nghề Quân đội”.

Trải qua cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và có 45 năm công tác trong Quân đội, hàng chục năm lăn lộn, gắn bó với nhiệm vụ xây dựng biển, đảo Tổ quốc, nhiều lần ở giữa lằn ranh sống-chết, Thiếu tướng, Anh hùng LLVT nhân dân Hoàng Kiền, nguyên Tư lệnh Binh chủng Công binh chiêm nghiệm: “Binh nghiệp là một nghề thấm đẫm mồ hôi trên thao trường, máu nơi chiến trường. Binh nghiệp là sự nghiệp quân sự. Chỉ những người tự nguyện gắn bó, công tác lâu dài trong Quân đội như sĩ quan, QNCN, công nhân và viên chức quốc phòng mới gọi là lấy binh làm nghiệp. Lựa chọn con đường binh nghiệp là chọn môi trường rộng lớn, nhiều cơ hội, lĩnh vực cho lớp trẻ được rèn luyện, cống hiến tài năng, phấn đấu vươn lên”.

Cũng là người lính chiến và có 40 năm trong quân ngũ, Đại tá, PGS, TS Nguyễn Thanh Tú, nguyên Phó tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội cắt nghĩa thêm: “Nghiệp” chúng ta đang hiểu có gốc từ Phật giáo (gọi là Kamma) chỉ hành động, hay việc làm xuất phát từ tâm ý mình. Nghiệp là những hành động có chủ ý, sẽ đưa đến những quả báo (hệ quả/hậu quả) tương xứng trong hiện tại và mai sau. “Nghề” là nói đến sự hiểu biết và kỹ năng chuyên sâu về một lĩnh vực chuyên môn. Còn “nghiệp” hiểu theo nghĩa thông thường là “duyên nợ” (duyên nghiệp) với một nghề mà mình đã tự nguyện lựa chọn và theo đuổi suốt cuộc đời.

Nhưng tại sao không nói “giáo nghiệp” mà lại nói “binh nghiệp”? Vì tính chất “quả báo” của nghề. Nghề nhà binh luôn gắn liền với sinh mệnh (sống-chết) tức “quả báo” cao, sâu sắc hơn mọi nghề khác. Các nghề khác thì không như vậy! Chọn binh nghiệp tức là phải tâm huyết cao nhất, sẵn sàng hy sinh, do vậy, phải quyết tâm, phải gắn bó, phải đặt mục tiêu, lý tưởng cao hơn sinh mệnh mình”.

Binh nghiệp - đường nhiều chông gai, thử thách

Xin bắt đầu từ một ví dụ nhỏ. Máy điều hòa nhiệt độ-tiện nghi phổ biến, thiết yếu, quen thuộc với các gia đình, các cơ quan, nhưng ở nhiều đơn vị Quân đội, nhất là các đơn vị chủ lực, đủ quân, đó vẫn là hàng hiếm. Bởi theo quy định hiện hành, hầu hết phòng ở, phòng làm việc của sĩ quan đều chỉ được trang bị quạt trần, quạt cá nhân, bóng điện và dù có điều kiện, muốn lắp điều hòa cũng không được. Không phải vì đất nước khó khăn nên Quân đội không thể trang bị hay thiếu quan tâm, tạo điều kiện mà đơn giản là rèn luyện quân nhân thích ứng với sự khắc nghiệt của đặc thù lao động quân sự cũng như trên chiến trường; thử thách bản lĩnh, ý chí quyết tâm trước điều kiện gian khổ.

Có dịp về công tác tại đơn vị giữa những ngày tháng 6, tôi hỏi Thượng úy Phạm Văn Giao, Phó đại đội trưởng Đại đội 9, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 148, Sư đoàn 316 (Quân khu 2) và nhiều sĩ quan có tuổi đời còn rất trẻ “nóng như thế anh em ngủ được không”? Câu trả lời chung của họ là “ngủ bình thường vì mệt và quen từ thời còn là học viên rồi”.
Đồng chí Lê Như Tiến, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội tâm sự: “Tôi từng là một người lính tham gia chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị những năm 1971-1972 và có nhiều năm công tác trong Quân đội nên rất thấu hiểu bộ đội, nhất là đội ngũ sĩ quan, QNCN. Thời nào họ cũng phải đối mặt với sự hy sinh, gian khổ, chịu nhiều thiệt thòi, có mặt ở những nơi khó khăn, nguy hiểm nhất. Một trong số đó là điều kiện công tác ngặt nghèo và những cám dỗ, tác động mặt trái của đời sống kinh tế-xã hội hiện nay. Đó là điều mà ai cũng thấy nhưng không phải ai cũng dám lựa chọn, đương đầu, đủ bản lĩnh vượt qua”.

Phần đông sĩ quan, QNCN, công nhân và viên chức quốc phòng vẫn bám trụ ở những nơi xa xôi, vất vả, trên khắp các dải biên cương và vùng biển, đảo của Tổ quốc ngày đêm canh trực, huấn luyện làm chủ vũ khí trang bị hiện đại, thuần thục các phương án chiến đấu để sẵn sàng đánh bại mọi hình thái tác chiến mới của địch trong tương lai, quản lý bộ đội, duy trì nền nếp trực sẵn sàng chiến đấu... Họ còn trực tiếp lao động, sản xuất trên các công trường, trong các nhà máy, vừa bảo đảm nhiệm vụ quốc phòng vừa tạo ra của cải vật chất cho xã hội; có mặt ở mọi nơi vùng sâu, vùng xa, trực tiếp xây dựng địa bàn, hướng dẫn bà con vùng đồng bào dân tộc thiểu số phát triển kinh tế; tham gia phòng, chống lụt bão, thiên tai, dịch bệnh và còn rất nhiều công việc, nhiệm vụ thầm lặng, đặc biệt khác... tất cả vì sự bình yên, vững bền của an ninh quốc gia, của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Những nhiệm vụ đó đòi hỏi quân nhân phải chấp nhận hy sinh, thiệt thòi về nhiều mặt. Đó có thể là cả tuổi thanh xuân, là phần lớn cuộc đời phải xa gia đình, chịu cảnh “giường đơn gối chiếc”; là phải gác lại niềm vui quây quần, sum họp bên gia đình ngày cuối tuần, các dịp lễ, tết; quên đi nhiều thú vui của bạn bè cùng trang lứa đang công tác, làm việc ở môi trường khác.
Trung tá Lê Khắc Ngọc Anh, Phó chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 968 (Quân khu 4) chia sẻ: “Là cán bộ ở đơn vị chủ lực đủ quân làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, cách nhà hơn 300km nên khoảng hơn một tháng, tôi về thăm gia đình một lần. Các dịp lễ, tết hay những đợt cao điểm tập trung cho nhiệm vụ huấn luyện, diễn tập, trực sẵn sàng chiến đấu, tôi luôn xác định rõ nhiệm vụ, động viên vợ, con, gia đình sau khi hoàn thành nhiệm vụ mới về thăm. Mọi việc trong gia đình chủ yếu do vợ tôi gánh vác, nhất là việc chăm sóc, nuôi dạy các con. Vắng bóng người đàn ông, vợ tôi gặp không ít khó khăn bởi nhà cửa xuống cấp, hư hỏng không kịp thời sửa chữa hay lúc bản thân, các con, bố mẹ ốm đau... Chỉ có những người ở vào hoàn cảnh này mới thấu hiểu nỗi xa cách”.

