Chủ Nhật, 24 tháng 12, 2023

NHỮNG CHIẾN DỊCH BÍ MẬT CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI

 NHỮNG CHIẾN DỊCH BÍ MẬT CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI

(Tin thì đọc mà không tin thì đọc :v )
Chính sách quốc phòng của Việt Nam cách đây 30 năm khác xa so với “4 không” hiện nay. Cũng như Cuba, Việt Nam từng cử các đoàn chuyên gia cũng như các đơn vị chiến đấu với quy mô và hình thức khác nhau ra tham chiến ở nước ngoài, nhằm hỗ trợ các tổ chức cộng sản, cách mạng và các chính phủ, mặt trận tiến bộ chống lại các hoạt động quân sự của các đế quốc tư bản chủ nghĩa. Phần lớn các chiến dịch đó hầu như còn nằm trong vòng bí mật, và chỉ một số ít được tiết lộ theo những cách không chính thức. Tin hay không, tùy bạn, nhưng đây là những chiến dịch quân sự bí mật của quân đội ta ở nước ngoài.
1) Đông Nam Á (196x-1978)
Đông Nam Á là địa bàn địa chính trị có tính chiến lược của khu vực châu Á-Thái Bình Dương, là nơi tranh giành quyền ảnh hưởng giữa các địa cực địa chính trị trong khu vực và trên thế giới. Khi cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ tiến hành tại Việt Nam nổ ra, nhiều quốc gia Đông Nam Á đã không đứng ngoài cuộc. Thái Lan trực tiếp cử binh lính sang tham chiến chống lại các lực lượng cách mạng ở miền Nam Việt Nam. Thái Lan và Philippines cung cấp các căn cứ không quân và hải quân cực kỳ quan trọng cho quân đội Mỹ trong quá trình chiến tranh diễn ra, đồng thời là trung tâm tình báo, biệt kích, gián điệp và trinh sát điện tử của CIA, DIA nhằm chống lại chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Về không quân, căn cứ Utapao trên đất Thái Lan đã cung cấp tới gần một nửa số phi vụ không kích bằng máy bay ném bom chiến lược B52 cùng với các máy bay trinh sát-đối kháng điện tử EB66, trong khi Philippines là nơi tiếp dầu của các phi đội B52 bay từ Guam. Về hải quân, quân cảng Subic của Philippines là nơi bán đồn trú quan trọng của hạm đội Mỹ. Ngoài ra, một số nước khác cũng đã hỗ trợ Mỹ bằng nhiều cách khác nhau. Malaysia cung cấp các khóa huấn luyện chống du kích và xây dựng ấp chiến lược cho Mỹ và nhà cầm quyền bù nhìn ở Sài Gòn, trong khi Singapore cung cấp xăng dầu tinh chế cho quân đội Mỹ.
Yêu cầu “tiên phát chế nhân”, ngăn chặn các đơn vị Mỹ ngay từ nơi xuất phát được đặt ra. QUTW đã chỉ đạo một số đơn vị quân đội thực hiện các nhiệm vụ bí mật trên địa bàn các nước Đông Nam Á, với một số phương pháp chính:
- Một là, tổ chức lực lượng tình báo, gián điệp, vũ trang trong cộng đồng Việt kiều;
- Hai là, hỗ trợ và huấn luyện, trang bị cho các tổ chức cộng sản trong khu vực;
- Ba là, trực tiếp chiến đấu tiến công tiêu diệt địch (cái này đã công khai);
Triển khai kế hoạch trên, các đơn vị đã tổ chức mạng lưới cảm tình viên, trinh sát, quân báo nhân dân trong cộng đồng Việt kiều ở Thái Lan, Mã Lai, Singapore; hỗ trợ các lực lượng: Quân đội Nhân dân mới ở Philippines, Quân giải phóng nhân dân ở Thái Lan, Đảng cộng sản Mã Lai ở Malaysia; trực tiếp nhiều lần tiến công vào sân bay Utapao và nhiều mục tiêu khác.
Chiến tranh kết thúc, tình hình chính trị có nhiều chuyển biến. Việt Nam mong muốn cải thiện quan hệ với các nước trong khu vực, trong khi các lực lượng cộng sản ở Đông Nam Á ngày càng ngả theo chủ nghĩa Mao Trạch Đông và có xu hướng bài xích Việt Nam. Điểm kết của câu chuyện là chuyến thăm các nước Đông Nam Á của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng năm 1978. Tại đây, ông Tô đã tuyên bố công khai chấm dứt mọi quan hệ với các tổ chức cộng sản ở Đông Nam Á để mở đường cho việc phát triển quan hệ giữa các nước ASEAN 5 với Việt Nam. Tuy nhiên ngay sau đó, mọi chuyện đã rẽ sang một hướng rất xấu mà ai cũng biết rồi.
2) Nicaragua, Sri Lanka
