Thứ Ba, 2 tháng 1, 2024

 

Cải cách hành chính góp phần xây dựng nhà trường quân đội vững mạnh toàn diện, mẫu mực, tiêu biểu


(LLCT) - Cải cách hành chính ở các nhà trường quân đội là khâu đột phá nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học của các nhà trường, góp phần xây dựng nhà trường vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu”, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Bài viết khái quát thực trạng và một số vấn đề đặt ra trong cải cách hành chính ở các nhà trường quân đội hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cải cách hành chính ở các nhà trường quân đội thời gian tới.

 

1. Cải cách hành chính ở các nhà trường quân đội hiện nay

Cải cách hành chính (CCHC) ở nhà trường quân đội (NTQĐ) là sự thay đổi có kế hoạch hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực quân sự nhằm hoàn thiện hệ thống thể chế, tổ chức và hoạt động quản lý, chỉ huy, điều hành việc chấp hành pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định của Quân đội, đáp ứng yêu cầu xây dựng các NTQĐ vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu”, hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và các nhiệm vụ khác được giao.

CCHC ở các NTQĐ là quá trình tạo ra những thay đổi, tiến bộ trong xây dựng và hoàn thiện thể chế, tổ chức bộ máy; xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ có đủ phẩm chất, năng lực; bảo đảm tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý, điều hành thông suốt, không chồng chéo của các cơ quan, khoa, đơn vị trong các NTQĐ.

CCHC ở các NTQĐ có nội dung toàn diện, bao gồm việc cải cách thủ tục, bộ máy hành chính; cải cách tài chính công; ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết các công việc hành chính, chuyên môn, nghiệp vụ, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động chỉ đạo, điều hành và xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên, học viên, chiến sĩ. Trọng tâm là cải cách quy trình xây dựng và thông qua các văn bản quy phạm nội bộ; nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung những quy định, quy chế, bảo đảm tính pháp lý, hiệu quả, minh bạch, công bằng; rà soát, loại bỏ những quy định, quy chế không còn phù hợp, chồng chéo, trùng lặp hoặc gây khó khăn trong triển khai; quản lý chặt chẽ biên chế, rà soát, bổ sung, sửa đổi, cập nhật cơ sở dữ liệu dùng chung về sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, phục vụ cho công tác quản lý, điều hành hoạt động giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học ở nhà trường.

CCHC ở các NTQĐ là khâu đột phá nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học tại các nhà trường; góp phần thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, bảo đảm cho công tác quản lý, chỉ huy, điều hành hoạt động ở các NTQĐ đồng bộ, thống nhất, khả thi, hiệu quả; xây dựng tổ chức bộ máy trong các NTQĐ tinh, gọn, hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ; tạo môi trường, điều kiện thuận lợi, giúp tiết giảm thời gian, ngăn ngừa tiêu cực, lãng phí, nâng cao chất lượng hoạt động. Đồng thời, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên của các NTQĐ đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Những năm qua, quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Quân ủy Trung ương, kế hoạch, hướng dẫn của Ban Chỉ đạo CCHC và xây dựng Chính phủ điện tử của Bộ Quốc phòng, các NTQĐ đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng kế hoạch CCHC, triển khai thực hiện chặt chẽ, nghiêm túc, đạt được những kết quả quan trọng.

Bộ máy tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, khoa, đơn vị ở các NTQĐ được điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, chỉ huy, điều hành của hệ thống lãnh đạo, chỉ huy các cấp. Thủ tục hành chính ở các NTQĐ được sửa đổi, bổ sung, cơ bản bảo đảm tính pháp lý, minh bạch, chặt chẽ, công bằng, đơn giản hóa, góp phần tiết kiệm thời gian, chi phí, mang lại hiệu quả cao trong quản lý, chỉ huy, điều hành; “đã chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện thủ tục hành chính, quy trình giải quyết công việc gắn với duy trì áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2015 bảo đảm công khai, minh bạch, dễ thực hiện và từng bước đơn giản hóa”(1).

Các NTQĐ đã quan tâm đầu tư mua sắm trang thiết bị, hoàn thiện hệ thống công nghệ thông tin, mạng internet, đường truyền quân sự tốc độ cao; hệ thống mô phỏng huấn luyện; các phòng học trực tuyến, trung tâm điều hành huấn luyện thông minh, kết nối liên thông trong nội bộ và toàn quân; hệ thống kiểm soát, an ninh chặt chẽ, bảo đảm thuận tiện cho công tác quản lý và có tính bảo mật cao. “Sử dụng hiệu quả hệ thống mạng nội bộ, mạng truyền dữ liệu quân sự, thư điện tử quân sự phục vụ công việc. Hệ thống phần mềm quản lý văn bản, hồ sơ công việc được các cơ quan, đơn vị triển khai áp dụng và vận hành đạt kết quả tốt”(2).

Tuy nhiên, CCHC ở các NTQĐ vẫn còn những hạn chế cần khắc phục. Tại một số cơ quan, đơn vị, cán bộ chủ trì chưa phát huy tốt vai trò, trách nhiệm trong nghiên cứu, tham mưu đề xuất, trong quản lý, điều hành, kiểm tra thực hiện các nội dung CCHC, “tổ chức thực hiện cải cách hành chính có thời điểm chưa thực sự quyết liệt; bố trí nguồn lực cho cải cách hành chính còn hạn chế; công tác kiểm tra, giám sát ở một số cơ quan, đơn vị chưa được thực hiện thường xuyên”(3). Trình tự, thủ tục giải quyết công việc liên quan đến một số ngành, lĩnh vực chưa thực sự khoa học, rõ ràng, chưa chuẩn hóa, tối ưu hóa; “việc kiểm soát thủ tục hành chính đối với một số văn bản quy phạm nội bộ có nội dung chưa chặt chẽ. Niêm yết công khai thủ tục hành chính sau khi tiếp nhận có nội dung chưa kịp thời”(4).

Chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của các cơ quan, khoa, đơn vị; chức trách, nhiệm vụ của chỉ huy các cấp vẫn còn chồng chéo, việc phân cấp, phân quyền, quy trách nhiệm có nơi chưa cụ thể, rõ ràng. Phương pháp làm việc của một số cán bộ, nhân viên chưa khoa học, thiếu chủ động, nhất là trong những công việc có tính phức tạp, yêu cầu phải trao đổi, phối hợp giữa nhiều cơ quan, đơn vị. “Hệ thống cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin có mặt còn hạn chế, việc chuyển văn bản qua mạng nội bộ còn ít”(5), năng lực khai thác, sử dụng công nghệ thông tin của một số cán bộ, nhân viên hạn chế.

Thực trạng trên và xuất phát từ yêu cầu CCHC ở các NTQĐ hiện nay đang đặt ra một số vấn đề cần quan tâm nhận thức rõ và giải quyết:

Một là, nhận thức của các chủ thể, lực lượng tham gia CCHC ở các NTQĐ cơ bản tốt, song quyết tâm trong lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện CCHC chưa cao, chưa quyết liệt, thiếu đồng bộ. Chủ trương, biện pháp lãnh đạo tương đối toàn diện, đúng đắn nhưng tổ chức thực hiện chưa thực sự chặt chẽ, bài bản, nhất là khâu xây dựng, triển khai thực hiện kế hoạch CCHC của một số cơ quan chức năng. Đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp chưa quyết liệt trong triển khai thực hiện các nội dung CCHC cụ thể; vẫn còn tư duy, cách nghĩ, cách làm cũ, rập khuôn, máy móc, mệnh lệnh hành chính, chưa dám đổi mới, đột phá, sáng tạo. “Một số cán bộ có tâm lý ngại thay đổi, chưa sẵn sàng ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết công việc”(6). Đây là vấn đề đặt ra đối với các chủ thể, lực lượng trong CCHC ở các NTQĐ, đòi hỏi sự đổi mới về tư duy, phương pháp, phong cách làm việc theo hướng tích cực, chủ động dám nghĩ; dám làm; dám tham mưu đề xuất; dám chịu trách nhiệm; dám đổi mới, sáng tạo; dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động quyết liệt vì lợi ích chung.

Hai là, tổ chức bộ máy hành chính ở các NTQĐ chưa thực sự tinh, gọn, phù hợp, hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa cao. Quy trình, phương thức quản lý, chỉ huy, điều hành chưa được tối ưu hóa; chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan, ban, bộ phận công tác còn chồng chéo; hiệu suất xử lý công việc chưa cao, chưa chuyên nghiệp. Một số cơ quan, khoa, đơn vị còn hiện tượng thừa hoặc thiếu cục bộ cán bộ, giảng viên, nhân viên; việc bố trí, sắp xếp công việc trái ngành nghề đào tạo vẫn xảy ra. Có hiện tượng quân số dôi dư ở một số cơ quan, đơn vị so với biên chế, nhưng lại chưa tinh, chưa mạnh dẫn đến chất lượng, hiệu quả công việc hạn chế. Thực tế này đặt ra vấn đề phải tiếp tục rà soát, đánh giá, rút kinh nghiệm về cải cách tổ chức, bộ máy để đề nghị cấp có thẩm quyền điều chỉnh sát thực tiễn từng nhà trường, bảo đảm tinh, gọn, mạnh, chuyên nghiệp, thông minh, hiện đại.

Ba là, năng lực tham mưu, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện CCHC của lực lượng chuyên trách, nòng cốt chưa theo kịp sự phát triển; cơ chế phối hợp giữa các lực lượng chưa đồng bộ, chặt chẽ. Năng lực quán triệt, cụ thể hóa chủ trương, biện pháp lãnh đạo, xây dựng kế hoạch, chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện CCHC trên thực tế của lực lượng này còn nhiều hạn chế. Cơ chế, quy chế phối hợp giữa các lực lượng chuyên trách, nòng cốt trong tham gia CCHC thiếu đồng bộ, chưa phân định rõ vai trò, trách nhiệm, nhiệm vụ cụ thể của các lực lượng. Do đó, để nâng cao chất lượng, hiệu quả CCHC ở các NTQĐ hiện nay, đòi hỏi cần tập trung xây dựng lực lượng chuyên trách, nòng cốt có phẩm chất, năng lực tốt, đáp ứng yêu nhiệm vụ được giao.

Bốn là, cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật chưa đầy đủ, đồng bộ, tính bảo mật chưa cao; đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên nhiều mặt chưa đáp ứng yêu cầu CCHC. Hiện nay, các NTQĐ đang sử dụng song hành mạng internet và đường truyền dữ liệu quân sự, mạng nội bộ, dễ dẫn đến hiện tượng kết nối mạng internet vào hệ thống máy tính quân sự. Số lượng máy tính quân sự của các NTQĐ đầy đủ, song đường truyền, cổng kết nối chưa đáp ứng yêu cầu; tỷ lệ máy tính quân sự kết nối mạng truyền dữ liệu quân sự còn thấp. Tỷ lệ cán bộ, giảng viên, nhân viên sử dụng địa chỉ email quân sự, thiết bị lưu trữ tài liệu an toàn còn ít. Hệ thống phần mềm phát hiện độ trùng lặp, hiện tượng sao chép tài liệu, văn bản, nhất là trong đào tạo sau đại học, nghiên cứu khoa học chưa theo kịp sự phát triển của công nghệ hiện đại. Việc mã hóa, số hóa dữ liệu chậm, chưa thống nhất; hệ thống các phần mềm phục vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý chưa đồng bộ, khó sử dụng, chưa liên thông. Trình độ sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý, dạy - học và nghiên cứu khoa học của nhiều cán bộ, giảng viên, nhân viên và học viên còn hạn chế. Phương pháp, tác phong làm việc của cán bộ, giảng viên, nhân viên thiếu chuyên nghiệp, chưa thích ứng với sự phát triển của công nghệ và yêu cầu làm việc trên môi trường mạng. Đây là những vấn đề đặt ra cần được quan tâm giải quyết nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả CCHC ở các NTQĐ trong thời gian tới.

2. Giải pháp nâng cao chất lượng cải cách hành chính ở các NTQĐ

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, Đảng, Nhà nước đang lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh CCHC, trọng tâm là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức với ba trụ cột chính: tổ chức bộ máy; công vụ, công chức; hành chính điện tử và chuyển đổi số. Sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc tiếp tục đặt ra cho Quân đội những nhiệm vụ rất nặng nề và yêu cầu mới mạnh mẽ hơn trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng. Quán triệt, thực hiện quan điểm “Xây dựng đồng bộ thể chế, chính sách để thực hiện có hiệu quả chủ trương giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước”(7) và quan điểm chỉ đạo: Tổ chức, sắp xếp hệ thống NTQĐ tinh, gọn, mạnh, chuyên sâu, “xây dựng các học viện, nhà trường quân đội thông minh, hiện đại, chất lượng cao, theo mô hình trường đại học nghiên cứu…; đẩy mạnh CCHC để nâng cao hiệu quả công tác quản lý giáo dục và quản trị nhà trường”(8), cần tiến hành đồng bộ những giải pháp cơ bản sau:

Một là, tăng cường công tác giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng, nhất là cán bộ chủ trì các cấp đối với nhiệm vụ CCHC ở các NTQĐ. Các tổ chức, lực lượng, nhất là cấp ủy, chỉ huy các cấp ở nhà trường cần quán triệt và thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị, chương trình, kế hoạch và các văn bản hướng dẫn của cấp trên về công tác CCHC; cụ thể hóa các mục tiêu, yêu cầu của công tác CCHC trong Đề án CCHC của Bộ Quốc phòng giai đoạn 2021-2025 và những năm tiếp theo. Tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, quán triệt nhiệm vụ; tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp đối với nhiệm vụ CCHC; đổi mới nội dung, linh hoạt, sáng tạo về phương pháp, hình thức phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụ của từng nhà trường, từng cơ quan, đơn vị.

