Thứ Năm, 21 tháng 12, 2023

Lại giở trò vu cáo, bôi nhọ từ vụ án liên quan ông Lưu Bình Nhưỡng

 Thông tin ông Lưu Bình Nhưỡng bị Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thái Bình ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam, khám xét nơi ở, nơi làm việc để điều tra về tội “Cưỡng đoạt tài sản” được các cơ quan báo chí đưa khách quan, kịp thời. Tuy nhiên, các thế lực chống phá đã cố tình đánh tráo bản chất vụ án, định hướng dư luận theo hướng tiêu cực, biến một vụ án hình sự được điều tra như một vụ “tấn công” mang màu sắc khác.

 

Theo thông tin từ Công an tỉnh Thái Bình, ngày 14/11/2023, ông Lưu Bình Nhưỡng (nguyên Phó trưởng Ban Dân nguyện của Ủy ban Thường vụ Quốc hội) bị Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thái Bình ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh khám xét nơi ở, nơi làm việc để điều tra về tội "Cưỡng đoạt tài sản", quy định tại Điều 170, Bộ luật Hình sự.

Ông Lưu Bình Nhưỡng từng là đại biểu Quốc hội Khóa XIV, được biết đến là người hay có những phát biểu tranh luận tại nghị trường, đặc biệt liên quan đến các vấn đề “nóng” của xã hội. Nhiều phát biểu trong đó đã bị số đối tượng chống đối lợi dụng bôi nhọ cơ quan Đảng, Nhà nước, trở thành “chất liệu” chống phá. Đặc biệt, ông Lưu Bình Nhưỡng cũng từng có những phát biểu trước Quốc hội về đạo đức, công lý và những thế lực xấu đã lợi dụng tung hô, lấy cớ xuyên tạc.

Vì vậy không ngạc nhiên khi tin ông Lưu Bình Nhưỡng bị bắt, lập tức các đối tượng chống đối, phản động đã lợi dụng vu cáo.

Lại giở trò vu cáo, bôi nhọ từ vụ án liên quan ông Lưu Bình Nhưỡng -0

Công an đọc lệnh bắt ông Lưu Bình Nhưỡng.

Tổ chức khủng bố Việt Tân cho rằng, vì ông Lưu Bình Nhưỡng hay nói động chạm đến các vấn đề xã hội, động chạm cả đến cơ quan tiến hành tố tụng mà dẫn tới bị xử lý hình sự. Chúng còn thần thánh hóa rằng, với việc ông Nhưỡng bị bắt, dân mất chỗ dựa, mất nơi “gửi đơn kêu oan”! Có thể nói, đây là luận điệu kích động, xuyên tạc thường thấy của các thế lực xấu nhằm đánh tráo bản chất vấn đề.

Vụ án mà cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thái Bình đang điều tra không phải là điều tra trực tiếp, từ đầu đối với ông Lưu Bình Nhưỡng. Đây là kết quả điều tra mở rộng vụ án Phạm Minh Cường (37 tuổi, thường gọi là Cường "quắt", trú tại xã Thụy Xuân, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình) về tội "Cưỡng đoạt tài sản" quy định tại khoản 4, Điều 170, Bộ luật Hình sự. Trước đó ngày 17/5/2023, cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thái Bình ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Phạm Minh Cường về tội danh trên.

Theo tài liệu điều tra, khi biết thông tin một số doanh nghiệp được UBND tỉnh Thái Bình cấp phép cho khai thác cát tại mỏ cát ven biển xã Thụy Trường, huyện Thái Thụy, Cường cùng đồng bọn đã tự ý xác lập quyền sử dụng trái phép các bãi triều nhằm gây sức ép, buộc các doanh nghiệp phải trả tiền theo khối lượng cát khai thác được, hoặc bán lại một phần cho Cường với giá rẻ hơn giá thị trường. Cơ quan điều tra nhận định, đây là vụ án đặc biệt nghiêm trọng, số tiền chiếm đoạt lớn, gây bức xúc trong nhân dân, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và ảnh hưởng đến hình ảnh, môi trường đầu tư của tỉnh. Công an tỉnh Thái Bình đã mở rộng điều tra vụ án, tập trung làm rõ các đối tượng có hành vi tiếp tay, giúp sức cho bị can thực hiện hành vi phạm tội để xử lý theo quy định của pháp luật. Trước đó, vào năm 2022, Cường "quắt" từng bị Công an tỉnh Thái Bình khởi tố và bắt giam về tội “Cố ý gây thương tích”, “Gây rối trật tự công cộng”.

Lại giở trò vu cáo, bôi nhọ từ vụ án liên quan ông Lưu Bình Nhưỡng -0

Quá trình bắt, khám xét đối với bị can Lưu Bình Nhưỡng, cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thái Bình cũng đã thu giữ nhiều đồ vật, tài liệu có dấu hiệu vi phạm pháp luật phục vụ công tác điều tra, mở rộng vụ án. Với các tài liệu có liên quan đến vụ án thu được, việc ông Nhưỡng bị bắt, khởi tố để điều tra mở rộng vụ án Phạm Minh Cường là đảm bảo đúng quy trình tố tụng. Tính chất, mức độ vi phạm, sự liên quan của bị can Lưu Bình Nhưỡng trong vụ án “Cường quắt” như thế nào, hành vi cưỡng đoạt tài sản ra sao, cơ quan CSĐT đang tiếp tục làm rõ và sẽ có kết luận cụ thể.

Tại cuộc họp báo mới đây, Phó trưởng Ban Nội chính Trung ương Nguyễn Văn Yên cho biết, vụ ông Lưu Bình Nhưỡng chưa thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chỉ đạo, xem xét. Hiện các cơ quan chức năng đang thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, theo đúng thẩm quyền. Ông Nguyễn Văn Yên cho biết, đối với trường hợp của ông Lưu Bình Nhưỡng, là người có nhiều ý kiến đóng góp ở các diễn đàn, những đóng góp tốt của ông Lưu Bình Nhưỡng chúng ta cần ghi nhận nhưng những vi phạm của ông Nhưỡng cũng phải xử lý nghiêm.

“Khi các cơ quan bảo vệ pháp luật đã quyết định xử lý thì phải có căn cứ. Pháp luật của chúng ta rất chặt chẽ, nhất là pháp luật về hình sự và tố tụng hình sự. Vì vậy, để quyết định khởi tố một vụ án, một bị can, đặc biệt là áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam là đã đầy đủ tài liệu, chứng cứ. Bộ luật Tố tụng hình sự quy định hết sức chặt chẽ, không một cơ quan nào có thể tự ý thực hiện. Toàn bộ hoạt động của cơ quan điều tra được VKSND cùng cấp kiểm sát trực tiếp, toàn diện và chịu trách nhiệm về việc phê chuẩn” – ông Nguyễn Văn Yên nêu rõ. Theo Phó trưởng Ban Nội chính Trung ương Nguyễn Văn Yên, khi người dân chưa hiểu thì có thể còn băn khoăn nhưng hãy tin vào kết quả điều tra của các cơ quan bảo vệ pháp luật.

Việc một số tổ chức, cá nhân thù địch, phản động cố tình đánh tráo bản chất vụ án liên quan ông Lưu Bình Nhưỡng là thủ đoạn không mới. Các đối tượng cố tình định hướng dư luận theo hướng tiêu cực, biến một vụ án hình sự được điều tra như một vụ “tấn công người bảo vệ công lý”, miệt thị rằng “sống dưới chế độ độc tài cộng sản thì không có quyền cất lên tiếng nói tự do ngôn luận”; “lợi dụng pháp luật để áp tội tùy tiện, trù dập những người khiến họ không hài lòng”… Các đối tượng tung hô cá nhân vi phạm, miệt thị cơ quan tiến hành tố tụng để chống phá, hạ bệ, bôi nhọ hệ thống pháp luật Việt Nam; làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với cơ quan công quyền, tiến tới quy kết, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, chia rẽ nội bộ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam. Những luận điệu trên vốn dĩ không phải là thủ đoạn mới bởi từ trước đến nay, lợi dụng nhiều đối tượng bị bắt, các tổ chức, hội nhóm phản động như Việt Tân, Hội Anh em dân chủ, các hãng truyền thông hải ngoại thù địch với Việt Nam như RFA, RFI, VOA… đã đưa ra nhiều bài viết, hình ảnh có nội dung xuyên tạc, cố tình công kích Đảng, Nhà nước, các cơ quan chức năng. Do vậy, người dùng mạng xã hội phải thật tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc bởi mạng xã hội là miếng đất màu mỡ để các thế lực thù địch, phản cách mạng, phần tử cơ hội chính trị sử dụng thực hiện những thủ đoạn xấu chống phá Đảng, Nhà nước.

Qua việc khởi tố ông Lưu Bình Nhưỡng một lần nữa cho thấy việc xử lý vi phạm không có vùng cấm, dù đó là người có chức vụ, quyền hạn hay một người dân bình thường. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng chia sẻ khi tiếp xúc với cử tri rằng, không hay ho gì khi phải xử lý cán bộ, đồng chí của mình nhưng vì sự tồn vong của chế độ, của Đảng, đòi hỏi phải làm nghiêm, xử lý nghiêm. Đây cũng là một bài học đối với các cán bộ, đảng viên có chức quyền dù to hay nhỏ đều phải sống và làm theo pháp luật. Mọi sai phạm đều sẽ bị xử lý nghiêm, công bằng trước pháp luật, không có ngoại lệ.

