Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2024

Tổng Bí thư Trần Phú – Nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng và cách mạng Việt Nam

Với lòng yêu nước thiết tha, trí thông minh, năng động, đầy nhiệt huyết, đồng chí Trần Phú (01/5/1904 - 06/9/1931) đã tham gia cách mạng từ rất sớm, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đào tạo, huấn luyện, trở thành Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng ta. Đồng chí là người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tấm gương tận trung với nước, tận hiếu với dân, cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.



Tổng Bí thư Trần Phú. Nguồn: dangcongsan.vn

Một trí tuệ lớn, bản lĩnh, năng động, sáng tạo

Cùng với Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được Hội nghị thành lập Đảng (tháng 02/1930) thảo luận, thông qua, thì Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương (Luận cương) do đồng chí Trần Phú khởi thảo, được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương (tháng 10/1930) thảo luận, thông qua là những cương lĩnh chính trị có ý nghĩa lớn, định hướng lâu dài cho cách mạng Việt Nam. Nội dung Luận cương cơ bản thống nhất và khẳng định lại nhiều vấn đề cốt yếu thuộc về chiến lược của cách mạng Việt Nam mà Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng đã xác định, như: tính chất của cách mạng Đông Dương là cách mạng tư sản dân quyền có hai nhiệm vụ chống đế quốc giành độc lập dân tộc và đánh đổ phong kiến đem lại ruộng đất cho nông dân. Luận cương khẳng định hai động lực chính của cách mạng là giai cấp vô sản và giai cấp nông dân, nhưng giai cấp vô sản là động lực rất mạnh, là giai cấp lãnh đạo cách mạng. Điều kiện cốt yếu cho thắng lợi của cách mạng ở Đông Dương là phải có một Đảng Cộng sản lãnh đạo với một đường lối chính trị đúng đắn, có kỷ luật tập trung, mật thiết liên lạc với quần chúng. Đảng là đội tiền phong của vô sản giai cấp, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng. Cách mạng Đông Dương là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới.

Đáng chú ý là trong Luận cương có một số điểm được cụ thể hóa một cách đúng đắn, như: phương pháp cách mạng, thời cơ khởi nghĩa, cách mạng tư sản dân quyền là thời kỳ dự bị tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, v.v. Luận cương còn bàn tới mối quan hệ khăng khít, mật thiết giữa mục đích trước mắt và mục đích lâu dài của cách mạng. Không chú ý mục đích trước mắt là rất sai lầm, nhưng nếu chỉ chú ý mục đích trước mắt mà không chú ý mục đích lớn, lâu dài của cách mạng lại càng sai lầm hơn. Luận cương cũng đề cập, khi có tình thế trực tiếp cách mạng, thì Đảng phải lập tức lãnh đạo quần chúng để khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền về tay công nông.

Cũng như nhiều tác phẩm lý luận hay cương lĩnh khác, Luận cương ra đời trong một hoàn cảnh nhất định và là sản phẩm nhận thức của một thời kỳ lịch sử cụ thể, chủ yếu để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng. Từ nội dung của Luận cương cho thấy, đồng chí Trần Phú là một chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi đầy nhiệt huyết, thể hiện sự nỗ lực cố gắng cao độ của một trí tuệ lớn, bản lĩnh, năng động, kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tiếp thu, vận dụng đường lối cách mạng thuộc địa và nửa thuộc địa của Quốc tế Cộng sản vào hoàn cảnh Việt Nam, luôn luôn suy nghĩ đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc và cách mạng lên trên hết. Đánh giá thành công của Đảng thời kỳ 1930 - 1931, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Thấm nhuần chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng đã đề ra đường lối cách mạng đúng đắn. Trong bản Cương lĩnh cách mạng tư sản dân quyền năm 1930, Đảng đã nêu rõ nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, thực hiện dân tộc độc lập, người cày có ruộng. Cương lĩnh ấy rất phù hợp với nguyện vọng thiết tha của đại đa số nhân dân ta là nông dân. Vì vậy Đảng đã đoàn kết được những lực lượng cách mạng to lớn chung quanh giai cấp mình”.

