Thứ Ba, 19 tháng 12, 2023

 51 năm Chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không"

Giáp mặt trên không
Trung tá Chu Duy Kính-Chính ủy Trung đoàn không quân 921 (đứng giữa), chụp ảnh kỷ niệm cùng phi công Phạm Thanh Ngân (bên trái) và Nguyễn Văn Cốc (bên phải) trước giờ xuất kích.
QĐND - Từ mùa khô năm 1967-1968, Mỹ đã tăng cường sử dụng máy bay B-52 đánh phá rất ác liệt cả ban ngày và ban đêm, dọc theo tuyến đường số 9 đến bắc vĩ tuyến 17 để ngăn chặn mọi sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam. Phi đội trưởng Trung đoàn Không quân 921 Phạm Thanh Ngân cùng với phi công tiêm kích Nguyễn Văn Cốc được giao nhiệm vụ đánh máy bay B-52 trên khu vực đường số 9 ở Quảng Trị.
Thời gian chuẩn bị rất khẩn trương. Quân chủng đồng ý dùng máy bay ném bom T-16 làm “quân xanh” B-52, bay trên độ cao 10.000m để các anh tập ngắm bắn và tập cất, hạ cánh ở sân bay ghi sắt Hòa Lạc. Nhiều lần bí mật cất cánh vào Khu 4, gặp máy bay địch không được phép đánh. Có lần sắp hạ cánh xuống sân bay Vinh, lại bị 4 chiếc F-4 công kích theo, các anh phải lao vào mây, thoát ly bay về sân bay Nội Bài, đúng vừa lúc hết dầu.
Vào dịp Tết Mậu Thân 1968, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn Không quân tiêm kích 923, Trung đoàn Không quân vận tải 919 và kíp trực ban chiến đấu sẵn sàng đánh B-52 của Trung đoàn 921 vui mừng chào đón Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến thăm và chúc Tết đơn vị. Những tràng vỗ tay vang lên trong hàng quân khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng tươi cười bước đến, chào mọi người và thăm hỏi tình hình chiến đấu, công tác, sinh hoạt... của đơn vị. Thủ tướng chuyển lời chúc năm mới của Trung ương và Bác Hồ tới cán bộ, chiến sĩ toàn quân chủng; thông báo tình hình và động viên, khích lệ tinh thần của cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị. Thủ tướng trao quà năm mới và giới thiệu hai nghệ sĩ trẻ là ái Xuân và ái Vân hát tặng cán bộ, chiến sĩ không quân bài ca mới được phổ thơ Mừng Xuân của Bác Hồ. Mọi người vui sướng lắng nghe những giai điệu mượt mà, tràn đầy lạc quan: Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua/Thắng trận tin vui khắp nước nhà/Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ/Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!
Trong giờ phút thiêng liêng này, ai cũng nung nấu quyết tâm thực hiện nhiệm vụ đặc biệt, ngăn chặn sự tàn phá hủy diệt bằng pháo đài bay B-52 của kẻ thù. Trong các cuộc họp, mọi người xác định: Nếu gặp B-52, thì sẽ bằng mọi giá tiêu diệt nó. Nếu đã bắn hết mỗi người hai quả tên lửa mà không diệt được, thì dùng máy bay mình làm quả tên lửa thứ ba lao vào B-52...
Nhưng họ phải chờ đến ngày 4-10-1971, lần đầu tiên phi công tiêm kích Đinh Tôn được lệnh xuất kích đánh B-52 trên vùng trời Khu 4. Đinh Tôn vượt qua được vùng nhiễu dày đặc của địch, lần tìm phát hiện thấy mục tiêu B-52 trong tình thế đối đầu quá gần, không đánh được. Bọn F-4 phát hiện MiG-21, quây vào, tạo thời cơ cho B-52 quay về nơi xuất phát. Trận đánh không thành nhưng đã giúp cho quân chủng rút ra nhiều điều bổ ích để hoàn thiện cách dẫn đường cho MiG-21 đánh B-52.
Quân chủng triển khai Sở chỉ huy tiền phương trên chiến trường Khu 4, các trạm ra-đa nằm vùng trên các trận địa tiền phương, các cao điểm giáp biên giới đã bí mật mở máy trinh sát, theo dõi địch liên tục ngày đêm. Nhiều sân bay dã chiến được bộ đội công binh sửa chữa kịp thời. Nhưng hàng loạt khó khăn ở chiến trường Khu 4 khi Hạm đội 7 của Mỹ ngày đêm hoạt động. Hằng ngày, chúng dùng máy bay đánh phá vào các mục tiêu của ta bằng tên lửa sơ-rai khống chế các đài ra -đa và dùng pháo bắn vào các sân bay mà chúng nghi là có MiG.
Đêm 20-11-1971, Bộ tư lệnh Quân chủng ra lệnh sử dụng hai máy bay MiG-21 trực chiến: Phi công Hoàng Biểu trực ở sân bay Vinh và phi công Vũ Đình Rạng trực ở sân bay Anh Sơn. Khi Sở chỉ huy tiền phương phát hiện có B-52 hoạt động, Hoàng Biểu được dẫn dắt tiếp cận mục tiêu, nhưng địch phát hiện được, tốp B-52 quay trở về căn cứ. Trận đánh không thành. Sở chỉ huy cho phi công Hoàng Biểu về sân bay Sao Vàng hạ cánh.
Lúc 20 giờ 10 phút cùng đêm ấy, phát hiện một tốp B-52 bay từ hướng tây sang. Phi công Vũ Đình Rạng được lệnh tiếp cận mục tiêu. Vũ Đình Rạng từng là phi công chiến đấu ban ngày với không quân của hải quân Mỹ. Lúc này, Thượng tá, Phó tư lệnh Trần Mạnh trao đổi liên tục với sĩ quan dẫn đường Nguyễn Văn Chuyên đang vạch một đường chì trên bản đồ, theo mũi tên thể hiện tốp B-52 sẽ bay vào. Đó là khu vực Tà-lê Phu-la-nhích, một trọng điểm B-52 thường xuyên đánh phá. Cùng lúc, tại Sở chỉ huy trung tâm B3, Tư lệnh Đào Đình Luyện hiểu rõ thời cơ một trận đánh B-52 đang đến gần. ông chỉ đạo kíp dẫn đường chiếc MiG-21 của Rạng cho đến khi Sở chỉ huy B8 nhìn thấy. Vũ Đình Rạng bay dọc trên đỉnh Trường Sơn theo hướng đông nam 160 độ, vượt qua đèo Keo Nưa. Từng tốp B-52 vẫn tiến vào. MiG-21 bay với giãn cách rất tốt. Tại Sở chỉ huy B8 ở Đông Dương nhận được tín hiệu đường bay của chiếc MiG-21 và tốp B-52 nằm trong tầm phát hiện của ra -đa dẫn đường. Thời cơ chuyển hướng cho MiG-21 đã đến. Đại úy Nguyễn Văn Chuyên đo khoảng cách từ chiếc MiG-21 đến tốp B-52 rồi báo cáo:
- Đề nghị cho tiếp địch!
Thượng tá Trần Mạnh nhìn đường bay của ta và địch rồi quả quyết: Đồng ý! Nguyễn Văn Chuyên lệnh cho Vũ Đình Rạng vứt thùng dầu phụ. Lúc này, sĩ quan ra-đa Lê Thiết Hùng mở mi-crô trực tiếp dẫn trên hiện sóng. Anh cho Rạng vòng trái, rồi áp vệt bay trùng với vệt bay của 3 chiếc B-52. Tư lệnh Đào Đình Luyện hai tay chống lên bàn, ông nhìn vào tấm bản đồ chiến đấu của không quân, đường chì xanh phía trước, đường chì đỏ phía sau. Khi chiếc MiG-21 chỉ còn cách tốp B-52 khoảng 20km, ông ra lệnh cho sĩ quan tác chiến chuẩn bị sân bay Anh Sơn và Thọ Xuân để cho MiG-21 hạ cánh sau khi công kích.
Lúc này, tại trạm ra-đa ở Pháp Kệ, Đại đội 41 được lệnh bảo vệ “đuôi” cho MiG-21. Lúc này, khoảng cách giữa MiG-21 và tốp B-52 còn 15km, Nguyễn Văn Chuyên lệnh cho Vũ Đình Rạng mở ra -đa trên máy bay của mình. Rạng bật công tắc, reo lên:
