Chủ Nhật, 24 tháng 12, 2023

KHƠI DẬY TIỀM NĂNG DU LỊCH CAO BẰNG

 Là tỉnh miền núi Đông Bắc sở hữu vẻ đẹp tự nhiên độc đáo hiếm có, từ lâu Cao Bằng đã in sâu trong tâm trí nhiều người ấn tượng về một vùng non nước hữu tình với những danh thắng mang tính độc bản, chỉ có ở vùng "phên giậu" của Tổ quốc.

Cùng với vẻ đẹp của thiên nhiên, bản sắc văn hóa đa dạng được kết tinh qua nhiều thế hệ đã làm nên hình ảnh đặc trưng cho vùng đất này. Trong định hướng phát triển của mình, Cao Bằng xác định sẽ trở thành trung tâm du lịch của khu vực miền núi trung du phía Bắc.
Nơi thiên nhiên và văn hóa hòa quyện
Nhắc đến Cao Bằng, ắt hẳn nhiều người sẽ nghĩ tới thác Bản Giốc (xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh) - thác nước tự nhiên lớn nhất Đông Nam Á và là một trong 10 thác nước kỳ vĩ nhất thế giới. Vẻ đẹp hùng vĩ, nguyên sơ cùng những giá trị địa chất, văn hóa bản địa cốt lõi được gìn giữ đã khẳng định tính độc bản của thác Bản Giốc. Khu du lịch thác Bản Giốc, nơi hội tụ nhiều danh thắng nổi tiếng như thác Bản Giốc, động Ngườm Ngao, chùa Phật Tích Trúc Lâm Bản Giốc, làng đá Khuổi Ky... đã được công nhận là Danh thắng quốc gia vào năm 1998.
Không chỉ có vậy, Cao Bằng còn sở hữu nhiều danh lam thắng cảnh độc đáo, có tiềm năng lớn để phát triển du lịch như hồ Thang Hen, động Ngườm Pục, núi Mắt thần (núi Thủng), Vườn quốc gia Phja Oắc - Phja Đén... Đặc biệt, Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng - nơi hội tụ hơn 130 điểm di sản độc đáo, phản ánh lịch sử hình thành 500 triệu năm của Trái đất, đã được tạp chí du lịch Insider của Mỹ bình chọn là một trong 50 cảnh đẹp hấp dẫn nhất thế giới.
Bên cạnh sự hấp dẫn về thiên nhiên, miền non nước Cao Bằng còn có bề dày lịch sử cùng nét văn hóa đa sắc được hình thành từ hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú của 20 dân tộc anh em. Trong số hơn 2.000 di sản văn hóa phi vật thể được bảo tồn, đặc sắc nhất phải kể đến di sản Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái đã được UNESCO ghi danh vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2022. Cùng với đó là hơn 200 di tích lịch sử, văn hóa trong đó có 101 di tích đã được xếp hạng các cấp.
Cao Bằng cũng là tỉnh sở hữu hệ thống di tích cách mạng kháng chiến nổi trội so với các nơi khác. Là vùng đất có truyền thống cách mạng lâu đời và là cội nguồn của cách mạng Việt Nam, Cao Bằng hiện còn lưu giữ những di tích quan trọng như Khu di tích quốc gia đặc biệt Pác Bó (huyện Hà Quảng), nơi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đặt chân về nước, sống và làm việc, lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành độc lập dân tộc từ năm 1941 - 1945; Khu di tích quốc gia đặc biệt rừng Trần Hưng Đạo (huyện Nguyên Bình), nơi thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân (22-12-1944), tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam; Khu di tích quốc gia đặc biệt Địa điểm Chiến thắng Biên giới năm 1950 (huyện Thạch An), nơi duy nhất Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp ra mặt trận chỉ huy chiến dịch... Đó chính là những “tài sản” quý báu để Cao Bằng phát triển du lịch, đưa hình ảnh con người và vùng đất Cao Bằng đến với du khách trong và ngoài nước.
Tháo gỡ các “điểm nghẽn”
Mặc dù sở hữu nguồn tài nguyên du lịch đa dạng, đầy tiềm năng nhưng du lịch Cao Bằng phải đối mặt với không ít thách thức để phát triển và khẳng định thương hiệu của mình. Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng Hoàng Xuân Ánh đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, khó khăn như hạ tầng kinh tế - xã hội (giao thông, du lịch - dịch vụ, cửa khẩu, đô thị, nông thôn...) còn thiếu đồng bộ. Nhất là hạ tầng giao thông đang là “điểm nghẽn” lớn tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội, ảnh hưởng đến hoạt động kêu gọi đầu tư và thu hút khách du lịch đến Cao Bằng. Bên cạnh đó, nguồn lực đầu tư cho hoạt động du lịch còn khiêm tốn, chưa tương xứng với nhu cầu, tiềm năng; cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng; nguồn nhân lực du lịch chưa đáp ứng về số lượng, năng lực; hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch thiếu chiến lược lâu dài và hiệu quả... Ngoài những “điểm nghẽn” trên, Cao Bằng còn thiếu các sản phẩm mang tính đặc thù để có thể cạnh tranh với các tỉnh lân cận như Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Lạng Sơn... đang là những điểm đến có sức hấp dẫn lớn.
Để khơi thông các “điểm nghẽn”, Giám đốc Công ty Cổ phần Thương mại Du lịch Sen Rừng Trần Thị Huyền Thanh cho rằng, Cao Bằng cần phải có sản phẩm cụ thể. Chẳng hạn, xây dựng các sản phẩm mang tính độc đáo, khác biệt từ những lợi thế của Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng như du lịch Glamping (cắm trại cao cấp) tại các vùng đồi thấp, có cảnh quan đẹp, đồng thời đưa vào những trải nghiệm đẳng cấp, chất lượng để thu hút đối tượng khách có mức chi tiêu cao nhằm phát triển du lịch bền vững và mang lại hiệu quả kinh tế. Bên cạnh đó, tỉnh cần đẩy mạnh hoạt động quảng bá xúc tiến, chú trọng đến nội hàm “Non nước Cao Bằng - Xứ sở thần tiên” để làm nổi bật lợi thế khác biệt về con người và vùng đất này.
Đồng tình với quan điểm cần phát triển các sản phẩm có thương hiệu và chất lượng khác biệt, Giám đốc Công ty TNHH Thương mại và Du lịch Typic Việt Đỗ Quang Tiến hiến kế, Cao Bằng nên tận dụng lợi thế sở hữu 333km đường biên giới Việt - Trung để đầu tư xây dựng và phát triển mạnh các tuyến du lịch biên giới, xây dựng hệ thống homestay biên giới gắn với các trải nghiệm văn hóa bản địa, tìm hiểu lịch sử truyền thống để tạo thành một sản phẩm riêng có. Đối tượng nhắm đến là khách nội địa, đặc biệt là các bạn trẻ thích phiêu lưu, trải nghiệm.
Với những chiến lược cụ thể trong việc xây dựng thương hiệu điểm đến khác biệt, du lịch Cao Bằng sẽ sớm khẳng định vị thế của mình trên bản đồ du lịch Việt./.
ST

KHÁNH THÀNH TUYẾN CAO TỐC TUYÊN QUANG - PHÚ THỌ

 Sáng 24/12, cùng với các dự án mở rộng sân bay Điện Biên, cao tốc Mỹ Thuận - Cần Thơ, cầu Mỹ Thuận 2, tuyến cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ đã chính thức khánh thành sau gần 3 năm thi công.

