51 năm Chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không"
Thứ Ba, 19 tháng 12, 2023
Việt Nam thuộc nhóm các nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao
Trang tin tức thị
trường Yahoo!finance vừa đăng bài viết cho biết Việt Nam, Trung Quốc và một số
nước châu Á nằm trong số 20 nước có mức tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới
trong 10 năm trở lại đây.
Số liệu trong bài viết trên căn cứ nguồn số liệu
của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF). Cụ thể, các nhà phân tích đã xem xét mức tăng
trưởng Tổng sản phẩm quốc nội thực (GDP thực là thước đo tổng sản phẩm quốc nội
đã điều chỉnh lạm phát, phản ánh giá trị của tất cả hàng hóa và dịch vụ do một
nền kinh tế tạo ra trong một năm nhất định) dựa vào dữ liệu trong giai đoạn
2012-2022 để tính mức tăng trưởng trung bình trong 10 năm qua.
Theo đó, với mức tăng trưởng GDP thực trung bình là
6,1% trong một thập niên trở lại đây, Việt Nam thuộc nhóm các nước có tốc độ
tăng trưởng kinh tế cao. Ngành nông nghiệp của Việt Nam
là trụ cột quan trọng của nền kinh tế, vừa đóng góp cho GDP, vừa tạo việc làm.
Bài viết dẫn số liệu của Việt Nam cho thấy Mỹ vẫn
là thị trường lớn nhất nhập khẩu hàng nông, lâm, thủy sản của Việt Nam với kim
ngạch đạt 13,3 tỷ USD, tương đương 25% thị phần, tiếp đến là Trung Quốc với hơn
10 tỷ USD (18,9% thị phần); Nhật Bản với 4,2 tỷ USD (7,9% thị phần); Hàn Quốc
với 2,5 tỷ USD (4,7% thị phần).
Ở cấp độ châu lục, châu Á chiếm 44,7% thị phần,
châu Mỹ 27,4%, châu Âu 11,3%, châu Đại Dương 1,7% và châu
Phi 1,7%.
Cũng theo bài viết, 5 nước đứng đầu danh sách 20
nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong 10 năm là Guyana (Nam Mỹ) ở
vị trí số 1 với mức tăng GDP trung bình gần 15%. Đứng thứ 2 là Ireland (châu
Âu) với hơn 9%, tiếp đến là Ethiopia (châu Phi) với 8,43%, Tajikistan (Trung Á)
với hơn 7% và Côte d’Ivoire (Tây Phi) với hơn 6,8%.
CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: TÌM MỌI CÁCH BIỆN MINH CHO HÀNH VI VI PHẠM HIẾN PHÁP VÀ PHÁP LUẬT, BỘ GD&ĐT QUYẾT XÓA TRẮNG MÔN LỊCH SỬ!
Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đóng góp quan trọng vào thành công chung của công tác đối ngoại
Phát biểu tại phiên khai mạc Hội nghị
Ngoại giao lần thứ 32 ngày 19-12, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính
trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nhấn mạnh công tác
đối ngoại quốc phòng đã giành được nhiều thành tựu quan trọng. Báo Quân đội
nhân dân Điện tử trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Đại tướng Phan
Văn Giang.
Kính
thưa đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng
sản Việt Nam,
Kính
thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước,
Kính
thưa hội nghị!
Hội
nghị Ngoại giao lần thứ 32 có ý nghĩa hết sức quan trọng. Đây là dịp để chúng
ta cùng nhau đánh giá, sơ kết 3 năm thực hiện đường lối đối ngoại Đại hội XIII
của Đảng; đúc rút những bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả công tác
phối hợp giữa các ban, bộ, ngành, địa phương trong triển khai công tác đối
ngoại từ nay đến hết nhiệm kỳ khóa XIII và những năm tiếp theo.
Nhìn
lại từ Hội nghị Ngoại giao 31 đến nay, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu
vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh chưa
từng có tiền lệ, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã quán triệt, triển khai
thực hiện thắng lợi quan điểm, đường lối đối ngoại được xác định trong Nghị
quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết số 22 ngày 10-4-2013 của Bộ Chính trị
về hội nhập quốc tế, Nghị quyết số 34 ngày 9-1-2023 của Bộ Chính trị về một số
định hướng, chủ trương lớn triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIII của
Đảng; kiên trì thực hiện phương châm “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt,
hiệu quả”, gắn tư tưởng ngoại giao “cây tre Việt Nam”, giành nhiều thành tựu
quan trọng trong công tác đối ngoại quốc phòng.
Kết
luận số 53 ngày 28-4-2023 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế và đối ngoại
quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo đã khẳng định: “Những năm qua,
hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng được triển khai đồng bộ với nhiều cách
làm sáng tạo đạt kết quả khá toàn diện, đóng góp quan trọng vào thành công
chung của công tác đối ngoại, tăng cường tiềm lực quốc phòng, xây dựng Quân đội
nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; nâng cao vị thế,
uy tín của đất nước và của Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế”.
