Chủ Nhật, 24 tháng 12, 2023

CÓ GÌ NGẠC NHIÊN ĐÂU, 80 NĂM TRƯỚC ĐÂY CHÂU ÂU ĐÃ “YÊU” NƯỚC NGA XÔ VIẾT NHƯ THẾ NÀO

 CÓ GÌ NGẠC NHIÊN ĐÂU, 80 NĂM TRƯỚC ĐÂY CHÂU ÂU ĐÃ “YÊU” NƯỚC NGA XÔ VIẾT NHƯ THẾ NÀO

Đến ngày 22 tháng 6 năm 1941 khi quân Đức bắt đầu tiến quân vào đất Liên Xô, 4,3 triệu lính lực lượng vũ trang của phe Đức đã tập trung ở sát biên giới với Liên Xô. Không phải tất cả họ đều là người Đức. Vào đầu cuộc chiến và sau này, ngoài quân đội đồng minh và vệ tinh, các đội hình quốc gia với tổng số khoảng nửa triệu người đã phục vụ trong hàng ngũ của Đức Quốc xã. Ví dụ, bao gồm:
Người Latvia – 150 nghìn người;
Người Estonia – 90 nghìn;
Người Litva – 50 nghìn;
Người Hà Lan – 40 nghìn;
Người Bosnia – 26 nghìn.
Vị trí và sức chiến đấu của người nước ngoài rất đa dạng. Một số người bảo vệ cuối cùng của Reichstag là người Latvia thuộc Sư đoàn bộ binh SS số 15 và người Pháp thuộc Sư đoàn Charlemagne. Nhưng một nửa sư đoàn Skanderbeg của Albania đã bỏ trốn sau khi nhận được khoản lương đầu tiên.
Ở các nước đồng minh và vệ tinh của Đức Quốc xã, số lượng nhân sự lớn hơn nhiều:
Hungary 🇭🇺
Một trong những đồng minh trung thành nhất của Đức Quốc xã tham chiến với Liên Xô vào ngày 27/6/1941 và tiếp tục chiến đấu cho đến ngày 12/4/1945. Đến đầu năm 1942, sức mạnh của quân đội Hungary ở Mặt trận phía Đông là 200 nghìn binh sĩ. Lính Hungary nổi tiếng vì sự tàn ác không thể tưởng tượng được đối với dân cư bị chiếm đóng. Hậu quả của cuộc phản công của quân đội Liên Xô gần Stalingrad, những kẻ chiếm đóng này đã nhận được những gì họ xứng đáng nhận được: 145 nghìn người bị giết hoặc bị bắt.
Romania 🇷🇴
Nước này bước vào cuộc chiến với Liên Xô cùng lúc với Đức. Vào tháng 7 năm 1941, 342 nghìn sĩ quan và binh lính của nước này đã chiến đấu trên mặt trận phía Đông. Sau đó, số lượng binh lính được bổ sung liên tục. Vì vậy Romania đã mất 480 nghìn người chỉ trong cuộc chiến với Liên Xô.
Ý 🇮🇹
Đến đầu trận Stalingrad, sức mạnh của Tập đoàn quân 8 Ý là 235 nghìn người. Kết quả của trận chiến, 84 nghìn người đã thiệt mạng hoặc bị bắt. Bộ chỉ huy đưa số còn lại về Ukraine, sau đó quay trở lại Ý. Bởi vì người Ý hóa ra không phải là chiến binh, họ không giành được vinh quang trong các trận chiến ở phía đông châu Âu.
Phần Lan 🇫🇮
Đến ngày 22 tháng 6 năm 1941, một nhóm gồm 407,5 nghìn quân nhân đã được triển khai trên mặt trận chống Liên Xô. Người Phần Lan đã chiến đấu chống lại Hồng quân gần Leningrad, ở Karelia, gần Smolensk, ở Estonia và ở Tây Ukraine. Phần Lan bước đầu giành lại các vùng lãnh thổ đã được nhượng lại cho Liên Xô sau cuộc chiến tranh 1939-1940. Tháng 9 năm 1944, dưới áp lực của quân đội Liên Xô, Phần Lan đã ký thỏa thuận ngừng bắn. Theo phía Phần Lan, 55 nghìn đồng bào đã chết ở Mặt trận phía Đông. Theo Bộ Tổng tham mưu Lực lượng Vũ trang Nga – số người Phần Lan đã chết là 84 nghìn.
Tây Ban Nha 🇪🇸
"Sư đoàn xanh của Wehrmacht" bao gồm hơn 45 nghìn người Tây Ban Nha. Do tuyên truyền, phần lớn những người tình nguyện tham gia đều tin rằng Liên Xô là thủ phạm chính trong cuộc nội chiến diễn ra ở nước này. Vì vậy, họ được phái đi chiến đấu chống chủ nghĩa cộng sản như thể đang tham gia một cuộc thập tự chinh. Sư đoàn chiến đấu gần Novgorod và Leningrad. Thiệt hại lên tới khoảng 14 nghìn người. Người Tây Ban Nha biết cách chiến đấu, bộ chỉ huy quân Liên Xô đã thành thật thừa nhận khả năng chiến đấu của họ.