Lễ khánh thành các dự án được tổ chức trực tuyến tại 4 điểm cầu Điện Biên, Vĩnh Long, Tiền Giang và Tuyên Quang. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham dự và chủ trì buổi lễ tại điểm cầu Điện Biên.
Dự buổi lễ tại điểm cầu khánh thành cao tốc Tuyên Quang- Phú Thọ có các đồng chí: Đỗ Văn Chiến - Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam; Chẩu Văn Lâm - Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Tuyên Quang; Bùi Văn Quang - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ; lãnh đạo một số bộ, ngành, đơn vị trung ương; lãnh đạo các tỉnh Tuyên Quang, Phú Thọ, Hà Giang; đại diện nhà thầu, đơn vị thi công cùng đông đảo người dân trong khu vực dự án.
Dự án cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ khởi công tháng 2.2021, dài 40,2 km, đoạn qua Tuyên Quang dài 11,63 km, qua Phú Thọ khoảng 28,57 km. Theo chỉ đạo của Thủ tướng Phạm Minh Chính, tuyến cao tốc này được điều chỉnh, bổ sung hơn 500 tỉ đồng (nâng tổng mức đầu tư hơn 3.700 tỉ đồng) hoàn thiện 4 làn xe ngay trong năm 2023 thay vì đợi đến sau 2025.
Đây là tuyến cao tốc hạn chế 4 làn xe, chưa được đầu tư làn dừng khẩn cấp với vận tốc tối đa cho phép 90km/h. Toàn tuyến có 3 nút giao với QL2D, QL70, Tỉnh lộ 314B (Phú Thọ).
Điểm đầu của tuyến cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ tại thôn 8 xã Lưỡng Vượng (TP Tuyên Quang) và điểm cuối giao cắt với đường Hồ Chí Minh (tại Thị xã Phú Thọ) và cách nút giao IC9 cao tốc Nội Bài - Lào Cai hơn 2km.
Đây cũng là tuyến cao tốc nghìn tỉ đầu tiên đến tỉnh Tuyên Quang, giúp rút ngắn 1/3 thời gian di chuyển từ TP Tuyên Quang đi Thủ đô Hà Nội, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế xã hội của các tỉnh miền núi phía Bắc.
Với Tuyên Quang và các địa phương trong vùng, tuyến cao tốc này có ý nghĩa hết sức quan trọng. Giảm chi phí và thời gian đi lại và tăng lợi thế cạnh tranh của vùng, nông sản tươi ngon từ Tuyên Quang và các khu vực lân cận chỉ sau 2 tiếng đồng hồ đã có mặt ở các siêu thị Hà Nội. Sau khi đưa vào chính thức khai thác cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ sẽ không thu phí và đến thời điểm hiện tại cũng chưa có hướng dẫn về việc thu phí đối với tuyến cao tốc này./.
ST

BỘ ĐỘI CỤ HỒ - MỘT BIỂU TRƯNG VĂN HOÁ

 Văn hóa Bộ đội Cụ Hồ cũng là chuẩn mực, truyền thống của Quân đội được thể hiện trong lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

“Mãi mãi là sao sáng dẫn đường”
Ngược thời gian, ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân-tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay-được thành lập theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Gần 80 năm trôi qua nhưng ngắm bức ảnh tư liệu Ngày thành lập Đội vẫn thấy không phôi pha thần thái ngời ánh thép của những chiến sĩ cách mạng anh dũng, kiên cường. Đội quân cách mạng ấy đã nhanh chóng trưởng thành, tiến kịp thời đại, trở thành hình tượng thời đại, hiện lên trong tư thế mới, tạo tác nên “dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ”.
Luận về văn hóa quân sự, văn hóa Bộ đội Cụ Hồ, văn học-nghệ thuật Việt Nam gần 80 năm qua đã tạo tác những tượng đài nghệ thuật bất hủ về Bộ đội Cụ Hồ, như trong “Tây Tiến” của Quang Dũng, “Dáng đứng Việt Nam” của Lê Anh Xuân, “Bài ca chim chrao” của Thu Bồn, “Sư đoàn” của Nguyễn Đức Mậu...
Văn hóa Bộ đội Cụ Hồ cũng là chuẩn mực, truyền thống của Quân đội được thể hiện trong lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.
Khi đất nước giặc giã: “Người lính già tóc bạc/ Kể mãi chuyện Nguyên Phong” (thơ Trần Nhân Tông). Phẩm chất, bản lĩnh của người chiến sĩ trong chiến tranh, với những hy sinh, gian khó đã góp phần làm nên thắng lợi cuối cùng của cuộc cách mạng. Điều đó sẽ không cần bàn thêm, bởi thực tiễn lịch sử đã là minh chứng thuyết phục nhất. Quân đội nhân dân Việt Nam còn là một đội quân văn hóa trong ý nghĩa sâu xa nhất của thực tiễn hình thành, xây dựng và phát triển gần 80 năm qua. Quân đội cũng thực sự là môi trường văn hóa thúc đẩy, giúp ươm mầm nhiều tài năng, mà trong đó, người chiến sĩ là nguồn cảm hứng bất tận để cho ra đời những tác phẩm văn học-nghệ thuật chất lượng, khắc họa nên những biểu trưng văn hóa của thời đại.
Chỉ riêng trong lĩnh vực văn học, sách “Nhà văn Việt Nam hiện đại” (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, năm 2020) ghi nhận có 1.623 nhà văn, trong đó có gần 400 nhà văn-chiến sĩ thuộc các thế hệ nhà văn chống Pháp, chống Mỹ, kể cả hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, nhiều nhà văn-chiến sĩ đã ngã xuống trên chiến trường, tên được khắc trên bảng vàng lịch sử dân tộc, như: Trần Đăng, Thâm Tâm, Thôi Hữu, Hoàng Lộc, Nguyễn Thi, Lê Anh Xuân, Lê Vĩnh Hòa, Chu Cẩm Phong, Nguyễn Trọng Định, Bùi Nguyên Khiết, Vũ Đình Văn... Trong số 47 nhà văn vinh dự nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật trên cả nước, có gần 1/3 là nhà văn-chiến sĩ: Chính Hữu, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Thi, Phan Tứ, Thu Bồn, Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Hồ Phương, Đỗ Chu, Lê Văn Thảo, Xuân Thiều, Hữu Mai, Xuân Đức... Trên đây chỉ là một trong rất nhiều “con số biết nói” khi nhắc tới lực lượng nhà văn Quân đội mà thôi.
Nhân vật trung tâm thời đại
Tôi từng bị hấp dẫn bởi cuốn tiểu thuyết nhan đề “Mạnh hơn nguyên tử” của một nhà văn Xô viết, một tác phẩm gợi mở cho chúng ta thông điệp có tính triết học-văn hóa-nhân sinh-nhân văn hữu ích. Trong đó, nhà văn đã dùng phép “khuếch đại thẩm mỹ” để viết nên tác phẩm văn chương thú vị. Hình ảnh những chiến sĩ Hồng quân Liên Xô làm chủ các phương tiện kỹ thuật chiến tranh hiện đại khiến thế hệ chúng tôi “tâm phục khẩu phục” về một quân đội anh em hùng mạnh. Giờ đây, chúng ta sẽ không cần tưởng tượng qua tiểu thuyết nữa khi được chứng kiến chính Quân đội ta đang từng bước lớn mạnh, phát triển theo phương châm tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong đó, ngoài yếu tố chuyên môn kỹ thuật, huấn luyện, thì văn hóa quân sự, văn hóa Bộ đội Cụ Hồ vẫn là yếu tố gốc, xuyên suốt, được mỗi người lính không ngừng bồi đắp và phát huy.
Có người đặt câu hỏi: “Bộ đội Cụ Hồ trong cơ chế thị trường sẽ thế nào?”. Tưởng khó hóa ra không khó trả lời. Vì, trước hết, anh là con người bình thường, bằng xương bằng thịt nên nói như C.Mác: “Tất cả những gì gần gũi với con người đều không xa lạ với tôi”. Tuy nhiên, Bộ đội Cụ Hồ hôm nay được tiếp nối, bồi đắp những giá trị để hội tụ trong mình các phẩm chất tuyệt vời của truyền thống dân tộc và Quân đội, bản sắc văn hóa quân sự và tinh thần, tố chất, sắc màu thời đại, bản lĩnh, trí tuệ, làm chủ khoa học kỹ thuật tối tân.
Trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới” đã khái quát 5 đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới. Trong đó nhấn mạnh tới nhiều yếu tố, mà trước hết là tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, có ý chí quyết tâm chiến đấu cao, chấp nhận hy sinh, vượt qua khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; về đạo đức cách mạng; huấn luyện, học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ mọi mặt và đấu tranh chống biểu hiện tiêu cực; tinh thần đoàn kết tập thể, gắn bó máu thịt với nhân dân; tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, dám đương đầu với khó khăn, thử thách...
Những đặc trưng cơ bản được khái quát đã làm sâu sắc hơn những phẩm chất vốn có của Bộ đội Cụ Hồ, đồng thời từ thực tiễn và yêu cầu cách mạng đúc rút nên những đặc trưng mới, có tính thời sự và cấp thiết, chẳng hạn như: “Tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”, “kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện suy thoái, tiêu cực, tham nhũng, lãng phí”... Điều này cũng cho thấy, những đòi hỏi, yêu cầu ngày càng cao cũng như vị trí, vai trò của cán bộ, chiến sĩ trong tu dưỡng, rèn luyện và gìn giữ, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới-vấn đề được Đảng ta quan tâm.
Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã viết: “Con người ta phải biết sống như một người anh hùng và biết sống như một con người bình thường”. Đó cũng chính là hai mặt của một tờ giấy-bản lĩnh và nhân cách của con người chân chính nói chung, người chiến sĩ nói riêng. Anh có thể là một người anh hùng trong chiến trận, chiến thắng kẻ thù nơi chiến trường và trước sau vẫn là người dám đương đầu với những khó khăn, thử thách gay cấn nhất trong cuộc sống đương đại.
Nhiều người vẫn tranh luận sôi nổi và thú vị về “nhân vật trung tâm thời đại” trong văn học-nghệ thuật. Thiết nghĩ, nhân vật nào biểu trưng được các giá trị nhân cách, văn hóa Việt nam thì đó là điểm độc sáng, phát sáng của tấm gương nghệ thuật có khả năng phản chiếu xã hội đang đổi mới và phát triển dưới ánh sáng của “văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Hình tượng người chiến sĩ với bản lĩnh, đức hy sinh đã là biểu trưng của con người văn hóa Việt Nam trong quá khứ. Bản lĩnh và nhân cách Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới vẫn đang là chủ đề trung tâm của sáng tác văn học-nghệ thuật hiện tại và chắc chắn cả trong tương lai./.
ST