Ngay sau khi chính quyền Samoza thân Mỹ lên nắm quyền ở Nicaragua vào thập niên 30, một vị tướng của Nicaragua tên là Sardino đã bỏ lên rừng núi để chiến đấu. Noi gương ông, năm 1961, nhân dân Nicaragua đã thành lập nên Mặt trận giải phóng dân tộc Sardino (FSLN), còn được gọi là lực lượng Sardinista. Sau khi FSLN lên nắm quyền khi Samoza bị lật đổ và giết chết ở nước ngoài, chính quyền này lập tức phải đối đầu với tổ chức khủng bố Contra do Mỹ bảo trợ. FSLN đã trực tiếp có các cuộc thảo luận và yêu cầu sự trợ giúp từ Việt Nam. Vốn đã có nhiều kinh nghiệm trong việc chống các tổ chức khủng bố, phỉ, Việt Nam đã cử một đoàn chuyên gia sang giúp đỡ Nicaragua chiến đấu chống khủng bố. Năm 1986, Liên Hợp Quốc đã ra phán quyết yêu cầu Mỹ phải bồi thường 12 tỷ USD vì bảo trợ lực lượng khủng bố và xâm phạm chủ quyền Nicaragua.
Việt Nam cũng đã từng hỗ trợ chính phủ Sri Lanka chống lại tổ chức khủng bố “Những con hổ giải phóng Tamil” trong cuộc nội chiến Sri Lanka.
3) Iraq, Nam Tư
Cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mà đỉnh cao là chiến dịch tập kích đường không chiến lược Linerbaker II năm 1972 đã để lại một ấn tượng sâu sắc đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử, người ta có thể tiến hành một cuộc chiến tranh dựa trên yếu tố duy nhất là hỏa lực. Việc liên tục nghiên cứu, cọ xát, rút kinh nghiệm về thủ đoạn, phương thức tác chiến, VKTBKT mới của Mỹ luôn được QUTW-BQP đặt ra, nhằm chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh trong tương lai (các bác sĩ quan tầm 1990-2000 chắc đều biết các tài liệu huấn luyện của ta công khai coi Mỹ là đối tượng tác chiến chiến lược).
Vào năm 1991, khi quân đội Mỹ và liên quân tấn công Iraq bằng không quân và hải quân, một đoàn chuyên gia Việt Nam đã được cử sang Iraq nhằm quan sát thủ đoạn tác chiến và hiệu quả của VKTB mới của Mỹ. Thậm chí, theo những nguồn tin không được kiểm chứng, các chuyên gia Việt Nam đã trực tiếp hỗ trợ các đơn vị phòng không Iraq trong việc lùng bắn các máy bay ném bom chiến lược B52, nhưng không có kết quả (theo các nguồn tin công khai, thì Iraq chỉ bắn bị thương một chiếc B52). Lý do là việc Mỹ áp dụng các yếu tố kĩ thuật và chiến thuật mới mà ta chưa theo kịp được.’
Năm 1999, Nam Tư hứng chịu cuộc không kích hủy diệt kéo dài 78 ngày đêm của NATO. Trong lúc cả thế giới lo lắng cho số phận của quốc gia này thì một sự kiện bất ngờ đã xảy ra: Nam Tư bắn rơi máy bay tàng hình F-117 A hiện đại bậc nhất của Mỹ, thứ được quảng cáo là không thể bị phát hiện và bắn rơi. Ngay lập tức, cuộc chiến giữa các tổ buôn đồng nát bắt đầu, Nga, Trung Quốc và Việt Nam cùng rất nhiều nước khác, kể cả các đồng minh hoặc đối tác thân cận của Mỹ đều sẵn sàng vung tiền để được xẻ một miếng vỏ của chiếc máy bay tối mật. Tất nhiên, người Nam Tư rất quý Việt Nam và khâm phục thành tích chống Mỹ của Việt Nam, nên họ chẳng ngại gì mà không cho ta một mảnh vỏ. Điều này đã được Trung tướng Phan Thu - chủ nhiệm Tổng cục CNQP Việt Nam, thứ trưởng Bộ Quốc phòng xác nhận (trước đây cụ làm bên TCĐT). Còn việc dùng mảnh vỏ ấy để làm gì thì giời mới biết.
5/ Chechen
Có lẽ đây là vụ kín tiếng nhất, và cũng không có nguồn đối chứng. Có một số người cho rằng, các sĩ quan Việt Nam đã từng góp ý với phía Nga về một số vấn đề trong việc sử dụng lực lượng xe tăng trong đô thị ở Chechen, tuy nhiên người Nga đã bỏ ngoài tai và thất bại. Kể ra thì câu chuyện này nghe cũng có vẻ hợp lý, vì tăng thiết giáp Việt Nam từng bị giáng một đòn rất đau trong trận tiến công thị xã Bình Long năm 1972, cho nên chúng ta sẽ có nhiều bài học quý báu.
Và có thể còn rất nhiều, rất nhiều những chiến dịch bí mật khác mà chúng ta chưa biết. Chúng ta chỉ biết một điều: Quân đội Nhân dân Việt Nam luôn đặt mục tiêu bảo vệ Tổ quốc, Đảng và nhân dân lên trên hết, và họ sẵn sàng làm bất cứ điều gì, tại bất cứ không gian và thời gian nào để thực hiện mục tiêu đó.
Nguồn tư liệu: Lương Lê Minh; Hội yêu khí tài quân sự Việt Nam
Tất cả cảm xúc:
14