- Phát hiện B-52, cự ly 11km, xin phép công kích!
Tại Sở chỉ huy phía trước của trung đoàn, Trung tá Trần Hanh ra lệnh:
- Cho phép công kích!
Vũ Đình Rạng tăng lực toàn phần, rút ngắn cự ly tiếp cận địch, anh đưa chiếc B-52 vào vòng ngắm. Rạng muốn đến gần hơn, anh nhẩm đếm thêm 5 giây, cự li xích gần 1.500m. Vũ Đình Rạng bóp cò. Quả tên lửa lao vút về phía trước. Một chớp nổ lóe lên, lửa bùng ra một bên cánh B-52 rồi tắt dần. MiG -21 lướt trên lưng chiếc B-52 vừa bị trúng đạn. Vũ Đình Rạng thấy phía trước một chiếc B-52 khác, nhưng quá gần, không đủ thời gian để ngắm bắn. Rạng vòng trở lại, anh nhìn thấy chiếc B -52 dẫn đầu, anh đón đầu phóng quả tên lửa còn lại, nó bay vút ra phía trước khá gần chiếc B -52. Vũ Đình Rạng được lệnh thoát ly chiến đấu và trở về sân bay Anh Sơn hạ cánh an toàn.
Hôm sau, đài BBC đưa tin: Lần đầu tiên B-52 bị MiG-21 tập kích trên bầu trời miền tây Quảng Bình. Một năm sau, vào dịp Nô-en 1972, trong trận “Điện Biên Phủ” trên bầu trời Hà Nội, tên phi công Mỹ lái chiếc B-52 bị tên lửa ta bắn rơi, khai rằng: Vào thời điểm diễn ra trận đánh của MiG-21 tháng 11-1971 có một chiếc B-52 trong phi đoàn của chúng bị trúng tên lửa không đối không của MiG, đã bị hư hỏng nặng, không về được sân bay căn cứ U-ta-pao, cố lết về hạ cánh khẩn cấp xuống sân bay Nakhom-Phanom (Thái Lan).
Sau trận đánh đêm 20-11-1971, không quân Mỹ phải ngừng hoạt động một thời gian dài để tìm cách đối phó với MiG. Đây là cơ hội cho Đoàn vận tải 559 vận chuyển vũ khí, đạn dược, lương thực và lực lượng chi viện cho mặt trận miền Nam để mở các chiến dịch lớn những năm sau.
Tháng 4-1972, lực lượng B-52 của Mỹ được lệnh oanh tạc miền Bắc Việt Nam theo kế hoạch “Sút bóng trước khung thành I”. Lần đầu tiên B -52 đánh vào một khu vực có hỏa lực phòng không mạnh, đó là trận ném bom vào Hải Phòng ngày 16-4-1972. Tám năm thực hiện chiến dịch “ánh lửa hồ quang” là quá trình tập dượt của Không quân chiến lược Mỹ ở chiến trường miền Nam. Hệ thống chỉ huy dẫn đường ngày càng được hoàn thiện. Các máy gây nhiễu được cải tiến và nâng cao. Đến tháng 12-1972, khi quyết định tung hàng trăm lần chiếc B -52 vào vùng trời Hà Nội, Hải Phòng... thì các nhà chiến lược ở Nhà Trắng và Lầu Năm Góc tin rằng, những siêu pháo đài bay đã trở thành bất khả xâm phạm và đòn tập kích chiến lược này sẽ là đòn quyết định buộc Hà Nội phải đầu hàng.
Ngày 18-12-1972, từ sáng sớm, địch đột ngột giảm cường độ đánh Quân khu 4. Suốt cả buổi sáng chúng cho máy bay không người lái vào trinh sát Hà Nội, Hải Phòng. 16 giờ, Bộ Tổng tham mưu thông báo có 32 chiếc B-52 cất cánh từ Gu-am đang hướng vào Bắc Việt Nam. 18 giờ 50 phút, toàn quân chủng được lệnh báo động cấp 1. Tổng trạm ra-đa quân chủng nhận được thông báo của Trung đoàn ra-đa 291: B-52 đang bay vào Hà Nội!
Lệnh báo động B-52 đánh vào miền Bắc được phát ra lúc 19 giờ 15 phút ngày 18-12-1972 cho toàn Hà Nội, Hải Phòng và một số tỉnh trên miền Bắc. Phi công tiêm kích Phạm Tuân đang trực chiến ở sân bay Nội Bài được lệnh cất cánh. Khi máy bay còn đang nổ máy ở đầu đường băng thì 3 chiếc F-111 của Mỹ bay rất thấp vào đánh sân bay. Đạn pháo phòng không của ta bắn lên tạo những vệt lửa đan chéo trên bầu trời. Phạm Tuân lấy tốc độ kéo gấp máy bay lên để tránh các luồng đạn phòng không đang bắn lên. Máy bay của anh được dẫn đến khu vực Hòa Bình thì phát hiện địch. Phạm Tuân bật tăng lực lướt tới. Tốp F-4 bay bảo vệ B-52 phát hiện có MiG liền quây vào. Bốn quả tên lửa địch cùng phóng tới một lúc. Phạm Tuân phải thực hiện động tác kỹ thuật lái để tránh tên lửa, đồng thời đuổi theo tốp B-52 phía trước. Sau khi tránh được tên lửa địch và kéo máy bay lên, anh không còn nhìn thấy đèn của tốp B-52 nữa. Bật ra-đa thấy dày đặc nhiễu, lũ F-4 lao vào anh càng đông hơn. Sở chỉ huy lệnh cho Phạm Tuân về hạ cánh.
Đêm 20-12-1972, quân chủng lệnh cho hai MiG-21 cất cánh nhưng bị địch gây nhiễu rất nặng, cả hai phi công đều bị mất mục tiêu phải quay về. Những lần xuất kích sau đó, MiG-21 vẫn chưa tiếp cận được mục tiêu. Chiều 27-12, Phạm Tuân được lệnh cất cánh từ sân bay Nội Bài, cơ động lên sân bay Yên Bái. Tại đấy, Phạm Tuân được lệnh cất cánh lúc 0 giờ 20 phút. Đến Sơn La, anh phát hiện đội hình B-52 của địch, anh điều khiển máy bay vượt qua hàng rào bọn F-4, bay ngang đến chiếc B -52 bay sau cùng trong tốp, lập tức phóng liền hai quả tên lửa. Máy bay B -52 trúng đạn bốc cháy dữ dội. Phạm Tuân lao xuống thoát ly chiến đấu, trở về hạ cánh an toàn xuống sân bay Yên Bái.
Sau một ngày hân hoan mừng chiến thắng của người đồng đội bắn rơi “Pháo đài bay” B-52, đêm 28-12, Vũ Xuân Thiều - nguyên là phi công chiến đấu nhiều trận trong đội hình Trung đoàn 921 vừa được điều về Trung đoàn 927-được lệnh cất cánh từ sân bay Cẩm Thủy. Sở chỉ huy của Trung đoàn 921 ở sân bay Thọ Xuân dẫn Thiều bí mật quay vòng phía sau đội hình B-52. ở độ cao 10km trên vùng trời Sơn La, Thiều phát hiện bằng mắt thường ánh đèn vàng của hàng chục chiếc máy bay B-52 và đèn xanh, đỏ của rất nhiều máy bay tiêm kích đi hộ tống. Anh lọt giữa một rừng đèn nhấp nháy của máy bay các loại. Được sĩ quan dẫn đường ra-đa Lê Thiết Hùng dẫn vượt qua hàng rào bọn tiêm kích, Vũ Xuân Thiều nhanh chóng tiếp cận B-52 ở cự ly 10.000m. Anh nhìn rõ đèn vàng B-52 nhấp nháy và xin phép vào công kích. Khoảng cách giữa máy bay anh và chiếc B-52 đã rất gần, nếu vượt qua rồi mới vòng lại công kích thì địch sẽ phát hiện được, nên anh quyết định đánh ngay. Vũ Xuân Thiều phóng một lúc cả hai quả tên lửa. Trong tích tắc, máy bay B-52 bốc cháy, nổ tung. Cự ly bắn gần, máy bay Vũ Xuân Thiều lao thẳng vào ngọn lửa khổng lồ B-52. Hàng trăm máy bay địch lúc đầu hùng hổ, bây giờ thì hốt hoảng tháo chạy tán loạn về căn cứ. Người con Hà Nội Vũ Xuân Thiều đã anh dũng hy sinh lúc vừa tròn 27 tuổi.
Trận chiến đấu cuối cùng của đời mình, Vũ Xuân Thiều đã lập được một kỳ tích, bắn rơi máy bay B-52, là chiếc thứ 33 trong tổng số 34 chiếc B-52 của đế quốc Mỹ bị bắn rơi trong 12 ngày đêm chiến dịch Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không.