Người chiến sĩ cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng ta và cách mạng Việt Nam

Tại Hội nghị Trung ương lần thứ nhất (tháng 10/1930), đồng chí Trần Phú được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng. Thời gian này, do tình hình trong nước và quốc tế phức tạp, Đảng ta phải đối diện với rất nhiều khó khăn, thách thức, Tổng Bí thư Trần Phú đã chỉ rõ hai nhiệm vụ trọng tâm liên hệ mật thiết với nhau, cần kíp phải giải quyết, đó là: củng cố tổ chức đảng và duy trì phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng chống khủng bố trắng của kẻ thù. Đồng chí khẳng định: “Tổ chức ra để có sức tranh đấu, tranh đấu để mở rộng, kiên cố tổ chức, kiên cố tổ chức để mở rộng tổ chức nữa, tổ chức và tranh đấu hết sức mật thiết liên kết cùng nhau, đồng phát triển với nhau, cái này rời cái kia thì không được gì hết”.

Để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm xây dựng tổ chức đảng, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra Thông cáo cho các xứ ủy về việc phải “tổ chức một cách nghiêm chỉnh Xứ ủy”. Đến cuối năm 1930, hệ thống tổ chức đảng từ Trung ương đến địa phương cơ bản được xây dựng xong. Các kỳ ủy lâm thời ở ba kỳ tổ chức hội nghị để bầu xứ ủy, thiết lập các ban chuyên môn. Dưới sự lãnh đạo của Ban Thường vụ Trung ương Đảng và sự chỉ đạo quyết liệt của Tổng Bí thư Trần Phú, từ tháng 12/1930 đến tháng 01/1931, các xử ủy Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ đã chính thức được thành lập và từng bước được củng cố.

Để duy trì phong trào đấu tranh chống các chiến dịch tàn sát, cưỡng bức bắt nhân dân nhận thẻ “quy thuận”, “rước cờ vàng” của thực dân Pháp, Trung ương Đảng ra Thông báo về việc đối phó chính sách tàn sát quần chúng, nêu rõ: “Nếu bây giờ phong trào đấu tranh giảm đi, nếu quần chúng tỏ ý non nớt, nếu các nơi khác không hưởng ứng, thì đ.q (đế quốc - BT) sẽ thẳng tay trị. Cho nên việc khẩn cấp của Đảng bây giờ phải tổ chức ngay các cuộc tranh đấu khác để ngừng tay tàn ác của đ.q. Tranh đấu mà chết là chết cho Đảng; cho quần chúng tranh đấu bây giờ dẫu phải hy sinh một ít người còn hơn là để đ.q tàn sát quần chúng”.

Nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng, cuối tháng 12/1930, Tổng Bí thư Trần Phú chủ trì Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng bàn về công tác tuyên truyền, quyết định xuất bản báo Cờ vô sản và báo Cộng sản. Đây là những vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh chống lại sự khủng bố của kẻ thù.

Để đoàn kết rộng rãi các giai tầng xã hội trong Mặt trận dân tộc thống nhất, ngày 18/11/1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị về vấn đề thành lập Hội “Phản đế đồng minh”, khẳng định: liên minh công nông là hai động lực chính cùng với lực lượng toàn dân tổ chức thành một lực lượng thật đông, thật kín trong “bức thành dân tộc phản đế bao la” dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống đế quốc và bọn phong kiến tay sai phản động để cuộc cách mạng thành công. Nghị quyết về vấn đề phản đế của Hội nghị toàn thể Trung ương nêu rõ: “Việc tổ chức phản đế là một trách nhiệm cần kíp của Đảng… Cái quy tắc cốt nhứt trong việc tổ chức hội phản đế là lấy các đoàn thể c.m (cách mạng - BT) phản đế mà tổ chức lại, chớ không phải tổ chức từng người một và phải làm cho hội ấy có tánh chất quần chúng. Phải chiêu tập các hội công nông, học sanh, binh lính, thanh niên, phụ nữ và các đảng phái c.m khác (như Quốc dân Đảng, v.v.) lại mà tổ chức ra cho thành một hội phản đế ở Đông Dương”.