Lãnh đạo xây dựng, tổ chức thực hiện luật pháp, các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện thành công đường lối cách mạng của Đảng


Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh ban hành năm 1991 và bổ sung, phát triển năm 2011). Cương lĩnh là cơ sở để Đảng lãnh đạo cụ thể hóa đường lối chung, xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách nhằm phát triển các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, giải quyết các vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển. Lãnh đạo hoạch định và tổ chức thực hiện thành công hệ thống chính sách phát triển kinh tế - xã hội là một nội dung quan trọng, đồng thời là thể hiện tập trung nhất, rõ ràng nhất chất lượng, hiệu quả của công tác xây dựng Đảng.

Đảng lãnh đạo việc cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành những chính sách, quyết định quản lý của Nhà nước. Việc cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng là thực hiện nguyên tắc Đảng lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội. Nó được triển khai theo hai hướng: Xây dựng, hoàn thiện hệ thống luật pháp và xây dựng các chính sách, quyết sách trong phát triển, quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội. Theo hướng thứ nhất, Đảng đoàn Quốc hội là cơ quan có trách nhiệm tiếp thu đường lối, chủ trương của Đảng để dưa vào chương trình, nội dung xây dựng hệ thống luật pháp. Theo hướng thứ hai, Ban Cán sự đảng Chính phủ là cơ quan chịu trách nhiệm trước Đảng trong việc cụ thể hóa đường lối của đảng thành các quyết định quản lý nhà nước, các quyết sách trong xây dựng, phát triển các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Trong điều kiện hiện nay, cơ chế lãnh đạo của Đảng trong việc cụ thế hóa đường lối ngày càng được hoàn thiện, đảm bảo ngày càng chặt chẽ, hợp lý hơn.