Hai là, kiện toàn tổ chức bộ máy hành chính và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì, cán bộ chuyên trách các cấp ở các NTQĐ. Tập trung thực hiện tốt việc cải cách tổ chức bộ máy hành chính theo đúng biểu biên chế đã quy định. Tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy định về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, khoa, đơn vị; thực hiện điều chỉnh tổ chức lực lượng và sắp xếp các cơ quan, khoa, đơn vị phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu xây dựng các nhà trường, yêu cầu nhiệm vụ giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học trong tình hình mới. Thường xuyên kiện toàn, nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của các ban chỉ đạo CCHC. Hoàn thiện bộ máy cơ quan tham mưu, cơ quan chỉ đạo, hướng dẫn; cơ chế điều hành, giải quyết công việc ở các cấp, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, đồng bộ và tính khả thi cao.

Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác CCHC có số lượng hợp lý và đủ năng lực tham mưu, đề xuất, hướng dẫn tổ chức thực hiện có hiệu quả. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt việc chuẩn hóa cán bộ, giảng viên, nhân viên theo quy định.

Ba là, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ hoạt động giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học. Căn cứ vào thực tế nhiệm vụ của từng nhà trường để đề xuất đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, nhân lực trong quản lý, điều hành hoạt động giáo dục, đào tạo, giảng dạy và học tập, nghiên cứu; có quy chế và tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên, học viên tiếp cận, chọn lọc thông tin trên internet phục vụ cho công tác chuyên môn. “Tập trung đầu tư xây dựng một số học viện, nhà trường theo mô hình “Nhà trường thông minh, tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư””(9).

Nghiên cứu, đề xuất đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin, hiện đại hóa công tác hành chính, nhất là trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành hoạt động giáo dục, đào tạo. Quán triệt, triển khai thực hiện chủ trương của Chính phủ về “Phát triển nền tảng hỗ trợ dạy và học từ xa, ứng dụng triệt để công nghệ số trong công tác quản lý, giảng dạy và học tập; số hóa tài liệu, giáo trình; xây dựng nền tảng chia sẻ tài nguyên giảng dạy và học tập theo cả hình thức trực tiếp và trực tuyến. Phát triển công nghệ phục vụ giáo dục, hướng tới đào tạo cá thể hóa”(10).

Rà soát các hệ thống chương trình quản lý hiện có; nâng cấp, mở rộng, phổ cập và nâng cao chất lượng, hiệu quả vận hành các phần mềm về quản lý cán bộ, đảng viên; thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội; phần mềm công tác bảo vệ an ninh Quân đội; thúc đẩy dịch vụ công trực tuyến một số thủ tục hành chính, nhất là trong công tác tuyển sinh quân sự.

Bốn là, căn cứ vào đặc điểm, nhiệm vụ của từng nhà trường, xác định rõ phạm vi, nội dung CCHC phù hợp. Xác định mục tiêu CCHC mang tính định lượng với mức độ phù hợp, thiết thực để bảo đảm tính khả thi. Tổ chức thực hiện chương trình CCHC gắn với tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng nhà trường là giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học. Thường xuyên làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá quá trình triển khai thực hiện công tác CCHC ở các NTQĐ. Coi trọng thí điểm, tổng kết, nhân rộng những mô hình, sáng kiến trong cải cách hành chính. Chú trọng việc đánh giá, biểu dương những cơ quan, đơn vị, cá nhân thực hiện tốt và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm

_________________

Ngày nhận bài: 13-10-2023; Ngày bình duyệt: 16-10-2023; Ngày duyệt đăng: 10-12-2023.

(1) Báo cáo số 5697/BC-HV ngày 15-12-2022 của Học viện Kỹ thuật quân sự về Kết quả công tác cải cách hành chính và Báo cáo Kiểm soát thủ tục hành chính,tr.4.

(2)Báo cáo số 1275/BC-HV ngày 08-5-2020 của Học viện Chính trị vềTổng kết công tác cải cách hành chính giai đoạn 2011 - 2020, phương hướng, nhiệm vụ công tác cải cách hành chính  giai đoạn 2021 - 2030,tr.7.

(3) Báo cáo số 3856/BC-HV ngày 03-12-202 của Học viện Chính trị về kết quả công tác CCHC và kiểm soát thủ tục hành chính năm 2021, tr.6.

(4) Báo cáo số 2218/BC-LQ, ngày 17-5-2020 của Trường Sĩ quan Lục quân 1 về Tổng kết công tác cải cách hành chính giai đoạn 2011 - 2020 và phương hướng, nhiệm vụ cải cách hành chính giai đoạn 2021 - 2030, tr.7.

(5) Báo cáo số 6553/BC-LQ ngày 08-12-2021 của Trường Sĩ quan Lục quân 1 về kết quả công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính năm 2021; phương hướng, nhiệm vụ năm 2022, tr.4.

(6) Báo cáo số 2524/BC-BQP ngày 16-7-2020 của Bộ Quốc phòng về Tổng kết công tác cải cách hành chính  giai đoạn 2011 - 2020; phương hướng, nhiệm vụ giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030, tr.9.

(7) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.136.

(8) Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW, ngày 20-12-2022 của Quân ủy Trung ương về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới, tr.7.

(9) Tổng cục Chính trị: Tài liệu nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020-2025, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2020, tr.56, 59.

(10) Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 của Chính phủ, ban hành kèm theo Quyết định số 749/QĐ-TTg, ngày 30-6-2020, tr.15.

 

QUAN ĐIỂM CỦA MÁC – LÊNIN VỀ CHIẾN TRANH

Hiện nay, tình hình thế giới luôn luôn biến động hết sức phức tạp, khi mà tư tưởng phát xít, chủ nghĩa cường quyền trỗi dậy, luật pháp bị coi thường, đạo lý bị chà đạp…Với mục đích tối thượng là “lợi ích” của riêng mình để rồi từ đó tạo ra cái cớ giải quyết mọi vấn đề bằng chiến tranh là hành động hết sức nguy hiểm. Vậy, hiểu chiến tranh thế nào là đúng. Bài viết muốn cung cấp thêm về quan điểm của Mác , Ph. Ăngghen về vấn đề này:

Quá trình hình thành và phát triển những tư tưởng, quan điểm của C. Mác về chiến tranh cũng xuất phát từ những tiền đề xã hội và lý luận nhất định. Đó là quá trình kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những tư tưởng của nhân loại về chiến tranh và không ngừng đấu tranh phê phán, bác bỏ những quan điểm duy tâm, tôn giáo, siêu hình, phản khoa học của giai cấp tư sản về chiến tranh. C. Mác đã kiên quyết chống lại quan điểm cho rằng, chiến tranh là tất yếu, vốn có, là định mệnh đối với con người và xã hội loài người. Theo C. Mác, chiến tranh nảy sinh và phát triển có nguồn gốc và nguyên nhân của nó. Ông phê phán quan điểm của G. Hêghen và C.Ph. Claudơvit - những người đã xuất phát từ lập trường tư sản để giải thích hiện tượng chiến tranh. Đồng thời, ra sức chống các quan điểm cho rằng, nguồn gốc, nguyên nhân của chiến tranh là do tâm lý, sinh lý, địa lý, dân số, kỹ thuật,… gây nên. Việc đánh giá có phê phán những thành tựu của toàn bộ tư tưởng lý luận quân sự trước Mác trên lập trường cách mạng và khoa học, có tính nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã cho phép Ông tạo ra một bước ngoặt cách mạng thực sự trong quan điểm, tư tưởng, lý luận về chiến tranh.

Trên cơ sở phát hiện các quy luật của đời sống xã hội, lần đầu tiên trong lịch sử, C. Mác đã đưa ra luận điểm thực sự khoa học về chiến tranh; phát hiện ra nguồn gốc, nguyên nhân xuất hiện chiến tranh và chứng minh rằng, có thể loại trừ chiến tranh ra khỏi đời sống xã hội. Xuất phát từ phương thức sản xuất của đời sống vật chất quyết định các quá trình chính trị, xã hội, C. Mác đã xác định rõ bản chất giai cấp của chiến tranh, đó là: chiến tranh là một hiện tượng lịch sử - xã hội, rằng không nên xem xét chiến tranh tách rời sự phát triển xã hội và đấu tranh giai cấp. Ông cương quyết chống lại lý thuyết duy tâm, phản động bào chữa cho những cuộc chiến tranh do giai cấp bóc lột gây ra./.

 

Mấy vấn đề về chiến tranh phi quy ước hiện nay

Chiến tranh phi quy ước là loại hình chiến tranh đã được Mỹ, phương Tây thực hiện với một số quốc gia đi ngược lại lợi ích hay đối địch với họ, nhất là các nước xã hội chủ nghĩa. Vậy, nghiên cứu nắm vững bản chất, phương thức tiến hành để có biện pháp phòng, chống hiệu quả là vấn đề quan trọng.

Theo Điều lệnh Tác chiến phi quy ước ATP3 - 05.1 của Mỹ, chiến tranh phi quy ước là: cuộc chiến tranh được tiến hành để hậu thuẫn cho một phong trào phản kháng hoặc nổi dậy nhằm gây sức ép, chống phá hoặc lật đổ một chính quyền hay thế lực đang chiếm đóng, bằng các hành động phối hợp tác chiến giữa các lực lượng Mỹ (liên quân) tại quốc gia, hoặc khu vực chịu sự kiểm soát của chính quyền đối phương hay thế lực đang chiếm đóng. Chiến tranh phi quy ước là công cụ sức mạnh quốc gia của Mỹ. Có thể thấy, đối với thế giới, chiến tranh phi quy ước là loại hình chiến tranh không mới, nhưng với Việt Nam, mặc dù trong Kết luận số 31-KL/BCT, ngày 16/4/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về Chiến lược quân sự, khi xác định các hình thái chiến tranh có đề cập đến chiến tranh “phi quy ước”, song loại hình chiến tranh này vẫn còn rất mới. Vì vậy, vấn đề này cần được nhận thức thống nhất và chủ động nghiên cứu các phương cách phòng, chống hiệu quả.

Trên thực tế, để tiến hành một cuộc chiến tranh phi quy ước, cần phải có các điều kiện từ bên trong và bên ngoài. Điều kiện bên trong thường là: chính quyền yếu kém, sai lầm, suy thoái, mâu thuẫn lớn với nhân dân; phần lớn người dân có tư tưởng chống đối hoặc bị tuyên truyền, lôi kéo theo thế lực thù địch; các tổ chức chính trị đối lập được hình thành, dựng được ngọn cờ, có thủ lĩnh, lôi kéo đông đảo quần chúng tham gia, có lực lượng vũ trang được tổ chức và trang bị tương đối hiện đại, có thể đương đầu với lực lượng vũ trang của chính quyền đương nhiệm; có địa bàn thuận lợi cho bạo loạn, nhanh chóng phát triển, mở rộng thành chiến tranh. Về điều kiện bên ngoài: các thế lực thù địch tập hợp được đồng minh, liên minh, nhất là các nước lớn, nước láng giềng của đối phương; tạo được sức mạnh quân sự cần thiết và điều kiện thuận lợi cho can thiệp, hỗ trợ, chi viện có hiệu quả cho lực lượng bạo loạn, chống đối từ bên trong; có cớ để can thiệp quân sự, như: kêu gọi từ các lực lượng bên trong, thao túng Liên hợp quốc, hợp thức hóa, quốc tế hóa cuộc chiến tranh, v.v.

Một cuộc chiến tranh phi quy ước xảy ra nhất thiết phải có đủ cơ bản các điều kiện bên trong và bên ngoài, hợp thành điều kiện tiên quyết để tiến hành chiến tranh và quyết định sức mạnh của chiến tranh phi quy ước. Trong đó, điều kiện bên trong quyết định về thế trận, lực lượng ban đầu, cũng như việc tạo cớ, tạo cơ sở tiến hành chiến tranh thuận lợi, giảm tổn thất cho lực lượng gây ra chiến tranh. Điều kiện bên ngoài quyết định sức mạnh, nhịp độ, tiến trình chiến tranh và thời gian thực hiện mục đích của chiến tranh phi quy ước. Từ phân tích trên cho thấy, điều kiện bên trong và bên ngoài có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau, vừa là điều kiện, vừa là cơ sở, được bổ sung, hoàn chỉnh trong quá trình chiến tranh; trong đó, điều kiện bên trong giữ vai trò quyết định.

Chiến tranh phi quy ước, bạo loạn và chiến tranh truyền thống có sự khác nhau nhất định. Bạo loạn thường có các dạng: bạo loạn chính trị, vũ trang, ly khai; đó cũng là một trong những tình huống quốc phòng, có các quy mô khác nhau, rất nguy hiểm, nhưng chủ yếu là các hoạt động đấu tranh, hoạt động quân sự hạn chế và khó lật đổ được chính quyền đương nhiệm. Chiến tranh truyền thống (chiến tranh xâm lược quy mô lớn) chủ yếu do lực lượng quân sự tiến hành, có kết hợp với các hoạt động đấu tranh khác nhưng giải quyết chiến tranh bằng sức mạnh quân sự là cơ bản. Còn chiến tranh phi quy ước thường phát triển từ bạo loạn nhưng mang đầy đủ đặc điểm, tính chất và phương thức tiến hành của một cuộc chiến tranh với quy mô lớn hơn, sức mạnh và cường độ hoạt động quân sự nhiều hơn; được tiến hành bằng lực lượng bạo loạn và lực lượng quân sự với các hoạt động bạo loạn quy mô lớn kết hợp với hoạt động quân sự ở các trọng điểm, song quy mô và cường độ hoạt động quân sự hạn chế hơn nhiều so với chiến tranh truyền thống.

