Thứ Ba, 19 tháng 12, 2023
TỰ DO TÔN GIÁO TRONG KHUÔN KHỔ PHÁP LUẬT!
Nhận diện và phòng, chống hoạt động “bất tuân dân sự” ở nước ta
Hiểu theo nghĩa phổ thông, “bất tuân dân sự” là hoạt động phản kháng bất bạo động nhằm công khai từ chối tuân theo, hoặc vi phạm một cách cố ý và có ý thức các chủ trương, chính sách, quy định pháp luật, gây cản trở quá trình thực thi chính sách, luật pháp của Nhà nước. Ở Việt Nam, những năm qua, các thế lực thù địch đã triệt để sử dụng hoạt động "bất tuân dân sự" nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị (ANCT), trật tự, an toàn xã hội (TTATXH).
Ra đời từ rất sớm (thế kỷ 19), thuật ngữ "bất tuân dân sự" (hay còn gọi là chống đối chính phủ dân sự) lần đầu tiên xuất hiện trong một bài luận với nhan đề "Dân sự bất hợp tác" của nhà văn người Mỹ, Henry David Thoreau vào tháng 5-1849. Thoreau cho rằng, cá nhân có thể không tuân thủ, không phục tùng nhà nước; thậm chí, có thể chống lại luật pháp của nhà nước nếu thấy những điều luật đó không phù hợp với người dân, kể cả là với thiểu số bằng phương pháp "cách mạng hòa bình".
Thoreau đề cao quyền tự quyết của mỗi cá nhân hơn là sự phục tùng theo đa số, theo cộng đồng và các cá nhân có quyền làm bất cứ điều gì mà họ cho là đúng. Tác giả cho rằng, về bản chất "bất tuân dân sự" chính là “bất tuân nhà nước”. Đến thế kỷ 20, quan điểm của Thoreau về "bất tuân dân sự" đã được phát triển thành phương thức đấu tranh bất bạo động và trở thành một mũi tiến công quan trọng trong chiến lược "diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc nhằm thay đổi chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) và những nước không cùng phe với họ.
![]() |
| Phòng chống “diễn biến hòa bình” tuyệt đối không được lơ là, chủ quan, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết liệt này. Ảnh minh hoạ: CPV |
Phương thức hoạt động này đã được áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới dưới những tên gọi khác nhau như: "Cách mạng màu", "cách mạng đường phố" ở Đông Âu và Liên Xô những năm cuối thế kỷ 20; làn sóng "Mùa xuân Ả Rập" ở các nước Trung Đông và Bắc Phi năm 2010; phong trào chống sửa đổi dự luật dẫn độ tại Hồng Công - Trung Quốc năm 2019...
Qua nghiên cứu thực tiễn cho thấy, "bất tuân dân sự" có mối quan hệ chặt chẽ với các tổ chức “xã hội dân sự”. Các nước phương Tây luôn coi hình thành “xã hội dân sự” là điều kiện, tiền đề cho việc cổ xúy tự do cá nhân, lấy "bất tuân dân sự" làm phương thức cơ bản để lật đổ chế độ chính trị ở một quốc gia. Có thể thấy "bất tuân dân sự" mang một số đặc trưng cơ bản như sau:
Thứ nhất, về mục đích và hình thức thể hiện: Thông qua việc từ chối tuân theo hay vi phạm một cách cố ý các quy định của pháp luật hoặc cản trở việc thực thi chính sách, pháp luật; các đối tượng thực hiện “bất tuân dân sự" nhằm mục đích cuối cùng là vô hiệu hóa hoạt động của chính quyền, tiến tới lật đổ nhà nước, thay thế bằng một chế độ chính trị mới theo mô hình của chủ nghĩa tư bản.
Để che giấu mục đích đó, các thế lực thù địch thường che đậy, ngụy trang dưới những vỏ bọc khác nhau, như: Tụ tập, tuần hành nhằm “phản kháng ôn hòa, bất bạo động”, “biểu tình ôn hòa”. Ở Việt Nam, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo hoặc lợi dụng những vấn đề chính trị-xã hội phức tạp, nhạy cảm liên quan đến quyền và lợi ích của con người để lôi kéo, kích động, thu hút đông đảo người dân tham gia các hoạt động với mưu đồ được gọi là đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, bảo vệ môi trường, bảo vệ chủ quyền biển, đảo, trả lại đất đai cho người dân... thực chất là để thực hiện “bất tuân dân sự” nhằm chống lại Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Thứ hai, về chủ thể tiến hành, các đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị và những người dân có trình độ thấp, ngộ nhận, có bức xúc, mâu thuẫn với chính quyền, bị lừa bịp, mua chuộc tham gia; đứng sau hậu thuẫn là các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong do phương Tây hậu thuẫn lập ra như: “Việt Tân”, “Hội anh em dân chủ”, “Hội văn đoàn độc lập Việt Nam”, “Hội Nhà báo độc lập Việt Nam”, “Mạng lưới Blogger Việt Nam”... giữ vai trò chỉ đạo, tài trợ kinh phí, đào tạo, huấn luyện phương thức hoạt động cho các đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị, đối tượng hình sự trong nước... trở thành cộm cán thu hút, lôi kéo, tập hợp người dân tham gia các hoạt động “bất tuân dân sự”.
Số đối tượng trong nước ráo riết thu thập tình hình, phát triển lực lượng, hình thành các hội/nhóm hoạt động theo hình thức “bất bạo động”. Các thế lực thù địch thông qua mạng xã hội, internet để tuyên truyền, vận động thu hút, lôi kéo người dân tham gia các hoạt động “bất tuân dân sự” do chúng chỉ đạo.