Việt Nam thuộc nhóm các nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao

 

Trang tin tức thị trường Yahoo!finance vừa đăng bài viết cho biết Việt Nam, Trung Quốc và một số nước châu Á nằm trong số 20 nước có mức tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới trong 10 năm trở lại đây.

Số liệu trong bài viết trên căn cứ nguồn số liệu của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF). Cụ thể, các nhà phân tích đã xem xét mức tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội thực (GDP thực là thước đo tổng sản phẩm quốc nội đã điều chỉnh lạm phát, phản ánh giá trị của tất cả hàng hóa và dịch vụ do một nền kinh tế tạo ra trong một năm nhất định) dựa vào dữ liệu trong giai đoạn 2012-2022 để tính mức tăng trưởng trung bình trong 10 năm qua.

Theo đó, với mức tăng trưởng GDP thực trung bình là 6,1% trong một thập niên trở lại đây, Việt Nam thuộc nhóm các nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Ngành nông nghiệp của Việt Nam là trụ cột quan trọng của nền kinh tế, vừa đóng góp cho GDP, vừa tạo việc làm.

Bài viết dẫn số liệu của Việt Nam cho thấy Mỹ vẫn là thị trường lớn nhất nhập khẩu hàng nông, lâm, thủy sản của Việt Nam với kim ngạch đạt 13,3 tỷ USD, tương đương 25% thị phần, tiếp đến là Trung Quốc với hơn 10 tỷ USD (18,9% thị phần); Nhật Bản với 4,2 tỷ USD (7,9% thị phần); Hàn Quốc với 2,5 tỷ USD (4,7% thị phần).

Ở cấp độ châu lục, châu Á chiếm 44,7% thị phần, châu Mỹ 27,4%, châu Âu 11,3%, châu Đại Dương 1,7% và châu Phi 1,7%.

Cũng theo bài viết, 5 nước đứng đầu danh sách 20 nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong 10 năm là Guyana (Nam Mỹ) ở vị trí số 1 với mức tăng GDP trung bình gần 15%. Đứng thứ 2 là Ireland (châu Âu) với hơn 9%, tiếp đến là Ethiopia (châu Phi) với 8,43%, Tajikistan (Trung Á) với hơn 7% và Côte d’Ivoire (Tây Phi) với hơn 6,8%.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: TÌM MỌI CÁCH BIỆN MINH CHO HÀNH VI VI PHẠM HIẾN PHÁP VÀ PHÁP LUẬT, BỘ GD&ĐT QUYẾT XÓA TRẮNG MÔN LỊCH SỬ!

     Ngày 29/11 trên báo Giáo dục Thời đại có bài viết của tác giả Hồ Sỹ Anh: Thi tốt nghiệp THPT 4 môn: Đổi mới hướng nghiệp, dạy và học thế nào?
Đây là bài viết, cố gắng biện minh cho hành vi vi phạm Hiến Pháp và Pháp Luật, công khai tìm cách xóa bỏ vị thế và giá trị của môn học Lịch sử đối với 23 triệu học sinh Việt Nam. Nhưng điều ấn tượng là bài viết được đăng tải trên Cổng thông tin Chính phủ Việt Nam. Điều đó được hiểu là gì?

Trong bài viết, ngay từ dòng đầu tiên tác giả khẳng định: Phương án thi 4 môn (2+2), gồm 2 môn bắt buộc Toán, Ngữ văn và 2 môn do học sinh tự chọn được nhiều người đồng tình.??? Nhiều người đồng tình là ai? Những giáo viên dưới quyền Bộ GD&ĐT mà Bộ, với âm mưu kéo dài cố gắng tìm mọi cách xóa bỏ môn Lịch sử tiến hành cuộc khảo sát, hay là học sinh? Hoặc là các “chuyên gia” đòi bỏ điều 4 Hiến Pháp, công khai chống lại Nhà nước Việt Nam, mà vì một lý do gì đó vẫn được hưởng lương, bổng lộc từ tiền thuế của Nhân dân Việt Nam?

Bằng chứng nào mà tác giả bài báo khẳng định, xã hội không băn khoăn về việc học sinh ít dự thi môn Sử? Đây là một nhận thức và đánh giá hết sức hồ đồ, mang tính phủ bác một thực tế hiển nhiên là Chương trình giáo dục, học và thi thực sự rất nghiêm túc và mang đậm bản chất XHCN, học sinh phải học đều các môn, đặc biệt là môn Lịch sử và Địa lý. Việc kết hợp hoàn hảo giữa Nhà trường, Xã hội trong giáo dục lịch sử, truyền thống và lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc. Hầu hết học sinh thời kỳ này đều thuộc lòng các giai đoạn lịch sử, các nhân vật lịch sử, bao gồm lịch sử Tổ quốc, lịch sử địa phương, lịch sử thế giới. 

Đặc biệt ở các ngôi trường địa phương có truyền thống cách mạng, việc giáo dục giữa gia đình và nhà trường thực sự là một gắn kết chặt chẽ.

Tác giả bài báo đã thể hiện một sự ngu muội điển hình của những kẻ lợi dụng vị trí, chức vụ, quyền hạn để "cả vú lấp miệng em". Học sinh nếu không làm tự luận thì từ đâu có khả năng "sáng tạo nội dung"? Từ đâu có kiến thức nền tảng cơ bản để bước vào đời, vào một môi trường sống nhiều biến động như chính các nhà khai phóng đã nhận xét là thế giới VUCA, được định hình bởi sự Biến động (Volatility), Bất định (Uncertainty), Phức tạp (Complexity) và Mơ hồ Ambiguity. Hơn thế nữa, tất cả mọi ngành nghề trên thế giới này, dù là nghiên cứu khoa học hay là nhân viên Môi trường, muốn phát triển được phải có Trí tuệ, trí tuệ là kết quả của sự kết hợp giữa Trí nhớ và phân tích Logic. Cách duy nhất rèn luyện trí nhớ là Học thuộc lòng. 

Vì sao thế hệ 70 x - 80x có nhiều người thành công, bao gồm cả các quan chức Nhà nước hiện nay? Vì đơn giản nhất là họ học thuộc lòng, để không bao giờ quên được Hịch Tướng Sĩ, không bao giờ quên được Bình Ngô Đại cáo, không bao giờ quên Xuân Kỷ Dậu, năm Ất Dậu. Nhưng Bộ GD&ĐT muốn xóa bỏ việc rèn luyện kỹ năng này? Vậy, đây có phải là Bộ GD&ĐT hay không, hay là Bộ Ăn lương của Dân, lợi dụng chức quyền và PHÁ HOẠI nền Giáo dục XHCN với sự tiếp tay của những kẻ bất lương và các thế lực bên ngoài, thông qua WB và IMF?

Bài viết khẳng định " Chương trình GDPT 2018 có mục tiêu phát triển học sinh theo phẩm chất và năng lực. Giáo dục phổ thông chia làm 2 giai đoạn: Giáo dục cơ bản (tiểu học và THCS) và định hướng nghề nghiêp (cấp THPT). Và theo bài viết này, Chương trình GDPT 2018 là Đổi mới dạy-học ở tầm cao mới. Chúng ta không có bất cứ căn cứ nào để khẳng định kết luận này? Nhưng chúng ta biết rất rõ, Chương trình GDPT 2018 được xây dựng trên khoản vay 80 triệu USD từ WB và IMF. Chính hai tổ chức này, chứ không phải là Ban TGTW hay Bộ GD&ĐT chỉ định ông gs-ts Nguyễn Minh Thuyết là tổng chủ biên chương trình. Đồng thời, ông Thuyết là người công khai đòi đổi tên Nhà nước XHCN, đòi bỏ điều 4 Hiến Pháp, đòi thừa nhận tổ chức Việt gian, khủng bố dân tộc và tội phạm chiến tranh là "chính danh". Đồng thời, dưới bàn tay của ông Thuyết, môn học Lịch sử chương trình PTTH biến thành tự chọn? Đây có phải là Chương trình đang chịu sự chỉ đạo của các thế lực nước ngoài hay không? Điều gì đảm bảo một người công khai chống lại Hiến Pháp sẽ xây dựng chương trình GDXHCN???

Các vị quan chức có thể lý luận, còn có sự lãnh đạo của Đảng ủy Bộ, nhưng kể từ năm 2013, SGK do chính Bộ GD&ĐT phát hành, sử dụng cụm từ "chính quyền Sài Gòn", công khai vi phạm Hiến Pháp, nhưng cho đến nay, qua hàng chục năm, hành vi vi phạm Hiến Pháp đó vẫn công khai đầu độc hàng chục triệu học sinh Việt Nam. Vậy Đảng ủy Bộ GD&ĐT làm gì? Vụ Pháp chế làm gì? Ban Tuyên Giáo TW làm gì và Quốc hội làm gì?
Có đủ lòng tin để cho rằng Chương trình GDPT 2018 là Đổi mới dạy - học ở tầm cao mới hay không? Hay là phá hoại nền GDXHCN một cách có hệ thống và dữ dội hơn nữa như Chiến dịch Linebacker II của Henry Kissinger, một kẻ lừa đảo điển hình?