Trong
hợp tác quốc phòng song phương, Bộ Quốc phòng đã mở rộng quan hệ hợp tác với
các nước trên cơ sở tin cậy chính trị, xác định đúng nội dung và đa dạng hóa
hình thức hợp tác phù hợp với quan hệ chính trị, kinh tế, ngoại giao. Ưu tiên
tăng cường quan hệ quốc phòng gắn bó, đoàn kết, hữu nghị và tin cậy với các
nước láng giềng liền kề để đảm bảo vững chắc vành đai an ninh trực tiếp của đất
nước. Triển khai từng bước, từ hình thành cơ chế tiến tới hoàn thiện mô hình
Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới với đầy đủ các nước láng giềng liền kề
(đã tổ chức 7 lần với Trung Quốc, 1 lần với Lào, 1 lần với Campuchia) và vừa
qua đã tổ chức thành công Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới 3 nước Việt
Nam-Lào-Campuchia...
Trên
bình diện đa phương, Bộ Quốc phòng tham gia đầy đủ và là thành viên có uy tín,
trách nhiệm, phát huy vai trò tích cực tại các cơ chế hợp tác đa phương, diễn
đàn an ninh quốc tế, khu vực, nhất là khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng
các nước ASEAN (ADMM) và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN Mở rộng
(ADMM+); Đối thoại Shangri-La, Hội nghị An ninh quốc tế Moscow, Diễn đàn Hương
Sơn-Bắc Kinh; chủ động đề xuất sáng kiến thành lập Cộng đồng Tình báo Quốc
phòng ASEAN. Bộ Quốc phòng đã đăng cai tổ chức thành công nhiều hoạt động đa
phương lớn, nổi bật là trong năm 2022, lần đầu tiên tổ chức Triển lãm Quốc
phòng quốc tế Việt Nam và Chương trình Giao lưu “Cảnh sát biển Việt Nam và
những người bạn” với lực lượng thực thi pháp luật trên biển 6 nước trong khu
vực.
Hợp
tác khắc phục hậu quả chiến tranh được triển khai chủ động, tích cực. Việt Nam
đã hợp tác với 16 quốc gia và tổ chức quốc tế, huy động trên 650 triệu USD để
khắc phục hậu quả chất độc dioxin, bom mìn. Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng
đã chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước triển khai hiệu quả các hoạt động tham
gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa quốc tế…
Để
có được những kết quả trên, đối ngoại quốc phòng đã phối hợp chặt chẽ với các
trụ cột đối ngoại, thể hiện trên các mặt sau:
Thứ
nhất, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng luôn quán triệt sâu sắc vai trò, tính
đặc thù, thế mạnh của các trụ cột đối ngoại. Đó là thế mạnh về truyền thống
quan hệ lâu dài, gắn bó, thủy chung của đối ngoại Đảng; khả năng hội nhập năng
động, tích cực, toàn diện, tính hiệu lực, hiệu quả cao của ngoại giao Nhà nước;
và sức lan tỏa, thuyết phục dựa trên “sức mạnh mềm”, sức mạnh chính nghĩa và
công lý của đối ngoại nhân dân. Từ đó, phát huy những đặc trưng riêng của đối
ngoại quốc phòng nhằm góp phần củng cố, phát triển quan hệ của Việt Nam với các
quốc gia, tổ chức quốc tế; tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài để xây dựng,
củng cố tăng cường tiềm lực quốc phòng, khắc phục hậu quả chiến tranh; thúc đẩy
hợp tác với các nước láng giềng; nâng cao vị thế, vai trò, uy tín của đất nước,
Quân đội trên trường quốc tế.
Thứ
hai, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Ngoại giao,
Ban Đối ngoại Trung ương và các cơ quan đối ngoại trong việc hoạch định, triển
khai đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, vì lợi ích quốc
gia-dân tộc. Việc phối hợp chặt chẽ, đồng bộ và hiệu quả với các trụ cột đối
ngoại nhằm bảo đảm tính tổng thể, gắn kết, tuân thủ các mục tiêu, định hướng
chung, đồng thời phù hợp với ưu tiên đối ngoại ở từng thời điểm và với từng đối
tác cụ thể; cũng như sự phân vai, phân công, phân nhiệm phù hợp, hiệu quả, phát
huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị.
Thứ
ba, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các
hoạt động đối ngoại của Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Ngoại giao vừa qua đã được
triển khai hết sức hiệu quả. Lực lượng, đối tượng, nội dung, phương thức hoạt
động của đối ngoại quốc phòng, theo đó, cũng đã được quan tâm phát triển, đổi
mới, phù hợp với những thay đổi của thế giới, khu vực và đất nước; bảo đảm sự
linh hoạt, cụ thể trong từng hoàn cảnh, tình hình, với từng nhóm đối tác, đối
tượng, trên cơ sở bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc.