Thứ ba, về thời điểm, các thế lực thù địch đặc biệt lợi dụng thời điểm trong nước diễn ra các sự kiện chính trị quan trọng như: Đại hội Đảng toàn quốc, bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND; thời điểm có các đoàn nguyên thủ quốc tế đến thăm và làm việc tại Việt Nam; lợi dụng bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, xuất hiện những vấn đề nhạy cảm về chính trị, kinh tế, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ giữa các quốc gia... để kích động, lôi kéo người dân tham gia “bất tuân dân sự” và đưa ra những yêu sách, như: “Đòi bảo vệ chủ quyền, môi trường”, đòi “tự do tôn giáo”, “dân chủ, nhân quyền”... gây phức tạp về an ninh trật tự tại địa phương. Khi gặp thời điểm thuận lợi và đủ điều kiện chín muồi, các thế lực thù địch có thể chuyển hóa từ hình thức bất bạo động thành bạo động rất nhanh chóng.
Khi đó, các đối tượng cộm cán, cầm đầu kêu gọi, kích động những người tham gia đấu tranh “ôn hòa, bất bạo động” tiến hành các hoạt động bạo loạn như đập phá tài sản nhà nước và công dân; chiếm trụ sở chính quyền; bắt giữ người thi hành công vụ; cản trở hoạt động bình thường của xã hội... qua đó nhằm thực hiện kịch bản “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” xâm phạm ANCT, TTATXH ở địa phương. Điển hình như vụ người dân phản đối trạm BOT Cai Lậy (Tiền Giang) năm 2017; vụ tụ tập đông người tại Bình Thuận, Bình Dương, Đồng Nai...
Bằng những phương thức và thủ đoạn nêu trên, các đối tượng kích động người dân đập phá trụ sở chính quyền, gây cản trở giao thông, đốt phá tài sản của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, làm bị thương nhiều cán bộ thực thi nhiệm vụ, gây ngừng trệ hoạt động của các cơ quan chức năng, doanh nghiệp và người dân, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của Nhà nước, của công dân và xã hội. Ngoài ra, các thế lực thù địch còn lợi dụng việc các cơ quan chức năng xử lý những người vi phạm pháp luật; các đối tượng phản động, cơ hội chính trị ra sức rêu rao, xuyên tạc rằng Việt Nam “đàn áp” những người biểu tình ôn hòa, yêu nước và kêu gọi cộng đồng quốc tế can thiệp.
Để đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả với hoạt động “bất tuân dân sự” nhằm chống phá nước ta, cần thực hiện một số giải pháp trọng tâm như sau:
Một là, các cơ quan chức năng cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và người dân về âm mưu, thủ đoạn, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng “bất tuân dân sự” để xâm phạm ANCT, TTATXH; về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn hoạt động “bất tuân dân sự” chống phá ta, coi đó là trách nhiệm của tất cả các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân để huy động sự tham gia của cả xã hội trong công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh với hoạt động này. Quan tâm, đẩy mạnh công tác vận động quần chúng và tranh thủ chức sắc tôn giáo, người có uy tín trong tôn giáo, dân tộc thiểu số, phát huy tác dụng của các tổ chức, đoàn thể và các tầng lớp nhân dân trong phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động “bất tuân dân sự”.
Hai là, tiếp tục nâng cao chất lượng công tác nắm tình hình, phân tích, dự báo kịp thời mọi âm mưu, hoạt động lợi dụng dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo... của các thế lực thù địch hòng kích động, lôi kéo nhân dân tham gia "bất tuân dân sự" để triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh. Nắm tình hình tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để tham mưu, đề xuất các cơ quan chức năng giải quyết triệt để, thỏa đáng trên cơ sở pháp luật. Kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật về tôn giáo, dân tộc... để khắc phục; đồng thời phối hợp giải quyết dứt điểm các điểm nóng về an ninh trật tự ngay từ cơ sở, không để kéo dài, không lây lan, vượt cấp.
Ba là, tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng đời sống, bảo đảm an sinh xã hội, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, bảo đảm tốt các quyền tự do dân chủ của người dân, giải quyết tốt các vụ việc phức tạp liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của nhân dân, tránh tạo sơ hở để bên ngoài lợi dụng xuyên tạc, kích động chống phá. Xây dựng và củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở bảo đảm thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước ở địa phương. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp; tăng cường đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân. Tiếp tục tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm ANCT, TTATXH ở các địa phương, nhất là các địa bàn vùng sâu, vùng xa, miền núi.
Bốn là, quán triệt tinh thần giải quyết vấn đề tụ tập đông người, biểu tình, tuần hành theo đúng cơ chế: Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối và toàn diện; chính quyền quản lý, điều hành; lấy vận động thuyết phục là chính, kiên quyết thu hẹp vụ việc, không để lây lan, kéo dài. Khi phát hiện có tuần hành, tụ tập đông người hay lãn công, đình công, cần nhanh chóng đánh giá đúng tính chất, mức độ, xác định rõ nguyên nhân của vụ việc; thực hiện phân hóa số đối tượng cộm cán, cầm đầu với quần chúng bị dụ dỗ, lôi kéo; tuyên truyền vận động, thuyết phục quần chúng giải tán; kiên quyết xử lý nghiêm theo pháp luật số đối tượng cầm đầu, chủ mưu, cộm cán kích động, lôi kéo người dân tham gia "bất tuân dân sự".
Năm là, tiếp tục tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo, dân tộc, đất đai, chính sách đền bù giải phóng mặt bằng và các quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tăng cường kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên tham nhũng, xâm phạm quyền và lợi ích của người dân. Các ban, bộ, ngành chức năng thường xuyên rà soát, đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật về tôn giáo, dân tộc, đất đai, các chính sách bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo để kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót, kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với thực tế.