Đảng lãnh đạo tổ chức thực hiện các đường lối của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước. Đây là trách nhiệm của tất cả các tổ chức đảng, từ Trung ương đến các tổ chức cơ sở của Đảng, của toàn bộ hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng. Mỗi tổ chức đảng, mỗi tổ chức, đoàn thể trong hệ thống chính trị căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình để xây dựng, kế hoạch, chương trình hành động để giáo dục, hướng dẫn nhân dân thực hiện luật pháp, tổ chức lực lượng thực hiện các chính sách phát triển, quyết định quản lý.

Đảng lãnh đạo kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện đường lối của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước. Thực hiện nhiệm vụ này có các cơ quan chức năng của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân. Cùng với đó là lực lượng to lớn của nhân dân. Vai trò của nhân dân trong hoạt động kiểm tra, kiểm soát ngày càng được thể chế hóa chặt chẽ, đảm bảo quyền và trách nhiệm cũng như bảo vệ người dân trước những rủi ro có thể. Nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh, “muốn kiểm soát đúng thì cũng phải có quần chúng giúp mới được”. Nói cách khác, hoạt động kiểm soát, đánh giá để đảm bảo đường lối của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước được thực hiện đúng, hiệu quả thông qua sự kết hợp giữa các cơ quan chức năng với sự đóng góp của nhân dân.

Có thể nói, sự phối hợp tốt cả ba khâu công tác, bao gồm phát triển sáng tạo hệ thống lý luận trong xây dựng đường lối; xây dựng tổ chức bộ máy Đảng, hệ thống chính trị; xây dựng và tổ chức thực hiện luật pháp, các chính sách phát triển nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là vấn đề trung tâm của công tác xây dựng đảng về chính trị, đảm bảo cho sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