Thứ
tư, trong thực tế triển khai đối ngoại quốc phòng, các cơ quan chức năng của Bộ
Quốc phòng luôn nhận được sự hỗ trợ, phối hợp công tác chặt chẽ của các cơ quan
chức năng của Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Ngoại giao, Ủy ban Đối ngoại của
Quốc hội... Các đồng chí Đại sứ, Tổng lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài cũng luôn
dành sự hỗ trợ, quan tâm đặc biệt cho các đoàn đại biểu Bộ Quốc phòng mỗi khi
sang địa bàn công tác.
Thời
gian tới, tình hình thế giới, khu vực dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp, khó
lường, tiềm ẩn nhiều yếu tố mất ổn định. Đất nước ta đứng trước nhiều khó khăn,
thách thức; 4 nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn còn hiện hữu. Nhiệm vụ công tác
đối ngoại nói chung, công tác đối ngoại quốc phòng nói riêng có những yêu cầu
mới, khó khăn, phức tạp, cần có chủ trương, giải pháp đồng bộ lãnh đạo, chỉ đạo
thực hiện chặt chẽ, hiệu quả để phục vụ đắc lực sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thời
gian tới, trước mắt tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:
Một
là, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện
thắng lợi quan điểm, đường lối đối ngoại được xác định trong Nghị quyết Đại hội
XIII của Đảng, Nghị quyết số 34-NQ/TW ngày 9-1-2023 của Bộ Chính trị về một số
định hướng, chủ trương lớn triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIII của
Đảng, Nghị quyết Trung ương 8 khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình
hình mới với phương châm bảo vệ đất nước “từ sớm, từ xa”, giữ nước từ khi nước
chưa nguy. Tập trung giáo dục, quán triệt cho cán bộ, chiến sĩ, lực lượng làm
công tác đối ngoại nắm chắc quan điểm, mục tiêu, yêu cầu, nguyên tắc, nhiệm vụ
đối ngoại quốc phòng, làm cơ sở để vận dụng, triển khai trong thực tiễn.
Hai
là, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tiếp tục tăng cường phối hợp với các ban,
bộ, ngành Trung ương trong công tác nghiên cứu, tham mưu, dự báo chiến lược,
phối hợp chặt chẽ, phát huy hiệu quả vai trò, thế mạnh các kênh đối ngoại trong
đánh giá, nhận định tình hình, nhất là với các vấn đề liên đến quốc phòng, phát
triển của đất nước, tham mưu kịp thời, hiệu quả các chủ trương, giải pháp đối
ngoại để phục vụ sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Đối ngoại Đảng và ngoại giao Nhà
nước là hai lực lượng đóng vai trò chủ lực, nhất là trên các vấn đề lớn có tính
chiến lược. Bên cạnh đó, đối ngoại nhân dân cũng là một kênh thông tin quan
trọng, nhiều chiều, khách quan, từ đó đề xuất các chủ trương, biện pháp ứng phó
phù hợp.
Ba
là, tăng cường phối hợp trong công tác thông tin, tuyên truyền về đối ngoại;
bảo đảm an ninh, an toàn chính trị nội bộ. Kết hợp đồng bộ nhiều lực lượng,
biện pháp, tận dụng các hình thức đa phương tiện để kịp thời thông tin, góp
phần định hướng cho nhân dân trong nước, đồng bào ta ở nước ngoài và cộng đồng
quốc tế hiểu rõ chủ trương, đường lối đối ngoại, chính sách quốc phòng hòa
bình, tự vệ; lan tỏa mạnh mẽ lịch sử, truyền thống, hình ảnh đất nước, văn hóa,
con người, thành tựu công cuộc đổi mới của đất nước, Quân đội nhân dân Việt
Nam.
Bốn
là, tiếp tục tăng cường phối hợp xây dựng, hoàn thiện và thực thi hiệu quả hệ
thống pháp luật về công tác đối ngoại; quy chế phối hợp hoạt động trong công
tác đối ngoại giữa Bộ Quốc phòng với Bộ Ngoại giao và các ban, bộ, ngành, địa
phương trong cả nước; đầu tư nguồn lực và phát triển đội ngũ cán bộ làm công
tác đối ngoại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Tiếp tục đổi mới, xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại, vững mạnh toàn diện, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”
Phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 32, Hà Nội, ngày 19-12-2023
Hôm
nay, tôi rất vui mừng và hân hạnh được đến dự Hội nghị Ngoại giao lần thứ
32-một hội nghị có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ của ngành Ngoại giao mà
còn là của toàn bộ công tác đối ngoại cả nước. Đây là dịp để chúng ta nhìn lại
quá trình gần 3 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của
Đảng về công tác đối ngoại nói chung và ngoại giao nói riêng; trên cơ sở đó đề
xuất các phương hướng, biện pháp để thực hiện có hiệu quả hơn nữa nhiệm vụ đối
ngoại và ngoại giao trọng tâm cho những năm tới; đồng thời góp phần vào việc
chuẩn bị tổng kết 40 năm thực hiện đường lối đổi mới và chuẩn bị Văn kiện Đại
hội XIV của Đảng.