Bài báo, nhằm biện minh cho việc Bộ GD&ĐT biến môn lịch sử thành môn thi “tự chọn” đã viết: “Thứ hai, cần khẳng định vai trò các môn học góp phần vào sự thành công của học sinh là như nhau, không có môn chính, phụ. Một số môn công cụ như Toán, Văn, Ngoại ngữ hay Lịch sử có vai trò lớn trong giáo dục lòng yêu nước, là những môn học bắt buộc. Tuy nhiên, thành công của nhiều học sinh khi ra đời có thể ở các môn học khác chứ không chỉ là môn học bắt buộc. Nhà trường cần chú trọng dạy và học các môn, không coi trọng môn này, nhẹ môn kia.”

Bài báo, nhằm biện minh cho việc Bộ GD&ĐT biến môn lịch sử thành môn thi “tự chọn” đã viết như trong ô đánh dấu. Nhưng bài báo công khai lừa bịp người đọc bằng cái gọi là sự thành công của học sinh. Nhưng sự thành công đó là gì? Đối với Nhà nước XHCN, sự thành công đó là "con người mới XHCN" được khẳng định trong điều 2 của Luật Giáo dục.

Điều 2. Mục tiêu giáo dục

Mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.

Điều 3. Tính chất, nguyên lý giáo dục
1. Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính Nhân dân, Dân tộc, Khoa học, Hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng.

2. Hoạt động giáo dục được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "dân ta phải biết sử ta". Việc dạy và học môn học Lịch sử, vốn đã theo như chính Bộ GD&ĐT đánh giá trước đây, thực sự đã là một cuộc Khủng hoảng, khi thế hệ trẻ hầu như không có hiểu biết, không có nhận thức về giá trị lịch sử của đất nước, của dân tộc, thậm chí không biết lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam, không biết đến cả ngày 2/9 và càng không nhận thức được thế nào là Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. 

Với nhận thức này, lấy gì để đảm bảo các thế hệ trẻ Việt Nam có lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc khi họ không biết một chút gì về Lịch sử của Dân tộc mình?

Vậy với quyết định môn Lịch sử là môn thi Tự chọn, Bộ GD&ĐT đã công khai chống lại Điều 4 Hiến Pháp, điều 2 và điều 3 của Luật Giáo dục. Đây là hành vi vi phạm Pháp luật và phải chịu trách nhiệm Hình sự.

Quay trở lại vấn đề "ngoại ngữ" đặc biệt là "tiếng Anh", kể từ khi Bộ GD&ĐT tăng cường ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, nền giáo dục Việt Nam đã có thành tích nào nổi bật trên thế giới hay không? Việc học tiếng Anh phổ cập từ mầm non đến gs-ts đã có được các sản phẩm trí tuệ nào tương tự như ChatGPT hoặc chip đồ họa Nvidia hay chưa? Chúng ta đã có các công ty khởi nghiệp nào mang tầm thế giới như Nio hay Xpeng của Trung Quốc hay chưa? Chưa hề có. Tất cả chỉ là sao chép. Những cái gọi là nhà khoa học nổi tiếng Việt Nam hầu như đang làm thuê cho nước ngoài, phục vụ cho lợi ích nước ngoài. Vậy Bộ GD&ĐT quyết định nền GD Việt Nam sẽ cung cấp nhân công giá rẻ cho những kẻ đã nô dịch Nhân dân Việt Nam? Vậy Bộ GD&ĐT đang phục vụ cho các thế lực phương Tây chứ đâu phải phát triển Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 ở Việt Nam. Có thể nói, đây là HÀNH VI CÔNG KHAI BÁN MÁU như thời kỳ Pháp thuộc.

Như vậy, bài báo chỉ khẳng định một thực tế duy nhất: Bộ GD&ĐT, trên cơ sở khoản vay 80 triệu USD vay từ WB và IMF đang cố gắng tìm mọi cách xóa bỏ lịch sử Việt Nam trong hàng chục triệu học sinh Việt Nam mà thôi. Đây là hành vi vi phạm Hiến Pháp và Pháp Luật Việt Nam./.






Yêu nước ST.

Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đóng góp quan trọng vào thành công chung của công tác đối ngoại

 

Phát biểu tại phiên khai mạc Hội nghị Ngoại giao lần thứ 32 ngày 19-12, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nhấn mạnh công tác đối ngoại quốc phòng đã giành được nhiều thành tựu quan trọng. Báo Quân đội nhân dân Điện tử trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Đại tướng Phan Văn Giang.

Kính thưa đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam,

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước,

Kính thưa hội nghị!

Hội nghị Ngoại giao lần thứ 32 có ý nghĩa hết sức quan trọng. Đây là dịp để chúng ta cùng nhau đánh giá, sơ kết 3 năm thực hiện đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng; đúc rút những bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các ban, bộ, ngành, địa phương trong triển khai công tác đối ngoại từ nay đến hết nhiệm kỳ khóa XIII và những năm tiếp theo.

Nhìn lại từ Hội nghị Ngoại giao 31 đến nay, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh chưa từng có tiền lệ, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã quán triệt, triển khai thực hiện thắng lợi quan điểm, đường lối đối ngoại được xác định trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết số 22 ngày 10-4-2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, Nghị quyết số 34 ngày 9-1-2023 của Bộ Chính trị về một số định hướng, chủ trương lớn triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng; kiên trì thực hiện phương châm “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả”, gắn tư tưởng ngoại giao “cây tre Việt Nam”, giành nhiều thành tựu quan trọng trong công tác đối ngoại quốc phòng.

Kết luận số 53 ngày 28-4-2023 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo đã khẳng định: “Những năm qua, hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng được triển khai đồng bộ với nhiều cách làm sáng tạo đạt kết quả khá toàn diện, đóng góp quan trọng vào thành công chung của công tác đối ngoại, tăng cường tiềm lực quốc phòng, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và của Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế”.

Trong hợp tác quốc phòng song phương, Bộ Quốc phòng đã mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trên cơ sở tin cậy chính trị, xác định đúng nội dung và đa dạng hóa hình thức hợp tác phù hợp với quan hệ chính trị, kinh tế, ngoại giao. Ưu tiên tăng cường quan hệ quốc phòng gắn bó, đoàn kết, hữu nghị và tin cậy với các nước láng giềng liền kề để đảm bảo vững chắc vành đai an ninh trực tiếp của đất nước. Triển khai từng bước, từ hình thành cơ chế tiến tới hoàn thiện mô hình Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới với đầy đủ các nước láng giềng liền kề (đã tổ chức 7 lần với Trung Quốc, 1 lần với Lào, 1 lần với Campuchia) và vừa qua đã tổ chức thành công Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới 3 nước Việt Nam-Lào-Campuchia...

Trên bình diện đa phương, Bộ Quốc phòng tham gia đầy đủ và là thành viên có uy tín, trách nhiệm, phát huy vai trò tích cực tại các cơ chế hợp tác đa phương, diễn đàn an ninh quốc tế, khu vực, nhất là khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM) và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN Mở rộng (ADMM+); Đối thoại Shangri-La, Hội nghị An ninh quốc tế Moscow, Diễn đàn Hương Sơn-Bắc Kinh; chủ động đề xuất sáng kiến thành lập Cộng đồng Tình báo Quốc phòng ASEAN. Bộ Quốc phòng đã đăng cai tổ chức thành công nhiều hoạt động đa phương lớn, nổi bật là trong năm 2022, lần đầu tiên tổ chức Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam và Chương trình Giao lưu “Cảnh sát biển Việt Nam và những người bạn” với lực lượng thực thi pháp luật trên biển 6 nước trong khu vực.

Hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh được triển khai chủ động, tích cực. Việt Nam đã hợp tác với 16 quốc gia và tổ chức quốc tế, huy động trên 650 triệu USD để khắc phục hậu quả chất độc dioxin, bom mìn. Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước triển khai hiệu quả các hoạt động tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa quốc tế…

Để có được những kết quả trên, đối ngoại quốc phòng đã phối hợp chặt chẽ với các trụ cột đối ngoại, thể hiện trên các mặt sau:

Thứ nhất, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng luôn quán triệt sâu sắc vai trò, tính đặc thù, thế mạnh của các trụ cột đối ngoại. Đó là thế mạnh về truyền thống quan hệ lâu dài, gắn bó, thủy chung của đối ngoại Đảng; khả năng hội nhập năng động, tích cực, toàn diện, tính hiệu lực, hiệu quả cao của ngoại giao Nhà nước; và sức lan tỏa, thuyết phục dựa trên “sức mạnh mềm”, sức mạnh chính nghĩa và công lý của đối ngoại nhân dân. Từ đó, phát huy những đặc trưng riêng của đối ngoại quốc phòng nhằm góp phần củng cố, phát triển quan hệ của Việt Nam với các quốc gia, tổ chức quốc tế; tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài để xây dựng, củng cố tăng cường tiềm lực quốc phòng, khắc phục hậu quả chiến tranh; thúc đẩy hợp tác với các nước láng giềng; nâng cao vị thế, vai trò, uy tín của đất nước, Quân đội trên trường quốc tế.

