Chủ Nhật, 24 tháng 12, 2023

VIỆT NAM: ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN TRẦN THỊ CHI GIÀNH GIẢI NHẤT QUỐC TẾ

 Từ top 100 toàn thế giới, đồ án tốt nghiệp “Bảo tàng văn hóa biển miền Trung, Bình Thuận” của nữ sinh viên Việt Nam đã chinh phục giải thưởng cao nhất của cuộc thi International Graduation Project Award 2023.

Cuối tuần qua, Trần Thị Chi - sinh viên Khóa 24 ngành Kiến trúc Trường ĐH Văn Lang, nhận “quà Noel sớm” khi trở thành người chiến thắng của International Graduation Project Award 2023 - một trong 8 cuộc thi thuộc khuôn khổ Tamayouz Excellence Award, giải thưởng dành cho sinh viên nhóm ngành Kiến trúc, Thiết kế đô thị, Quy hoạch đô thị, Công nghệ kiến trúc và Thiết kế cảnh quan trên toàn thế giới.
Đây là giải thưởng nhằm mục đích tôn vinh những đồ án tốt nghiệp xuất sắc của sinh viên Kiến trúc trên toàn thế giới, giới thiệu các đồ án tiêu biểu đến cộng đồng, góp phần thúc đẩy và khơi gợi góc nhìn mới, đa văn hóa, đa sắc màu trong lĩnh vực. Năm 2023, giải thưởng thu hút 422 đồ án tốt nghiệp của các sinh viên đến từ 141 trường đại học từ 36 quốc gia trên thế giới.
Với danh hiệu Quán quân, Chi sẽ nhận được suất học bổng Thạc sĩ 2 năm tại Trường ĐH Polytechnic Milan (Ý) - trường đại học kỹ thuật lớn nhất nước Ý và có lịch sử lâu đời nhất tại kinh đô thời trang Milan.
Sự lựa chọn vào “giờ chót”
Chi nhớ lại 5 năm trước, trước khi thi tốt nghiệp THPT 2 tháng, cô vẫn chưa chọn được ngành học ở đại học.
“Kiến trúc đến với em như một cái duyên, bởi ở quê em – Lagi, Bình Thuận - khái niệm về “kiến trúc” thật mơ hồ. Sau đó, với sự góp ý của thầy giáo chủ nhiệm, em mới tò mò tìm hiểu và đăng kí tất cả các nguyện vọng thi kiến trúc.
Em bắt đầu học kiến trúc với nhiều sự ngỡ ngàng, vì nó quá khác so với tưởng tượng. Trong thời gian đầu học đại học, đôi lúc em đã phải nghĩ đến trường hợp chuyển ngành. Phải sau năm 3, khi kết quả học tập tốt hơn, em mới tự tin hơn và biết rằng bản thân đang đi đúng hướng”.
Sau 5 năm học tập, cô bắt tay vào thực hiện đồ án tốt nghiệp, là “một thứ gì đó khá “thiêng liêng” đối với sinh viên kiến trúc. Bởi đồ án không chỉ đơn thuần là một bài báo cáo quá trình học tập của 5 năm ở giảng đường mà còn là cơ hội bày tỏ tình cảm cá nhân với những gì mình yêu mến.
Được sinh ra và lớn lên ở vùng đất ven biển Lagi - Bình Thuận, vùng đất của nắng và gió thì biển là thứ gắn liền với tuổi thơ của Chi. Vì vậy, Chi mong muốn làm một thứ gì đó có thể đóng góp và phát triển cho quê hương của mình. Và chủ đề “Bảo tàng Văn hóa biển” chính là gói ghém giấc mơ của cô từ nhỏ.
“Đối với ngành thiết kế nói chung và thiết kế kiến trúc nói riêng, phương pháp làm việc khoa học quyết định khá lớn đến kết quả.
Giai đoạn đặt vấn đề cho đề tài, cho đồ án là một giai đoạn rất khó khăn và nhiều phức tạp. Vấn đề rất nhiều, nhưng để chọn ra vấn đề cốt lõi cần giải quyết phải cần có nhiều phương pháp làm việc khác nhau. Để tìm ý trong giai đoạn Brainstorming, em đã in, cắt dán đầy khắp 2 bức tường phòng mình. Các hình ảnh “pin up” trên tường đã “sống” chung với em suốt 8 tháng thực hiện đồ án".
Chi may mắn được sự hướng dẫn chuyên nghiệp từ các thầy cô trong trường và giảng viên hướng dẫn tốt nghiệp. Từ đó, phương pháp làm việc chính xác không còn là rào cản mà chính là động lực để cô tìm ra cũng như giải quyết các vấn đề gặp phải trong đồ án. Câu slogan “thinking by doing” có thể nói bao quát được quá trình thực hiện đồ án của Chi.
“Em không đặt mục tiêu lớn và kiếm cách đạt được nó ngay lập tức. Mà trong quá trình làm việc, mình giải quyết.
Đồ án tốt nghiệp là một cột mốc khá quan trọng, dường như nó làm em thay đổi về cách nhìn kiến trúc, cảm nhận không gian, cách trình bày, sự chỉn chu... về khối lượng bản vẽ và mô hình đồ án. Em vượt qua được giới hạn của bản thân và còn có thể đạt yêu cầu của giáo viên hướng dẫn.
Sau dấu mốc này, em sẽ gặp nhiều khó khăn khi đi làm, chỉ mong rằng bản thân sẽ thử, sai và đúng để có nhiều trải nghiệm hơn. Em cảm thấy may mắn, khi gặp những người thầy đúng lúc và đúng thời điểm, em chân thành biết ơn”.
Giải nhất từ nỗ lực và… sự tò mò
Với đồ án “Bảo tàng Văn hóa biển”, Trần Thị Chi làm hồ sơ nộp giải thi Loa Thành - giải đồ án tốt nghiệp xuất sắc của sinh viên kiến trúc trong nước (Chi đã đoạt giải nhì giải Nhì cuộc thi này – PV) và cuộc thi Tamayouz diễn ra sau đó.
“Trong khoảng thời gian vài năm gần đây, em cảm thấy sự hội nhập quốc tế của các sinh viên Việt Nam đã phát triển rất rõ rệt. Rất nhiều anh chị khóa trên ở các trường đào tạo kiến trúc trong nước đã đạt được nhiều thành tích cao ở đấu trường quốc tế. Sự thành công của các anh chị đã là nguồn động lực lớn cho lứa sinh viên đang học tập sự tự tin và những kiến thức thi cử quốc tế khá bổ ích.
Như năm ngoái, đồ án thủ khoa tốt nghiệp Trường ĐH Kiến Trúc TP. Hồ Chí Minh đã đạt giải Nhì đồ án sinh viên quốc tế Tamayouz. Cảm hứng từ các anh chị đi trước truyền lửa cho các thế hệ sau mạnh dạn thử sức với các đồ án tốt nghiệp kiến trúc sư các nước trên thế giới.
Do đó, sau khi hoàn thành và nộp bài dự thi trong nước, em rất tò mò muốn biết vị trí của đồ án tốt nghiệp của mình được đánh giá thế nào ở môi trường quốc tế. Em hiểu rằng, đây là cơ hội để mình có thể lắng nghe những đánh giá từ những người chuyên môn quốc tế” – Chi chia sẻ.
Tamayouz là một cuộc thi được tổ chức rất bài bản và phải qua nhiều vòng tuyển chọn. Ở mỗi vòng, ban tổ chức đều thông báo kết quả của từng chặng, vòng top 100, top 50, top 20, top 10 và top 3 cùng bài “Winner“. Sự bài bản và thời gian công bố từng chặng kéo dài cũng tạo được rất nhiều niềm vui trong suốt quá trình nhận thông tin kết quả.
“Em luôn đánh giá rất cao tất cả các đồ án và ý tưởng của các ứng viên. Nhưng cũng chính vì đánh giá cao đó, em cảm thấy khá tự hào khi đến vòng top 20 vẫn có đến 7 ứng viên từ Việt Nam. Các bạn cũng tiếp cho em sự tự tin và mong chờ đến những điều tốt đẹp nhất…
Thật sự, việc trở thành “winner” quán quân cùng các bạn quốc tế đồng trang lứa cùng học ngành kiến trúc đã khiến em rất bất ngờ”.
Hiện nay, Chi đã xin được việc làm và khởi đầu công việc với một công ty kiến trúc chuyên nghiệp. Cô đang học hỏi rất nhiều từ anh chị kiến trúc sư đồng nghiệp và kiến thức thực tế. Cô cũng đã có dự định học tiếp để nâng cao kiến thức cũng như tiếp cận được khoa học nghiên cứu để phục vụ cho việc thiết kế.
“Được học bổng thạc sĩ 2 năm ở trường Polytechnic Milan Italy, em rất vui và tự hào với chính bản thân. Cơ hội này quá lớn với sự tưởng tượng của em. Em sẽ thực hiện tiếp “giấc mơ đồ án tốt nghiệp” ra đến “hiện thực” ở Polytechnic Milan" - Chi mong muốn./.
St

17.808 cán bộ đảng viên, công chức, viên chức bị kỷ luật trong năm 2023

 Bộ Nội vụ cho biết, trong năm 2023 (từ ngày 1-1 đến 15-12-2023), tổng số cán bộ đảng viên, công chức, viên chức bị kỷ luật là 17.808 người. Số lượng cán bộ, công chức, viên chức nghỉ việc, thôi việc là 10.880 người (trong đó: Trung ương 983 người, gồm 110 công chức, 873 viên chức; địa phương là 9.897 người, gồm 866 công chức và 9.031 viên chức).