Trước
hết, tôi xin được thay mặt các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, và với tình
cảm cá nhân, gửi tới các đồng chí, đặc biệt là các nhà ngoại giao lão thành,
cùng toàn thể anh chị em cán bộ, công chức, viên chức, những người làm công tác
đối ngoại, ngoại giao ở trong và ngoài nước lời chào thân ái, lời thăm hỏi chân
tình và lời chúc mừng nồng nhiệt nhất. Chúc hội nghị của chúng ta thành công
tốt đẹp!
Thưa
các đồng chí,
Như
chúng ta đều biết, trong gần 40 năm đổi mới vừa qua, Đảng ta đã kế thừa và phát
huy bản sắc, cội nguồn và truyền thống dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa
thế giới và tư tưởng tiến bộ của thời đại, phát triển trên nền tảng lý luận của
chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hình thành nên một trường phái
đối ngoại, ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo, mang đậm bản sắc "cây
tre Việt Nam". Đó là vừa kiên định về nguyên tắc, vừa uyển chuyển về
sách lược; mềm mại, khôn khéo nhưng cũng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt,
sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức, vì độc
lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân; đoàn kết, nhân ái nhưng luôn
luôn kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc. Đến nhiệm kỳ khóa
XIII, cụ thể là tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị
quyết Đại hội XIII của Đảng được tổ chức vào ngày 14-12-2021, chúng ta đã thống
nhất cao khẳng định về sự hình thành, phát triển của Trường phái đối
ngoại, ngoại giao "cây tre Việt Nam": Gốc vững, thân chắc, cành uyển
chuyển, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam.
Trong
gần 3 năm qua, đặc biệt là từ sau Hội nghị Đối ngoại toàn quốc lần đầu tiên
được tổ chức theo tinh thần vừa nêu trên đây, ngành Ngoại giao và Đối ngoại cả
nước ta đã nỗ lực phấn đấu, nghiêm túc quán triệt và chung sức, đồng lòng tổ
chức thực hiện tốt đường lối đối ngoại của Đảng, đạt được nhiều kết
quả, thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử, trở thành một điểm sáng đầy ấn
tượng trong toàn bộ những kết quả, thành tựu chung của đất nước những năm qua.
Nổi bật là ở 6 điểm sau đây:
Thứ
nhất, chúng ta đã tổ chức quán triệt và triển
khai đồng bộ, hiệu quả đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng. Trung
ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thông qua nhiều đề án đối ngoại
quan trọng, kịp thời ban hành các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, cụ thể
hóa các chủ trương, đường lối đối ngoại của Đại hội XIII thành các mục
tiêu, nhiệm vụ và giải pháp toàn diện, lâu dài, như Nghị quyết Trung
ương 8 khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Nghị quyết
số 34 của Bộ Chính trị về một số định hướng, chủ trương lớn triển khai đường
lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng; các kết luận, chỉ thị về
phát triển quan hệ với một số đối tác quan trọng, hợp tác ASEAN, hợp tác
tiểu vùng Mê Công, công tác ngoại giao kinh tế, công tác người Việt Nam định cư
ở nước ngoài, đối ngoại nhân dân, v.v... Hội nghị Đối ngoại toàn quốc
về triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng lần đầu tiên
được tổ chức đã quán triệt, nâng cao nhận thức, thống nhất hành động trong toàn
hệ thống chính trị. Trên cơ sở đó, các ngành, các cấp đã tích cực cụ thể hóa
thành các đề án, chương trình, kế hoạch và giải pháp để triển khai toàn diện,
đồng bộ và thống nhất công tác đối ngoại từ sau Đại hội XIII của Đảng đến nay.
Thứ
hai, đối ngoại và ngoại giao đã
phát huy thế mới và lực mới, sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, củng cố vững
chắc hơn cục diện đối ngoại rộng mở, thuận lợi cho phát triển đất nước và bảo
vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Trước những biến động lớn, phức tạp,
khó lường trên thế giới và trong khu vực, chúng ta đã có những quyết sách đúng
đắn, bước đi chủ động, đột phá, khẳng định bản lĩnh, mang tính lịch
sử trong việc triển khai các hoạt động đối ngoại. Thành công các
chuyến thăm, điện đàm của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước từ sau Đại hội
XIII của Đảng, nhất là hơn 40 chuyến thăm của các đồng chí lãnh đạo chủ chốt
tới các nước láng giềng, các nước lớn, các nước đối tác chiến lược, hầu
hết các nước ASEAN, nhiều đối tác quan trọng và bạn bè truyền thống; đồng
thời nhiều nguyên thủ, lãnh đạo cấp cao các nước và các tổ chức quốc tế lớn
thăm Việt Nam, đã vẽ lên một bức tranh rất đẹp, rất sinh động và có sức
hấp dẫn cao trên mặt trận đối ngoại trong 2 năm vừa qua và tạo
nên một vị thế mới của Việt Nam trên trường quốc tế, được dư luận
trong nước và bạn bè quốc tế đánh giá cao và đồng tình, ủng hộ. Đặc biệt, các
hoạt động đối ngoại diễn ra hết sức sôi động, liên tục và là điểm sáng
nổi bật của năm 2023; việc tổ chức đón Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập
Cận Bình, Tổng thống Mỹ Joe Biden, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun
Sisoulith, Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia Hun Sen và nhiều nguyên thủ quốc
gia các nước quan trọng khác đến thăm Việt Nam được đánh giá là những sự
kiện có ý nghĩa lịch sử, góp phần khẳng định "chưa bao
giờ đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế quốc tế như ngày
nay". Từ một nước bị bao vây, cấm vận, đến nay, chúng ta đã mở rộng,
làm sâu sắc quan hệ với 193 nước, trong đó có 3 nước có quan hệ đặc
biệt, 6 nước đối tác chiến lược toàn diện (Hoa Kỳ và Nhật Bản vừa mới được bổ
sung vào nhóm này trong quý IV vừa qua), 12 nước đối tác chiến lược và 12 nước
đối tác toàn diện.