LẠC PHONG-Theo Báo Công an nhân dân 

Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không – Chiến thắng của sức mạnh văn hóa Việt Nam

Hơn năm mươi năm đã trôi qua, nhưng chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã đi vào lịch sử dân tộc ta như một chiến thắng chói lọi, một kỳ tích vô song của thế kỷ XX. Chiến thắng vĩ đại này là sự minh chứng hùng hồn về sức mạnh của văn hóa Việt Nam, là chiến thắng của ý chí, bản lĩnh khí phách Việt Nam, chiến thắng của lòng tự hào, tự tôn, tự trọng, của đức hy sinh cao thượng Việt Nam

Để nhận thức sâu sắc những nhân tố chính trị-tinh thần tạo nên chiến thắng lịch sử oanh liệt này, chúng ta hãy cùng nhau suy ngẫm về những sự kiện lịch sử trực tiếp thể hiện nổi bật sức mạnh của bản lĩnh, khí phách, trí tuệ Việt Nam, thể hiện sức mạnh của đức hy sinh cao thượng Việt Nam.

Trước hết hãy tiếp cận tương quan lực lượng trong cuộc tập kích chiến lược có một không hai trong lịch sử chiến tranh hiện đại của thế kỷ XX.

Đế quốc Mỹ quyết định tiến hành cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B52 nhằm mục tiêu sau:

Đánh phá huỷ diệt tiềm lực kinh tế quốc phòng của miền Bắc, trước hết là tàn phá Hà Nội, thành phố cảng Hải Phòng, khu gang thép Thái Nguyên… ngăn cản sự chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam. Làm tê liệt ý chí chiến đấu, quyết chiến, quyết thắng của dân tộc ta, ép buộc ta phải chấp nhận ký Hiệp định Paris theo các điều khoản sửa đổi của họ; đe dọa phong trào đấu tranh vì hòa bình độc lập dân tộc của nhân dân thế giới. Quy trình bắt B52 trong nhiễu của Binh chủng ra đa. Cách chống nhiễu thông tin của Bộ đội thông tin. Cách đánh B52 của tên lửa SAM2, của máy bay MIG21 của Pháo cao xạ 100 ly. Cách đánh máy bay chiến thuật của Không quân và Hải quân Mỹ. Cách đánh máy bay cường kích F111. Cách đánh máy bay trinh sát thấp. Cách đánh máy bay ném bom điều khiển bằng tia laze. Cách chống tên lửa không đối đất Sơrai.

Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không – Chiến thắng của sức mạnh văn hóa Việt Nam - Ảnh 1.

Máy bay B52 của Mỹ trong chiến dịch 12 ngày đêm đánh phá Hà Nội và các tỉnh, thành phố miền Bắc - Ảnh tư liệu

Để thực hiện mưu đồ rất thâm độc và tàn bạo này, theo lệnh của Tổng thống Nixon, từ tháng 11 năm 1972, Lầu Năm góc đã chính thức xây dựng kế hoạch cho cuộc tập kích đường không chiến lược mang tên "Cuộc hành binh Linebacker II". Theo kế hoạch này, Nhà Trắng và Lầu Năm góc đã huy động một lực lượng vũ khí kỹ thuật khổng lồ và hiện đại bậc nhất của không quân và hải quân Mỹ. Đây là cuộc huy động lực lượng tập kích đường không lớn nhất của đế quốc Mỹ kể từ sau Đại chiến thế giới lần thứ hai đến năm 1972, gồm: Gần 50% tổng số máy bay B52 hiện có (193/404 chiếc); hơn 1/3 tổng số máy bay chiến thuật (cả tiêm kích và cường kích là 1.077/3.041 chiếc, trong đó có 01 biên đội F111 với 50 chiếc); chưa kể hàng trăm máy bay trinh sát, máy bay gây nhiễu, máy bay tiếp dầu, máy bay chỉ huy liên lạc dẫn đường; 1/4 tổng số tàu sân bay của toàn nước Mỹ (6/24 chiếc); 60 tàu chiến các loại của Hạm đội 7.

Các máy bay B52 xuất phát từ 02 sân bay Guam và U-Tapao (Thái Lan). Các máy bay chiến thuật xuất phát từ 6 tàu sân bay đậu trên Biển Đông và 6 sân bay trên đất Thái Lan. Bên cạnh đó là một loạt căn cứ hậu cần kỹ thuật của Mỹ đóng ở Nhật, Philippines.

Đáng chú ý, tất cả các máy bay chiến lược và chiến thuật được huy động vào trận tập kích đường không chiến lược này đều có tính năng kỹ thuật tối ưu phục vụ cho các ý đồ chiến lược, chiến thuật của cuộc tập kích như: Hệ thống máy gây nhiễu điện tử từ xa lắp trên các máy bay đặc chủng để gây nhiễu như EA6A, EB66-B-C-D-E, EC121, và lắp trên mỗi chiếc B52 là 15 máy, lắp 2 máy trên một máy bay tiêm kích hộ tống các B52. Cho nên mỗi tốp B52 (3 chiếc) đã có 45 máy gây nhiễu điện tử từ xa, và 45 máy bay F4 hộ tống với 90 máy điện tử gây nhiễu. Trong 12 ngày đêm tháng Chạp năm 1972, trước mỗi đợt tập kích không quân Mỹ thả sợi kim loại tạo thành một bức tường nhiễu tiêu cực bằng kim loại cao từ 3-4 km, rộng 5-6 km, dài 40-70 km. Trong mỗi đợt tập kích, lúc nào trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng đều có một tốp 02 máy bay gây nhiễu điện tử từ xa, mỗi chiếc mang theo 25 máy gây nhiễu liên tục gây nhiễu tích cực đối với hệ thống ra đa của ta, cùng với thủ đoạn dùng B52 tập kích vào ban đêm nên hầu như loại trừ mọi khả năng quan sát bằng các kính quang học nhìn xa của các đài quan sát dưới đất và khả năng nhìn trực tiếp của các phi công MIG21; bên cạnh đó là thủ đoạn gây nhiễu "Giả B52". Bộ Quốc Phòng Mỹ đã coi nhiễu điện tử là niềm kiêu hãnh của nền công nghiệp hàng đầu của Mỹ, là sức mạnh siêu phàm, là lá bùa màu nhiệm. Với cuộc chiến tranh điện tử này, chúng có thể làm mù toàn bộ hệ thống ra đa của đối phương, từ hệ thống ra đa cảnh giới dẫn đường, ra đa tên lửa, ra đa pháo phòng không đến hệ thống thông tin liên lạc của ta.

Nói một cách khái quát, chúng ta đối mặt với một cuộc chiến tranh điện tử hiện đại nhất của Mỹ trong thế kỷ XX. Cuộc chiến tranh điện tử này là một hình thái tổng hợp giữa yếu tố kỹ thuật của các thiết bị điện tử tối tân nhất với các thủ đoạn chiến thuật cực kỳ tinh vi và lợi hại. Bằng hệ thống gây nhiễu điện tử này, theo tính toán của Bộ Chỉ huy không lực Hoa Kỳ, lực lượng pháo đài bay B52 trở thành lực lượng tập kích đường không khổng lồ nhưng lại là lực lượng " tàng hình" nên sẽ loại hoàn toàn tên lửa và pháo phòng không ra khỏi đối tượng tác chiến. Do đó ngay từ đêm đầu tiên của chiến dịch, sau khi tiến hành đồng loạt các thủ đoạn gây nhiễu, Bộ Chỉ huy không quân Mỹ cho lực lượng cường kích bay thấp F111 F4, F105, A6, A7, A4 đồng loạt tiến công tất cả các sân bay ở Hà Nội, Bắc Giang, Yên Bái, Hải Phòng, Thanh Hóa. Tiếp ngay sau đó là tung lực lượng pháo đài bay B52 xông vào rải thảm bom để hủy diệt Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác. Để đưa Hà Nội về thời "đồ đá", trong 12 ngày đêm, chúng đã rải hơn 100.000 tấn bom, phá hủy 5.400 ngôi nhà, hơn 100 nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, giết hại 2.388 dân thường, làm bị thương 1.355 người khác. Độ tàn bạo của cuộc rải thảm bom hủy diệt này như một "Hirosima không có bom nguyên tử".

Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không – Chiến thắng của sức mạnh văn hóa Việt Nam - Ảnh 2.

Ụ súng phòng không bảo vệ bầu trời Hà Nội - Ảnh tư liệu

Về phía ta, năm 1972, Bộ đội phòng không-không quân phải đảm đương 3 nhiệm vụ rất nặng nề: Tham gia chiến đấu trong đội hình quân binh chủng hợp thành ở chiến trường phía nam; bảo vệ vùng giải phóng Quảng Trị và giao thông vận tải chiến lược trên địa bàn Quân khu 4 và sẵn sàng đánh trả cuộc tập kích chiến lược đường không vào Hà Nội, Hải Phòng. Buộc phải dàn lực lượng tên lửa và pháo phòng không để đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ chiến lược, lực lượng tên lửa bảo vệ Thủ đô có 10 tiểu đoàn (3 trung đoàn) và sau bổ sung thêm vài tiểu đoàn nữa. Bảo vệ Hải Phòng có 2 trung đoàn tên lửa. Pháo cao xạ của Hà Nội, Hải Phòng cùng với lực lượng phòng không của Quân khu 3, Quân khu Việt Bắc cũng chỉ có 15 trung đoàn. Lực lượng dân quân tự vệ Hà Nội ngoài 4 trung đội pháo cao xạ 100 ly còn có gần 200 trận địa trung liên, đại liên, súng máy 12,7 ly, 14,5 ly. Máy bay tiêm kích MIG21, loại có tính năng vượt trên tầm cao của B52 chỉ có vài trung đoàn nhưng số phi công lái MIG21 có khả năng bay đêm lại không nhiều. Lực lượng ra đa cảnh giới dẫn đường cũng chỉ có gần 30 đại đội được bố trí khắp miền Bắc.