đgcđ
Tránh xa những kẻ nhiều chuyện!
Ông Hậu đang ngồi quan sát cháu đích tôn làm bài tập tiếng Anh thì bà Tươi hớt hải chạy về gọi to: - Duy Anh ơi, cháu đang làm gì đấy?- Cháu nó đang học tiếng Anh chứ còn làm gì nữa? Bà tưởng ông cháu tôi ngồi tán gẫu như bà chắc? - Ông Hậu trả lời với giọng có vẻ trách móc vợ.
- Ôi cháu ơi, từ nay không phải học tiếng Anh nữa. Bỏ ngay thôi. Người ta bắt bỏ tiếng Anh để chuyển sang học tiếng Trung hết rồi, hai ông cháu không biết gì à?
Nghe vợ nói vậy, ông Hậu nghiêm giọng:
- Bà lại nghe thông tin vớ vẩn ở đâu rồi về nói năng linh tinh thế! Để yên cho cháu nó tập trung học bài!
Bé Duy Anh cũng dừng bút, quay ra cười nói:
- Ông nói đúng đấy! Chắc bà nội lại nghe mấy bà ở đầu ngõ “buôn dưa lê” đấy mà! Cô giáo cháu bảo rồi, không có chuyện cấm học tiếng Anh đâu bà nhé!
- Bà nghe cô Tình nói đấy. Cô này hiểu biết, có nhiều thông tin “hot” lắm, không sai được đâu.
![]() |
| Minh họa: LÊ HẢI |
Thấy vợ nhắc đến nhân vật tên Tình, ông Hậu hốt hoảng:
- Bà giờ còn giao du với cả người như vậy à? Bà có biết đó là đối tượng từng bị phạt hành chính về tội thông tin, tuyên truyền sai sự thật, làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín của tổ chức, cá nhân không? Cô ta đang nằm trong diện theo dõi của cơ quan an ninh đấy! Tôi còn lạ gì cái nhà cô này, hễ mở miệng ra là xuyên tạc, nói xấu chế độ, quy chụp, xúc phạm người khác. Hôm trước ông tổ trưởng dân phố mở trang “phây búc” của cô ấy cho tôi xem, gớm, toàn giọng điệu bất mãn. Bà nên tránh xa cô ta ra càng nhanh càng tốt cho tôi!
Vừa nói, ông Hậu vừa với tay cầm điều khiển bật ti vi. Đúng lúc bà Tươi định phản bác lại thì trên chương trình thời sự phát thông tin cảnh báo về việc trên mạng xã hội xuất hiện những thông tin giả, cố tình xuyên tạc, gây dư luận hiểu sai về quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Xem xong thông tin, ông Hậu quay sang bà Tươi:
- Bà thấy chưa? Vừa rồi Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quyết định về việc phê duyệt sách giáo khoa các môn học, hoạt động giáo dục lớp 5 và sách giáo khoa môn tiếng Trung lớp 3, lớp 4 sử dụng trong cơ sở giáo dục phổ thông. Có thông tin nào nói rằng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định bỏ tiếng Anh để bắt học sinh học tiếng Trung đâu? May cho bà là mới nói chuyện ở nhà nhé. Bà đi ra ngoài mà tuyên truyền vớ vẩn như vậy là bị xử lý đấy!
Đến lúc này, bà Tươi mới ngớ người ra, mặt đỏ ửng vì xấu hổ với chồng và cháu nội. Một lát sau bà mới thẽ thọt:
- Thông tin như vậy mà cái nhà cô Tình kia cũng xuyên tạc, đặt điều được. Chắc cô ta có ý đồ xấu rồi, chứ bình thường ai người ta dám đi tuyên truyền lệch lạc thế? Từ nay tôi sẽ tránh xa những người ấy ra ông ạ. Muốn biết thông tin gì thì cứ tìm hiểu ở các báo, đài chính thống, ông n
đại gia chân đất
*Mời bạn đọc vào chuyên mục Bảo vệ nền tảng t
Rèn luyện bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng
Làm tốt công tác giáo dục, bồi dưỡng, thử thách, tạo môi trường rèn luyện cho đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược.
Cần thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược, để họ thấm nhuần sâu sắc hệ tư tưởng của Đảng và phương pháp làm việc khoa học, từ đó có sự sáng suốt, vững vàng trước những thử thách để có thể lựa chọn và đưa ra những quyết định đúng đắn, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn cách mạng. Muốn vậy, cần “Đổi mới căn bản nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo hướng khoa học, sáng tạo, hiện đại và gắn lý luận với thực tiễn; đưa việc bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp đi vào nền nếp, nâng cao chất lượng, hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng”(5).
Thời gian tới, để làm tốt công tác giáo dục, bồi dưỡng, thử thách đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược, góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị của Đảng, cần thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp mà Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra. Đó là: “Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng nâng cao năng lực dự báo, tầm nhìn chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương”(6); “Nâng tầm tư duy lý luận của Đảng, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp kịp thời cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tổng kết thực tiễn 40 năm đổi mới để bổ sung, phát triển lý luận của Đảng. Tiếp tục bổ sung, phát triển hệ thống các quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”(7).
Để rèn luyện bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, cần tạo môi trường rèn luyện từ chính thực tiễn công tác phong phú, đa dạng hằng ngày. Chính trong môi trường đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải đối mặt với những nhiệm vụ thường xuyên, trong đó có cả những nhiệm vụ mới, khó; nếu tổ chức đảng biết cách bố trí, sắp xếp hợp lý, động viên, giúp đỡ thì khó khăn, thử thách đó lại chính là cơ hội rèn luyện bản lĩnh, giúp cán bộ có điều kiện phát huy hết năng lực.