Còn Thiếu tá Nguyễn Khắc Đông, Đội trưởng Đội Trình Tường, Lâm trường 156, Đoàn Kinh tế-Quốc phòng 327 (Quân khu 3) tâm sự: “Tôi có 12 năm gắn bó với vùng biên cương Đông Bắc. Đơn vị ở chót vót trên núi cao, giáp biên giới nên cuộc sống của cán bộ, nhân viên thiếu thốn đủ thứ. Xa trung tâm nên khoảng 3-4 ngày, chúng tôi lại thay phiên nhau xuống chợ huyện mua lương thực, thực phẩm, đồ dùng sinh hoạt. Tuy nhiên, thiếu thốn về vật chất không thấm gì so với cuộc sống buồn tẻ, cô lập trên núi. Nhiều khi chỉ mong có người ghé qua đơn vị để được trò chuyện. Khó khăn là vậy nhưng anh em vẫn động viên nhau kiên trì bám trụ giữ chắc biên cương”./.


Yêu nước ST.

KHÔNG ĐỂ CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG CUỘC BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM!

     Lợi dụng tình hình phức tạp trên Biển Đông, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị khai thác triệt để, biến tấu thành nhiều bài viết, hình ảnh, video nhằm bịa đặt tình hình, bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta trong công tác quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo; lợi dụng các trang mạng xã hội để lan truyền, tán phát thông tin, gây tâm lý hoang mang, bất ổn, chia rẽ đoàn kết trong nước và quốc tế.
Với những nội dung xuyên tạc xảo trá, họ thường lặp đi lặp lại luận điệu cũ rích rằng: “Cộng sản Việt Nam làm ngơ về vấn đề chủ quyền trên Biển Đông”; Đảng, Nhà nước Việt Nam im lặng vì đã thỏa hiệp với nước lớn, không cung cấp đầy đủ thông tin về tình hình Biển Đông, không có giải pháp đủ mạnh để bảo vệ chủ quyền biển, đảo… Những thông tin xuyên tạc này ít nhiều đã tác động tiêu cực tới nhận thức, tư tưởng, tình cảm, niềm tin của một bộ phận nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta.
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, vùng trời, vùng biển và các hải đảo. Quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là kiên quyết, kiên trì đấu tranh quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không trên các vùng biển, đảo quốc gia. Sinh thời, khi đến thăm cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”.
Những năm qua, Đảng ta luôn coi trọng nhiệm vụ phát triển mạnh kinh tế-xã hội, bảo vệ và làm chủ vùng biển của Tổ quốc. Tại Đại hội XIII (năm 2021), Đảng ta một lần nữa khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển”.
Như vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của biển, đảo là một bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng không thể tách rời, bất khả xâm phạm của Tổ quốc. Bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, trong đó chủ quyền biển, đảo là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Tuy nhiên, về biện pháp tiến hành, cần phải hết sức bình tĩnh, tỉnh táo, linh hoạt, thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong các tình huống cụ thể với mục tiêu cao nhất là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia-dân tộc. Quan điểm, lập trường của Việt Nam về vấn đề Biển Đông, về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển quốc gia theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) là rất rõ ràng và hoàn toàn có đầy đủ cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn.
Những quan điểm nêu trên là đường lối chính trị, căn cứ pháp lý để xây dựng sự đoàn kết, đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin trong nước, quốc tế, tạo thành nền tảng và sức mạnh tổng hợp quốc gia; đồng thời là cơ sở để đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động; để dư luận quốc tế hiểu rõ về lập trường, quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia trong tình hình hiện nay./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁO DỤC!

     Chủ tịch Hồ Chí Minh được thế giới suy tôn là một nhà văn hóa lớn bởi những thành tựu xuất sắc của người trong lĩnh vực hoạt động và sáng tạo văn học. Với quan điểm “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng sự dốt nát cũng là giặc phải chống. Xác định rõ nhiệm vụ học tập để làm người, làm việc, để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân và nhân loại. Người thường xuyên nhấn mạnh tới nhiệm vụ, giáo dục lý tưởng, giáo dục đạo đức “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, và chỉ rõ rằng “Một dân tộc biết cần kiệm, biết liêm chính là một dân tộc văn minh, tiến bộ”. Là giáo dục vĩ đại, với tinh thần “Vì lợi ích 10 năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng việc “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết”. Với mục tiêu của chiến lược “trồng người” là giáo dục thế hệ trẻ thành người tốt, Đảng và Nhà nước đã đưa ra những chủ trương nhằm phát triển nền giáo dục, xây dựng chủ nghĩa xã hội, ngày càng đưa nước ta đi lên theo kịp với tiến độ của nhân loại.
Theo người phải xây dựng một nền giáo dục toàn diện, để đào tạo những con người có đức, có tài cần kết hợp chặt chẽ giữa học và hành, lý luận gắn với giáo dục của nhà trường với gia đình và xã hội. Học suốt đời, kết hợp tự học với học trong nhà trường, học trong sách vở và học trong cuộc sống. Văn hóa có cốt lõi là đạo đức, đạo đức mà chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng xuất phát từ chính nghĩa văn hóa, đạo đức hết sức nhân văn của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Bởi vậy, người đòi hỏi Đảng cách mạng phải “là đạo đức, là văn minh”; người làm cách mạng phải có đạo đức cách mạng; muốn xây dựng xã hội chủ nghĩa phải có người thấm nhuần đạo đức và xây dựng xã hội chủ nghĩa.
Chủ tịch Hồ Chí Minh có câu: “Việc nước lấy Đoàn thể làm cốt cán. Việc đoàn thể lấy cán bộ làm cốt cán. Cán bộ lấy đức làm cốt cán” đó là đạo đức làm người, hoàn thiện con người, đạo đức vì thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, vì đạo đức giải phóng con người và xây dựng xã hội đem lại tự do, hạnh phúc cho con người. Cũng chính vì thế, người coi đạo đức là gốc, là đạo đức hành động và người không chỉ để lại một hệ thống quan điểm về đạo đức để học tập mà còn là một tấm gương, một kiểu mảng về thực hành đạo đức cách mạng, về sự nhất quán giữa tư tưởng và hành động, sự thống nhất giữa đạo đức với chính trị, đạo đức với tài năng, giữa đạo đức cách mạng với đạo đức đời thường. Những yêu cầu về đạo đức mà người đưa ra cho cán bộ, đảng viên nay đã trở hành hệ chuẩn mực đạo đức cơ bản của người Việt Nam mới như: “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng”, “Trung với Đảng, hiếu với dân, cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư”, “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm; việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh”, “Phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” đấy là những đức tính tốt đẹp và cao cả, chính những đức tính đó ở người cán bộ, đảng viên sẽ đưa nước ta phát triển theo con đường chủ nghĩa xã hội ngày càng giàu mạnh hơn./.
Yêu nước ST.

 ĐỂ CÁC “TẾ BÀO” CỦA ĐẢNG LUÔN KHỎE MẠNH

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng công tác xây dựng Đảng, xác định đây là nhiệm vụ then chốt. Cùng với tập trung nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng, Đảng ta thường xuyên chú trọng công tác quản lý, giáo dục và rèn luyện nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Muốn cho Đảng mạnh, đủ sức lãnh đạo cách mạng, đòi hỏi đảng viên phải có chất lượng”. Đúng vậy, Đảng ta được tổ chức rất chặt chẽ ví như một cơ thể sống, các đảng viên của Đảng là những “tế bào” của cơ thể ấy. Muốn cho cơ thể Đảng khỏe mạnh, cường tráng thì các đảng viên - những “tế bào” của Đảng phải thực sự khỏe mạnh. 