ĐỒ ÁN TỔT NGHIỆP CỦA NỮ SINH VIỆT NAM GIÀNH GIẢI NHẤT QUỐC TẾ

 ĐỒ ÁN TỔT NGHIỆP CỦA NỮ SINH VIỆT NAM GIÀNH GIẢI NHẤT QUỐC TẾ

Từ top 100 toàn thế giới, đồ án tốt nghiệp “Bảo tàng văn hóa biển miền Trung, Bình Thuận” của nữ sinh viên Việt Nam đã chinh phục giải thưởng cao nhất của cuộc thi International Graduation Project Award 2023.
Cuối tuần qua, Trần Thị Chi - sinh viên Khóa 24 ngành Kiến trúc Trường ĐH Văn Lang, nhận “quà Noel sớm” khi trở thành người chiến thắng của International Graduation Project Award 2023 - một trong 8 cuộc thi thuộc khuôn khổ Tamayouz Excellence Award, giải thưởng dành cho sinh viên nhóm ngành Kiến trúc, Thiết kế đô thị, Quy hoạch đô thị, Công nghệ kiến trúc và Thiết kế cảnh quan trên toàn thế giới.
Đây là giải thưởng nhằm mục đích tôn vinh những đồ án tốt nghiệp xuất sắc của sinh viên Kiến trúc trên toàn thế giới, giới thiệu các đồ án tiêu biểu đến cộng đồng, góp phần thúc đẩy và khơi gợi góc nhìn mới, đa văn hóa, đa sắc màu trong lĩnh vực. Năm 2023, giải thưởng thu hút 422 đồ án tốt nghiệp của các sinh viên đến từ 141 trường đại học từ 36 quốc gia trên thế giới.
Với danh hiệu Quán quân, Chi sẽ nhận được suất học bổng Thạc sĩ 2 năm tại Trường ĐH Polytechnic Milan (Ý) - trường đại học kỹ thuật lớn nhất nước Ý và có lịch sử lâu đời nhất tại kinh đô thời trang Milan.
Sự lựa chọn vào “giờ chót”
Chi nhớ lại 5 năm trước, trước khi thi tốt nghiệp THPT 2 tháng, cô vẫn chưa chọn được ngành học ở đại học.
“Kiến trúc đến với em như một cái duyên, bởi ở quê em – Lagi, Bình Thuận - khái niệm về “kiến trúc” thật mơ hồ. Sau đó, với sự góp ý của thầy giáo chủ nhiệm, em mới tò mò tìm hiểu và đăng kí tất cả các nguyện vọng thi kiến trúc.
Em bắt đầu học kiến trúc với nhiều sự ngỡ ngàng, vì nó quá khác so với tưởng tượng. Trong thời gian đầu học đại học, đôi lúc em đã phải nghĩ đến trường hợp chuyển ngành. Phải sau năm 3, khi kết quả học tập tốt hơn, em mới tự tin hơn và biết rằng bản thân đang đi đúng hướng”.
Sau 5 năm học tập, cô bắt tay vào thực hiện đồ án tốt nghiệp, là “một thứ gì đó khá “thiêng liêng” đối với sinh viên kiến trúc. Bởi đồ án không chỉ đơn thuần là một bài báo cáo quá trình học tập của 5 năm ở giảng đường mà còn là cơ hội bày tỏ tình cảm cá nhân với những gì mình yêu mến.
Được sinh ra và lớn lên ở vùng đất ven biển Lagi - Bình Thuận, vùng đất của nắng và gió thì biển là thứ gắn liền với tuổi thơ của Chi. Vì vậy, Chi mong muốn làm một thứ gì đó có thể đóng góp và phát triển cho quê hương của mình. Và chủ đề “Bảo tàng Văn hóa biển” chính là gói ghém giấc mơ của cô từ nhỏ.
“Đối với ngành thiết kế nói chung và thiết kế kiến trúc nói riêng, phương pháp làm việc khoa học quyết định khá lớn đến kết quả.
Giai đoạn đặt vấn đề cho đề tài, cho đồ án là một giai đoạn rất khó khăn và nhiều phức tạp. Vấn đề rất nhiều, nhưng để chọn ra vấn đề cốt lõi cần giải quyết phải cần có nhiều phương pháp làm việc khác nhau. Để tìm ý trong giai đoạn Brainstorming, em đã in, cắt dán đầy khắp 2 bức tường phòng mình. Các hình ảnh “pin up” trên tường đã “sống” chung với em suốt 8 tháng thực hiện đồ án".
Chi may mắn được sự hướng dẫn chuyên nghiệp từ các thầy cô trong trường và giảng viên hướng dẫn tốt nghiệp. Từ đó, phương pháp làm việc chính xác không còn là rào cản mà chính là động lực để cô tìm ra cũng như giải quyết các vấn đề gặp phải trong đồ án. Câu slogan “thinking by doing” có thể nói bao quát được quá trình thực hiện đồ án của Chi.
