Chủ Nhật, 24 tháng 12, 2023

 

HỌC CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

“Học Hồ Chủ tịch, chúng ta học gì?” là câu hỏi mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng - người học trò xuất sắc, gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt ra cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, để mỗi người tìm thấy đáp án làm sức mạnh tinh thần cho mình. Đây cũng là một câu hỏi lớn mang tầm phương pháp luận trong cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Bài viết đi từ nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh để rút ra các bài học về nhận thức vai trò nền tảng tư tưởng đến các nguyên tắc và phương pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hai luận điểm “Không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động... Chỉ có theo lý luận cách mệnh tiền phong, đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong” của V.I.Lênin được Hồ Chí Minh đưa vào trang đầu tác phẩm Đường cách mệnh - cuốn sách gối đầu giường của những chiến sĩ cách mạng Việt Nam.  Với tinh thần đó, Hồ Chí Minh đã lựa chọn, ra sức truyền bá, bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào cách mạng, trở thành yếu tố nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi theo Người, đây là chủ nghĩa “chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất”. Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng và nhân dân ta những bài học sâu sắc về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ nhất, Học bài học về nhận thức vai trò của nền tảng tư tưởng đối với Đảng Cộng sản

Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm trước hết, luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện và đặt nhiều trăn trở, suy tư, canh cánh bên lòng chính là vấn đề về Đảng. Từ năm 1927, Người đã khẳng định: cách mệnh “trước hết phải có đảng cách mệnh... Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”. Cho đến trước khi về với thế giới người hiền, vấn đề mà Hồ Chí Minh căn dặn, nhắn nhủ đầu tiên cũng chính là “trước hết nói về Đảng”. Khi Đảng Cộng sản Việt Nam đã giành được chính quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người nhấn mạnh trong tác phẩm Thường thức chính trị: “Có Đảng lãnh đạo, cách mạng và kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công”. Vai trò quyết định của Đảng lãnh đạo được Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Muốn khỏi đi lạc phương hướng, quần chúng phải có Đảng lãnh đạo để nhận rõ tình hình, đường lối và định phương châm cho đúng”.

Để ra đời một chính đảng cộng sản, điều đầu tiên cần phải có là một chủ nghĩa, một học thuyết cách mạng dẫn đường. Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh xác định đó chính là chủ nghĩa Mác - Lênin. Như Người đã nhiều lần nhấn mạnh: “Chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vào đầu năm 1930”; “Về lý luận, Đảng Lao động Việt Nam theo chủ nghĩa Mác - Lênin”. Hồ Chí Minh đánh giá: “Đảng ta có chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa cách mạng và khoa học nhất”, bởi theo Người: “Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là sự tổng kết kinh nghiệm của phong trào công nhân từ trước đến nay của tất cả các nước. Nó là: “Khoa học về các quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội; khoa học về cách mạng của quần chúng bị áp bức và bị bóc lột; khoa học về thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở tất cả các nước; khoa học về xây dựng chủ nghĩa cộng sản””.

Nền tảng là bộ phận vững chắc, cốt lõi mà các bộ phận khác dựa trên đó tồn tại và phát triển. Với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lênin có vai trò là nền tảng tư tưởng của Đảng. Người chỉ dẫn: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”.

Sở dĩ, chủ nghĩa Mác - Lênin được Hồ Chí Minh ví như “trí khôn” của Đảng vì học thuyết này đã giúp cho Đảng “xây dựng lý luận đúng đắn và toàn diện cho cuộc cách mạng dân tộc chống đế quốc... Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra rằng: những phong trào dân tộc thật sự nhằm chống chủ nghĩa đế quốc đều tất nhiên góp phần vào cuộc đấu tranh cách mạng chung; các yêu cầu dân tộc và các phong trào dân tộc không thể đánh giá theo tính chất chính trị và xã hội địa phương một cách hẹp hòi, mà phải đánh giá theo tác dụng của những yêu cầu đó và phong trào đó đối với những lực lượng đế quốc trên thế giới. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã bóc trần mặt nạ của dân chủ tư sản, một thứ dân chủ nấp sau cái lối tuyên truyền sự “bình đẳng” trừu tượng giữa các dân tộc để che giấu sự áp bức, bóc lột của một nhóm nước đế quốc đối với số lớn dân tộc trên trái đất. Chủ nghĩa Mác - Lênin phân biệt cụ thể các nước “bị áp bức, bị phụ thuộc, không có quyền bình đẳng, với các nước đi áp bức, bóc lột, có chủ quyền...”.

Nếu đối với Đảng, chủ nghĩa Mác - Lênin là “trí khôn”, thì đối với mỗi cán bộ, đảng viên, đó là cái “cẩm nang” thần kỳ giúp “giải quyết đúng đắn các vấn đề” và trở thành người cộng sản chân chính. Hồ Chí Minh quan niệm, do “chúng ta sống trong một thời đại mà chủ nghĩa Mác - Lênin soi sáng và dạy dỗ mọi người, mọi cán bộ trở nên những chiến sĩ cách mạng chân chính”, nên mỗi đảng viên “phải học chủ nghĩa Mác - Lênin để phân tích và giải quyết các vấn đề cụ thể của cách mạng nước ta, cho hợp với điều kiện đặc biệt của nước ta”.

Người chỉ rõ: “Cách mạng tiến lên mãi, Đảng tiến lên mãi. Cho nên người cách mạng cũng phải tiến lên mãi. Phong trào cách mạng lôi cuốn hàng ức hàng triệu người. Công việc cách mạng là nghìn điều muôn loại phức tạp, khó khăn. Để cân nhắc mọi hoàn cảnh phức tạp, nhìn rõ các mâu thuẫn, để giải quyết đúng các vấn đề, thì chúng ta phải cố gắng học tập lý luận Mác - Lênin”.

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chỉ có ra sức học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin thì người cách mạng mới “hiểu rõ địa vị và tác dụng của giai cấp công nhân, hiểu rõ ích lợi của giai cấp công nhân và sự nghiệp giải phóng của giai cấp công nhân, hiểu rõ chính sách và mục đích của đảng mình”, mới “xem xét các vấn đề, quy định phương châm, đường lối và kế hoạch, để động viên quần chúng lao động đấu tranh, để giành lấy thắng lợi cho cách mạng” và từ đó mới trở thành “những đảng viên cách mạng chân chính, mới thật là đại biểu cho giai cấp vô sản”.

Từ những năm 20 thế kỷ XX, chủ nghĩa Mác - Lênin thâm nhập vào Việt Nam. Người có công truyền bá, đào tạo và gieo hạt giống đầu tiên của hệ tư tưởng khoa học, cách mạng ấy là Hồ Chí Minh. Người đã dày công trực tiếp chuẩn bị những tiền đề lý luận, tư tưởng - bước đi đầu tiên cho việc hình thành đảng cộng sản ở Việt Nam.

Cách mạng Việt Nam bước sang một trang sử mới mang tính bước ngoặt với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa Xuân năm 1930, mà Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo hợp thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên. Kể từ đó, chủ nghĩa Mác - Lênin, hạt giống đầy sức sống do Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh gieo trên mảnh đất Việt Nam đã đâm chồi nảy lộc, đơm hoa kết trái và không ngừng phát triển cùng tiến trình đi lên của cách mạng Việt Nam.

Ở đây, bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin được Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng, phát triển sáng tạo trong lãnh đạo cách mạng. Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh, nhờ có chủ nghĩa Mác - Lênin mà Đảng Cộng sản Việt Nam mới trở nên to lớn, mạnh mẽ: “Ta có một Đảng to lớn, mạnh mẽ. To lớn mạnh mẽ là vì có chủ nghĩa Mác - Lênin, vì sự cố gắng không ngừng của toàn thể đảng viên, vì được toàn quân và toàn dân thương yêu, tin cậy, ủng hộ”; nhờ có “kim chỉ nam”, nền tảng tư tưởng khoa học, cách mạng vững vàng mà đường lối của Đảng đã dẫn dắt dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác: “Đảng ta đã đưa cuộc kháng chiến cứu nước từ bước thấp đến bước cao, từ chỗ thắng nhỏ đến chỗ thắng lớn. Sở dĩ được như thế là vì Đảng ta và chỉ có Đảng ta thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin”.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã dựa trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để đánh giá, phân tích, tổng kết tình hình cách mạng, từ đó đề ra đường lối đúng đắn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và tạo ra những bước đi vững chắc cho xây dựng, phát triển đất nước trên con đường xã hội chủ nghĩa ở cả hiện tại và tương lai như Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chúng tôi là những kẻ chiến thắng hiện tại cũng như trong tương lai, vì con đường đi của chúng tôi được học thuyết vĩ đại của chủ nghĩa Mác - Lênin soi sáng”.

Thứ hai, Học bài học về giữ vững các nguyên tắc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản cầm quyền

Chủ nghĩa Mác - Lênin là tiêu chí cơ bản để phân biệt đảng cộng sản với các đảng phái chính trị khác. Tuy nhiên, Đảng Cộng sản “không phải từ trên trời sa xuống, nó ở trong xã hội mà ra”, chịu sự tác động bởi những biến chuyển nhanh chóng, phức tạp của tình hình thế giới và trong nước, trong đó luôn có sự chống phá của các thế lực thù địch, nhất là khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền thì âm mưu xuyên tạc để đi đến xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng lại càng quyết liệt. Là một nhà cách mạng mácxít có tư duy biện chứng, Hồ Chí Minh luôn thấy rõ những nguy cơ hiện hữu đó. Vì vậy, Người yêu cầu những chiến sĩ cộng sản và đội tiên phong của mình phải luôn cảnh giác, phải thấy rõ bản chất của các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và giữ vững các nguyên tắc bảo vệ nền tảng tư tưởng với tinh thần: “Phải bảo vệ chân lý, phải có nguyên tắc tính, không được ba phải, điều hòa”.

Hồ Chí Minh nhận thức rõ rằng, Đảng là một bộ phận hợp thành cơ cấu của xã hội, từ các tổ chức đảng cho đến mỗi đảng viên đều chịu ảnh hưởng ở cả cái tích cực, tiến bộ lẫn cái tiêu cực, lạc hậu của môi trường và các quan hệ xã hội. Người chỉ rõ: “Đảng ta là một Đảng rất to lớn, bao gồm đủ các tầng lớp trong xã hội. Vì vậy có nhiều tính cách rất trung thành, rất kiên quyết, rất vĩ đại. Song cũng không tránh khỏi những tập tục, những tính nết, những khuyết điểm của xã hội bên ngoài, nó lây, ngấm vào trong Đảng”.

Là người sáng lập Đảng và luôn đau đáu về công tác xây dựng Đảng, Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhận diện, chỉ rõ các phần tử phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng: “Có đảng viên, người vào Đảng, nhưng tư tưởng thì chưa vào Đảng. Trong đầu óc những đảng viên ấy còn chứa những thứ xấu xa của giai cấp bóc lột; họ chưa thật hiểu tư tưởng vô sản là gì, Đảng là gì. Tệ hơn nữa, bọn đặc vụ, bọn mật thám cố len lỏi vào Đảng... Nhiều người tiểu tư sản thường dùng mọi phương pháp, cả phương pháp văn học và nghệ thuật, để trưng mình họ lên, để tuyên truyền chủ trương của họ, và yêu cầu người ta theo chủ trương tiểu tư sản trí thức đó mà cải tạo Đảng, cải tạo thế giới”.