Để Hội “Phản đế đồng minh” phát triển phù hợp với tình hình của phong trào cách mạng, Tổng Bí thư Trần Phú chỉ đạo thành lập các tổ chức của Hội, ra các nghị quyết và chỉ thị về việc tổ chức Cộng sản Thanh niên đoàn, củng cố tổ chức Công hội, đẩy mạnh phong trào công nhân, thành lập Ban Công vận Trung ương do Tổng Bí thư Trần Phú trực tiếp làm Trưởng ban, v.v. Từ Hội nghị Trung ương lần thứ nhất (tháng 10/1930) đến trước Hội nghị Trung ương lần thứ hai (tháng 3/1931), khi Đảng vừa ra đời, trong hoàn cảnh muôn vàn khó khăn, kẻ thù tiến hành hoạt động “khủng bố trắng”, cùng các thủ đoạn cưỡng bức, mua chuộc; tư tưởng “tả” - hữu khuynh, hoang mang, do dự trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã ảnh hưởng tiêu cực không nhỏ đến phong trào cách mạng, thì sự lãnh đạo kiên định, vững vàng của Ban Thường vụ Trung ương Đảng do Tổng Bí thư Trần Phú đứng đầu, đã nhanh chóng xây dựng hệ thống lãnh đạo thống nhất, thông suốt từ Trung ương đến cơ sở, đấu tranh chống khủng bố, bảo vệ lực lượng, duy trì phong trào cách mạng, xây dựng Đảng và các đoàn thể cách mạng là những đóng góp hết sức to lớn cho phong trào cách mạng lúc bấy giờ. Phải đặt trong hoàn cảnh cụ thể, xem xét đầy đủ, toàn diện, khách quan lực lượng địch - ta, trong nước và thế giới mới thấy hết được sức dự bị và năng lực của Đảng mà người đứng đầu là Tổng Bí thư Trần Phú trong tổ chức, lãnh đạo “quần chúng giác ngộ, tự lấy lực lượng mà tranh đấu, lấy sức tổ chức của mình mà chống khủng bố”. Lãnh tụ Hồ Chí Minh coi đó là biểu hiện sự vĩ đại của Đảng ta, vì “Từ ngày mới ra đời, Đảng ta liền giương cao ngọn cờ cách mạng, đoàn kết và lãnh đạo toàn dân ta tiến lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Màu cờ đỏ của Đảng chói lọi như mặt trời mới mọc, xé tan cái màn đen tối, soi đường dẫn lối cho nhân dân ta vững bước tiến lên con đường thắng lợi”.

Dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Trần Phú, Hội nghị Trung ương lần thứ hai (tháng 3/1931) đạt được nhiều kết quả quan trọng. Với thái độ và tinh thần bôn-sê-vích, không giấu giếm khuyết điểm, Hội nghị kiểm điểm và đi sâu phân tích, phê phán những sai lầm, thiếu sót của Đảng thời gian qua trong nhận thức về bản chất giai cấp và vai trò của Đảng Cộng sản trong lãnh đạo đấu tranh quyết liệt với kẻ thù. Lãnh đạo còn khuynh hướng sai lầm của tính tiểu tư sản, chưa thật tin tưởng vào lực lượng quần chúng; không gắn chặt vấn đề tổ chức với đấu tranh, vừa “tả” vừa hữu khuynh, có chỗ cưỡng bách, có chỗ theo đuôi quần chúng. Coi nhẹ công tác tuyên truyền, vận động thanh niên. Hội nghị đã đề ra những nhiệm vụ cấp bách về công tác xây dựng Đảng, nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng để duy trì phong trào đấu tranh của quần chúng trước sự khủng bố khốc liệt của kẻ thù. Hội nghị chỉ rõ Đảng phải nhanh chóng xây dựng và lãnh đạo các tổ chức, đoàn thể cách mạng của quần chúng. Hội nghị thông qua Nghị quyết về vấn đề tổ chức và cổ động tuyên truyền với nhiệm vụ quan trọng, như: “đào tạo ra một nền tư tưởng bôn sê vích cho Đảng”, “huấn luyện đảng viên và quần chúng vô sản theo tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin”.