Slovakia 🇸🇰
Người Slovakia tuyên chiến với Liên Xô vào ngày 23 tháng 6 năm 1941, một trong những vệ tinh đầu tiên. Khoảng 36 nghìn người đã chiến đấu chống quân đội Xô Viết, có mặt ở Crimea, Caucasus và Ukraine. Người Slovakia mất 16,5 nghìn người thiệt mạng, bị thương và bị bắt.
Những con số trên là của lực lượng vũ trang. Người châu Âu đã hỗ trợ cho Hitler không kém về vũ khí và các hỗ trợ vật chất khác. Ví dụ của Cộng hòa Séc, dù sau này người ta thường nói những người Séc bất hạnh đã bị buộc phải làm việc cho Hitler dưới họng súng phát xít. Không hề có chuyện như thế.
Sự thật thú vị: trong Thế chiến thứ hai, không có một vụ phá hoại nào được ghi nhận tại các nhà máy, công xưởng ở Séc. Tất cả 857 nhà máy đều hoạt động bình thường, sản xuất ra những sản phẩm chết người dùng để chống lại người Xô Viết. Và theo tài liệu của Đức, năng suất lao động tăng hàng năm.
Trước cuộc tấn công vào Liên Xô, hơn 1/4 vũ khí của Đức có nguồn gốc từ Séc. Vũ khí trang thiết bị được sản xuất, lắp ráp trong các nhà máy trên đất Séc bao gồm:
một phần ba số xe tăng Wehrmacht;
40% vũ khí nhỏ;
25% xe tải.
Đây là cách Châu Âu “yêu” Liên bang Xô Viết vào giữa thế kỷ trước. Ngày nay họ muốn bỏ ngày tưởng niệm chiến thắng phát xít, hoặc không tuyên bố là ngày quốc gia. Họ làm như “không nhìn thấy” các cuộc tuần hành của các cựu lính lê dương SS, và họ phá bỏ các tượng đài về các nhà lãnh đạo quân sự và binh lính Liên Xô. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên, vì tổ tiên cha ông của nhiều người châu Âu đã mãi mãi nằm lại trên lãnh thổ của Mặt trận phía Đông. Ngày nay, họ tự hào vì tổ tiên cha ông họ đã từng sống và làm việc cho “Nước Đức vĩ đại”.
Tướng Georgy Zhukov phát biểu một câu không thể phai mờ: “Chúng ta đã giải phóng họ và họ sẽ không bao giờ tha thứ cho chúng ta vì điều này”. Câu nói ấy lại càng đúng trong những ngày này, khi 30 nước châu Âu hợp lực để chống Nga.
p/s: ấy thế nhưng, ngày nay có rất nhiều kẻ lật sử đang cho rằng, những thông tin trên là do "tuyên truyền" bịa ra....
Có thể là hình ảnh về bản đồ và văn bản
Tất cả cảm xúc:
5

Vai trò của giám sát, phản biện xã hội trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng

 Giám sát, phản biện xã hội là một hoạt động cơ bản của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội, có vai trò và ý nghĩa quan trọng đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, bảo vệ thể chế chính trị, góp phần vào thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương và đồng chí Trần Thanh Mẫn, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam  cùng các đại biểu tham quan Triển lãm ảnh Khối đại đoàn kết dân tộc và kết quả công tác Mặt trận nhiệm kỳ 2014 - 2019_Ảnh: TTXVN

Thực hành đạo đức cách mạng gắn với thực hành văn hóa chính trị của cán bộ, đảng viên hiện nay

 Xây dựng Đảng về đạo đức được Đảng ta ngày càng coi trọng, bởi Đảng ta “là đạo đức, là văn minh”. Văn hóa chính trị là một biểu hiện cụ thể của đạo đức cách mạng cần được thực hành ngày càng rộng rãi để trở thành nhu cầu nội sinh trong mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên.