Bên cạnh đó còn có những “người khuynh hữu”: “Tư tưởng của họ không theo kịp sự biến đổi của tình hình khách quan. Tình hình đã tiến lên, mà sự hiểu biết của họ cứ ở chỗ cũ, vì tư tưởng của họ xa rời thực hành. Họ cũng như những người không đi trước xe để hướng dẫn, lại chạy sau xe và trách xe chạy mau quá. Họ muốn gò xe lại, làm cho xe thụt lùi”; và những “người khuynh tả”: “Họ chỉ biết nói cho sướng miệng. Tư tưởng của họ nhảy qua những giai đoạn phát triển nhất định. Họ cho ảo tưởng là sự thật. Họ xa rời sự thực hành của đại đa số nhân dân. Họ không thiết thực. Họ hành động một cách liều mạng. Những bệnh duy tâm, máy móc, mạo hiểm, chủ quan, v.v., đều vì tách rời điều kiện khách quan với chủ quan, tách rời lý luận với thực hành mà có”...

Trước những phần tử đó, trước hết, Hồ Chí Minh yêu cầu những người cách mạng phải giữ được “nguyên tắc tính” đầu tiên là không ngừng đấu tranh, không thỏa hiệp và nhượng bộ với những phần tử phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng. Người khẳng định: “Chủ nghĩa Mác - Lênin kiên quyết chống những sai lầm ấy. Chúng ta chống sai lầm tả khuynh và hữu khuynh, vì nó trái với điều kiện lịch sử”. Người còn nói: “Trước tình hình ấy, chúng ta phải quát to lên rằng: Các bạn ơi! Cách đó không xong! Giai cấp vô sản và đại chúng nhân dân không thể chiều các bạn được. Dựa theo các bạn, tức là dựa theo đại địa chủ, đại tư bản, và sẽ mắc vào nguy hiểm mất nước, mất Đảng, mất cả đầu”.

Đối với Hồ Chí Minh, việc kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với các phần tử chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng mà còn giúp cho chính những con người đó “đi đúng đường” để “phục vụ lợi ích chung”. Như Người luận giải: “Nghe nói có một vài vị lo ngại rằng chủ nghĩa Mác - Lênin bó buộc tư tưởng, bó buộc giáo dục. Lo ngại như vậy không đúng. Chủ nghĩa Mác - Lênin soi phương hướng, đường lối cho chúng ta đi. Có phương hướng đúng thì làm việc mới đúng. Hết lòng hết sức phụng sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc; bất kỳ việc to việc nhỏ cũng nhằm mục đích ấy; đó là chủ nghĩa Mác - Lênin. Nếu không hết lòng hết sức phụng sự nhân dân, tự kiêu, tự đại, tự tư tự lợi, như thế là trái với chủ nghĩa Mác - Lênin. Ai đi nhầm đường thì chúng ta giúp họ đi vào con đường chính; như thế không phải là bó buộc. Thấy người khác đi xiên, đi sai, ta ra sức giúp họ đi theo đường thẳng, đường đúng... Đại ý chủ nghĩa Mác - Lênin là phải đi đúng đường, phải phụng sự lợi ích chung, chứ không có gì cao xa”.   

Nền tảng tư tưởng không phải là cái có sẵn mà xuất hiện trên cơ sở hoạt động thực tiễn của con người. Vì thực tiễn luôn vận động, thay đổi nên nền tảng tư tưởng không phải là bất biến mà luôn đòi hỏi sự bổ sung, hoàn thiện để phù hợp với thực tiễn. Do vậy, trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Hồ Chí Minh yêu cầu phải giữ vững “nguyên tắc tính” thống nhất giữa lý luận với thực tiễn. Người khẳng định: “Muốn biết lý luận đúng hay không, thì phải dùng nó vào thực hành, xem nó có đạt được mục đích đã định hay không. Chủ nghĩa Mác - Lênin đúng là vì nó được chứng minh là đúng trong thực hành cách mạng giai cấp và cách mạng dân tộc. Duy vật biện chứng là đúng, vì sự thực hành nào cũng không thể thoát ra khỏi phạm vi của nó. Nếu có lý luận không đầy đủ hoặc sai lầm thì cần phải trải qua thực hành mà sửa chữa, làm cho nó đầy đủ hơn, đúng hơn. Cho nên, có thể nói “thực hành là kích thước của sự thật, là nền tảng của hiểu biết”.

Hồ Chí Minh đã nhiều lần diễn đạt: “lý luận đi đôi với thực tiễn”, “lý luận kết hợp với thực hành”, “lý luận với thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau”, nhưng điều cốt lõi mà Người đặc biệt muốn nhấn mạnh là: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”.

Hồ Chí Minh lên án mạnh mẽ bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Người nói: “Có một số đồng chí không chịu nghiên cứu kinh nghiệm thực tế của cách mạng Việt Nam. Họ không hiểu rằng: Chủ nghĩa Mác - Lênin là kim chỉ nam cho hành động, chứ không phải là kinh thánh. Vì vậy, họ chỉ học thuộc ít câu của Mác - Lênin, để lòe người ta. Lại có một số đồng chí khác chỉ bo bo giữ lấy những kinh nghiệm lẻ tẻ. Họ không hiểu rằng lý luận rất quan trọng cho sự thực hành cách mạng. Vì vậy, họ cứ cắm đầu nhắm mắt mà làm, không hiểu rõ toàn cuộc của cách mạng. Hai khuynh hướng ấy đều sai lầm. Sai lầm nhất là khuynh hướng giáo điều, vì nó mượn những lời của Mác, Lênin, dễ làm cho người ta lầm lẫn”.

Theo Hồ Chí Minh, muốn bảo vệ được chủ nghĩa Mác - Lênin, điều quan trọng là nhận thức, chứng minh sự đúng đắn của lý luận thông qua thực tiễn cách mạng sinh động. Người chỉ dẫn: “Phải cố hiểu biết lý lẽ, tinh thần và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin. Khi đã hiểu, thì phải áp dụng ngay vào công tác thực tế của mình, áp dụng vào sinh hoạt, ngôn luận, hành động và công tác của mình. Dựa vào đó mà sửa đổi, tẩy rửa những tư tưởng sai lầm, những cái gì của mình trái với nó, tăng cường ý thức cách mạng vô sản của mình”.

Trước tình hình nhiều cán bộ, đảng viên chưa nắm vững lý luận, nên để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Hồ Chí Minh yêu cầu phải xem việc “học đi đôi với hành, nói đi đôi với làm, xây đi đôi với chống” trở thành một “nguyên tắc tính”. Do thế giới ngày càng đổi mới, nhân dân ngày càng tiến bộ, nên theo Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn nỗ lực học để tiến bộ không ngừng, để làm việc, làm người, để phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Nhưng học phải đi đôi với hành và phải trở thành nguyên tắc phương pháp luận sâu sắc trong việc học tập, nâng cao trình độ lý luận để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở mỗi cán bộ, đảng viên.

Hồ Chí Minh chỉ dẫn: “Học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm”. Người nhiều lần phê phán một số đảng viên rơi vào tình trạng học vẹt, kinh viện, hàn lâm, máy móc, lý luận suông: “Học chủ nghĩa Mác - Lênin không phải nhắc như con vẹt “Vô sản thế giới liên hiệp lại” mà phải thống nhất chủ nghĩa Mác - Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Nói đến chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam là nói đến chủ trương, chính sách của Đảng”. Người chỉ dẫn cụ thể: “việc học tập lý luận của các đồng chí không phải nhằm biến các đồng chí thành những người lý luận suông, mà nhằm làm thế nào cho công tác của các đồng chí tốt hơn, nghĩa là các đồng chí phải học tập tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin; học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta. Như thế chúng ta học tập lý luận là cốt để áp dụng vào thực tế”.

Đặc biệt, Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm sâu sắc về nguyên tắc “xây đi đôi với chống” trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng: “Muốn giữ gìn sự trong sáng chủ nghĩa Mác - Lênin thì trước hết tự mình phải trong sáng. Muốn đánh thắng kẻ thù là chủ nghĩa đế quốc, muốn xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội, thì trước hết phải chiến thắng kẻ thù bên trong của mỗi chúng ta là chủ nghĩa cá nhân”.

Hồ Chí Minh chỉ rõ, chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch bên trong mỗi con người, nó như một thứ vi trùng rất độc, gian giảo, xảo quyệt. Trong học tập và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Người chỉ rõ: “có đồng chí học thuộc lòng một số sách vở về chủ nghĩa Mác - Lênin. Họ tự cho mình là hiểu biết chủ nghĩa Mác - Lênin hơn ai hết. Song khi gặp việc thực tế, thì họ hoặc là máy móc, hoặc là lúng túng. Lời nói và việc làm của họ không nhất trí. Họ học sách vở Mác - Lênin, nhưng không học tinh thần Mác - Lênin. Học để trang sức, chứ không phải để vận dụng vào công việc cách mạng. Đó cũng là chủ nghĩa cá nhân”. Hồ Chí Minh yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên cần phải tẩy trừ những biểu hiện này, “phải ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin củng cố lập trường giai cấp vô sản, cố gắng nắm vững những quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam”. 

Xuyên suốt lịch sử hình thành và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng minh bài học về giữ vững các nguyên tắc bảo vệ nền tảng tư tưởng để Đảng luôn vững vàng vượt qua biết bao chông gai, thử thách của tình hình cách mạng. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết bài học kinh nghiệm nhân kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng: “Sở dĩ đạt được những thắng lợi ấy là vì: Đảng ta luôn luôn đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản, tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp và của nhân dân, biết vận dụng lý luận Mác - Lênin vào tình hình thực tế của nước ta và đề ra đường lối, chính sách đúng đắn. Đảng ta không ngừng đấu tranh chống những khuynh hướng cải lương của giai cấp tư sản và những khuynh hướng manh động của tầng lớp tiểu tư sản trong phong trào dân tộc; chống luận điệu “tả” của bọn tơrốtxkít trong phong trào công nhân; chống những khuynh hướng hữu và “tả” trong Đảng khi quy định và chấp hành chiến lược và sách lược cách mạng của Đảng ở mỗi thời kỳ. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã giúp Đảng vượt qua những trận thử thách ấy. Nhờ vậy, Đảng ta không những đã giành được quyền lãnh đạo cách mạng trong cả nước, mà còn giữ vững được quyền lãnh đạo đó trên mọi lĩnh vực và đập tan được mọi âm mưu của giai cấp tư sản hòng tranh quyền lãnh đạo cách mạng với Đảng ta”.