Ngay sau khi Hội nghị Trung ương lần thứ hai kết thúc, nhiều cán bộ lãnh đạo các cấp từ Trung ương đến xứ ủy, tỉnh ủy bị bắt, trong đó có Tổng Bí thư Trần Phú. Trong bốt giam và khám lớn Sài Gòn, mọi cực hình tra tấn, thủ đoạn mua chuộc dụ dỗ của kẻ thù không thể làm lay chuyển được tinh thần cách mạng và ý chí chiến đấu của Tổng Bí thư Trần Phú. Công khai nhận mình là Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí Trần Phú khẳng khái tuyên bố với kẻ thù rằng “ta không thể đem công việc của Đảng ta nói cho các người nghe”. Bị suy kiệt về sức khỏe nhưng những ngày trong tù, Tổng Bí thư Trần Phú vẫn xiết chặt đội ngũ cùng các đồng chí bị giam đấu tranh phản đối chế độ hà khắc của nhà lao, phản đối án tử hình với chính trị phạm; trao đổi về tình hình và nhiệm vụ cách mạng, kiên quyết đấu tranh chống các phần tử cơ hội, đầu hàng. Lời nhắn nhủ với các bạn chiến đấu trước khi trút hơi thở cuối cùng: “Trước sau tôi chỉ mong anh chị em hãy giữ vững chí khí chiến đấu! còn vang vọng mãi đến hôm nay và mai sau.

Toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp hoạt động cách mạng của Tổng Bí thư Trần Phú là một trang sử tuy không dài, nhưng chói lọi, tràn đầy năng lực trí tuệ và bản lĩnh, kiên định và vững vàng, trung thành và lạc quan, bất khuất và hiên ngang. Tạp chí Quốc tế Cộng sản (tháng 5/1932) nhấn mạnh: “Đồng chí Tổng Bí thư Trần Phú của chúng ta đã hy sinh, nhưng tên tuổi của đồng chí sẽ vĩnh viễn sống mãi trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đông Dương, cũng như sống mãi trong trái tim của những người lao động Đông Dương các thế hệ hôm nay và mai sau”. Lãnh tụ Hồ Chí Minh ca ngợi: “Đồng chí Trần Phú là một người con ưu tú của Đảng và của nhân dân”. “đồng chí Trần Phú... và nhiều đồng chí khác đã vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, đã nêu gương chói lọi của đạo đức cách mạng chí công vô tư cho tất cả chúng ta học tập”.

Những bài học quý cho Đảng ta và cách mạng Việt Nam hiện nay

Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Trần Phú là dịp để tôn vinh và tri ân những cống hiến to lớn của Đồng chí đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc. Khẳng định sự kiên định, vận dụng sáng tạo những bài học quý báu mà đồng chí Trần Phú - Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng để lại cho cách mạng Việt Nam và Đảng ta.

Trước hết, cần khẳng định: Đảng ta là Đảng cầm quyền nên nhất định phải có một đường lối đúng đắn, sáng suốt, sáng tạo, đó là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Luận cương chính trị và cách chỉ đạo thi hành Luận cương kịp thời, linh hoạt, thể hiện sự trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin vì lợi ích tối cao của Đảng, của cách mạng và dân tộc, thấm sâu vào quan điểm chỉ đạo của Đảng hiện nay về sự kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Hai là, để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, cần xây dựng Đảng vững mạnh về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; phải kiên quyết chống lại mọi biểu hiện làm lệch lạc đường lối của Đảng, cơ hội, bè phái; biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Xây dựng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng như giữ gìn “con ngươi” của mắt mình trên cơ sở cương lĩnh, Điều lệ Đảng; tăng cường mối quan hệ, gắn bó mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, luôn đặt lợi ích của Tổ quốc và Nhân dân lên trên hết, trước hết.

Ba là, “giữ vững chí khí chiến đấu” theo tấm gương Tổng Bí thư Trần Phú, nêu cao đạo đức cách mạng chí công vô tư, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, thói vô trách nhiệm, sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm. Mỗi cán bộ, đảng viên phải có tinh thần vượt qua mọi khó khăn, thách thức, đấu tranh chống lại mọi tiêu cực, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà Tổng Bí thư Trần Phú đã chuyển lại, xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc./.