Căn cứ vào những số liệu về lực lượng địch-ta nói trên, rõ ràng lực lượng của Mỹ chiếm ưu thế áp đảo cả về số lượng và kỹ thuật– đúng như Nixon đã khẳng định trong một cuốn sách của mình: "Trong lịch sử nhân loại, chưa hề có một quốc gia nào chiếm ưu thế hơn hẳn về vũ khí như Hoa Kỳ so với Bắc Việt Nam…" [1]

Trong cuộc chiến đấu không cân sức này, quân dân Hà Nội, Hải Phòng, mà nòng cốt là lực lượng phòng không-không quân, đã đi vào trận quyết chiến 12 ngày đêm lịch sử với sự quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày 18/6/1965, Mỹ đưa 30 B52 vào ném bom khu căn cứ Long Xuyên của ta ở huyện Bến Cát. Một tháng sau, ngày 19/07, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho quân dân ta: " Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền, dù chúng có B57, B52 hay "Bê" gì đi nữa ta cũng đánh… mà đã đánh là nhất định thắng". Ngày 12/6/1966, Mỹ cho B52 ném bom đèo Mụ Giạ ở Quảng Bình rồi mở rộng ra đến Vĩnh Linh, Bác Hồ gặp Chính ủy quân chủng phòng không-không quân và giao nhiệm vụ: "Máy bay B52 Mỹ đã ném bom miền Bắc. Phải tìm cách đánh cho được B52. Nhiệm vụ này Bác giao cho các chú phòng không-không quân". Thực hiện nhiệm vụ Bác giao, từ năm 1966-1967, quân chủng phòng không-không quân đã cử hai đoàn cán bộ tên lửa, một đoàn cán bộ ra đa, một đoàn cán bộ thông tin, một đoàn cán bộ không quân vào tuyến lửa Quảng Bình, Vĩnh Linh và biên giới Việt – Lào để nghiên cứu nhiễu, nghiên cứu B52, đồng thời đưa hai trung đoàn tên lửa, và một số phi đội MIG21 vào trực tiếp đánh B52 trên vùng trời Quảng Bình, Vĩnh Linh để rút kinh nghiệm.

Từ kết quả điều tra nghiên cứu cách đánh B52 ở vùng trời Quảng Bình, Vĩnh Linh, Nghệ An và biên giới Việt – Lào, cùng những kinh nghiệm xương máu trong phương pháp "vạch nhiễu" tìm B52 của tên lửa và MIG21 trên vùng trời khu vực này, Bộ tham mưu quân chủng cùng các binh chủng của quân chủng đã tổng kết biên soạn được các cuốn sách:

Các tài liệu này thực sự là Cẩm nang quý để truyền thụ và tổ chức luyện tập thành thạo từng cách đánh cụ thể cho từng đối tượng cụ thể. Riêng cuốn Cẩm nang đánh B52, tập thể những chuyên gia biên soạn cuốn sách này đã được đưa đến các tiểu đoàn tên lửa ở Hà Nội, Hải Phòng, Nghệ An để huấn luyện cho các kíp trắc thủ.

Đầu xuân năm 1968, Bác Hồ đã mời Tổng tham mưu phó Quân đội nhân dân Việt Nam Phùng Thế Tài, nguyên Tư lệnh Quân chủng Phòng không – không quân lên và Bác đã đưa ra một dự báo và nhận định thiên tài: "Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra ném bom Hà Nội rồi có thua mới chịu thua. Chú nên nhớ trước khi đến Bàn Môn Điếm ký Hiệp định đình chiến ở Triều Tiên, Mỹ đã cho không quân hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở miền Nam, Mỹ nhất định thua nhưng nó chỉ chịu thua trên bầu trời Hà Nội".

Sau chỉ thị của Bác, một kế hoạch đặc biệt quan trọng mang tên "Phương án đánh trả cuộc tập kích chiến lược đường không bằng B52 của Mỹ, bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng" của Quân chủng phòng không- không quân ra đời ngày 27/2/1968. Bản kế hoạch này đã gợi mở một số vấn đề rất cơ bản, một số nội dung quan trọng. Từ những vấn đề được gợi mở của Bản kế hoạch đầu tiên này, tiếp thu những thông tin quý giá, những kinh nghiệm xương máu của các lực lượng quân báo, các đơn vị ra đa, tên lửa, cao xạ, không quân, thông tin, hậu cần, kỹ thuật, đến năm 1972, phương án ban đầu được liên tục bổ sung, phát triển thành "Phương án tháng 5/1972", "Phương án tháng 9, phương án tháng 11". Đây là bản kế hoạch đánh B52 hoàn chỉnh nhất đã được Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng ký duyệt ngày 24/11/1972. Phương án lịch sử này là sự kết tinh bản lĩnh, khí phách, trí tuệ của Đảng vĩ đại, Bác Hồ kính yêu, quân đội anh hùng, quân chủng phòng không – không quân anh hùng!  

Phương án lịch sử này đã tiếp thu được những kinh nghiệm xương máu của Trung đoàn tên lửa SAM2 Hạ Long (E238), Trung đoàn ba lần anh hùng trong quá trình bám trụ và chiến đấu kiên cường tại đất lửa Vĩnh Linh, với chiến công đầu, bắn rơi hai máy bay B52 ngày 17/4/1967.

Từ cuối tháng 11 đến nửa đầu tháng 12/1972, phương án chung này của Quân chủng đã được cụ thể hóa thành những kế hoạch chiến đấu của từng binh chủng như ra đa, tên lửa, cao xạ, không quân…, được tổ chức luyện tập nghiêm túc, chu đáo, được cán bộ chỉ huy các cấp và các đơn vị xử lý thành thạo những tình huống đặt ra.

10h30 ngày 17/12/1972, theo lệnh của Bộ Tổng tham mưu, toàn bộ lực lượng của quân chủng phòng không – không quân, cùng lực lượng dân quân tự vệ của Hà Nội, Hải Phòng… đã vào tư thế sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Quân dân Hà Nội, Hải Phòng… đã thực sự chủ động đi vào chiến dịch lịch sử 12 ngày đêm tháng chạp năm 1972.

Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không – Chiến thắng của sức mạnh văn hóa Việt Nam - Ảnh 3.

Phố Khâm Thiên bị B52 phá huỷ (12/1972). Ảnh: Tư liệu TTXVN

Đêm ngày 18/12, binh chủng ra đa cảnh giới dẫn đường đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ canh trời Tổ quốc. Lúc 19h, Đại đội 16 ra đa phát hiện có nhiễu B52, kíp trắc thủ trực ban của đại đội đã kịp thời thông báo những tọa độ đầu tiên của B52 khi đang bay lên phía Thượng Lào. Khi tốp B52 đầu tiên còn cách Hà Nội 300 km, toàn bộ lực lượng của Quân chủng phòng không – không quân vào tư thế sẵn sàng chiến đấu cấp I. Đến 22h20, thực hiện lệnh của Tiểu đoàn trường D59.E261, sĩ quan điều khiển Dương Văn Thuận đã ấn nút phóng đưa quả đạn tên lửa mang số hiệu C202A vạch trời đêm bay trúng đích hạ tại chỗ chiếc B52-G xuất phát từ Guam, rơi xuống địa phận Phù Lỗ, Đông Anh, Hà Nội. Đây là chiếc B52 đầu tiên bị bắn rơi tại chỗ trong chiến dịch, cũng là chiến công đầu, ngay trong ngày đầu của quân dân Thủ đô anh hùng. Đêm đầu tiên của chiến dịch, quân dân ta bắn rơi 3 pháo đài bay B52, bắt sống 7 giặc lái.

Trong 12 ngày đêm của chiến dịch lịch sử, Binh chủng tên lửa lập chiến công cao nhất: Bắn rơi 36 trên tổng số 81 máy bay các loại, trong đó có 29 máy bay B52 trên tổng số 34 máy bay B52 bị bắn rơi. Tất cả 16 máy bay B52 bị bắn rơi tại chỗ đều là chiến công của Bộ đội tên lửa anh hùng. (Các Tiểu đoàn tên lửa bắn rơi tại chỗ 16 B52 là: Tiểu đoàn 77 bắn rơi 4 B52, có 3 B52 rơi tại chỗ. Tiểu đoàn 57 bắn rơi 4 B52, có 2 B52 rơi tại chỗ. Tiểu đoàn 78 bắn rơi 3 B52, có 2 B52 rơi tại chỗ. Tiểu đoàn 93 bắn rơi 3 B52 đều rơi tại chỗ. Tiểu đoàn 59 bắn rơi 3 B52, có 1 B52 rơi tại chỗ. Tiểu đoàn 72 bắn rơi 1 B52 rơi tại chỗ Hồ Hữu Tiệp quận Ba Đình Hà Nội). Các cán bộ chiến sĩ tên lửa đã sáng tạo những cách đánh đầy bản lĩnh, thông minh để xử lý mọi thủ đoạn gây nhiễu, gạt được các tên lửa không đối đất Shrike, tách được nhiều B52 giả, tiết kiệm tên lửa, nâng cao hiệu quả tiêu diệt B52. Các chiến sĩ lái xe chở tên lửa đã vượt qua bom đạn cung cấp đạn kịp thời cho các trận địa tên lửa. Các chiến sĩ của các Tiểu đoàn 5 lắp ráp, nạp nhiên liệu cho tên lửa đã sáng tạo nên những sáng kiến khôi phục hàng nghìn quả tên lửa quá đát, có những chiến sĩ chấp nhận nhiễm độc của nhiên liệu tên lửa nhằm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ này.

Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không – Chiến thắng của sức mạnh văn hóa Việt Nam - Ảnh 4.

Xác máy bay B52 bị bắn rơi vào hồi 23h ngày 27/12/1972 tại phố Hoàng Hoa Thám, Hà Nội - Ảnh: TTXVN/Minh Trường

Bộ đội không quân dũng cảm, thông minh, sáng tạo khắc phục biết bao khó khăn để chiến đấu với địch: Có lúc phải dùng trực thăng cẩu MIG21 đi giấu để tránh máy bay trinh sát địch dò tìm. Hay địch đánh hỏng đường băng chính, ta dùng đường băng phụ; đường băng phụ hỏng ta dùng đường lăn, đường lăn hỏng ta cất cánh từ các sân bay dã chiến vòng ngoài. Thực hiện khẩu hiệu: "Địch phá ta sửa, ta bay". Mỗi lần đường băng bị bắn phá, công binh phối hợp với nhân dân địa phương lập tức san lấp, sửa chữa cho máy bay cất cánh. Đối phó với số lượng máy bay của địch nhiều, không quân ta đánh du kích, dùng tốp nhỏ, chiếc lẻ với khẩu hiệu: "Một người, một máy bay vẫn tấn công", bất ngờ đột kích, vượt qua hàng đàn máy bay hộ tống tiếp cận điểm yếu của B52 tiêu diệt địch. Đêm ngày 27/12 phi công Phạm Tuân và đêm 28/7 phi công Vũ Xuân Thiều đã lập công xuất sắc bắn rơi 02 máy bay B52. Không quân nhân dân Việt Nam là lực lượng không quân đầu tiên trên thế giới bắn rơi pháo đài bay B52 của Mỹ.

Bộ đội pháo cao xạ được giao nhiệm vụ chủ yếu đánh máy bay chiến thuật để trực tiếp bảo vệ các mục tiêu và nhất là bảo vệ các trận địa tên lửa, các sân bay. Chính các đơn vị cao xạ tầm thấp đã bố trí đón lõng và tổ chức cảnh giới tốt nên đã hỗ trợ kịp thời bắn rơi tại chỗ 5 máy bay cánh cụp cánh xòe F111 trên tổng số 48 chiếc được huy động trong chiến dịch. Các đơn vị pháo trung cao 100 ly đã bắn rơi 03 máy bay B52 trong 02 đêm 24 và 26/12. Bộ đội cao xạ trong chiến dịch lịch sử đã đã lập công xuất sắc bắn rơi 39 máy bay trên tổng số 81 chiếc (48%).

Một nét đặc sắc trong tư tưởng chỉ đạo tác chiến trong phương án đánh trả cuộc tập kích chiến lược đường không bằng B52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng là đã dự báo với độ chính xác rất cao các đường bay mà B52 sử dụng để tấn công Hà Nội. Vì xác định đúng các đường bay B52 vào đánh Hà Nội, Hải Phòng nên số lượng đơn vị tên lửa, pháo phòng không, MIG21 của ta rất có hạn nhưng đã bố trí đủ lực lượng cần thiết trên từng đường bay, nhất là tạo được lưới lửa nhiều tầng trên các hướng đường bay chủ yếu.

Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không – Chiến thắng của sức mạnh văn hóa Việt Nam - Ảnh 5.

Máy bay Mỹ bị quân và dân Thủ đô bắn rơi, bốc cháy dữ dội, ngày 27/12/1972. Ảnh: TTXVN/Minh Trường

Chưa bao giờ đế quốc Mỹ chịu tổn thất nặng nề như trong chiến dịch 12 ngày đêm đánh vào Hà Nội, Hải Phòng… Trong chiến dịch lịch sử này, 81 máy bay Mỹ bị bắn rơi trong đó: 34 máy bay B52, 05 máy bay F111, 21 máy bay F4, 04 máy bay A6A, 12 máy bay A7, 01 máy bay F105, 02 máy bay RA5C, 01 trực thăng HH53, 01 trinh sát 147SC. Đúng như Phó Chỉ huy không quân chiến lược Mỹ, tướng George Eade phải cay đắng thú nhận: "Tổn thất về máy bay chiến lược B52 cùng phi hành đoàn là hết sức nặng nề, là đòn choáng váng đánh thẳng vào những nhà vạch kế hoạch của Lầu Năm góc".

Chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" là đài vinh quang chói lọi, là niềm kiêu hãnh tự hào về Đảng vĩ đại, Bác Hồ kính yêu, về dân tộc Việt Nam anh hùng và quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, về quân chủng phòng không – không quân anh hùng với bốn binh chủng: Tên lửa, không quân, pháo cao xạ, ra đa.

Chiến công hiển hách này là sự minh chứng hùng hồn sức mạnh của văn hóa Việt Nam, sức mạnh của sự kết hợp hài hòa các yếu tố cách mạng và khoa học, giữa bản lĩnh vững vàng, khí phách tiến công, quyết đánh và trí tuệ biết đánh thắng, sự kết hợp giữa tinh thần lạc quan tin tưởng với đức hy sinh cao thượng. Sự kết hợp hài hòa các yếu tố tinh thần này để tạo nên sức mạnh tổng hợp của nền văn hóa Việt Nam.

Việc trân trọng, giữ gìn, phát huy mạnh mẽ các giá trị tinh thần trên đây sẽ tạo động lực to lớn để thực hiện thắng lợi 02 nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hiện thực hóa thắng lợi mục tiêu: Dân giàu nước mạnh dân chủ, công bằng văn minh./.

ST.

BẠN CẦN BIẾT: BUỔI LỄ SẮC PHONG QUÂN HÀM CHO ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP!

     Mùa xuân năm 1941, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh vượt biên giới Việt - Trung về Pác Bó lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Ba năm sau, vào ngày 22-12-1944 tại khu rừng Trần Hưng Đạo, châu Nguyên Bình (Cao Bằng), Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập theo chỉ thị của Người. Đồng chí Võ Nguyên Giáp thay mặt đoàn thể tuyên bố thành lập đội với 34 chiến sĩ tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam như niềm tin yêu của Bác “Việc quân sự thì giao cho chú Văn”, đó cũng chính là giây phút quyết định của một sự nghiệp làm tướng!

Võ Nguyên Giáp sinh ngày 28/5/1911 tại làng An Xá, Lộc Thủy, Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, thân sinh là một nhà nho sĩ nghèo yêu nước Võ Nguyên Thân, kiên trung, bất khuất bị giặc Pháp giết hại. Ông thi đỗ trường Quốc học Huế (1925), tham gia hoạt động cách mạng, được đọc sách báo bí mật: Người cùng khổ, Bản án chế độ thực dân Pháp, Chủ nghĩa Mác – Lê Nin bằng tiếng Pháp… Sau ông chuyển ra Hà Nội dạy trường Tư thục Thăng Long. Năm 1930, bị Pháp bắt bỏ tù. Ông từng tham gia cải tổ Tân Việt cách mạng Đảng thành Đông Dương cộng sản liên đoàn.

Tháng 4/1940 được đồng chí Hoàng Văn Thụ giới thiệu, đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng đồng chí Phạm Văn Đồng vượt biên giới sang Vân Nam tìm đường bắt liên lạc với Nguyễn Ái Quốc. Đầu tháng 6/1940 tại một con thuyền trong công viên Thủy Hồ (Côn Minh- Trung Quốc) được gặp nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc, tạo ra bước ngoặt trong cuộc đời cách mạng của ông. Kể từ đó, Võ Nguyên Giáp có vinh dự được sống và chiến đấu bên cạnh chủ tịch Hồ Chí Minh với sự dìu dắt của Người.

Bốn năm sau, vào 13 giờ chiều ngày 28-5-1948 tại Nà Lọm, xã Phú Đình, ATK ở Định Hóa, Thái Nguyên, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì lễ thụ phong chức Đại tướng đầu tiên của quân đội ta cho đồng chí Võ Nguyên Giáp, Tổng chỉ huy quân đội và dân quân tự vệ Việt Nam.

Trước đó, tại phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 19-1-1948 do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì đã quyết định phong quân hàm cấp tướng, tá cho cán bộ quân đội. Ngày 20-1-1948 tại Phủ Chủ tịch – mái lán cọ đơn sơ ở Khuôn Tát (xã Phú Đình), Chủ tịch hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 110/SL phong quân hàm cấp tướng cho một số cán bộ lãnh đạo – chỉ huy quân đội. Quân hàm Đại tướng: Võ Nguyên Giáp. Quân hàm Trung tướng: Nguyễn Bình. Quân hàm thiếu tướng: Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiến Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa, Trần Tử Bình.