Thứ ba, Học bài học về sử dụng các phương pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cần thiết phải có một hệ thống phương pháp đúng. Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà lý luận mà còn là một nhà hoạt động chính trị chuyên nghiệp. Người quan tâm giải quyết các vấn đề của cách mạng trên cả hai phương diện chiến lược cách mạng và phương pháp cách mạng. Trong công tác xây dựng Đảng về tư tưởng, Người đã định hình một hệ thống các cách thức, biện pháp để điều chỉnh và hướng dẫn hành động cho cuộc đấu tranh chống lại các thế lực muốn phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Trước hết đó là phương pháp “dĩ bất biến ứng vạn biến”: lấy cái không thể thay đổi, biến đổi để ứng phó với nhiều sự tình biến đổi có thể xảy ra. Đây là phương pháp được Hồ Chí Minh quán triệt trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Đối với Người, nếu cái bất biến trong cách mạng giải phóng dân tộc và CNXH nói chung là độc lập cho dân tộc, tự do, ấm no, hạnh phúc, dân chủ cho nhân dân; thì trong cuộc chiến đấu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đó chính là tinh thần, lập trường, quan điểm, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; nó phải luôn là “cốt”, là “trí khôn”, là “kim chỉ nam” của Đảng.

Hồ Chí Minh luôn nhận thức rõ, trong suốt tiến trình vận động của cách mạng Việt Nam sẽ có những vấn đề lý luận và thực tiễn hết sức phức tạp và đầy biến động. Nhưng nếu chỉ vì cái vạn biến sôi động đó mà xa rời lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin thì đồng nghĩa với việc từ bỏ cái “bất biến”.

Người luôn khẳng định: “chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là cơ sở không gì lay chuyển nổi” trong cuộc đấu tranh cách mạng trường kỳ dưới sự lãnh đạo của Đảng. Và cũng chính cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh là một điển hình, mẫu mực về xử lý mối quan hệ giữa tính kiên định nguyên tắc và tính linh hoạt mềm dẻo sách lược.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng không có nghĩa là rập khuôn, giáo điều, đóng khung lý luận. Trong tư duy biện chứng Hồ Chí Minh, để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin thì điều quan trọng là phải làm thế nào giúp học thuyết đó ăn sâu bám rễ, phát triển trên mảnh đất thực tiễn cách mạng Việt Nam. Chính vì vậy, một phương pháp đặc sắc của Hồ Chí Minh là bảo vệ trên cơ sở vận dụng và phát triển lý luận. Hồ Chí Minh luôn ghi nhớ lời chỉ dẫn của V.I.Lênin: “Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu hái được những hiểu biết quý báu của đời trước để lại”. Chính vì thế, Người đã kế thừa và phát triển nhiều giá trị trong kho tàng văn hóa dân tộc và nhân loại để xây dựng nên hệ thống tư tưởng của mình, mà trong đó quan trọng nhất là chủ nghĩa Mác - Lênin.

Ở đây, phương pháp của Hồ Chí Minh là “học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế nước ta”. Nhờ phương pháp đó mà từ một người yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cách mạng giải phóng dân tộc mình - con đường cách mạng vô sản, nhìn ra mối liên hệ giữa giai cấp và dân tộc, trên cơ sở đó mà vận dụng sáng tạo học thuyết cách mạng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, phát triển lý luận về giai cấp và dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin lên tầm cao mới.

 Không chỉ thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, việc vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin của Hồ Chí Minh còn thể hiện phương pháp bao quát, có tính trọng điểm. Hồ Chí Minh nhìn sự vật và hiện tượng trong một tổng thể vận động với những cái chung và cả những cái riêng, những đặc điểm trong sự vận động cụ thể của điều kiện hoàn cảnh nhất định nào đó và xem xét chúng trong xu thế chung.

Cần phải thấy rằng, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng không phải chỉ có ở Đảng Cộng sản Việt Nam mà đây là nhiệm vụ chung của tất cả các đảng cộng sản trên thế giới. Chính vì vậy, để công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng có hiệu quả, một phương pháp quan trọng mà Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn là: “Phải ra sức học tập có sáng tạo kinh nghiệm các đảng anh em. Người khẳng định: “việc trao đổi kinh nghiệm về cuộc đấu tranh ấy vẫn giữ tất cả ý nghĩa của nó và những vấn đề được đề ra cho đảng này hoặc đảng khác, tuyệt nhiên không phải là “việc riêng” của mỗi đảng, mà có quan hệ thiết thân đến toàn bộ giai cấp vô sản quốc tế”.

Đối với Đảng Cộng sản Liên Xô, Hồ Chí Minh đã rút ra bài học kinh nghiệm về tinh thần nghiêm khắc phê phán những quan điểm chống phá nền tảng tư tưởng của đảng trên mọi mặt trận, nhất là trên diễn đàn của Đại hội Đảng: “Đại hội đã nghiêm khắc lên án chủ nghĩa xét lại là một thứ lý luận phản động, trái hẳn với chủ nghĩa Mác - Lênin; nó nhằm phá hoại khối đoàn kết của giai cấp công nhân và làm nhụt chí khí phấn đấu của nhân dân lao động”. Để rồi từ đó, Người khẳng định: “Học tập kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Liên Xô, căn cứ vào thực tiễn cách mạng ở nước mình, Đảng Lao động Việt Nam luôn luôn đấu tranh mạnh mẽ trên lĩnh vực tư tưởng. Trong khi kiên quyết tập trung mũi nhọn chống bọn đế quốc xâm lược và bọn tay sai của chúng, Đảng không hề lơ là việc đấu tranh chống những tư tưởng phản động, tư tưởng tư sản cải lương đầu hàng và thỏa hiệp với đế quốc; chống tư tưởng tiểu tư sản bấp bênh dao động, chống những biểu hiện chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh và tả khuynh; ra sức đấu tranh để bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin”.

Đối với Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong loạt bài Mấy kinh nghiệm Trung Quốc mà chúng ta nên học, Hồ Chí Minh nhận thấy thực trạng một bộ phận trí thức Trung Quốc do “sa vào chủ nghĩa cá nhân” mà “họ không thích học tập chủ nghĩa Mác - Lênin. Họ xem khinh lao động chân tay và người lao động chân tay. Vì danh lợi mà họ thường gây xích mích chia rẽ giữa giới trí thức với nhau và giữa giới trí thức và Đảng”; nhưng sau khi “kiểm thảo thật thà, cải tạo triệt để” thì họ trở thành đội ngũ vừa “hồng” vừa “chuyên”. Từ đó, Người rút ra bài học về sự thật thà, không giấu giếm khuyết điểm trên lĩnh vực đấu tranh tư tưởng: “Một đặc điểm tôi muốn nêu lên là cái phong độ thật thà của giới trí thức Trung Quốc. Thắc mắc bước đầu đã được giải quyết thì họ tự phê bình một cách rất thật thà, không sợ mất thể diện, mất uy tín. Trong đợt vận động “giao tâm”, họ bộc lộ hết tình hình tư tưởng của họ, không giấu giếm gì hết. Trong mười hôm, người nhiều nhất đã “giao” ra đến 700 điều, người ít nhất cũng “giao” đến mấy mươi điều. Họ gọi là “tiêu độc” cho triệt để, đặng chịu sự phê phán của nhân dân và sự giáo dục của Đảng. Vì vậy, sự cải tạo của họ nhanh và tốt”.

Việc phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch phải gắn liền với công tác tuyên truyền, bởi đây là “lợi khí sắc bén nhất” để giải thích, chứng minh, cổ vũ, động viên mọi tầng lớp nhân dân học tập, nghiên cứu, hiểu rõ về chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối cách mạng của Đảng, chính sách của Nhà nước, góp sức vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Do vậy, với Hồ Chí Minh, trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không thể thiếu phương pháp tuyên truyền lý luận.

Hồ Chí Minh định nghĩa tuyên truyền là “đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm” và phương pháp này được thể hiện ngay ở cách viết, cách nói của Người. Trong cách nói, cách viết, Hồ Chí Minh luôn yêu cầu phải ngắn gọn, rõ ràng, giản dị, dễ hiểu, sinh động, hấp dẫn, phù hợp với quảng đại quần chúng nhân dân, nhất là trong tuyên truyền lý luận. Người chỉ dẫn: “Không nên lúc nào cũng trích Các Mác, cũng trích Lênin, làm cho đồng bào khó hiểu. Nói thế nào cho đồng bào hiểu được, đồng bào làm được, đó là nói được chủ nghĩa Mác - Lênin. Nói thiết thực, nói đúng lúc, đúng chỗ, mới là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin. Nếu nói không đúng chỗ không phải là chủ nghĩa Mác - Lênin”.

Nhìn lại trang sử vàng của Đảng Cộng sản Việt Nam, xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng đã kiên trì, kiên định nền tảng tư tưởng, đồng thời kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm thù địch, sai trái, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ. Hiện nay, Đả5ng và nhân dân ta đang tiếp tục công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, thế và lực của dân tộc đã lớn mạnh hơn trước. Nhưng cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng vẫn đang diễn ra với nhiều khó khăn, thách thức mới, nhất là khi một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, như Đại hội XIII (năm 2021) của Đảng đã chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”. Do đó, hơn lúc nào hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải ra sức học tập các bài học được rút ra từ di sản tư tưởng Hồ Chí Minh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đây là một yêu cầu tất yếu để xây dựng và phát triển Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng trong sạch, vững mạnh./.

 

NGĂN NGỪA HIỆN TƯỢNG DỰA DẪM, Ỷ LẠI, THIẾU TRÁCH NHIỆM

Lâu nay, cùng với biểu hiện né, sợ trách nhiệm trong công tác, một số ít cán bộ, đảng viên các cơ quan, đơn vị, địa phương rơi vào tình trạng dựa dẫm, ỷ lại, thiếu trách nhiệm, đùn đẩy trách nhiệm.

Hiện tượng này cùng với những thói hư tật xấu khác đã làm giảm hiệu suất, chậm tiến độ triển khai công việc. Đấu tranh ngăn chặn hiện tượng này cũng là cách để ngăn ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Dựa dẫm, ỷ lại được hiểu là thái độ thiếu chủ động của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ và công việc được giao, khiến cho hiệu quả công việc không được bảo đảm đúng mục đích, yêu cầu, thời gian và kết quả. Những người có thói quen dựa dẫm, ỷ lại, thiếu trách nhiệm thường có các biểu hiện ít thổ lộ ý tưởng thông qua lời nói, việc làm; họ không dám phản biện, phê bình mà thay vào đó là thói quen chờ lệnh, chỉ đâu đánh đó. Ở bình diện tổ chức, đó là các biểu hiện nghe ngóng, trông chờ vào chỉ đạo từ cấp trên, không dám làm, không dám đi trước mở đường.

Từ góc độ khách quan, những người quen dựa dẫm, ỷ lại, thiếu trách nhiệm cũng thường có suy nghĩ và thói quen "nước đến chân mới nhảy" hoặc khéo léo đẩy trách nhiệm xử lý công việc sang người khác, bộ phận khác. Cụ thể là trong công việc, nếu thấy khó thì không chủ động tháo gỡ hoặc đề xuất giải pháp mà thường đợi xin ý kiến lãnh đạo, chờ cho lãnh đạo cấp trên quyết định mới triển khai. Biểu hiện dựa dẫm, ỷ lại, thiếu trách nhiệm thường rơi vào những cán bộ chưa có nhiều kinh nghiệm và cũng có thể là những cán bộ có thâm niên nhưng luôn có tâm lý dựa vào cấp trên.