Thứ hai, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Ngoại giao, Ban Đối ngoại Trung ương và các cơ quan đối ngoại trong việc hoạch định, triển khai đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, vì lợi ích quốc gia-dân tộc. Việc phối hợp chặt chẽ, đồng bộ và hiệu quả với các trụ cột đối ngoại nhằm bảo đảm tính tổng thể, gắn kết, tuân thủ các mục tiêu, định hướng chung, đồng thời phù hợp với ưu tiên đối ngoại ở từng thời điểm và với từng đối tác cụ thể; cũng như sự phân vai, phân công, phân nhiệm phù hợp, hiệu quả, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị.

Thứ ba, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các hoạt động đối ngoại của Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Ngoại giao vừa qua đã được triển khai hết sức hiệu quả. Lực lượng, đối tượng, nội dung, phương thức hoạt động của đối ngoại quốc phòng, theo đó, cũng đã được quan tâm phát triển, đổi mới, phù hợp với những thay đổi của thế giới, khu vực và đất nước; bảo đảm sự linh hoạt, cụ thể trong từng hoàn cảnh, tình hình, với từng nhóm đối tác, đối tượng, trên cơ sở bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc.

Thứ tư, trong thực tế triển khai đối ngoại quốc phòng, các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng luôn nhận được sự hỗ trợ, phối hợp công tác chặt chẽ của các cơ quan chức năng của Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Ngoại giao, Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội... Các đồng chí Đại sứ, Tổng lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài cũng luôn dành sự hỗ trợ, quan tâm đặc biệt cho các đoàn đại biểu Bộ Quốc phòng mỗi khi sang địa bàn công tác.

Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, tiềm ẩn nhiều yếu tố mất ổn định. Đất nước ta đứng trước nhiều khó khăn, thách thức; 4 nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn còn hiện hữu. Nhiệm vụ công tác đối ngoại nói chung, công tác đối ngoại quốc phòng nói riêng có những yêu cầu mới, khó khăn, phức tạp, cần có chủ trương, giải pháp đồng bộ lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chặt chẽ, hiệu quả để phục vụ đắc lực sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thời gian tới, trước mắt tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện thắng lợi quan điểm, đường lối đối ngoại được xác định trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết số 34-NQ/TW ngày 9-1-2023 của Bộ Chính trị về một số định hướng, chủ trương lớn triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Trung ương 8 khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới với phương châm bảo vệ đất nước “từ sớm, từ xa”, giữ nước từ khi nước chưa nguy. Tập trung giáo dục, quán triệt cho cán bộ, chiến sĩ, lực lượng làm công tác đối ngoại nắm chắc quan điểm, mục tiêu, yêu cầu, nguyên tắc, nhiệm vụ đối ngoại quốc phòng, làm cơ sở để vận dụng, triển khai trong thực tiễn.

Hai là, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tiếp tục tăng cường phối hợp với các ban, bộ, ngành Trung ương trong công tác nghiên cứu, tham mưu, dự báo chiến lược, phối hợp chặt chẽ, phát huy hiệu quả vai trò, thế mạnh các kênh đối ngoại trong đánh giá, nhận định tình hình, nhất là với các vấn đề liên đến quốc phòng, phát triển của đất nước, tham mưu kịp thời, hiệu quả các chủ trương, giải pháp đối ngoại để phục vụ sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Đối ngoại Đảng và ngoại giao Nhà nước là hai lực lượng đóng vai trò chủ lực, nhất là trên các vấn đề lớn có tính chiến lược. Bên cạnh đó, đối ngoại nhân dân cũng là một kênh thông tin quan trọng, nhiều chiều, khách quan, từ đó đề xuất các chủ trương, biện pháp ứng phó phù hợp.

Ba là, tăng cường phối hợp trong công tác thông tin, tuyên truyền về đối ngoại; bảo đảm an ninh, an toàn chính trị nội bộ. Kết hợp đồng bộ nhiều lực lượng, biện pháp, tận dụng các hình thức đa phương tiện để kịp thời thông tin, góp phần định hướng cho nhân dân trong nước, đồng bào ta ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế hiểu rõ chủ trương, đường lối đối ngoại, chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ; lan tỏa mạnh mẽ lịch sử, truyền thống, hình ảnh đất nước, văn hóa, con người, thành tựu công cuộc đổi mới của đất nước, Quân đội nhân dân Việt Nam.

Bốn là, tiếp tục tăng cường phối hợp xây dựng, hoàn thiện và thực thi hiệu quả hệ thống pháp luật về công tác đối ngoại; quy chế phối hợp hoạt động trong công tác đối ngoại giữa Bộ Quốc phòng với Bộ Ngoại giao và các ban, bộ, ngành, địa phương trong cả nước; đầu tư nguồn lực và phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

 

Tiếp tục đổi mới, xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại, vững mạnh toàn diện, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”

Phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 32, Hà Nội, ngày 19-12-2023

Hôm nay, tôi rất vui mừng và hân hạnh được đến dự Hội nghị Ngoại giao lần thứ 32-một hội nghị có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ của ngành Ngoại giao mà còn là của toàn bộ công tác đối ngoại cả nước. Đây là dịp để chúng ta nhìn lại quá trình gần 3 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng về công tác đối ngoại nói chung và ngoại giao nói riêng; trên cơ sở đó đề xuất các phương hướng, biện pháp để thực hiện có hiệu quả hơn nữa nhiệm vụ đối ngoại và ngoại giao trọng tâm cho những năm tới; đồng thời góp phần vào việc chuẩn bị tổng kết 40 năm thực hiện đường lối đổi mới và chuẩn bị Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.

Trước hết, tôi xin được thay mặt các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, và với tình cảm cá nhân, gửi tới các đồng chí, đặc biệt là các nhà ngoại giao lão thành, cùng toàn thể anh chị em cán bộ, công chức, viên chức, những người làm công tác đối ngoại, ngoại giao ở trong và ngoài nước lời chào thân ái, lời thăm hỏi chân tình và lời chúc mừng nồng nhiệt nhất. Chúc hội nghị của chúng ta thành công tốt đẹp!

Thưa các đồng chí,

Như chúng ta đều biết, trong gần 40 năm đổi mới vừa qua, Đảng ta đã kế thừa và phát huy bản sắc, cội nguồn và truyền thống dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa thế giới và tư tưởng tiến bộ của thời đại, phát triển trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hình thành nên một trường phái đối ngoại, ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo, mang đậm bản sắc "cây tre Việt Nam". Đó là vừa kiên định về nguyên tắc, vừa uyển chuyển về sách lược; mềm mại, khôn khéo nhưng cũng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức, vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân; đoàn kết, nhân ái nhưng luôn luôn kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc. Đến nhiệm kỳ khóa XIII, cụ thể là tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng được tổ chức vào ngày 14-12-2021, chúng ta đã thống nhất cao khẳng định về sự hình thành, phát triển của Trường phái đối ngoại, ngoại giao "cây tre Việt Nam": Gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam.

Trong gần 3 năm qua, đặc biệt là từ sau Hội nghị Đối ngoại toàn quốc lần đầu tiên được tổ chức theo tinh thần vừa nêu trên đây, ngành Ngoại giao và Đối ngoại cả nước ta đã nỗ lực phấn đấu, nghiêm túc quán triệt và chung sức, đồng lòng tổ chức thực hiện tốt đường lối đối ngoại của Đảng, đạt được nhiều kết quả, thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử, trở thành một điểm sáng đầy ấn tượng trong toàn bộ những kết quả, thành tựu chung của đất nước những năm qua. Nổi bật là ở 6 điểm sau đây:

Thứ nhấtchúng ta đã tổ chức quán triệt và triển khai đồng bộ, hiệu quả đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng. Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thông qua nhiều đề án đối ngoại quan trọng, kịp thời ban hành các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, cụ thể hóa các chủ trương, đường lối đối ngoại của Đại hội XIII thành các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp toàn diện, lâu dài, như Nghị quyết Trung ương 8 khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Nghị quyết số 34 của Bộ Chính trị về một số định hướng, chủ trương lớn triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng; các kết luận, chỉ thị về phát triển quan hệ với một số đối tác quan trọng, hợp tác ASEAN, hợp tác tiểu vùng Mê Công, công tác ngoại giao kinh tế, công tác người Việt Nam định cư ở nước ngoài, đối ngoại nhân dân, v.v... Hội nghị Đối ngoại toàn quốc về triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng lần đầu tiên được tổ chức đã quán triệt, nâng cao nhận thức, thống nhất hành động trong toàn hệ thống chính trị. Trên cơ sở đó, các ngành, các cấp đã tích cực cụ thể hóa thành các đề án, chương trình, kế hoạch và giải pháp để triển khai toàn diện, đồng bộ và thống nhất công tác đối ngoại từ sau Đại hội XIII của Đảng đến nay.