Về lễ thụ phong quân hàm Đại tướng cho đồng chí Võ NGuyên Giáp, bộ trưởng Bộ tài chính Lê Văn Hiến kể lại: “Ngày 23-5-1948 từ cơ quan Bộ tài chính ở thôn Cả, nay là xã Phú Thịnh, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang, đi họp Hội đồng Chính phủ. Ngày 25-5-1948 Chủ tịch Hồ Chí Minh tham gia họp đến 12 giờ đêm “bàn đến thủ tục làm lễ thụ phong chức Đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp. Chương trình đơn giản nhưng long trọng”. Ngày 28-5-1948 cũng là một ngày lịch sử, vì là ngày làm lễ thụ phong chức Đại tướng cho Võ NGuyên Giáp. Đáng lẽ lễ cử hành buổi sáng nhưng mưa to quá, suối đầy nước lội không qua được… Qua 12 giờ trưa, trời cũng bắt đầu tạnh mưa. Ăn xong, nghỉ một chốc đến 1 giờ chiều đi đến địa điểm làm lễ thụ phong.”

Trong một căn nhà dựng bên suối lớn, dựa một bên núi, cây cối che phủ kín, ở ngài trông vào rất khó thấy mà máy bay cũng khó lòng sục sạo. Một phòng trưng bày đặc biệt. Có bàn thờ Tổ quốc, chung quanh băng đỏ ghi các khẩu hiệu: “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”, “Thống nhất độc lập nhất định thành công”… trông đơn giản mà trang nghiêm.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ Bùi Đằng Đoàn – Trưởng ban Thường trực Quốc hội, lên đứng hai bên bàn thờ, toàn thể nhân viên Chính phủ đứng xếp hàng trước bàn thờ (đồng chí Cù Huy cân – thư ký Hội đồng Chính phủ, Phan Mỹ-Chánh văn phòng Chính phủ…).

Chủ tịch Hồ Chí Minh tay cầm sắc lệnh gọi đồng chí Võ Nguyên Giáp lên trước bàn thờ, rồi cụ nín lặng, sụt sùi rơi nước mắt… Một phút vô cùng cảm động, mọi người đều rớm nước mắt. Giây lâu, Chủ tịch Hồ Chí Minh mới cất được tiếng mà tuyên bố: “Nhân danh Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trao cho chú chức vụ Đại tướng, để chú điều binh khiển sĩ làm trọn sứ mạng mà quốc dân phó thác cho”.

Đồng chí Võ Nguyên Giáp nhận sắc lệnh. Cụ trưởng ban Thường trực nhân danh Quốc hội tuyên bố mấy lời. Luật sư Phan Anh thay mặt Chính phủ nói mấy câu chúc mừng. Tạ Quang Bửu - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nhân danh bộ đội tỏ lời mừng của toàn thể bộ đội và nêu cao tinh thần phấn đấu anh dũng dưới sự chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Sau cùng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đứng lên cảm ơn Chủ tịch Hồ CHí Minh, Quốc hội và Chính phủ, tuyên bố sẽ tiếp tục nỗ lực làm tròn trách nhiệm để đem lại độc lập và thống nhất cho đất nước. Đồng chí lần lượt bắt tay từng người. Rồi Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố bế mạc buổi lễ.

Ai nấy ngồi chung quanh Bác Hồ và nghe Người bày tỏ xúc cảm của Người. Trước những ngày lễ có tính long trọng, Người không thể nào không nhớ đến các tiền liệt, các bạn đồng chí từ bao nhiêu năm chiến đấu cho đất nước, chịu bao nỗi gian lao, khổ sở, kẻ hy sinh chỗ này, người hy sinh chỗ nọ, nhờ sự hy sinh anh dũng đó nên mới có ngày nay.

Ban quản lý di tích và danh thắng Thái Nguyên đã lập hồ sơ khoa học trình Bộ Văn hóa- Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia cho địa điểm di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì lễ phong quân hàm Đại tướng đầu tiên của quân đội ta. Nơi ghi dấu sự kiện lịch sử quan trọng đánh dấu sự tiến lên chính quy, hiện đại của quân đội ta và sự quan tâm đào tạo,rèn luyện, cất nhắc các tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam trở thành đội ngũ cán bộ lãnh đạo đội quân đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc./.




Yêu nước ST.

Chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" năm 1972 - biểu hiện sinh động về vấn đề “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”

Thắng lợi của Chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972 thể hiện sự chủ động của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh với dự đoán chính xác việc Mỹ sẽ điều B-52 đánh phá bầu trời Hà Nội và chỉ chịu thua trên bầu trời Hà Nội, từ đó, sớm chỉ đạo Quân chủng Phòng không - Không quân tìm ra cách đánh máy bay B-52 và chuẩn bị trận địa phòng không ba thứ quân, nòng cốt là bộ đội phòng không - không quân, giành thế chủ động ngay từ ngày đầu, làm nên Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Thắng lợi đã để lại những kinh nghiệm quý cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trong giai đoạn hiện nay.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”; đồng thời nhấn mạnh “có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển” (1). Tư duy chiến lược đó là sản phẩm kết tinh những kinh nghiệm quý báu trong quá trình dựng nước và giữ nước lâu dài của dân tộc, đồng thời thể hiện sự sáng tạo, nhạy bén trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta. Sau 50 năm nhìn lại, Chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" là một biểu hiện rất sinh động của tư duy bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Xác máy bay Mỹ bị bắn rơi ở ngoại thành Hà Nội, tháng 12-1972_Ảnh: TTXVN

Thủ đô Hà Nội - trung tâm của hậu phương lớn ở miền Bắc - có vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ chi viện sức người, sức của…, mà còn “chia lửa” với miền Nam ruột thịt. Vì thế, việc bảo vệ Thủ đô Hà Nội là một nhiệm vụ rất quan trọng của sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc nói riêng, sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung. Tầm quan trọng của Thủ đô Hà Nội trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được Chủ tịch Hồ Chí Minh dự báo: “Ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội” (2). Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, vấn đề bảo vệ bầu trời thủ đô đã được Quân chủng Phòng không - Không quân quan tâm ngay từ đầu thập niên 60 của thế kỷ XX.

Bảo vệ bầu trời Hà Nội từ sớm

Bảo vệ bầu trời Hà Nội từ sớm là nhấn mạnh đến sự chủ động chuẩn bị trước về thời gian. Bảo vệ bầu trời Hà Nội “từ sớm” là sớm về tư duy, nhận thức, sớm có quan điểm chỉ đạo, phương châm hành động, sớm trong nhận diện nguy cơ uy hiếp, sớm có phương án, lực lượng, phương tiện bảo vệ. Quá trình xây dựng, củng cố, phát triển cũng là quá trình triển khai các biện pháp phòng ngừa, bảo vệ, tự bảo vệ từ trước. Như vậy, bảo vệ bầu trời Hà Nội từ sớm có nghĩa là phải có chiến lược bảo vệ, tự bảo vệ bên trong, từ bên trong; ngăn ngừa, triệt tiêu các nhân tố xâm lược, phá hoại, mất ổn định bên trong lẫn bên ngoài. Vì thế, ngay sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Hà Nội chưa có pháo cao xạ như nhà chưa có nóc”. Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Người và đáp ứng yêu cầu cách mạng, từ năm 1954 đến năm 1964, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã ra quyết định thành lập nhiều đơn vị pháo phòng không: Trung đoàn 210, 220, 230, 240, 250, 260, 280; trong đó, có ba trung đoàn pháo phòng không bảo vệ Hà Nội là 220, 230 và 260.

Ngay từ năm 1962, khi Mỹ chưa sử dụng máy bay B-52 ở chiến trường Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến vũ khí tối tân, hiện đại bậc nhất này của Mỹ và đã chỉ thị cho lực lượng phòng không chủ động nghiên cứu để tiêu diệt nó.

Cùng với việc tự chuẩn bị về tư duy, quan điểm, lực lượng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ động đề nghị Liên Xô giúp Việt Nam xây dựng lực lượng tên lửa phòng không nhân dịp Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Kô-xư-ghin thăm Hà Nội, tháng 2-1965. Hai trung đoàn tên lửa 236 và 238 được thành lập, trong đó Trung đoàn 236 - đơn vị tên lửa đầu tiên - được triển khai chiến đấu tại khu vực Suối Hai, Bất Bạt, Hà Tây (nay là Hà Nội), để đối phó với không quân Mỹ đang leo thang đánh ra miền Bắc.

Để tạo thêm lưới lửa bảo vệ Hà Nội, ngày 19-5-1965, Bộ Tổng Tư lệnh ra quyết định số 67/QĐ-QP, thành lập Bộ Tư lệnh Phòng không Hà Nội, trực thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân. Sự ra đời của Bộ Tư lệnh Phòng không Hà Nội, cùng các lực lượng phòng không khác, mở đầu cho việc hình thành lực lượng phòng không ba thứ quân ở Thủ đô, trong đó lực lượng phòng không Sư đoàn Phòng không 361 làm nòng cốt, có ý nghĩa hết sức quan trọng trong chiến đấu chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của không quân Mỹ. Đồng thời, sự kiện này còn đánh dấu một bước phát triển cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng kịp thời yêu cầu tác chiến phòng không bảo vệ Thủ đô Hà Nội - trái tim thiêng liêng của Tổ quốc.