Năm 2023, Bộ Nội vụ đã tập trung nghiên cứu, rà soát, đề xuất Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý cán bộ, công chức, viên chức, trong đó có nhiều nội dung đổi mới cơ chế quản lý, đẩy mạnh phân cấp và cải cách thủ tục hành chính trong các khâu tuyển dụng, nâng ngạch công chức, xét thăng hạng viên chức, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, đánh giá, kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ, liên thông giữa các quy định của Đảng và yêu cầu thực tiễn đổi mới công vụ, công chức. Bộ cũng tiếp tục hoàn thiện quy định, cơ chế để sàng lọc, thay thế kịp thời những người thiếu trách nhiệm, năng lực hạn chế…
Đặc biệt, Bộ Nội vụ tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định số 73/2023/NĐ-CP thể chế hóa chủ trương của Đảng về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, tạo cơ sở quan trọng để khắc phục tình trạng không ít cán bộ sợ sai, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, không dám làm khiến công việc nhiều nơi bị trì trệ, gây ách tắc. Qua đó, tạo thêm động lực để cán bộ, công chức tự tin, bản lĩnh hơn khi đương đầu với khó khăn, thử thách trong thực thi nhiệm vụ, công vụ. Đến nay, đã có nhiều địa phương ban hành văn bản triển khai Nghị định số 73, như: Thành phố Hồ Chí Minh, Ninh Bình, Bình Phước, Hải Dương, Quảng Nam.
Thực hiện thu hút, trọng dụng, đãi ngộ nhân tài vào hệ thống cơ quan nhà nước và chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức là người dân tộc thiểu số phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế, Bộ Nội vụ đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Chiến lược quốc gia thu hút, trọng dụng nhân tài đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 để các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện. Bộ báo cáo Ban cán sự đảng Chính phủ trình Bộ Chính trị về “Đề án thí điểm mở rộng việc bố trí Chủ tịch UBND, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân, Chánh Thanh tra cấp tỉnh, cấp huyện và cán bộ lãnh đạo cấp trưởng các ngành công an, thuế, hải quan… không phải là người địa phương”.
Đồng thời, Bộ Nội vụ triển khai các nhiệm vụ, giải pháp để tổ chức việc thống nhất kiểm định chất lượng đầu vào công chức nhằm nâng cao chất lượng tuyển dụng và tiết kiệm ngân sách, thời gian, công sức trong tổ chức tuyển dụng; tiếp tục tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, tham mưu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thực hiện chủ trương của Đảng về kịp thời thay thế cán bộ năng lực hạn chế, uy tín giảm sút, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm.
Bộ đã báo cáo về thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp chấn chỉnh, khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy, làm việc cầm chừng, sợ trách nhiệm, không dám làm trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan hành chính nhà nước; báo cáo, đề xuất Thủ tướng Chính phủ hoàn thiện các quy định của pháp luật nhằm tạo môi trường, hành lang pháp lý an toàn, đầy đủ cho các bộ, cơ quan, địa phương yên tâm thực hiện chức trách, nhiệm vụ, công vụ theo quy định; hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương thực hiện nghiêm quy định của Đảng, pháp luật về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức./.
ST

Chiến sĩ của con tàu bảo vật quốc gia

 Tàu C41 (sau này là HQ 671), con tàu được công nhận là bảo vật quốc gia đang được lưu giữ, trưng bày tại Bảo tàng Hải quân. Một trong số cán bộ, chiến sĩ từng công tác trên Tàu C41 là cựu chiến binh Trần Văn Lịch, trú tại phố Đình Đông, quận Lê Chân, TP Hải Phòng.


Sau nhiều lần hẹn, gần đây, tôi được gặp cựu chiến binh Trần Văn Lịch tại nhà riêng. Ở tuổi 82 nhưng ông vẫn nhanh nhẹn, trí nhớ tốt. Ông cho biết, từ tháng 10-2022, dù đã thôi tham gia Ban lãnh đạo Hội truyền thống Đường Hồ Chí Minh trên biển Việt Nam và Hội truyền thống Đường Hồ Chí Minh trên biển TP Hải Phòng nhưng ông vẫn dự các buổi sinh hoạt hội, nói chuyện truyền thống giáo dục thế hệ trẻ...
Cựu chiến binh Trần Văn Lịch kể: “Tháng 2-1964, tôi nhập ngũ. Hàng trăm chiến sĩ đợt nhập ngũ cùng tôi được huấn luyện ở Tiên Yên (Quảng Ninh). Sau 3 tháng, tháng 5-1964, Đoàn 125 Hải quân đến nhận và đưa chúng tôi về Đồ Sơn (Hải Phòng) huấn luyện tiếp tại K35. Tháng 10-1964, tôi được bổ sung xuống Tàu C41. Thuyền trưởng khi ấy là đồng chí Hồ Đắc Thạnh, người Phú Yên (sau này được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân) và Chính trị viên Trần Hoàng Chiến, quê ở Vĩnh Long. Tàu được biên chế khoảng 20 cán bộ, chiến sĩ. Trên tàu còn một số cán bộ đi cùng để chi viện cho tiền tuyến miền Nam...
Trước khi Tàu C41 rời bến, chúng tôi được lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, tổ chức đảng, đoàn thanh niên gặp gỡ, động viên. Trong hải trình thực hiện nhiệm vụ, trên tàu, chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn phải khắc phục, nhất là hạn chế về phương tiện, khí tài hàng hải. Tàu chỉ có la bàn, máy đo phương vị, thế nhưng toàn tàu vẫn đi đúng hướng, bởi thuyền trưởng dày dạn kinh nghiệm, thông thạo hải trình, nhiều năm đi biển và lái tàu rất giỏi. Tàu tới đâu có người ở đó đón, từ Vũng Rô cho tới Cà Mau... Có chuyến đi tới Vũng Rô thì Tàu C41 gặp địch, nhưng Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh vẫn bình tĩnh đưa con tàu vòng tránh, không đối đầu với địch”.
Từ năm 1964 đến 1970, ông Lịch có 3 chuyến đi cùng Tàu C41. Ông nhớ mãi một lần tàu bị mắc cạn ở khu vực quần đảo Hoàng Sa. “Đã có hai tàu của ta bị mắc cạn ở Hoàng Sa không ra được, ta phải lấy vũ khí rồi hủy tàu. Tàu C41 cũng bị rơi vào cảnh tương tự, mắc cạn đúng thời điểm tôi trực quan sát. Tuy nhiên, toàn tàu bình tĩnh, quyết tâm vượt cạn và rất may mắn là đến khoảng 3-4 giờ sáng hôm sau, tàu được kéo ra khỏi bãi cạn, tiếp tục hành trình đến đúng địa điểm”, ông Lịch nhớ lại.
Khi chúng tôi đang trò chuyện, một người phụ nữ bước vào, ông Lịch giới thiệu đó là vợ của ông và chia sẻ về câu chuyện tình yêu trong chiến tranh của ông bà. Năm 1960, chàng trai đất cảng ra Quảng Ninh làm thợ cơ khí ở Hòn Gai. Rồi ông quen bà, một cô gái xinh đẹp, quê ở Quảng Ninh. Năm 1964, ông đi bộ đội, bà cũng rời vùng mỏ đi học ở Hà Nội và sau đó làm giáo viên tại một trường kỹ thuật.
Kể từ thời điểm ấy, hai người cách xa nhau. Nhiệm vụ của người thủy thủ trên Tàu không số là nhiệm vụ đặc biệt, phải tuyệt đối giữ bí mật và không có chế độ phép. Thư từ gửi cho ai đều phải giữ bí mật về nhiệm vụ và đơn vị. Đó là những nguyên tắc phải tuyệt đối chấp hành. Thế nên thỉnh thoảng ông mới viết được bức thư gửi thăm người yêu. “Năm 1968, sau khi báo cáo và được tổ chức đồng ý, tôi lên Hà Nội tổ chức lễ cưới. Thời chiến, đám cưới tổ chức đơn giản nhưng với tôi, đó là một kỷ niệm không thể quên trong cuộc đời. Sau đó tôi đưa vợ về Hải Phòng sinh sống và công tác”, ông Lịch cho biết.
Năm 1970, ông Trần Văn Lịch chuyển công tác về một đơn vị thuộc Quân khu 3, sau đó chuyển ngành sang các cơ quan dân sự ở Hải Phòng cho đến khi nghỉ hưu./.
ST

"...GIÁO CŨNG NHƯ LƯƠNG, ĐOÀN KẾT KHÁNG CHIẾN ĐỂ TỔ QUỐC ĐƯỢC ĐỘC LẬP, TÔN GIÁO ĐƯỢC TỰ DO"

 “…Chúng ta toàn dân, giáo cũng như lương, đoàn kết kháng chiến để Tổ quốc được độc lập, tôn giáo được tự do”. Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư gửi đồng bào công giáo nhân dịp Lễ Noel năm 1947.