Thứ
ba, công tác đối ngoại, ngoại giao đã phối
hợp chặt chẽ với quốc phòng, an ninh và các cấp, các ngành, phát huy vai trò
tiên phong trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ Đảng, Tổ
quốc và nhân dân. Trước những biến động rất phức tạp trên thế giới và những
tác động tiêu cực từ bên ngoài, chúng ta đã kiên định tính độc lập, tự
chủ trên cơ sở bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc,
nêu cao tinh thần hòa hiếu, đồng thời linh hoạt, mềm dẻo trong sách lược để xử
lý đúng đắn, hài hòa quan hệ với các đối tác, nhất là với các nước láng
giềng, các nước lớn và các đối tác quan trọng, cũng như các tình
huống phức tạp về biên giới trên bộ và trên biển, đẩy lùi nguy cơ chiến
tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Chúng ta đã chủ động, tích cực thúc đẩy việc
đối thoại, đàm phán; tham gia các hiệp định, sáng kiến vì hòa bình, tiến bộ
nhân loại và đã đạt được những kết quả rất quan trọng về phân định, giải quyết
một số vấn đề biên giới lãnh thổ trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, bảo vệ
vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, củng cố đường biên giới hòa
bình, hữu nghị, tạo thuận lợi cho việc thúc đẩy giao lưu, kết nối và hợp tác
phát triển.
Thứ
tư, công tác đối ngoại và ngoại giao đã đi đầu trong
việc huy động các nguồn lực bên ngoài, góp phần quan trọng cho việc thực hiện
nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, nhất là mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh
tế đối ngoại. Từ năm 2021 đến nay, mặc dù bị ảnh hưởng nặng nề
của đại dịch Covid-19 và suy thoái kinh tế, thương mại thế giới, kinh tế nước
ta vẫn là một điểm sáng trong bức tranh không mấy sáng màu của
kinh tế toàn cầu; kinh tế vĩ mô vẫn cơ bản ổn định; lạm phát, nợ công, nợ chính
phủ, nợ nước ngoài, bội chi ngân sách Nhà nước được kiểm soát; các
cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Tăng trưởng kinh tế năm
2022 đạt 8,02% và dự báo năm 2023 có thể đạt trên 5%, là mức cao so
với các nước trong khu vực và trên thế giới; lần đầu tiên GDP của nước ta vượt
400 tỷ USD, đứng thứ 3 trong ASEAN và thuộc nhóm 40 nền kinh
tế lớn nhất thế giới và 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại
và thu hút đầu tư nước ngoài. Trong khó khăn, các lĩnh vực văn hóa,
xã hội vẫn tiếp tục được quan tâm chăm lo, đầu tư phát triển, đạt được
nhiều kết quả quan trọng, rõ rệt, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã
hội chủ nghĩa. Chúng ta đã cơ bản thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm
vụ: Vừa tập trung phòng, chống, kiểm soát, khắc phục hậu quả của dịch
bệnh; vừa thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội.