Ngày 18-6-1965, đế quốc Mỹ sử dụng máy bay chiến lược B-52 ném bom rải thảm khu vực Bến Cát (phía tây bắc Sài Gòn). Trước hành động phiêu lưu quân sự mới của Mỹ, ngày 19-7-1965, khi đến thăm Quân chủng Phòng không - Không quân, tại Trung đoàn 234 (Đoàn pháo cao xạ Tam Đảo), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền. Dù chúng có B-57, B-52, hay “bê” gì đi chăng nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng” (3). Trước hành động Mỹ dùng B-52 đánh ra Quảng Bình, sau đó đánh rộng ra Vĩnh Linh - Quảng Trị năm 1966, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị lực lượng phòng không - không quân phải tìm ra cách đánh B-52.

Quán triệt tinh thần đó, Quân ủy Trung ương đã chỉ đạo lực lượng vũ trang, trực tiếp là Quân chủng Phòng không - Không quân xây dựng kế hoạch tác chiến phòng không chống địch tập kích B-52 đánh vào Hà Nội. Với quan điểm “muốn bắt cọp thì phải vào tận hang”, Trung đoàn Tên lửa 238 đã được đưa vào tuyến lửa Vĩnh Linh để nghiên cứu cách đánh B-52.

Sau nhiều lần hội thảo khoa học và rút kinh nghiệm trong chiến đấu, Quân chủng Phòng không - Không quân đã tìm ra cách đánh và quyết tâm đánh bại âm mưu của đế quốc Mỹ. Tất cả sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, về ý chí, quyết tâm đã thể hiện ta “không để bị bất ngờ”, sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của địch. Năm 1968, Quân chủng Phòng không - Không quân đã bắt tay xây dựng kế hoạch đánh trả cuộc tập kích bằng máy bay B-52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội.

Với những kinh nghiệm ban đầu, với quyết tâm cao độ, trong khoảng thời gian từ năm 1968 đến giữa năm 1972, Quân chủng Phòng không - Không quân tiếp tục điều động 4 trung đoàn tên lửa cùng một số máy bay MiG vào Khu 4 để chi viện cho Chiến dịch Trị - Thiên và tiếp tục nghiên cứu cách đánh B-52. Đồng thời, chủ động xây dựng kế hoạch tác chiến đánh trả cuộc tập kích bằng B-52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng. Đến tháng 9-1972, Quân chủng đã chính thức xây dựng được phương án đánh máy bay B-52 bằng việc phổ biến trong bộ đội phòng không cuốn “cẩm nang đỏ” là cuốn sách “Cách đánh B-52 của Bộ đội Tên lửa”. Đây là kết quả của quá trình tìm tòi, khảo nghiệm, tổng kết thực tiễn chiến đấu, sáng tạo cách đánh của lực lượng phòng không - không quân. Trên cơ sở tài liệu này, ngày 31-10-1972, Quân chủng tổ chức hội nghị cán bộ để thảo luận phổ biến cách đánh B-52, sau đó tổ chức huấn luyện cho các kíp chiến đấu; tiến hành công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, xây dựng quyết tâm; đôn đốc kiểm tra mọi mặt chuẩn bị, đánh trả cuộc tập kích đường không của địch.

Với khí thế cách mạng tiến công, từ năm 1971 - 1972, quân dân miền Nam mở cuộc tiến công chiến lược lớn trên khắp chiến trường miền Nam. Vùng giải phóng ở các khu vực: Trị - Thiên, đồng bằng Khu 5, Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ mở rộng, tạo thành thế bao vây, chia cắt địch. Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ đứng trước nguy cơ phá sản. Để cứu vãn tình thế, đế quốc Mỹ phải dùng phần lớn hỏa lực của không quân và hải quân, “Mỹ hóa” trở lại cuộc chiến tranh ở miền Nam, đồng thời chuẩn bị ném bom trở lại miền Bắc. Tổng thống Mỹ Ních-xơn quyết định mở cuộc tập kích đường không chiến lược mang tên Linebacker-II, chủ yếu bằng các “siêu pháo đài bay B-52” đánh phá Hà Nội, Hài Phòng và một số địa phương ở miền Bắc.

Trước âm mưu của Mỹ, thực hiện chỉ đạo của Trung ương Đảng và Bộ Tổng tham mưu, Quân chủng Phòng không - Không quân gấp rút củng cố, bổ sung lực lượng và phương án tác chiến để đáp ứng các yêu cầu chiến lược. Tại Hà Nội, Hải Phòng có 5 trung đoàn tên lửa, 6 trung đoàn pháo cao xạ (không kể 8 trung đoàn cao xạ của Quân khu 3, Quân khu Việt Bắc), 4 trung đoàn không quân, trong đó chỉ có 2 trung đoàn MiG-21, Ra-đa chỉ có 4 trung đoàn rải khắp miền Bắc. Ngoài ra, lực lượng phòng không của dân quân tự vệ 9 tỉnh có 1.316 khẩu pháo cao xạ các loại. Do yêu cầu và tính chất chiến đấu, Bộ Quốc phòng điều chỉnh một số đơn vị chủ lực và thành lập những đơn vị phòng không mới. Trên địa bàn Hà Nội, Sư đoàn 361 được bổ sung 3 trung đoàn pháo cao xạ 57 và 37 ly (mới thành lập). Đến tháng 6 năm 1972, việc bố trí hỏa lực phòng không trên miền Bắc và Hà Nội đã có nhiều điểm mới để tập trung cho các trận địa ở Hà Nội.

Tháng 11-1972, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam khẳng định, âm mưu của Mỹ cho B-52 đánh Thủ đô Hà Nội - linh hồn của cuộc kháng chiến - sẽ là hành động gây sức ép cuối cùng để buộc chúng ta phải nhân nhượng. Vì vậy, chúng ta phải kiên quyết đánh thắng chúng trên bầu trời Thủ đô... Ngày 25-11-1972, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị: “Tăng cường sẵn sàng chiến đấu”. Bộ Tổng Tư lệnh chỉ thị cho các lực lượng vũ trang tăng cường các mặt chuẩn bị chiến đấu, đồng thời nhận định có nhiều khả năng địch đánh phá trở lại toàn miền Bắc với mức độ ác liệt hơn, kể cả việc dùng máy bay B-52 đánh ồ ạt vào Hà Nội, Hải Phòng. Do đó: “Nhiệm vụ trung tâm đột xuất trước mắt của Bộ đội Phòng Không - Không quân là tập trung mọi khả năng nhằm đối tượng chính là B-52 mà tiêu diệt” (4).

Như vậy, việc xác định Mỹ sẽ điều B-52 đánh phá bầu trời Hà Nội và chỉ chịu thua trên bầu trời Hà Nội giúp chúng ta có quá trình chuẩn bị công phu 10 năm từ trước khi Mỹ đưa B-52 ra đánh phá bầu trời Hà Nội. Sự chuẩn bị từ sớm về thời gian, lực lượng, huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật, cải tiến vũ khí trang bị, chuẩn bị sẵn sàng về tâm thế, sớm tìm ra cách đánh máy bay B-52 và chuẩn bị một trận địa phòng không ba thứ quân, nòng cốt là bộ đội phòng không - không quân, giúp ta giành thế chủ động ngay từ ngày đầu, trận đầu. Trong 12 ngày đêm, quân, dân Hà Nội và quân, dân các tỉnh miền Bắc đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng không quân lớn nhất của đế quốc Mỹ, bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay chiến lược B-52, lập nên một kỳ tích chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”, là kết quả rực rỡ của tư duy bảo vệ bầu trời Hà Nội từ sớm.

Chiến sĩ trận địa Chèm - Tiểu đoàn Tên lửa 77 - luyện tập sẵn sàng chiến đấu bảo về vùng trời Thủ đô_Ảnh: TTXVN

Bảo vệ bầu trời Hà Nội từ xa

Bảo vệ bầu trời Hà Nội từ xa là nhấn mạnh đến sự chủ động, cảnh giác, sớm phát hiện, triệt tiêu các nhân tố bất lợi từ xa về không gian địa lý và cả thời gian, triệt tiêu ngay từ nguyên nhân, điều kiện hình thành nguy cơ đe dọa, uy hiếp. Được sự cảnh báo từ sớm về nguy cơ đương đầu với cuộc tiến công chiến lược quy mô lớn của Mỹ bằng máy bay B-52, cùng với quá trình chuẩn bị đầy đủ về mọi mặt, từ đầu năm 1968, Quân chủng Phòng không - Không quân xây dựng kế hoạch đánh trả cuộc tập kích bằng máy bay B-52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, đã xác định được cụ thể không gian cần bảo vệ. Việc Mỹ dùng máy bay B-52 đánh phá bầu trời Hà Nội có mối quan hệ chặt chẽ với tiến trình Hội nghị Paris. Sau một thời gian rất dài đàm phán (từ ngày 13-5-1968 đến ngày 17-10-1972), văn bản hiệp định cơ bản đã được hoàn tất theo tinh thần Mỹ phải rút quân khỏi Việt Nam và dự kiến thời điểm ký kết Hiệp định là ngày 31-10-1972. Tuy nhiên, ngày 7-11-1972, sau khi đắc cử Tổng thống, Ních-xơn đã lật lọng, tráo trở đòi sửa đổi rất nhiều nội dung trong Hiệp định nhằm có lợi cho Mỹ. Đồng thời, để gây sức ép với ta trong việc ký Hiệp định, Ních-xơn đã quyết định huy động phần lớn siêu pháo đài bay B-52 ném bom rải thảm, bắn phá Hà Nội.