1- Qua thực tiễn 90 năm lãnh đạo, Đảng ta luôn xác định, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, nhiệm vụ sống còn trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng. Xây dựng Đảng về đạo đức là xây dựng nền gốc tinh thần vững chắc của Đảng. Có thể thấy, qua mỗi lần chỉnh đốn, Đảng ta thêm trong sạch, vững mạnh, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu được nâng cao; hệ giá trị văn hóa, đạo đức cách mạng được củng cố, bồi đắp.

Văn hóa chính trị là một biểu hiện cụ thể của đạo đức cách mạng cần được thực hành ngày càng rộng rãi để trở thành nhu cầu nội sinh trong mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên (Trong ảnh:  Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng với nhân dân xã Mỹ Tân, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá)_Ảnh: TTXVN

Trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng” (năm 1958), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh 4 chuẩn mực đạo đức cách mạng: 1- “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng”. 2- “Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng”. 3- “Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”. 4- “Ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”(1).

Các chuẩn mực đạo đức cách mạng được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết, cho đến nay, vẫn giữ nguyên giá trị, là những tiêu chí, chuẩn mực để cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa trong bối cảnh hiện nay.

“Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng” được thể hiện nổi bật nhất là sự trung thành với lý tưởng, với con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội mà toàn Đảng, toàn dân ta đang nỗ lực thực hiện. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, nhất là trên mặt trận tư tưởng. Giữ vững lý tưởng, không dao động trước các âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Trong tác phẩm “Đường Cách mệnh” (năm 1927), Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ, người cách mạng “là phải giữ chủ nghĩa cho vững”. Trong bối cảnh hiện nay, giữ vững lý tưởng của Đảng cần được nhấn mạnh ở cả khía cạnh đấu tranh với những biểu hiện chệch hướng, sai lầm về tư tưởng và tự đấu tranh với các biểu hiện cơ hội chính trị vốn là những mầm mống dẫn đến nguy cơ phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu niềm tin vào mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Bản chất của những người cơ hội chính trị là sự thiếu trung thành và sự nhạt phai lý tưởng.

“Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng” không chỉ là làm cho hết công việc, mà cao hơn còn là sự cống hiến tâm huyết, tinh thần trách nhiệm trước nhiệm vụ được giao, chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng, tôn trọng kỷ luật Đảng gắn liền với tuân thủ pháp luật của Nhà nước trong quá trình thực thi công vụ. Ý thức giữ gìn kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước có mối liên hệ trực tiếp và chặt chẽ với giữ gìn văn hóa, đạo đức, lối sống. Thực tế cho thấy, những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng hầu hết đều có biểu hiện thiếu trách nhiệm, vi phạm các chuẩn mực đạo đức…

“Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc” là chuẩn mực quan trọng. Trong tác phẩm “Đường Cách mệnh” (năm 1927), Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ, người cách mạng phải “ít lòng ham muốn về vật chất”; và khẳng định “thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”(2). Nhìn lại thời gian qua, sự suy thoái đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên đều có nguồn gốc sâu xa từ chủ nghĩa cá nhân. Khi chủ nghĩa cá nhân thắng thế, lợi ích cá nhân làm lóa mắt, lòng tham nổi lên, nhiều cán bộ, đảng viên đã vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc, kỷ luật của Đảng, đánh mất phẩm giá của bản thân, làm hoen ố và tổn hại uy tín, danh dự của tổ chức đảng. Chủ nghĩa cá nhân thực sự là giặc nội xâm, kẻ thù của những người cách mạng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ.

Tuy nhiên, “đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình” không có nghĩa là đề cao thái quá chủ nghĩa tập thể, bài trừ lợi ích cá nhân chính đáng, mà cần có sự hài hòa, từ đó động viên, khuyến khích các cá nhân cống hiến tài năng, tâm huyết cho tập thể.

“Ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ” - học tập lý luận không những để giữ chủ nghĩa cho vững mà còn để vận dụng đúng đắn, sáng tạo vào thực tiễn công tác của từng cán bộ, đảng viên, phù hợp với từng vị trí công việc cụ thể.

Tự phê bình và phê bình là quy luật tồn tại và phát triển của mỗi tổ chức đảng và đảng viên. Tuy nhiên, hiện nay, có tình trạng ngụy tự phê bình và phê bình, khi sự độc đoán, chuyên quyền ở một số cán bộ lãnh đạo, quản lý được núp dưới bóng “tự phê bình và phê bình”. Các buổi sinh hoạt, góp ý tự phê bình, phê bình trở thành cơ hội để người đứng đầu đưa ra ý kiến đánh giá đề cao những người thuộc phe cánh mình, hạ thấp những người không hợp ý; trở thành nơi các cán bộ không ưa nhau “đấu tố nhau”, hạ uy tín của nhau. Rõ ràng, khi động cơ không còn trong sáng nữa thì tự phê bình và phê bình trở thành mảnh đất cho chủ nghĩa cá nhân phát triển. Do đó, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình luôn luôn phải đồng thời giữ được bản chất trong sáng, tính đúng đắn của nguyên tắc này, bảo đảm tự phê bình và phê bình phải thực chất, có cơ chế để ngăn chặn tình trạng lạm dụng, lợi dụng nguyên tắc tự phê bình và phê bình vì mục đích cá nhân. Tự phê bình và phê bình cũng trái ngược với cách ứng xử “dĩ hòa vi quý”, thấy sai không đấu tranh, thấy đúng không bảo vệ, né tránh để “giữ phiếu”. Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự ý thức được vai trò, trách nhiệm công vụ của mình và phải có bổn phận làm tròn trách nhiệm đó, xóa bỏ tâm lý “giữ thân” vì lợi ích cá nhân…

2- Sau khi Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng được ban hành, trong đó chỉ rõ 9/27 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống bên cạnh các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, thì việc giáo dục đạo đức người cán bộ, đảng viên đã có căn cứ cụ thể hơn, nhiều ngành, nhiều đơn vị, tổ chức đã xây dựng tiêu chí đạo đức riêng cho cán bộ, đảng viên của ngành, đơn vị. Ý thức xây dựng văn hóa chính trị cũng đã và đang tiếp tục lan tỏa, các quy định hành vi văn hóa chuẩn mực trở thành nội dung không thể thiếu trong các quy định của nhiều cơ quan nhà nước, các tổ chức đoàn thể.

Để việc thực hành đạo đức cách mạng thực sự là nền tảng “sâu rễ bền gốc”, để đẩy lùi tình trạng suy thoái đạo đức trong cán bộ, đảng viên, thực hành văn hóa chính trị trở thành ý thức hằng ngày trong quá trình thực thi công vụ, cần quan tâm thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, giáo dục đạo đức cách mạng cần tiến hành thường xuyên, trở thành nền tảng cho xây dựng văn hóa chính trị. Xây dựng Đảng về đạo đức, xây dựng văn hóa chính trị phải được thể hiện trong các nghị quyết, chỉ thị quan trọng của Đảng và được cụ thể hóa trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên.

Hai là, xây dựng môi trường văn hóa chính trị lành mạnh. Các tổ chức đảng là những hạt nhân chính trị, nơi thể hiện rõ nét, sinh động và trực tiếp nhất hoạt động lãnh đạo của Đảng, nơi mỗi cán bộ, đảng viên sinh hoạt hằng ngày phải là môi trường giàu đạo đức, văn hóa chính trị.