Thứ
năm, chúng ta đã chủ động, tích cực hội nhập quốc tế
ngày càng toàn diện, sâu rộng, góp phần không ngừng nâng cao vị thế và uy tín
quốc tế của đất nước trên trường quốc tế. Việt Nam được bạn bè quốc tế
tín nhiệm đề cử gánh vác nhiều trọng trách quốc tế quan trọng trong
các cơ chế, diễn đàn đa phương, nhất là trong ASEAN và Liên
hợp quốc như Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc
nhiệm kỳ 2020-2021, Phó chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77, thành viên
Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc 2023-2025, Ủy ban liên Chính phủ bảo vệ di
sản văn hóa phi vật thể của UNESCO, Ủy ban Luật pháp quốc tế nhiệm kỳ
2023-2027,… Tiếp tục đóng góp tích cực và có trách nhiệm vào
việc giải quyết các vấn đề quốc tế như cắt giảm khí thải và chống biến đổi
khí hậu; cử hàng trăm lượt cán bộ, chiến sĩ tham gia thực hiện sứ mệnh gìn giữ
hòa bình của Liên hợp quốc ở châu Phi; lần đầu tiên cử lực lượng hỗ trợ khắc
phục hậu quả động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ, chủ động thúc đẩy hợp tác phòng, chống
dịch bệnh, thiên tai, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước,... Trong việc
tham gia giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực, chúng ta đã đề xuất
nhiều sáng kiến, giải pháp có lý, có tình trên cơ sở nhất quán độc
lập, tự chủ, đề cao chính nghĩa, đoàn kết quốc tế, hòa hiếu, nhân văn và tôn
trọng luật pháp quốc tế, do đó đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ
cao của bạn bè quốc tế. Có thể nói, chưa bao giờ vị thế, uy tín và hình ảnh một
nước Việt Nam độc lập, tự chủ, phát triển năng động, là bạn bè thủy chung, chân
thành, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực và có trách nhiệm lại nổi
bật trên trường quốc tế như hiện nay.
Thứ
sáu, công tác đối ngoại đảng,
ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân được triển
khai đồng bộ, chặt chẽ, đạt nhiều kết quả quan trọng. Quan hệ giữa
Đảng ta với các đảng cộng sản, công nhân và các chính đảng khác tiếp tục được
củng cố và phát triển thông qua các hoạt động trao đổi đoàn, trao đổi lý luận
và tiếp xúc tại các diễn đàn đa phương. Đối ngoại của Quốc hội cũng được triển
khai ngày càng chủ động, tích cực, thúc đẩy quan hệ với quốc hội, nghị viện
nhiều nước đi vào chiều sâu và nâng cao vị thế, uy tín của Quốc hội nước ta tại
các diễn đàn quốc tế, nhất là trong AIPA, IPU. Công tác đối ngoại nhân
dân được triển khai với nhiều hình thức, nội dung ngày càng đa dạng,
phong phú và thực chất, góp phần mở rộng, tăng cường quan hệ hữu nghị, hiểu
biết lẫn nhau, tranh thủ nguồn lực và sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Những
kết quả nêu trên có được là nhờ sự lãnh đạo đúng đắn, sáng
suốt, chặt chẽ, thường xuyên của Trung ương Đảng, trực tiếp là Bộ Chính trị,
Ban Bí thư; sự điều hành chủ động, linh hoạt của Nhà nước; sự vào cuộc và sự
triển khai tích cực của tất cả các cấp, các địa phương, các ngành, nhất là
ngành Ngoại giao. Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã dành nhiều thời
gian, công sức và nguồn lực cho công tác đối ngoại.
Đặc
biệt, những kết quả đó có sự đóng góp rất quan
trọng của đội ngũ cán bộ đối ngoại nói chung và cán bộ ngoại giao nói riêng,
với tâm huyết, trách nhiệm và trình độ chuyên môn cao, luôn tuyệt đối trung
thành với Đảng, với chế độ ta, luôn đặt lên hàng đầu lợi ích
quốc gia-dân tộc, luôn cháy bỏng khát khao cống hiến và phục vụ. Nhân
dịp này, tôi xin thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, ghi nhận, nhiệt liệt biểu
dương, chúc mừng và cảm ơn những đóng góp to lớn, rất có ý nghĩa đó của đội ngũ
cán bộ làm công tác đối ngoại nói chung và của ngành Ngoại giao nói riêng.
Tuy
nhiên, chúng ta tuyệt nhiên không được chủ quan, tự mãn với
những kết quả, thành tích đã đạt được. Bởi vì, trước mắt còn nhiều khó
khăn, thách thức phải vượt qua và rất nhiều việc phải làm.
Tôi đề nghị các đồng chí kiểm điểm thật kỹ, rút kinh nghiệm từ những kết quả,
thành tựu kể trên để tiếp tục phát huy, làm tốt hơn nữa. Đồng thời, cũng cần
đánh giá kỹ lưỡng những hạn chế, yếu kém trong công tác đối ngoại thời gian qua
để chủ động khắc phục.