ST.

GIỖ TỔ - NGÀY NHỚ VỀ NGUỒN CỘI

 

Có một quốc gia nào trên thế giới mà toàn dân dù trong nước hay ở nước ngoài đều tưởng nhớ về một nguồn gốc chung, đó là ngày Giỗ Tổ Hùng Vương như Việt Nam. Lịch sử của dân tộc Việt Nam được mở đầu bằng thời đại Hùng Vương với công lao to lớn của các Vua Hùng đã khai sơn, phá thạch, mở mang, bồi đắp xây dựng nên Nhà nước Văn Lang. Cả dân tộc có chung ngày Giỗ Tổ; đồng bào cả nước không phân biệt tôn giáo, dân tộc, đều có chung tình dân tộc, nghĩa đồng bào cùng chung nguồn cội “con Rồng cháu Tiên”. Đây chính là nguồn mạch sâu thẳm tạo nên sức mạnh đoàn kết, cố kết cộng đồng trải dài từ quá khứ, nâng bước cho hiện tại, chắp cánh cho tương lai; là điểm tựa tinh thần, sức mạnh mềm để người Việt vượt qua mọi âm mưu thôn tính, xâm lăng của các thế lực ngoại bang. Cũng nhờ đó mà giữ được ngôn ngữ, tâm hồn, phẩm cách của mình, bồi đắp một nền văn hóa đậm đà, đặc sắc, đa dạng trong thống nhất.

Hiện nay, cả nước có hơn 1.410 di tích thờ Hùng Vương và liên quan đến thời đại Hùng Vương, trải khắp các vùng miền, từ Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Nghệ An, Thừa Thiên - Huế, Lâm Đồng, Bình Phước, Khánh Hòa, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh, Bến Tre, Kiên Giang, Cần Thơ… Vì vậy, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương đã trở thành ngày hội của đồng bào cả nước với nhiều chương trình, hoạt động văn hóa, nghệ thuật truyền thống, hoạt động văn hóa dân gian. Mỗi người Việt Nam, dù ở vùng núi cao hay miền duyên hải, dù là dân tộc Kinh hay các dân tộc khác cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam, đều cùng chung dòng máu Lạc Hồng, đều là con dân đất Việt. Truyền thống đoàn kết, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, chia sẻ, gắn kết ấy đã củng cố sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc trước những thách thức trong lịch sử như chống giặc ngoại xâm, vượt qua những thử thách trước thiên tai và những hoàn cảnh ngặt nghèo, để đất nước trường tồn. Người Việt Nam dù đi đến đâu cũng mang theo tâm thức về Quốc Tổ.

Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương đã trở thành nếp sinh hoạt văn hóa phổ biến trong đời sống, gắn với thờ cúng tổ tiên là một biểu hiện nhất quán của văn hóa truyền thống dân tộc, được xem như biểu tượng phản ánh tinh thần dân tộc, ý thức dân tộc và sự kết nối cộng đồng của người Việt Nam ở nước ngoài. “Ngày Quốc Tổ Việt Nam toàn cầu” là dự án được hình thành từ năm 2015, do một số nhà khoa học, trí thức, hội đoàn kiều bào của 7 quốc gia sáng lập, nhân dịp về tham dự Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ IX tại Hà Nội.

Ngày 11/12/2018, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý tiếp tục triển khai tổ chức “Ngày Quốc Tổ Việt Nam toàn cầu” ở các nước có đông kiều bào sinh sống; đồng thời xây dựng dự án thành đề tài khoa học cấp quốc gia với mục đích tôn vinh giá trị tinh thần của dân tộc Việt trên các phương diện: Văn hóa, xã hội, truyền thống, phong tục, ẩm thực, đặc biệt là văn hóa tâm linh, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên; định vị giá trị thương hiệu, giá trị văn hóa của người Việt, qua đó bạn bè quốc tế hiểu hơn về con người và những giá trị, thế mạnh của Việt Nam.