Quyết định tăng cường Trung đoàn tên lửa 238 vào “tuyến lửa” Vĩnh Linh, cùng lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương vừa trực tiếp đánh trả, vừa nghiên cứu cách đánh B-52 của Quân ủy Trung ương từ tháng 5-1966 là quyết định đúng đắn, có tầm nhìn xa trông rộng. Xác định kinh nghiệm chiến đấu chỉ có được khi tác chiến trực tiếp với địch, từ đó những nghiên cứu kỹ đặc điểm kỹ chiến thuật, phương tiện chiến tranh, nắm quy luật hoạt động của máy bay B-52 mới đánh giá được mức độ, hiệu quả, vì thế, việc cử những cán bộ chỉ huy, tham mưu, quân báo, khoa học quân sự và phi công có nhiều kinh nghiệm vào Vĩnh Linh nghiên cứu quy luật hoạt động của máy bay B-52 để tìm cách đánh là một quyết tâm rất cao thể hiện tư tưởng tích cực, chủ động, tinh thần quyết chiến, quyết thắng của các đơn vị trong Quân chủng Phòng không - Không quân. Với khẩu hiệu “Dọn đường mà đi, đánh địch mà tiến”, thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Muốn bắt cọp thì phải vào tận hang”, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 238 đã nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, vừa hành quân, vừa chiến đấu, vượt qua muôn vàn gian khó để đưa khí tài vào chiến trường đánh Mỹ. Ngày 15-3-1967, máy bay B-52 xuất hiện, lần đầu tiên Trung đoàn 238 tổ chức trận đánh tập trung để diệt B-52 nhưng không thành. Địch đánh phá ác liệt nhằm hủy diệt cả con người và khí tài của ta, nhưng nhân dân Vĩnh Linh và cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn vẫn không chùn bước. Từ thất bại ban đầu đó, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn càng sục sôi ý chí quyết tâm đánh B-52 của Mỹ. Đến ngày 17-9-1967, sau một thời gian dày công nghiên cứu, nhận dạng, kíp chiến đấu của Tiểu đoàn 84 - Trung đoàn 238 đã bắn rơi một chiếc B-52. Đây là lần đầu tiên ta bắn rơi “Siêu pháo đài bay B-52” của đế quốc Mỹ. Chiến công này tác động rất lớn đến tư tưởng và quyết tâm chiến đấu của quân và dân ta, khẳng định ta có khả năng đánh thắng các cuộc tập kích đường không bằng B-52 của địch, củng cố lòng tin, tinh thần quyết chiến, quyết thắng của bộ đội và nhân dân, đồng thời làm cơ sở để biên soạn tài liệu, hướng dẫn cách đánh máy bay B-52. Chiến công bắn rơi chiếc B-52 đầu tiên của Trung đoàn 238 ở Vĩnh Linh cách xa Hà Nội khoảng 600km, đã trở thành nguồn động lực tinh thần vô giá và chứa đựng một số kinh nghiệm thực tiễn ban đầu cần thiết, để Quân chủng Phòng không - Không quân tiếp tục nghiên cứu, tìm ra cách đánh B-52 hiệu quả nhất.

Ngày 4-6-1972, đế quốc Mỹ huy động lực lượng không quân, hải quân đánh phá miền Bắc lần thứ hai. Ngày 13-7-1972, Bộ Tổng Tham mưu chỉ thị cho Quân chủng Phòng không - Không quân: “Thực hiện gấp việc tiếp tục nghiên cứu và triển khai kế hoạch đánh B-52, biên soạn tài liệu huấn luyện và tiến hành tập huấn bộ đội đánh B-52 trong các tình huống phức tạp” (5). Trên cơ sở phán đoán Mỹ sẽ tập trung B-52 kết hợp với máy bay chiến thuật đánh lớn ra miền Bắc, chủ yếu là Hà Nội, Hải Phòng, để sẵn sàng đối phó với máy bay B-52, ngày 24-11-1972, Kế hoạch đánh B-52 bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng của Quân chủng Phòng không - Không quân đã được phê chuẩn, yêu cầu mọi công tác chuẩn bị bước vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất, trước ngày 3-12-1972. Trong đó, việc dự kiến hướng tập kích và đường bay chủ yếu của B-52 là nhiệm vụ quan trọng nhằm điều chỉnh lại đội hình chiến đấu của bộ đội tên lửa và pháo phòng không.

Xác định hướng tập kích và đường bay chủ yếu của B-52 sẽ là hướng tây bắc và tây nam Hà Nội, Quân chủng Phòng không - Không quân đã chỉ đạo: “Phải bố trí lực lượng tên lửa chốt ở vòng kết hợp với pháo 100mm để đánh B-52. Tập trung lực lượng và hoả lực vào hướng chủ yếu, đường bay chủ yếu của B-52” (6). Do đó, các đơn vị tên lửa được điều chỉnh bố trí trên hướng chủ yếu; lực lượng pháo phòng không ở Hà Nội, Hải Phòng được bố trí ôm sát các mục tiêu trọng yếu để có thể đánh địch khi bay bằng và bổ nhào ném bom, nhất là ném bom có điều khiển bằng tia lade. Các đơn vị không quân, ngoài lực lượng tham gia đánh địch theo phương án tác chiến bảo vệ Hà Nội, đại đội bay đêm là lực lượng nòng cốt đánh B-52. Đội hình mạng ra-đa được điều chỉnh, kiện toàn để vừa đáp ứng nhiệm vụ bảo đảm ra-đa cho tác chiến phòng không bảo vệ miền Bắc, trọng tâm là Hà Nội, Hải Phòng, vừa có thể phát hiện  B-52 từ xa.

Nửa thế kỷ đã đi qua, song Chiến dịch "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" vẫn luôn là niềm tự hào của các thế hệ người dân Việt Nam, là minh chứng sinh động nhất cho sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó sự lãnh đạo tài tình, đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và vai trò của lực lượng phòng không, không quân. Đó là kết quả tất yếu của sự chủ động bảo vệ bầu trời Thủ đô Hà Nội từ sớm, từ xa, với thời gian khoảng một thập kỷ để chuẩn bị lực lượng mọi mặt, xây dựng kế hoạch và phương án tác chiến chính xác, hiệu quả.

Ngày nay, với sự phát triển nhanh của khoa học - kỹ thuật và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã tạo ra những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó, những thành tựu mới nhất về khoa học - công nghệ đã được ứng dụng vào lĩnh vực quân sự, tạo ra nhiều loại phương tiện, vũ khí tiến công đường không có tốc độ nhanh, tầm bắn xa, độ chính xác cao, có thể tiến công từ xa, không trực tiếp, tiếp xúc, đánh áp đảo ngay từ đầu; lấy không quân và tên lửa hành trình là lực lượng tiến công chủ yếu, đồng thời kết hợp chặt chẽ với tác chiến điện tử rộng khắp trên các môi trường trên không, trên bộ, trên biển, vũ trụ và chiến tranh mạng ngày càng trở nên ác liệt… Thắng lợi “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972 để lại những bài học về sự chủ động chuẩn bị, dự báo sớm tình hình, lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt mang tầm chiến lược để có nhiều biện pháp tích cực, thiết thực xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, phòng không nhân dân rộng khắp, liên hoàn, vững chắc, sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

ST.

Tín tâm và quyết tâm trong thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò của việc quán triệt và thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong công tác xây dựng Đảng. Người coi tự phê bình và phê bình là “vũ khí sắc bén”, là “thang thuốc đặc trị” những căn bệnh nguy hiểm mà một số cán bộ, đảng viên mắc phải như tham ô, lãng phí, quan liêu,…

Để thang thuốc này thực sự có tác dụng, bên cạnh thái độ nghiêm túc, trung thực, Người còn đòi hỏi ở mọi người mà trước hết là ở từng cán bộ, đảng viên phải có tín tâm và quyết tâm trong thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Người chỉ rõ: “Trong Đảng, nơi có một vũ khí mạnh nhất để khắc phục khó khăn là phê bình và tự phê bình. Nó là vũ khí sắc bén, dùng nó thì phải đau khổ. Mà đau khổ thì sẽ đi đến thành công. Mà muốn thành công thì phải tín tâm và quyết tâm” (1).

Tín tâm không gì khác chính là lòng tin. Lòng tin ở trong mỗi cán bộ, đảng viên. Đây là vấn đề rất quan trọng, đặc biệt là trong quán triệt, thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Bởi suy đến cùng, tự phê bình và phê bình là quá trình tự đấu tranh không khoan nhượng diễn ra trong nội tại mỗi cán bộ, đảng viên; trong nội tại từng tổ chức, đơn vị: Đấu tranh giữa cái tích cực với cái tiêu cực, giữa cái tốt với cái xấu, giữa cái tiến bộ với cái lạc hậu, giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể,… Cuộc đấu tranh này diễn ra liên tục, gay go và quyết liệt vì nó trực tiếp liên quan tới lợi ích, tới thể diện và lòng tự trọng của mỗi người. Do đó, từng cán bộ, đảng viên chỉ có thể thực hiện tự phê bình và phê bình một cách có hiệu quả khi và chỉ khi họ có tín tâm, có lòng tin: Tin vào ý chí cố gắng, nghị lực phấn đấu của bản thân; tin vào tinh thần đấu tranh, tính chiến đấu của đảng viên và tổ chức đảng;… Lòng tin là cơ sở thôi thúc họ vươn lên khắc phục khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ, là động lực giúp họ tự đấu tranh và đánh bật những cái tiêu cực, lạc hậu ra khỏi bản thân mình, tổ chức mình.