Với Việt Nam, phương thức tiến hành chiến tranh phi quy ước có thể khái quát như sau: các thế lực thù địch hiếu chiến hoặc nước lớn tiến hành “cách mạng màu”, “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; lợi dụng các vấn đề về “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền”, phối hợp các tổ chức đảng phái phản động ở trong và ngoài nước gây bạo loạn: chính trị, vũ trang, ly khai, chiếm giữ một số mục tiêu trọng yếu, địa bàn chiến lược về quân sự, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, gây nội chiến, tạo cớ can thiệp quân sự từ bên ngoài; kết hợp các biện pháp phi vũ trang và vũ trang, dựng lên tổ chức phản động, chính quyền tay sai đối lập buộc Nhà nước Việt Nam phải thương lượng, chấp nhận yêu sách của chúng; kết hợp thao túng Liên hợp quốc, lập vùng cấm bay, bao vây, cấm vận, cô lập, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Để phòng, chống chiến tranh phi quy ước có hiệu quả, cần phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, bài viết xin đề xuất một số giải pháp chủ yếu sau:

Trước hết, về xây dựng nội bộ. Đây là vấn đề cơ bản, có vai trò quyết định trong phòng, chống chiến tranh phi quy ước, vì điều kiện và nguyên nhân bên trong luôn giữ vai trò quyết định. Theo đó, tập trung xây dựng và củng cố lòng tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Bởi, có lòng tin mới có sự gắn kết mật thiết, có tinh thần xây dựng, phát triển và quyết tâm bảo vệ Tổ quốc; xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh, đoàn kết và gắn bó mật thiết với nhân dân, làm việc vì lợi ích của nhân dân, phải luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết và phải lấy lợi ích quốc gia - dân tộc làm mục tiêu phấn đấu, làm phương hướng hành động cơ bản; đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả, kiên quyết ngăn chặn và đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, phấn đấu xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Chăm lo đến lợi ích của những người có công với cách mạng, các thành phần cơ bản, nòng cốt của Đảng, Nhà nước, đội ngũ cán bộ “rường cột” của cách mạng, nhất là Quân đội, Công an, những người thực thi pháp luật, lực lượng trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Cùng với đó, coi trọng công tác dự báo, nhất là dự báo chiến lược, kịp thời phát hiện và triệt tiêu các nguy cơ có thể dẫn đến mất ổn định, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, đập tan các tổ chức chính trị đối lập, các mầm mống có thể dẫn đến bạo loạn chính trị, vũ trang, ly khai, triệt tiêu những yếu tố có thể dẫn đến chiến tranh phi quy ước.

Đẩy mạnh xây dựng và củng cố, tăng cường nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trong điều kiện mới - cơ sở rất quan trọng để ngăn chặn, đẩy lùi các nguy cơ xung đột và chiến tranh nói chung, chiến tranh phi quy ước nói riêng; đồng thời, sẵn sàng đánh thắng các hình thái chiến tranh dưới mọi hình thức và quy mô (nếu xảy ra). Phải khơi dậy trong nhân dân khát vọng xây dựng đất nước giàu mạnh, quốc gia hùng cường, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống yêu nước, yêu quê hương, xứ sở, ý chí kiên cường, bất khuất, sự cố kết cộng đồng, dân tộc, giá trị văn hóa vĩnh hằng của người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam anh hùng. Tổ chức tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về chủ nghĩa xã hội, làm sáng tỏ các vấn đề rất mới của chủ nghĩa xã hội ngày nay, nhất là các vấn đề đang diễn ra trong thực tiễn so với những gì mà chúng ta đã nhận thức trước đây về chủ nghĩa xã hội; chứng minh, làm rõ tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa trong thực tiễn để củng cố lòng tin của nhân dân, từ đó ra sức bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, có niềm tin vững chắc vào con đường mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn. Một đất nước có hệ thống chính trị mà trung tâm là Đảng Cộng sản Việt Nam, nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vững mạnh, trong sạch, đoàn kết; nhân dân tin tưởng và quyết tâm phấn đấu cho mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, tất cả là một khối thống nhất, phấn đấu đi lên vì lợi ích quốc gia - dân tộc thì không một thế lực nào có thể xâm phạm được.

Tiếp theo là công tác đối ngoại. Điều kiện bên ngoài rất quan trọng đối với chiến tranh phi quy ước, xét về mặt quân sự, có lúc, có thời điểm quyết định đến thành công hay thất bại của loại hình chiến tranh này. Đôi khi, nhờ vào các hoạt động đối ngoại, có thể tháo gỡ được các ngòi nổ, nguy cơ dẫn đến xung đột và chiến tranh, nên hoạt động đối ngoại có vai trò rất quan trọng trong ngăn ngừa và đẩy lùi chiến tranh phi quy ước. Theo đó, phải thực hiện đúng đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa của Đảng, Nhà nước ta; Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Phải đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết và coi đó là mục tiêu cao nhất, chi phối mọi hành xử trong hoạt động đối ngoại với phương châm “thêm bạn, bớt thù”, không ngừng củng cố và nâng cao vị thế, uy tín của đất nước. Trong quan hệ đối ngoại, cần khẳng định quan hệ với các nước láng giềng có chung đường biên giới là mối quan hệ có ý nghĩa chiến lược, xây dựng mối quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển lâu dài, bền vững. Coi trọng quan hệ với các nước trong khu vực, nhất là với các nước lớn, không để phát sinh mâu thuẫn, bất đồng, không có lợi cho Việt Nam; không để mắc mưu khiêu khích của các thế lực thù địch, không để dẫn đến tình cảnh phải chọn bên, chọn phe trong quan hệ với các nước lớn; kiên trì giải quyết các mâu thuẫn, bất đồng bằng các giải pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế và lợi ích quốc gia - dân tộc. Phải khôn khéo nhưng kiên quyết, không để lợi ích quốc gia - dân tộc bị xâm hại, nhất là đối với độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Kiên quyết ngăn chặn các nguy cơ có thể dẫn đến mất ổn định, hóa giải các nguy cơ có thể gây ra xung đột, chiến tranh. Không cho các thế lực thù địch ở trong nước có thể cấu kết với các thế lực phản động ở bên ngoài làm tổn hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc, vô hiệu hóa các điều kiện có thể dẫn đến chiến tranh phi quy ước.

Trong trường hợp bất khả kháng, nếu chiến tranh phi quy ước xảy ra, cần bình tĩnh nghiên cứu tìm hiểu rõ nguyên nhân, nhưng trước hết phải tìm mọi cách triệt tiêu các nguyên nhân và điều kiện dẫn đến chiến tranh.  Khi buộc phải tiến hành chiến tranh, chủ động nắm và đánh giá đúng tình hình, nhất là lực lượng bạo loạn ở bên trong, dự báo khả năng can thiệp quân sự từ bên ngoài; các mục tiêu, địa bàn trọng điểm lực lượng bạo loạn chiếm giữ; quy mô lực lượng, khả năng của lực lượng vũ trang bạo loạn và lực lượng quần chúng bị lôi kéo; quy mô lực lượng, phương tiện, phương thức, âm mưu, thủ đoạn của lực lượng can thiệp quân sự từ bên ngoài. Xây dựng quyết tâm, kế hoạch tác chiến và đấu tranh hợp lý, khẩn trương sử dụng lực lượng chốt giữ các mục tiêu chủ yếu, quan trọng, địa hình có lợi, đầu mối giao thông, trục đường, cửa khẩu, địa bàn biên giới, ven biển, hải cảng trọng điểm, v.v. Khống chế lực lượng vũ trang bạo loạn; chia cắt lực lượng vũ trang bạo loạn với quần chúng bị lôi kéo; bao vây, chia cắt lực lượng can thiệp quân sự từ bên ngoài với lực lượng bạo loạn ở trong nước. Vận dụng chủ yếu phương thức tác chiến tiến công tổng hợp để giải quyết chiến tranh phi quy ước, kết hợp chặt chẽ tiến công quân sự với đấu tranh chính trị ở các trọng điểm chiến lược; trong đó, tiến công quân sự là chủ yếu và phải đi trước một bước.

Tiến công quân sự phải được tiến hành bằng các trận đánh, chiến dịch phòng ngự, phản công, tiến công và lấy hình thức tiến công là chủ yếu; sử dụng lực lượng ưu thế thực hiện đánh nhanh, giải quyết nhanh, tiêu diệt lực lượng vũ trang bạo loạn và lực lượng can thiệp quân sự, tạo điều kiện cho đấu tranh chính trị. Coi trọng đánh tiêu diệt lực lượng can thiệp quân sự dưới mọi hình thức, quy mô, tiến công đường bộ, đổ bộ đường không, đổ bộ đường biển,… không cho chúng có cơ hội mở rộng chiến tranh. Đấu tranh chính trị được tổ chức chặt chẽ với các quy mô, do cấp ủy và chính quyền địa phương ở địa bàn có bạo loạn tiến hành, đấu tranh chính trị phối hợp với tiến công quân sự, tận dụng kết quả của tiến công quân sự. Ở quy mô chiến lược do Trung ương tổ chức, có sự liên kết vùng, tiến hành đấu tranh chính trị ở các trọng điểm chiến lược, thành phố lớn, trung tâm chính trị, kinh tế quan trọng, địa bàn chiến lược trọng yếu. Quá trình tiến hành chiến tranh, phải kết hợp chặt chẽ các hoạt động đấu tranh chính trị, kinh tế, đối ngoại trên phạm vi quốc gia, quốc tế, tạo sức mạnh tổng hợp để đánh địch, triệt để tận dụng kết quả đấu tranh của các nước láng giềng hữu nghị và sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế./.

ST.

Giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống hành vi lợi dụng những bất cập trong quản trị xã hội, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng

Nhà nước quản trị xã hội phản ánh quá trình vận dụng nền tảng tư tưởng của Đảng vào thực tiễn. Những khiếm khuyết của hoạt động quản trị  xã hội luôn bị thế lực thù địch lợi dụng, thổi phồng, xuyên tạc; tạo cớ xây dựng “lý luận”, tập hợp lực lượng phê phán, xuyên tạc, phủ nhận: tính chính danh, tính ưu việt, tính khoa học và phát triển của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy, nhân dân, đội ngũ quản trị cần nhận rõ những vướng mắc, nguy cơ khi triển khai lý luận vào thực tiễn để không bị mất phương hướng chính trị và đấu tranh phản bác hiệu quả luận điệu sai trái của các thế lực thù địch.

Từ học thuyết của Mác, chủ nghĩa xã hội đã được V.I. Lênin và chính quyền Xô viết hiện thực hóa trên thực tiễn, xây dựng thành một chế độ, tạo ngọn cờ, khởi nguồn cho phong trào cộng sản quốc tế phát triển sâu, rộng. Tuy nhiên, trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, một bộ phận lãnh đạo ở một số nước xã hội chủ nghĩa đã chủ quan, duy ý chí, nôn nóng, cứng nhắc trong quản trị xã hội, khiến kinh tế trì trệ, suy thoái, xã hội bất ổn; cộng với sự chống phá của chủ nghĩa đế quốc bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, làm chế độ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Nghiên cứu một cách khoa học, thấu đáo những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ này, Đảng ta khẳng định: đây là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội chứ không phải là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội nói chung. Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là học thuyết khoa học, cách mạng sâu sắc và triệt để; là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam và vũ khí lý luận sắc bén cho hành động cách mạng của giai cấp công nhân và các chính đảng của giai cấp công nhân trên thế giớiTư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, sự vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta, kế thừa và phát triển truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Từ đó, Đảng ta đã kiên trì lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng của Đảng, vận dụng sáng tạo các học thuyết quản trị vào thực tế, giành nhiều thắng lợi, xây nên “vị thế, cơ đồ” như hôm nay.

Thành công đi liền với nguy cơ, thách thức. Bởi lẽ, những năm qua, các thế lực thù địch thông qua chiến lược “Diễn biến hòa bình” luôn đẩy mạnh chống phá cách mạng Việt Nam, tập trung phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng với tần suất ngày càng cao, tinh vi hơn, gắn với nhiều hoạt động xã hội. Biểu hiện cụ thể của quy trình đó là:

1. Thu thập những bất cập trong quản trị xã hội, xây dựng diễn đàn, phê phán chế độ, gây nhiễu nhận thức của nhân dân. Dựa vào các mâu thuẫn, bất cập trong quá trình Nhà nước triển khai các chế độ, chính sách, chúng cắt xén thông tin, xây dựng các bài viết ngắn, đưa lên diễn đàn phê phán gay gắt làm nóng vấn đề, đẩy cao mâu thuẫn; hoặc tổ chức hội thảo phân tích vòng vo, suy luận theo logic hình thức dạng quan hệ nhân - quả nhằm biến tấu sự việc theo hướng tiêu cực, vu khống, quy chụp, thổi phồng điểm yếu, biến không thành có, việc nhỏ thành to; đặt câu hỏi nghi ngờ nghiêng về mặt tiêu cực, nhất là những vấn đề nhạy cảm,... gây tâm lý hoài nghi, bức xúc cho đám đông, tạo sức lan tỏa cho tư tưởng tiêu cực, hủy hoại uy tín, vai trò các tổ chức, người lãnh đạo.