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương của người Việt Nam là sợi dây kết nối quá khứ, hiện tại và tương lai. Bởi vậy mà ngày 6/12/2012, tại Paris (Pháp), UNESCO đã chính thức công nhận Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là một hiện tượng văn hoá độc đáo, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đây là di sản đầu tiên của Việt Nam được vinh danh ở loại hình tín ngưỡng và cũng là lần đầu tiên UNESCO công nhận tín ngưỡng thờ Tổ là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Theo đánh giá của các chuyên gia UNESCO, “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” đã đáp ứng được tiêu chí quan trọng nhất trong 5 tiêu chí, đó là di sản có giá trị nổi bật mang tính toàn cầu, khích lệ ý thức chung của mọi dân tộc trong việc thúc đẩy giá trị đó. Thực tế này phản bác các quan điểm xuyên tạc, cho rằng Việt Nam “tự vẽ ngày Quốc Giỗ” để tụ họp, lãng phí, “người dân không quan tâm đến Giỗ Tổ”, “không phải là nét văn hoá của người Việt Nam”… 

Dịp hành hương, hướng về đất Tổ lại về, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ngày càng khẳng định vị trí vững chắc trong đời sống xã hội, khẳng định sức sống của biểu tượng cội nguồn dân tộc. Dù ai nói ngả nói nghiêng, dù có những luận điệu xuyên tạc đi ngược đạo lý thì những giá trị tốt đẹp của ngày Giỗ Tổ mãi là giá trị văn hoá trường tồn. Những giá trị đó đã góp phần phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, như một chất keo gắn kết mọi người Việt Nam dù ở trong nước hay ở nước ngoài càng thêm yêu quê hương, đất nước, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần dân tộc.

 

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC ĐỐI VỚI NGÀY GIỖ TỔ

Đã từ lâu, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch hằng năm) đã trở thành nét đẹp văn hóa truyền thống, có ý nghĩa sâu sắc trong đời sống người dân Việt Nam. Đây không chỉ là dịp để tưởng nhớ, tri ân, gặp gỡ, giao lưu mà còn là diễn đàn, đợt sinh hoạt chính trị, văn hoá, tập hợp và phát huy sức mạnh của các tổ chức, cá nhân, là chất keo kết dính khối đại đoàn kết toàn dân tộc cùng nhau xây dựng đất nước ngày càng ấm no, hạnh phúc.

Tuy nhiên, khi đồng bào ta phấn khởi, chung vui hướng về ngày Giỗ Tổ thì cũng là lúc các tổ chức, cá nhân phản động lưu vong ở nước ngoài, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị giở trò xuyên tạc, chống phá nhằm phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng, Nhà nước ta.

Với những luận điệu xuyên tạc, vu cáo, các thế lực xấu cố tình “bẻ lái” ý nghĩa ngày Quốc giỗ, cho rằng đây chỉ là câu chuyện có tính truyền thuyết, hư cấu, sao lại phải rầm rộ tổ chức “giỗ” cho lãng phí, tốn kém! Một số quan điểm thì cố tình kích động, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân bằng luận điệu cho rằng, Giỗ Tổ chỉ ý nghĩa với người Việt phương Bắc, còn các vùng miền khác “dân không quan tâm”! Họ ngụy biện việc ngày nay con người sống với số hoá, cách mạng 4.0, với hội nhập toàn cầu, vậy mà “Việt Nam loay hoay với giỗ với nghỉ giỗ”, không lo tập trung làm ăn, lao động, sản xuất!

Cũng nhân sự kiện này, trên mạng Internet, xuất hiện các quan điểm sai trái, từ việc phê phán Giỗ Tổ là “không cần thiết” đến vấn đề hòa hợp dân tộc để chống phá Đảng, Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Họ cố tình đánh tráo bản chất, lập luận vòng vo rằng hòa hợp dân tộc là hòa hợp giữa những người “bất đồng chính kiến”, những “nhà dân chủ” với chính quyền nước ta hiện nay; họ tự huyễn hoặc cho mình là đại diện cho lợi ích của đồng bào ta ở hải ngoại để đưa ra yêu sách phi lý.