Song nếu chỉ dừng lại ở tín tâm, dừng lại ở lòng tin thì chưa đủ. Muốn thực hiện tự phê bình và phê bình một cách hiệu quả, để công tác xây dựng Đảng thực sự có chất lượng, cùng với tín tâm mỗi người còn cần phải có quyết tâm. Tín tâm là cơ sở của quyết tâm, nếu không có tín tâm thì không thể có quyết tâm. Mục đích cuối cùng của tự phê bình và phê bình là gì? Đó chính là giúp cho từng cán bộ, đảng viên cũng như các đơn vị nhận rõ và khắc phục được những khuyết điểm, hạn chế mà mình đã mắc phải, tạo sự thống nhất về tư tưởng, nhận thức và hành động để mọi người cùng nhau tiến bộ hơn, công tác tốt hơn. Để thực hiện được mục đích này hoàn toàn không đơn giản. Nó đòi hỏi mỗi người nhất là cán bộ, đảng viên phải có ý chí quyết tâm rất cao. Quyết tâm để tự chiến thắng chính mình, đấu tranh và loại bỏ những cái xấu, cái tiêu cực ở ngay trong chính con người mình, tại chính đơn vị mình.

Tín tâm và quyết tâm luôn có mối quan hệ khăng khít với nhau, đóng vai trò là những nhân tố quan trọng không thể thiếu để tiến hành tự phê bình và phê bình có hiệu quả. Tình trạng cán bộ, đảng viên ở một số cơ quan, tổ chức còn tự phê bình và phê bình một cách chung chung, hình thức chính là do họ chưa có đủ tín tâm và quyết tâm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Có quyết tâm, tín tâm thì tiến bộ. Người kém tranh đấu thì thoái bộ” (2).

Quán triệt và thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, đặc biệt là nội dung Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, một năm qua chúng ta đã thu được nhiều kết quả đáng mừng trong công tác xây dựng Đảng trên cơ sở đẩy mạnh cuộc vận động “Xây dựng và chỉnh đốn Đảng”, nâng cao chất lượng thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Phát huy những kết quả đã đạt được, thiết nghĩ từng cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tiếp tục làm tốt công tác giáo dục tư tưởng, xây dựng niềm tin, ý chí quyết tâm, bồi dưỡng tín tâm và quyết tâm ở mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trong thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Đây là cơ sở quan trọng, trực tiếp quyết định đến hiệu quả thực hiện tự phê bình và phê bình nói riêng và hiệu quả công tác xây dựng Đảng ở mỗi đơn vị, mỗi tổ chức đảng và trong toàn Đảng hiện nay nói chung./.

ST.

ĐỌC GIÚP BẠN: BẢO VỆ BIÊN GIỚI PHÍA BẮC "CUỘC CHIẾN ĐẤU CHÍNH NGHĨA CỦA DÂN TỘC"!

     44 năm đã qua (17-2-1979 – 17-2-2023), cuộc chiến đấu trên toàn tuyến biên giới phía Bắc đã khẳng định sự thật lịch sử và tính chính nghĩa của dân tộc Việt Nam, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ!

Ngay từ cuối năm 1978, Trung Quốc đã âm thầm lựa chọn, điều động lực lượng binh lực cùng số lượng lớn trang thiết bị vũ khí áp sát trên toàn tuyến biên giới với Việt Nam. Đến trung tuần tháng 2-1979, Trung Quốc đã điều động tổng cộng 9 quân đoàn chủ lực và một số sư đoàn bộ binh độc lập với tổng số 32 sư đoàn, 6 trung đoàn xe tăng với hơn 500 xe tăng, 4 sư đoàn và nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không với khoảng 2.000 khẩu pháo... Bên cạnh đó, hơn 200 tàu chiến của hạm đội Nam Hải và hơn 900 máy bay được đặt trong tình trạng báo động cao độ. Cũng từ tháng 1-1979, Trung Quốc bắt đầu đẩy mạnh các hoạt động trinh sát vũ trang để chuẩn bị cho chiến dịch xâm chiếm dọc biên giới với Việt Nam. Trong tháng 1 và tuần đầu tiên của tháng 2-1979, Trung Quốc đã gây ra hàng trăm vụ xâm phạm vũ trang vào lãnh thổ Việt Nam, từ gây hấn cho tới tập kích, bắn phá các đồn biên phòng và trạm gác của Công an; phục kích, bắt cóc người đưa về Trung Quốc...

Đồng thời với việc chuẩn bị về binh lực, Trung Quốc đẩy mạnh việc chuẩn bị trên mặt trận ngoại giao, tiến hành nhiều hoạt động ngoại giao con thoi ở khu vực và thế giới, trong đó đặc biệt là chuyến công du Mỹ vào tháng 1-1979 của lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình. Trong nước, Trung Quốc cũng tiến hành chuẩn bị kỹ lưỡng về tuyên truyền với đỉnh điểm là tuyên bố của Đặng Tiểu Bình “dạy cho Việt Nam một bài học”. Cuộc chiến xâm chiếm trên toàn tuyến biên giới Việt Nam bùng nổ sáng sớm 17-2-1979 là kết quả của quá trình chuẩn bị, tính toán từ trước của Trung Quốc!

Vào 3 giờ 30 phút rạng sáng 17-2-1979, quân Trung Quốc sử dụng pháo binh bắn phá một số mục tiêu trong lãnh thổ của nước ta, sau đó huy động 600.000 quân, hơn 500 xe tăng, xe bọc thép, hàng nghìn khẩu pháo các loại tấn công toàn tuyến biên giới Việt Nam dài hơn 1.400km. Hướng tấn công chủ yếu của quân Trung Quốc là Lạng Sơn và Cao Bằng; hướng quan trọng là Lào Cai (Hoàng Liên Sơn); hướng phối hợp là Phong Thổ (Lai Châu); hướng nghi binh, thu hút lực lượng ta là Quảng Ninh và Hà Tuyên.

Không ai có thể tin rằng một dân tộc vừa phải trải qua 30 năm chiến tranh với thương tích đầy mình lại đi khiêu khích, rồi xâm lược một nước khác, lại là nước lớn hơn, thậm chí là nước đã từng ủng hộ và giúp đỡ to lớn trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ trước đó, như một số người Trung Quốc nói rằng cuộc chiến tranh chống Việt Nam của họ chỉ là một “cuộc phản công tự vệ”.

Trước tình cảnh Tổ quốc lâm nguy, thêm một lần nữa, quân và dân Việt Nam không còn con đường nào khác là buộc phải cầm súng chiến đấu để bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của mình. Đây là thử thách đầy khắc nghiệt với dân tộc Việt Nam trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ. Với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, quân và dân ta một lần nữa đã phát huy cao độ truyền thống cách mạng, kiên quyết chiến đấu, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Đối mặt với đội quân xâm lăng từ bên kia biên giới phía Bắc đông tới 60 vạn người cùng hàng nghìn xe tăng và pháo hạng nặng, Việt Nam vào ngày 17-2-1979 chỉ có lực lượng công an vũ trang, dân quân địa phương và 7 sư đoàn với tổng số quân khoảng 7 vạn người. Sự chênh lệch về lực lượng, về vũ khí trang bị là rất lớn. Thế nhưng, tinh thần chiến đấu của quân và dân ta là anh dũng vô song. Lực lượng ít hơn đội quân Trung Quốc hàng chục lần nhưng quân và dân biên giới đã chiến đấu ngoan cường, anh dũng chặn đứng bước tiến của đội quân đông hơn gấp bội. Sự đánh trả dũng mãnh bảo vệ biên giới của quân và dân ta đã gây thiệt hại nặng nề cho quân Trung Quốc. Khoảng 6 vạn quân Trung Quốc đã bị thương vong cùng hàng trăm tù binh bị bắt sống. Thiệt hại nặng nề trên chiến trường, bị dư luận thế giới lên án, Trung Quốc buộc phải rút quân vào ngày 6-3-1979.

Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc năm 1979 đã khẳng định ý chí, sức mạnh bền bỉ của nhân dân Việt Nam quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thử thách để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Thế nhưng, để giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh khắc nghiệt này, nhân dân Việt Nam đã phải chịu những tổn thất nặng nề: Hơn 30.000 cán bộ, chiến sĩ thương vong; hàng chục nghìn dân thường bị thiệt mạng. Các thị xã: Cao Bằng, Lạng Sơn, Cam Đường, Lào Cai gần như bị hủy diệt hoàn toàn; tổng cộng có 320 xã, 735 trường học, 41 nông trường, 81 xí nghiệp, hầm mỏ và 38 lâm trường bị tàn phá; 400 nghìn gia súc bị giết, bị cướp. Khoảng 50% trong tổng số 3,5 triệu người ở 6 tỉnh biên giới bị mất nhà cửa, tài sản và phương tiện sinh sống.

Quá khứ bi hùng đó nhắc nhở chúng ta, tất cả các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau, phải luôn tăng cường đoàn kết, xây dựng đất nước giàu mạnh để đủ sức đối phó với mọi tình huống trong một thế giới tiềm ẩn nhiều nguy cơ, bất trắc. Trên cơ sở đó, có chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột; phát huy truyền thống “giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Nhắc lại sự thật lịch sử về cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, bên cạnh việc khẳng định sự chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, còn là dịp để chúng ta tri ân những người đã ngã xuống vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, đồng thời giáo dục cho thế hệ trẻ về truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường và quyết tâm bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc./.

Môi trường ST.