2. Tích cực “định hướng tư tưởng” mới cho người đọc bằng cách “thuê” các trí thức lưu vong, nhà khoa học, nhà văn, trí thức “trở cờ” xây dựng tuyến bài, dùng lôgic hình thức dẫn dắt vấn đề, hướng nguyên nhân chính của các bất cập trong quản trị xã hội là do nền tảng tư tưởng của Đảng đã lỗi thời, lạc hậu. Đáng chú ý, dựa vào một số mặt yếu kém của các cấp quản trị, như: tránh né hoặc giải quyết không thỏa đáng những bất cập trong lĩnh vực đất đai, tạo nên sự khiếu kiện kéo dài, chúng viết vệt bài, chùm bài phân tích nhiều tầng, nhiều góc độ nhưng đều quy về quan điểm, muốn giải quyết mâu thuẫn đất đai tận gốc thì phải hủy bỏ việc sở hữu đất đai toàn dân do Nhà nước đại diện quản lý, chuyển sang sở hữu tư nhân. Hay như, dựa vào các vụ án tham nhũng, chúng có nhiều bài viết phê phán cán bộ, công tác cán bộ, thể chế, xuyên tạc sự lãnh đạo của Đảng. Lợi dụng một số vụ án oan, sai hoặc kéo dài do lịch sử để lại, các phân tích của lực lượng “luật sư dân chủ” đều quy lỗi về thể chế, bộ máy tư pháp, v.v.

3. Xây dựng các hình ảnh đối lập làm hạt nhân tinh thần cho tư tưởng đối lập, như: (1). Hình ảnh các “anh hùng dân chủ”, không sợ ngục tù, đấu tranh cả ngoài đời và trong tù, hiên ngang trước vành móng ngựa. (2). Hình ảnh giới dân chủ “quần nâu, áo vải” sẵn sàng “lội bùn” vào thăm, giúp đồng bào bị lũ lụt, vùng sâu, vùng xa. (3). Hình ảnh một vài chính khách, nhân vật trong bộ máy công quyền các nước phương tây đi làm bằng xe buýt, sẵn sàng từ chức. Ngược với cán bộ Việt Nam “tham quyền, cố vị”, “quan liêu”, xa rời nhân dân, v.v..

Mục đích công kích của chúng nhằm bôi đen, xuyên tạc, rằng: “cán bộ Việt Nam không đủ phẩm chất, năng lực”, “tất cả các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đều đi vào ngõ cụt”; những người đứng đầu Đảng, Nhà nước không đủ năng lực quản trị đất nước. Nguồn gốc sâu xa bắt nguồn từ hệ tư tưởng, đường lối của Đảng đã lạc hậu, không dùng được; “chế độ độc đảng” tạo nên sự lạm quyền và nguyên nhân của nạn tham nhũng. Và đề xuất, muốn diệt trừ tận gốc bất cập xã hội, nhất là giảm trừ tham nhũng, các vụ án oan sai, cần thay đổi toàn bộ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay, phải đa nguyên, đa đảng, tam quyền phân lập, tư hữu đất đai, phát triển xã hội dân sự độc lập,... và thuyết phục nhân dân tin theo thể chế tự do, dân chủ, nhân quyền phương Tây.

Để không bị đánh lừa trước các thủ đoạn xảo quyệt, cần tăng cường đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, với một số giải pháp sau:

Một là, làm rõ nguyên nhân của những bất cập trong quản trị, thực thi công vụ. Trước hết, cần làm rõ ba tầng lý luận và mối quan hệ là nền tảng tư tưởng, cương lĩnh chính trị và lý luận chuyên ngành. Xuất phát từ nền tảng tư tưởng (những lý luận cơ bản, cốt lõi), Đảng ta xây dựng cương lĩnh chính trị để xác lập vị trí, phương hướng cho đường lối cách mạng; đường lối chứa đựng quan điểm, tư duy, tầm nhìn để xây dựng lý luận chuyên biệt trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, giáo dục, an ninh, quốc phòng,… theo khung thời gian ngắn hạn, dài hạn. Từ đó phân tầng, lớp xây dựng nên các thiết chế quản trị xã hội, bao gồm: hệ thống văn bản pháp quy (luật, nghị định, thông tư…); hệ thống văn bản thực thi (quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án); hệ thống văn bản xây dựng lực lượng quản trị (quy định về tổ chức, biên chế, công tác cán bộ), nhằm biến lý luận thành hiện thực phục vụ dân sinh.

Lý luận thường có tính lạc hậu tương đối với thực tế; chế tài quản trị xã hội có thể không phù hợp với một số hoạt động; quá trình quản trị, thực hiện kế hoạch, chương trình, dự án làm phát sinh những mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là theo chuỗi hoạt động từ khái quát lý luận, xây dựng thể chế đến thực thi và giám sát công vụ, thì sự can thiệp của con người gia tăng về số lượt, thời gian; làm tăng sự chủ quan. Do dự báo, đánh giá tác động của môi trường bên trong, bên ngoài tổ chức không đầy đủ, chính xác, nên mỗi khâu, bước của quá trình quản trị có sự thiếu phù hợp với thực tế, phát sinh rủi ro, giảm hiệu quả thực thi. Đồng thời, nhận thức, tư duy của cán bộ các cấp (nhà quản trị) không đồng đều, đồng nhất, thậm chí khác nhau nên quá trình thực thi nhiệm vụ phát sinh những mâu thuẫn, bất cập. Với vai trò “sợi chỉ đỏ xuyên suốt” trong các hoạt động vật chất, lý luận cơ bản (nền tảng tư tưởng của Đảng) luôn có mặt, chịu trách nhiệm trong mọi hoạt động quản trị xã hội và bị phê phán. Nên, với mỗi mâu thuẫn, bất cập, cần phân tích rõ bản chất; nếu nguyên nhân lý luận chưa theo kịp sự phát triển của tiến trình lịch sử thì phải nghiên cứu phát triển, bổ sung, sửa đổi; từ tổ chức, con người thì tái cơ cấu, xây dựng nhân sự mới. Do đó, cần chỉ rõ nguyên nhân bất cập để người đọc, nghe không nhầm lẫn, xây dựng lòng tin vào nền tảng tư tưởng của Đảng; đồng thời, các cấp quản trị nắm chắc khâu lỗi, tỷ trọng mỗi khâu để có phương án khắc phục hiệu quả.

Hai là, xây dựng các tuyến bài mạnh và cơ sở dữ liệu viết bài ở các ngành, lĩnh vực thường xảy ra bất cập. Nền tảng tư tưởng muốn đứng vững, nhất thiết phải đối mặt trực tiếp với thực tế. Các bài đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nếu viết vòng vo, né tránh vấn đề, chỉ viện dẫn chủ trương chính sách, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, không giải thích rõ mối quan hệ giữa nền tảng tư tưởng và bất cập xã hội, sẽ thiếu sức thuyết phục, càng dễ bị chúng bôi nhọ, quần chúng nghi ngờ, giảm niềm tin. Vì vậy, cần phải tổng kết thực tiễn khách quan, khoa học; mỗi bất cập xã hội phải chỉ rõ nguyên nhân thuộc khâu nào; sai sót do vận dụng lý luận hay tại lý luận, hoặc do quá trình quản trị, tổ chức thực hiện. Bài bảo vệ nền tảng nên chia thành 03 phân khúc. (1). Phân khúc lõi, khẳng định những luận điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, quan điểm, đường lối của Đảng bây giờ và sau này vẫn đúng; những luận điểm trước kia đúng, hiện nay không còn phù hợp cần bổ sung, phát triển; đào sâu, tìm ra những điểm mới, phương pháp vận dụng mới,… giải đáp kịp thời những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Số lượng bài không cần nhiều nhưng phải có sức thuyết phục cao, có thể in thành sách chuyên khảo. Tác giả phải là nhóm chuyên gia đa ngành, gồm: nhà khoa học, nhân sĩ, trí thức có tư duy, khám phá mới, góc nhìn sinh động. (2). Phân khúc trung tâm, là hệ thống lý luận theo chuyên ngành, lĩnh vực; chỉ rõ vùng ảnh hưởng của học thuyết Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; vùng vận dụng học thuyết Mác – Lênin gắn với các học thuyết khác vào phát triển ngành, lĩnh vực và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Bài viết phải là ngọn cờ cho phát triển ngành theo giai đoạn; do nhóm các nhà khoa học kết hợp với nhà quản trị cấp chiến lược thực hiện. (3). Phân khúc phổ quát, tập trung chỉ rõ chuỗi nguyên nhân bất cập và tỷ trọng sai sót của từng khâu trong chuỗi; trách nhiệm của từng cấp quản trị trong vận dụng lý luận vào thực tiễn. Tác giả là người đứng đầu địa phương, ngành, nhất là nơi xảy ra tham nhũng, tiêu cực hoặc thực hiện không thành công các chương trình, dự án, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. Bên cạnh đó, khi bất cập xã hội xảy ra được báo chí công bố, nhân dân thường hoài nghi, đồn đoán. Muốn nhanh chóng ổn định dư luận, định hướng tư tưởng thì cần có bài đấu tranh, bảo vệ kịp thời. Khi đó, cơ sở dữ liệu sẵn có gồm: chủ trương, chính sách, chế tài, văn bản hướng dẫn, các thông tin cụ thể về chương trình, dự án,… giúp người viết có góc nhìn khách quan, cụ thể; xây dựng được bài đấu tranh dày thông tin, sát thực tế, độ thuyết phục cao, nhất là hạn chế mâu thuẫn với kết quả điều tra của cơ quan chức năng.

Ba là, xây dựng đội ngũ chuyên gia, cộng tác viên và đẩy mạnh đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng. Mặt trái của kinh tế thị trường là kích thích chủ nghĩa cá nhân cực đoan, tính cơ hội, ích kỷ; làm tăng mâu thuẫn và xung đột giữa các cá nhân, nhóm, cộng đồng, tầng lớp,... chủ yếu do không đồng thuận về lợi ích trong các chương trình, dự án phát triển kinh tế, xã hội. Do đó, đội ngũ chuyên gia cần nắm chắc các khâu, quá trình: hoạch định chiến lược; xây dựng chương trình, dự án; lập kế hoạch, lộ trình thực hiện; xây dựng tổ chức, nhân sự và tư vấn, giám sát thực thi; nhất là hiểu rõ luận chứng kinh tế, kỹ thuật của dự án gây ra các mâu thuẫn, bất cập,... để cung cấp thông tin, bài viết kịp thời cho lực lượng đấu tranh. Đồng thời, tham mưu cho lãnh đạo các cấp biện pháp xử lý khủng hoảng truyền thông, trấn an dư luận khi có vụ việc xảy ra.

Để nâng cao hiệu quả đấu tranh, cần xây dựng, duy trì, phát triển các trang mạng hoặc chuyên mục bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống diễn biến hòa bình; được quản lý chung trong cả nước; làm địa chỉ tin cậy để người đọc, cán bộ, nhà khoa học, nhân dân tra cứu, dẫn nguồn bằng thiết bị di động,... xây dựng lòng tin, củng cố quan điểm trong thực hiện công vụ, quản trị xã hội. Đồng thời, đa dạng hóa các loại bài đấu tranh gồm: bài viết, hoạt động đối thoại, video ngắn hoặc phim theo chủ đề,... tập trung thông tin, giải thích vùng trách nhiệm, vùng tác động của nền tảng tư tưởng đến mỗi hình thức bất cập, mâu thuẫn trong quản trị xã hội để định hướng dư luận. Chỉ đạo các đơn vị truyền thông, mạng xã hội chính thống phải tái đăng tải và dẫn nguồn, chia sẻ, cộng với phần giải thích thêm cho phù hợp với tôn chỉ, mục đích và lĩnh vực thông tin. Chắt lọc các bình luận cá nhân làm tư liệu nghiên cứu, hoặc tái đăng tải trên các trang mạng xã hội cùng với sự phân tích, bình luận củng cố thêm nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo nên vòng lặp truyền thông không ngừng mở rộng.

Bốn là, quản lý chặt chẽ hoạt động của các hội, nhóm, nhất là trên mạng xã hội và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Lực lượng đấu tranh phản bác quan điểm sai trái các cấp cần phát huy vai trò nòng cốt, tích cực nắm bắt thông tin, diễn biến, hoạt động của các hội, nhóm trong xã hội. Vạch trần việc gắn chính trị và các hoạt động thiện nguyện; lôi kéo nhân dân vào các hoạt động khác có hại cho sản xuất và cộng đồng. Nghiên cứu, tham mưu cho chính quyền, cơ quan chức năng theo dõi, quản lý, định hướng hoạt động cho các lực lượng này đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật nhà nước; xác định rõ động cơ phản biện xã hội là xấu hay tốt; có biện pháp xử lý kịp thời, không lúng túng trong giải quyết dẫn đến nhiều mâu thuẫn, bất cập và càng dễ bị lợi dụng. Giải quyết tranh chấp kịp thời, không tranh luận kéo dài để nước ngoài lợi dụng can thiệp, gắn nhân quyền trên bàn đàm phán hợp tác quốc tế. Đồng thời, phân biệt rõ việc thực thi quyền làm chủ về: giới hạn quyền; thời gian, địa điểm thực hiện quyền,... để mọi công dân nhận thức đúng, không bị lợi dụng.

Đấu tranh, phản bác việc lợi dụng bất cập trong quản trị xã hội để phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng là công việc khó khăn, lâu dài; là trách nhiệm của các cấp, ngành, của mọi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Việt Nam. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng; với nhiều hình thức, quy mô để tiếp tục khẳng định giá trị khoa học, cách mạng của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như sự đúng đắn của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn./.

ST.

Bàn về xây dựng “thế trận lòng dân” trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng hiện nay

Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiến hành với đồng bộ các giải pháp. Trong đó, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc là giải pháp quan trọng hàng đầu, mang tính cơ bản, cấp thiết, lâu dài, nhằm làm cho mỗi người dân trở thành một chiến sĩ trung kiên, tuyệt đối tin tưởng và chủ động bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.