Thưa
các đồng chí,
Trong
thời gian tới, tình hình thế giới và khu vực dự báo sẽ còn tiếp
tục có những diễn biến phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn
là xu thế lớn, song cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới. Cục diện
thế giới đa cực, đa trung tâm, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn sẽ ngày
càng quyết liệt, thậm chí có nguy cơ xung đột, đối đầu, tạo thách thức rất lớn
đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước có độ mở của nền kinh tế
cao, sức chống chịu và khả năng cạnh tranh còn hạn chế như nước ta. Các nước
lớn sẽ tăng cường điều chỉnh chiến lược, lôi kéo, tập hợp lực lượng, vừa hợp
tác, thỏa hiệp, vừa đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau và can dự, chi phối nội bộ
nước khác. Nhiều điểm nóng về an ninh tiếp tục tồn tại, có nguy cơ lan rộng,
làm xuất hiện các hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến, không
gian chiến lược mới. Khoa học-công nghệ phát triển mạnh mẽ, tạo ra
những biến đổi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. An ninh truyền thống
cũng như phi truyền thống, nhất là thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, an
ninh lương thực, năng lượng, an ninh mạng... đặt ra nhiều thách thức đối
với các quốc gia. Châu Á-Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Đông Nam Á tiếp tục phát
triển năng động nhưng sẽ trở thành trọng điểm cạnh tranh quyết liệt giữa các
nước lớn. Chính vì thế, chúng ta cần thường xuyên theo dõi sát các diễn
biến và dự báo đúng chiều hướng phát triển của tình hình bên ngoài và nhất là
đánh giá thật đúng các tác động đến Việt Nam để không bị động, bất ngờ
và luôn luôn bình tĩnh, tỉnh táo nắm bắt thời cơ, thuận lợi, vượt qua
khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ của công tác
đối ngoại từ nay đến hết nhiệm kỳ, như Đại hội XIII của Đảng đã đề ra: "Thực
hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác
và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất
lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên
hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn
diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực,
có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế".
Tôi
cơ bản tán thành với các định hướng, nhiệm vụ và giải pháp đã nêu trong báo cáo
của lãnh đạo Bộ Ngoại giao, chỉ xin gợi mở và nhấn mạnh thêm một số vấn
đề cần quan tâm sau đây, có 5 vấn đề:
Một
là, cần phải tiếp tục bám sát Nghị quyết và đường lối
đối ngoại của Đại hội XIII và các nghị quyết của Trung ương, sự lãnh đạo, chỉ
đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chương trình hành động của Chính phủ và của
Bộ Ngoại giao; tăng cường công tác nắm bắt tình hình, phân tích, dự
báo, kịp thời tham mưu điều chỉnh, bổ sung những xu hướng mới và những vấn đề
mới phát sinh để cụ thể hóa, xây dựng và tổ chức thực hiện
thật nghiêm, thật tốt các chương trình, kế hoạch cụ thể của từng cơ
quan, đơn vị một cách đồng bộ, khoa học, bài bản, thống nhất, với
quyết tâm cao, nỗ lực lớn của cả hệ thống chính trị theo đúng tinh thần "Tiền
hô hậu ủng", "Nhất hô bá ứng", "Trên dưới đồng lòng",
"Dọc ngang thông suốt"!
Hai
là, phải luôn luôn quan tâm kết hợp nhuần
nhuyễn sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại; xử lý hài hòa mối quan
hệ giữa lợi ích quốc gia-dân tộc và nghĩa vụ, trách nhiệm quốc tế. Tình
hình thế giới biến chuyển nhanh chóng, phức tạp, song xu thế lớn và
nguyện vọng thiết tha của các dân tộc vẫn là luôn luôn giữ vững hòa bình, mở
rộng hợp tác vì sự phát triển. Chúng ta đã xác định đúng đắn và rõ ràng vị
trí, vai trò của mình trong hợp tác và phân công lao động quốc tế, cải thiện vị
trí trong chuỗi giá trị, chuỗi sản xuất và cung ứng khu vực và toàn cầu. Đường
lối, chính sách và mục tiêu trước sau như một của chúng ta luôn luôn phù hợp
với xu thế lớn đó của thời đại. Lợi ích quốc gia-dân tộc của chúng ta
lúc này vẫn là bảo đảm môi trường quốc tế thuận lợi để phát
triển. Điều đó hoàn toàn phù hợp với lợi ích của nhân dân thế giới vì hòa bình,
độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đó là những thuận lợi rất cơ bản để
chúng ta có thể kết hợp nhuần nhuyễn sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời
đại.
Ba
là, phải luôn luôn kiên định về nguyên tắc và
linh hoạt về sách lược. Nguyên tắc của chúng ta là độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Sách lược của chúng ta là cơ
động, linh hoạt điều chỉnh tùy theo từng vấn đề, từng thời điểm và tùy theo đối
tượng hay đối tác, tuân thủ những tư tưởng lớn của Bác Hồ: "Dĩ bất biến
ứng vạn biến", "thêm bạn bớt thù", "sẵn sàng làm bạn với
tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với ai". Việt Nam luôn sẵn
sàng là bạn, là đối tác tin cậy và có trách nhiệm với tất cả
các nước trong cộng đồng quốc tế.