Mục tiêu mà Đảng ta hướng tới là xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự tiên phong, gương mẫu, gần dân, sâu sát cơ sở, có trách nhiệm cao với nhiệm vụ, có phẩm chất đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực hoàn thành các công việc được giao, có bản lĩnh chính trị vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách… Để thực hiện mục tiêu ấy, Đảng ta có nhiều chủ trương, giải pháp thiết thực. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên được Đảng ta nhấn mạnh, làm rõ trong nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định. Quán triệt và thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, từng tổ chức cơ sở đảng đã cụ thể hóa thành các kế hoạch, chương trình hành động phù hợp với thực tiễn và nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, địa phương mình nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên.

Nhìn tổng thể cơ bản đội ngũ đảng viên của Đảng luôn vững vàng bản lĩnh; tiên phong, gương mẫu đi đầu trong hoạt động thực tiễn; năng động, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ, chức trách và công việc được giao; tác phong, lối sống trong sạch, lành mạnh, nhân văn; thực sự là chiến sĩ đi đầu phấn đấu, cống hiến vì lợi ích của mọi giai cấp, mọi tầng lớp trong xã hội; tích cực góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Bằng chính bản lĩnh, nghị lực, trí tuệ, lý luận tiên phong; bằng đường lối đúng đắn mang lại lợi ích thiết thân cho nhân dân, cho đất nước; bằng sự nêu gương, hy sinh quên mình, phấn đấu không mệt mỏi của đội ngũ cán bộ, đảng viên; bằng một tổ chức đoàn kết, thống nhất chặt chẽ, vững chắc; bằng mối liên hệ máu thịt với nhân dân…”, Đảng ta đã xác lập, củng cố và ngày càng nâng cao vai trò lãnh đạo, sức mạnh và uy tín của mình. Đội ngũ đảng viên của Đảng là một trong những nhân tố quyết định sự tồn tại, phát triển lớn mạnh và việc thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng.

Bên cạnh đại đa số đảng viên vẫn giữ gìn được phẩm chất đạo đức cách mạng, vị trí, vai trò và uy tín lãnh đạo, nhưng vẫn có một bộ phận không nhỏ đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Thực tế ấy không phải bây giờ Đảng ta mới nhận thấy. Nguy cơ tha hóa của đảng viên đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo và chỉ ra ngay sau khi nước nhà giành được độc lập. 

Những năm gần đây, do tác động bởi nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, tình trạng suy thoái trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn biến ngày càng phức tạp. Từ chỗ trước Đại hội XI, Đảng ta chỉ đánh giá “một bộ phận”, nhưng đến Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, Đảng ta chỉ rõ: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống…”. Trong văn kiện Đại hội XII, Đảng ta một lần nữa chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn”. Trong văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục chỉ ra rằng: “Việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của một số cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, nền nếp, vẫn còn tình trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc của Đảng, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa… việc đấu tranh với các biểu hiện lệch lạc về đạo đức, lối sống chưa mạnh mẽ. Tự phê bình và phê bình ở một số nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi”. Đảng ta nhận định rõ tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ đảng viên đã tác động làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. 

Nhằm kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng ấy, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định, trong đó có Quy định về những điều đảng viên không được làm. Tuy nhiên, việc quán triệt và tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định ấy của các tổ chức đảng và đảng viên chưa nghiêm, một số nơi còn buông lỏng...

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 4 khóa XIII nhận thấy nội dung của các nghị quyết, chỉ thị, quy định đã ban hành đến nay cơ bản vẫn còn phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý, giáo dục và rèn luyện đội ngũ đảng viên. Nhưng thực tiễn luôn biến đổi, vận động không ngừng. Trước yêu cầu mới của tình hình nhiệm vụ, Ban Chấp hành Trung ương nhận thấy cần thiết phải bổ sung, hoàn thiện thêm một số nội dung quan trọng về rèn luyện tư tưởng chính trị, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Việc bổ sung, hoàn thiện này không ngoài mục đích góp phần ngăn ngừa, khắc phục một cách mạnh mẽ và quyết liệt hơn những biểu hiện suy thoái, tiêu cực của cán bộ, đảng viên; giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng. Cùng với đó Đảng ta cũng nhận thấy, có một số nội dung qua thực tiễn chưa đầy đủ, rõ ràng, có nội dung khó áp dụng, gây khó khăn khi phải xem xét vi phạm của cán bộ, đảng viên; có nội dung quy định của Đảng và Nhà nước đã thay đổi, do đó cần phải được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với tình hình mới.

Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên luôn là một yêu cầu nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, cấp bách thuộc về công tác xây dựng Đảng. Đối với mỗi tổ chức cơ sở đảng, đặc biệt là tại các chi bộ - nơi đảng viên trực tiếp sinh hoạt và thực hiện nhiệm vụ thì công tác càng phải được nhấn mạnh. Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả cao nhất Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta đã đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp. 

Tuy nhiên, đi vào cụ thể trước hết chúng ta cần đổi mới nội dung, phương pháp phân tích, đánh giá chất lượng đảng viên. Công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện, phát triển, sàng lọc đảng viên phải được tăng cường. Đối với những người vi phạm nghiêm trọng Điều lệ Đảng, những điều đảng viên không được làm và pháp luật Nhà nước, cần kiên quyết đưa ra khỏi Đảng.

Mặt khác, trong mọi hoạt động của các cấp ủy, tổ chức đảng phải cần phải giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ; đề cao trách nhiệm của người chủ trì lãnh đạo, chỉ đạo cơ quan, đơn vị, địa phương. Cấp ủy các cấp phải xây dựng và thường xuyên bổ sung quy chế lãnh đạo và quy chế làm việc, thực hiện nghiêm quy chế chất vấn trong sinh hoạt Đảng, bảo đảm cho mọi đảng viên đều được thực hiện quyền tham gia vào các công việc của Đảng. Công tác kiểm tra, giám sát được nhận thức đầy đủ và thực hiện nghiêm túc, góp phần phát hiện và khắc phục những khuyết điểm, thiếu sót khi mới manh nha, ngăn chặn kịp thời những hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong bộ máy Đảng, Nhà nước.

Đặc biệt, phải thực hiện nghiêm, có hiệu quả cụ thể hơn nữa Quy định về những điều đảng viên không được làm mà Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII mới bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện; kiên quyết khắc phục cho được những hạn chế, bất cập, thiếu sót trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện, đáp ứng được yêu cầu của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung và công tác quản lý, giáo dục nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng trong tình hình mới./.

 


 KHÔNG THỂ “NỒI VUÔNG ÚP VUNG TRÒN”

Chính sách của Đảng, Nhà nước có ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng. Chính sách đúng là nguyên nhân dẫn đến những thắng lợi, thành công của cách mạng Việt Nam. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng vào tháng 2-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu: “Điểm lại từ ngày thành lập đến nay, nói chung chính sách của Đảng ta đúng. Không đúng sao lập được những thành tích lớn lao như vậy?”, đến tháng 12-1958, trong bài Đạo đức cách mạng đăng trên Tạp chí Học tập, Hồ Chí Minh viết: “Sở dĩ Đảng ta có thể lãnh đạo giai cấp công nhân và toàn dân tiến lên CNXH, là vì Đảng ta có chính sách đúng đắn và lãnh đạo thống nhất”.