Đây là thời điểm diễn ra Chiến dịch Việt Bắc Thu-Đông năm 1947, thực dân Pháp tiến hành kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh”, mở cuộc hành quân Xanh-tuya càn quét vùng tứ giác Tuyên Quang - Thái Nguyên - Phủ Lạng Thương - Việt Trì, nhằm tiêu diệt đầu não kháng chiến của Việt Minh, để hoàn tất việc tái chiếm Đông Dương. Nhưng chúng đã bị các lực lượng của ta, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh bại, buộc Pháp phải rơi vào bẫy “đánh lâu, thắng lâu”, kéo căng lực lượng do Việt Minh đã giăng sẵn và cuối cùng là thất bại hoàn toàn vào ngày 7-5-1954 tại Điện Biên Phủ.
Dù ở nơi chiến khu rừng núi xa xôi, đường sá cách trở, dù phải đối mặt với bao hiểm nguy của cuộc càn quét, tấn công tổng lực của thực dân Pháp, dù bận trăm công nghìn việc của Chính phủ lâm thời... nhưng trước sự kiện trong đại của đồng bào công giáo, Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian để viết thư chúc mừng và động viên. Trong thư, Bác Hồ đã nhắn nhủ đồng bào ta, dù giáo cũng như lương phải đoàn kết để kháng chiến chống lại thực dân xâm lược, bảo vệ độc lập của Tổ quốc và tự do cho các tôn giáo.
Đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo là một nội dung quan trọng, nhất quán trong các văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước ta; là truyền thống tốt đẹp ngàn đời của dân tộc ta. Đã là người Việt Nam, dù theo tôn giáo, tín ngưỡng hay không theo tôn giáo, tín ngưỡng nào cũng có chung một dân tộc, đều là con cháu của dòng dõi Lạc Hồng.
Thực hiện chức năng đội quân công tác, các đơn vị quân đội luôn quán triệt sâu sắc và tích cực vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo; sống tốt đời, đẹp đạo, đồng hành cùng dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Kiên quyết đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch xuyên tạc, chống phá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về tôn giáo, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết lương, giáo và truyền bá các tà đạo trái phép; giữ vững và tăng cường mối quan hệ đoàn kết, gắn bó máu thịt quân-dân./.
ST

HƯỚNG TỚI DU LỊCH KHÔNG KHÓI THUỐC LÁ

 Nhiều nơi ở Việt Nam đã và đang hướng tới xây dựng môi trường du lịch không khói thuốc lá, góp phần tạo nên những điểm đến “xanh” ghi điểm trong lòng du khách.

Tăng chuyên nghiệp từ môi trường “không khói”
Ngành Du lịch Thừa Thiên Huế đang chung tay xây dựng môi trường du lịch “Văn minh - Thân thiện - An toàn - Giàu bản sắc”. Trong đó, một môi trường du lịch không khói thuốc góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp, phát triển du lịch bền vững gắn liền với bảo vệ, giữ gìn tài nguyên thiên nhiên, khiến du khách thêm yêu Huế và lựa chọn vùng đất này là điểm du lịch an toàn, xứng đáng trở lại.
Trước đó, ngành Du lịch Thừa Thiên Huế từng nhận được nhiều phản hồi của du khách khi đến Huế có sử dụng dịch vụ lưu trú về việc không mong muốn ở trong một căn phòng có mùi hôi của khói thuốc lá. Không những thế, khói thuốc lá dễ ám mùi và làm xỉn màu, hôi đồ đạc trong phòng như rèm, thảm, ga, gối, máy điều hòa, khăn trải bàn… khiến người lưu trú cảm thấy không gian không đủ sạch sẽ, thoải mái. Nhiều du khách, đặc biệt những người không hút thuốc cũng mong muốn được hít thở bầu không khí trong lành, không bụi bặm hay khói thuốc lá tại các khu du lịch, điểm tham quan. Đầu mẩu thuốc lá rơi vãi ở khu vực lưu trú hay khuôn viên của điểm du lịch thường tạo nên hình ảnh nhếch nhác, mất vệ sinh. Khói thuốc lá có thể ảnh hưởng lớn đến ấn tượng, tâm lý và mức độ hài lòng của du khách về một điểm đến.
Đáng chú ý, Huế là một trong những thành phố du lịch đầu tiên trên cả nước tham gia xây dựng thành công mô hình thành phố du lịch không khói thuốc lá từ giai đoạn 2011 - 2012. Đến nay, nhiều đơn vị khách sạn, cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh đã hưởng ứng thực hiện lắp đặt nhiều biển cấm hút thuốc trong khách sạn, xây dựng phòng hút thuốc riêng dành cho người hút thuốc.
Để thực hiện quy định hiệu quả trên thực tế, một yếu tố được ngành Du lịch nhấn mạnh là việc đào tạo, nâng cao kỹ năng xử lý tình huống cho nhân viên, người lao động khi thông báo cho du khách; đồng thời chính họ cũng phải tự giác tuân thủ chặt chẽ các quy định để nêu gương cho du khách. Theo một thống kê sơ bộ của Hiệp hội Du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế, có hơn 30% lao động trực tiếp trong ngành Du lịch sau khi vào nghề đã bỏ hút thuốc lá. Khách sạn càng nhiều sao, tỷ lệ bỏ thuốc lá càng cao. Đặc biệt là những bộ phận lễ tân, bảo vệ, gần như toàn bộ không còn hút thuốc.
Trong nhiều năm qua, những hoạt động thiết thực trong công tác phòng, chống tác hại thuốc lá của ngành Du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế đã và đang góp phần xây dựng một môi trường du lịch chuyên nghiệp, ngày càng văn minh, thân thiện, lịch sự.
Nhiều mô hình du lịch “xanh”
Nhiều điểm đến nổi tiếng khác ở Việt Nam cũng hướng tới xây dựng những mô hình không khói thuốc lá. Vừa qua, tỉnh Quảng Bình đã tổ chức Lễ phát động mô hình “Điểm du lịch không khói thuốc lá” năm 2023 tại phường Đồng Hải - một những phường trung tâm của TP Đồng Hới, tập trung nhiều điểm du lịch, nhà hàng, khách sạn và hàng năm thu hút đông đảo khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan, nghỉ dưỡng.
Mục tiêu của hoạt động này là “Chung tay xây dựng phường Đồng Hải trở thành địa điểm du lịch hoàn toàn không khói thuốc”. Cùng với đó là các hoạt động thiết thực như: Đưa nội dung phòng, chống tác hại thuốc lá vào kế hoạch hành động hàng năm của phường; đưa quy định cấm hút thuốc lá tại nơi làm việc vào quy chế nội bộ của các cơ quan, đơn vị đóng trên địa bàn; đưa nội dung phòng, chống tác hại của thuốc lá vào hương ước, quy ước của các tổ dân phố; treo biển báo cấm hút thuốc tại các địa điểm có quy định cấm hút thuốc…
Tại Thủ đô Hà Nội, năm 2019, các nhà quản lý đã chính thức triển khai mô hình du lịch không khói thuốc tại 30 điểm du lịch, di tích lịch sử văn hóa tại quận trung tâm Hoàn Kiếm. Trong đó, có nhiều điểm đến nổi tiếng như đền Ngọc Sơn, chùa Quán Sứ, Bảo tàng Lịch sử quốc gia, Bảo tàng Phụ nữ, Thư viện Quốc gia, Nhà hát Lớn, Nhà thờ Lớn, Nhà tù Hỏa Lò, Nhà hát Múa rối nước Thăng Long,… Ngoài ra, quận này cũng đặt chỉ tiêu 70% nhà hàng, khách sạn từ 3 sao trở lên trên địa bàn quận thực hiện mô hình bảo đảm an toàn thực phẩm và không khói thuốc. Các biển báo cấm hút thuốc lá được treo đặt ở những vị trí dễ quan sát để nhắc nhở người dân và du khách.
Đáng nói, trong khi nhiều du khách hút thuốc có thể vui vẻ chấp hành quy định và vẫn cảm thấy được tôn trọng khi nhân viên nhắc nhở một cách khéo léo, lịch sự; vẫn có nhiều du khách hút thuốc không hợp tác, gây trở ngại cho người làm du lịch. Dù vẫn có những khó khăn nhất định, nhưng các mô hình điểm đến du lịch không khói thuốc được xem là giải pháp thiết thực để thu hút du khách, phát triển du lịch một cách bền vững, đáng được nhân rộng. Theo đó, mô hình du lịch “xanh” này không chỉ giúp nâng cao chất lượng dịch vụ, giảm thiểu các vụ cháy, nổ ở các địa điểm du lịch, mà còn giảm các tác động tiêu cực của khói thuốc lá với sức khỏe người dân, du khách./.
St

TẬP HUẤN CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TRONG PHỤ NỮ QUÂN ĐỘI

 Thực hiện chỉ đạo của Thủ trưởng Tổng cục Chính trị, nhân dịp kỷ niệm 79 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944/22-12-2023) và đón năm mới 2024, ngày 23-12, tại xã Mỹ Hưng (huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng), Ban Phụ nữ Quân đội chủ trì, phối hợp với Vụ Pháp chế (Bộ Quốc phòng), Cục Chính trị Bộ đội Biên phòng và các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức Hội nghị tập huấn công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) trong phụ nữ Quân đội và tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành pháp luật tại cơ sở năm 2023.