Hiện nay, nhiều đảng bộ thực hiện việc giao nhiệm vụ mới, khó gắn với sản phẩm, kết quả cụ thể để rèn luyện, thử thách đối với đội ngũ cán bộ được đưa vào diện quy hoạch. Nhiệm vụ đó có thể là những công việc còn tồn đọng qua nhiều nhiệm kỳ, chưa giải quyết triệt để do vướng mắc về cơ chế… Đó có thể là nhiệm vụ mà nếu giải quyết được sẽ tạo ra bước tiến mạnh mẽ trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Thông qua kết quả thực hiện nhiệm vụ đó, tổ chức đảng sẽ đánh giá cán bộ một cách toàn diện, cả về năng lực, trình độ, khả năng tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Cách làm trên của một số địa phương, cơ quan, đơn vị thời gian qua là một biện pháp tốt để rèn luyện bản lĩnh chính trị, chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, rất cần được đánh giá, tổng kết để rút ra bài học kinh nghiệm.
Thực hiện công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, góp phần rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ các cấp.
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ một cách thường xuyên, liên tục chính là công việc quan trọng để rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng. Muốn vậy, cần phải thường xuyên “… xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín”(8); “tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng lý tưởng, nhân sinh quan cách mạng”(9). Bên cạnh đó, cần “tiếp tục tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm và quyết tâm chính trị của toàn Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng… phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm từ xa, từ sớm”(10). Kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng là biện pháp cơ bản, quan trọng để xây dựng và chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, cũng là biện pháp hữu hiệu để rèn luyện và nâng cao bản lĩnh chính trị của Đảng. Bởi, kỷ luật là sức mạnh giúp tập thể đồng lòng vượt qua những khó khăn, thử thách. Đồng thời, để rèn luyện bản lĩnh chính trị, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần tu dưỡng, thực hành thường xuyên, nghiêm túc đạo đức cách mạng. “Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức… Kết hợp giữa giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng, đề cao pháp luật của Nhà nước với giáo dục, bồi dưỡng nhân cách, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên”(11).
Phát động các phong trào hành động cách mạng rộng lớn hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Các phong trào hành động cách mạng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc, chính là cơ sở thực tiễn, môi trường cho việc rèn luyện bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Để đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, chúng ta còn rất nhiều việc phải làm, đặc biệt là khắc phục những điểm nghẽn, thực hiện thành công 3 đột phá chiến lược, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh,... Muốn vậy, Đảng phải có đủ năng lực, bản lĩnh, uy tín, trí tuệ và đạo đức tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; có sự đồng thuận, ủng hộ của đông đảo quần chúng nhân dân, thông qua các phong trào hành động cách mạng rộng khắp trên mọi lĩnh vực, mọi miền đất nước, góp sức cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều biến động phức tạp, khó lường.
Từ thực tiễn các phong trào hành động cách mạng, các nhân tố mới xuất hiện, đem lại hiệu quả trên nhiều mặt; đồng thời, những vấn đề khó khăn nảy sinh trong quá trình thực hiện sẽ là “đề bài” đòi hỏi tổ chức đảng và đảng viên có trách nhiệm phải tìm ra lời giải. Tất cả những điều đó đều góp phần quan trọng rèn luyện và nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, như chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng, gắn bó mật thiết với nhân dân chính là cội nguồn sức mạnh của Đảng ta. Thời gian qua, do “… chưa tạo được nhiều cơ chế, chính sách, giải pháp có tính đột phá, đồng bộ để tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp, huy động mọi nguồn lực cho phát triển”(12), “các nguồn lực, tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc chưa được phát huy tốt”(13)…, nên đã làm ảnh hưởng nhất định đến việc phát huy sức mạnh to lớn của các phong trào hành động cách mạng rộng khắp của các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Để khắc phục những hạn chế nói trên, thời gian tới, cần “… tuyên truyền sâu rộng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước gắn với đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, hành động trong Đảng và nhân dân”(14); qua đó, “khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(15). Đồng thời, cần “chú trọng hơn giáo dục đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc tốt đẹp của người Việt Nam; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(16)..../.
LHQ-ST
Những biểu hiện cụ thể, đặc điểm bản lĩnh chính trị của Đảng trong những thời điểm mang tính bước ngoặt
Một là, những biểu hiện cụ thể bản lĩnh chính trị của Đảng trong những thời điểm mang tính bước ngoặt.
Kiên định mục tiêu, giữ vững nguyên tắc, nhưng mềm dẻo về phương pháp, sách lược, nhất là ở các thời điểm khó khăn khi đưa ra các quyết định lựa chọn. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta nhiều lần thể hiện việc kiên định mục tiêu chiến lược, nhưng thực hiện mục tiêu đó bằng phương pháp, sách lược mềm dẻo, để vừa khẳng định và giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, vừa giành được những thành quả trên thực tế; đồng thời, thu hút được ngày càng nhiều quần chúng yêu nước tham gia vào phong trào cách mạng.