Nhưng làm thế nào để có chính sách đúng là vấn đề cốt tử, cần phải được Đảng, Nhà nước và nhân dân quyết trí, đồng tâm triển khai tiến hành.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Muốn có chính sách đúng thì yếu tố hết sức quan trọng đặt ra là khi đặt chính sách phải hiểu rõ, biết rõ tình hình. Chỉ hiểu rõ, biết rõ tình hình thì đặt chính sách mới đúng; ngược lại, không nắm rõ, hiểu rõ tình hình mà đặt chính sách thì sẽ là “Nồi vuông úp vung tròn, không ăn khớp gì hết”. Để hiểu rõ, nắm rõ tình hình rồi từ đó đặt chính sách cho đúng, Hồ Chí Minh chỉ ra: Việc gì cũng phải điều tra rõ ràng, cẩn thận và làm đến nơi đến chốn; cán bộ, đảng viên phải điều tra và báo cáo rõ ràng tình hình từng xã, từng huyện, từng tỉnh, từng khu. 

Mục đích chính sách của Đảng, Nhà nước cũng chỉ vì phục vụ nhân dân, như Hồ Chí Minh đã xác định: “Tất cả những việc Đảng ta và Chính phủ đề ra đều nhằm cải thiện đời sống cho nhân dân. Làm gì mà không nhằm mục đích ấy là không đúng”. Hồ Chí Minh luôn yêu cầu phải biến quyết tâm của Đảng và Chính phủ thành quyết tâm của toàn thể quần chúng nhân dân và đoàn kết thống nhất quần chúng nhân dân cùng hăng hái thực hiện đầy đủ, đúng đắn chính sách của Đảng, Chính phủ. Chính vì vậy, để có chính sách đúng về nội dung cũng như cách thức tổ chức thực hiện thành công thì phải quan tâm nắm rõ, hiểu rõ tình hình thực tế, tâm tư, nguyện vọng, mong muốn của nhân dân. Trong bài viết Sửa đổi lối làm việc, tháng 10-1947, Hồ Chí Minh viết: “Bất cứ việc to việc nhỏ, chúng ta phải xét rõ và làm cho hợp trình độ văn hóa, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm tranh đấu, lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng. Do đó mà định cách làm việc, cách tổ chức, có như thế, mới có thể kéo được quần chúng”. Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên trong mọi việc, việc gì cũng phải bàn bạc với nhân dân và giải thích cho nhân dân.

Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng chỉ ra những căn bệnh có hại cần phải phòng, tránh, sửa chữa, khắc phục, như quan liêu, mệnh lệnh. Người cho rằng trong công việc mà dùng cách quan liêu, mệnh lệnh là tạo ra bức tường ngăn cách, tách rời Đảng, Chính phủ với nhân dân và lợi ích của nhân dân với Đảng, Chính phủ.

Trong suốt quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam, nhất là thời kỳ đổi mới vừa qua, tư tưởng, lời dạy, chỉ đạo thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Đảng Cộng sản Việt Nam quán triệt, tiếp thu và triển khai tích cực. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp cách mạng bằng cương lĩnh, chiến lược, bằng các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của cán bộ, đảng viên của Đảng. Và cùng với nỗ lực đồng tình ủng hộ, đồng hành của nhân dân mà các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước luôn phù hợp với thực tiễn, được nhanh chóng đi vào cuộc sống đạt kết quả to lớn, toàn diện.

Bên cạnh đó, Đảng cũng chỉ rõ một số hạn chế khuyết điểm trong xây dựng và triển khai thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nước. Đáng chú ý là tình trạng quan liêu, xa rời thực tế, xa rời nhân dân của một bộ phận cán bộ, đảng viên, như Đảng đã xác định: “Quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân”.

Tiếp tục phát huy những thành công đã đạt được, kiên quyết khắc phục, sửa chữa những hạn chế, khuyết điểm trong xây dựng và thực hiện chính sách vì dân, vì nước, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã và đang chung sức, đồng lòng thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp tích cực, hiệu quả. Đặc biệt, chúng ta kiên quyết, kiên trì thực hiện những chỉ đạo sâu sắc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, được thể hiện rất sinh động trong cuốn sách: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”.

Có thể thấy rõ, nhiều vấn đề, nội dung cơ bản, quan trọng trong xây dựng và thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nước mang tính lý luận và thực tiễn cao, đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thể hiện hết sức đúng đắn, sinh động và thuyết phục. Xin nêu một số vấn đề, nội dung quan trọng dưới đây của Tổng Bí thư:

Tổng Bí thư nhấn mạnh: Trong chế độ chính trị XHCN, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu, phát triển. Tổng Bí thư nêu rõ: Đảng ta lãnh đạo và cầm quyền, trong khi xác định phương hướng chính trị cũng như đề ra các quyết sách, không thể chỉ xuất phát từ thực tiễn của đất nước và dân tộc Việt Nam, mà còn phải nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm từ thực tiễn của thế giới, của thời đại. Tổng Bí thư cũng nhắc nhở: Đảng cần phải tiếp thu cũng như bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa và học thuyết của Đảng luôn luôn tươi mới và được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống. Tổng Bí thư chỉ đạo: “Bên cạnh việc xác định chủ trương, đường lối đúng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Nhân dân tiếp nhận, ủng hộ và nhiệt tình tham gia thực hiện đường lối của Đảng vì thấy đường lối đó đáp ứng đúng yêu cầu, nguyện vọng của mình. Sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của thắng lợi, của phát triển”.

Chúng ta tuyệt đối tin tưởng, kỳ vọng, nỗ lực phấn đấu theo tinh thần, mục tiêu mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Với hướng đi đúng đắn, hợp quy luật, ý Đảng hợp với lòng dân; phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, khát vọng vươn lên mãnh liệt và ý chí, quyết tâm chính trị cao, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta nhất định sẽ lập nên những kỳ tích phát triển mới, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vững bước đi lên CNXH, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và ước vọng của toàn dân tộc”./.




 LỜI BÁC DẠY CHÚNG CON NHỚ MÃI!!




 Hình ảnh những Bà mẹ Việt Nam anh hùng trong thơ Tố Hữu như mẹ Suốt, sáu mươi tuổi vẫn “một tay lái chiếc đò ngang” đưa bộ đội qua sông. Lời bộc bạch giản dị, chân tình mà đầy bất khuất của mẹ đã khiến bao thế hệ cảm phục, trở thành nguồn sức mạnh cổ vũ, động viên cán bộ, chiến sĩ ta vững tay súng, đánh thắng kẻ thù xâm lược.


“Gan chi, gan rứa, mẹ nờ

Mẹ rằng: Cứu nước, mình chờ chi ai?

Chẳng bằng con gái con trai

Sáu mươi còn một chút tài đò đưa

Tàu bay hắn bắn sớm trưa

Thì tui cứ việc nắng mưa đưa đò”

(Mẹ Suốt - Tố Hữu).

❤️❤️❤️✨✨❤️❤️❤️


 NGUYỄN ÁI QUỐC: "KHÔNG ! VỊ TRÍ CỦA TÔI LÀ Ở VIỆT NAM"


> Những năm 1936 - 1938, bọn phản động Phrăng-cô, được phát xít Đức-Ý tiếp tay, gây ra cuộc nội chiến, tiến công chính quyền của Mặt trận Nhân dân Tây Ban Nha; đất nước này chìm trong máu lửa. > Ít lâu sau, Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp cũng bị lật đổ, bọn thực dân phản động Pháp ra tay khủng bố, đàn áp phong trào cách mạng Đông Dương... 

Chuyến đi của Nguyễn Ái Quốc phải hủy bỏ.

Trong khi chờ đợi dịp khác, anh làm việc ở Nin Ca Pê: Viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa, nhà  số 25 đại lộ Tơ-véc-xkôi: ngôi nhà hai tầng có nhiều phòng nhỏ, yên tĩnh. Đồng chí Men-man, phụ trách viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa thu xếp cho anh Nguyễn một phòng làm việc riêng nhìn xuống vưởn cây có những lối đi rải đá. 