Xây dựng “thế trận lòng dân” trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là tổng thể các giải pháp làm cho các tầng lớp nhân dân luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Qua đó, quy tụ, tập hợp, khơi dậy, phát huy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí vươn lên của các tầng lớp nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhận thức rõ điều đó, trong thời gian qua, cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp, ngành, địa phương đã quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, xây dựng tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Tập trung phát triển kinh tế nhanh, bền vững gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng và an sinh xã hội; đẩy mạnh thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng, địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; phát huy dân chủ xã hội chủ

nghĩa; thực hiện tốt nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh. Tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, tội phạm, tệ nạn xã hội; tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, môi trường hòa bình để phát triển đất nước, v.v. Qua đó, tạo sự đồng thuận, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường niềm tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, việc xây dựng “thế trận lòng dân” thời gian qua có lúc, có nơi vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm, nhất là tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực,… là nguyên nhân làm giảm sút niềm tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ. Cùng với đó, các thế lực thù địch đẩy mạnh hoạt động chống phá, phủ nhận, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, phá hoại niềm tin của nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tình hình đó, đòi hỏi chúng ta phải chú trọng, tăng cường mạnh mẽ và quyết tâm hơn nữa trong xây dựng “thế trận lòng dân”; dựa vào nhân dân, có sự “đồng tâm hiệp lực” của nhân dân trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch. Theo chúng tôi cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung, giải pháp cơ bản sau.

Một là, đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục, làm chuyển biến mạnh mẽ nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp đối với xây dựng “thế trận lòng dân” trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây là vấn đề cơ bản, cấp thiết, giữ vai trò quan trọng hàng đầu để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch. Vì vậy, cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp cần tích cực đổi mới nội dung, phương thức thông tin tuyên truyền, nâng cao ý thức trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng trong hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với nhiệm vụ quan trọng này. Nội dung tuyên truyền cần tập trung vào quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về “cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử”; quan điểm, chủ trương, chính sách về dân tộc, tôn giáo, về đại đoàn kết dân tộc và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc của Đảng, Nhà nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để đạt hiệu quả, ở từng cấp cần phát huy vai trò nòng cốt, trách nhiệm chính trị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, vận động nhân dân nâng cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc, đẩy mạnh phong trào Thi đua yêu nước. Thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng” và Quy chế Dân chủ cơ sở trong mọi lĩnh vực, nhất là các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến đời sống dân sinh. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh. Cán bộ lãnh đạo, chủ trì, chủ chốt của cấp ủy, chính quyền các cấp phải thường xuyên gặp gỡ, lắng nghe, đối thoại và tiếp thu ý kiến của nhân dân trên tinh thần tôn trọng dân, có trách nhiệm với nhân dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Qua đó, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, phát huy sức mạnh đoàn kết, đồng thuận của nhân dân trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Hai là, phát huy vai trò, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên đối với công tác xây dựng Đảng; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đây là vấn đề cấp bách, giữ vai trò then chốt quyết định; bởi sự trong sạch, vững mạnh của đội ngũ cán bộ, đảng viên sẽ chiếm trọn lòng tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; là nhân tố cơ bản và quan trọng hàng đầu để xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Thực tiễn cho thấy, những thành tựu to lớn của đất nước đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn, tài tình, sáng suốt của Đảng, cùng với tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên luôn nêu cao vai trò tiền phong, gương mẫu, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân đã góp phần củng cố, tăng cường lòng tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới để đất nước phát triển nhanh, bền vững. Tuy nhiên, tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước của một bộ phận cán bộ, đảng viên là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm giảm lòng tin của nhân dân với Đảng và chế độ, đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước. Vì vậy, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đồng bộ các giải pháp thực hiện Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII); đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tăng cường xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp. Thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên và những điều đảng viên không được làm. Mỗi cán bộ, đảng viên phải đề cao trách nhiệm, tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; cán bộ giữ cương vị càng cao càng phải tiền phong, gương mẫu và nêu cao ý thức phục vụ nhân dân. Đồng thời, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những hạn chế, khuyết điểm, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, biểu hiện bè phái, “lợi ích nhóm”; xử lý nghiêm minh cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng.

Ba là, phát huy vai trò tiên phong, mũi nhọn của Quân đội trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã khẳng định, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, tình huống khó khăn, phức tạp nào, Quân đội ta luôn là trụ cột của Đảng, Nhà nước, chỗ dựa vững chắc của Nhân dân. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một nhiệm vụ chính trị quan trọng của Quân đội trong cả thời bình và thời chiến. Hiện nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, Quân đội tiếp tục thiết lập thế trận đấu tranh chủ động, rộng khắp, liên hoàn, vững chắc trong toàn quân. Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần xác định rõ nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, mang tính chiến lược lâu dài của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân; là công việc thường xuyên, tự giác và trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân, trước hết là của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp. Từ đó, xác lập tổng thể các biện pháp, nguyên tắc, bố trí, triển khai và tổ chức các lực lượng cụ thể: từ nghiên cứu, giáo dục, tuyên truyền cơ bản, rộng khắp đến trực tiếp tác chiến, đấu tranh có trọng tâm, trọng điểm trên các phương tiện thông tin, truyền thông của Quân đội và quốc gia, trên internet, mạng xã hội, bảo đảm bao phủ toàn quân và không ngừng mở rộng trên phạm vi quốc gia và quốc tế. Kết hợp chặt chẽ các biện pháp chính trị, tư tưởng và tổ chức đấu tranh phòng ngừa, bảo vệ chính trị nội bộ, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Chủ động gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả; lấy cái đẹp dẹp cái xấu; không bỏ trống trận địa tư tưởng, bảo đảm ở đâu có bộ đội ở đó có tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng; mỗi đơn vị, cán bộ, chiến sĩ là một tấm gương sáng về truyền bá nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, phương pháp, kinh nghiệm đấu tranh, cung cấp thông tin, trang bị phương tiện, công nghệ cho đội ngũ nòng cốt, chuyên sâu để họ đấu tranh trên mạng xã hội. Phát huy tốt vai trò của lực lượng tác chiến mạng, an ninh mạng, thường xuyên bám mạng, áp dụng các biện pháp kỹ thuật cần thiết, thích hợp để phòng ngừa, nhận diện, phát hiện, ngăn chặn, xử lý và gỡ bỏ thông tin xấu độc, những hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng.

Bốn là, nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; chủ động phát hiện và kịp thời xử lý nghiêm các phần tử chống đối, cơ hội chính trịHiện nay, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ cùng với sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin và các phương tiện truyền thông; các thế lực thù địch sử dụng internet, mạng xã hội và lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước ta hết sức quyết liệt. Vì vậy, cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chức năng các cấp đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ nâng cao sức đề kháng, chủ động đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội. Phát huy vai trò của lực lượng nòng cốt và sử dụng hệ thống thông tin đại chúng, hệ thống giáo dục lý luận chính trị, hệ thống tuyên truyền miệng và các thiết chế văn hóa để phổ biến, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, xây dựng niềm tin khoa học của các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Chú trọng bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, nâng cao lòng yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc và tinh thần cảnh giác của cán bộ, đảng viên và nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Thường xuyên nắm vững tình hình, làm tốt công tác dự báo, kịp thời ngăn chặn hiệu quả thông tin sai trái, xấu độc trên internet, mạng xã hội. Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục, thuyết phục, vận động với kiên quyết xử lý nghiêm minh những tổ chức, cá nhân tán phát thông tin sai trái, xấu độc; kịp thời phát hiện và nghiêm trị các đối tượng chống đối, phần tư cơ hội, phản động.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là cuộc chiến “không tiếng súng” nhưng sẽ lâu dài và vô cùng quyết liệt. Trong cuộc đấu tranh này, Đảng, Nhà nước và cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp phải dựa vào nhân dân, thông qua sự tin tưởng, đồng tình, ủng hộ của nhân dân, bằng sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên “thế trận lòng dân” vững chắc - nhân tố cơ bản quan trọng hàng đầu để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng./.

ST.

Một số vấn đề về nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống diễn biến hòa bình trên không gian mạng

 Không gian mạng là “môi trường đặc biệt”, nơi kết nối, chia sẻ thông tin toàn cầu, mang lại lợi ích, mặt tích cực trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, nhưng cũng có nhiều mối nguy hại đan xen. Việc người dùng có thể tự do đăng tải, chia sẻ thông tin không giới hạn lên không gian mạng khiến nơi đây đã, đang trở thành mảnh đất “màu mỡ” để các thế lực thù địch lợi dụng, tuyên truyền chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Vì vậy, nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng cần được đẩy mạnh cả về lý luận và thực tiễn.

Thực chất chiến lược “Diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch đang ráo riết đẩy mạnh ở Việt Nam là nhằm phá hoại Đảng, Nhà nước, tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở nước ta. Đó là tổng hợp các hoạt động nhằm lôi kéo, dẫn dắt tư tưởng, hành động của quần chúng nhân dân, nhất là lớp trẻ; làm cho họ chạy theo những ham muốn tầm thường, xa rời lý tưởng cách mạng và bị sai khiến; làm cho nội bộ ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Và một trong những thủ đoạn mà chúng thường sử dụng là lợi dụng không gian mạng để đăng tải các bài viết, hình ảnh, video,... mang nội dung xuyên tạc, kích động có chủ đích.

Thực tế cho thấy, những năm gần đây, các bài viết tuyên truyền, chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam trên không gian mạng rất nhiều. Theo thống kê của Ban Chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương, trong 06 tháng đầu năm 2023, mỗi tháng có hàng chục nghìn bài viết tiêu cực, xuyên tạc, bịa đặt trên không gian mạng, thu hút hàng chục triệu lượt bình luận, chia sẻ với tỷ lệ bình luận tiêu cực rất cao. Khi tìm kiếm trên mạng những vấn đề nóng, nhạy cảm đang được xã hội quan tâm sẽ cho hàng triệu kết quả. Trong đó, trên 05 trang đầu tiên luôn có hàng chục bài viết tiêu cực từ các trang mạng VOA, BBC, RFA, RFI, Báo Tiếng dân, v.v. Các bài tiêu cực tồn tại rất nhiều trên các website, YouTube, Facebook, Instagram,… do được đăng tải từ nhiều tài khoản; đăng tải nhắc lại không hạn chế ở các thời điểm khác nhau; nội dung chống phá rất linh hoạt, tiếp cận từ nhiều góc độ, không cần tiêu đề rõ ràng, mang tính ám chỉ việc xấu, hoặc chỉ nêu những bất bình trong cuộc sống…; từ đó, đặt câu hỏi, khêu gợi tư tưởng tiêu cực cho người đọc, người nghe, nên tốc độ phát tán và tương tác rất cao.

Nhận thức rõ điều đó, những năm qua, Đảng, Nhà nước đã triển khai nhiều giải pháp nhằm ngăn chặn thông tin xấu độc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống diễn biến hòa bình trên các loại hình thông tin, truyền thông, nhất là môi trường mạng; tạo nên phong trào sôi nổi, thu hút nhiều đối tượng tham gia và đạt hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, quá trình đấu tranh vẫn còn những tồn tại, bất cập: (1). Số lượng cơ quan truyền thông, báo, tạp chí có chuyên mục đấu tranh chuyên biệt chưa nhiều, chủ yếu nằm trong lực lượng vũ trang; (2). Lượng tương tác bình luận, chia sẻ đối với các bài này còn thấp, chỉ đạt từ 2% - 4%; (3). Chưa có nhiều ‘kênh” đăng tải, chủ yếu là các bài viết dạng văn bản trên web, Facebook, khá ít trên YouTube; các trang Fanpage của các đơn vị cũng chỉ thu hút tương tác chủ yếu đối với tài khoản của nhóm bạn có cùng sở thích, nặng tính nội bộ, giáo dục lẫn nhau,... nên hiệu quả còn hạn chế. Vì vậy, để góp phần nâng cao chất lượng đấu tranh phòng, chống diễn biến hòa bình trên không gian mạng, bài viết xin đề xuất một số giải pháp cơ bản sau:

Một làxây dựng đồng bộ lực lượng quản trị, viết bài và tổ chức đấu tranh thường xuyên, liên tục. Đấu tranh chống diễn biến hòa bình là hoạt động tổng hợp, diễn ra trên mọi lĩnh vực, nên cần tìm kiếm, xây dựng mạng lưới cộng tác viên đa dạng, nhất là đối với lĩnh vực có nhiều hoạt động chống phá. Đối tượng lựa chọn phải được đặt lên hàng đầu tiêu chuẩn về chính trị; đủ năng lực khai thác thông tin, viết bài đấu tranh trên nhiều lĩnh vực. Trong đó, chú trọng xây dựng lực lượng nòng cốt là các nhà khoa học, nhà báo có năng lực tiếp cận, viết bài nhanh bất kỳ vấn đề gì mà ban chỉ đạo đặt ra. Tập trung xây dựng các ban chỉ đạo đấu tranh vững mạnh, có khả năng dự báo tình hình, năng lực tổ chức, chỉ huy; thường xuyên được tập huấn, bồi dưỡng các kỹ năng chỉ đạo, phối hợp đấu tranh, sử dụng mạng,… để chỉ huy, chỉ đạo toàn lực lượng thực thi nhiệm vụ. Trong quá trình thực hiện, cần kịp thời chỉ đạo: vấn đề nào cần đấu tranh trực diện; vấn đề nào tái khẳng định, bảo vệ; cách ứng xử những vấn đề nhạy cảm. Xác định: thành phần, lực lượng đảm nhiệm; phân phối nhiệm vụ; phương pháp điều hành thống nhất theo các tuyến; quy định bảo mật thông tin; bảo vệ lực lượng đấu tranh. Đồng thời, cần tổ chức một trục đấu tranh thống nhất trong toàn quốc gắn với phân công cụ thể hoạt động riêng của từng đơn vị, không để ngắt quãng, trầm lắng.