LAO ĐỘNG MỚI LÀM CON NGƯỜI CÓ ĐẠO ĐỨC

 "Danh dự là điều cao quý nhất! "

( TBT Nguyễn Phú Trọng)
Các tôn giáo lớn đều trực tiếp hay gián tiếp khuyên dạy rằng phẩm chất quý giá nhất ở con người là tình yêu thương, cao thượng, vì người khác, trong sáng, liêm khiết, chân chính để cống hiến được nhiều nhất cho xã hội.
- Thánh tích đạo Công giáo kể: " Thánh Joseph vốn xuất thân là một người thợ mộc, còn Đức mẹ Maria thời thiếu nữ rất xinh đẹp, có nhiều đám đến mối mai. Nhà Maria chọn rể bằng cách cho mỗi chàng trai đặt một chiếc gậy của mình vào chung một chỗ, gậy của ai nở hoa thì được lấy Maria. Chỉ có người thợ mộc Joseph được toại nguyện. Họ cưới nhau. Thiên sứ Gabriel báo cho Maria biết nàng sẽ sinh ra Jesus là con của Đức Chúa trời và sau này sẽ là Đấng Cứu thế. Joseph thì mơ thấy mình được trao nhiệm vụ giữ Maria làm vợ còn Jesus sẽ là con nuôi. Maria là mẹ nhưng vẫn đồng trinh. Bà sinh con trai, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ vì họ không tìm được nhà trọ..."
Tích này như muốn cắt nghĩa giàu - nghèo không phải là lý do để được tôn trọng, sùng bái.
Như Jesus đó thôi, có cha làm nghề thợ mộc, sinh ra ở nơi thiếu thốn, nghèo nàn, thế mà trở thành Đấng Cứu thế được hàng tỷ người ngưỡng vọng!
- Sự ra đời của Đức Phật Thích Ca là thật chứ không phải huyền thoại.
" Đang là một thái tử có vợ đẹp, con ngoan, ở trong kinh thành xa hoa tráng lệ và tương lai gần sẽ kế vị ngôi vua, nhưng năm 29 tuổi, ngài rời bỏ tất cả gia đình quyền quý, của cải, chức vụ để xuất gia. Sau 6 năm tự mình tu học theo lối khổ hạnh luyện thân thất bại, ngài chọn con đường thiền định. Qua 49 ngày đêm bất động ngồi dưới gốc cây bồ đề, ngài chứng thành Phật quả với đủ tam minh, lục thông, trí tuệ. Ngài trở thành Phật tổ, không có một đồng xu nhưng có hàng triệu triệu người sùng bái!"
Thì ra của cải, địa vị có làm nên hạnh phúc đâu, thậm chí, với Đức Phật thì của cải, địa vị càng cao lại càng đau khổ vì không được tự do làm theo ý của mình là đi tìm con đường giải thoát nỗi trầm luân cho chúng sinh!
- Ông tổ của đạo Nho là Khổng Tử (trong cuốn Luận ngữ) dạy học trò: “Ăn cơm gạo thô, uống nước lã, co cánh tay gối đầu mà ngủ, coi đó là niềm vui.
Làm điều bất nghĩa để có được giàu có, cao sang thì ta coi như đám mây nổi”.
Ông thường kể chuyện có học trò rất nghèo đi cày ruộng, một lần bắt được cả hũ vàng nhưng vẫn cày lấp lên vì cho rằng vàng ấy không phải của mình. Người ấy sau này làm đến chức Thượng thư... Ông đúc kết thành châm ngôn sống mà sau này các bậc “cửa Khổng sân Trình” thuộc làu:
“Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” = (giàu sang mà không hoang dâm, nghèo hèn mà không đổi chí khí, gặp uy vũ không khuất phục).
Như vậy, các tôn giáo lớn đều trực tiếp hay gián tiếp khuyên dạy rằng phẩm chất quý giá nhất ở con người là tình yêu thương, cao thượng, vì người khác, trong sáng, liêm khiết, chân chính để cống hiến được nhiều nhất cho xã hội.
Điều này cũng được người Việt triết lý danh dự là điều cao quý nhất, qua các châm ngôn:
“Chết trong còn hơn sống đục”, “Giấy rách phải giữ lấy lề”...
Con cò trong ca dao cũng: “Có xáo thì xáo nước trong/ Đừng xáo nước đục đau lòng cò con”.
Chính sử ghi lại chuyện tướng quân Trần Bình Trọng bị giặc Nguyên bắt. Chúng dụ dỗ, mua chuộc nếu ông đầu hàng sẽ được là “vua”. Mang dòng máu Việt, lại sinh ra trong thời hào khí Đông A lẫm liệt, tất nhiên ông từ chối, còn mắng kẻ xâm lược: “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc!”. “Làm vương đất Bắc” thì vừa có quyền vừa có tiền nhưng vẫn là tay sai. Như thế là nhục. Ông đã “chết vinh” chứ không chịu “sống nhục”!
@ Thế nhưng tại sao ở thời buổi văn minh này lại có người có học, chức trọng quyền cao, của nả nhiều hơn tài sản Thạch Sùng trong cổ tích mà vẫn “chịu nhục” tham ô, hối lộ, ăn của đút, không hề có chút tự trọng?
Nguyên nhân ở đâu? Điều này không khó lý giải.
Đó là do lòng tham làm mờ mắt, không phân biệt được tốt xấu, phải trái nên không còn sự liêm sỉ.
Thực ra lòng tham là bản năng tồn tại của con người. Đúng như cổ nhân dạy, người mạnh là người thắng được chính mình. Những kẻ tham lam thì không thắng được mình nên chịu làm nô lệ cho tiền bạc...
Làm gì để chữa trị căn bệnh này?
La Fontaine, một nhà ngụ ngôn, cũng là nhà giáo dục thiên tài kể câu chuyện “Lão nông và các con” chính là đưa ra “bài thuốc” chữa. Trước khi từ giã trần gian, lão nông dặn các con:
"Ngày xưa các cụ có chôn hũ vàng ở mấy đám ruộng nhà mình nhưng cha không biết chỗ. Cha chết, các con gắng tìm. Đám con y lời bèn “cày sâu cuốc bẫm” tìm vàng. Vàng không thấy nhưng mùa vụ liên tiếp. Đám con giàu to.
Câu kết của truyện chính là bài học lớn phổ quát cho mọi thời, mọi người:
“Lấy câu “lao động là vàng” dạy con”.
Thế nên giải pháp chung cho tất cả là phải lao động. Trong lao động và qua lao động, người ta mới thấy được giá trị, ý nghĩa của “đồng tiền bát gạo”, mới biết thương người lao động...
Đó là sự tự hoàn thiện nhân cách tốt nhất. Những kẻ tham ô, tham nhũng đang làm việc trong cơ quan nhà nước có lao động không?
Không. Với họ, “làm việc” chỉ là cái bình phong che đậy những ý đồ đen tối để có điều kiện là “tham”. Đó là những kẻ ăn bám đích thực.
Thế nên kẻ lười, kẻ làm việc được chăng hay chớ nên sớm đuổi ra khỏi biên chế nhà nước!
“Nghèo cho sạch, rách cho thơm”, “Tốt danh hơn lành áo”. Cha ông ta dạy thế.
Đó là truyền thống đạo lý trọng giá trị tinh thần (trọng nghĩa khinh tài. -“tài” nghĩa là tài sản vật chất) rất quý của cha ông.
Nhưng trên thực tế thì vừa “sạch” vừa “thơm”, vừa “tốt” vừa “lành” vẫn tốt hơn, nhất là ở thời buổi văn minh hôm nay. Người trọng danh dự, đạo lý càng không cho phép mình để người khác thương hại vì nghèo. Thế nên bằng sự cần cù, thông minh, năng động, ai ai cũng cố gắng vươn lên sự giàu có, miễn là trong khuôn khổ pháp luật, sự cho phép của cơ quan, tổ chức./.
ST