Một trong những điển hình cho việc Đảng kiên định mục tiêu chiến lược, nhưng thực hiện bằng phương pháp, sách lược mềm dẻo chính là thực tiễn cách mạng những năm 1936 - 1939, khi Đảng lãnh đạo thực hiện những mục tiêu cải thiện về dân chủ và nhân quyền, từ ảnh hưởng của việc Chính phủ Pháp do những đảng cánh tả nắm quyền năm 1936. Kết quả là, tập hợp được đông đảo quần chúng xung quanh Đảng thông qua các tổ chức chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng; đời sống chính trị - xã hội có những cải thiện nhất định đã ảnh hưởng tốt tới thiện cảm của quần chúng nhân dân với Đảng; qua phong trào, đội ngũ đảng viên được rèn luyện bởi thực tiễn cách mạng, được trang bị thêm kiến thức hoạt động nghị trường, vì thế, cũng có sự trưởng thành nhất định. Chính trong giai đoạn này, nhiều nhà cách mạng tiền bối của Đảng, như Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… đã trực tiếp tham gia viết báo, tổ chức tờ báo..., vì thế đã được rèn giũa những kỹ năng nhất định, rất cần thiết cho hoạt động cách mạng sau này.
Quyết đoán quyết định ở thời điểm vô cùng khó khăn. Một điển hình của việc dũng cảm đưa ra quyết định vào thời điểm khó khăn được thể hiện trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Khi đó, thực tế chiến trường đã có những thay đổi lớn so với khi chuẩn bị phương án ban đầu là đánh nhanh, thắng nhanh; nếu cứ tiếp tục thực hiện theo phương án đã đề ra, thì chúng ta sẽ phải chịu những tổn thất to lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng tới lực lượng cách mạng. Tuy nhiên, từ những thông tin phản biện, cùng với sự cân nhắc kỹ lưỡng về tương quan giữa quân ta và quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đưa ra quyết định mà theo ông là khó khăn nhất trong cuộc đời làm tướng của mình, đó là chuyển phương châm từ đánh nhanh, thắng nhanh, sang đánh chậm, tiến chắc. Như vậy, người đưa ra quyết định mang tính lịch sử đó phải có bản lĩnh lớn, xuất phát từ tài thao lược kiệt xuất, phương pháp làm việc khoa học, căn cứ vào thực tế chiến trường, khắc ghi những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đánh khi chắc thắng, không chắc thắng không đánh.
Dám đương đầu với thách thức, quyết tâm tận dụng cơ hội, không bỏ lỡ thời cơ, biến thách thức thành cơ hội, nhất là vào các thời điểm bước ngoặt của cách mạng. Điển hình của trường hợp này chính là cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của dân tộc ta. Đảng ta đã huy động sức mạnh toàn dân tộc, quyết tâm vượt qua khó khăn, tận dụng thời cơ cách mạng để phát động Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 và đi đến thành công. Khi đó, phát xít Nhật đã đầu hàng Đồng minh, còn lực lượng Pháp chưa kịp trở lại Đông Dương; lực lượng phản cách mạng ở trong thế yếu, còn phong trào cách mạng đang lên cao chưa từng thấy. Trong tình thế đó, nếu Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên khắp cả nước và ở các thành phố lớn không diễn ra kịp thời, thì kết quả của cuộc Tổng khởi nghĩa sẽ khó đạt mục tiêu đề ra, thành quả của cách mạng sẽ không triệt để.
Dũng cảm đối mặt với sai lầm, khuyết điểm và kiên quyết sửa chữa khuyết điểm, tự chỉnh đốn Đảng để hoàn thiện. Một trong những điển hình của việc Đảng thể hiện bản lĩnh chính trị, dũng cảm đối mặt với sai lầm, khuyết điểm và kiên quyết sửa chữa khuyết điểm là việc sửa chữa những sai lầm trong cải cách ruộng đất những năm 1953 - 1955. Đảng đã thẳng thắn thừa nhận “có phạm sai lầm nghiêm trọng”(2), từ đó, nghiêm túc đề ra biện pháp để sửa chữa những lỗi lầm nói trên. Chủ tịch Hồ Chí Minh có “Thư gửi đồng bào nông thôn và cán bộ nhân dịp cải cách ruộng đất ở miền Bắc căn bản hoàn thành”, đăng Báo Nhân dân, ngày 18-8-1956; qua đó, khẳng định sự thành công và ý nghĩa to lớn của cải cách ruộng đất với cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, Người cũng chỉ rõ những sai lầm đã mắc phải trong khi thực hiện và nghiêm túc chỉ ra: “Trung ương Đảng và Chính phủ đã nghiêm khắc kiểm điểm những sai lầm, khuyết điểm ấy, và đã có kế hoạch kiên quyết sửa chữa, nhằm đoàn kết cán bộ, đoàn kết nhân dân, ổn định nông thôn, đẩy mạnh sản xuất”(3).
Thái độ công khai, thẳng thắn trong đánh giá, nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, trong thực hiện nhiệm vụ chung của sự nghiệp cách mạng, cách bày tỏ chân tình, thấu đáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước quần chúng nhân dân đã khiến cho những khúc mắc được giải tỏa, lòng tin của nhân dân với sự lãnh đạo của Đảng càng được củng cố, tạo thành sức mạnh mới cho phong trào. Cách ứng xử của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trước những sai lầm xảy ra trong khi thực hiện cải cách ruộng đất chính là sự thể hiện rất rõ bản lĩnh chính trị của Đảng.
Dám đổi mới và sẵn sàng chịu trách nhiệm trước dân tộc, trước nhân dân, trước lịch sử về quyết định của mình. Với việc tiến hành đổi mới toàn diện tại Đại hội VI của Đảng (năm 1986), Đảng ta đã thể hiện rõ trách nhiệm trước dân tộc, khẳng định bản lĩnh chính trị của mình trong sự nghiệp cách mạng. Khi đó, tư duy đổi mới phải đối diện với những áp lực không hề nhỏ từ nhiều phía, trong đó có áp lực từ lối tư duy sáo mòn, kinh viện, duy ý chí gắn với cơ chế kế hoạch hóa tập trung vốn đã ăn sâu trong suy nghĩ và hành động của số đông.