Bốn
là, phải luôn luôn quan tâm xây dựng sự đoàn
kết, đồng thuận trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân như lời căn dặn
của Bác Hồ: "Sự nghiệp làm nên bởi chữ Đồng". Đường lối
đối ngoại đúng đắn, giương cao ngọn cờ chính nghĩa và sự triển khai thực hiện
có hiệu quả các chính sách cụ thể đã góp phần tạo nên sự đồng thuận cao của
toàn bộ hệ thống chính trị, sự đoàn kết của toàn dân tộc và sự đồng tình, ủng
hộ rộng rãi của bạn bè quốc tế. Thể chế, chính sách quản lý thống nhất
các hoạt động đối ngoại dưới sự lãnh đạo của Đảng cần tiếp tục được hoàn thiện
đồng bộ và phù hợp hơn; cơ chế phối hợp giữa đối ngoại đảng, ngoại giao Nhà
nước, đối ngoại nhân dân với các hoạt động đối ngoại trên tất cả các lĩnh vực,
như: Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi
trường...; giữa Trung ương và địa phương,... cần tiếp tục được đổi mới,
hoàn thiện, ngày càng đồng bộ và phù hợp hơn, góp phần tạo ra sức mạnh tổng
hợp, phát huy sự năng động, sáng tạo, hiệu lực, hiệu quả cao của hoạt động đối
ngoại, đóng góp xứng đáng vào việc thực hiện mục tiêu bảo vệ Tổ quốc
"từ sớm, từ xa", giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định, tạo những thời
cơ và điều kiện thuận lợi nhất để phát triển đất nước.
Năm
là, phải làm tốt hơn nữa việc kiện toàn tổ
chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại toàn diện cả về bản lĩnh, phẩm
chất, đạo đức và trí tuệ, hiện đại về phương pháp, lề lối làm việc; chuyên
nghiệp về tác phong, ứng xử; tinh thông về nghiệp vụ, ngoại ngữ. Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã nhiều lần căn dặn: "Cán bộ là cái gốc của mọi công
việc"; "Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay
kém". Tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ III (tháng 1-1964), Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã căn dặn cán bộ ngoại giao: "Cán bộ ngoại giao cần phải học tập, tu
dưỡng đạo đức cách mạng; cần phải biết giữ bí mật; cần phải tiết kiệm đúng
cách; cần phải chú ý đoàn kết nội bộ; cần cố gắng nắm bắt tình hình nước sở tại
và tình hình quốc tế nhanh và chính xác". Những lời dạy còn nguyên giá trị
đó của Bác chính là định hướng xuyên suốt để các cán bộ làm công tác đối ngoại
và ngoại giao phấn đấu, tu dưỡng và rèn luyện.
Ngoại giao cây tre
hướng, biện pháp khắc phục, quyết tâm thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ đối ngoại mà Đảng và Nhà nước giao phó. Toàn ngành Ngoại giao nghiêm túc tiếp thu đầy đủ, sớm cụ thể hóa các chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư thành các chương trình, đề án, kế hoạch hành động và tổ chức thực hiện một cách có hiệu quả, tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của ngoại giao cách mạng Việt Nam và bản sắc của ngoại giao "Cây tre Việt Nam"; quyết tâm, nỗ lực cao nhất để xây dựng một nền ngoại giao Việt Nam vững mạnh, toàn diện, hiện đại, cùng với các ngành, các cấp thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
Kiên định trong nguyên tắc và linh hoạt trong sách lược ngoại giao
Tổng Bí thư nhấn mạnh, luôn luôn phải kiên định trong nguyên tắc và linh hoạt trong sách lược. Nguyên tắc là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Sách lược là cơ động, linh hoạt điều chỉnh tuỳ theo từng vấn đề, từng thời điểm và tùy theo đối tượng hay đối tác, tuân thủ những tư tưởng lớn của Bác Hồ: "Dĩ bất biến ứng vạn biến", "thêm bạn bớt thù", "sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với ai". Việt Nam luôn sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy và có trách nhiệm với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, luôn luôn phải quan tâm xây dựng sự đoàn kết, đồng thuận trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân như lời căn dặn của Bác Hồ: "Sự nghiệp làm nên bởi chữ Đồng". Đường lối đối ngoại đúng đắn, giương cao ngọn cờ chính nghĩa và sự triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách cụ thể đã góp phần tạo nên sự đồng thuận cao của toàn bộ hệ thống chính trị, sự đoàn kết của toàn dân tộc và sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của bạn bè quốc tế. Thể chế, chính sách quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại dưới sự lãnh đạo của Đảng cần tiếp tục được hoàn thiện đồng bộ và phù hợp hơn. Cơ chế phối hợp giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân với các hoạt động đối ngoại trên tất cả các lĩnh vực, như: Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường...; giữa Trung ương và địa phương... cần tiếp tục được đổi mới, hoàn thiện, ngày càng đồng bộ và phù hợp hơn, góp phần tạo ra sức mạnh tổng hợp, phát huy sự năng động, sáng tạo, hiệu lực, hiệu quả cao của hoạt động đối ngoại, đóng góp xứng đáng vào việc thực hiện mục tiêu bảo vệ Tổ quốc "từ sớm, từ xa", giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định, tạo những thời cơ và điều kiện thuận lợi nhất để phát triển đất nước.