Chống biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng - nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên

 

Chống biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng - nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên

Huyện Đức Cơ quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị cơ sở. Ảnh: baogialai.com.vn

Huyện Đức Cơ quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị cơ sở. Ảnh: baogialai.com.vn

Các nhà lý luận mác-xít đã chỉ mặt những phần tử cơ hội

Ngay từ khi mới ra đời, Chủ nghĩa Mác-Lênin đã phải đấu tranh không khoan nhượng với những quan điểm sai trái, thù địch được núp bóng dưới mọi hình thức. Trong các tác phẩm của mình, C.Mác, Ph.Ăng-ghen và V.I.Lênin đã chỉ ra một loại kẻ thù hết sức nguy hiểm, đó là những phần tử cơ hội, khoác áo cộng sản nhưng lại ngấm ngầm chống phá Đảng. Đó là những con người chỉ vì lợi ích nhất thời hằng ngày mà quên đi những quan điểm chủ yếu lớn; chạy theo những thành công chốc lát và đấu tranh cho những thành công chốc lát mà không tính đến hậu quả về sau... tất cả những việc ấy có thể xuất phát từ những động cơ “thành thật”. "Nhưng đó là và sẽ vẫn là chủ nghĩa cơ hội, mà chủ nghĩa cơ hội “thành thật” có lẽ lại là thứ chủ nghĩa cơ hội nguy hiểm hơn hết cả” và nguồn gốc sinh ra chủ nghĩa cơ hội ấy từ các mặt kinh tế, chính trị, tư tưởng và lịch sử.

V.I.Lênin là người kế tục xuất sắc nhất sự nghiệp vĩ đại của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, đã phấn đấu quên mình để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong thời đại báo hiệu sự suy sụp của chủ nghĩa tư bản và thắng lợi của cách mạng vô sản, đưa chủ nghĩa Mác lên một bước phát triển mới, thành Chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh cách mạng, nhất là những năm tháng xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực ở nước Nga Xô viết, trong bài viết “Về vấn đề thanh đảng”, V.I.Lênin vạch rõ mặt những phần tử cơ hội trong đảng, những phần tử giỏi về thủ đoạn “ngoại giao tư sản”, khả năng thích ứng “thay màu đổi sắc để ẩn nấp được dễ dàng hơn, như con thỏ rừng, về mùa đông, thay lông thành màu trắng”. Vì thế, V.I.Lênin yêu cầu, cần phải đuổi ra khỏi đảng những kẻ gian giảo, những đảng viên cộng sản đã quan liêu hóa, không trung thực, nhu nhược. Theo V.I.Lênin, có như vậy sẽ làm cho đảng trở thành một đội tiền phong của giai cấp vô sản vững mạnh hơn.

Vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn quan tâm đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh chống mọi biểu hiện cơ hội trong Đảng. Trước lúc đi xa, trong Di chúc, việc đầu tiên, trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về Đảng, Người căn dặn: “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Để Đảng Cộng sản là một Đảng thực sự cách mạng, chân chính, tất yếu phải đấu tranh chống những biểu hiện cơ hội trong Đảng, nhất là cơ hội về chính trị.

Trong bối cảnh hết sức khó khăn khi mới thành lập Đảng, nhưng nhiệm vụ đấu tranh chống những phần tử cơ hội trong Đảng luôn đặt ra yêu cầu cấp thiết. Song cũng phải nhận diện rõ và phân loại đối tượng cụ thể để có phương pháp đấu tranh phù hợp. Nghị quyết của toàn thể Hội nghị Ban Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 20 và 30-3-1938 chỉ rõ: “Phải tẩy sạch những phần tử trotsky đã lọt vào trong Đảng”. Do đó, muốn đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị tốt, cần phải nhận diện đúng thực chất “cơ hội về chính trị”.

Nhận diện những biểu hiện cơ hội chính trị trong Đảng

Từ những nghiên cứu, luận giải trên cho thấy, cơ hội chính trị bao hàm nhiều đối tượng khác nhau ở trong và ngoài Đảng nhưng đều mang điểm chung là có nhận thức và hành động đi ngược lại lợi ích của Đảng, Nhà nước và toàn thể dân tộc Việt Nam. Trong đó, những biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng ở nước ta hiện nay ngày càng phức tạp, tinh vi và nguy hiểm.

Hơn 90 năm qua, công tác đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, nhiều lần khẳng định trong các nghị quyết. Trong đó nhấn mạnh: “Hiện nay phải đặc biệt coi trọng công tác bảo vệ Đảng, trước hết là bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, giữ gìn sự trong sạch của tổ chức đảng, cảnh giác và tỉnh táo không để cho những phần tử cơ hội về chính trị, phản động chui vào hàng ngũ Đảng”. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định phải: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị”.

Nhận diện những biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng hiện nay qua 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đối tượng đấu tranh chống biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng là những cán bộ, đảng viên hiện đang làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội, cơ quan đoàn thể hoặc đã nghỉ hưu được luật pháp quy định...

Biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng ở nhiều cấp độ khác nhau, như: Nhóm đối tượng do hạn chế về nhận thức, thiếu thông tin hoặc tiếp nhận những nguồn tin không chính thống, bị kẻ xấu lợi dụng; nhóm đối tượng thiếu tu dưỡng, rèn luyện, công thần, sống vụ lợi, ích kỷ; nhóm đối tượng công khai bộc lộ tư tưởng cực đoan, bất mãn, chống đối và đặc biệt nghiêm trọng là nhóm có khuynh hướng chống đối, tập hợp lực lượng, móc nối với các thế lực thù địch bên ngoài chống phá cách mạng Việt Nam, khi đó từ cơ hội về chính trị đến phản bội Đảng, Tổ quốc và nhân dân là rất gần. Biểu hiện chung nhất là phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái; không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; tham vọng chức quyền...