Đại tá Nguyễn Thị Thu Hiền, Trưởng ban Phụ nữ Quân đội chủ trì Hội nghị. Tham dự tập huấn có đại diện cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo Đề án 1371; đại biểu Vụ Pháp chế (Bộ Quốc phòng), Cục Chính trị Bộ đội Biên phòng (BĐBP), Bộ Chỉ huy BĐBP, Bộ CHQS tỉnh Cao Bằng; đại biểu lãnh đạo UBND, Hội LHPN huyện Quảng Hòa, Hội LHPN xã Mỹ Hưng và hơn 300 cán bộ, hội viên phụ nữ, chiến sĩ Bộ CHQS, Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh Cao Bằng; hội viên phụ nữ và nhân dân trên địa bàn huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.
Tại chương trình, các đại biểu đã được nghe báo cáo viên của Vụ Pháp chế, Bộ Quốc phòng giới thiệu các chuyên đề: Một số chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số; phát huy vai trò của lực lượng Quân đội nhân dân tham gia công tác PBGDPL, vận động nhân dân chấp hành pháp luật tại cơ sở giai đoạn 2021-2027; triển khai thực hiện đề án trong phụ nữ Quân đội nói chung, phụ nữ vùng biên giới nói riêng; những điểm mới của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, các hành vi bị xử phạt trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.
Đây là hoạt động trong kế hoạch năm 2023 nhằm quán triệt, triển khai Đề án 1371 Bộ Quốc phòng về “Phát huy vai trò của lực lượng Quân đội nhân dân tham gia công tác PBGDPL, vận động nhân dân chấp hành pháp luật tại cơ sở giai đoạn 2021-2027”. Hội nghị góp phần nâng cao nhận thức, xây dựng ý thức tự giác chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội cho phụ nữ Quân đội, tham gia công tác PBGDPL và vận động nhân dân chấp hành pháp luật tại cơ sở; góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Nhân dịp này, Ban Phụ nữ Quân đội đã trao 200 suất quà tết tặng các gia đình phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn tại thôn Nà Chào-Nà Thắm (xã Mỹ Hưng, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng) trong khuôn khổ chương trình “Phụ nữ Quân đội đồng hành cùng phụ nữ biên cương” giai đoạn 2021-2025. Đoàn công tác cũng đến thăm, chúc tết cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Tà Lùng (BĐBP tỉnh Cao Bằng)./.
ST

THỰC HIỆN TOÀN DIỆN CÁC MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VỀ QUÂN SỰ - QUỐC PHÒNG

 Năm năm qua, tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp. Các thế lực thù địch, phản động tiếp tục đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang. Các thách thức an ninh phi truyền thống diễn biến hết sức phức tạp. Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, nhất là bảo vệ chủ quyền biển, đảo và trên không gian mạng đặt ra yêu cầu ngày càng cao.

Trong bối cảnh đó, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cấp đã lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện toàn diện các mục tiêu, nhiệm vụ, nghị quyết, kết luận về các chiến lược quân sự, quốc phòng. Trong đó, có Nghị quyết số 24-NQ/TW về Chiến lược quốc phòng Việt Nam; Kết luận số 31-KL/TW về Chiến lược quân sự Việt Nam; Nghị quyết số 29-NQ/TW về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng; Nghị quyết số 33-NQ/TW về Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia.
Kịp thời tham mưu, xử lý thắng lợi các tình huống
Theo đó, công tác lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, thực hiện nghị quyết, kết luận được triển khai đồng bộ, chặt chẽ, nghiêm túc; nhận thức về đối tác, đối tượng, nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc ngày càng sâu sắc hơn. Đảng, Nhà nước ban hành nhiều nghị quyết, kết luận, chiến lược, đề án, hệ thống pháp luật, góp phần hoàn thiện đường lối, cơ chế, chính sách, đáp ứng tốt hơn nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, các cơ quan, đơn vị quân đội đã cụ thể hóa các nội dung nhiệm vụ, giải pháp của chiến lược vào xây dựng các chiến lược chuyên ngành, xây dựng chương trình hành động, kế hoạch triển khai thực hiện của cơ quan, đơn vị.
Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân luôn quán triệt, nắm vững và tổ chức thực hiện hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quân sự, quốc phòng; chủ động nghiên cứu, nắm, đánh giá, dự báo đúng tình hình, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước có chủ trương, đối sách xử lý thắng lợi các tình huống, kể cả tình huống trên không, trên biển, biên giới nội địa và trên không gian mạng; chủ động các phương án tham gia phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, giúp dân khắc phục hậu quả. Chỉ tính riêng năm 2023, Quân đội đã điều động gần 80.000 lượt bộ đội và dân quân tự vệ, với gần 3.000 phương tiện giúp dân khắc phục hậu quả thiên tai.
Bên cạnh đó, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tham mưu với Bộ Chính trị tổ chức tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Đây là cơ sở quan trọng để Trung ương ban hành Nghị quyết Trung ương 8 khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; tham mưu với Đảng, Nhà nước ban hành các chiến lược, nghị quyết, các luật quan trọng về quân sự, quốc phòng.
Phát huy tốt vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương chỉ đạo, phát huy sức mạnh tổng hợp, huy động hiệu quả các nguồn lực xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, góp phần tăng cường tiềm lực quốc phòng của đất nước.
Tập trung xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, giữ vững bản chất cách mạng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, các cấp ủy, tổ chức đảng trong Đảng bộ Quân đội triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với thực hiện Chỉ thị số 05, Kết luận số 01 của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 87 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Nghị quyết số 847 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới.
Toàn quân quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận, hướng dẫn của Trung ương, Quân ủy Trung ương về công tác cán bộ; tiếp tục chủ động, tiên phong trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong toàn quân.
Việc tổ chức lực lượng, xây dựng Quân đội theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, kết luận, nghị quyết của Bộ Chính trị về tổ chức Quân đội nhân dân giai đoạn 2021-2030 và những năm tiếp theo được chỉ đạo quyết liệt, triển khai bài bản, chắc chắn. Theo đó, quyết liệt chỉ đạo thực hiện giảm 10% biên chế quân số cơ quan cấp chiến dịch, chiến lược, giảm đầu mối trung gian và đơn vị phục vụ, bảo đảm; ưu tiên quân số cho các đơn vị sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Chỉ đạo nghiêm túc việc nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập, hội thao, hội thi ở tất cả các cấp; tổ chức hệ thống nhà trường quân đội theo hướng tinh, gọn, chuẩn hóa, hiện đại hóa, bảo đảm nội dung đào tạo cơ bản, toàn diện, hệ thống, thiết thực; lãnh đạo thực hiện tốt công tác hậu cần, kỹ thuật, công nghiệp quốc phòng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Đồng thời, các giải pháp xây dựng lực lượng tác chiến không gian mạng chính quy, tinh nhuệ, hiện đại được triển khai đồng bộ, để lực lượng này thực sự là nòng cốt trong bảo vệ chủ quyền không gian mạng quốc gia; xây dựng Chính phủ điện tử và ch.uyển đ.ổi s.ố đạt nhiều kết quả tích cực.
Các lực lượng chức năng quản lý, bảo vệ biên giới thực hiện nghiêm nhiệm vụ bảo vệ biên giới trên bộ, trên biển; chủ động đấu tranh phòng, chống tội phạm, buôn lậu, gian lận thương mại trên các tuyến biên giới; tăng cường tuần tra, kiểm soát, giám sát các hoạt động trên biển; tuyên truyền, ngăn chặn tàu cá Việt Nam vi phạm vùng biển nước ngoài, bảo đảm an toàn các hoạt động kinh tế biển.
Công tác hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng có nhiều đổi mới, sáng tạo, đi vào chiều sâu, cả trên bình diện song phương và đa phương, góp phần làm sâu sắc thêm quan hệ hữu nghị với các nước; chủ động tham gia các diễn đàn quân sự, quốc phòng đa phương, nâng cao uy tín, vị thế của đất nước, quân đội trên trường quốc tế.
Đặc biệt, việc tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc là một điểm sáng của đối ngoại quốc phòng Việt Nam. Sau gần 10 năm triển khai lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, Việt Nam đã cử 786 lượt cán bộ, nhân viên đi thực hiện nhiệm vụ tại các phái bộ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc ở cả hình thức cá nhân và đơn vị. Các lực lượng của Việt Nam được triển khai luôn phát huy tốt vai trò, trách nhiệm trên cương vị, chức trách được giao, được Liên hợp quốc và bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.
Năm 2023, Việt Nam đảm nhận vai trò Chủ tịch Mạng lưới các Trung tâm Gìn giữ hòa bình ASEAN và đã tổ chức thành công các hoạt động trong khuôn khổ Hội nghị. Cùng với đó, Việt Nam và Nhật Bản đồng chủ trì Chương trình đánh giá năng lực cho lực lượng chuẩn bị tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc Nhóm chuyên gia Gìn giữ hòa bình Chu kỳ 4 (2021-2023); chủ trì tổ chức Diễn tập song phương về gìn giữ hòa bình với Ấn Độ.
Việc tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc đã góp phần khẳng định Việt Nam là thành viên có trách nhiệm của Liên hợp quốc đối với cộng đồng quốc tế. Nỗ lực của Việt Nam trong thực hiện trách nhiệm của quốc gia thành viên đối với lĩnh vực gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc sẽ góp phần thiết thực vào việc giải quyết các vấn đề an ninh, bảo vệ hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới; đồng thời, thúc đẩy quan hệ hợp tác với các nước, nâng cao uy tín, vị thế của Quân đội và tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi để xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Thực hiện tốt, toàn diện các nhiệm vụ
Để tiếp tục thực hiện tốt, toàn diện các nhiệm vụ trong thời gian tới, về phương hướng, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng yêu cầu cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân tập trung quán triệt, nắm vững đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết Trung ương 8 khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, tiếp tục triển khai có hiệu quả các nghị quyết, chiến lược, đề án đã ban hành; chủ động nghiên cứu, nắm, đánh giá, dự báo đúng tình hình, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước có chủ trương, đối sách xử lý thắng lợi các tình huống trên không, trên biển, biên giới và nội địa.
Song song với việc phát huy tốt vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, toàn quân tập trung xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị; chỉ đạo thực hiện tốt công tác chính trị tư tưởng trong tình hình mới; xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; có ý chí quyết tâm chiến đấu cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.
Đồng thời, Quân đội tiếp tục thực hiện việc điều chỉnh tổ chức theo Nghị quyết số 05 của Bộ Chính trị về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và những năm tiếp theo; điều chỉnh tổ chức Quân đội theo đúng lộ trình đã xác định; thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện, giáo dục, đào tạo; đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ trong các hoạt động của quân đội; tiếp tục thực hiện tốt công tác hậu cần, kỹ thuật, công nghiệp quốc phòng.
Nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia cần tiếp tục được thực hiện tốt, đặt trong tổng thể hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tập trung xây dựng, củng cố cơ sở chính trị vững mạnh, tạo nền tảng vững chắc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và thế trận biên phòng toàn dân ở khu vực biên giới; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nghiên cứu, dự báo tình hình, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
Quân đội sẽ tiếp tục thực hiện hiệu quả Kết luận của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo; nâng cao chất lượng hợp tác quốc phòng song phương, đa phương; tham gia tích cực, có trách nhiệm các hoạt động quốc phòng, diễn đàn đa phương, hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; đẩy mạnh hợp tác quốc tế về khắc phục hậu quả chiến tranh, rà phá bom mìn, xử lý chất độc hóa học; phối hợp với quân đội các nước trong ứng phó các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống./.
St