Đặc trưng nổi bật nhất trong các cơ quan, đơn vị, địa phương là tổ chức hoạt động thống nhất theo kế hoạch đã xây dựng hằng tháng, quý, năm... Trên cơ sở này, các cơ quan, đơn vị, địa phương phân công cán bộ, đảng viên phụ trách từng mảng, lĩnh vực, từng khâu để tổ chức thực hiện, đồng thời bảo đảm cho công việc ấy các điều kiện thực hiện, như kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện theo định mức... Quá trình thực hiện, tùy vào tính chất, mức độ và quy mô khác nhau, nhưng thường thì công việc luôn có sự phối hợp với các cơ quan, tổ chức, đơn vị khác, không chỉ trong nội bộ mà cả các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân bên ngoài, gồm cả doanh nghiệp và công dân.

Những cán bộ, công chức, viên chức dựa dẫm, ỷ lại, thiếu trách nhiệm thường vin vào các điều kiện không được bảo đảm đầy đủ hoặc đổ lỗi cho nguyên nhân phát sinh, do cơ quan, đơn vị bạn và lực lượng phối hợp chưa triển khai hoặc triển khai chậm để biện minh cho chất lượng, tiến độ công việc. Biểu hiện dễ nhận thấy là tình trạng phát hành công văn xin ý kiến các nơi, trong đó có cả những cơ quan, đơn vị không liên quan nhiều đến công việc đang thực hiện. Hiện tượng này đã làm giảm đi tính kịp thời và hiệu quả trong triển khai công việc. Có thể kể tới tình trạng chờ cấp trên chỉ đạo, sợ sai không dám tổ chức đấu thầu, mua sắm thuốc, vật tư và trang thiết bị y tế... trong thời gian qua. Trước đó, dư luận bức xúc về tình trạng đùn đẩy các vụ việc lên Chính phủ giải quyết. Trong kỳ họp Quốc hội, nhiều đại biểu đã nêu thực trạng, tình trạng cán bộ đùn đẩy nhiệm vụ giữa các bộ phận khiến nhiều công việc bị đình trệ, người dân và doanh nghiệp gặp khó khăn. Không ít dự án, công trình đầu tư bị kéo dài tiến độ hoặc bị ngưng trệ chỉ vì chậm được duyệt, cấp phép và triển khai… Trong lĩnh vực đầu tư công, nhiều công trình trọng điểm bị chậm tiến độ, tốc độ giải ngân tại một số địa phương, bộ, ngành còn thấp…

Hiện tượng dựa dẫm, ỷ lại, thiếu trách nhiệm tưởng đơn giản, nhưng hậu quả gây ra thì rất lớn, nó chính là căn nguyên sinh ra những thói hư, tật xấu... Trong Kết luận số 21-KL/TƯ ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" đã chỉ rõ một trong những nguyên nhân chủ yếu của hạn chế, khuyết điểm là do một số cấp ủy, tổ chức Đảng, cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu chưa quyết tâm và thiếu biện pháp chỉ đạo đủ mạnh, còn thụ động, trông chờ vào sự chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên…

Để triệt tiêu thói dựa dẫm, ỷ lại và thiếu trách nhiệm thì cần nhiều giải pháp, từ tổng thể đến các giải pháp thành phần. Một trong những giải pháp căn cơ đó là phải phân loại, đánh giá cán bộ, đảng viên sát thực bằng chất lượng, hiệu quả công việc.

Các cơ quan, đơn vị, địa phương cần căn cứ vào Quy chế làm việc của Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 39/2022/NĐ-CP ngày 18-6-2022, đặc biệt là căn cứ vào quy chế làm việc của cấp ủy tổ chức Đảng, cơ quan, đơn vị và thực tế công việc để phân công công việc theo phương châm "5 rõ" (rõ người, rõ việc, rõ quy trình, rõ trách nhiệm và rõ hiệu quả). Khi đã giao việc, các cán bộ phụ trách phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, kiên quyết chỉ ra những yếu kém trong tổ chức, phối hợp thực hiện giữa các bộ phận, các thành phần. Kịp thời phát hiện và kiên quyết xử lý những trường hợp chậm tham gia ý kiến hoặc tham gia ý kiến nhưng không có chính kiến, quan điểm rõ ràng, kéo dài thời gian xử lý, ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng, hiệu quả công việc.

Dựa dẫm, ỷ lại, thiếu trách nhiệm là một thói xấu, biểu hiện của thái độ thực thi công vụ thiếu chuyên nghiệp. Thói xấu ấy cần phải được loại bỏ ngay để bảo đảm hiệu suất và chất lượng công việc./.

Phản bác những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đội ngũ trí thức ở Việt Nam hiện nay

 

Phản bác những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đội ngũ trí thức ở Việt Nam hiện nay

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gặp gỡ trí thức trẻ Việt Nam tại Pháp (tháng 3-2018) _Ảnh: qdnd.vn

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gặp gỡ trí thức trẻ Việt Nam tại Pháp (tháng 3-2018) _Ảnh: qdnd.vn

NHẬN DIỆN NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC

Các luận điệu sai trái, thù địch về đội ngũ trí thức Việt Nam tập trung ở hai xu hướng cơ bản sau:

Một là, thổi phồng vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Một số nhà tư tưởng tư sản, nhất là các nhà tư tưởng theo thuyết kỹ trị mới cho rằng hiện nay, sự phát triển của khoa học - công nghệ hiện đại đã làm xuất hiện rô-bốt, trí tuệ nhân tạo... Chính những công nghệ hiện đại này đã dần thay thế sức lực của người công nhân, khiến người lao động không còn đóng vai trò quyết định sự phát triển của nền sản xuất nữa. Cũng chính điều này làm xuất hiện một lực lượng lao động mới - công nhân trí thức, hay nói đúng hơn là tạo ra xu hướng trí thức hóa công nhân. Vì thế, theo quan điểm của các nhà kỹ trị mới, hiện nay đội ngũ trí thức chứ không phải giai cấp công nhân như trước kia mới là chủ thể của quá trình sản xuất vật chất, là nhân tố đóng vai trò quyết định sự phát triển của nền sản xuất hiện đại. Cùng với đó, những phần tử cơ hội chính trị ở Việt Nam cũng cho rằng hiện nay trí thức nước ta mới là lực lượng quyết định sự phát triển của đất nước - nhất là trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế như hiện nay.

Hai là, xuyên tạc, phủ nhận sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với đội ngũ trí thức. Thời gian qua, trên nhiều diễn đàn, mạng xã hội của các tổ chức phản động đưa ra nhiều luận điệu hết sức phiến diện, quy chụp như “Đảng Cộng sản bỏ ngơ trí thức”. Có đối tượng còn quy chụp rằng ở Việt Nam không có tự do, dân chủ nên đội ngũ trí thức không có cơ hội cống hiến, vì thế trí thức Việt Nam không bao giờ có thể vươn được tầm thế giới! Thậm chí, nhiều tổ chức phản động đã lợi dụng một số trí thức có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị để lôi kéo, móc ngoặc những đối tượng này chống đối lại Đảng, Nhà nước, chính quyền. Thời gian gần đây, các lực lượng phản động đã xúc tiến thành lập một tổ chức trí thức Việt Nam ở nước ngoài mang tên "Trí thức Việt”. Cứ mỗi khi Đảng, Nhà nước, Quốc hội mở rộng việc lấy ý kiến nhân dân về dự thảo các văn kiện, quy định, luật; tổ chức này lại nhân danh những trí thức Việt Nam yêu nước gửi những “góp ý”, “tâm thư”. Lời lẽ bề ngoài thì tỏ ra quan tâm đến tương lai, vận mệnh của dân tộc nhưng thực chất là những ý định ngông cuồng, phi lý, đòi thay đổi Điều 4 của Hiến pháp, hay nói cách khác là phải xóa độ chế độ một đảng lãnh đạo để tiến hành chế độ đa đảng như nhiều nước phương Tây!

Có thể thấy rõ, hai luồng quan điểm trên - hoặc là thổi phồng vai trò của trí thức Việt Nam, hoặc là xuyên tạc, phủ nhận sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta với đội ngũ trí thức tuy có những luận điệu sai trái khác nhau nhưng cùng có mục tiêu chung là tách rời đội ngũ trí thức với Đảng, Nhà nước. Đây là âm mưu thâm độc nhằm chống phá trực diện vào Đảng, vào chế độ.

ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC CÓ VAI TRÒ QUAN TRỌNG TRONG XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Có thể thấy rõ, đội ngũ trí thức Việt Nam được hình thành và rèn luyện trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc. Cùng với giai cấp công nhân -  nông dân làm nòng cốt của cách mạng, đội ngũ trí thức nước ta luôn trung thành với lợi ích của cách mạng, Tổ quốc và nhân dân.  Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi nhận: “Những người trí thức tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến rất quý báu cho Đảng. Không có những người đó thì công việc cách mạng khó khăn thêm nhiều”(2). Do đó, Người luôn coi trí thức là “vốn liếng quý báu của dân tộc” và căn dặn Đảng là phải có biện pháp lôi kéo trí thức đi theo và ủng hộ để gia tăng sức mạnh cho mình.

Đội ngũ trí thức có nhiều đóng góp vào sự phát triển công nghiệp, công nghệ và đổi mới sáng tạo để tạo ra sản phẩm, dịch vụ mới và các giải pháp đột phá cho các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Ở một số lĩnh vực trọng yếu, nhiều trí thức có năng lực, trình độ khoa học tiệm cận với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, tạo động lực phát triển, nâng cao năng suất, có khả năng giúp quốc gia cạnh tranh mạnh hơn trên thị trường quốc tế, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế quốc gia

Trí thức Việt Nam xuất thân từ nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội, nhất là từ công nhân và nông dân; phần lớn trưởng thành trong xã hội mới, được hình thành từ nhiều nguồn đào tạo ở trong và ngoài nước, với nhiều thế hệ nối tiếp nhau, trong đó có bộ phận trí thức người Việt Nam ở nước ngoài. Đội ngũ trí thức nước ta có tinh thần yêu nước, có lòng tự hào, tự tôn dân tộc sâu sắc, luôn gắn bó với sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Do đó, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn quan tâm và đề cao vai trò của đội ngũ trí thức trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, kháng chiến chống ngoại xâm cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khoá X về “Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã xác định: Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội. Trí thức Việt Nam có lòng yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc sâu sắc, luôn gắn bó với sự nghiệp lớn của đất nước, của nhân dân. Từ khi có Đảng, đội ngũ trí thức Việt Nam có đóng góp tích cực vào quá trình xây dựng những luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần làm sáng tỏ con đường phát triển của đất nước; xác định, giải đáp những vấn đề mới phát sinh trong quá trình đổi mới. Cùng với đó, vai trò của đội ngũ trí thức với sự phát triển đất nước ngày càng được thể hiện rõ.

Phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ VII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức. Trí thức Việt Nam là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan trọng trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt là trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, xây dựng kinh tế tri thức, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”(3). Đây là đánh giá khách quan, toàn diện của Tổng Bí thư về vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Có thể nhận thấy quan điểm nhất quán từ Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Đảng Cộng sản Việt Nam là đều coi trọng đội ngũ trí thức, coi họ là thành phần không thể thiếu trong lực lượng tham gia cách mạng cũng như trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đội ngũ trí thức Việt Nam thời gian qua không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng, luôn tích cực tham gia nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại vào thực tiễn; là lực lượng đi đầu trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế. Trên cơ sở nhận thức đúng về vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam, Đại hội XIII của Đảng đề ra nhiệm vụ “Xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới”(4). Để thực hiện được nhiệm vụ này, Đại hội XIII xác định cần “có cơ chế phát huy dân chủ, tự do sáng tạo và đề cao đạo đức, trách nhiệm trong nghiên cứu khoa học. Ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng, môi trường làm việc, nghiên cứu, đổi mới, sáng tạo của trí thức. Trọng dụng, đãi ngộ thỏa đáng đối với nhân tài, các nhà khoa học và công nghệ Việt Nam có trình độ chuyên môn cao ở trong nước và nước ngoài... Thật sự tôn trọng, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động tư vấn, phản biện của chuyên gia, đội ngũ trí thức”(5)

Đánh giá về những đóng góp của đội ngũ trí thức Việt Nam thời gian qua, mới đây, tại Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII (tháng 10/2023), Đảng ta đã nhận định: Đội ngũ trí thức có nhiều đóng góp vào sự phát triển công nghiệp, công nghệ và đổi mới sáng tạo để tạo ra sản phẩm, dịch vụ mới và các giải pháp đột phá cho các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Ở một số lĩnh vực trọng yếu, nhiều trí thức có năng lực, trình độ khoa học tiệm cận với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, tạo động lực phát triển, nâng cao năng suất, có khả năng giúp quốc gia cạnh tranh mạnh hơn trên thị trường quốc tế, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế quốc gia(6).

Tuy nhiên, không phải vì vai trò to lớn đó mà có thể thổi phồng, tuyệt đối hóa vai trò của trí thức nước ta trong giai đoạn hiện nay. Điều đó bắt nguồn từ những sai lầm cả về lý luận và thực tiễn. Trí thức không phải là một giai cấp, không gắn với một phương thức sản xuất nhất định và vì thế, cũng không thể đại diện cho một lực lượng sản xuất ở một giai đoạn. V.I.Lênin đã từng chỉ rõ: “Nếu không nhập cục với một giai cấp thì giới trí thức chỉ là một con số không mà thôi”(7). Điều này có nghĩa là, trí thức không thể tồn tại với tính cách là một giai cấp độc lập trong xã hội như công nhân, nông nhân mà họ chỉ có thể phát huy được sức mạnh của mình khi liên minh với các giai cấp khác. Do đó, trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, dù xuất hiện rô-bốt, người máy thông minh hay trí tuệ nhân tạo - sản phẩm phát triển của trí tuệ con người nhưng điều đó cũng không có nghĩa là trí thức có thể trở thành chủ thể của quá trình sản xuất vật chất vì trí thức không gắn trực tiếp với một phương thức sản xuất nhất định. Có chăng, trí thức chỉ có thể thúc đẩy quá trình sản xuất hiện đại phát triển theo hướng gia tăng ngày càng nhiều hàm lượng trí tuệ cho các sản phẩm phục vụ nhu cầu vật chất của con người.

Sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đến trí thức không chỉ thể hiện qua việc đánh giá đúng vị trí, vai trò của đội ngũ này mà với tinh thần thẳng thắn, khách quan, Đảng ta cũng đánh giá những hạn chế, bất cập của đội ngũ trí thức cũng như công tác phát triển đội ngũ trí thức nước ta thời gian qua. Mới đây, tại Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII, Đảng ta chỉ rõ, công tác xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước còn những hạn chế, khuyết điểm như: cơ cấu, số lượng, chất lượng của đội ngũ trí thức còn bất hợp lý trong các ngành nghề, khu vực. Thiếu cơ chế về tài chính để các hội trí thức chủ động, tích cực tham gia nghiên cứu, ứng dụng và phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ, tư vấn, phản biện và giám định xã hội. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chưa được hoàn thiện đồng bộ; thiếu cơ chế, chính sách đột phá, nhất là chính sách đầu tư, huy động các nguồn lực cho việc đào tạo, bồi dưỡng, thu hút, trọng dụng, tôn vinh trí thức trong và ngoài nước, đặc biệt là trí thức tinh hoa, các nhà khoa học đầu ngành. Ngoài ra, thực hành dân chủ, tôn trọng và phát huy tính chủ động trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo đối với đội ngũ trí thức còn hạn chế. Một số cấp uỷ, người đứng đầu cơ quan, đơn vị chưa quan tâm đúng mức đến công tác xây dựng Đảng, phát triển đảng viên trong đội ngũ trí thức.

Quang cảnh Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII

Quang cảnh Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII


Hội nghị cũng chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế, khuyết điểm nêu trên trước hết là do nhận thức của một số cấp uỷ, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của đội ngũ trí thức chưa triệt để, trách nhiệm chưa cao. Chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng đội ngũ trí thức chưa đồng bộ, liên thông, hiệu lực, hiệu quả. Một bộ phận trí thức chưa chủ động, trông chờ, ỷ lại, né tránh, ngại bày tỏ chính kiến, thiếu gương mẫu, năng lực, phẩm chất, uy tín hạn chế, vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật Nhà nước ảnh hưởng đến niềm tin của Đảng, Nhà nước, nhân dân đối với đội ngũ trí thức. Do đó, cần phải tiếp tục ban hành một nghị quyết mới về phát triển đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu của tình hình mới với tên gọi Tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới”. Điều đó tiếp tục khẳng định bước phát triển không ngừng trong tư duy của Đảng ta về phát huy vai trò đội ngũ trí thức đối với sự phát triển đất nước.

Có thể khẳng định, đội ngũ trí thức Việt Nam đã và đang có đồng hành tích cực và có những đóng góp to lớn vào sự phát triển đất nước. Điều đó một mặt là nỗ lực, ý thức trách nhiệm của chính bản thân đội ngũ trí thức đối với vận mệnh của dân tộc, song mặt khác cũng do sự quan tâm, tạo điều kiện không nhỏ của Đảng, Nhà nước với đội ngũ này. Vì vậy, những luận điệu sai trái về trí thức cũng như xuyên tạc, phủ nhận sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với đội ngũ trí thức nước ta là những luận điệu phiến diện, có ý đồ quy chụp, chống phá nên rất cần nhận diện cho đúng để đấu tranh quyết liệt, không khoan nhượng.

 

“NỀN CÓ VỮNG NHÀ MỚI CHẮC CHẮN, GỐC CÓ TỐT CÂY MỚI TỐT TƯƠI”

Qua thăng trầm lịch sử, tinh thần đoàn kết đã trở thành sức mạnh Việt Nam. Sức mạnh ấy được kết tinh và củng cố từ giá trị văn hóa, niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo, từ tư tưởng nhân văn, hòa hợp của toàn dân tộc.

Đoàn kết là sức mạnh

Tinh thần đoàn kết là bài học quý đã được tổng kết trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước. Thời nào các bậc minh quân khéo dùng chính sách đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc thì đất nước thái bình, thế nước đi lên. Ngay khi bắt tay vào xây dựng nền độc lập cho quốc gia Đại Việt, Đinh Tiên Hoàng đã phát huy Phật giáo ở cả khía cạnh trí tuệ và cố kết nhân tâm, để đoàn kết, phò vua, chống giặc, giúp nước. Sang thời Lý, Trần, Phật giáo trở thành quốc đạo, vun bồi trí đức để cả dân tộc đoàn kết một lòng, cùng bảo vệ non sông…

Trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc trở thành chiến lược quan trọng. Theo TS. Nguyễn Viết Chức, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn Văn hóa - Xã hội, Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ngay từ ngày đầu của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Đoàn kết là một lực lượng vô địch để khắc phục khó khăn, giành lấy thắng lợi. Phải đoàn kết chặt chẽ không phân biệt đảng phái, giai cấp, tôn giáo”.

Không lâu sau khi nước nhà giành được độc lập, Người chỉ đạo triệu tập Hội nghị Đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam. Mở đầu bài phát biểu tại hội nghị, Người nhấn mạnh: “Nhờ sức đoàn kết tranh đấu chung của tất cả các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các dân tộc thiểu số được bình đẳng cùng dân tộc Việt Nam, tất cả đều như anh chị em trong một nhà, không còn có sự phân chia nòi giống, tiếng nói gì nữa”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định đoàn kết là sức mạnh. Người nhìn ra bản chất của đoàn kết, chỉ ra gốc của đại đoàn kết chính là đoàn kết toàn dân. Những nội dung liên quan đến đại đoàn kết luôn được thể hiện rõ ràng, sinh động, bao trùm trong tư tưởng và hành động của Người. Theo đó, đã là người Việt Nam, dù theo tôn giáo hay không theo tôn giáo, dù theo tôn giáo nào thì đều chung một dân tộc, vì vậy, đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc là tất yếu. Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng, Đảng, Nhà nước phải luôn có chủ trương, chính sách và giải pháp thực hiện đại đoàn kết, đồng thời khi thực hiện đại đoàn kết cần bảo đảm tính lâu dài: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn đoàn kết lâu dài”; và thường xuyên được củng cố: “Đoàn kết rộng rãi, chặt chẽ, đồng thời phải củng cố: Nền có vững nhà mới chắc chắn, gốc có tốt thì cây mới tốt tươi”.

Động lực để phát triển

Trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Nhà nước ta luôn khẳng định đại đoàn kết là truyền thống quý báu, là đường lối chiến lược của Đảng, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Thực tế những năm qua, công tác dân tộc, tôn giáo luôn được đặc biệt chú trọng. Những chủ trương, chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo, về dân tộc không những khẳng định trong Hiến pháp, pháp luật, mà còn được thể hiện sinh động trong cuộc sống.

Theo Thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ, năm 2003, cả nước có 6 tôn giáo với 15 tổ chức, 17 triệu tín đồ, khoảng 20.000 cơ sở thờ tự, 34.000 chức sắc, 78.000 chức việc. Năm 2022, Nhà nước đã công nhận 43 tổ chức, thuộc 16 tôn giáo, với khoảng 27 triệu tín đồ, trên 29.000 cơ sở thờ tự, trên 53.000 chức sắc, khoảng 135.000 chức việc. Ngoài ra, hằng năm có trên 8.000 lễ hội về tín ngưỡng, tôn giáo, với hàng vạn tín đồ tham gia. Điều đó phản ánh nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, khẳng định chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Chưa kể, trong 10 năm qua, thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, cơ quan có thẩm quyền đã cấp hàng trăm ha đất để xây dựng cơ sở thờ tự như TP. Hồ Chí Minh giao 7.500m2 đất cho Tổng Liên hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) xây dựng Viện Thánh kinh Thần học; Đắk Lắk giao hơn 11.000m2 đất cho Tòa Giám mục Buôn Ma Thuột; Đà Nẵng giao hơn 9.000m2 đất cho Tòa Giám mục Đà Nẵng; Quảng Trị giao 15ha đất cho Giáo xứ La Vang... Đó là bằng chứng sinh động cho nguyên tắc Đảng, Nhà nước vì đời sống tinh thần của tín đồ các tôn giáo.