Kiên quyết và đồng bộ giải pháp phòng, chống biểu hiện cơ hội chính trị

Trong tình hình hiện nay phải đặc biệt quan tâm xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, tăng cường đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng với hệ thống các giải pháp. Trước hết, tập trung vào một số giải pháp như: Tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị ở nước ta hiện nay. Phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong quản lý, giáo dục, rèn luyện, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Phát huy dân chủ, sức mạnh tổng hợp đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị, nhất là biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng với lộ trình, bước đi, hình thức, phương pháp, giải pháp phù hợp, thiết thực, hiệu quả. Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ, chặt chẽ các khâu, các bước trong tuyển chọn, bố trí sử dụng, không để những phần tử cơ hội về chính trị chui sâu, leo cao phá hoại Đảng. Tăng cường kiểm tra, giám sát, phát hiện và kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những phần tử có biểu hiện cơ hội về chính trị. Thực hiện tốt công tác chính sách cho các đối tượng đúng quy định của pháp luật, kịp thời tôn vinh, động viên, đãi ngộ thỏa đáng những người có công với cách mạng. Kiên quyết đấu tranh, đập tan những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới./.

Kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Ảnh minh họa: Tạp chí Tuyên giáo.

Ảnh minh họa: Tạp chí Tuyên giáo.

Đại hội lần thứ XIII, Đảng ta lần đầu tiên khẳng định: Kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng, bởi những lý do sau đây:

Thứ nhất, về lý luận, nguyên tắc là vấn đề có tính sống còn đối với một tổ chức. Tuân thủ các nguyên tắc thì tổ chức đó vững mạnh, từ bỏ hoặc thực hiện không nghiêm túc các nguyên tắc thì sẽ dẫn đến tổ chức rệu rã và có nguy cơ tan rã.

Trải qua hơn 90 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng ta luôn vận dụng và phát triển sáng tạo những nguyên tắc cơ bản của học thuyết Mác-Lênin về xây dựng Đảng. Tổng kết công tác xây dựng Đảng qua các thời kỳ cách mạng khác nhau, tuy cách diễn đạt về các nguyên tắc xây dựng Đảng có khác nhau một vài điểm nhưng nhìn chung, Đảng ta vẫn luôn khẳng định những nguyên tắc trên cơ sở vận dụng và tuân thủ các nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta phát triển nguyên tắc về nền tảng tư tưởng: “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động”. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc”.

Đây là lần đầu tiên Đảng ta xác định: Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là đội tiền phong của giai cấp công nhân mà còn là đội tiền phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Đồng thời, cũng tại đại hội lần này, Đảng ta bổ sung thêm nguyên tắc: “Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Tuân thủ nghiêm ngặt những nguyên tắc chủ yếu nói trên trong quá trình xây dựng Đảng là một trong những yếu tố có tính quyết định bảo đảm cho Đảng ta giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam; là cơ sở khoa học để Đảng ta không ngừng chăm lo xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, làm cho Đảng luôn xứng đáng vai trò người lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Trên cơ sở những nguyên lý về xây dựng chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân do Lênin nêu ra và thực tiễn hoạt động của Đảng ta, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI thông qua (các nhiệm kỳ XII và XIII thống nhất giữ nguyên Điều lệ) quy định về các nguyên tắc tổ chức và hoạt động như sau: “Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh, đồng thời thực hiện các nguyên tắc: Tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Từ đó đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định thực hiện nghiêm 5 nguyên tắc này và đó cũng là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của Đảng ta trong thời gian qua.

Thứ hai, quan điểm chỉ đạo là kiên định nhưng không phải là cứng nhắc, giáo điều và cũng không phải là đổi mới vô nguyên tắc.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.

Trong quá trình thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng, cần thấm nhuần quan điểm chỉ đạo: Kiên định và đổi mới, kế thừa và phát triển, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Kiên trì, kiên định nhưng không trở thành giáo điều, cứng nhắc; đổi mới, kế thừa và phát triển nhưng trên cơ sở giữ vững các nguyên tắc chứ không phải là vô nguyên tắc, dân chủ quá đà, lẫn lộn giữa đối tượng, đối tác.

Thứ ba, về thực tiễn, trong nghiên cứu, học tập, quán triệt thực hiện các nghị quyết của Đảng thì chỉ đạo và tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, chậm được khắc phục nên khi thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng rất cần phải kiên định tuân thủ các nguyên tắc. Nếu ai không tuân thủ sẽ phải chịu trách nhiệm bằng các hình thức kỷ luật của Đảng.

Đánh giá việc thực hiện các nguyên tắc và đổi mới phương thức lãnh đạo, văn kiện Đại hội XIII chỉ ra những ưu điểm sau: “Công tác xây dựng Đảng về chính trị được đặc biệt chú trọng. Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng, đường lối đổi mới và các nguyên tắc xây dựng Đảng”. “Phương thức lãnh đạo của Đảng tiếp tục được đổi mới. Ban hành và thực hiện nhiều quy định bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, đề cao nguyên tắc pháp quyền, phát huy dân chủ, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội”.

Trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng nêu rõ ưu điểm: “Đảng ta luôn vững vàng, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và không ngừng vận dụng, phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới và những nguyên tắc về xây dựng Đảng”.

Về hạn chế, khuyết điểm trong việc thực hiện nghị quyết của Đảng nói chung, các nguyên tắc xây dựng Đảng nói riêng vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm như Văn kiện Đại hội XIII chỉ ra: “Chỉ đạo và tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, chậm được khắc phục”.

Đánh giá việc thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng, Văn kiện Đại hội XIII nêu: “Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm, thậm chí còn vi phạm, mất đoàn kết nội bộ, có nơi còn biểu hiện cục bộ, lợi ích nhóm. Kiểm soát quyền lực còn lúng túng, hiệu quả thấp”. “Tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi còn hình thức. Thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là của người đứng đầu chưa tạo được sự lan tỏa sâu rộng”.

Một số cấp ủy, tổ chức đảng đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, thiếu kiểm tra, giám sát để xảy ra nhiều vi phạm, khuyết điểm kéo dài. Đây là điều rất đáng trăn trở vì trong nhiệm kỳ Đại hội XII, cấp ủy các cấp đã kiểm tra 264.091 tổ chức đảng và 1.124.146 đảng viên; ủy ban kiểm tra các cấp đã kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 15.920 tổ chức đảng và 47.701 đảng viên (trong đó có 23.432 cấp ủy viên). Qua kiểm tra, cấp ủy các cấp đã thi hành kỷ luật 1.329 tổ chức đảng và 69.600 đảng viên; ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 17.610 đảng viên. Riêng Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thi hành kỷ luật 10 tổ chức đảng và 60 đảng viên; Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 169 đảng viên (trong đó có 53 đồng chí là cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý). Các cấp ủy đã giám sát 193.993 tổ chức đảng và 528.652 đảng viên; ủy ban kiểm tra các cấp đã giám sát 124.469 tổ chức đảng và 185.731 đảng viên.

Điều cần lưu ý là rất nhiều vi phạm xảy ra từ nhiệm kỳ trước nhưng đến nay mới bị phát hiện và xử lý. Như vậy trước đó, việc tuân thủ các nguyên tắc xây dựng Đảng chưa thật sự được coi trọng, thậm chí bị buông lỏng. Thực trạng này do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là các nguyên tắc xây dựng Đảng chưa được coi trọng và thực hiện nghiêm túc. Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên có nguyên nhân khách quan, nhưng chủ yếu là nguyên nhân chủ quan: Một số cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới; việc quán triệt các nghị quyết của Đảng ở một số nơi chưa kịp thời, sâu sắc. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa chủ động, sâu sát, thiếu quyết liệt; chưa coi trọng việc tự kiểm tra, xử lý vi phạm. Một số nơi, người đứng đầu chưa phát huy hết trách nhiệm, thiếu bản lĩnh, chưa gương mẫu, còn thụ động, né tránh, trông chờ vào chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên. Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm, thậm chí còn vi phạm, mất đoàn kết nội bộ, có nơi còn biểu hiện cục bộ, lợi ích nhóm. Kiểm soát quyền lực còn lúng túng, hiệu quả thấp. Sự phối hợp giữa một số cấp ủy với đảng đoàn, ban cán sự đảng có lúc, có nơi thiếu chặt chẽ, hiệu quả chưa cao. Việc phân định trách nhiệm của người đứng đầu trong mối quan hệ với cấp ủy và tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị chưa rõ; chưa phát huy đúng mức vai trò của cá nhân trong tập thể. Việc xây dựng, phát huy vai trò của các cơ quan tham mưu về công tác xây dựng Đảng có lúc, có nơi chưa được quan tâm đúng mức; một bộ phận cán bộ tham mưu chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Trong thời gian tới, để góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 25-10-2018 của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” cần thực hiện đồng bộ một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

Thứ nhất, kiên định những nguyên tắc xây dựng Đảng gắn với thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 25-10-2018 của Bộ Chính trị. Tăng cường tuyên truyền trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về nội dung các nguyên tắc xây dựng Đảng để từ nhận thức sẽ có hành động đúng và tạo sự lan tỏa theo phương châm “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”.