NGƯỜI PHỤ NỮ CẢ ĐỜI LẶN LỘI ĐI TÌM HÀI CỐT NGƯỜI YÊU

  "Không biết các bạn trẻ bây giờ yêu nhau thì thế nào, chứ bọn mình ngày xưa yêu nhau là trọng lời hứa lắm. Đã thề là chờ đợi nhau thì sống chết cũng phải giữ lời thề"....Từ câu nói đó mà câu chuyện của bà giáo Chu Lưu Quang, người đã từng là một thiếu nữ Hà Nội xinh đẹp hơn 40 năm qua đã vượt qua nỗi cô đơn, đắng cay để quyết giữ trọn tấm lòng son sắt với người yêu là một chiến sĩ đã mất, bắt đầu….

Trong ngôi nhà nhỏ, người phụ nữ hiền hậu kể về câu chuyện tình duy nhất của cuộc đời mình với ánh mắt đượm buồn. Hồi đó, bà đem lòng yêu người thanh niên cùng thôn là Đào Đức Định. "Anh ấy là người rất lãng mạn. Hồi chúng tôi yêu nhau anh Định vẫn thường dẫn tôi lên đồi hái sim. Anh ấy còn bảo, nếu chúng mình lấy nhau, anh thích con đầu lòng là con gái và anh muốn nó giống hệt em" - bà tâm sự. Tình yêu đang độ chín thì hai người phải chia tay để anh Định lên đường nhập ngũ. Lúc đó bà Quang vừa tròn 19 tuổi.
Trước ngày lên đường, anh đã đàn và hát cho tôi nghe. Thế nhưng, khi đang đàn và hát say sưa thì dây đàn bỗng nhiên bị đứt. Tôi đã khóc và nói với anh ấy rằng đó là điềm báo không lành. Anh ấy nhìn tôi cười và bảo: "Em đúng là con gái. Chỉ hay suy diễn lung tung". Anh ấy nói vậy nhưng cũng không giấu được những giọt nước mắt. Anh Định còn nói với tôi, nếu anh ấy đi lâu quá mà chưa trở về thì đừng đợi, đừng để vụt mất tuổi thanh xuân" - bà giáo Quang nhớ lại.
"Lá thư cuối cùng của anh ấy gửi cho tôi, anh ấy đã viết là: "Chúng ta xa nhau vào mùa mưa là mùa ly biệt, nhưng rồi Định tin rằng, thống nhất Tổ quốc là một ngày nắng đẹp. Định sẽ trở về quê hương, sẽ bước vội trên con đường từ bến xe về nhà dù còm cõi ốm đau, dù tàn phế... miễn làm sao vẫn có một tâm hồn trở về gặp Quang và gia đình". Thế nên tôi luôn tin anh ấy sẽ không thất hứa với tôi" - bà Quang nhớ lại.
Nhưng điều bà giáo Quang không dám nghĩ tới thì nó vẫn cứ đến. Tháng 10/1974, gia đình ông Định nhận được giấy báo tử. Hay tin, bà giáo Quang chết lặng. Bao nhiêu hy vọng về một ngày đoàn viên hạnh phúc giờ tan thành mây khói. Lúc đó, bà đã nghĩ đến cái chết để mong được gặp lại người yêu dù là ở một thế giới xa xôi. Thế nhưng khi tỉnh táo bà Quang lại nghĩ mình nhất định phải sống. Sống để tìm hài cốt của người yêu, để tâm hồn ông không phải vất vưởng, lạnh lẽo ở một nơi xa lạ nào đó.
Hơn bốn mươi năm đi tìm mộ liệt sỹ Đào Đức Định, bà Quang không còn nhớ nổi mình đã đi tới những đâu và gặp những ai nữa. Bởi ở đâu có manh mối là bà đều tìm đến. Người thân trong gia đình liệt sỹ Định nhiều lúc cũng rơi vào tuyệt vọng nhưng bà Quang thì không. Bà không bỏ qua bất kể một cơ hội nào để tìm hài cốt người yêu, dù đó là ở đất nước bạn Lào, Campuchia xa xôi. Bà chia sẻ: "Có lúc tôi không còn niềm tin nữa, những lúc ấy tôi thường ra mộ gió (ngôi mộ xây ở địa phương, chỉ có tên của liệt sỹ Định chứ không có hài cốt - pv) của anh để cầu mong anh tiếp thêm cho tôi nghị lực. Tôi đã tâm sự với anh rất nhiều và xin anh dẫn đường chỉ lối cho mình".Bà giáo Quang tâm sự:. Thế nên dù không chính thức cưới hỏi và cũng chả cần ai công nhận, nhưng trong lòng bà giáo Chu Lưu Quang đã "cưới" chàng thanh niên Đào Đức Định từ ngày ông ngỏ lời yêu.
Sau hơn nửa đời người, cuối cùng một ánh sáng hy vọng dẫu dù rất mong manh đã lóe lên với người phụ nữ chung thủy là khi hay tin anh chiến sĩ Định dũng cảm năm nào, đã nằm xuống cùng 3 người đồng đội khác ở tỉnh Kandal, Campuchia.Có lẽ giờ đây, phần thưởng lớn lao nhất dành cho người phụ nữ chung thủy sắt son không gì hơn là có thể đón liệt sĩ Đào Văn Định về với quê hương, gia đình ấm áp.
Thấu hiểu và trân trọng tấm lòng của những con người đáng quý như bà giáo Quang cũng như luôn dành trọn sự biết ơn cho những người chiến sĩ đã hy sinh thanh xuân và cả tính mạng của mình vì đất nước, bắt đầu từ ngày 27/7/2017, Quỹ Thiện Tâm triển khai Chương trình hỗ trợ toàn bộ chi phí xét nghiệm ADN để xác đinh danh tính liệt sỹ cho các gia đình đang tìm mộ người thân. Việc tiếp nhận và xét nghiệm ADN sẽ được triển khai tại Viện nghiên cứu tế bào gốc và Công nghệ Gen Vinmec (thuộc hệ thống y tế Vinmec). Hiện Viện đã thành lập Tổ công tác xác định danh tính liệt sỹ bằng xét nghiệm ADN, cũng như huy động toàn bộ nguồn lực của Viện cho chương trình đặc biệt ý nghĩa này./.
St