Bộ đội Biên phòng Đắk Lắk với nhân dân huyện Lắk _Ảnh: TTXVN

Trong môi trường văn hóa chính trị đó, mỗi cá nhân cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý không ngừng học tập và thực hành đạo đức cách mạng, “đi trước”, làm gương cho quần chúng. Xây dựng đạo đức đảng viên trong bối cảnh hiện nay cần được cụ thể hóa thành những việc làm giản dị hằng ngày, như trách nhiệm với công việc, ứng xử với nhau trong cuộc sống, có văn hóa, lối sống lành mạnh... Mỗi cá nhân thường xuyên tự tiết chế chính mình, tự chiến thắng chủ nghĩa cá nhân vốn luôn thường trực trong mỗi con người; phải thực sự cầu thị, thực hiện tự phê bình và phê bình một cách nghiêm túc, khắc phục tình trạng khắt khe với khuyết điểm của người khác, dễ dãi với mình, khi bản thân có khuyết điểm thì đổ lỗi cho nguyên nhân khách quan mà không soát xét lại, tìm căn nguyên từ chính sự yếu kém, hạn chế của mình mà chỉnh đốn; khắc phục tư tưởng chỉ thiên về đòi quyền lợi, mà lảng tránh nghĩa vụ, trách nhiệm.

Ba là, xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, trong sạch, hệ thống các cơ quan nhà nước hoạt động hiệu quả, ứng dụng những phương tiện làm việc hiện đại, đẩy mạnh minh bạch thông tin gắn với trách nhiệm giải trình; xây dựng cơ chế, chế tài mạnh để “không dám tham nhũng”, “không thể tham nhũng”. Nâng cao thu nhập cho đội ngũ cán bộ, đảng viên tương xứng với hiệu quả công việc và xây dựng văn hóa tự trọng để “không muốn tham nhũng” trong thi hành công vụ.

Bốn là, gắn kết chặt chẽ giữa thực hành đạo đức cách mạng với thực hành văn hóa chính trị

Xây dựng Đảng trong các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức được xác định có quan hệ tương hỗ, biện chứng, là cơ sở, tiền đề và hệ quả của nhau, nên cần coi trọng và tiến hành đồng thời, trong đó xây dựng Đảng về đạo đức ngày càng phải được đề cao và gắn chặt với xây dựng và thực hành văn hóa chính trị.

Có thể thấy văn hóa và đạo đức đã thực sự hòa quyện, là hai yếu tố không thể tách rời, luôn được đề cao trong mọi hoạt động của Đảng, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, trong hành vi, ứng xử của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Sau Đại hội IX, Đảng đã phát động học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh; đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII đã nhấn mạnh xây dựng Đảng về đạo đức, cho thấy Đảng ta hết sức coi trọng và ngày càng đề cao việc phải bổ sung, tăng cường yếu tố văn hóa, đạo đức vào công tác xây dựng Đảng. Xây dựng Đảng về đạo đức chính là xây dựng gốc cho thực hành văn hóa chính trị, xây dựng nền tảng tinh thần vững chắc của Đảng.

Năm là, xây dựng mối quan hệ gắn kết giữa văn hóa, đạo đức với pháp luật

Văn hóa, đạo đức và pháp luật là những thành tố tồn tại riêng biệt, nhưng luôn có mối liên hệ chặt chẽ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn rõ và giải quyết hài hòa mối quan hệ này, sự kết hợp “đức trị” và “pháp trị” đã trở thành một nét đặc sắc trong văn hóa chính trị Hồ Chí Minh. Trong tình hình hiện nay, cần gắn kết xây dựng Đảng về đạo đức, xây dựng văn hóa chính trị với pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Sáu là, thực hiện tốt các giải pháp về công tác tổ chức, cán bộ

Đạo đức cách mạng, văn hóa chính trị thể hiện ở tư cách của từng cán bộ, đảng viên và hoạt động của từng tổ chức đảng, do vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất tốt, năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, gương mẫu trong sinh hoạt và công tác là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên. Bên cạnh đó, trên cơ sở tiêu chí chung, các cấp, các ngành cần cụ thể hóa và xây dựng tiêu chí, chuẩn mực đạo đức về văn hóa công vụ riêng cho ngành mình. Tiếp tục hoàn thiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước phù hợp với tình hình hiện nay, trong đó có các nội dung, yêu cầu về văn hóa, đạo đức, lối sống đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức… Cần sửa đổi, bổ sung Quy định về những điều đảng viên không được làm, theo hướng định danh và cụ thể hóa từng việc làm, từng hành động phản văn hóa, phi đạo đức của cán bộ, đảng viên và có chế tài xử lý thích đáng gắn với tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng nghiêm minh. Nghiên cứu hoàn chỉnh bộ tiêu chí xây dựng Đảng về đạo đức, các yêu cầu cụ thể về thực hành văn hóa chính trị làm cơ sở để các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên vận dụng. Chú trọng phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể, quần chúng nhân dân, các cơ quan thông tin đại chúng đối với cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu ở cả nơi công tác và nơi cư trú… Đổi mới phương pháp giáo dục đạo đức và văn hóa truyền thống trong hệ thống các cấp học, góp phần xây dựng một xã hội giàu văn hóa, coi trọng các giá trị đạo đức, làm nền tảng vững chắc cho thực hành đạo đức, thực hành văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên./.