Thứ hai, tập trung xây dựng, thông tin chủ động, chính xác, kịp thời, toàn diện, đúng đối tượng về các hoạt động, sự kiện chính trị, xã hội của đất nước. Nâng cao chất lượng, hiệu quả các chuyên trang, chuyên mục, fanpage, blog, tài khoản mạng xã hội (Zalo, Facebook...) về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Thứ ba, thường xuyên theo dõi, nắm bắt tình hình tư tưởng, kịp thời định hướng dư luận xã hội; thực hiện tốt quy chế phát ngôn, cung cấp thông tin chính thống, kịp thời cho báo chí; công khai kết quả kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng trên các phương tiện truyền thông; xử lý nghiêm những thông tin phản ánh không đầy đủ, phiến diện, tiêu cực một chiều trên báo chí, mạng xã hội.

Thứ tư, quán triệt, thực hiện nghiêm Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về những điều đảng viên không được làm; Quy định số 22-QĐ/TW ngày 28-7-2021 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; Quy định số 69-QĐ/TW ngày 6-7-2022 về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong khai thác, sử dụng internet, mạng xã hội; thường xuyên tuyên truyền đến cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động và các tầng lớp nhân dân nêu cao tinh thần cảnh giác, không tham gia bình luận tiêu cực hoặc chia sẻ những thông tin xấu độc trên không gian mạng./.

Đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc bản chất Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

 

Đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc bản chất Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Cử tri xã Đăk Blà (Kon Tum) phát biểu tại buổi tiếp xúc Hội đồng Nhân dân 2 cấp.

Cử tri xã Đăk Blà (Kon Tum) phát biểu tại buổi tiếp xúc Hội đồng Nhân dân 2 cấp.

Đề cập đến bản chất của Nhà nước Việt Nam hiện nay, các thế lực thù địch thường xuyên tuyên truyền những quan điểm sai trái, phản động rằng quyền lực nhà nước thống nhất không có sự phân chia, kiểm soát, đối trọng lẫn nhau nên tất yếu dẫn đến tình trạng tha hóa quyền lực, lạm quyền, lộng quyền của những người trong bộ máy nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để đem lại lợi ích cho chính họ, từ đó vi phạm quyền làm chủ và xâm hại đến lợi ích của nhân dân; Đảng đứng trên Nhà nước, thâu tóm và thao túng quyền lực nhà nước để mưu cầu lợi ích riêng, lợi ích nhóm từ đó dẫn đến hàng loạt các sai phạm nghiêm trọng trong quá trình vận hành đất nước, phát triển kinh tế-xã hội...

Trước hết, cần phải khẳng định rằng, quyền lực của Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là thống nhất bởi đó là quyền lực của nhân dân cho nên không thể có sự phân chia cho bất kỳ cá nhân, tổ chức nào trong bộ máy nhà nước. Quyền lực nhà nước dẫu là lập pháp, hành pháp hay tư pháp đều có chung một nguồn gốc thống nhất là từ nhân dân mà ra, do nhân dân ủy quyền, giao quyền cho những người trong bộ máy nhà nước. Đây là nguyên tắc thể hiện bản chất dân chủ của Nhà nước.

Mặc dù quyền lực nhà nước là thống nhất không có sự phân chia, tuy nhiên do nhận thức được thực tế: quyền lực nhà nước được nhân dân ủy quyền cho các cá nhân, con người, tổ chức cụ thể trong bộ máy nhà nước nên luôn tiềm ẩn nguy cơ có thể bị tha hóa và sử dụng sai mục đích khiến cho quyền lực đó không còn thuộc về nhân dân, không vì lợi ích của nhân dân mà thuộc về những người, những tổ chức được trao quyền lực, nắm quyền lực, cho nên, cùng với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền, bảo đảm cho mọi tổ chức và hoạt động của Nhà nước đều trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật, ngay từ sớm vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam đặt ra như là một yêu cầu tất yếu, bắt buộc để giữ đúng bản chất dân chủ của Nhà nước. Cương lĩnh bổ sung, phát triển 2011 và khoản 3, Điều 2, Hiến pháp 2013 khẳng định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

Hiến pháp 2013 còn quy định rõ, cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ chế kiểm soát lẫn nhau của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, theo đó: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước” (Điều 69); “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội.

Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước” (Điều 94); “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” (Khoản 1, Điều 102), “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” (Khoản 2, Điều 103). Những quy định này đồng thời được cụ thể hóa trong các luật: Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Tòa án Nhân dân...

Như vậy, quyền lực Nhà nước Việt Nam là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tuyệt đối không hề có sự mập mờ tạo điều kiện cho tình trạng lạm quyền, lộng quyền, sử dụng quyền lực sai mục đích của các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước.

Mặt khác, việc Hiến pháp, pháp luật quy định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước còn là cơ sở để nhân dân thông qua dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện giám sát mọi tổ chức và hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước, từ đó đánh giá được hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện các quyền cũng như kịp thời phát hiện, tố giác để xử lý các hành vi sai phạm trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức này.

Bên cạnh đó, một trong những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo để kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước, bảo đảm quyền lực nhà nước được sử dụng đúng mục đích vì lợi ích của dân.

Đây là yêu cầu tất yếu bởi “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2011, tr.88). Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân, lợi ích chung của dân tộc. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng đều xuất phát từ lợi ích của nhân dân và quay trở lại phục vụ cho lợi ích chung của nhân dân.

Đảng lãnh đạo Nhà nước không có nghĩa là Đảng đứng trên Nhà nước, làm thay Nhà nước, đứng trên, đứng ngoài Hiến pháp, pháp luật Nhà nước ban hành mà là để bảo đảm giữ đúng bản chất dân chủ của Nhà nước. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc cán bộ, đảng viên trong Đảng vừa phải tuân thủ Điều lệ Đảng đồng thời phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật do Nhà nước ban hành trên cơ sở thể chế hóa các chủ trương, đường lối phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng vì lợi ích chung của nhân dân và sẽ bị xử phạt nghiêm minh nếu vi phạm pháp luật. Đảng lãnh đạo Nhà nước là để tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo đảm cho quyền lực này được sử dụng đúng mục đích. Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua phương thức lãnh đạo rõ ràng được ghi nhận trong Cương lĩnh và các Văn kiện Đại hội Đảng.

Kế thừa, bổ sung, phát triển quan điểm của Cương lĩnh bổ sung, phát triển 2011 và các Đại hội trước đó, đề cập đến phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định rõ: “Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng Cương lĩnh, chiến lược, các chủ trương, chính sách lớn, bằng công tác tổ chức, cán bộ, bằng kiểm tra, giám sát; lãnh đạo thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật; lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; lãnh đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách, Hiến pháp và pháp luật; chú trọng lãnh đạo đổi mới, nâng cao chất lượng lập pháp, cải cách hành chính và cải cách tư pháp.