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, với 54 dân tộc anh em, trong đó có 53 dân tộc thiểu số, với 14,3 triệu người, chiếm 14,7% dân số cả nước (năm 2022). Đa số đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống thành cộng đồng ở các khu vực miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Vì thế, trong tất cả văn kiện Đại hội Đảng (thời kỳ đổi mới) đều xác định vấn đề dân tộc “có vị trí chiến lược lớn’’, “luôn luôn có vị trí chiến lược’’, “có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta”...

Do đó, hàng năm, chính sách cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số được đẩy mạnh nhằm hỗ trợ nâng cao đời sống, cải thiện sinh kế của người dân, đặc biệt là đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, khơi thông thế mạnh, tiềm năng kinh tế - xã hội của vùng. Các chính sách này luôn nhất quán theo nguyên tắc các dân tộc “bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”. Như lời Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Hầu A Lềnh khẳng định tại phiên chất vấn và trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội, Kỳ họp thứ Năm, Quốc hội Khóa XV (tháng 6.2023) rằng: Công tác dân tộc được thực hiện thông qua các chủ trương của Đảng, các quy định pháp luật và hệ thống chính sách liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực, góp phần quan trọng thực hiện chiến lược đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam.

Những kết quả đạt được trong công tác dân tộc, tôn giáo thời gian qua chính là động lực để đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo phát huy sức mạnh, thi đua phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng - an ninh, xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết vì sự phát triển bền vững./.

 

TĂNG CƯỜNG PHỐI HỢP GIỮA CÔNG AN NHÂN DÂN VÀ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN TRONG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ BẢO VỆ TỔ QUỐC

Tăng cường phối hợp, hiệp đồng, đoàn kết, gắn bó giữa Công an nhân dân và Quân đội nhân dân vừa là truyền thống quý báu, yêu cầu khách quan, vừa là vấn đề có tính nguyên tắc trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Đây cũng là mặt công tác được hai lực lượng coi trọng, triển khai thực hiện toàn diện và đạt nhiều kết quả quan trọng. Trước yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới, hai lực lượng cần tiếp tục đẩy mạnh công tác phối hợp, với những giải pháp đồng bộ, tạo sức mạnh tổng hợp, giữ cho đất nước “trong ấm, ngoài êm”, phát triển bền vững.

Trải qua các thời kỳ cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng và thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Công an và Quân đội là hai cánh tay của nhân dân, của Đảng, của Chính phủ, của vô sản chuyên chính. Vì vậy, càng phải đoàn kết chặt chẽ với nhau, giúp đỡ lẫn nhau”1, Công an nhân dân và Quân đội nhân dân luôn chung sức, chung lòng, đồng tâm hiệp lực, đoàn kết, phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ, kề vai sát cánh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Mối quan hệ hữu cơ thống nhất, tác động lẫn nhau giữa quốc phòng và an ninh được Đảng ta nhấn mạnh trong sự kết hợp sức mạnh của lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân với sức mạnh của lực lượng và thế trận an ninh nhân dân. Vấn đề phối hợp giữa quốc phòng với an ninh trên phương diện tổ chức lực lượng, xây dựng tiềm lực, thế trận và hoạt động thực tiễn được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm trong thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh: “Bố trí thế trận quốc phòng, an ninh phù hợp với tình hình mới. Gắn kết quốc phòng với an ninh. Kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế trên từng địa bàn lãnh thổ, trong công tác quy hoạch, kế hoạch và các chương trình, dự án”2. Thực tiễn sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta cho thấy, “Nhiệm vụ của Quân đội và Công an không thể rời nhau được vì nó đều có mục đích chung là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ trị an cho nhân dân. Trong quá trình công tác, cần củng cố đoàn kết giữa Công an và Quân đội, đó là vấn đề nguyên tắc. Quân đội chuyên chống kẻ địch bên ngoài, Công an chủ yếu chống kẻ địch bên trong. Hai nhiệm vụ đó không tách rời nhau được và cũng không thể phân chia máy móc”3. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, nhất quán và xuyên suốt trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc của hai lực lượng: Công an nhân dân và Quân đội nhân dân.

Những năm gần đây, quán triệt, thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là các nghị định của Chính phủ về phối hợp giữa lực lượng Công an nhân dân và Quân đội nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, công tác phối hợp ngày càng chặt chẽ, hiệu quả, đạt được nhiều kết quả quan trọng, toàn diện trên tất cả các mặt. Hai lực lượng đã chủ động nắm chắc tình hình, thường xuyên trao đổi, kiểm tra, xác minh thông tin, thống nhất trong nhận định, đánh giá, dự báo tình hình, nhận diện sớm các nguy cơ, mối đe dọa đến lợi ích, an ninh quốc gia, chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc; kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước nhiều chủ trương, giải pháp chiến lược, quan trọng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại; xử lý đúng đắn, linh hoạt, hiệu quả các tình huống về quốc phòng, an ninh, không để bị động, bất ngờ. Chủ động phối hợp trong bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, bảo đảm an ninh, trật tự trên khu vực biên giới, biển, đảo, đấu tranh phòng, chống tội phạm, thực hiện công tác vận động quần chúng, xây dựng thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân; xây dựng các phương án, kế hoạch phòng, chống tụ tập đông người trái pháp luật, biểu tình gây rối an ninh, trật tự, bạo loạn, khủng bố; xử lý có hiệu quả các vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự, bảo vệ an toàn tuyệt đối các mục tiêu trọng yếu, sự kiện chính trị, văn hóa, đối ngoại trọng đại của đất nước, các hội nghị quốc tế tổ chức tại Việt Nam. Kết quả công tác phối hợp giữa hai lực lượng góp phần đặc biệt quan trọng bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đổi mới đất nước, lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thời gian tới, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc có nhiều thuận lợi, nhưng cũng đứng trước không ít khó khăn, thách thức. Không gian cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn đang đẩy về khu vực Đông Nam Á, uy hiếp trực tiếp đường lối đối ngoại “độc lập, tự chủ” của nước ta. Các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam có nguy cơ trở thành vật cản hay bàn đạp để các nước lớn kiềm chế lẫn nhau. Các vấn đề an ninh phi truyền thống diễn biến ngày càng phức tạp, đe dọa đến an ninh, quốc phòng của đất nước, khu vực và toàn cầu. Những nhân tố gây đột biến, bất lợi từ bên trong gia tăng, đặt ra yêu cầu rất cao đối với nhiệm vụ bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Các thế lực thù địch tăng cường hoạt động chống phá bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chúng sử dụng mọi thủ đoạn nhằm vô hiệu hóa lực lượng vũ trang - lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; kích động chia rẽ Nhân dân với Đảng, Nhà nước, chia rẽ Quân đội với Công an, v.v.

Những vấn đề đó đặt ra yêu cầu cấp bách phải đặc biệt quan tâm chăm lo, củng cố mối đoàn kết, quan hệ phối hợp, hiệp đồng chiến đấu giữa Công an nhân dân và Quân đội nhân dân; đưa quan hệ phối hợp giữa hai lực lượng ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả, tạo sức mạnh tổng hợp đánh bại mọi kẻ thù xâm lược cũng như hóa giải mọi thách thức, mối đe dọa từ bên trong. Để làm được điều đó, cần tập trung thực hiện tốt một số vấn đề cơ bản sau:

Đảm bảo sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, trực tiếp là của Đảng ủy Công an Trung ương và Quân ủy Trung ương, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với công tác phối hợp giữa hai lực lượng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.  Đây là nguyên tắc bất di, bất dịch, bảo đảm cho hai lực lượng hoạt động đúng phương hướng, định hướng chính trị, giữ vững bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước, Nhân dân và ngày càng đoàn kết, gắn bó chặt chẽ vì mục tiêu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, bất luận trong hoàn cảnh nào, cũng phải bảo vệ và giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Công an nhân dân và Quân đội nhân dân, trong đó có công tác phối hợp giữa hai lực lượng - vấn đề có ý nghĩa quyết định bản chất giai cấp công nhân, là cội nguồn sức mạnh của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác phối hợp giữa hai lực lượng phải được thực hiện xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương, trong đó ở từng địa phương phải đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, sự quản lý, điều hành của chính quyền các cấp. Chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước đổi mới cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; tham mưu các giải pháp, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng thành các văn bản pháp lý, quy chế, quy định về công tác phối hợp giữa hai lực lượng và tổ chức phối hợp, hiệp đồng trong thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, xác định rõ hơn nữa vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy các đơn vị trong Quân đội nhân dân và Công an nhân dân trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác phối hợp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo chức năng, nhiệm vụ được phân công.

Thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ của hai lực lượng trong phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Hai lực lượng cần tích cực đổi mới nội dung, chương trình, hình thức, phương pháp giáo dục, phổ biến kiến thức pháp luật về quốc phòng, an ninh; làm cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân và Quân đội nhân dân nhận thức sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng và sự cần thiết phải phối hợp, hiệp đồng chiến đấu giữa hai lực lượng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục quốc phòng và an ninh cho các đối tượng. Tập trung giáo dục quan điểm, tư duy mới của Đảng về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn cách mạng hiện nay; thống nhất nhận thức trong hai lực lượng về nội hàm của bảo vệ Tổ quốc, không chỉ hiểu theo nghĩa hẹp là chỉ có bảo vệ bên ngoài (biên giới, lãnh thổ quốc gia), mà cần hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả bên ngoài và bên trong (giữ ổn định an ninh, chính trị) đất nước; không chỉ chiến đấu bảo vệ khi có kẻ thù xâm lược, mà phải tổ chức phòng thủ, phòng ngừa từ trước, từ sớm, từ xa, chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, gắn liền với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước. Đặc biệt, cần tập trung giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ hai lực lượng nắm chắc nội dung, phương pháp phối hợp hoạt động quy định trong Nghị định số 03/2019/NĐ-CP, ngày 05/9/2019 của Chính phủ về phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và nhiệm vụ quốc phòng; hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta, nhất là mưu đồ “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, chia rẽ mối quan hệ, truyền thống đoàn kết, gắn bó giữa lực lượng Công an và Quân đội, hòng gây mất đoàn kết nội bộ, suy giảm sức mạnh quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

Công tác phối hợp giữa hai lực lượng phải thực hiện đúng nguyên tắc, giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo, hiệp đồng chiến đấu từ Trung ương đến cơ sở và đảm bảo yếu tố bí mật về lực lượng, phương tiện, biện pháp nghiệp vụ của từng lực lượng. Công an nhân dân và Quân đội nhân dân là hai thành tố cơ bản, trọng yếu của lực lượng vũ trang nhân dân, cùng chung mục tiêu bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, nhưng mỗi lực lượng có chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, biên chế, phương tiện, nghệ thuật, phương thức hoạt động khác nhau. Vì vậy, trong quá trình phối hợp, hiệp đồng thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, phải giữ đúng nguyên tắc xây dựng lực lượng và duy trì hoạt động của mỗi ngành, trên cơ sở quán triệt, thực hiện các nghị quyết, nghị định, chỉ thị, văn bản pháp lý của Đảng, Nhà nước về công tác phối hợp. Trọng tâm là Nghị định số 03/2019/NĐ-CP; Nghị định số 78/2011/NĐ-CP, ngày 01/9/2011 của Chính phủ quy định việc phối hợp giữa Bộ Công an với Bộ Quốc phòng trong tổ chức thực hiện công tác phòng cháy và chữa cháy đối với cơ sở quốc phòng; Nghị định số 06/2007/NĐ-CP, ngày 12/01/2007 của Chính phủ về phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong chỉ đạo, hướng dẫn Bộ đội Biên phòng và lực lượng Công an thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới, v.v. Có như vậy mới bảo đảm vừa tăng cường phối hợp, hiệp đồng, tạo sức mạnh tổng hợp, hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ chung là bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống, vừa giữ vững sự đoàn kết, thống nhất, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao của từng lực lượng.

Tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn, triển khai và chú trọng làm tốt công tác sơ kết, tổng kết trong phối hợp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Trên cơ sở quán triệt, thực hiện các nghị quyết, nghị định của Đảng, Nhà nước về công tác phối hợp, các cơ quan chiến lược thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng cần tiếp tục chỉ đạo cụ thể hóa nội dung phối hợp bằng các quy chế, kế hoạch, phương án phù hợp với đặc điểm từng vùng, miền, địa bàn; phân công rõ trách nhiệm cho từng lực lượng, cơ chế chỉ huy, chỉ đạo, huy động, sử dụng lực lượng, phương tiện; thường xuyên rà soát, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với sự thay đổi của tình hình và nhiệm vụ từng lực lượng. Tăng cường kiểm tra, hướng dẫn, triển khai thực hiện công tác phối hợp ở các cấp; kịp thời rút kinh nghiệm khâu yếu, mặt yếu, sơ hở, thiếu sót trong phối hợp cung cấp thông tin, nhận định, đánh giá tình hình, thống nhất tham mưu và tổ chức thực hiện quyết tâm, phương án, kế hoạch bảo vệ Tổ quốc, v.v. Triển khai quan hệ phối hợp toàn diện các lĩnh vực; trong đó, tập trung vào cụ thể hóa, thực hiện hiệu quả quan điểm của Đảng về kết hợp giữa kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh và đối ngoại; giữa xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh; kết hợp sức mạnh của lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân với sức mạnh của lực lượng và thế trận an ninh nhân dân; giữa thúc đẩy quan hệ phối hợp trên các lĩnh vực truyền thống (phòng, chống tập trung đông người, biểu tình, bạo loạn; trao đổi thông tin; giáo dục quốc phòng và an ninh; phòng, chống thiên tai, cháy nổ, dịch bệnh; tìm kiếm cứu nạn,…) với nghiên cứu, sớm có lộ trình, bước đi cụ thể phối hợp thực chất trong một số lĩnh vực quan trọng, mới nổi lên, như: tác chiến điện tử, không gian mạng, công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh, phối kiểm thông tin, v.v.

Bên cạnh đó, chú trọng làm tốt công tác sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả hoạt động phối hợp trên các lĩnh vực, ở các cấp, rút ra bài học kinh nghiệm thực tiễn; bổ sung, phát triển lý luận, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động phối hợp giai đoạn tiếp theo, tạo sức mạnh tổng hợp giữ đất nước “trong ấm, ngoài êm”. Khen thưởng kịp thời tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong phối hợp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng mối quan hệ truyền thống gắn bó giữa Công an nhân dân và Quân đội nhân dân, lan tỏa hình ảnh, phẩm chất tốt đẹp người chiến sĩ Công an “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ”, “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế. Đây cũng chính là các giải pháp nền tảng tạo sức mạnh nội sinh trong quan hệ phối hợp, hiệp đồng chiến đấu giữa hai lực lượng - cơ sở quan trọng thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.

 

THAM GIA MẠNG XÃ HỘI CÓ TRÁCH NHIỆM


“Đừng xem tóp tóp quá 180 phút” là một câu nói vui, nhưng nó cũng là một “cảnh báo” cho những người tham gia mạng xã hội (MXH).

Có thể có người nghĩ MXH là nơi để giải trí, giao lưu, chia sẻ những cảm xúc cá nhân hay để bày tỏ chính kiến của mình với người khác. Vì là của cá nhân nên nó không trực tiếp tác động đến người khác hay tới cộng đồng. Đây là một quan điểm rất sai lầm. Bởi, một khi thông tin đã đưa lên MXH, ít nhiều nó cũng tạo ra hiệu ứng. Nếu thông tin được chia sẻ mang tính tích cực, việc loa toả đó sẽ mang lại lợi ích cho cộng đồng. Nếu thông tin mang tính tiêu cực, sai lệch thì hệ luỵ của nó gây ra là một xã hội hoang mang, mất phương hướng, mất lòng tin…

Chẳng hạn mới đây, nhiều tỉnh thành trên cả nước, thậm chí là ở thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh đã phải ra văn bản chính thức hoặc “lên tiếng” trước việc người dân ùn ùn đi đổi giấy phép lái xe hạng A1 từ bảng giấy sang thẻ PET (thẻ nhựa), gây quá tải tại các điểm tiếp nhận. Đây là hệ luỵ của việc đưa thông tin sai lệch từ những người tham gia mạng xã hội. Bởi trước đó, nhiều tài khoản trên mạng xã hội Facebook, Tiktok… thông tin rằng sau ngày 31/12/2023, những ai chưa đổi giấy phép lái xe hạng A1 từ bằng giấy sang thẻ nhựa sẽ phải thi lại.

Sự thật là trước đó, Dự thảo Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ triển khai lấy ý kiến người dân, trong đó có nội dung đề xuất đổi toàn bộ giấy phép lái xe mô tô bằng vật liệu giấy sang vật liệu nhựa nhằm thực hiện tốt hơn việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, trong đó có tích hợp giấy phép lái xe. Tuy nhiên, những người đưa thông tin lên MXH đã không thực hiện việc đưa thông tin rõ ràng mà tự “cắt cúp” để đưa theo chủ ý dẫn dắt của mình.

Hay trước đó, khi Quốc hội thông qua Luật Căn cước (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2024) để thay thế cho Luật Căn cước công dân, đồng thời đổi tên thẻ Căn cước công dân thành thẻ Căn cước, rất nhiều tài khoản MXH đưa hoặc còm theo hướng việc làm này là “hành dân”, gây tốn kém và lãng phí tiền thuế của dân… Trong khi việc thay đổi này nhằm giúp công tác quản lý nhà nước khoa học hơn, phục vụ công cuộc chuyển đổi số, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi tham gia các hoạt động xã hội, giao dịch về hành chính, dân sự. Chính việc chia sẻ thông tin một chiều cùng đánh giá có chủ ý này đã khiến cộng đồng MXH có nhiều bình luận tiêu cực.

Như vậy, với tính chất liên kết, chia sẻ rộng rãi thông tin, MXH đã không còn là những cảm xúc, suy nghĩ của mỗi cá nhân mà đã trở thành tâm trạng, cảm xúc chung của nhiều người và ở góc độ nào đó, sự vận động của MXH đã ảnh hưởng đến tâm tư, tình cảm của cả cộng đồng. Do vậy, mỗi cá nhân khi chia sẻ, thông tin về một vấn đề gì cần phải có sự cân nhắc, thận trọng và nhất là phải đặt trách nhiệm của cá nhân mình với cộng đồng, tránh trường hợp “cắt cúp” theo chủ ý để phục vụ cho lợi ích của mình.

Trong khi đó, với người dùng MXH, tâm lý thường là thích đọc những thông tin nóng, mới, mang tính hấp dẫn… nhưng ít khi thực hiện việc kiểm chứng, xem nguồn gốc chúng đến từ đâu, có chính xác không. Chính điều này đã khiến một số đối tượng lợi dụng đăng tải, bình luận, chia sẻ nội dung sai sự thật, độc hại, không phù hợp về chuẩn mực đạo đức, văn hóa, thuần phong mỹ tục; thậm chí là những thông tin xuyên tạc, gây hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, gây mâu thuẫn trong xã hội… Bởi thế, câu nói vui “đừng xem tóp tóp quá 180 phút” để “cảnh báo” rằng, người dùng MXH cần phải tỉnh táo trước các thông tin. Có thể việc tiếp nhận tin giả quá nhiều sẽ khiến chúng ta hoang mang, mất phương hướng về một vấn đề, sự việc nào đó và rất có thể sẽ dẫn đến hiểu sai, hành động sai.

Pháp luật Việt Nam quy định, mọi công dân đều có quyền tự do ngôn luận và các quyền tự do dân chủ khác được pháp luật đảm bảo. Tuy nhiên, việc phát ngôn hay bình luận, đăng tải, chia sẻ thông tin trên mạng xã hội và các hình thức khác phải tuân thủ theo quy định của pháp luật.

Thời gian qua, cơ quan quản lý nhà nước cũng đã liên tục vào cuộc để xử lý những sai phạm, chấn chỉnh hoạt động của các trang mạng xã hội, các tài khoản cá nhân, tổ chức, hội nhóm về nội dung bài viết, livestream liên quan đến lừa đảo, thông tin sai sự thật, chống phá Đảng, Nhà nước… Thế nhưng với hàng chục triệu tài khoản MXH hiện đang hoạt động trong nước và cả ở nước ngoài nhắm đến Việt Nam, việc xử lý triệt để sẽ rất khó khăn, bởi sự ràng buộc pháp lý hiện còn khá lỏng lẻo.

Mặc dù Luật An ninh mạng đã quy định rất chặt chẽ những điều bị nghiêm cấm, tuy nhiên nhà nước và các cơ quan quản lý cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống luật pháp này đồng bộ hơn; đồng thời cần kiểm soát chặt chẽ người dùng MXH bằng những điều khoản pháp lý mạnh, nghiêm khắc về trách nhiệm cá nhân. Ngoài ra, các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp cần xây dựng chế tài, quy định của chính cơ quan, tổ chức mình để điều chỉnh hành vi, việc làm của người tham gia MXH mà mình quản lý trong hành lang pháp luật chung, vì lợi ích chung.

Bên cạnh đó, Việt Nam đã và đang xây dựng hệ thống dữ liệu dân cư quốc gia, đồng thời triển khai xác thực định danh điện tử, nếu đồng bộ hóa dữ liệu này với dữ liệu người dùng MXH thì mỗi hành vi, phát ngôn, chia sẻ đều gắn chặt với trách nhiệm pháp lý của họ. Hay nói cách khác, việc xác thực danh tính người dùng MXH thông qua số điện thoại hay dữ liệu chính chủ sẽ như một cách nhắc nhở người dùng có trách nhiệm hơn với các thông tin được đưa lên trên không gian mạng và với cộng đồng.