Thực hiện đoàn kết và dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 Đoàn kết thực sự mới có dân chủ thực sự

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “đoàn kết” và “dân chủ” có mối quan hệ biện chứng, gắn bó chặt chẽ với nhau. Người có tinh thần đoàn kết thực sự luôn biết tôn trọng lợi ích của các thành viên khác trong tập thể; biết lắng nghe, hợp tác, giúp đỡ các thành viên khác; có tinh thần cầu thị, tiếp thu ý kiến góp ý, phê bình từ các thành viên khác; biết vận động những thành viên khác lấy lợi ích của tập thể làm trung tâm; nhận thức rõ lợi ích cá nhân mình chỉ có được khi trở thành một phần hữu cơ trong lợi ích của tập thể. Như vậy, có thể thấy rõ, nếu mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người lãnh đạo, có tinh thần đoàn kết thực sự thì mới tập hợp được quần chúng thành một tập thể gắn bó với nhau, trong đó quyền lợi của mỗi cá nhân đều được bảo đảm. Thực tiễn đã chứng minh, ở bất cứ quốc gia - dân tộc nào, nếu đảng cầm quyền biết tôn trọng và phát huy tốt quyền làm chủ của nhân dân, hay nói cách khác dân chủ được thực thi, thì ở đó, có sự đồng thuận xã hội cao. Đây chính là biểu hiện đầy đủ nhất của sự đoàn kết.

Đại đoàn kết toàn dân tộc tạo thành sức mạnh to lớn đưa sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đi tới thắng lợi. Để làm được điều đó, Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam phải được “tổ chức một cách dân chủ. Điều đó có nghĩa là tất cả mọi công việc của đảng đều được toàn thể các đảng viên, hoàn toàn bình quyền và không có ngoại lệ nào, tiến hành trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu; đồng thời tất cả những người có trách nhiệm trong đảng, tất cả các ban lãnh đạo của đảng, tất cả các cơ quan của đảng đều được bầu ra, đều có trách nhiệm phải báo cáo và có thể bị bãi miễn”(15). Thực hành dân chủ trong Đảng, từ Trung ương đến cơ sở là nền tảng vững chắc để xây dựng một Đảng đoàn kết, thống nhất, trở thành hạt nhân, động lực xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm hỏi nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình (tháng 2-2018)_Ảnh: Tư liệu

Tự phê bình và phê bình để đoàn kết, thực hành dân chủ trong Đảng

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để có đoàn kết và dân chủ thực sự, trong Đảng phải nghiêm túc thực hiện tự phê bình và phê bình: “Muốn cách mạng thành công, ắt phải đoàn kết và tiến bộ. Muốn đoàn kết càng chặt chẽ, tiến bộ càng mau chóng, thì mọi người phải sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Mà muốn được như thế thì không có cách gì hơn là thật thà tự phê bình và phê bình... Phê bình là quyền lợi và nhiệm vụ của mọi người, là thực hành dân chủ... Mọi người có quyền phê bình nhau để cùng tiến bộ. Không phê bình tức là bỏ mất một quyền dân chủ của mình”(16).