Các tổ chức của Đảng và đảng viên, nhất là tổ chức, đảng viên hoạt động trong các cơ quan nhà nước vừa phải gương mẫu, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, vừa phải nêu cao vai trò tiên phong trong thực hiện chủ trương, đường lối, các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2021, t.1, tr.196-197). Từ đây có thể khẳng định, chỉ có giữ vững được sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Nhà nước thì quyền lực nhà nước mới được kiểm soát chặt chẽ, bảo đảm được tổ chức, thực thi vì lợi ích chung của nhân dân và cũng chỉ khi đó Nhà nước mới thật sự là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Thời gian tới, để sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước đạt được mục tiêu giữ vững bản chất dân chủ của Nhà nước, để quyền lực nhà nước, chính quyền nhà nước thật sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân thì cần thiết phải tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch vững mạnh về mọi mặt, đặc biệt là phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nói riêng và đối với hệ thống chính trị nói chung đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới theo tinh thần Đại hội XIII và Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới.

Thực tế, những quan điểm thù địch xuyên tạc bản chất của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa luôn nhằm hướng tới mục tiêu làm thay đổi bản chất dân chủ của Nhà nước, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nhằm làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói riêng và quá trình xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay nói chung.

Do đó, mỗi người dân Việt Nam cần luôn đề cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện rõ bản chất xấu xa và mục đích đen tối của các thế lực thù địch và kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong tình hình mới./.

 CÁI GÌ TỒN TẠI LÀ HỢP LÝ VÀ CÁI GÌ HỢP LÝ SẼ TỒN TẠI



 Trong thời đại công nghệ thông tin, lướt trên mạng xã hội, chúng ta được tiếp nhận một lượng thông tin đa dạng, khổng lồ. Chỉ cần nhập một từ khóa là đã “nhảy ra” hàng loạt nội dung thông tin gợi ý. Rõ ràng, những tiện ích của kỷ nguyên công nghệ thông tin sẽ làm cho cuộc sống chúng ta tốt hơn nếu đó là những thông tin tích cực. Tuy nhiên, có những người luôn tung ra những thông tin thất thiệt gây nhiễu loạn, đánh lừa tư duy nhận thức xã hội, tạo scandal tiêu cực, phản cảm... Lượng thông tin “hạ cám” này như “trăm hoa đua nở” nhằm mục đích giựt gân, câu like... nhằm kiếm thù lao từ nhà mạng. Dạng thông tin này đang được khai thác khá đậm đặc, bao phủ nhiều lĩnh vực trong đời sống. Bên cạnh đó, không ít người nhân danh dân chủ, nhân quyền, tôn giáo... để chống phá, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Những chiêu trò này không mới, được các thế lực thù địch tận dụng thực hiện trên hầu hết các kênh, mạng xã hội, hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân ta, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Triết gia duy tâm siêu hình Hegel từng nói: “Cái gì tồn tại là hợp lý, cái gì hợp lý sẽ tồn tại”. Trong thế giới vật chất, mọi hiện tượng xã hội tồn tại đều có cái lý hợp lý của nó. Nếu nó không thỏa cái lý nhân và quả hợp lý tất yếu nó sẽ không tồn tại. Và nhân loại đã tồn tại, phát triển đúng cái lý tồn tại như Hegel tổng kết. Lịch sử dân tộc Việt Nam từng trải qua những giai đoạn lịch sử đầy bi thương nhưng rất đỗi hào hùng. Tất cả mất mát, đau thương đó được dân tộc ta đẩy lùi vào quá khứ, vững bước tiến lên dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong gần 1 thế kỷ qua. Từ đêm trường nô lệ, nhân dân ta đã vùng lên chiến đấu, thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ! Thành quả rực rỡ là chỉ sau 15 năm có Đảng, cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại thành công đã khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 02/9/1945. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu, nước ta đã làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu ngày 07/5/1954. Tiếp đó là 21 năm trường kỳ đánh Mỹ, kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử làm nên Đại thắng ngày 30/4/1975. Từ đây, đất nước ta thực sự được giải phóng, cởi bỏ ách nô dịch thực dân, đế quốc. Tổ quốc Việt Nam liền một dải, dân tộc Việt Nam được sống trong độc lập, hòa bình, vững bước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Gần nửa thế kỷ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đi qua với biết bao thăng trầm, thách thức trong thế bị bao vây cấm vận; hậu quả nặng nề của chiến tranh, nạn thiên tai, địch họa dồn dập ập tới những năm 1978-1979 ở 2 đầu biên giới như “3 xôi nhồi 1 chõ” càng làm cho nền KT-XH tưởng chừng như không thể vượt qua được. Tuy nhiên, “đá thử vàng, gian nan thử sức”, một lần nữa, dân tộc ta lại “chung lưng đấu cật” gắn bó thành một khối dưới sự lãnh đạo của Đảng, đổi mới tư duy và hành động bắt đầu từ “những việc cần làm ngay”, “những việc cần đột phá”... Đặc biệt, qua 37 năm thực hiện đường lối đổi mới, nước ta đã bứt phá ngoạn mục. Tốc độ đô thị hóa, xây dựng nông thôn mới, kết cấu hạ tầng giao thông, trường học, mạng lưới chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng hiện đại. Trong đại dịch Covid-19, Việt Nam cũng được thế giới đánh giá cao về công tác phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh. Rõ ràng không có sự phản biện, phản bác nào tốt nhất, hiệu quả nhất bằng thực tiễn cuộc sống. Những thành quả KT-XH sau gần 1 thế kỷ dưới sự lãnh đạo của Đảng là minh chứng hùng hồn, đập tan mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, những lời rêu rao mị dân của những người nhân danh “dân chủ”. Gần 1 thế kỷ dẫn dắt dân tộc Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giương cao ngọn cờ chính nghĩa, sáng suốt hoạch định chiến lược, sách lược cho từng giai đoạn cách mạng. Tất nhiên, trong từng giai đoạn, có lúc, có nơi và cũng có một số cán bộ suy về thoái tư tưởng chính trị, tha hóa về đạo đức, lối sống, tham nhũng, lạm quyền gây búc xúc, suy giảm lòng tin của nhân dân. Từ những “con sâu làm rầu nồi canh” này, các thế lực thù địch đã lợi dụng khoét sâu, khuếch đại để xuyên tạc, chống phá. Nhìn nhận đúng tình hình, Đảng ta luôn xem công tác xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng chính quyền của dân, do dân, vì dân. Thời gian qua, nhiều tập thể, cá nhân vi phạm đã bị xử lý thích đáng dù ở bất cứ cấp nào, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Đảng ta kiên quyết loại bỏ những kẻ “sâu dân, mọt nước”; đề bạt cán bộ có đức, có tài, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, luôn đặt lợi ích của Tổ quốc và nhân dân lên trên hết. Đây là cuộc đấu tranh kiên trì, lâu dài và phải tập trung quyết liệt như lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú trọng đã nêu. Trong gần 100 năm có Đảng lãnh đạo, dân tộc Việt Nam đã vượt bao thác ghềnh, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác một cách vẻ vang, nâng cao uy tín, vị thế trên trường quốc tế. Quốc tế đã có tổng kết về Việt Nam với 3 cốt lõi: Là quốc gia có nền chính trị - xã hội ổn định nhất, kiên trì mục tiêu Độc lập - Tự do - Hạnh phúc cho nhân dân; là quốc gia thân thiện, có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, luôn liên kết mở rộng ban giao vì lợi ích chung hòa bình, hữu nghị, cùng hợp tác phát triển bền vững; công tác phòng, chống tiêu cực, tham nhũng ngày càng hiệu quả, tạo môi trường lành mạnh đáng sống. “Dù ai nói ngả nói nghiêng/Lòng ta vẫn vững như kiềng 3 chân”. Câu ca dao của cha ông luôn nhắc nhớ chúng ta phải kiên định lập trường, khẳng định con đường đi lên của dân tộc. Đó chỉ có thể là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Và chỉ có con đường này mới giữ vững độc lập, chủ quyền, bảo vệ toàn vẹn Tổ quốc, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, xây dựng xã hội ưu việt quyền lực thuộc về nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng./. 