Nhận diện và phòng, chống hoạt động “bất tuân dân sự” ở nước ta

 

Nhận diện và phòng, chống hoạt động “bất tuân dân sự” ở nước ta

Phòng chống “diễn biến hòa bình” tuyệt đối không được lơ là, chủ quan, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết liệt này. Ảnh minh hoạ: CPV

Phòng chống “diễn biến hòa bình” tuyệt đối không được lơ là, chủ quan, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết liệt này. Ảnh minh hoạ: CPV

Ra đời từ rất sớm (thế kỷ 19), thuật ngữ "bất tuân dân sự" (hay còn gọi là chống đối chính phủ dân sự) lần đầu tiên xuất hiện trong một bài luận với nhan đề "Dân sự bất hợp tác" của nhà văn người Mỹ, Henry David Thoreau vào tháng 5-1849. Thoreau cho rằng, cá nhân có thể không tuân thủ, không phục tùng nhà nước; thậm chí, có thể chống lại luật pháp của nhà nước nếu thấy những điều luật đó không phù hợp với người dân, kể cả là với thiểu số bằng phương pháp "cách mạng hòa bình". 

Thoreau đề cao quyền tự quyết của mỗi cá nhân hơn là sự phục tùng theo đa số, theo cộng đồng và các cá nhân có quyền làm bất cứ điều gì mà họ cho là đúng. Tác giả cho rằng, về bản chất "bất tuân dân sự" chính là “bất tuân nhà nước”. Đến thế kỷ 20, quan điểm của Thoreau về "bất tuân dân sự" đã được phát triển thành phương thức đấu tranh bất bạo động và trở thành một mũi tiến công quan trọng trong chiến lược "diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc nhằm thay đổi chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) và những nước không cùng phe với họ.

Phương thức hoạt động này đã được áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới dưới những tên gọi khác nhau như: "Cách mạng màu", "cách mạng đường phố" ở Đông Âu và Liên Xô những năm cuối thế kỷ 20; làn sóng "Mùa xuân Ả Rập" ở các nước Trung Đông và Bắc Phi năm 2010; phong trào chống sửa đổi dự luật dẫn độ tại Hồng Công - Trung Quốc năm 2019...

Qua nghiên cứu thực tiễn cho thấy, "bất tuân dân sự" có mối quan hệ chặt chẽ với các tổ chức “xã hội dân sự”. Các nước phương Tây luôn coi hình thành “xã hội dân sự” là điều kiện, tiền đề cho việc cổ xúy tự do cá nhân, lấy "bất tuân dân sự" làm phương thức cơ bản để lật đổ chế độ chính trị ở một quốc gia. Có thể thấy "bất tuân dân sự" mang một số đặc trưng cơ bản như sau:    

Thứ nhất, về mục đích và hình thức thể hiện: Thông qua việc từ chối tuân theo hay vi phạm một cách cố ý các quy định của pháp luật hoặc cản trở việc thực thi chính sách, pháp luật; các đối tượng thực hiện “bất tuân dân sự" nhằm mục đích cuối cùng là vô hiệu hóa hoạt động của chính quyền, tiến tới lật đổ nhà nước, thay thế bằng một chế độ chính trị mới theo mô hình của chủ nghĩa tư bản.

Để che giấu mục đích đó, các thế lực thù địch thường che đậy, ngụy trang dưới những vỏ bọc khác nhau, như: Tụ tập, tuần hành nhằm “phản kháng ôn hòa, bất bạo động”, “biểu tình ôn hòa”. Ở Việt Nam, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo hoặc lợi dụng những vấn đề chính trị-xã hội phức tạp, nhạy cảm liên quan đến quyền và lợi ích của con người để lôi kéo, kích động, thu hút đông đảo người dân tham gia các hoạt động với mưu đồ được gọi là đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, bảo vệ môi trường, bảo vệ chủ quyền biển, đảo, trả lại đất đai cho người dân... thực chất là để thực hiện “bất tuân dân sự” nhằm chống lại Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Thứ hai, về chủ thể tiến hành, các đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị và những người dân có trình độ thấp, ngộ nhận, có bức xúc, mâu thuẫn với chính quyền, bị lừa bịp, mua chuộc tham gia; đứng sau hậu thuẫn là các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong do phương Tây hậu thuẫn lập ra như: “Việt Tân”, “Hội anh em dân chủ”, “Hội văn đoàn độc lập Việt Nam”, “Hội Nhà báo độc lập Việt Nam”, “Mạng lưới Blogger Việt Nam”... giữ vai trò chỉ đạo, tài trợ kinh phí, đào tạo, huấn luyện phương thức hoạt động cho các đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị, đối tượng hình sự trong nước... trở thành cộm cán thu hút, lôi kéo, tập hợp người dân tham gia các hoạt động “bất tuân dân sự”.

Số đối tượng trong nước ráo riết thu thập tình hình, phát triển lực lượng, hình thành các hội/nhóm hoạt động theo hình thức “bất bạo động”. Các thế lực thù địch thông qua mạng xã hội, internet để tuyên truyền, vận động thu hút, lôi kéo người dân tham gia các hoạt động “bất tuân dân sự” do chúng chỉ đạo.

Thứ ba, về thời điểm, các thế lực thù địch đặc biệt lợi dụng thời điểm trong nước diễn ra các sự kiện chính trị quan trọng như: Đại hội Đảng toàn quốc, bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND; thời điểm có các đoàn nguyên thủ quốc tế đến thăm và làm việc tại Việt Nam; lợi dụng bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, xuất hiện những vấn đề nhạy cảm về chính trị, kinh tế, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ giữa các quốc gia... để kích động, lôi kéo người dân tham gia “bất tuân dân sự” và đưa ra những yêu sách, như: “Đòi bảo vệ chủ quyền, môi trường”, đòi “tự do tôn giáo”, “dân chủ, nhân quyền”... gây phức tạp về an ninh trật tự tại địa phương. Khi gặp thời điểm thuận lợi và đủ điều kiện chín muồi, các thế lực thù địch có thể chuyển hóa từ hình thức bất bạo động thành bạo động rất nhanh chóng.

Khi đó, các đối tượng cộm cán, cầm đầu kêu gọi, kích động những người tham gia đấu tranh “ôn hòa, bất bạo động” tiến hành các hoạt động bạo loạn như đập phá tài sản nhà nước và công dân; chiếm trụ sở chính quyền; bắt giữ người thi hành công vụ; cản trở hoạt động bình thường của xã hội... qua đó nhằm thực hiện kịch bản “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” xâm phạm ANCT, TTATXH ở địa phương. Điển hình như vụ người dân phản đối trạm BOT Cai Lậy (Tiền Giang) năm 2017; vụ tụ tập đông người tại Bình Thuận, Bình Dương, Đồng Nai...

Bằng những phương thức và thủ đoạn nêu trên, các đối tượng kích động người dân đập phá trụ sở chính quyền, gây cản trở giao thông, đốt phá tài sản của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, làm bị thương nhiều cán bộ thực thi nhiệm vụ, gây ngừng trệ hoạt động của các cơ quan chức năng, doanh nghiệp và người dân, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của Nhà nước, của công dân và xã hội. Ngoài ra, các thế lực thù địch còn lợi dụng việc các cơ quan chức năng xử lý những người vi phạm pháp luật; các đối tượng phản động, cơ hội chính trị ra sức rêu rao, xuyên tạc rằng Việt Nam “đàn áp” những người biểu tình ôn hòa, yêu nước và kêu gọi cộng đồng quốc tế can thiệp.

Để đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả với hoạt động “bất tuân dân sự” nhằm chống phá nước ta, cần thực hiện một số giải pháp trọng tâm như sau:

Một là, các cơ quan chức năng cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và người dân về âm mưu, thủ đoạn, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng “bất tuân dân sự” để xâm phạm ANCT, TTATXH; về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn hoạt động “bất tuân dân sự” chống phá ta, coi đó là trách nhiệm của tất cả các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân để huy động sự tham gia của cả xã hội trong công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh với hoạt động này. Quan tâm, đẩy mạnh công tác vận động quần chúng và tranh thủ chức sắc tôn giáo, người có uy tín trong tôn giáo, dân tộc thiểu số, phát huy tác dụng của các tổ chức, đoàn thể và các tầng lớp nhân dân trong phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động “bất tuân dân sự”.   

Hai là, tiếp tục nâng cao chất lượng công tác nắm tình hình, phân tích, dự báo kịp thời mọi âm mưu, hoạt động lợi dụng dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo... của các thế lực thù địch hòng kích động, lôi kéo nhân dân tham gia "bất tuân dân sự" để triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh. Nắm tình hình tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để tham mưu, đề xuất các cơ quan chức năng giải quyết triệt để, thỏa đáng trên cơ sở pháp luật. Kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật về tôn giáo, dân tộc... để khắc phục; đồng thời phối hợp giải quyết dứt điểm các điểm nóng về an ninh trật tự ngay từ cơ sở, không để kéo dài, không lây lan, vượt cấp. 

Ba là, tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng đời sống, bảo đảm an sinh xã hội, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, bảo đảm tốt các quyền tự do dân chủ của người dân, giải quyết tốt các vụ việc phức tạp liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của nhân dân, tránh tạo sơ hở để bên ngoài lợi dụng xuyên tạc, kích động chống phá. Xây dựng và củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở bảo đảm thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước ở địa phương. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp; tăng cường đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân. Tiếp tục tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm ANCT, TTATXH ở các địa phương, nhất là các địa bàn vùng sâu, vùng xa, miền núi. 

Bốn là, quán triệt tinh thần giải quyết vấn đề tụ tập đông người, biểu tình, tuần hành theo đúng cơ chế: Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối và toàn diện; chính quyền quản lý, điều hành; lấy vận động thuyết phục là chính, kiên quyết thu hẹp vụ việc, không để lây lan, kéo dài. Khi phát hiện có tuần hành, tụ tập đông người hay lãn công, đình công, cần nhanh chóng đánh giá đúng tính chất, mức độ, xác định rõ nguyên nhân của vụ việc; thực hiện phân hóa số đối tượng cộm cán, cầm đầu với quần chúng bị dụ dỗ, lôi kéo; tuyên truyền vận động, thuyết phục quần chúng giải tán; kiên quyết xử lý nghiêm theo pháp luật số đối tượng cầm đầu, chủ mưu, cộm cán kích động, lôi kéo người dân tham gia "bất tuân dân sự".  

Năm là, tiếp tục tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo, dân tộc, đất đai, chính sách đền bù giải phóng mặt bằng và các quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tăng cường kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên tham nhũng, xâm phạm quyền và lợi ích của người dân. Các ban, bộ, ngành chức năng thường xuyên rà soát, đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật về tôn giáo, dân tộc, đất đai, các chính sách bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo để kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót, kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với thực tế./.