Mỗi cán bộ, đảng viên khi thực hiện tự phê bình cũng như được góp ý phê bình phải dũng cảm nhận khuyết điểm và đề ra biện pháp sửa chữa khuyết điểm. Để thực tâm đoàn kết và thực hành dân chủ, mỗi cán bộ, đảng viên phải thực tâm tự phê bình, “phải thật thà... có khuyết điểm gì nói hết, không giấu giếm chút gì. Phải tìm cho ra vì sao mà sai lầm? Sai lầm ấy sẽ thế nào? Dùng cách gì mà sửa chữa? Và phải kiên quyết sửa chữa. Tự phê bình và sửa khuyết điểm có khi dễ, nhưng cũng có khi khó khăn, đau đớn, vì tự ái, vì thói quen hoặc vì nguyên nhân khác”(17)Một mặt, thực tâm tự phê bình là tự mình nêu lên những hạn chế, khuyết điểm của bản thân để đồng chí, đồng nghiệp giúp đỡ mình khắc phục, sửa chữa khuyết điểm, đồng thời giúp cho người khác biết để tránh. Mặt khác, người có can đảm, thực tâm tự phê bình thì mới thực tâm, chân thành khi phê bình đồng chí, đồng nghiệp: “Phê bình là cốt giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, cho nên thái độ của người phê bình phải thành khẩn, nghiêm trang... Tuyệt đối không nên có ý mỉa mai, bới móc, báo thù. Không nên phê bình lấy lệ. Càng không nên “trước mặt không nói, xoi mói sau lưng””(18).

Chỉ có tinh thần đoàn kết thực sự thì mới có sự chân thành, xây dựng trong phê bình đồng chí mình và có thái độ thực sự cầu thị khi tiếp thu phê bình từ đồng chí, đồng nghiệp. Chỉ có môi trường dân chủ thực sự thì cán bộ, đảng viên mới thấy tự tin, yên tâm để góp ý, phê bình khuyết điểm của đồng chí, của cấp trên, đồng thời mới có sự tỉnh táo, bình tĩnh để nhận thức đúng đắn và chân thành đón nhận sự phê bình, góp ý để tiến bộ. Thực tế cho thấy, để tự phê bình và phê bình thực sự có hiệu quả, việc nêu gương của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức có ý nghĩa quyết định. Người đứng đầu cần dũng cảm, quyết liệt tự soi xét, phê bình bản thân mình, từ công việc, đời sống cho đến trong các quan hệ gia đình, xã hội, không né tránh, không giấu giếm; cần khiêm tốn, cầu thị khi tự đánh giá bản thân; có thái độ nghiêm khắc với những thiếu sót, khuyết điểm, hạn chế của bản thân mình. Chỉ khi người đứng đầu gương mẫu tự phê bình thì mới tạo ra được động lực để cả cơ quan, tổ chức tự phê bình một cách thực chất.

Đồng thời, người đứng đầu cũng cần nêu gương trong khi thực hiện phê bình đồng chí, cấp dưới của mình; phải xuất phát từ thực tâm mong muốn đồng chí mình tiến bộ, hoàn thiện hơn; đặc biệt, cần có phương pháp, cách thức phê bình sao cho người được phê bình thấy rõ được sai sót, khuyết điểm và quan trọng hơn là thấy mình trưởng thành hơn về nhận thức, qua đó có động lực khắc phục, sửa chữa sai sót để tiến bộ. Muốn nêu gương về phê bình, người đứng đầu cần phải thực tâm lắng nghe ý kiến nhận xét của quần chúng, đồng nghiệp và cấp dưới; từ đó, không chỉ thấy được khuyết điểm của mình để tìm ra biện pháp khắc phục, mà còn rút ra được những phương pháp, cách thức phê bình phù hợp, hiệu quả; vận dụng phương pháp phê bình hiệu quả để thực hành cho bản thân và phổ biến trong cơ quan, tổ chức cho đồng chí, đồng nghiệp cùng tham khảo. Tập thể lãnh đạo, người đứng đầu nêu gương tự phê bình và phê bình chính là hạt nhân, là động lực để xây dựng và phát huy được tinh thần đoàn kết, không khí dân chủ thực sự trong tổ chức, địa phương, cơ quan, đơn vị./.