NẮM VỮNG QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, TẬP TRUNG XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI TINH, GỌN, MẠNH, LÀM NỀN TẢNG TIẾN LÊN HIỆN ĐẠI

 Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam và Lãnh tụ Hồ Chí Minh thành lập, giáo dục, rèn luyện. Trong mỗi giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn xác định mục tiêu, phương hướng xây dựng Quân đội đáp ứng yêu cầu củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống. Kế thừa, bổ sung và phát triển quan điểm, đường lối về quân sự, quốc phòng của Đảng qua các kỳ đại hội, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; đến năm 2025 cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại. Đây là chủ trương nhất quán, đúng đắn, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng. Thực hiện thắng lợi chủ trương trên là yếu tố quyết định bảo đảm cho Quân đội ta có đủ sức mạnh, hoàn thành tốt vai trò là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối quốc phòng, quân sự của Đảng, trực tiếp là đường lối xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cũng như yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, bước đầu đã đạt được kết quả quan trọng. Từ năm 2016 đến nay, toàn quân đã chủ động điều chỉnh tổ chức, giảm biên chế quân số cơ quan cấp chiến lược, chiến dịch, giảm đầu mối trung gian và đơn vị phục vụ, bảo đảm; ưu tiên quân số cho các đơn vị sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; đầu tư thích đáng cho các quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; sắp xếp lại các nhà máy sản xuất, cơ sở sửa chữa quốc phòng; điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, biên chế của một số học viện, nhà trường quân đội, v.v. Công tác huấn luyện, giáo dục, đào tạo có nhiều đổi mới theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa. Duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu ở tất cả các cấp, bảo đảm an toàn khu vực đóng quân và sẵn sàng xử lý các tình huống về quân sự, quốc phòng. Công tác hậu cần, kỹ thuật, công nghiệp quốc phòng và các mặt công tác khác có bước phát triển mới. Đặc biệt, Quân đội đã nghiên cứu, làm chủ hầu hết vũ khí bộ binh, nhất là một số loại vũ khí, trang bị kỹ thuật mới, hiện đại, góp phần tăng cường tiềm lực, sức mạnh quốc phòng. Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng được triển khai tích cực, chủ động, linh hoạt, thực chất và hiệu quả; trở thành một trong những trụ cột quan trọng trong hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, góp phần xây dựng lòng tin, duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực, nâng cao hình ảnh, vị thế đất nước, Quân đội trong ASEAN và trên trường quốc tế. Kết quả trên là tiền đề rất quan trọng để thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI.
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Các nước lớn tăng cường điều chỉnh chiến lược, lôi kéo, tập hợp lực lượng, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau và can dự, chi phối vào nội bộ nước khác, tạo thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước nhỏ. Các điểm nóng về an ninh có chiều hướng gia tăng, nguy cơ lan rộng; xuất hiện các hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến, không gian chiến lược, phương thức tiến hành chiến tranh mới. Những vấn đề toàn cầu, như: bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường,… tiếp tục diễn biến phức tạp. Tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn, tiềm ẩn nhiều nguy cơ xung đột, tác động đến an ninh, an toàn hàng hải, hàng không. Trong nước, sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc bên cạnh những thành tựu quan trọng đã đạt được, vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, xuất hiện những vấn đề phức tạp mới. Các thế lực thù địch tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam với âm mưu, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, công khai và trực diện hơn.
Tình hình trên đặt ra những yêu cầu mới rất cao đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Việc xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại cần quán triệt sâu sắc, thực hiện có hiệu quả những nội dung cơ bản sau:
Một là, tiếp tục quán triệt, nắm vững quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo sự thống nhất về ý chí và hành động trong triển khai thực hiện. Các cơ quan, đơn vị và cán bộ, chiến sĩ toàn quân, nhất là cấp ủy, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên các cấp phải tổ chức quán triệt thật sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, trọng tâm là Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17/01/2022, của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 230-NQ/QUTW, ngày 02/4/2022, của Quân ủy Trung ương, Kế hoạch số 1228/KH-BQP, ngày 25/4/2022 của Bộ Quốc phòng về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo, v.v.
Quán triệt sâu sắc mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc, phương châm và nhiệm vụ về tổ chức Quân đội; trên cơ sở đó, tiếp tục xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, thường xuyên nêu cao cảnh giác cách mạng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân cho mọi cán bộ, chiến sĩ. Đặc biệt, các quân chủng, binh chủng, lực lượng được xác định tiến thẳng lên hiện đại phải thực sự nỗ lực rất cao để thực hiện đúng lộ trình hiện đại hóa, đảm bảo đồng bộ cả về tổ chức, con người, vũ khí, trang bị, phương thức và trình độ tác chiến cùng các mặt bảo đảm. Theo đó, từng cấp cần chủ động xây dựng kế hoạch tổng thể, phương pháp tiến hành chặt chẽ, khoa học, với lộ trình, bước đi cụ thể, điều chỉnh tăng, giảm tổ chức, quân số của từng lực lượng phù hợp với đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, khả năng bảo đảm vũ khí, trang bị, truyền thống Quân đội, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Tập trung xây dựng, điều chỉnh tổ chức Quân đội theo hướng tinh, gọn, mạnh, có cơ cấu và quân số hợp lý, cân đối giữa các thành phần, lực lượng. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng, miền, trên biển, bảo đảm Quân đội có đủ khả năng làm nòng cốt cùng toàn dân hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.
Hai là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội; thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh tiêu biểu. Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng gắn với thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh tiêu biểu cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; lấy vững mạnh về chính trị và chuẩn mực “Bộ đội Cụ Hồ” làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu. Bất luận trong điều kiện hoàn cảnh nào, Quân đội cũng luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.
Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng, tính tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong toàn quân. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, làm cho cán bộ, chiến sĩ luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng, lập trường tư tưởng kiên định, vững vàng, xác định rõ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, nhận thức sâu sắc tình hình nhiệm vụ, thấy được hết thuận lợi, khó khăn, quyết tâm hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ. Tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nhiệm vụ của Quân đội và đơn vị; xác định rõ “đối tác”, “đối tượng”; âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Tích cực, chủ động đi đầu trong củng cố, giữ vững “trận địa tư tưởng” của Đảng trong Quân đội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Kiên quyết, kiên trì thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII, XIII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW; Chỉ thị số 87-CT/QUTW, ngày 08/7/2016 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Chỉ thị số 855-CT/QUTW, ngày 12/8/2019 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, v.v.
Ba là, quyết liệt điều chỉnh tổ chức, biên chế, trang bị của từng cơ quan, đơn vị phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và vũ khí, trang bị mới. Các cấp chủ động làm tốt việc rà soát, điều chỉnh, kiện toàn tổ chức, biên chế, trang bị với điều chỉnh thế bố trí lực lượng, bổ sung nhiệm vụ, xây dựng thế trận quốc phòng, quân sự vững chắc, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trước hết, các quân đoàn sẽ được tổ chức lại theo hướng “tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại”, hình thành lực lượng cơ động chiến lược mạnh hơn, có vai trò đặc biệt quan trọng trong tác chiến phòng thủ bảo vệ Tổ quốc. Đối với khối cơ quan cấp chiến dịch, chiến lược, tập trung rà soát, điều chỉnh tổ chức, biên chế theo hướng giảm đầu mối trung gian và quân số phục vụ, bảo đảm; tăng cường quân số cho các đơn vị thành lập mới, đơn vị làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, đơn vị đóng quân trên các địa bàn chiến lược, trọng điểm, biên giới, biển, đảo. Đối với khối đơn vị chiến đấu, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị để điều chỉnh tổ chức theo hướng tăng cường sức mạnh chiến đấu, khả năng cơ động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống. Từng cấp chủ động xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chặt chẽ, khoa học, với lộ trình, bước đi phù hợp, điều chỉnh tăng, giảm tổ chức, quân số của từng khối phù hợp với đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, khả năng bảo đảm vũ khí, trang bị, giữ vững và phát huy truyền thống Quân đội, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Tiếp tục tổ chức một số lực lượng dự bị chiến lược; xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, trên các vùng, miền, trên biển, bảo đảm Quân đội có đủ khả năng làm nòng cốt cùng toàn dân hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống. Quá trình rà soát, điều chỉnh phải bảo đảm toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, trên cơ sở yêu cầu, nhiệm vụ của từng loại hình cơ quan, đơn vị và lực lượng, tạo sự thống nhất cao về nhận thức, trách nhiệm và hành động trong quá trình thực hiện; chống các biểu hiện tiêu cực, chủ quan, nóng vội, hoặc trông chờ, thiếu quyết liệt trong tổ chức thực hiện.
Bốn là, gắn việc điều chỉnh tổ chức lực lượng với duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, đổi mới, nâng cao chất lượng công tác huấn luyện, diễn tập, giáo dục và đào tạo. Cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần kết hợp chặt chẽ giữa điều chỉnh tổ chức lực lượng, thế bố trí với duy trì nghiêm nền nếp chế độ sẵn sàng chiến đấu; thường xuyên điều chỉnh, bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống văn kiện sẵn sàng chiến đấu và tổ chức luyện tập, diễn tập theo các phương án tác chiến đã xác định. Phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 22/9/2008 của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới, Kết luận số 64-KL/TW, ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW và Nghị định số 21/2019/NĐ-CP, ngày 22/02/2019 của Chính phủ về khu vực phòng thủ. Tăng cường các biện pháp quản lý chặt chẽ biên giới, nội địa, vùng trời, vùng biển, đảo cũng như chủ quyền không gian mạng của Tổ quốc, chủ động phòng ngừa, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý hiệu quả các tình huống xảy ra, không để bị động, bất ngờ. Chuẩn bị tốt lực lượng, phương tiện, phương án để thực hiện “nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình”: Tham gia phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, sự cố môi trường, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn,… là lực lượng nòng cốt, ứng trực, xử lý kịp thời, thắng lợi các tình huống.
Toàn quân tiếp tục đẩy mạnh đột phá đổi mới nâng cao chất lượng huấn luyện theo Nghị quyết số 1659-NQ/QUTW, ngày 20/12/2022 của Quân ủy Trung ương về nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2023 - 2030 và những năm tiếp theo. Vận dụng linh hoạt, sáng tạo các quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc, phương châm, mối kết hợp và yêu cầu, giải pháp nâng cao chất lượng huấn luyện, nhất là huấn luyện đêm, huấn luyện làm chủ vũ khí, khí tài mới, hiện đại; kết hợp chặt chẽ huấn luyện quân sự với giáo dục chính trị và rèn luyện thể lực của bộ đội, nâng cao bản lĩnh, ý chí, quyết tâm và khả năng cơ động trong mọi điều kiện, hoàn cảnh; tổ chức huấn luyện, diễn tập ở các cấp bảo đảm chặt chẽ, hiệu quả, an toàn, sát thực tiễn. Tiếp tục xây dựng nhân tố con người, trực tiếp là nguồn nhân lực chất lượng cao cả về số lượng và cơ cấu theo lộ trình hiện đại hóa vũ khí, trang bị của các quân chủng, binh chủng, lực lượng, bảo đảm nhu cầu sử dụng cả trước mắt và lâu dài.
Trên cơ sở quán triệt Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW, ngày 20/12/2022 của Quân ủy Trung ương về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới, tập trung đầu tư xây dựng một số học viện, nhà trường theo mô hình “Nhà trường thông minh, tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”; nâng cao chất lượng công tác bảo đảm huấn luyện đáp ứng yêu cầu “khoa học - hiệu quả - kịp thời”, phù hợp với tổ chức biên chế, vũ khí, trang bị và cách đánh, sát thực tế chiến đấu, với phương châm “Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị”. Đồng thời, tiếp tục nghiên cứu, biên soạn, bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống giáo trình, tài liệu huấn luyện, đảm bảo phù hợp với từng đối tượng, cấp học, bậc học.
Năm là, tiếp tục xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng đạt trình độ tiên tiến, hiện đại. Quán triệt và thực hiện nghiêm Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 26/01/2022 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo; tiếp tục xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia, đạt trình độ khoa học công nghệ tiên tiến; có quy mô, tổ chức, cơ chế quản lý và hoạt động phù hợp, bảo đảm tập trung, thống nhất về quản lý nhà nước; phát huy được vai trò, trách nhiệm và sự tham gia tích cực, hiệu quả của các thành phần kinh tế, góp phần nâng cao tiềm lực, sức mạnh quân sự, quốc phòng của đất nước. Chủ động rà soát, cơ cấu lại các nhà máy theo nhiệm vụ, ngành nghề và vùng, miền, bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tăng cường đầu tư vốn và công nghệ cho hoạt động nghiên cứu chế tạo, cải tiến vũ khí, khí tài, trang bị kỹ thuật theo hướng hiện đại, đáp ứng yêu cầu tác chiến hiện đại, công nghệ cao.
Xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, làm nền tảng để tiến lên hiện đại là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta; đồng thời, là mục tiêu, nhiệm vụ trọng yếu, hết sức nặng nề đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị trong tình hình mới. Vì vậy, hơn lúc nào hết, đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ toàn quân cần nắm vững quan điểm, chủ trương của Đảng, tiếp tục nỗ lực phấn đấu, đoàn kết tốt, kỷ luật nghiêm, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
ST