Thứ hai, đối ngoại và ngoại giao đã phát huy thế mới và lực mới, sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, củng cố vững chắc hơn cục diện đối ngoại rộng mở, thuận lợi cho phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Trước những biến động lớn, phức tạp, khó lường trên thế giới và trong khu vực, chúng ta đã có những quyết sách đúng đắn, bước đi chủ động, đột phá, khẳng định bản lĩnh, mang tính lịch sử trong việc triển khai các hoạt động đối ngoại. Thành công các chuyến thăm, điện đàm của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước từ sau Đại hội XIII của Đảng, nhất là hơn 40 chuyến thăm của các đồng chí lãnh đạo chủ chốt tới các nước láng giềng, các nước lớn, các nước đối tác chiến lược, hầu hết các nước ASEAN, nhiều đối tác quan trọng và bạn bè truyền thống; đồng thời nhiều nguyên thủ, lãnh đạo cấp cao các nước và các tổ chức quốc tế lớn thăm Việt Nam, đã vẽ lên một bức tranh rất đẹp, rất sinh động và có sức hấp dẫn cao trên mặt trận đối ngoại trong 2 năm vừa qua và tạo nên một vị thế mới của Việt Nam trên trường quốc tế, được dư luận trong nước và bạn bè quốc tế đánh giá cao và đồng tình, ủng hộ. Đặc biệt, các hoạt động đối ngoại diễn ra hết sức sôi động, liên tục và là điểm sáng nổi bật của năm 2023; việc tổ chức đón Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, Tổng thống Mỹ Joe Biden, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith, Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia Hun Sen và nhiều nguyên thủ quốc gia các nước quan trọng khác đến thăm Việt Nam được đánh giá là những sự kiện có ý nghĩa lịch sử, góp phần khẳng định "chưa bao giờ đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế quốc tế như ngày nay". Từ một nước bị bao vây, cấm vận, đến nay, chúng ta đã mở rộng, làm sâu sắc quan hệ với 193 nước, trong đó có 3 nước có quan hệ đặc biệt, 6 nước đối tác chiến lược toàn diện (Hoa Kỳ và Nhật Bản vừa mới được bổ sung vào nhóm này trong quý IV vừa qua), 12 nước đối tác chiến lược và 12 nước đối tác toàn diện.

Thứ bacông tác đối ngoại, ngoại giao đã phối hợp chặt chẽ với quốc phòng, an ninh và các cấp, các ngành, phát huy vai trò tiên phong trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Trước những biến động rất phức tạp trên thế giới và những tác động tiêu cực từ bên ngoài, chúng ta đã kiên định tính độc lập, tự chủ trên cơ sở bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc, nêu cao tinh thần hòa hiếu, đồng thời linh hoạt, mềm dẻo trong sách lược để xử lý đúng đắn, hài hòa quan hệ với các đối tác, nhất là với các nước láng giềng, các nước lớn và các đối tác quan trọng, cũng như các tình huống phức tạp về biên giới trên bộ và trên biển, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Chúng ta đã chủ động, tích cực thúc đẩy việc đối thoại, đàm phán; tham gia các hiệp định, sáng kiến vì hòa bình, tiến bộ nhân loại và đã đạt được những kết quả rất quan trọng về phân định, giải quyết một số vấn đề biên giới lãnh thổ trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, củng cố đường biên giới hòa bình, hữu nghị, tạo thuận lợi cho việc thúc đẩy giao lưu, kết nối và hợp tác phát triển.

Thứ tư, công tác đối ngoại và ngoại giao đã đi đầu trong việc huy động các nguồn lực bên ngoài, góp phần quan trọng cho việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, nhất là mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại. Từ năm 2021 đến nay, mặc dù bị ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19 và suy thoái kinh tế, thương mại thế giới, kinh tế nước ta vẫn là một điểm sáng trong bức tranh không mấy sáng màu của kinh tế toàn cầu; kinh tế vĩ mô vẫn cơ bản ổn định; lạm phát, nợ công, nợ chính phủ, nợ nước ngoài, bội chi ngân sách Nhà nước được kiểm soát; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Tăng trưởng kinh tế năm 2022 đạt 8,02% và dự báo năm 2023 có thể đạt trên 5%, là mức cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới; lần đầu tiên GDP của nước ta vượt 400 tỷ USD, đứng thứ 3 trong ASEAN và thuộc nhóm 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Trong khó khăn, các lĩnh vực văn hóa, xã hội vẫn tiếp tục được quan tâm chăm lo, đầu tư phát triển, đạt được nhiều kết quả quan trọng, rõ rệt, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng ta đã cơ bản thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ: Vừa tập trung phòng, chống, kiểm soát, khắc phục hậu quả của dịch bệnh; vừa thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội.

Thứ năm, chúng ta đã chủ động, tích cực hội nhập quốc tế ngày càng toàn diện, sâu rộng, góp phần không ngừng nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của đất nước trên trường quốc tế. Việt Nam được bạn bè quốc tế tín nhiệm đề cử gánh vác nhiều trọng trách quốc tế quan trọng trong các cơ chế, diễn đàn đa phương, nhất là trong ASEAN và Liên hợp quốc như Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021, Phó chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77, thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc 2023-2025, Ủy ban liên Chính phủ bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO, Ủy ban Luật pháp quốc tế nhiệm kỳ 2023-2027,… Tiếp tục đóng góp tích cực và có trách nhiệm vào việc giải quyết các vấn đề quốc tế như cắt giảm khí thải và chống biến đổi khí hậu; cử hàng trăm lượt cán bộ, chiến sĩ tham gia thực hiện sứ mệnh gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc ở châu Phi; lần đầu tiên cử lực lượng hỗ trợ khắc phục hậu quả động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ, chủ động thúc đẩy hợp tác phòng, chống dịch bệnh, thiên tai, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước,... Trong việc tham gia giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực, chúng ta đã đề xuất nhiều sáng kiến, giải pháp có lý, có tình trên cơ sở nhất quán độc lập, tự chủ, đề cao chính nghĩa, đoàn kết quốc tế, hòa hiếu, nhân văn và tôn trọng luật pháp quốc tế, do đó đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ cao của bạn bè quốc tế. Có thể nói, chưa bao giờ vị thế, uy tín và hình ảnh một nước Việt Nam độc lập, tự chủ, phát triển năng động, là bạn bè thủy chung, chân thành, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực và có trách nhiệm lại nổi bật trên trường quốc tế như hiện nay.

Thứ sáucông tác đối ngoại đảng, ngoại giao Nhà nước  đối ngoại nhân dân được triển khai đồng bộ, chặt chẽ, đạt nhiều kết quả quan trọng. Quan hệ giữa Đảng ta với các đảng cộng sản, công nhân và các chính đảng khác tiếp tục được củng cố và phát triển thông qua các hoạt động trao đổi đoàn, trao đổi lý luận và tiếp xúc tại các diễn đàn đa phương. Đối ngoại của Quốc hội cũng được triển khai ngày càng chủ động, tích cực, thúc đẩy quan hệ với quốc hội, nghị viện nhiều nước đi vào chiều sâu và nâng cao vị thế, uy tín của Quốc hội nước ta tại các diễn đàn quốc tế, nhất là trong AIPA, IPU. Công tác đối ngoại nhân dân được triển khai với nhiều hình thức, nội dung ngày càng đa dạng, phong phú và thực chất, góp phần mở rộng, tăng cường quan hệ hữu nghị, hiểu biết lẫn nhau, tranh thủ nguồn lực và sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Những kết quả nêu trên có được là nhờ sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, chặt chẽ, thường xuyên của Trung ương Đảng, trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư; sự điều hành chủ động, linh hoạt của Nhà nước; sự vào cuộc và sự triển khai tích cực của tất cả các cấp, các địa phương, các ngành, nhất là ngành Ngoại giao. Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã dành nhiều thời gian, công sức và nguồn lực cho công tác đối ngoại.