Ở đây anh gặp các chiến sĩ cách mạng một số nước châu Á;  qua đó, anh cũng biết thêm nhiều tình hình mới về cuộc đấu tranh đang diễn ra trên lục địa này.

Một hôm, giảng viên I. Cô-dơ-lốp, phụ trách hướng dẫn nhóm nghiên cứu sinh Ấn Độ ở Viện, hỏi anh :

– Này, đồng chí Lin (bí danh của Nguyễn Ái Quốc) đồng chí làm việc nhiều quá ! Bảo vệ xong luận án, chắc đồng chí sẽ trở thành giáo sư và Viện chúng tôi sẽ có thêm một thầy dạy với nhiều kinh nghiệm thực tế !

Anh Nguyễn lắc đầu :

– Không ! Vị trí của tôi là ở Việt Nam. Dù tình hình diễn biến thế nào đi nữa, tôi cũng phải trở về Tổ quốc, cùng với nhân dân tôi giải phóng đất nước!!

      Một buổi chiều se lạnh tháng 10 năm 1938, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đáp xe lửa ở ga I-a-rô-láp-xki rời Mát-xcơ-va lần thứ ba. 

       Con tàu đưa Người chạy về Phương Đông, trở về Tổ quốc yêu thương cùng dân tộc đi  tới những bình minh./.




 THỜI ĐẠI CHÚNG TÔI 


Có một thời như riêng của chúng tôi

Tổ quốc lâm nguy nước nhà vận hạn

Một thế hệ trai hùng gái đảm

Lớn lên bằng lòng dũng cảm đức hi sinh


Ấy là thời giặc giã chiến chinh

Những cuộc ra đi như đi vào huyền thoại

Những cuộc ra đi nhiều người không trở lại

Những cuộc chia li không hẹn ngày về.


Không có bùa hộ mệnh chở che

Triệu vọng phu thêm mỏi mòn chờ đợi

Con nhận mặt cha sau bàn thờ hương khói

Những tượng đài cao vòi vọi giữa trời.


Nghĩa trang các anh những nấm mộ không người

Không tuổi không tên không một dòng địa chỉ

Các anh nằm đâu cũng là đất mẹ

Những linh hồn non trẻ tuổi hai mươi.


Thời chúng tôi ai muốn sống làm người

Phải đối mặt với gian nan nghiệt ngã

Ai quay lưng là người đời xỉ vả

Náu mình trong phẩm giá thấp hèn.


Chúng tôi đi chân cứng đá mềm

Nói với nhau suốt rộng dài đất nước

Núi dựng khe sâu bào mòn dép lốp

Quên tháng năm quên cả tuổi xuân thì.


Để lại sau lưng tem gạo tem mỳ

Ngày đầu tháng nối hàng dài xếp chỗ

Kẻ đội, người bưng, tựa nhận hàng cứu trợ

Sau cơn bão đời vần vũ thuở hàn vi.


Thời đại chúng tôi sung sướng đến lạ kì

Sướng đến nỗi nghèo mà không thấy khổ

Rách áo, đói cơm học hành thiếu chữ

Ê a không chệch hướng làm người.


Thời đạị chúng tôi ít thấy kẻ ăn chơi

Hiếm thấy kẻ sống sang giàu xa xỉ

Thiếu đến cả cái kim sợi chỉ

Vẫn thương nhau vá rách làm lành.


Thời đại chúng tôi quan chức nêu danh

Mấy ai sống xa dân xa nước

Có lẽ thế mà kẻ sau người trước

Trong lao lung không chùn bước đồng hành.


Quan với dân như cội với cành

Gió dập mưa vùi vẫn đơm hoa kết trái

Không sâu đục thân không môi trường gây hại

Siêng xới vun không sợ đất nghèo.


Hạt lép hạt tròn mùa vụ trồng gieo

Không thấy đâu nảy mầm tham nhũng

Đồng hợp tác nhặt hạt rơi hạt rụng

Lấy đâu ra tạo dựng lâu đài.


Thiếu đói tảo tần tìm kế sinh nhai

Không móc túi dân làm quà biếu xén

Không tham ô lấy đâu ra chè chén

Lấy đâu ra mua bán chức quyền.


Thua được mất còn lòng dân vẫn yên

Quan khác dân chỉ là đeo xắc cốt

Dưới với trên một đồng một cốt

Đảng với dân ý hợp tâm đầu.


Tối lửa tắt đèn hàng xóm có nhau

Không mấy ai xây rào khóa cổng

Không xe cộ nên đường làng rộng

Không gian manh nên cuộc sống yên hòa.


Lễ giáo cương thường trong một tư gia

Lo kín nóc nên ít nhà thấy dột

Con cái sinh ra có đứa thông đứa dốt

Lớn lên không đột ngột ngang tàng.


Người với người không sẵn lòng tham

Lồng lộng lưới trời không ai sàng sảy

Mà Chính trực mà Thanh liêm đến vậy

Muôn nẻo chông gai không sợ bẫy gian tà.


Thời đại chúng tôi từ trẻ chí già

Thuộc lòng những bài ca ra trận

Những lời ca sục sôi lửa hận

Những lời ca giục giã bước quân hành.


Những lời ca hối thúc tuổi xanh

Dâng hiến máu xương cho tự do độc lập

Những bài ca khóc bè trầm của đất

Những lời ca bay vút tận trời xanh.


Thời chúng tôi chiến đấu hi sinh

Không ai nghĩ mai ngày hưởng thụ

Không mong đợi tạc mình vào lịch sử

Để được lưu danh phụng sự tôn thờ.


Giữa chiến trường không ai mộng mơ

Đổi máu xương lấy huân chương kháng chiến

Định giá bạc tiền bằng công lao cống hiến

Để được cưu mang từ thiện đỡ đần.


Nơi ngày đêm đối mặt với tử thần

Không ai chen lên mưu phần danh lợi

Như con thuyền giữa sóng cồn bão nổi

Chỉ mong qua chấp chới để lên bờ.


Chúng tôi thèm, thèm cả trong mơ

Hết chinh chiến để được về với Mẹ

Nơi ngày đi tiễn con,

Mẹ giấu buồn giấu lệ

Tháng năm dài quạnh quẽ nỗi cô đơn.


Thời chúng tôi phụ nữ tuổi chồng con

Thèm khát đàn ông như trẻ thơ thiếu sữa

Những thiếu phụ suốt cả đời sinh nở

Hoa héo hương tàn vẫn cứ cô đơn.


Thời chúng tôi đồng chí giữa mất còn

Là chỗ dựa là nơi nương náu

Cho nhau máu không sợ mình thiếu máu

Đói khổ nhường nhau khi rau cháo chia phần.


Thời chúng tôi bè bạn tình thân

Thiếu chút nữa nhường cho nhau cả vợ

Tình yêu không dối lừa tráo trở

Trong bão giông không sợ vũ vần.


Đông gía qua rồi trời đất ấm nắng xuân

Thiếu đủ vơi đầy vẫn cùng nhau hòa quyện

Chỉ thương bạn sau mỗi lần tìm kiếm

Xương trẻ phài tàn còn lại nắm đất nâu...


Năm tháng trôi mau như bóng một con tàu

Hành trang cũ gói đùm làm kỉ niệm

Như kỉ vật Nhà binh thời Hậu chiến

Ấp ủ nâng niu sau một chuyến hành trình.