Sự thống nhất giữa "ý Đảng và lòng dân" đã đưa đến thành công của Đại hội VI của Đảng - Đại hội đổi mới. Toàn bộ đánh giá, nhận định trong Văn kiện Đại hội VI toát lên tinh thần nghiêm túc nhìn nhận vấn đề, thể hiện thái độ dũng cảm trong đánh giá thực tế, phê bình và tự phê bình những sai lầm mà Đảng đã phạm phải trong quá trình lãnh đạo cách mạng từ sau năm 1975. “Những sai lầm và khuyết điểm trong công tác lãnh đạo của đảng trước hết thuộc về trách nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Hội đồng Bộ trưởng… làm cho sự lãnh đạo của Đảng trong những năm gần đây không đáp ứng những đòi hỏi của tình hình mới. Ban Chấp hành Trung ương xin tự phê bình nghiêm túc về những khuyết điểm của mình trước Đại hội”(4). Đó chính là bản lĩnh chính trị của một đảng cách mạng chân chính theo tư tưởng Hồ Chí Minh, khi không che dấu khuyết điểm, thành khẩn tự phê bình và chỉ ra phương hướng khắc phục khuyết điểm, đồng thời quyết tâm khắc phục.
Hai là, đặc điểm bản lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bản lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện bản lĩnh chính trị của đảng vô sản theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và dìu dắt, chịu sự ảnh hưởng của truyền thống chính trị dân tộc qua nhiều thời kỳ, có dấu ấn tác động của vị trí địa - chính trị của đất nước Việt Nam.
Bản lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện ở việc kiên cường vượt qua những khó khăn, thử thách của phong trào cách mạng, được trui rèn để ngày càng trưởng thành, là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất về ý chí và hành động; đoàn kết, hy sinh không sờn lòng; kiên định vượt qua những trở ngại to lớn; dũng cảm tự phê bình để ngày càng trưởng thành; giữ vững bản chất của một đảng vì nước, vì dân; tiếp tục vững vàng lãnh đạo dân tộc vượt qua những thách thức trong giai đoạn cách mạng mới.
Rèn luyện bản lĩnh chính trị có quan hệ chặt chẽ với nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng. Đó chính là quan hệ gắn bó giữa việc thường xuyên giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên, với việc chuẩn bị khả năng thích ứng cao với mọi hoàn cảnh khó khăn, đột xuất, đòi hỏi phải đưa ra được những quyết định kịp thời, chuẩn xác.
Rèn luyện bản lĩnh chính trị có quan hệ chặt chẽ, qua lại với rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cầm quyền của Đảng và đều yêu cầu người đảng viên cần phải phấn đấu cao nhất vì lý tưởng cách mạng, vì thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sự phấn đấu đó là thường xuyên, liên tục, không có điểm dừng, bởi cuộc cách mạng nhằm đem lại hạnh phúc cho toàn thể dân tộc phải vượt qua những thử thách không thể đoán định được, đòi hỏi phải có nỗ lực cao nhất.
Bản lĩnh chính trị và việc rèn luyện bản lĩnh chính trị của Đảng
Bản lĩnh chính trị của một cá nhân, tập thể là khả năng vượt qua những áp lực, khó khăn, thách thức; là lòng tin, sự kiên định, quyết tâm lớn lao và năng lực ứng biến với những thay đổi của thực tiễn, sự đoàn kết đồng lòng để tìm ra cách thức đúng đắn, nhằm thực hiện thành công mục tiêu chính trị của mình. Bản lĩnh chính trị dựa trên sự nắm vững tri thức khoa học và khả năng đúc rút tri thức mới từ thực tiễn hoạt động chính trị của chủ thể.
Bản lĩnh chính trị của một cá nhân, một chính đảng không tự nhiên mà có. Khả năng tự chủ, đứng vững trước áp lực, sáng suốt tìm ra con đường đúng đắn… của chủ thể chính trị chỉ có thể có được qua quá trình khổ công rèn luyện lâu dài. Rèn luyện bản lĩnh chính trị là hoạt động có mục đích, nhằm từng bước xây dựng, củng cố thái độ, quyết tâm và khả năng giữ vững, bảo vệ và phát triển quyết định của cá nhân, tập thể trong hoạt động chính trị, bất chấp những áp lực từ nhiều phía. Tuy nhiên, hoạt động chính trị của con người thường xuyên, liên tục chịu tác động bởi nhiều yếu tố bất định, khó lường; vì thế, việc tự giác rèn luyện là điều kiện cần, để tạo nên nền tảng cơ bản cho bản lĩnh chính trị của chủ thể; nhưng khả năng vượt qua áp lực, thử thách mới chính là sự khẳng định và làm dạn dày thêm bản lĩnh chính trị của chủ thể. Chỉ khi vượt qua được những thử thách, áp lực không định trước được, bản lĩnh chính trị mới trở nên ổn định, vững chắc, trở thành bản chất cố hữu của chủ thể chính trị.
Việc rèn luyện bản lĩnh chính trị của chủ thể chính trị diễn ra trong thực tiễn chính trị, được tiến hành thông qua các hoạt động có tính mục đích chính trị rõ ràng, được tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và sự tham gia tích cực của quần chúng nhân dân.
Rèn luyện bản lĩnh chính trị bắt đầu với việc truyền bá, học tập, quán triệt và nắm vững, hiểu biết ngày càng sâu sắc về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng... Đây là kim chỉ nam soi sáng cho nhận thức và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng, nhất là khi gặp phải những tình thế khó khăn, trở ngại, là cơ sở nền tảng để các chủ thể chính trị phân tích, đánh giá đúng tình hình, tìm ra bản chất, quy luật, tính quy luật của sự vật, hiện tượng chính trị, từ đó đưa ra được những giải pháp phù hợp, tập hợp được sức mạnh cần thiết để vượt qua khó khăn, thách thức, hoàn thành tốt nhiệm vụ, đạt được mục tiêu chính trị đề ra.