“Em không đặt mục tiêu lớn và kiếm cách đạt được nó ngay lập tức. Mà trong quá trình làm việc, mình giải quyết.
Đồ án tốt nghiệp là một cột mốc khá quan trọng, dường như nó làm em thay đổi về cách nhìn kiến trúc, cảm nhận không gian, cách trình bày, sự chỉn chu... về khối lượng bản vẽ và mô hình đồ án. Em vượt qua được giới hạn của bản thân và còn có thể đạt yêu cầu của giáo viên hướng dẫn.
Sau dấu mốc này, em sẽ gặp nhiều khó khăn khi đi làm, chỉ mong rằng bản thân sẽ thử, sai và đúng để có nhiều trải nghiệm hơn. Em cảm thấy may mắn, khi gặp những người thầy đúng lúc và đúng thời điểm, em chân thành biết ơn”.
Giải nhất từ nỗ lực và… sự tò mò
Với đồ án “Bảo tàng Văn hóa biển”, Trần Thị Chi làm hồ sơ nộp giải thi Loa Thành - giải đồ án tốt nghiệp xuất sắc của sinh viên kiến trúc trong nước (Chi đã đoạt giải nhì giải Nhì cuộc thi này – PV) và cuộc thi Tamayouz diễn ra sau đó.
“Trong khoảng thời gian vài năm gần đây, em cảm thấy sự hội nhập quốc tế của các sinh viên Việt Nam đã phát triển rất rõ rệt. Rất nhiều anh chị khóa trên ở các trường đào tạo kiến trúc trong nước đã đạt được nhiều thành tích cao ở đấu trường quốc tế. Sự thành công của các anh chị đã là nguồn động lực lớn cho lứa sinh viên đang học tập sự tự tin và những kiến thức thi cử quốc tế khá bổ ích.
Như năm ngoái, đồ án thủ khoa tốt nghiệp Trường ĐH Kiến Trúc TP. Hồ Chí Minh đã đạt giải Nhì đồ án sinh viên quốc tế Tamayouz. Cảm hứng từ các anh chị đi trước truyền lửa cho các thế hệ sau mạnh dạn thử sức với các đồ án tốt nghiệp kiến trúc sư các nước trên thế giới.
Do đó, sau khi hoàn thành và nộp bài dự thi trong nước, em rất tò mò muốn biết vị trí của đồ án tốt nghiệp của mình được đánh giá thế nào ở môi trường quốc tế. Em hiểu rằng, đây là cơ hội để mình có thể lắng nghe những đánh giá từ những người chuyên môn quốc tế” – Chi chia sẻ.
Tamayouz là một cuộc thi được tổ chức rất bài bản và phải qua nhiều vòng tuyển chọn. Ở mỗi vòng, ban tổ chức đều thông báo kết quả của từng chặng, vòng top 100, top 50, top 20, top 10 và top 3 cùng bài “Winner“. Sự bài bản và thời gian công bố từng chặng kéo dài cũng tạo được rất nhiều niềm vui trong suốt quá trình nhận thông tin kết quả.
“Em luôn đánh giá rất cao tất cả các đồ án và ý tưởng của các ứng viên. Nhưng cũng chính vì đánh giá cao đó, em cảm thấy khá tự hào khi đến vòng top 20 vẫn có đến 7 ứng viên từ Việt Nam. Các bạn cũng tiếp cho em sự tự tin và mong chờ đến những điều tốt đẹp nhất…
Thật sự, việc trở thành “winner” quán quân cùng các bạn quốc tế đồng trang lứa cùng học ngành kiến trúc đã khiến em rất bất ngờ”.
Hiện nay, Chi đã xin được việc làm và khởi đầu công việc với một công ty kiến trúc chuyên nghiệp. Cô đang học hỏi rất nhiều từ anh chị kiến trúc sư đồng nghiệp và kiến thức thực tế. Cô cũng đã có dự định học tiếp để nâng cao kiến thức cũng như tiếp cận được khoa học nghiên cứu để phục vụ cho việc thiết kế.
“Được học bổng thạc sĩ 2 năm ở trường Polytechnic Milan Italy, em rất vui và tự hào với chính bản thân. Cơ hội này quá lớn với sự tưởng tượng của em. Em sẽ thực hiện tiếp “giấc mơ đồ án tốt nghiệp” ra đến “hiện thực” ở Polytechnic Milan" - Chi mong muốn
Tất cả cảm xúc:
3