Khi ta ngồi lưu luyến Thuở hoàng kim

Một thuở - Thời hi sinh vô giá

Thì tất cả đã lùi về quá khứ

Đọng lại nỗi niềm tư lự xót xa


Thế hệ chúng tôi giờ đã tuổi già

Chẳng kì vọng giải bày cho hậu thế

Mong lịch sử không là trang sách ế

Thầy giảng trò nghe như là để câu giờ . . .




TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TOÀN VĂN BÀI PHÁT BIỂU CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG TẠI HỘI NGHỊ NGOẠI GIAO LẦN THỨ 32!

     Hội nghị Ngoại giao lần thứ 32 chính thức khai mạc sáng ngày 19/12 tại Hà Nội. Xin trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu chỉ đạo Hội nghị của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng!

Thưa các vị đại biểu, các vị khách quý,
Thưa các đồng chí,
Hôm nay, tôi rất vui mừng và hân hạnh được đến dự Hội nghị Ngoại giao lần thứ 32 - một Hội nghị có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ của ngành Ngoại giao mà còn là của toàn bộ công tác đối ngoại cả nước. Đây là dịp để chúng ta nhìn lại quá trình gần 3 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng về công tác đối ngoại nói chung và ngoại giao nói riêng; trên cơ sở đó đề xuất các phương hướng, biện pháp để thực hiện có hiệu quả hơn nữa nhiệm vụ đối ngoại và ngoại giao trọng tâm cho những năm tới; đồng thời góp phần vào việc chuẩn bị tổng kết 40 năm thực hiện đường lối đổi mới và chuẩn bị Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.

Trước hết, tôi xin được thay mặt các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, và với tình cảm cá nhân, gửi tới các đồng chí, đặc biệt là các nhà ngoại giao lão thành, cùng toàn thể anh chị em cán bộ, công chức, viên chức, những người làm công tác đối ngoại, ngoại giao ở trong và ngoài nước lời chào thân ái, lời thăm hỏi chân tình và lời chúc mừng nồng nhiệt nhất. Chúc Hội nghị của chúng ta thành công tốt đẹp!

Thưa các đồng chí,
Như chúng ta đều biết, trong gần 40 năm đổi mới vừa qua, Đảng ta đã kế thừa và phát huy bản sắc, cội nguồn và truyền thống dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa thế giới và tư tưởng tiến bộ của thời đại, phát triển trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, hình thành nên một trường phái đối ngoại, ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo, mang đậm bản sắc "cây tre Việt Nam". Đó là vừa kiên định về nguyên tắc, vừa uyển chuyển về sách lược; mềm mại, khôn khéo nhưng cũng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức, vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của Nhân dân; đoàn kết, nhân ái nhưng luôn luôn kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Đến nhiệm kỳ khoá XIII, cụ thể là tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng được tổ chức vào ngày 14/12/2021, chúng ta đã thống nhất cao khẳng định về sự hình thành, phát triển của Trường phái đối ngoại, ngoại giao "cây tre Việt Nam": Gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam.

Trong gần 3 năm qua, đặc biệt là từ sau Hội nghị Đối ngoại toàn quốc lần đầu tiên được tổ chức theo tinh thần vừa nêu trên đây, ngành Ngoại giao và Đối ngoại cả nước ta đã nỗ lực phấn đấu, nghiêm túc quán triệt và chung sức, đồng lòng tổ chức thực hiện tốt đường lối đối ngoại của Đảng, đạt được nhiều kết quả, thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử, trở thành một điểm sáng đầy ấn tượng trong toàn bộ những kết quả, thành tựu chung của đất nước những năm qua. Nổi bật là ở 6 điểm sau đây:
Thứ nhất, chúng ta đã tổ chức quán triệt và triển khai đồng bộ, hiệu quả đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng. Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thông qua nhiều đề án đối ngoại quan trọng, kịp thời ban hành các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, cụ thể hoá các chủ trương, đường lối đối ngoại của Đại hội XIII thành các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp toàn diện, lâu dài, như Nghị quyết Trung ương 8 khoá XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Nghị quyết số 34 của Bộ Chính trị về một số định hướng, chủ trương lớn triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng; các kết luận, chỉ thị về phát triển quan hệ với một số đối tác quan trọng, hợp tác ASEAN, hợp tác tiểu vùng Mê Công, công tác ngoại giao kinh tế, công tác người Việt Nam định cư ở nước ngoài, đối ngoại nhân dân, v.v... Hội nghị Đối ngoại toàn quốc về triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng lần đầu tiên được tổ chức đã quán triệt, nâng cao nhận thức, thống nhất hành động trong toàn hệ thống chính trị. Trên cơ sở đó, các ngành, các cấp đã tích cực cụ thể hoá thành các đề án, chương trình, kế hoạch và giải pháp để triển khai toàn diện, đồng bộ và thống nhất công tác đối ngoại từ sau Đại hội XIII của Đảng đến nay.

Thứ hai, đối ngoại và ngoại giao đã phát huy thế mới và lực mới, sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, củng cố vững chắc hơn cục diện đối ngoại rộng mở, thuận lợi cho phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Trước những biến động lớn, phức tạp, khó lường trên thế giới và trong khu vực, chúng ta đã có những quyết sách đúng đắn, bước đi chủ động, đột phá, khẳng định bản lĩnh, mang tính lịch sử trong việc triển khai các hoạt động đối ngoại. Thành công các chuyến thăm, điện đàm của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước từ sau Đại hội XIII của Đảng, nhất là hơn 40 chuyến thăm của các đồng chí lãnh đạo chủ chốt tới các nước láng giềng, các nước lớn, các nước đối tác chiến lược, hầu hết các nước ASEAN, nhiều đối tác quan trọng và bạn bè truyền thống; đồng thời nhiều nguyên thủ, lãnh đạo cấp cao các nước và các tổ chức quốc tế lớn thăm Việt Nam, đã vẽ lên một bức tranh rất đẹp, rất sinh động và có sức hấp dẫn cao trên mặt trận đối ngoại trong 2 năm vừa qua và tạo nên một vị thế mới của Việt Nam trên trường quốc tế, được dư luận trong nước và bạn bè quốc tế đánh giá cao và đồng tình, ủng hộ. Đặc biệt, các hoạt động đối ngoại diễn ra hết sức sôi động, liên tục và là điểm sáng nổi bật của năm 2023; việc tổ chức đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình, Tổng thống Mỹ Joe Biden, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thoong-lun Xỉ-xu-lít, Chủ tịch Đảng Nhân dân Cam-pu-chia Hun Sen và nhiều nguyên thủ quốc gia các nước quan trọng khác đến thăm Việt Nam được đánh giá là những sự kiện có ý nghĩa lịch sử, góp phần khẳng định "chưa bao giờ đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế quốc tế như ngày nay". Từ một nước bị bao vây, cấm vận, đến nay, chúng ta đã mở rộng, làm sâu sắc quan hệ với 193 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có 3 nước có quan hệ đặc biệt, 6 nước đối tác chiến lược toàn diện (Hoa Kỳ và Nhật Bản vừa mới được bổ sung vào nhóm này trong quý IV vừa qua), 12 nước đối tác chiến lược và 12 nước đối tác toàn diện.