Họ phê phán chính sách hòa hợp dân tộc chỉ là “đãi bôi”, “con đường nửa vời” nếu còn chế độ cộng sản; từ đó, họ kêu gọi phải coi việc xóa bỏ chế độ cộng sản là một “mệnh lệnh của lương tâm”, là “tương lai của dân tộc”. Bằng những đòi hỏi phi lý, như: phải xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thực hiện đa nguyên, đa đảng, từ bỏ con đường đi lên CNXH mà nhân dân ta đã lựa chọn.

Các đối tượng phát tán tài liệu bịa đặt, dựng cảnh người dân ăn mặc rách rưới, nhem nhuốc rồi chụp ảnh, quay video tung lên không gian mạng để rêu rao, tạo dư luận xấu về Đảng, Nhà nước Việt Nam. Địa bàn nhắm tới là các buôn, làng vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Bên cạnh lợi dụng chiêu bài “dân chủ, nhân quyền”, “tự do tôn giáo, dân tộc”, các thế lực thù địch thường triệt để lợi dụng các vụ việc nóng ở trong nước dư luận đang quan tâm để chống phá chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc. Bên cạnh đó, được sự hỗ trợ, tiếp sức bởi các thế lực thù địch và các tổ chức quốc tế thiếu thiện cảm với Việt Nam, các tổ chức phản động lưu vong và số đối tượng chống đối ở trong nước đã tích cực kích động biểu tình, tạo điểm nóng chính trị để gây sự chú ý của dư luận thế giới.

Đáng chú ý, tất cả tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài đều tận dụng triệt để mạng xã hội để đẩy mạnh tuyên truyền, kích động chống phá. Không chỉ kích động tư tưởng ly khai, tự trị riêng cho dân tộc mình tại vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ, các thế lực thù địch, chống phá Việt Nam còn triệt để lợi dụng các vụ việc chính trị, xã hội phức tạp liên quan đến dân tộc, tôn giáo, nhằm gây bất ổn từ bên trong, gây hiểu nhầm đối với dư luận thế giới để kêu gọi sự can thiệp của các tổ chức quốc tế vào công việc nội bộ của Việt Nam. Họ tìm cách vu cáo Đảng và Nhà nước, tạo ra những nhận thức sai lệch để các chính phủ, các tổ chức quốc tế can thiệp, gây sức ép, tạo điều kiện cho các đối tượng trong nước gia tăng hoạt động chống phá. Hành động đó không chỉ trái với truyền thống, đạo lý của dân tộc, gây hiềm khích, chia rẽ dân tộc mà còn làm xấu xí hình ảnh, bản chất của người Việt, của đất nước trước bạn bè quốc tế

QUYẾT TÂM BẢO VỆ BIỂN, ĐẢO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC

 

Trên thực tế, nhiệm vụ bảo vệ biển đảo luôn Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo bằng đường lối, quan điểm nhất quán, đúng đắn, phù hợp với luật pháp quốc tế và tình hình thực tiễn…

Ngay sau khi đất nước thống nhất, ngày 12/5/1977, Việt Nam đã ra Tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình. Tiếp đó, ngày 12/11/1982, Chính phủ đã ra tuyên bố về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam. Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để Việt Nam tiến hành đàm phán giải quyết vấn đề phân định vùng biển chồng lấn với các quốc gia có liên quan trong giai đoạn sau này. Những hiệp định phân định ranh giới mà Việt Nam ký kết với các quốc gia trên thế giới mang ý nghĩa quan trọng, góp phần khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam; đồng thời, tạo thuận lợi cho công tác quản lý, khai thác các vùng biển và thúc đẩy hợp tác với các nước láng giềng. Đây là một minh chứng cho thấy, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm, chủ động, kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Trên thực tế, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, nước ta luôn thể hiện quan điểm kiên quyết đấu tranh phản đối. Đồng thời, thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao với các nước trên thế giới có tiếng nói kịp thời đối với những hành vi vi phạm. Việt Nam cũng luôn chủ động, tích cực và kiên trì giải quyết những bất đồng tồn tại về biên giới lãnh thổ trên biển và đất liền với các nước liên quan nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, góp phần củng cố hòa bình, an ninh khu vực; tăng cường vị thế trên trường quốc tế; Việt Nam luôn phản đối chiến tranh, xung đột dưới bất cứ hình thức nào, đồng thời nhất quán với quan điểm mọi tranh chấp, bất đồng phải được giải quyết bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và pháp luật quốc tế có liên quan, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển … 