Đặc biệt, những kết quả đó có sự đóng góp rất quan trọng của đội ngũ cán bộ đối ngoại nói chung và cán bộ ngoại giao nói riêng, với tâm huyết, trách nhiệm và trình độ chuyên môn cao, luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, với chế độ ta, luôn đặt lên hàng đầu lợi ích quốc gia-dân tộc, luôn cháy bỏng khát khao cống hiến và phục vụ. Nhân dịp này, tôi xin thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, ghi nhận, nhiệt liệt biểu dương, chúc mừng và cảm ơn những đóng góp to lớn, rất có ý nghĩa đó của đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại nói chung và của ngành Ngoại giao nói riêng.

Tuy nhiên, chúng ta tuyệt nhiên không được chủ quan, tự mãn với những kết quả, thành tích đã đạt được. Bởi vì, trước mắt còn nhiều khó khăn, thách thức phải vượt qua và rất nhiều việc phải làm. Tôi đề nghị các đồng chí kiểm điểm thật kỹ, rút kinh nghiệm từ những kết quả, thành tựu kể trên để tiếp tục phát huy, làm tốt hơn nữa. Đồng thời, cũng cần đánh giá kỹ lưỡng những hạn chế, yếu kém trong công tác đối ngoại thời gian qua để chủ động khắc phục.

Thưa các đồng chí,

Trong thời gian tới, tình hình thế giới và khu vực dự báo sẽ còn tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới. Cục diện thế giới đa cực, đa trung tâm, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn sẽ ngày càng quyết liệt, thậm chí có nguy cơ xung đột, đối đầu, tạo thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước có độ mở của nền kinh tế cao, sức chống chịu và khả năng cạnh tranh còn hạn chế như nước ta. Các nước lớn sẽ tăng cường điều chỉnh chiến lược, lôi kéo, tập hợp lực lượng, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau và can dự, chi phối nội bộ nước khác. Nhiều điểm nóng về an ninh tiếp tục tồn tại, có nguy cơ lan rộng, làm xuất hiện các hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến, không gian chiến lược mới. Khoa học-công nghệ phát triển mạnh mẽ, tạo ra những biến đổi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. An ninh truyền thống cũng như phi truyền thống, nhất là thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, năng lượng, an ninh mạng... đặt ra nhiều thách thức đối với các quốc gia. Châu Á-Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Đông Nam Á tiếp tục phát triển năng động nhưng sẽ trở thành trọng điểm cạnh tranh quyết liệt giữa các nước lớn. Chính vì thế, chúng ta cần thường xuyên theo dõi sát các diễn biến và dự báo đúng chiều hướng phát triển của tình hình bên ngoài và nhất là đánh giá thật đúng các tác động đến Việt Nam để không bị động, bất ngờ và luôn luôn bình tĩnh, tỉnh táo nắm bắt thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ của công tác đối ngoại từ nay đến hết nhiệm kỳ, như Đại hội XIII của Đảng đã đề ra: "Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế".

Tôi cơ bản tán thành với các định hướng, nhiệm vụ và giải pháp đã nêu trong báo cáo của lãnh đạo Bộ Ngoại giao, chỉ xin gợi mở và nhấn mạnh thêm một số vấn đề cần quan tâm sau đây, có 5 vấn đề:

Một là, cần phải tiếp tục bám sát Nghị quyết và đường lối đối ngoại của Đại hội XIII và các nghị quyết của Trung ương, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chương trình hành động của Chính phủ và của Bộ Ngoại giao; tăng cường công tác nắm bắt tình hình, phân tích, dự báo, kịp thời tham mưu điều chỉnh, bổ sung những xu hướng mới và những vấn đề mới phát sinh để cụ thể hóa, xây dựng và tổ chức thực hiện thật nghiêm, thật tốt các chương trình, kế hoạch cụ thể của từng cơ quan, đơn vị một cách đồng bộ, khoa học, bài bản, thống nhất, với quyết tâm cao, nỗ lực lớn của cả hệ thống chính trị theo đúng tinh thần "Tiền hô hậu ủng", "Nhất hô bá ứng", "Trên dưới đồng lòng", "Dọc ngang thông suốt"!

Hai là, phải luôn luôn quan tâm kết hợp nhuần nhuyễn sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại; xử lý hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia-dân tộc và nghĩa vụ, trách nhiệm quốc tế. Tình hình thế giới biến chuyển nhanh chóng, phức tạp, song xu thế lớn và nguyện vọng thiết tha của các dân tộc vẫn là luôn luôn giữ vững hòa bình, mở rộng hợp tác vì sự phát triển. Chúng ta đã xác định đúng đắn và rõ ràng vị trí, vai trò của mình trong hợp tác và phân công lao động quốc tế, cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị, chuỗi sản xuất và cung ứng khu vực và toàn cầu. Đường lối, chính sách và mục tiêu trước sau như một của chúng ta luôn luôn phù hợp với xu thế lớn đó của thời đại. Lợi ích quốc gia-dân tộc của chúng ta lúc này vẫn là bảo đảm môi trường quốc tế thuận lợi để phát triển. Điều đó hoàn toàn phù hợp với lợi ích của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đó là những thuận lợi rất cơ bản để chúng ta có thể kết hợp nhuần nhuyễn sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại.

Ba là, phải luôn luôn kiên định về nguyên tắc và linh hoạt về sách lượcNguyên tắc của chúng ta là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Sách lược của chúng ta là cơ động, linh hoạt điều chỉnh tùy theo từng vấn đề, từng thời điểm và tùy theo đối tượng hay đối tác, tuân thủ những tư tưởng lớn của Bác Hồ: "Dĩ bất biến ứng vạn biến", "thêm bạn bớt thù", "sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với ai". Việt Nam luôn sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy và có trách nhiệm với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế.

Bốn là, phải luôn luôn quan tâm xây dựng sự đoàn kết, đồng thuận trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân như lời căn dặn của Bác Hồ: "Sự nghiệp làm nên bởi chữ Đồng". Đường lối đối ngoại đúng đắn, giương cao ngọn cờ chính nghĩa và sự triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách cụ thể đã góp phần tạo nên sự đồng thuận cao của toàn bộ hệ thống chính trị, sự đoàn kết của toàn dân tộc và sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của bạn bè quốc tế. Thể chế, chính sách quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại dưới sự lãnh đạo của Đảng cần tiếp tục được hoàn thiện đồng bộ và phù hợp hơn; cơ chế phối hợp giữa đối ngoại đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân với các hoạt động đối ngoại trên tất cả các lĩnh vực, như: Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường...; giữa Trung ương và địa phương,... cần tiếp tục được đổi mới, hoàn thiện, ngày càng đồng bộ và phù hợp hơn, góp phần tạo ra sức mạnh tổng hợp, phát huy sự năng động, sáng tạo, hiệu lực, hiệu quả cao của hoạt động đối ngoại, đóng góp xứng đáng vào việc thực hiện mục tiêu bảo vệ Tổ quốc "từ sớm, từ xa", giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định, tạo những thời cơ và điều kiện thuận lợi nhất để phát triển đất nước.

Năm là, phải làm tốt hơn nữa việc kiện toàn tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại toàn diện cả về bản lĩnh, phẩm chất, đạo đức và trí tuệ, hiện đại về phương pháp, lề lối làm việc; chuyên nghiệp về tác phong, ứng xử; tinh thông về nghiệp vụ, ngoại ngữ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần căn dặn: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc"; "Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém". Tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ III (tháng 1-1964), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn cán bộ ngoại giao: "Cán bộ ngoại giao cần phải học tập, tu dưỡng đạo đức cách mạng; cần phải biết giữ bí mật; cần phải tiết kiệm đúng cách; cần phải chú ý đoàn kết nội bộ; cần cố gắng nắm bắt tình hình nước sở tại và tình hình quốc tế nhanh và chính xác". Những lời dạy còn nguyên giá trị đó của Bác chính là định hướng xuyên suốt để các cán bộ làm công tác đối ngoại và ngoại giao phấn đấu, tu dưỡng và rèn luyện.