Lãnh đạo xây dựng hệ thống chính trị, hệ thống thể chế đảm bảo kiên định và thực hiện thành công đường lối cách mạng của Đảng


Thứ nhất, xây dựng bộ máy tổ chức đảng và hệ thống chính trị. Công tác tổ chức bộ máy hệ thống chính trị trong những năm qua đã có nhiều đổi mới về nhận thức, không ngừng hoàn thiện, đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới, tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân có nhiều hạn chế do điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước đã có những thay đổi to lớn, yêu cầu cách mạng trong giai đoạn sắp tới cũng đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ, phức tạp.

Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII đã xác định công tác xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy hệ thống chính trị của đất nước trong thời kỳ tới tập trung vào hai mục tiêu chung. Thứ nhất, “Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với thể chế kinh tế thị trương định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và chất lượng hoạt động của mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội; phát huy quyền làm chủ của nhân dân”. Thứ hai, “Tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng, sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; giảm chi thường xuyên và góp phần cải cách chính sách tiền lương”[1].     

Các nhiệm vụ, giải pháp hoàn thiện tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tập trung vào các vấn đề: Thống nhất nguyên tắc Đảng lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy hệ thống chính trị; nghiên cứu xây dựng và thực hiện mô hình tổng thể phù hợp yêu cầu điều kiện mới; rà soát, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, cơ chế vận hành của tổ chức bộ máy hệ thống chính trị; cải cách hành chính, đổi mới công nghệ trong hoạt động, đổi mới chính sách phân bổ ngân sách chi thường xuyên; làm tốt công tác giáo dục tư tưởng, tạo đồng thuận xã hội trong đổi mới tổ chức bộ máy hệ thống chính trị.

Thứ hai, xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống thể chế phát triển, trong đó thể chế chính trị là trung tâm. Đó chính là việc đổi mới, hoàn thiện và các điều kiện đảm bảo thi hành trên thực tế hệ thống các quy định pháp lý, các chế độ hoạt động và các chính sách đảm bảo cho hệ thống chính trị và hệ thống kinh tế của đất nước vận hành thông suốt, hiệu lực, hiệu quả theo đúng nguyên tắc, yêu cầu và mục đích đặt ra, phát huy được tính chất ưu việt của chế độ, giảm thiểu tối đa những ảnh hưởng tiêu cực và những phát sinh ngoài tầm kiểm soát. Giải quyết tốt về thể chế phát triển cũng chính là giải quyết mối quan hệ lớn giữa đổi mới chính trị với đổi mới kinh tế.

Trong thời gian vừa qua, hệ thống thể chế phát triển của đất nước đã có nhiều đổi mới theo hướng ngày càng hoàn thiện, đáp ứng đòi hỏi từ thực tế. Tuy nhiên, không ít vấn đề đang đặt ra, đòi hỏi sự lãnh đạo của Đảng để khắc phục những hạn chế, không ngừng hoàn thiện hệ thống thể chế phát triển, đáp ứng yêu cầu công cuộc xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Đó là việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp, đảm bảo tính chất đồng bộ, hài hòa, thuận lợi cho việc thực thi, đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý đất nước một cách dân chủ, bảo vệ các quyền tự do, dân chủ chính đáng, đồng thời giữ vững kỷ cương, phép nước, ngăn chặn kịp thời, có hiệu quả những vấn đề, sự việc ảnh hưởng tiêu cực đến văn hóa dân tộc, lợi ích quốc gia và đời sống của cộng đồng. Rà soát, hoàn thiện hệ thống chính sách cụ thể đối với các lĩnh vực kinh tế, xã hội, con người, hợp tác quốc tế, đảm bảo tính chất hợp lý, khoa học, nhân văn, tiến bộ, theo kịp sự vận động nhanh chóng của đời sống hiện thực. Đặc biệt, cần xây dựng, hoàn thiện cơ chế vận hành và tạo các điều kiện cần và đủ về thiết chế, nguồn lực và các giải pháp cụ thể để đảm bảo cho việc thực thi đầy đủ, đúng yêu cầu về hiệu lực đối với hệ thống thể chế phát triển của đất nước.

Thứ ba, xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược cán bộ. “Cán bộ là công việc gốc của Đảng”, vì vậy, xây dựng chiến lược, làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục, sử dụng, quản lý đội ngũ cán bộ Đảng, cán bộ của hệ thống chính trị chính là vấn đề chính trị hàng đầu, sống còn đối với Đảng, đối với chế độ. Nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, hay “cán bộ là gốc của mọi công việc”, vì thế, “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”[2].

Theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ bảy khóa XII, mục tiêu đặt ra cho công tác cán bộ của Đảng trong thời gian tới là: “tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, đủ về số lượng, có chất lượng và cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ, đủ sức lãnh đạo đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”.

Để đạt được mục tiêu ấy, công tác cán bộ tập trung thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức về cán bộ, đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng đạo đức, lối sống; đổi mới cơ chế quản lý, chính sách sử dụng, đãi ngộ; nâng cao chất lượng, năng lực công tác của đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng phát triển đất nước trong thời kỳ tới. Trọng tâm của các giải pháp trên là: “(1) Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ, hiệu quả công tác cán bộ; chuẩn hóa, xiết chặt kỷ cương đi đôi với tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo phục vụ phát triển và có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. (2) Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược và bí thư cấp ủy, người đứng đầu các cấp đi đôi với phân cấp, phân quyền nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo, đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ quyền lực”[3].


1. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng đường lối cách mạng

 

Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu nhất quán, kiên định đồng thời cũng là đường lối chung, thống nhất quan trọng nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ những ngày đầu mới thành lập. Trên cơ sở đường lối chung ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo và không ngừng phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với đặc điểm tình hình, bối cảnh lịch sử, xã hội của từng thời kỳ; kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc; tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, học hỏi và vận dụng hợp lý kinh nghiệm quốc tế, để xây dựng đường lối, đề ra những chủ trương, kế sách thích hợp, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Đường lối đổi mới do Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra là một biểu hiện tiêu biểu cho lập trường kiên định mục tiêu cách mạng và sự sáng tạo của Đảng trong nhận thức và phát triển lý luận. Vượt qua những định kiến, khuôn mẫu trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội đương thời, lần đầu tiên, Đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, sản xuất hàng hóa, mở rộng các điều kiện kinh doanh, thu hút nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài. Đường lối Đổi mới đã mở ra một thời kỳ phát triển mạnh mẽ của đất nước, mang lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, cải thiện cơ bản đời sống nhân dân, góp phần củng cố chế độ, tăng cường tiềm lực bảo vệ Tổ quốc.

Ngày nay, trong điều kiện mới, khi mà mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu đã tan rã, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ trong lĩnh vực công nghệ thông tin và quá trình toàn cầu hóa cùng những vấn đề của an ninh phi truyền thống đang đặt ra trước nhân loại nhiều khó khăn và thuận lợi đan xen, những thời cơ và thách thức phức tạp, ảnh hưởng mạnh mẽ đến mỗi quốc gia, dân tộc. Các nước với các chế độ chính trị và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Trong điều kiện ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định khẳng định “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”. Đảng xác định mô hình chủ nghĩa xã hội mà nhân dân Việt Nam xây dựng là xã hội có 8 đặc trưng: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước trên thế giới. Mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam là kết tinh kinh nghiệm trong quá trình cách mạng, thể hiện lập trường kiên định con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cụ thể của đất nước. Đây cùng là kết quả của những nhận thức lý luận mới của Đảng trên cơ sở những bài học kinh nghiệm từ những mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực đã có trên thế giới, cũng như từ những đặc điểm của thời đại hiện nay.

Để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định những phương hướng cơ bản xây dựng, phát triển đất nước dựa trên 4 trụ cột chính sách là: Xây dựng Đảng là then chốt; phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng văn hóa, con người làm nền tảng tinh thần, động lực phát triển kinh tế - xã hội; tăng cường quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên. Đồng thời, Đảng yêu cầu trong quá trình thực hiện đường lối đó phải chú trọng nắm vững và giải quyết tốt một loạt mối quan hệ lớn, trong đó có các mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, giữa tuân theo các quy luật thị trường và đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa, giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ… Đường lối xây dựng, phát triển đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang được triển khai, cụ thể hóa thành các chính sách, các quyết định quản lý, đang được thực thi có hiệu quả, mang lại những kết quả to lớn, toàn diện.