Rèn luyện bản lĩnh chính trị thông qua việc củng cố niềm tin chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Những trải nghiệm chính trị, những bài học kinh nghiệm “xương máu” được đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân rút ra từ thực tiễn và những thành tựu cách mạng dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng làm cho nhận thức chính trị của họ càng thêm sâu sắc, từ đó tình cảm, niềm tin chính trị vào Đảng càng thêm sâu nặng. Lúc này, tình cảm, niềm tin chính trị đã trở thành bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân. Điều này được V.I. Lê-nin chỉ rõ, qua thực tiễn cách mạng vô sản Nga: “… khi đụng đến một phong trào bao gồm hàng triệu quần chúng nhân dân, thì chỉ những lời nói thôi không đủ; quần chúng nhân dân phải có kinh nghiệm của bản thân họ để họ tự kiểm nghiệm những chỉ thị và tin vào kinh nghiệm của bản thân”(1).
Rèn luyện bản lĩnh chính trị thông qua việc tổ chức thành công các phong trào hành động chính trị, nhằm đạt các mục tiêu mà Đảng đề ra. Bản lĩnh chính trị không chỉ biểu hiện thông qua cuộc đấu tranh trên mặt trận lý luận chính trị, mà còn thông qua các phong trào hành động cách mạng trong thực tiễn, nhằm cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng. Kết quả thực tế của các phong trào hành động cách mạng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân là minh chứng thuyết phục nhất cho bản lĩnh chính trị của Đảng.
LHQ-ST
Tiếp tục quán triệt và vận dụng sáng tạo trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay
Quán triệt, vận dụng sáng tạo các chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm Thường thức chính trị đòi hỏi toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức sâu sắc và thực hiện thật tốt các nội dung sau:
Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, phát triển sáng tạo lý luận và tổng kết thực tiễn; tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng và rèn luyện bản lĩnh chính trị; làm sáng rõ hơn nữa lý luận về mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, lý luận về công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Kiên định và phát triển sáng tạo hơn nữa nền tảng lý luận Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong mối quan hệ không tách rời với thực tiễn công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm phù hợp của các nước, giá trị tiến bộ của văn minh nhân loại. Từ đó, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, đánh giá đầy đủ, chính xác thực tiễn, tập trung nghiên cứu lý luận, giải đáp kịp thời những vấn đề lý luận do thực tiễn đặt ra. Phát huy vai trò lãnh đạo của cấp ủy, của cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là của đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, của người đứng đầu đối với công tác nghiên cứu, phát triển lý luận. Đấu tranh với những biểu hiện ngại học chính trị, lười học chính trị của một số cán bộ, đảng viên. Tiếp tục đổi mới nội dung và phương pháp nghiên cứu, phát triển lý luận trên cơ sở phát huy dân chủ trong hoạt động lý luận. Nghiên cứu phát triển lý luận phải bảo đảm thống nhất chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, giữa nhận thức và hành động. Nghiên cứu và phát triển lý luận gắn với tổng kết thực tiễn phải bảo đảm tính khoa học, cách mạng và nhân văn với yêu cầu khách quan, toàn diện, phát triển và lịch sử cụ thể. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực, đạo đức và lý tưởng, phát huy dân chủ và trí tuệ tập thể để kế tục sự nghiệp nghiên cứu và phát triển lý luận cách mạng.
Nâng cao chất lượng ban hành nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng. Nội dung nghị quyết phải vừa tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc trước mắt, vừa giải quyết các vấn đề chiến lược trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Nghị quyết phải phát huy trí tuệ, kết tinh trí tuệ của tổ chức đảng, đảng viên và nhân dân. Cấp ủy, chính quyền phải đổi mới cách tổ chức thực hiện nghị quyết bảo đảm kịp thời, thực chất, phát huy hiệu quả lâu dài. Xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của Đảng lãnh đạo, cầm quyền. Xây dựng cơ chế khoa học, phù hợp gắn thẩm quyền với trách nhiệm đối với từng chức danh cụ thể trong bộ máy của Đảng và Nhà nước, nhất là đối với người đứng đầu, trong điều kiện mới.

Chú trọng xây dựng đội ngũ đảng viên, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ chốt, cán bộ cấp chiến lược đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ. Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt có đầy đủ phẩm chất và tài năng ở các cấp, các ngành. Tăng cường đoàn kết, tập hợp rộng rãi, trọng dụng nhân tài cho đất nước. Thu hút người có đủ đức, đủ tài; bản lĩnh chính trị vững vàng; hiểu biết, tôn trọng những giá trị truyền thống, đồng thời biết nắm bắt những cái mới; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm tham gia vào đội ngũ cán bộ chủ chốt. Nắm vững tiêu chuẩn cán bộ, nhất là tiêu chuẩn với cán bộ chủ chốt, cán bộ đứng đầu các cơ quan, đơn vị, giải quyết mối quan hệ giữa tiêu chuẩn và cơ cấu cán bộ. Cán bộ chủ chốt, đặc biệt là nhà lãnh đạo ở cấp vĩ mô, phải kết tinh được trí tuệ của toàn Đảng, của nhân dân, nắm bắt được tri thức của thời đại, có tầm nhìn chiến lược, đủ khả năng đặt ra và xử lý các vấn đề lớn một cách chính xác và sáng tạo; có năng lực tham gia, quyết định và tổ chức thực hiện tốt những nhiệm vụ trong phạm vi trách nhiệm của mình; có năng lực thuyết phục, tập hợp và phát huy sức mạnh của quần chúng; có kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn, tổng kết thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm; có phong cách làm việc tập thể, tổ chức khoa học, nói đi đôi với làm, sâu sát thực tế; biết lắng nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý, quyết đoán và dám chịu trách nhiệm. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng và rèn luyện đạo đức cách mạng. Đánh giá đúng và sử dụng cán bộ phù hợp, hiệu quả. Chính sách cán bộ phải nhất quán, thực sự dân chủ công bằng, tạo điều kiện để cán bộ phát huy năng lực sở trường. Phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt, người đứng đầu ở cơ quan, đơn vị, địa phương; tăng cường đoàn kết trong Đảng.