Đồng thời, sẵn sàng về lực lượng, phương tiện, phương án, kiên quyết bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc, đó là những biện pháp thể hiện sự khôn khéo, mềm dẻo về sách lược, kiên quyết về mặt nguyên tắc để đạt được mục tiêu đề ra…

Việt Nam cũng luôn quan tâm xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng nói chung, lực lượng bảo vệ biển đảo nói riêng chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, làm nòng cốt trong nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Không ngừng quan tâm bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại…

LUẬN ĐIỆU CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI CÔNG TÁC CÁN BỘ

 

Như đã thành thường lệ, trước mỗi kỳ Đại hội Đảng, các kỳ họp của Quốc hội hay trong dịp kỷ niệm những ngày Lễ lớn, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động lại gia tăng hoạt động chống phá, trong đó họ đặc biệt tập trung vào công tác nhân sự. Và thủ đoạn là cố tình xuyên tạc, kích động, bóp méo sự thật, cố tình hướng lái dư luận hiểu sai chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước về công tác tổ chức và công tác nhân sự…

Thực tế cho thấy, để chuẩn bị cho lực lượng kế thừa, tiếp nối, trước mỗi kỳ Đại hội Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội hoặc kỳ họp của Quốc hội, Đảng, Nhà nước ta đều rất chú trọng đến công tác nhân sự thông qua việc quy hoạch, luân chuyển, điều động, bổ nhiệm cán bộ nhằm tạo điều kiện cho cán bộ sâu sát với thực tiễn, rèn luyện năng lực, bản lĩnh ở nhiều vị trí công tác khác nhau… Chuẩn bị đội ngũ cán bộ kế cận; lựa chọn, bố trí cán bộ là chức năng của đảng cầm quyền và trở thành phương thức cầm quyền của Đảng. Quá trình quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển, điều động cán bộ luôn được thực hiện một cách công khai, minh bạch, theo quy trình cụ thể, rõ ràng. Đặc biệt, dù có thay đổi nhân sự ở cấp nào nhưng nguyên tắc hoạt động, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng luôn luôn nhất quán, đảm bảo tính kế thừa, không bị chi phối bởi bất cứ thế lực nào, không bị thay đổi như các thể chế khác.

Tuy nhiên, trong luận điệu của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, những mặt công tác thường xuyên và ý nghĩa đó của Đảng, Nhà nước lại là kết quả của việc “chạy chức chạy quyền”, là “phe cánh tạo thế lực”, là “đấu đá nội bộ”…từ luận điệu xuyên tạc đó, họ bác bỏ hoàn toàn vai trò của công tác nhân sự trong việc xây dựng Đảng, Nhà nước, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh để lãnh đạo đất nước. Mục đích của họ suy đến cùng cũng không có mục đích gì ngoài việc làm lung lay niềm tin của nhân dân vào công tác cán bộ của Đảng, Nhà nước, gây chia rẽ nội bộ, phá hoại mối quan hệ đoàn kết gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân... 

Việc chống phá, xuyên tạc, bóp méo sự thật là âm mưu thường xuyên, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch, nhất là đối với công tác nhân sự vốn rất được người dân, cán bộ, đảng viên quan tâm. Lợi dụng sự quan tâm này, chúng liên tục tung ra các thông tin về công tác cán bộ - có khi là dự đoán nhân sự sắp được bổ nhiệm, có khi là tung tin “bí mật đằng sau” việc kỷ luật cán bộ, có khi là thông tin bịa đặt về sức khỏe của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước hoặc tung tin sai trái về hoạt động của một nhân sự cấp cao trên lĩnh vực kinh tế-xã hội nhằm tạo tâm lý hoang mang, gây xáo trộn sự ổn định của kinh tế-xã hội trong nước…