"...GIÁO CŨNG NHƯ LƯƠNG, ĐOÀN KẾT KHÁNG CHIẾN ĐỂ TỔ QUỐC ĐƯỢC ĐỘC LẬP, TÔN GIÁO ĐƯỢC TỰ DO"

 “…Chúng ta toàn dân, giáo cũng như lương, đoàn kết kháng chiến để Tổ quốc được độc lập, tôn giáo được tự do”. Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư gửi đồng bào công giáo nhân dịp Lễ Noel năm 1947.

Đây là thời điểm diễn ra Chiến dịch Việt Bắc Thu-Đông năm 1947, thực dân Pháp tiến hành kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh”, mở cuộc hành quân Xanh-tuya càn quét vùng tứ giác Tuyên Quang - Thái Nguyên - Phủ Lạng Thương - Việt Trì, nhằm tiêu diệt đầu não kháng chiến của Việt Minh, để hoàn tất việc tái chiếm Đông Dương. Nhưng chúng đã bị các lực lượng của ta, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh bại, buộc Pháp phải rơi vào bẫy “đánh lâu, thắng lâu”, kéo căng lực lượng do Việt Minh đã giăng sẵn và cuối cùng là thất bại hoàn toàn vào ngày 7-5-1954 tại Điện Biên Phủ.
Dù ở nơi chiến khu rừng núi xa xôi, đường sá cách trở, dù phải đối mặt với bao hiểm nguy của cuộc càn quét, tấn công tổng lực của thực dân Pháp, dù bận trăm công nghìn việc của Chính phủ lâm thời... nhưng trước sự kiện trong đại của đồng bào công giáo, Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian để viết thư chúc mừng và động viên. Trong thư, Bác Hồ đã nhắn nhủ đồng bào ta, dù giáo cũng như lương phải đoàn kết để kháng chiến chống lại thực dân xâm lược, bảo vệ độc lập của Tổ quốc và tự do cho các tôn giáo.
Đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo là một nội dung quan trọng, nhất quán trong các văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước ta; là truyền thống tốt đẹp ngàn đời của dân tộc ta. Đã là người Việt Nam, dù theo tôn giáo, tín ngưỡng hay không theo tôn giáo, tín ngưỡng nào cũng có chung một dân tộc, đều là con cháu của dòng dõi Lạc Hồng.
Thực hiện chức năng đội quân công tác, các đơn vị quân đội luôn quán triệt sâu sắc và tích cực vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo; sống tốt đời, đẹp đạo, đồng hành cùng dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Kiên quyết đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch xuyên tạc, chống phá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về tôn giáo, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết lương, giáo và truyền bá các tà đạo trái phép; giữ vững và tăng cường mối quan hệ đoàn kết, gắn bó máu thịt quân-dân./.
ST

CẨM NANG VÔ GIÁ CỦA CÔNG CUỘC XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ ĐẠO ĐỨC

 Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng và là lãnh tụ đặc biệt coi trọng xây dựng Đảng về đạo đức. Khi định nghĩa “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”, Người đã đặt đạo đức lên hàng đầu và coi đạo đức là đặc trưng bản chất của Đảng.