Thứ ba, công tác đối ngoại, ngoại giao đã phối hợp chặt chẽ với quốc phòng, an ninh và các cấp, các ngành, phát huy vai trò tiên phong trong việc giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, bảo vệ Đảng, Tổ quốc và Nhân dân. Trước những biến động rất phức tạp trên thế giới và những tác động tiêu cực từ bên ngoài, chúng ta đã kiên định tính độc lập, tự chủ trên cơ sở bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, nêu cao tinh thần hoà hiếu, đồng thời linh hoạt, mềm dẻo trong sách lược để xử lý đúng đắn, hài hoà quan hệ với các đối tác, nhất là với các nước láng giềng, các nước lớn và các đối tác quan trọng, cũng như các tình huống phức tạp về biên giới trên bộ và trên biển, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Chúng ta đã chủ động, tích cực thúc đẩy việc đối thoại, đàm phán; tham gia các hiệp định, sáng kiến vì hoà bình, tiến bộ nhân loại và đã đạt được những kết quả rất quan trọng về phân định, giải quyết một số vấn đề biên giới lãnh thổ trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, củng cố đường biên giới hoà bình, hữu nghị, tạo thuận lợi cho việc thúc đẩy giao lưu, kết nối và hợp tác phát triển.

Thứ tư, công tác đối ngoại và ngoại giao đã đi đầu trong việc huy động các nguồn lực bên ngoài, góp phần quan trọng cho việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, nhất là mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại. Từ năm 2021 đến nay, mặc dù bị ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19 và suy thoái kinh tế, thương mại thế giới, kinh tế nước ta vẫn là một điểm sáng trong bức tranh không mấy sáng màu của kinh tế toàn cầu; kinh tế vĩ mô vẫn cơ bản ổn định; lạm phát, nợ công, nợ chính phủ, nợ nước ngoài, bội chi ngân sách nhà nước được kiểm soát; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Tăng trưởng kinh tế năm 2022 đạt 8,02% và dự báo năm 2023 có thể đạt trên 5%, là mức cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới; lần đầu tiên GDP của nước ta vượt 400 tỉ đô la Mỹ, đứng thứ 3 trong ASEAN và thuộc nhóm 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Trong khó khăn, các lĩnh vực văn hoá, xã hội vẫn tiếp tục được quan tâm chăm lo, đầu tư phát triển, đạt được nhiều kết quả quan trọng, rõ rệt, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng ta đã cơ bản thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ: Vừa tập trung phòng, chống, kiểm soát, khắc phục hậu quả của dịch bệnh; vừa thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ năm, chúng ta đã chủ động, tích cực hội nhập quốc tế ngày càng toàn diện, sâu rộng, góp phần không ngừng nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của đất nước trên trường quốc tế. Việt Nam được bạn bè quốc tế tín nhiệm đề cử gánh vác nhiều trọng trách quốc tế quan trọng trong các cơ chế, diễn đàn đa phương, nhất là trong ASEAN và Liên hợp quốc như Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021, Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khoá 77, thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc 2023 - 2025, Uỷ ban liên chính phủ bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể của UNESCO, Uỷ ban Luật pháp quốc tế nhiệm kỳ 2023 - 2027, v.v… Tiếp tục đóng góp tích cực và có trách nhiệm vào việc giải quyết các vấn đề quốc tế như cắt giảm khí thải và chống biến đổi khí hậu; cử hàng trăm lượt cán bộ, chiến sĩ tham gia thực hiện sứ mệnh giữ gìn hoà bình của Liên hợp quốc ở Châu Phi; lần đầu tiên cử lực lượng hỗ trợ khắc phục hậu quả động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ, chủ động thúc đẩy hợp tác phòng, chống dịch bệnh, thiên tai, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, v.v... Trong việc tham gia giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực, chúng ta đã đề xuất nhiều sáng kiến, giải pháp có lý, có tình trên cơ sở nhất quán độc lập, tự chủ, đề cao chính nghĩa, đoàn kết quốc tế, hoà hiếu, nhân văn và tôn trọng luật pháp quốc tế, do đó đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ cao của bạn bè quốc tế. Có thể nói, chưa bao giờ vị thế, uy tín và hình ảnh một nước Việt Nam độc lập, tự chủ, phát triển năng động, là bạn bè thuỷ chung, chân thành, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực và có trách nhiệm lại nổi bật trên trường quốc tế như hiện nay.

Thứ sáu, công tác đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân được triển khai đồng bộ, chặt chẽ, đạt nhiều kết quả quan trọng. Quan hệ giữa Đảng ta với các đảng cộng sản, công nhân và các chính đảng khác tiếp tục được củng cố và phát triển thông qua các hoạt động trao đổi đoàn, trao đổi lý luận và tiếp xúc tại các diễn đàn đa phương. Đối ngoại của Quốc hội cũng được triển khai ngày càng chủ động, tích cực, thúc đẩy quan hệ với quốc hội, nghị viện nhiều nước đi vào chiều sâu và nâng cao vị thế, uy tín của Quốc hội nước ta tại các diễn đàn quốc tế, nhất là trong AIPA, IPU. Công tác đối ngoại nhân dân được triển khai với nhiều hình thức, nội dung ngày càng đa dạng, phong phú và thực chất, góp phần mở rộng, tăng cường quan hệ hữu nghị, hiểu biết lẫn nhau, tranh thủ nguồn lực và sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Những kết quả nêu trên có được là nhờ sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, chặt chẽ, thường xuyên của Trung ương Đảng, trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư; sự điều hành chủ động, linh hoạt của Nhà nước; sự vào cuộc và sự triển khai tích cực của tất cả các cấp, các địa phương, các ngành, nhất là ngành Ngoại giao. Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã dành nhiều thời gian, công sức và nguồn lực cho công tác đối ngoại.

Đặc biệt, những kết quả đó có sự đóng góp rất quan trọng của đội ngũ cán bộ đối ngoại nói chung và cán bộ ngoại giao nói riêng, với tâm huyết, trách nhiệm và trình độ chuyên môn cao, luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, với chế độ ta, luôn đặt lên hàng đầu lợi ích quốc gia - dân tộc, luôn cháy bỏng khát khao cống hiến và phục vụ. Nhân dịp này, tôi xin thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, ghi nhận, nhiệt liệt biểu dương, chúc mừng và cảm ơn những đóng góp to lớn, rất có ý nghĩa đó của đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại nói chung và của ngành Ngoại giao nói riêng.

Tuy nhiên, chúng ta tuyệt nhiên không được chủ quan, tự mãn với những kết quả, thành tích đã đạt được. Bởi vì, trước mắt còn nhiều khó khăn, thách thức phải vượt qua và rất nhiều việc phải làm. Tôi đề nghị các đồng chí kiểm điểm thật kỹ, rút kinh nghiệm từ những kết quả, thành tựu kể trên để tiếp tục phát huy, làm tốt hơn nữa. Đồng thời, cũng cần đánh giá kỹ lưỡng những hạn chế, yếu kém trong công tác đối ngoại thời gian qua để chủ động khắc phục.

Thưa các đồng chí,
Trong thời gian tới, tình hình thế giới và khu vực dự báo sẽ còn tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường. Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới. Cục diện thế giới đa cực, đa trung tâm, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn sẽ ngày càng quyết liệt, thậm chí có nguy cơ xung đột, đối đầu, tạo thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước có độ mở của nền kinh tế cao, sức chống chịu và khả năng cạnh tranh còn hạn chế như nước ta. Các nước lớn sẽ tăng cường điều chỉnh chiến lược, lôi kéo, tập hợp lực lượng, vừa hợp tác, thoả hiệp, vừa đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau và can dự, chi phối nội bộ nước khác. Nhiều điểm nóng về an ninh tiếp tục tồn tại, có nguy cơ lan rộng, làm xuất hiện các hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến, không gian chiến lược mới. Khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, tạo ra những biến đổi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. An ninh truyền thống cũng như phi truyền thống, nhất là thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, năng lượng, an ninh mạng... đặt ra nhiều thách thức đối với các quốc gia. Châu Á - Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Đông Nam Á tiếp tục phát triển năng động nhưng sẽ trở thành trọng điểm cạnh tranh quyết liệt giữa các nước lớn. Chính vì thế, chúng ta cần thường xuyên theo dõi sát các diễn biến và dự báo đúng chiều hướng phát triển của tình hình bên ngoài và nhất là đánh giá thật đúng các tác động đến Việt Nam để không bị động, bất ngờ và luôn luôn bình tĩnh, tỉnh táo nắm bắt thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ của công tác đối ngoại từ nay đến hết nhiệm kỳ, như Đại hội XIII của Đảng đã đề ra: "Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế".