Hai làquy chuẩn về kỹ thuật các bài viết đấu tranh chống diễn biến hòa bình khi đăng tải trên mạng. Chúng ta đều biết, internet là kho thông tin khổng lồ, cho phép tương tác, tìm kiếm, chia sẻ thông tin, có sức hấp dẫn đặc biệt đối với người sử dụng. Để xử lý lượng thông tin đó, các công ty dịch vụ mạng như Google, Bing, ALO, Assk.com, Yahoo,... xây dựng bộ quy tắc SEO ( Search Engine Optimization - tối ưu hóa các công cụ tìm kiếm) để tăng hiệu năng tìm kiếm, chia sẻ thông tin. Vì vậy, muốn tăng hiệu quả tìm kiếm, tương tác, các bài viết cần đạt chuẩn SEO. Trong đó, tiêu đề dùng chữ thường, không nên quá 70 ký tự; chapo dưới 150 ký tự; hình ảnh có chất lượng tốt, không vi phạm bản quyền, chứa logo đơn vị phát hành, chú thích ảnh phải phụ trợ chủ đề bài viết; nội dung phân đoạn rõ ràng, có tiêu đề phụ theo phân cấp, không dài quá 250 ký tự, liên quan tiêu đề bài viết, v.v. Đặc biệt, việc nghiên cứu, lựa chọn từ khóa phù hợp với thị hiếu người dùng rất quan trọng; mật độ từ khóa trong bài càng cao thì hiệu lực tìm kiếm càng tốt; từ khóa cần có mặt trong tiêu đề chính, chapo, tiêu đề phụ, trong nội dung bài và cả chú thích ảnh. Ngoài ra, cần tạo các đường liên kết để giải thích nội hàm từ ngữ, vấn đề được trình bày cô đọng; liên kết với các bài liên quan để người dùng dễ dàng truy cập.

Bên cạnh đó, khi xây dựng trang web, đăng tải bài viết nên dùng trang có tên miền ngắn gọn; ưu tiên tên miền quốc tế (cấp 1) có đuôi .com, .net, .info, .gov…; sau đó đến tên miền quốc gia (cấp 2) có đuôi .vn, .au, .uk…; hạn chế tên miền có đuôi .edu.vn, .gov.vn, .edu.uk (cấp 3). Thực tế, trang huongsenviet.com, nhanvanviet.com,… có tên miền quốc tế nên dễ dàng tìm kiếm; các trang blogspot.com có tên miền cấp 3 nên khó tìm kiếm nội dung. Các tài khoản Facebook dùng cho đấu tranh cần đầy đủ ảnh đại diện, danh tính và các thông tin theo yêu cầu của nhà mạng; nếu ẩn danh, thiếu thông tin sẽ khó kết bạn, tham gia nhóm; bị nghi ngờ là tài khoản rác,... sẽ hạn chế tương tác, rất khó tiếp cận công chúng.

Ba làxây dựng hệ thống bài viết, chương trình đấu tranh theo từng lớp sự kiện, không để ngắt quãng, trầm lắng. Cái khó của bài viết đấu tranh là lựa chọn chủ đề phù hợp, có luận cứ, luận chứng rõ ràng, không nói nước đôi, tránh “tuyên truyền hộ địch”,... nên số lượng bài thường hạn chế. Ngoài ra, có một số bài viết hay, sức thuyết phục cao, nhưng lại đăng ở báo, tạp chí có mức độ ảnh hưởng thấp, hạn chế sức mạnh đấu tranh và lan tỏa. Để khắc phục, nên chia làm 03 tuyến bài; tuyến 1 có chất lượng cao của các nhà khoa học; đó là các bài đấu tranh toàn diện, khoa học về vấn đề địch chống phá. Tập trung lý luận chuyên sâu, phản ánh và giải thích thực trạng; thống nhất quan điểm, cách hiểu vấn đề, sự việc; hướng người đọc tiếp cận vấn đề theo hướng tích cực; từ đó, củng cố lập trường, quan điểm, tư tưởng, phản bác, đấu tranh trực diện quan điểm sai. Tuyến 2 là các bài nhỏ, ngắn khoảng 800 – 1.000 từ, đấu tranh trực diện trên từng mặt hoạt động, vấn đề nhánh; tác nghiệp nhanh. Bài tuyến 3 là những nhận xét, hình ảnh, đoạn video ngắn, tập trung lan tỏa gương người tốt, hoạt động nhân văn, cách làm sáng tạo vì cộng đồng, có nội dung phản biện lại luận điểm của địch; loại này dễ làm, sản xuất nhanh trên thiết bị di động, nhất là có lực lượng tham gia đông, không cần chuyên môn sâu. Các bài tuyến 1, 2 cố gắng tuân thủ chuẩn SEO, bài tuyến 3 không cần chuẩn SEO, nhưng bảo đảm linh hoạt, nhanh nhất. Đồng thời, căn cứ sự kiện lịch sử, kế hoạch hoạt động của Đảng, Nhà nước trong năm, cơ quan quản lý, cơ quan báo chí cần dự báo sự chống phá, xây dựng kế hoạch đấu tranh, đặt bài, đăng tải phù hợp. Bài tuyến 1 chủ yếu do các nhà khoa học, nghiên cứu, lực lượng quản trị đấu tranh, các nhà báo lớn thực hiện; bài tuyến 2, 3 do các cơ quan, đơn vị huy động mọi lực lượng, tiềm năng có thể. Bên cạnh đó, cần phân cấp, phân quyền quản lý, hỗ trợ từng mức độ bài viết; cho phép tác giả tự do gửi bài đến mọi ban biên tập trang web; chỉ đạo phát triển các bài giá trị, vấn đề quan trọng đã phản ánh ở tuyến dưới lên trên; đăng tải trên các báo, tạp chí phù hợp, ngang tầm. Đặc biệt, sản xuất video đấu tranh hiện nay gặp khó khăn về chi phí, thời gian, nhân công; kịch bản hạn chế; khó tìm hình ảnh sống; phát biểu dễ va chạm,... nên cần có cơ chế tốt hơn cho loại hình đấu tranh này.

Bốn làtăng cường số lượng bài viết, mật độ đăng tải để nâng cao hiệu quả đấu tranh. Chúng ta có nhiều bài viết sâu sắc, chất lượng cao, là sản phẩm trí tuệ của nhiều nhà báo, nhà khoa học, cộng tác viên có tâm với sự nghiệp cách mạng; nếu không lan tỏa đến đông đảo bạn đọc sẽ rất lãng phí. Do đó, các cơ quan báo chí, nhất là báo chí chủ lực cần duy trì tốt chuyên mục bình luận, phê phán để đăng tải các bài viết tuyến 1. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cần phân công các báo, tạp chí có độ tương tác cao tái đăng tải bài tuyến 1 trong các chuyên mục phù hợp. Các đơn vị tham gia đấu tranh tự nâng cấp trang web thành tên miền cấp 1, 2 để đăng tải bài do cán bộ, nhân viên nội bộ tự viết; được phép đăng lại các bài tuyến 1, 2 của đơn vị bạn dưới dạng trích nguồn. Bài tuyến 3 nên đăng trên mạng xã hội Facebook, Instagram, Tiktok, Telegram, v.v. Sự tương tác, bình luận đối với các bài tuyến 3 sẽ rất lớn, lớn nhất trong 3 tuyến bài, gồm phản biện cả đồng thuận lẫn trái chiều. Quan điểm của cộng đồng mạng là cơ sở để chúng ta xác định thêm chủ đề đấu tranh, lựa chọn vấn đề cần nâng cấp lên các bài tuyến 1, 2. Bên cạnh đó, đặc thù chống phá của các thế lực thù địch là lặp lại cùng một vấn đề ở nhiều thời gian khác nhau nên cùng với những bài đấu tranh mới, cần cho phép tái đăng tải lại những bài cũ để làm dầy mật độ đấu tranh, giúp người đọc có cái nhìn tổng quát hơn một vấn đề không mới nhưng đang đặt ra ở thời điểm hiện tại.

Cùng với các giải pháp trên, cần có chế tài quản lý, xử lý nghiêm việc đăng tin sai sự thật, tung tin thất thiệt, xuyên tạc, bôi nhọ; đồng thời, đẩy mạnh các giải pháp kỹ thuật để theo dõi, thống kê, đánh giá tình hình, theo vết các tài khoản chứa nhiều thông tin xấu, độc; tổ chức ngăn chặn, giảm tốc độ truy cập; hoặc phối hợp bóc gỡ để làm sạch môi trường mạng, hỗ trợ thông tin trung thực, chính thống; định hướng tư tưởng quần chúng nhân dân vững tin vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta./.

ST.

Phát huy “sức mạnh mềm” quốc gia trong sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc

Cùng với sức mạnh quân sự và thế vững mạnh của nền kinh tế thì “sức mạnh mềm” là một trong những yếu tố cơ bản, góp phần quan trọng tạo thành sức mạnh tổng hợp của quốc gia, sẵn sàng để chiến thắng mọi mưu đồ của các thế lực xâm lược, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Vì vậy, phát huy “sức mạnh mềm” quốc gia trong sự nghiệp quốc phòng bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ thường xuyên, trọng yếu, yếu tố rất quan trọng, nhất là trong giai đoạn hiện nay.

Những năm gần đây, khái niệm “sức mạnh mềm” thường xuyên được đề cập và trong thực tế nó đã trở thành nguồn “tài nguyên quyền lực” mới của mỗi quốc gia, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế. Trong một thế giới đang thay đổi, đầy biến động, khó dự báo, thì việc các quốc gia, dân tộc luôn coi trọng sử dụng “sức mạnh mềm” và xác định nó như một trụ cột quốc gia đã, đang là xu hướng chung của cộng đồng quốc tế. Cùng với các sức mạnh khác, “sức mạnh mềm” góp phần mở rộng hợp tác quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, nhất là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ chính trị, bảo vệ nhân dân và môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.

Theo giáo sư Joseph Nye1, “sức mạnh mềm” là khả năng tạo sức hấp dẫn, lôi cuốn, thu hút để các nước khác tự nguyện thay đổi hành vi, chính sách, phù hợp với điều mình muốn, thay vì cưỡng bức thông qua sức mạnh kinh tế, quân sự. Như vậy, có thể hiểu, “sức mạnh mềm” là tất cả các khả năng mà con người, cộng đồng người hay một quốc gia có thể tạo ra, có sức hấp dẫn, lôi cuốn, thu hút, thuyết phục người khác, quốc gia khác tự nguyện làm theo mà không cần thông qua sức mạnh kinh tế, quân sự. Bản chất cốt lõi của “sức mạnh mềm” chính là tính hấp dẫn, các khả năng tạo ra sức mạnh của một quốc gia có sức hấp dẫn đến mức các quốc gia khác tự nguyện làm theo, tự nguyện thay đổi hành vi, chính sách của mình với tinh thần hợp tác, không cần dựa vào sự áp đặt, cưỡng bức.

Khác với “sức mạnh mềm”, “sức mạnh cứng” của một quốc gia được nhận diện bởi sức mạnh quân sự (quy mô tổ chức quân đội; sự hiện đại của vũ khí, trang bị; khả năng cơ động; trình độ tổ chức chỉ huy, hiệp đồng, bảo đảm; lý luận quân sự, nhất là lý luận về nghệ thuật quân sự cùng các yếu tố khác hợp thành) và thế mạnh về kinh tế của một quốc gia (quy mô, trình độ của nền kinh tế; cơ cấu kinh tế; khả năng hội nhập, năng lực cạnh tranh kinh tế quốc tế; khả năng kinh tế huy động cho quốc phòng, an ninh). Bản chất của “sức mạnh cứng” là sự áp đặt, cưỡng bức người khác, quốc gia khác phải làm theo ý muốn của mình, trong khi “sức mạnh mềm” tôn trọng sức hấp dẫn, lôi cuốn, thuyết phục, thu hút để người khác, quốc gia khác tự nguyện làm theo. “Sức mạnh mềm” và “sức mạnh cứng” có mối quan hệ chặt chẽ, củng cố, bổ sung và tăng cường sức mạnh cho nhau, khi được kết hợp có hiệu quả thì tạo thành sức mạnh tổng hợp quốc gia.

Nội dung của “sức mạnh mềm” khá toàn diện, là tất cả các khả năng mà một quốc gia có thể tạo ra; có ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong cả lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và quân sự, như: văn hóa quân sự, văn hóa giữ nước, bản sắc dân tộc, hợp tác quốc tế về kinh tế, v.v. Đặc biệt, “sức mạnh mềm” được thể hiện rõ nét ở các giá trị văn hóa mang bản sắc riêng của một dân tộc, các giá trị từ nền chính trị cũng như các chính sách đối ngoại của một quốc gia. Ngày nay, các quốc gia đều coi trọng, sử dụng “sức mạnh mềm” trong cả đối nội và đối ngoại, nhằm xây dựng sức mạnh tổng hợp để bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; trong đó phải kể đến Trung Quốc, Mỹ, Nga, Hàn Quốc, Singapore, v.v.