 

Ngoại giao cây tre

 hướng, biện pháp khắc phục, quyết tâm thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ đối ngoại mà Đảng và Nhà nước giao phó. Toàn ngành Ngoại giao nghiêm túc tiếp thu đầy đủ, sớm cụ thể hóa các chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư thành các chương trình, đề án, kế hoạch hành động và tổ chức thực hiện một cách có hiệu quả, tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của ngoại giao cách mạng Việt Nam và bản sắc của ngoại giao "Cây tre Việt Nam"; quyết tâm, nỗ lực cao nhất để xây dựng một nền ngoại giao Việt Nam vững mạnh, toàn diện, hiện đại, cùng với các ngành, các cấp thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Kiên định trong nguyên tắc và linh hoạt trong sách lược ngoại giao

 

Tổng Bí thư nhấn mạnh, luôn luôn phải kiên định trong nguyên tắc và linh hoạt trong sách lược. Nguyên tắc là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Sách lược là cơ động, linh hoạt điều chỉnh tuỳ theo từng vấn đề, từng thời điểm và tùy theo đối tượng hay đối tác, tuân thủ những tư tưởng lớn của Bác Hồ: "Dĩ bất biến ứng vạn biến", "thêm bạn bớt thù", "sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với ai". Việt Nam luôn sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy và có trách nhiệm với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, luôn luôn phải quan tâm xây dựng sự đoàn kết, đồng thuận trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân như lời căn dặn của Bác Hồ: "Sự nghiệp làm nên bởi chữ Đồng". Đường lối đối ngoại đúng đắn, giương cao ngọn cờ chính nghĩa và sự triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách cụ thể đã góp phần tạo nên sự đồng thuận cao của toàn bộ hệ thống chính trị, sự đoàn kết của toàn dân tộc và sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của bạn bè quốc tế. Thể chế, chính sách quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại dưới sự lãnh đạo của Đảng cần tiếp tục được hoàn thiện đồng bộ và phù hợp hơn. Cơ chế phối hợp giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân với các hoạt động đối ngoại trên tất cả các lĩnh vực, như: Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường...; giữa Trung ương và địa phương... cần tiếp tục được đổi mới, hoàn thiện, ngày càng đồng bộ và phù hợp hơn, góp phần tạo ra sức mạnh tổng hợp, phát huy sự năng động, sáng tạo, hiệu lực, hiệu quả cao của hoạt động đối ngoại, đóng góp xứng đáng vào việc thực hiện mục tiêu bảo vệ Tổ quốc "từ sớm, từ xa", giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định, tạo những thời cơ và điều kiện thuận lợi nhất để phát triển đất nước.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: CHIA RẼ NHẬN THỨC LÀ NGỌN NGUỒN TAN VỠ QUỐC GIA!

Tại sao lại phải có nhiều bộ sách khác nhau?
Đọc thử một số bộ sách khác nhau ở cùng một cấp học của chương trình GDPT 2018 khiến chúng tôi hết sức bàng hoàng.
Sách Ngữ văn 10 tập 1, bộ Kết nối tri thức và bộ Cánh Diều có nội dung cực kỳ xa lạ với nhau. 
Trong khi bộ Kết nối tri thức vắng bóng những áng thơ văn kiệt xuất của Bác Hồ, và các nhà cách mạng tiêu biểu thì bộ Cánh Diều cũng không hề khá hơn. Bài thơ kỳ vĩ Nguyên Tiêu, một kiệt tác nổi bật lòng yêu nước, tinh thần lạc quan cách mạng của vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu cũng không còn trong sách này. Bài Cảnh Rừng Việt Bắc, Mẹ Tơm (Tố Hữu) cũng biến mất. Tất cả những tác phẩm văn học Cách mạng của Nguyên Hồng, Nguyễn Thi đều biến mất. Như vậy là tính cách mạng, tính phụng sự thể chế đã bị bớt xén đến tận cùng, chẳng rõ người chở đò XHCN muốn đưa các em về bến nào?
Bỏ qua lãnh tụ, không học tập Anh hùng cách mạng, thay vào đó là những vần thơ lãng nhách thưởng thức bình hoa, ngắm nhìn con quạ... hỏi các vị hưởng thành quả cách mạng tử tế ở chỗ nào?
Chưa hết bộ sách Cánh Diều cũng của lớp này còn tệ hại nhiều hơn. Ngoài Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi, Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão thì chí khí cứu nước, phẩm chất Cách mạng đều mờ mịt, thậm chí không tìm thấy một trước tác tiêu biểu nào của Bác Hồ. Á Tế Ca và Sống Chết Mặc Bay cũng biến mất? Bài thơ đơn giản Đất Nước được dạy ở Tiểu học nay lại cải cách thành Văn cấp 3, thật là một thứ cải cách ngược đời.
Tính cách mạng, tính giai cấp bị dồn ép. Các nhà yêu nước Tú Mỡ, Tú Xương, Nguyễn Đình Chiểu cũng biệt tăm, tội ác của thực dân phong kiến vì thế cũng bị che mờ. Thay vào đó là những thứ văn chương ngoại quốc tầm phào, những câu chuyện thần thoại nhạt nhẽo.
Chẳng rõ bộ GD đang phục vụ nhân dân hay đang làm quân cờ cho nước lạ?
 
Giữa thời đại bị lối sống ngoại quốc bủa vây, bị xâm lấn. Lẽ ra họ phải bồi đắp lòng tự hào dân tộc cho các em, nhưng không, họ lại làm nghèo lý tưởng của các em bằng những thứ văn học tầm thường. Chẳng phải là phi chính trị cho lớp trẻ ngay từ khi non nớt hay sao?
Nguy hiểm hơn, người ta cho tồn tại nhiều bộ sách với nhiều nội dung hết sức xa lạ với nhau. Điều này dẫn đến các học sinh dùng sách khác nhau sẽ có nhận thức khác nhau, và không khó để dẫn đến phá vỡ đoàn kết dân tộc, chia rẽ vùng miền. Kẻ thù muốn chia để trị, nay ta phân rẽ nhận thức của lớp trẻ để làm gì? Còn gì độc ác hơn khi tiếp tay cho giặc?

Sách Ngữ Văn lớp 8 giữa 2, bộ Kết nối Tri Thức và Cánh Diều cũng khác nhau tới mức đáng sợ. Họ tước bỏ hoàn toàn các tác phẩm Hòn Đất, Sống Như Anh, Theo chân Bác, Bài Ca Xuân 61, Nhật Ký Trong Tù (bài Lai Tân của Bác Hồ bị nhét vào mục Trào Phúng). 
Như vậy là ký ức về kháng chiến chống Mỹ chỉ còn lại dấu vết rất nhỏ trong văn chương ở cấp học này. Không lẽ người ta lại sợ kháng chiến chống Mỹ đến thế?
Bộ Cánh Diều lớp 8 chất lượng còn thấp hơn nhiều. Thay vì trau dồi vẻ đẹp tâm hồn cho học sinh thì họ lại chú trọng đến những câu chuyện cười vô thưởng vô phạt. Câu chuyện Cái Kính nói về một anh khờ bị lừa gạt nhiều lần nhưng kẻ xảo trá không hề bị phê phán, thế là họ cho phép cái xấu được mặc nhiên tung tác giữa dân lành?
Thứ văn chương này cho các em nhận thức được gì ngoài coi việc lừa đảo là một việc dĩ nhiên tồn tại? Họ đang ươm mầm xanh hay là gieo mầm ác cho đất nước này?

Câu hỏi được đặt ra là có bao nhiêu bộ Sách Giáo Khoa trái ngược về nội dung vẫn được tồn tại trên mảnh đất chữ S này? Giả sử mỗi năm các em phải dùng một bộ sách khác nhau thì sự hổ lốn, khập khiễng giữa các bộ sách sẽ tạo ra một nồi lẩu chữ kiểu gì?
Một Tổ quốc thống tại sao lại không có một nền giáo dục thống nhất ? Đồng bào bị chia rẽ tri thức bằng nhiều mớ chữ khác nhau, thế có phải là để phá hoại kết dân tộc không?
Các người đang muốn gì?
Tiếng kêu này ai sẽ lắng nghe hay người ta cũng muốn bỏ quên Tổ quốc?






Yêu nước ST.

CẦN PHẢI CHẤN CHỈNH NGAY BÁO CHÍ VIẾT KIỂU NÀY!

     Nói thẳng, tầm nhận thức báo chí thế này thì còn kém hơn cả "bán hàng online"!

"Báo chí trẻ trâu" chả góp phần gì cho bảo đảm dân chủ, xây dựng hoàn thiện NN dân chủ pháp quyền, góp phần chuyển hóa lối sống, thúc đẩy đời sống văn minh, tiến bộ xã hội, mà chỉ có phá hoại, phá nát... Nói không quá, nguy hiểm hơn là làm loạn cương mọi mặt...

Chạy cái tít là đã thấy "thế gian sụp đổ, tan cửa nát nhà". Thể loại bài viết này nhiều quá...Không có một cải tổ chấn chỉnh, đưa ra những quy chế khiển trách, kỷ luật cá nhân, người đứng đầu thì mỗi ngày nguy to...

Thiếu tá về hưu là ai, phải chăng cũng là một công dân, trong một xã hội công dân, ai chỉ uống một giọt bia..., họ viết bài "tự do DC báo chí" kiểu gì đây ?

Mặt trận truyền thông mà sao có thể xem nhẹ ? Sáng ra va phải những bài báo thế này chắc không ít người cảm thấy khốn nạn, chán đời./.
Yêu nước ST.