Tôi cơ bản tán thành với các định hướng, nhiệm vụ và giải pháp đã nêu trong Báo cáo của lãnh đạo Bộ Ngoại giao, chỉ xin gợi mở và nhấn mạnh thêm một số vấn đề cần quan tâm sau đây, có 5 vấn đề:

Một là, cần phải tiếp tục bám sát Nghị quyết và đường lối đối ngoại của Đại hội XIII và các nghị quyết của Trung ương, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chương trình hành động của Chính phủ và của Bộ Ngoại giao; tăng cường công tác nắm bắt tình hình, phân tích, dự báo, kịp thời tham mưu điều chỉnh, bổ sung những xu hướng mới và những vấn đề mới phát sinh để cụ thể hoá, xây dựng và tổ chức thực hiện thật nghiêm, thật tốt các chương trình, kế hoạch cụ thể của từng cơ quan, đơn vị một cách đồng bộ, khoa học, bài bản, thống nhất, với quyết tâm cao, nỗ lực lớn của cả hệ thống chính trị theo đúng tinh thần "Tiền hô hậu ủng", "Nhất hô bá ứng", "Trên dưới đồng lòng", "Dọc ngang thông suốt"!

Hai là, phải luôn luôn quan tâm kết hợp nhuần nhuyễn sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại; xử lý hài hoà mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia - dân tộc và nghĩa vụ, trách nhiệm quốc tế. Tình hình thế giới biến chuyển nhanh chóng, phức tạp, song xu thế lớn và nguyện vọng thiết tha của các dân tộc vẫn là luôn luôn giữ vững hoà bình, mở rộng hợp tác vì sự phát triển. Chúng ta đã xác định đúng đắn và rõ ràng vị trí, vai trò của mình trong hợp tác và phân công lao động quốc tế, cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị, chuỗi sản xuất và cung ứng khu vực và toàn cầu. Đường lối, chính sách và mục tiêu trước sau như một của chúng ta luôn luôn phù hợp với xu thế lớn đó của thời đại. Lợi ích quốc gia - dân tộc của chúng ta lúc này vẫn là bảo đảm môi trường quốc tế thuận lợi để phát triển. Điều đó hoàn toàn phù hợp với lợi ích của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đó là những thuận lợi rất cơ bản để chúng ta có thể kết hợp nhuần nhuyễn sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại.

Ba là, phải luôn luôn kiên định về nguyên tắc và linh hoạt về sách lược. Nguyên tắc của chúng ta là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Sách lược của chúng ta là cơ động, linh hoạt điều chỉnh tuỳ theo từng vấn đề, từng thời điểm và tuỳ theo đối tượng hay đối tác, tuân thủ những tư tưởng lớn của Bác Hồ: "Dĩ bất biến, ứng vạn biến", "thêm bạn bớt thù", "sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với ai". Việt Nam luôn sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy và có trách nhiệm với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế.

Bốn là, phải luôn luôn quan tâm xây dựng sự đoàn kết, đồng thuận trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân như lời căn dặn của Bác Hồ: "Sự nghiệp làm nên bởi chữ Đồng". Đường lối đối ngoại đúng đắn, giương cao ngọn cờ chính nghĩa và sự triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách cụ thể đã góp phần tạo nên sự đồng thuận cao của toàn bộ hệ thống chính trị, sự đoàn kết của toàn dân tộc và sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của bạn bè quốc tế. Thể chế, chính sách quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại dưới sự lãnh đạo của Đảng cần tiếp tục được hoàn thiện đồng bộ và phù hợp hơn; cơ chế phối hợp giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân với các hoạt động đối ngoại trên tất cả các lĩnh vực, như: Chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường...; giữa Trung ương và địa phương,... cần tiếp tục được đổi mới, hoàn thiện, ngày càng đồng bộ và phù hợp hơn, góp phần tạo ra sức mạnh tổng hợp, phát huy sự năng động, sáng tạo, hiệu lực, hiệu quả cao của hoạt động đối ngoại, đóng góp xứng đáng vào việc thực hiện mục tiêu bảo vệ Tổ quốc "từ sớm, từ xa", giữ gìn môi trường hoà bình, ổn định, tạo những thời cơ và điều kiện thuận lợi nhất để phát triển đất nước.

Năm là, phải làm tốt hơn nữa việc kiện toàn tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại toàn diện cả về bản lĩnh, phẩm chất, đạo đức và trí tuệ, hiện đại về phương pháp, lề lối làm việc; chuyên nghiệp về tác phong, ứng xử; tinh thông về nghiệp vụ, ngoại ngữ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần căn dặn: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc"; "Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém". Tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ III (tháng 01/1964), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn cán bộ ngoại giao: "Cán bộ ngoại giao cần phải học tập, tu dưỡng đạo đức cách mạng; cần phải biết giữ bí mật; cần phải tiết kiệm đúng cách; cần phải chú ý đoàn kết nội bộ; cần cố gắng nắm bắt tình hình nước sở tại và tình hình quốc tế nhanh và chính xác". Những lời dạy còn nguyên giá trị đó của Bác chính là định hướng xuyên suốt để các cán bộ làm công tác đối ngoại và ngoại giao phấn đấu, tu dưỡng và rèn luyện.

Thưa các đồng chí,
Với những kết quả, thành tựu đã đạt được từ đầu nhiệm kỳ đến nay, nhất là trong năm 2023, tôi tin tưởng và mong rằng, trong thời gian tới, dù tiếp tục phải đối mặt với không ít những khó khăn, thách thức mới, các thế hệ cán bộ đối ngoại, ngoại giao cả nước nhất định sẽ vẫn tiếp tục thể hiện được trí tuệ, bản lĩnh, đạo đức và cốt cách của nền ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh và kế tiếp được truyền thống đối ngoại quật cường nhưng hoà hiếu của dân tộc Việt Nam, tiếp tục đổi mới, xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại, vững mạnh toàn diện, mang đậm bản sắc "cây tre Việt Nam"; và xứng đáng hơn nữa với vai trò tiên phong trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; góp phần cùng với cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Nhân dịp năm mới 2024 và xuân Giáp Thìn sắp đến, một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn và chúc các nhà ngoại giao, các đồng chí đại biểu, cùng toàn thể đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác đối ngoại, ngoại giao cả nước luôn luôn dồi dào sức khoẻ và thu được nhiều thắng lợi mới trong nhiệm vụ đầy vinh quang và trọng trách rất cao cả của mình. Tôi cũng nhờ các đồng chí trưởng cơ quan đại diện ngoại giao chuyển tới các cán bộ, công chức, viên chức và cộng đồng người Việt Nam ta ở nước ngoài lời chào thân ái, lời thăm hỏi chân tình, lời chúc mừng năm mới tốt đẹp nhất. Chúc quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân ta với nhân dân thế giới ngày càng phát triển và bền chặt.
Chúc các đồng chí sức khoẻ, hạnh phúc và thắng lợi!
Chúc Hội nghị của chúng ta thành công tốt đẹp!


Yêu nước ST.