Quy định sử dụng mạng xã hội trong quân đội

 Quy định sử dụng mạng xã hội trong quân đội

Trong quân đội, mọi hoạt động của các quân nhân đều được kiểm soát chặt chẽ. Vậy quy định sử dụng mạng xã hội trong quân đội như thế nào? Mời bạn đọc cùng chúng tôi tìm hiểu các quy định về nội dung này qua bài viết dưới đây.
Mạng xã hội như facebook, instagram, tiktok,... không còn quá xa lạ với chúng ta bởi việc sử dụng thường xuyên, hàng ngày. Tuy nhiên việc sử dụng mạng xã hội nói riêng, việc sử dụng internet nói chung trong môi trường quân đội lại được kiểm soát khá chặt chẽ.
Theo Quyết định 874/QĐ-BTTTT ngày 17/6/2021 về quy tắc ứng xử trên mạng xã hội và Thông tư 110/2014/TT-BQP về việc quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet trong quân đội thì quân nhân sử dụng mạng xã hội phải đảm bảo:
Các quy tắc chung:
- Tôn trọng và tuân thủ pháp luật: Người sử dụng mạng xã hội phải tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam, đồng thời tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân cũng như các tổ chức.
- Lành mạnh: Theo đó, các hành vi, ứng xử của mọi người trên mạng xã hội phải phù hợp với giá trị đạo đức, giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp của nước ta.
- An toàn và bảo mật thông tin: Người dùng mạng xã hội tuân theo quy định, hướng dẫn về việc bảo vệ an toàn và quy định bảo mật thông tin.
- Trách nhiệm: Người dùng phải tự chịu trách nhiệm về hành vi, cách ứng xử của mình trên mạng xã hội; tích cực phối hợp cùng với các cơ quan chức năng để tiến hành xử lý các hành vi, những nội dung thông tin vi phạm pháp luật.
Các quy tắc riêng: Ngoài tuân thủ các quy định chung đã nêu thì người dùng mạng xã hội trong quân đội còn phải đảm bảo:
- Tìm hiểu về các điều khoản của nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội và tuân thủ các điều khoản hướng dẫn sử dụng đó khi dùng mạng xã hội.
- Nên sử dụng các thông tin thật để đăng ký với nhà cung cấp dịch vụ nhằm mục đích xác thực, là đầu mối liên lạc.
- Tự quản lý và bảo mật thông tin tài khoản mạng xã hội của mình. Trường hợp bị mất quyền kiểm soát, bị đối tượng khác mạo danh, bị lợi dụng,... sử dụng vào mục đích không lành mạnh như lừa đảo, ảnh hưởng đến quyền lợi của cá nhân, tổ chức thì báo ngay cho các cơ quan chức năng để xử lý.
- Chia sẻ những thông tin, tin tức đáng tin cậy, có nguồn chính thống.
- Có các hành vi, ứng xử phù hợp với thuần phong mỹ tục, văn hóa, truyền thống của dân tộc. Không sử dụng các từ ngữ hay có hành vi kích động, phân biệt giới tính, vùng miền, tôn gi giáo.
- Không đăng tải các nội dung vi phạm pháp luật, thông tin xúc phạm danh dự, nhân phẩm, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân/tổ chức khác; sử dụng ngôn ngữ phản cảm hay vi phạm thuần phong mĩ tục; tung tin sai sự thật, tin giả; quảng cáo, kinh doanh dịch vụ bị pháp luật cấm, trái phép... gây bức xúc trong dư luận xã hội và làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội.
- Khuyến khích việc sử dụng mạng xã hội để tuyên truyền, quảng bá về hình ảnh đất nước - con người và những văn hóa tốt đẹp của Việt Nam, đồng thời chia sẻ, lan tỏa thông tin tích cực, có ích cho đời sống, gương người tốt việc tốt.
- Giáo dục, bảo vệ trẻ em, trẻ vị thành niên để các em sử dụng mạng xã hội một cách an toàn và lành mạnh.
Các hành vi bị cấm khi quân nhân sử dụng mạng xã hội: Ngoài những quy tắc cần tuân thủ thì việc sử dụng mạng xã hội trong quân đội cũng phải đảm bảo không vi phạm các điều cấm sau đây:
- Cung cấp, trao đổi, đăng những thông tin, tin tức có nội dung liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật quân sự, quốc phòng.
- Tạo lập và cung cấp thông tin cá nhân với tư cách quân nhân lên các mạng xã hội.
- Truy cập vào những trang thông tin điện tử mạo danh, phản động, có nội dung không lành mạnh.
- Kết nối mạng Internet với mạng truyền số liệu của quân sự; mạng nội bộ của cơ quan, đơn vị quân đội đang làm việc./.
Có thể là hình ảnh về 3 người và văn bản cho biết 'SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI TRONG QUÂN ĐỘI'
Tất cả cảm xúc:
14