Tỉnh táo, nhận diện đúng các luận điệu xuyên tạc về đổi mới chính trị - xã hội ở Việt Nam

 

Tỉnh táo, nhận diện đúng các luận điệu xuyên tạc về đổi mới chính trị - xã hội ở Việt Nam

Ảnh minh họa / Tuyengiao.vn

Ảnh minh họa / Tuyengiao.vn

Thế nhưng, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, bất mãn vẫn cố tình phủ nhận những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, nhất là đổi mới trên lĩnh vực chính trị, xã hội. Họ ra sức xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta trên tất cả lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại...

Thủ đoạn tinh vi, khó lường  

Về chính trị: Trước hết, họ tập trung phê phán, xuyên tạc, chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền lãnh đạo đất nước, họ cho rằng, đó là “chế độ đảng trị”, độc tài, mất dân chủ. Họ còn lợi dụng cụm từ “dưới sự lãnh đạo của Đảng” để xuyên tạc rằng, đó là bằng chứng của vấn đề “Đảng đứng trên luật pháp”, “quyền lực xã hội tập trung vào một số ít cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản”, “Đảng bao biện làm thay Nhà nước”... Vấn đề Nhà nước, họ xuyên tạc rằng: “Nói là Nhà nước pháp quyền, nhưng trên thực tế, luật pháp không được tôn trọng...”; “hệ thống tổ chức, bộ máy cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả”... Đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, họ cho rằng: “Hoạt động chỉ là hình thức, kém hiệu quả”... Vấn đề xã hội, họ cho rằng: "Mất dân chủ, vi phạm nhân quyền...". 

Nhận diện những vấn đề trên là một hoạt động khó khăn, phức tạp. Bởi lẽ, các đối tượng thường sử dụng internet, mạng xã hội Facebook, YouTube, Twitter, Zalo... và các phương tiện truyền thông khác như các đài phát thanh, truyền hình VOA, RFA, BBC, RFI... để tuyên truyền xuyên tạc, chống phá bằng những thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc, khó lường. Một trong những thủ đoạn nguy hiểm nhất mà họ thường sử dụng, đó là mượn các thông tin, sự kiện có thật đã xảy ra, được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng hay được phát tán thông qua mạng xã hội để lồng ghép, biên tập, sửa chữa và thêm thắt các tình tiết ngụy tạo, bóp méo rồi được tung ra như một dạng thông tin chính thống. Sau đó, thông qua các hình thức tán phát, như bình luận theo chuyên đề, kể chuyện lịch sử, hội luận, ý kiến chuyên gia, người trong cuộc, ngoài cuộc... để xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo lịch sử, bóp méo sự thật. Cuối cùng, thông qua sự tương tác, bình luận (comment), ý kiến người đọc, người xem để định hướng dư luận theo ý đồ của họ. Với những thủ đoạn tinh vi, dàn dựng khá bài bản, có thể họ đã lừa phỉnh được một số người còn thiếu thông tin, nhận thức hạn chế, phiến diện. Thậm chí, có cả một bộ phận cán bộ, đảng viên còn mơ hồ, dao động, đã cố tình hoặc vô ý cổ xúy, tiếp sức cho các luận điệu sai trái, phản động, biểu hiện của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

Từ việc nhận rõ bản chất âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đối với công cuộc đổi mới đất nước nói chung, đổi mới trên lĩnh vực chính trị-xã hội nói riêng, chúng ta thấy rằng, vấn đề chính trị-xã hội ở Việt Nam luôn là mối quan tâm, chống phá hàng đầu của các đối tượng này. Bởi đây là vấn đề hệ trọng, liên quan đến sự ổn định và phát triển đất nước. Mục tiêu sâu xa của chúng là gây mất ổn định chính trị, xã hội, mất lòng tin của quần chúng đối với Đảng, Nhà nước, tất yếu dẫn tới rối loạn chính trị-xã hội, khủng hoảng và sụp đổ, dẫn tới xóa bỏ chế độ chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, thành quả cách mạng của đất nước, nhân dân ta.

Thực tế sinh động, minh chứng thuyết phục

Thành tựu sau hơn 36 năm đổi mới toàn diện đất nước đã khẳng định tính đúng đắn, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mô hình phát triển đất nước do Đảng, nhân dân ta lựa chọn. Đó là, minh chứng thuyết phục nhất để bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực phản động, thù địch. Nhìn lại lịch sử, những thành tựu đất nước đã đạt được trong công cuộc đổi mới, trong đó có đổi mới chính trị-xã hội với bước đi, hình thức phù hợp “toàn diện, đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(1). Cho đến nay, ở Việt Nam, không có tổ chức chính trị nào có thể thay thế được vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về năng lực điều hành, quản lý đất nước có nhiều chuyển biến mang tính đột phá. Hoạt động của Nhà nước về thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng với quyết tâm cao, hiệu quả thiết thực. Phát huy được mọi nguồn lực, động lực và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa; tháo gỡ nhanh, hiệu quả các điểm nghẽn, vướng mắc; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu gắn với phát huy sức mạnh đồng bộ của cả hệ thống chính trị; phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương; thực hiện tốt sự phối hợp trong lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước; coi trọng chất lượng và hiệu quả thực tế; tạo đột phá để phát triển. Chính phủ và các bộ tập trung hơn vào quản lý, điều hành vĩ mô và năng động giải quyết những vấn đề lớn, quan trọng. Cải cách hành chính tiếp tục được chú trọng và đạt kết quả tích cực.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, với phương châm “Hướng mạnh về cơ sở, địa bàn dân cư, thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội”(2) đã phát huy tốt chức năng, vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân, là cầu nối quan trọng giữa Đảng và nhân dân. Củng cố được lòng tin, sự gắn bó của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Những kết quả tích cực đó tạo ra nhiều thay đổi lớn trong đời sống xã hội, dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy, mở rộng hơn, người dân được thông tin, giám sát hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị, quyền làm chủ của nhân dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, nhất là trong lĩnh vực kinh tế và chính trị được phát huy tốt hơn. Hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách ngày càng thích ứng với thông lệ quốc tế, tính nghiêm minh trong thực hiện cao hơn.

Những kết quả đó khẳng định rằng đổi mới chính trị ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, trực tiếp là cơ sở để đất nước có được bước phát triển to lớn như hiện nay. Mặt khác, những hạn chế, yếu kém, sai lầm, khuyết điểm được Đảng, Nhà nước thẳng thắn chỉ rõ, như: Đổi mới chính trị chưa đồng bộ với đổi mới kinh tế, năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị chưa ngang tầm nhiệm vụ. Một số hạn chế, vướng mắc chậm được giải quyết, thậm chí kéo dài trong một số nhiệm kỳ, làm cho vận hành của các tổ chức trong hệ thống chính trị trong một số trường hợp thiếu thống nhất, thông suốt; việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế và quản lý đất nước; chưa chế định rõ, đồng bộ, hiệu quả cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở các cấp. Từ đó, nhiều tiềm năng, thế mạnh của đất nước chưa được phát huy đầy đủ... những hạn chế đó không thể ngày một, ngày hai có thể khắc phục triệt để mà phải có một quá trình khắc phục kết hợp với đổi mới lâu dài, khó khăn, phức tạp. Vấn đề là Đảng, Nhà nước đã thẳng thắn nhìn nhận và khắc phục với quyết tâm cao nhất.

Từ thực tiễn thành tựu và những hạn chế về đổi mới chính trị-xã hội ở Việt Nam trong sự phát triển của đất nước cho thấy, những kết quả đạt được là cơ bản, to lớn và có ý nghĩa lịch sử, càng khẳng định con đường, mô hình phát triển đất nước là đúng hướng; những hạn chế, thiếu sót khuyết điểm không làm thay đổi bản chất, tính đúng đắn, ưu việt của chế độ chính trị, nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng. Đồng thời, là luận cứ đanh thép nhất phản bác những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực phản động, thù địch, cơ hội chính trị thời gian qua.

Trung tá, nghiên cứu sinh LÊ ĐỨC THẮNG

(Nghiên cứu viên Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn Quân sự)

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, 2021, tr.26.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, 2021, tr.43./.