Từ khi xã hội loài người hình thành thì đạo đức xã hội đã xuất hiện nhưng đạo đức mà Hồ Chí Minh muốn xây dựng là đạo đức mới-đạo đức cách mạng, tức là đạo đức của người cách mạng và đạo đức để phụng sự cách mạng. Với quan niệm “mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không”, Hồ Chí Minh đề cập đến vấn đề này trong rất nhiều bài viết và có riêng hai bài viết đều mang tên “Đạo đức cách mạng” (tháng 6-1955 và tháng 12-1958).
Tuy nhiên, tác phẩm “Đạo đức cách mạng” được Người viết dưới bút danh Trần Lực và in lần đầu trên Tạp chí Học tập (nay là Tạp chí Cộng sản) cách đây tròn 65 năm, là tác phẩm tập trung đầy đủ nhất những quan điểm cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng.
Vào thời điểm năm 1958, miền Bắc đang trong giai đoạn cải tạo xã hội chủ nghĩa để chuẩn bị bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội; sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà đang bị Mỹ- Diệm ra sức phá hoại. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và giải phóng miền Nam-những nhiệm vụ cách mạng vô cùng hệ trọng, liên quan đến sự sống còn của cả dân tộc vào thời điểm đó đều phải đối diện với muôn vàn khó khăn, thách thức. Tình hình đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải phát huy tinh thần hy sinh, gương mẫu, giữ vững đạo đức cách mạng.
Tuy nhiên, một số cán bộ, đảng viên “lầm tưởng rằng miền Bắc không còn thực dân và phong kiến nữa, thì tức là cách mạng thành công rồi. Do đó mà họ để chủ nghĩa cá nhân chớm nở, họ yêu cầu hưởng thụ, yêu cầu nghỉ ngơi”, “không muốn làm công tác mà đoàn thể giao phó cho họ”. Những biểu hiện, diễn biến đó nếu không ngăn chặn sẽ làm Đảng suy yếu, làm nhân dân mất lòng tin vào Đảng và chế độ. Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm “Đạo đức cách mạng” để mỗi tổ chức đảng và đảng viên nhìn nhận, soi xét, sửa mình, tu dưỡng, phấn đấu sao cho xứng đáng với tư cách của người cách mạng.
Là người có tư duy hệ thống, Hồ Chí Minh bàn về đạo đức cách mạng một cách rất toàn diện.
Trước hết, Người nhấn mạnh tầm quan trọng của đạo đức cách mạng. Với sự trải nghiệm của một nhà cách mạng lão luyện, Người khẳng định: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”.
Đạo đức cách mạng giúp cho người đảng viên đúng mực trong mọi hoàn cảnh, thắng không kiêu, bại không nản; gặp những thử thách khốc liệt của hoàn cảnh thì sẵn sàng hy sinh thân mình để giữ trọn lòng trung thành với Đảng, với nhân dân và Tổ quốc. Lịch sử của Đảng đầy vinh quang và Đảng thu phục được lòng dân là nhờ có những chiến sĩ cách mạng như thế.
Tuy nhiên, trong mỗi con người, đạo đức cách mạng và chủ nghĩa cá nhân luôn song hành tồn tại; cái nào yếu thì cái đối lập sẽ thắng thế. Nếu đảng viên không giữ được đạo đức cách mạng thì chủ nghĩa cá nhân “sẽ chờ dịp để phát triển, để che lấp đạo đức cách mạng, để ngăn trở ta một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng” và thải loại người cách mạng khỏi vị trí cao quý của người chiến sĩ tiên phong.
Sự suy thoái không có điểm dừng; khi không còn nhiệt huyết đi đầu, tất yếu họ trở thành những người lừng chừng, chậm tiến và “dần dần họ xa rời Đảng, thậm chí phá hoại chính sách và kỷ luật của Đảng”, trở thành kẻ phản bội lại tổ chức. Ngay cả khi vẫn đi theo Đảng, nếu người cán bộ không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân, bởi nhân dân chỉ tin yêu những người có đạo đức thực sự và đủ sự tinh tường để nhận ra ai có đạo đức thực sự. Khi Đảng trở thành đảng cầm quyền, đạo đức của mỗi cá nhân không còn là “tư đức” mà là vấn đề “công đức” bởi gắn với đó là uy tín của chính thể, lòng tin của dân.
Với tư duy khoa học, Hồ Chí Minh quan niệm: “Ta xây dựng con người cũng phải có ý định rõ ràng như nhà kiến trúc”, tức là phải có định hướng rõ ràng về tiêu chí, chuẩn mực. Chuẩn mực đạo đức cách mạng của đảng viên thực chất là các giá trị đạo đức cộng sản đã được cụ thể hóa vào Việt Nam và trở thành cái để phân biệt người đảng viên với đông đảo quần chúng.
Việc xác định các chuẩn mực đạo đức cách mạng là vấn đề đặc biệt quan trọng bởi đó chính là hình mẫu con người đại diện cho lý tưởng cộng sản, cho chế độ tốt đẹp mà Đảng, Nhà nước đang xây dựng. Để cán bộ, đảng viên có phương hướng phấn đấu, Hồ Chí Minh chỉ ra các biểu hiện cơ bản của đạo đức cách mạng. Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng không phải là “sáo ngữ” mà là những hành động rất cụ thể: “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng”-đây là điều chủ chốt nhất; là “ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng”; là “đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân.
Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”; là “ra sức học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”. Đạo đức cách mạng còn là hòa mình với quần chúng, tin quần chúng, hiểu quần chúng, làm gương cho quần chúng và làm cho quần chúng tin yêu.
Nói một cách ngắn gọn nhất: “Đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết”, là không cúi đầu trước mọi kẻ địch, mọi khó khăn, gian khổ; hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao; toàn tâm, toàn ý phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân. Đạo đức cách mạng của từng đảng viên làm nên đạo đức của toàn Đảng và uy tín của Đảng trước dân tộc.
Nếu trí tuệ con người ít nhiều có yếu tố bẩm sinh thì đạo đức là một sự lựa chọn giá trị sống. Sự tu dưỡng đạo đức cách mạng hoàn toàn không dễ dàng; ngược lại, quá trình ấy không khác gì “gạo đem vào giã bao đau đớn”. Để giúp các tổ chức đảng và đảng viên có phương hướng thực hiện, Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn ra hệ thống giải pháp nhằm nâng cao đạo đức cách mạng.
Muốn giữ vững đạo đức cách mạng, mỗi tổ chức, mỗi đảng viên phải kiên trì tự giác đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân-thứ “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng”, thứ căn bệnh “mẹ” đẻ ra “trăm thứ bệnh nguy hiểm”. Hồ Chí Minh kết luận: “Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó”. Tuy nhiên, Người luôn nhắc nhở: Chống chủ nghĩa cá nhân không có nghĩa là “giày xéo” lên cá nhân; ngược lại, phải tạo điều kiện để mỗi con người phát huy hết đặc tính, năng lực của mình và cống hiến nhiều hơn cho cách mạng.
Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng ta sở dĩ tồn tại và phát triển ngày càng mạnh mẽ là do “khéo dùng cái vũ khí sắc bén phê bình và tự phê bình”, đặc biệt là sự phê bình của quần chúng bởi chỉ có quần chúng mới biết rõ, người cán bộ có hành động vì lợi ích của họ hay không. Hồ Chí Minh nói rõ, phê bình và tự phê bình là làm cho “phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi” để giúp người khác tránh được khuyết điểm tương tự và để Đảng đi đến sự thống nhất, đoàn kết hơn nữa.
Ngược lại, những ai chỉ muốn “phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình họ; không tự phê bình hoặc tự phê bình một cách không thật thà, nghiêm chỉnh. Họ sợ tự phê bình thì sẽ mất thể diện, mất uy tín. Họ không lắng nghe ý kiến của quần chúng. Họ xem khinh những cán bộ ngoài Đảng” thì nhất định sẽ rơi vào tình trạng lạc hậu, thoái bộ và bị quần chúng bỏ rơi.
Tu dưỡng đạo đức suốt đời là giải pháp trọng yếu của người cách mạng bởi, một việc tốt, một ngày tốt không làm nên một đời tốt nhưng một đời tốt lại dễ dàng bị hủy hoại bởi một việc xấu, một ngày xấu nếu cái xấu ở mức độ trầm trọng. Hồ Chí Minh đúc kết chân lý: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.
Không ai có thể không khổ luyện mà thành tài; càng không ai có thể không rèn đức mà đức sáng. Nghị lực và ý thức tự giác tu dưỡng đạo đức suốt đời vừa là giải pháp thực thi đạo đức cách mạng, vừa là biểu hiện của đạo đức cách mạng bởi người tốt thực sự sẽ không bao giờ thấy cái tốt của mình là đã đủ để không cần tu dưỡng nữa.
Tác phẩm “Đạo đức cách mạng” thực sự là một “đại tổng kết” về đạo đức cách mạng. Chăm lo cái gốc đạo đức của Đảng là chủ thuyết sâu sắc của Hồ Chí Minh. Vì thế, nhà sử học Trần Văn Giàu từng đúc kết rằng: “Quả có một đạo đức học Hồ Chí Minh”. Với dung lượng 12 trang-đủ để làm một tài liệu học tập trong Đảng, tác phẩm “Đạo đức cách mạng” chứa đựng tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với việc xây dựng một Đảng chân chính cách mạng trong điều kiện cầm quyền.
Cảnh báo của Người về sự nguy hại của chủ nghĩa cá nhân, về tình trạng “tự tha hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên từ 65 năm trước, nay đang là những nguy cơ rất lớn trong Đảng. Nếu “một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ” như lời Lênin thì mỗi đảng viên, mỗi tổ chức đảng phải biết tự bảo vệ mình trước sự tha hóa của chính mình.
Đất nước đang bước vào thời kỳ phát triển mới. Trọng trách trước Đảng, trước nhân dân đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên giữ vị trí lãnh đạo phải giữ gìn đạo đức cách mạng như “giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Bất kể ai, ở vị trí nào, nếu không rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng mà trở nên kiêu ngạo, tự tôn, tự tác, coi mình cao hơn tổ chức thì “cái chết về chính trị” là điều khó thoát, khó tránh. Với trách nhiệm của người sáng lập và rèn luyện Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao truyền lại cho Đảng “vũ khí” hữu hiệu để xây dựng Đảng “từ gốc”.
Mỗi tổ chức đảng, mỗi cá nhân đảng viên phải thực sự “mở lòng” đón nhận từ Người những thông điệp đạo đức cao cả để “giữ mắt cho trong, giữ lòng cho sáng” nhằm đưa dân tộc tiến bước cùng thời đại./.
ST