Quán triệt và làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm Thường thức chính trị, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt ở các cơ quan, đơn vị, địa phương phải thực sự trong sạch, liêm khiết, gìn giữ phẩm chất đạo đức, lối sống; có uy tín với tập thể và với nhân dân; có năng lực làm việc; phương pháp, tác phong công tác quyết đoán; dám làm, dám chịu trách nhiệm; có chính kiến, phân minh rõ đúng - sai, tốt - xấu; khách quan, trung thực, không bao che, giấu giếm khuyết điểm, sai phạm của cán bộ, đảng viên; thưởng - phạt công bằng; là hạt nhân đoàn kết, trung tâm quy tụ sức mạnh ý chí, tài năng, tâm huyết và là chỗ dựa vững chắc về tinh thần của cán bộ, đảng viên ở cơ quan, đơn vị, địa phương.
Kiên quyết đấu tranh với những cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Để xây dựng một đội ngũ cán bộ đủ đức, đủ tài, cần quán triệt phương châm “xây” đi đôi với “chống”, vừa bồi dưỡng, rèn luyện, vừa kiên quyết xử lý, đấu tranh với những thói xấu, với những cán bộ, đảng viên có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái về đạo đức, lối sống. Xử lý nghiêm đối với cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị không gương mẫu, tham nhũng, tiêu cực, bè phái, cục bộ, chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm, không đặt lợi ích của Đảng, nhân dân lên trên hết, trước hết, chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân. Việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị, “Về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” phải được triển khai thực hiện nghiêm túc trong mỗi tổ chức, tập thể. Mỗi cán bộ, đảng viên phải xem đó như là công việc hằng ngày để trau dồi, rèn luyện, tự sửa chữa khuyết điểm của chính mình.
Tăng cường, nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. Chú trọng vận dụng nội dung của tác phẩm Thường thức chính trị trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong tác phẩm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những luận cứ, luận chứng quan trọng về đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng; về vai trò và sứ mệnh của Đảng; nhận thức về thời đại mới, xây dựng xã hội mới và phát triển đất nước; những luận cứ, luận chứng về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, xây dựng chế độ mới. Việc sử dụng những nội dung và vận dụng cách tiếp cận, giải thích làm rõ các vấn đề như trong tác phẩm Thường thức chính trị là một cách làm hiệu quả để cán bộ, đảng viên, nhân dân hiểu rõ, tin tưởng vào đường lối đổi mới và khát vọng phát triển đất nước của Đảng trong điều kiện mới. Các vấn đề về xây dựng Đảng được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập ngắn gọn, rõ ràng, là những luận cứ, luận chứng xác đáng, khoa học trong đấu tranh với những luận điệu, quan điểm sai trái, thù địch về vai trò lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc về bản chất của Đảng; xuyên tạc, thù địch về vị trí, vai trò của đội ngũ đảng viên; vai trò của chi bộ cơ sở trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương.
Thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình gắn liền với việc mở rộng và phát huy dân chủ trong Đảng. Cần nâng cao nhận thức, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả chế độ tự phê bình và phê bình của tổ chức đảng, cấp ủy, đảng viên, đặc biệt là vai trò tiền phong gương mẫu của cấp ủy, người đứng đầu. Cấp ủy và mỗi cán bộ, đảng viên phải thực hiện tốt việc tự phê bình trước nhân dân, hoan nghênh và khuyến khích nhân dân góp ý phê bình, cầu thị sửa đổi theo những góp ý chính xác, thiết thực mà nhân dân nêu ra; dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, tăng cường và giữ vững mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân.
Đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc; xây dựng phương pháp làm việc khoa học, tập thể, dân chủ, gần dân, trọng dân, vì dân. Sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy của Đảng một cách khoa học, tinh gọn, phù hợp trong điều kiện mới. Đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng. Xây dựng đội ngũ cán bộ bảo đảm tinh gọn, hiệu quả; tăng cường rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng. Xây dựng cơ chế và tổ chức tốt việc phản biện xã hội, thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về Đảng cầm quyền; xác định rõ mục đích, phương thức cầm quyền, nội dung, điều kiện cầm quyền trong giai đoạn hiện nay. Phát huy dân chủ, phòng ngừa các nguy cơ, nhất là nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.
Ra đời cách đây 70 năm, nhưng đặt trong bối cảnh hiện nay, tác phẩm Thường thức chính trị vẫn còn vẹn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn, là cơ sở, định hướng để Đảng ta tiếp tục giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo, cầm quyền, tăng cường phát huy quyền làm chủ của nhân dân; là cơ sở để xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế; xây dựng, phát triển Đảng bằng đường lối cách mạng đúng đắn; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Việc quán triệt và vận dụng sáng tạo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong tác phẩm Thường thức chính trị là một nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giai đoạn cách mạng mới./.
LHQ-ST