Trung Quốc là một quốc gia điển hình về sử dụng “sức mạnh mềm”, nhất là trên lĩnh vực văn hóa; Ðại hội XVII Ðảng Cộng sản Trung Quốc lần đầu tiên khẳng định, “sức mạnh mềm” là bộ phận cấu thành quan trọng của sức mạnh tổng hợp quốc gia cũng như sức cạnh tranh quốc tế của đất nước. Đối với Mỹ, bên cạnh thúc đẩy phát triển sức mạnh quân sự và kinh tế, cũng rất coi trọng tuyên truyền, tạo sự lan tỏa các giá trị Mỹ, trong đó có vấn đề “tự do”, “dân chủ”, nhằm tạo sức hấp dẫn, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, mà trọng tâm là các nhà khoa học lớn của thế giới đến làm việc, học tập và sinh sống tại Mỹ. Về phía Nga đã vận dụng, sử dụng “sức mạnh mềm” - ngoại giao thân thiện, gắn với lợi ích chính trị và kinh tế, tạo ra ảnh hưởng nhất định trong quan hệ với nhiều nước, trở thành quốc gia có khả năng dàn xếp, tháo gỡ “nút thắt” cho các vấn đề khu vực và quốc tế, được các quốc gia ghi nhận và đánh giá cao. Không chỉ các nước lớn, ngay cả nước nhỏ, đất không rộng, người không đông, nhưng biết sử dụng “sức mạnh mềm” hợp lý, vẫn có thể tạo được ảnh hưởng lớn đối với thế giới. Tiêu biểu như Hàn Quốc đã sớm có chiến lược phát triển “sức mạnh mềm” dựa trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hiệu quả các nguồn lực; trong đó, hết sức coi trọng phát triển và phổ quát văn hóa quốc gia. Ðáng chú ý, nước này đã phát triển văn hóa thành nền công nghiệp gắn với các mục tiêu khác, nhờ vậy mà văn hóa, hình ảnh đất nước Hàn Quốc được lan tỏa ra khu vực và thế giới, góp phần nâng cao vị thế trên trường quốc tế. Với một phương thức khác, nhờ cách tổ chức và quản trị xã hội khoa học, có môi trường hòa bình, ổn định, các chính sách xã hội hợp lý, cùng với khả năng thu hút, sử dụng, trọng dụng nhân tài, Singapore đã có sức hấp dẫn, lan tỏa, thu hút nhiều nhà khoa học lớn, vốn đầu tư và hoạt động kinh doanh của các nước, trở thành một trong những trung tâm thương mại hàng đầu thế giới, đất nước đáng sống và làm việc.

Với Việt Nam, trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, “sức mạnh mềm” luôn là bộ phận không thể thiếu, hợp thành sức mạnh tổng hợp quốc gia. Thời nhà Lê, trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã thể hiện rõ “sức mạnh mềm” ở chủ trương “Ðem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo” và chiến lược “Ngã mưu phạt nhi công tâm, bất chiến tự khuất” - kế đánh vào lòng người, không xông trận mà vẫn khuất phục được đối phương. Trong thời đại Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển “sức mạnh mềm” Việt Nam lên tầm cao mới, với các quan điểm, tư tưởng: dĩ bất biến, ứng vạn biến; nước lấy dân làm gốc; lấy sức dân làm lợi cho dân; văn hóa soi đường cho quốc dân đi; đại đoàn kết dân tộc và các chủ trương về trồng người, về giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, v.v. Ngày nay, “sức mạnh mềm” được phát huy cao độ trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 29 (tháng 8/2016), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: thực lực và vị thế ở đây không chỉ thể hiện trong sức mạnh vật chất mà cả trong “sức mạnh mềm”. Việt Nam có cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay là nhờ phát huy cao độ “sức mạnh mềm” cùng với các sức mạnh khác của đất nước.

Như vậy, cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, “sức mạnh mềm” đã, đang có vị trí, vai trò rất quan trọng, cùng với “sức mạnh cứng” hợp thành sức mạnh tổng hợp của quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay, cùng với xây dựng các nội dung cơ bản của nền quốc phòng toàn dân, cần coi trọng nghiên cứu, phát triển “sức mạnh mềm” của quốc gia trong thực hiện nhiệm vụ chiến lược quan trọng này.

Trước hết, cần tiếp tục phát huy “sức mạnh mềm” văn hóa trong sự nghiệp quốc phòng bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam là quốc gia có kho tàng di sản văn hóa đồ sộ, phản ánh cuộc sống lao động sản xuất, sự sáng tạo, phong phú về đời sống tinh thần, cách thức độc đáo về tổ chức cộng đồng, trong đó không thể không nhắc tới các giá trị văn hóa phản ánh sự nghiệp đấu tranh kiên cường, bất khuất của cộng đồng người Việt chống lại sự đồng hóa của ngoại bang và sự nghiệp đấu tranh vũ trang kiên cường, bất khuất chống lại nhiều đội quân xâm lược hùng mạnh - văn hóa quân sự. Văn hóa là nền tảng tinh thần của một dân tộc, “sức mạnh mềm” văn hóa Việt Nam là khả năng huy động, phát huy các giá trị văn hóa vật chất (vật thể), tinh thần (phi vật thể) của dân tộc đối với sự nghiệp quốc phòng bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, giá trị văn hóa tinh thần được thể hiện rất phong phú và đa dạng, như: lòng yêu nước, yêu quê hương xứ sở, sự cố kết cộng đồng, ý chí kiên cường, bất khuất, sự đùm bọc, sẻ chia, yêu chuộng hòa bình, lòng nhân nghĩa, nhân ái, nhân văn, hòa hiếu, khoan dung, độ lượng, v.v. Còn giá trị văn hóa vật thể cùng với văn hóa phi vật thể phản ánh những nét độc đáo về giá trị tinh thần của người Việt Nam qua các thời đại. Với bề dày lịch sử và vị trí địa lý đặc biệt, Việt Nam có nhiều công trình lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh độc đáo, tạo nên một nước Việt Nam có nền văn hóa đa đạng, giàu bản sắc. Giá trị văn hóa tinh thần và giá trị văn hóa vật chất hợp thành giá trị văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc. Ðây là “sức mạnh mềm”, động lực cơ bản trong huy động sức người, sức của cho sự nghiệp quốc phòng bảo vệ Tổ quốc; kết hợp với việc lan tỏa các giá trị văn hóa ấy trong các quốc gia, cộng đồng quốc tế để thu hút, cảm hóa mọi người, tạo ra mối quan hệ thân thiện, gần gũi, từ đó không ngừng nâng cao vị thế, uy tín Việt Nam. Vì vậy, người Việt Nam ở nước ngoài cần lan tỏa mạnh mẽ các giá trị văn hóa Việt Nam với bạn bè quốc tế; đồng thời, quảng bá rộng rãi, sâu sắc các giá trị văn hóa Việt Nam nhằm thu hút các cá nhân, tổ chức nước ngoài đến học tập, công tác, kinh doanh, du lịch, định cư tại Việt Nam và làm cho các giá trị văn hóa Việt Nam ngày càng được phổ biến, lan tỏa trong cộng đồng quốc tế. Ðây là một trong những cơ sở quan trọng để gìn giữ hòa bình, ngăn ngừa các nguy cơ có thể gây mất ổn định, xung đột hay chiến tranh.

Tăng cường, phát huy “sức mạnh mềm” quốc gia từ các giá trị chính trị của đất nước. Trong suốt chiều dài lịch sử, dân tộc Việt Nam luôn gắn với một chế độ chính trị nhất định. Sau khi giành được độc lập, Ðảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ chính trị của dân tộc. Đây là chế độ chính trị mà tính ưu việt, đã được minh chứng trên thực tiễn; là cơ sở chủ yếu, động lực cơ bản để huy động sức người, sức của tiến hành thắng lợi các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc trước đây. Ngày nay, trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, chủ nghĩa xã hội đang tiếp tục được nghiên cứu, phát triển cho phù hợp với những đặc điểm của đất nước và xu hướng vận động phát triển của xã hội loài người, nhằm ngày càng nâng cao khả năng hòa nhập quốc tế của đất nước. Xét về “sức mạnh mềm” từ các giá trị chính trị của đất nước, phải kể đến sự ổn định chính trị và các chính sách an sinh xã hội từ nền chính trị ấy. Trong khi nhiều nước trên thế giới thường xuyên xảy ra bất ổn về chính trị do nhiều lý do khác nhau, thì Việt Nam rất ổn định về chính trị. Một môi trường hòa bình, ổn định là lợi thế lớn - “sức mạnh mềm” cực kỳ quan trọng, có sức lan tỏa rộng rãi, lôi cuốn, thu hút mạnh mẽ bạn bè quốc tế đến với Việt Nam. Khi đến với Việt Nam, họ cảm thấy yên tâm, tin tưởng, an toàn cả về con người và tài sản, lợi ích của họ cũng được bảo đảm. Cùng với sự ổn định về chính trị, các chính sách xã hội của Việt Nam cũng có sức thuyết phục lớn bạn bè quốc tế. Ở Việt Nam, người dân được làm chủ vận mệnh của mình; được sống, được mưu cầu hạnh phúc, được làm chủ xã hội; cuộc sống vật chất, tinh thần luôn được bảo đảm ở mức tốt nhất có thể, được tự do làm ăn, sinh sống trong hòa bình. Ðây là nguồn “sức mạnh mềm” quan trọng từ các giá trị của nền chính trị Việt Nam, cần được phát triển theo chiều sâu, vững chắc, tạo niềm tin, thuyết phục bạn bè quốc tế đến với chúng ta và hết lòng ủng hộ Việt Nam, làm tăng khả năng quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Cùng với đó, tiếp tục phát huy “sức mạnh mềm” Việt Nam từ các giá trị của các chính sách đối ngoại của quốc gia. Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm, tổ tiên ta rất coi trọng kết hợp hoạt động quân sự với đấu tranh ngoại giao. Thời đại Hồ Chí Minh, “vừa đánh, vừa đàm” là một trong những phương châm cơ bản, chỉ đạo đường lối chiến tranh nhân dân của Việt Nam. Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, với đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, “thêm bạn, bớt thù” và các chính sách ngoại giao: Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế; giải quyết các tranh chấp, bất đồng bằng các giải pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế và lợi ích quốc gia - dân tộc; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; khép lại quá khứ hướng tới tương lai; mở rộng hợp tác quốc tế,… cùng phương pháp ngoại giao thân thiện, khôn khéo, mềm dẻo, linh hoạt nhưng kiên quyết của một dân tộc được hình thành từ nền văn minh lúa nước đã tạo nguồn “sức mạnh mềm” rất quan trọng, có sức lan tỏa rộng rãi, thu hút, lôi cuốn, thuyết phục mạnh mẽ bạn bè quốc tế. Ðây cũng là nguồn sức mạnh không ngừng gia tăng vị thế, uy tín và năng lực cạnh tranh quốc tế của Việt Nam cần tiếp tục được phát huy, phát triển, tạo cơ sở quan trọng cho công cuộc bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Có thể thấy, nhờ vào “sức mạnh mềm” đối ngoại cùng với các hoạt động khác, đến nay Việt Nam đã đặt quan hệ ngoại giao với 193 quốc gia trên thế giới (bao gồm 191/193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc), xây dựng quan hệ đối tác toàn diện với 12 nước, quan hệ đối tác chiến lược với 18 nước, trong đó có 05 nước thành viên Thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc. Việt Nam cũng giải quyết hợp lý các vấn đề biên giới với các nước láng giềng, từng bước giải quyết các vấn đề phức tạp trên Biển Ðông bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc. Ðặc biệt, Việt Nam luôn nêu cao chính nghĩa; đại đoàn kết dân tộc; độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên trì nguyên tắc chiến lược, linh hoạt mềm dẻo trong sách lược; tuân thủ tư tưởng: “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, “làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với ai” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ðó là một trong những nguồn “sức mạnh mềm” cơ bản, cùng với các sức mạnh khác hình thành sức mạnh tổng hợp quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

ST.

Công tác xây dựng Đảng - những vấn đề đặt ra hiện nay

Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta luôn xác định công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt và nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế. Vì vậy, thành tựu bao trùm nổi bật nhất về công tác xây dựng Đảng những năm qua là, trong tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới rất nặng nề, các thế lực thù địch tấn công toàn diện vào Đảng, nhưng Đảng ta vẫn vững vàng, kiên định lập trường bản lĩnh chính trị. 

Công tác tư tưởng chính của Đảng có nhiều đổi mới, góp phần quan trọng vào việc nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy, thống nhất tư tưởng trên những vấn đề cơ bản của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc... Trong công tác cán bộ, đã có những đổi mới đáng kể, phục vụ tích cực cho nhiệm vụ đổi mới. Nguyên tắc tập trung dân chủ tiếp tục được khẳng định và có cơ chế để thực hiện. Về công tác tổ chức cơ sở đảng và xây dựng đội ngũ đảng viên có những chuyển biến tích cực, nhất là đã chú ý đến xây dựng và hướng dẫn thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các loại hình tổ chức cơ sở đảng khác nhau. Nhìn chung đa số đảng viên vẫn giữ được vai trò tiền phong, gương mẫu, tận tụy với công việc, tích cực tham gia đường lối đổi mới của Đảng, trình độ mọi mặt được nâng lên v.v.  

Tuy nhiên, cần nghiêm túc thấy rõ những khuyết điểm, yếu kém về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, cũng như về công tác xây dựng Đảng còn nhiều mặt chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới. Điều này, Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX trình Đại hội X đã chỉ rõ: “Nhìn chung, cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tự phê bình và phê bình trong các cơ quan, tổ chức Đảng, đảng viên chưa đạt yêu cầu đề ra. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, giáo điều, bảo thủ, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức còn diễn ra nghiêm trọng. Nhiều tổ chức cơ sở Đảng bị tê liệt, thiếu sức chiến đấu và không đủ năng lực lãnh đạo, chỉ đạo để giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh. Công tác tư tưởng còn nhiều bất cập và thiếu tính thuyết phục, tính chiến đấu. Công tác lý luận chưa làm sáng tỏ được một số vấn đề quan trọng trong công cuộc đổi mới. Công tác tổ chức và cán bộ còn bộc lộ nhiều mặt yếu kém. Chất lượng và hiệu quả kiểm tra, giám sát chưa cao.”Thực tế trên do nhiều nguyên nhân, song trước hết do năng lực lãnh đạo của Đảng có những mặt chưa theo kịp sự phát triển mau lẹ của tình hình. Đảng ta cần nhận thức sâu sắc nguyên nhân này, chứ không thể đổ lỗi cho nguyên nhân khách quan về tình trạng yếu kém trong công tác xây dựng Đảng.
 Thực tiễn công cuộc đổi mới đang đặt ra nhiều vấn đề mới chưa có tiền lệ; yêu cầu về phẩm chất, năng lực của từng đảng viên, của các tổ chức Đảng rất lớn, song sự chuẩn bị của Đảng về vấn đề này chưa toàn diện và triệt để, dẫn tới sự bất cập giữa đòi hỏi của thực tiễn với công tác lãnh đạo của Đảng. Hai là, do sự lơi lỏng trong công tác quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên và các tổ chức Đảng trước sự tác động của mặt trái cơ chế thị trường, sự chống phá của các thế lực thù địch đã làm cho sự xuống cấp về phẩm chất, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên là đáng lo ngại. Tình trạng trên đã làm giảm hiệu lực lãnh đạo của Đảng, giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ.
Ngày nay, đất nước ta đang đứng trước thời cơ lớn, đồng thời phải đối mặt với những thách thức gay gắt, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp, không thể coi thường bất cứ thách thức nào. Điều đó đặt ra đối với Đảng nhiều vấn đề mới mẻ cần phải giải quyết. Công tác xây dựng Đảng càng nổi rõ là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn, đòi hỏi phải tập trung chỉ đạo quyết liệt, đổi mới mạnh mẽ. Trên cơ sở tổng kết 20 năm công cuộc đổi mới, 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng và tình hình thực tiễn của cách mạng Việt Nam hiện nay, phương hướng, mục tiêu tổng quát của công tác xây dựng Đảng là: phải dành nhiều công sức tạo được sự chuyển biến rõ rệt về xây dựng Đảng, phát huy truyền thống cách mạng, thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tăng cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng thực sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng trong sáng, có tầm trí tuệ cao, gắn bó mật thiết với nhân dân, có phương thức lãnh đạo khoa học, có đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất và năng lực, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển. Đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.
  Trước hết, phải nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ và tăng cường công tác tư tưởng của Đảng. Bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ của Đảng là vấn đề đặc biệt quan trọng, bao trùm, xuyên suốt toàn bộ công tác xây dựng Đảng, quyết định sự tồn tại, phát triển của Đảng và thắng lợi của cách mạng. Nhờ được tôi luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, nâng cao trình độ trí tuệ, Đảng ta luôn giữ vững vai trò của người “cầm lái” trong suốt tiến trình cách mạng, lãnh đạo nhân dân vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, đi đến thắng lợi hoàn toàn. Thực tiễn chỉ ra rằng, càng những lúc khó khăn, những bước ngoặt của cách mạng thì bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ của Đảng càng được khẳng định và phát huy. Ngày nay, việc nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ của Đảng được thể hiện ở sự kiên định chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng, sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sự nhất trí cao, lòng tin vững chắc của từng đảng viên đối với con đường, mục tiêu mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Tiếp tục đổi mới tư duy, nhận thức sâu sắc hơn nữa về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Chống các khuynh hướng tư tưởng và các quan điểm sai trái. Đặc biệt coi trọng nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, coi trọng giáo dục, rèn luyện phẩm chất và năng lực, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Cán bộ, đảng viên phải là tấm gương về đạo đức, lối sống; phải tiên phong, gương mẫu trong mọi công việc; xử lý hài hòa các lợi ích, đặt lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc lên trên hết. Quan tâm bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện thế hệ trẻ. Nâng cao nhiệt tình cách mạng đi liền với việc ra sức học tập nâng cao trình độ trí tuệ đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn. Tiếp tục đổi mới việc nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, kịp thời làm sáng tỏ hơn những vấn đề bức xúc mà cuộc sống đặt ra. Chú trọng phát huy dân chủ, nâng cao tính khoa học, tính thiết thực và hiệu quả của công tác nghiên cứu khoa học, nghiên cứu lý luận và thực tiễn.
Hai là, giữ vững và tăng cường công tác tổ chức, tăng cường quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân. Tiếp tục hoàn thiện các qui chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ và các qui định có tính nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của Đảng, chế độ tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách, trách nhiệm của người đứng đầu, nhất là trong công tác tổ chức - cán bộ; sớm có qui định đảng viên làm kinh tế tư nhân không giới hạn và cụ thể hóa hơn nữa các qui định đảng viên không được làm. Xây dựng qui chế ra quyết định của Đảng, bảo đảm phát huy trí tuệ tập thể, mọi cán bộ, đảng viên đều có quyền bàn bạc, tham gia công việc của Đảng, đồng thời có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh các nghị quyết của Đảng. Một nội dung quan trọng là tăng cường củng cố, xây dựng cơ chế tổ chức và giám sát trong Đảng. Bổ sung chức năng giám sát và tăng thẩm quyền, trách nhiệm của Uỷ ban Kiểm tra các cấp; kiện toàn tổ chức, hoàn thiện cơ chế phối hợp, tăng cường cán bộ cho Uỷ ban Kiểm tra. Đề ra và thực hiện các biện pháp nhân dân giám sát Đảng và Nhà nước trực tiếp và thông qua các cơ quan dân cử, thông qua Mặt trận và các đoàn thể chính trị- xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng.
Để phát huy vai trò của nhân dân trong công tác xây dựng Đảng và tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân phải đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế, cải thiện đời sống, chăm lo thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, điều hòa các lợi ích, xử lý kịp thời các mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân. Xây dựng các thể chế mở rộng dân chủ, hoàn thiện chế độ dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện; phát huy vai trò của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân tham gia xây dựng đường lối, chính sách, giám sát và phản biện xã hội. Ngăn chặn, đẩy lùi quan liêu, tham nhũng, chính là thiết thực củng cố mối quan hệ gắn bó giữa Đảng và nhân dân.   
Ba là, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng gắn với xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh. Phải tập trung xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở Đảng, vì tổ chức cơ sở Đảng có vị trí đặc biệt quan trọng, là “nền tảng của Đảng”, hiện đang là khâu yếu. Nâng cao năng lực và sức chiến đấu, làm cho mỗi tổ chức cơ sở Đảng có đủ uy tín, khả năng tổ chức và qui tụ được sức mạnh của toàn đơn vị hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao, mỗi đảng viên thật sự tiên phong, gương mẫu, có phẩm chất, đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực hoàn thành nhiệm vụ. Cần xây dựng và thực hiện hệ thống qui chế về hoạt động cơ bản của tổ chức cơ sở. Xây dựng đội ngũ cấp ủy viên các cấp thực sự tiêu biểu, mẫu mực về phẩm chất, năng lực, có uy tín trước quần chúng nhân dân, không tham nhũng và có ý thức kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng và các tệ nạn tiêu cực khác. Vũ khí phê bình và tự phê bình phải được phát huy thường xuyên và đầy đủ trong kiểm điểm, đấu tranh với mọi biểu hiện sai trái trong cơ quan, đơn vị mình. Phải khuyến khích việc nói thẳng, nói thật, thẳng thắn phê bình, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, dĩ hòa vi quí. Phát huy vai trò của người đứng đầu, của bí thư cấp ủy đối với việc lãnh đạo, quản lý mọi mặt đơn vị, trong quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên. Thực hiện dân chủ ở cơ sở, dựa vào dân để xây dựng tổ chức cơ sở; tổ chức để nhân dân tham gia ý kiến với cấp ủy, chính quyền cơ sở trong việc xây dựng nghị quyết, ban hành các quyết định của đảng ủy, chính quyền liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân, về việc bố trí cán bộ chủ chốt và giám sát cán bộ, đảng viên. Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và công chức cơ sở; nâng cao chất lượng hoạt động của các đoàn thể trong hệ thống chính trị. Đẩy mạnh công tác phát triển Đảng, nhất là ở những địa bàn xung yếu, chưa có hoặc có ít đảng viên. Đồng thời, thường xuyên rà soát đưa những người không đủ tiêu chuẩn ra khỏi Đảng với các hình thức thích hợp, làm trong sạch đội ngũ đảng viên.
Bốn là, tiếp tục đổi mới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về công tác cán bộ. Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, trước hết là cán bộ lãnh đạo và quản lý ở các cấp, vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức, năng lực hoạt động thực tiễn, gắn bó với nhân dân. Xem trọng cơ chế, chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trọng dụng nhân tài và đãi ngộ xứng đáng người có đức, có tài, dù người đó là đảng viên hay người ngoài Đảng. Cụ thể hóa, thể chế hóa nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ. Xây dựng đội ngũ cán bộ đồng bộ, có cơ cấu hợp lý, chất lượng tốt. Làm tốt công tác qui hoạch và tạo nguồn cán bộ, chú ý cán bộ nữ và cán bộ các dân tộc thiểu số, chuyên gia trên các lĩnh vực. Thực hiện tốt các cơ chế tuyển chọn, quản lý, giám sát cán bộ, có cơ chế kiên quyết thay thế cán bộ lãnh đạo kém phẩm chất, năng lực, thiếu ý thức trách nhiệm, tha hoá về đạo đức, lối sống, không hoàn thành nhiệm vụ. Tiếp tục đổi mới, triển khai đồng bộ các khâu trong công tác cán bộ từ việc đánh giá, qui hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đến luân chuyển, bố trí, sử dụng, chính sách cán bộ đều phải làm chặt chẽ, theo đúng qui trình; trước khi bổ nhiệm, đề bạt phải tiến hành lấy tín nhiệm của quần chúng trong cơ quan, đơn vị, kiên quyết không bổ nhiệm những cán bộ có uy tín thấp. Đánh giá cán bộ lãnh đạo phải công tâm, khách quan, trên cơ sở tiêu chuẩn, lấy hiệu quả công tác thực tế và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu; không quan liêu, tham nhũng, lãng phí và kiên quyết chống các biểu hiện tiêu cực đó, tránh mọi biểu hiện tiêu cực, động cơ thiếu trong sáng khi đánh giá, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ. Trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chú ý lịch sử chính trị, đồng thời hết sức coi trọng vấn đề chính trị hiện nay.
Năm là, đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả tình trạng suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; tích cực phòng chống tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí.  Đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả tình trạng suy thoái đang là vấn đề nổi lên cấp bách trong tình hình hiện nay và là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Quan liêu, tham nhũng thường đi kèm với các biểu hiện tiêu cực khác của suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống. Để phòng chống có hiệu quả, phải xây dựng và đấu tranh thực hiện bằng được các nguyên tắc, thể chế thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, thực hiện sự giám sát trong Đảng và sự giám sát của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Phải đặc biệt quan tâm công tác xây dựng Đảng về tinh thần, phẩm chất, đạo đức, lối sống, kiên quyết đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải làm gương về đạo đức trong công việc và lối sống; phải coi trọng tự giác học tập, rèn luyện đạo đức cách mạng, nâng cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân, thật sự tiền phong, gương mẫu, đi đầu trong mọi công việc, làm việc có chất lượng, hiệu quả.
Biểu hiện suy thoái đáng chú ý nhất là tệ quan liêu, tham nhũng, đang nổi lên thành một vấn đề nhức nhối trong Đảng và trong nhân dân, chưa được ngăn chặn kịp thời. Toàn Đảng, trước hết là các cấp uỷ, cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu từng địa phương, đơn vị phải có quyết tâm  chính trị cao, tiến hành cuộc đấu tranh kiên quyết, liên tục phòng, chống quan liêu, tham nhũng, làm cho nó trở thành nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở và của toàn xã hội. Cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo cấp cao phải thực sự làm gương, tiên phong đi đầu trong cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng. Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), khoá VIII với quyết tâm cao, triệt để, có bổ sung thêm những yêu cầu, biện pháp mới cho phù hợp. Phải quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng về chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí.
  Sáu là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới kinh tế, trong đó tập trung đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là khâu mấu chốt. Vấn đề này cần phải tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc Cương lĩnh của Đảng năm 1991 đã xác định: “ Đảng lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ phẩm chất và năng lực vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể. Đảng không làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị”. Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng đường lối, chủ trương, các nghị quyết, quyết định, nguyên tắc giải quyết những vấn đề lớn, có ý nghĩa chính trị quan trọng; lãnh đạo thể chế hoá, cụ thể hoá thành Hiến pháp, pháp luật; xây dựng bộ máy và đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực công tác và thường xuyên kiểm tra việc tổ chức thực hiện, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức Đảng và đảng viên trong các cơ quan Nhà nước. Đảng lãnh đạo Nhà nước, đồng thời phải phát huy vai trò chủ động, sáng tạo và tinh thần trách nhiệm của cơ quan Nhà nước trong tham  mưu, đề xuất và tổ chức thực hiện nghị quyết, quyết định của Đảng, trong quản lý đất nước và xã hội, khắc phục tình trạng tổ chức Đảng bao biện làm thay Nhà nước hoặc tình trạng cơ quan Nhà nước ỷ lại, thụ động mà thiếu tính chủ động trong quản lý mọi mặt đời sống xã hội. Toàn bộ hệ thống chính trị ở nước ta do Đảng Cộng sản Việt Nam duy nhất lãnh đạo. Trong hệ thống chính trị ở nước ta, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận đóng vai trò quan trọng. Do vậy, Đảng phải đổi mới phương thức lãnh đạo đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, tạo điều kiện để mặt trận và các đoàn thể xác định đúng mục tiêu, phương hướng hoạt động; đồng thời phát huy tinh thần tự chủ, sáng tạo của Mặt trận và các đoàn thể trong xây dựng, đổi mới tổ chức và hoạt động của mình, nâng cao hiệu quả vận động, tập hợp nhân dân thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, làm cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” trở thành hiện thực trên đất nước Việt Nam./.
ST.