Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2024

Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 và sự vận dụng trong giai đoạn hiện nay

Truyền thống đoàn kết quý báu của dân tộc được phát huy cao độ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đặc biệt là qua 56 ngày đêm của Chiến dịch Điện Biên Phủ, tạo ra sức mạnh vô cùng to lớn để làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Bài học kinh nghiệm về vận dụng sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong Chiến dịch Điện Biên Phủ 70 năm trước cần được tiếp tục phát huy trong công cuộc đổi mới hôm nay.

Bức tranh tái hiện chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”_Nguồn: tienphong.vn

Điện Biên Phủ - Sự phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Ngay khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn (23-9-1945), mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm tất cả những gì có thể để ngăn chặn một cuộc chiến tranh xảy ra. Song mọi cố gắng, nỗ lực của phía Việt Nam đã bị dã tâm xâm lược của thực dân Pháp chối bỏ. Trước tình thế đó, ngày 12-12-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra bản Chỉ thị Toàn dân kháng chiến. Bản chỉ thị nêu rõ: Mục đích cuộc kháng chiến là giành độc lập và thống nhất Tổ quốc; tính chất: Trường kỳ kháng chiến, toàn diện kháng chiến; các chính sách của cuộc kháng chiến là đoàn kết toàn dân, xây dựng thực lực về mọi mặt để chống thực dân Pháp. Tiếp đó, nhằm chống lại những hành động xâm lược trắng trợn của thực dân Pháp, ngày 19-12-1946, thay mặt Đảng, Chính phủ và toàn thể nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến với quyết tâm sắt đá: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ… Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”.

Chỉ thị Toàn dân kháng chiến của Ban Thường vụ Trung ương Đảng và Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh là những văn kiện cơ bản hợp thành đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp. Đường lối đó hợp lòng dân nên đã nhanh chóng quy tụ và phát huy được sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc đứng lên đấu tranh giành độc lập và tự do cho đất nước, dân tộc.

Với đường lối chiến lược đúng đắn, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta từng bước giành những thắng lợi to lớn. Từ năm 1945 đến năm 1953, quân và dân ta liên tiếp làm thất bại mọi kế hoạch chiến lược của địch, từ kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh”, kế hoạch phong tỏa biên giới và “làm chủ vùng đồng bằng”, đến kế hoạch “giành quyền chủ động chiến lược”. Thất bại dồn dập về quân sự, hao tổn về tài chính, buộc thực dân Pháp phải dựa hẳn vào đế quốc Mỹ, xin thêm nhiều viện trợ nhằm đẩy mạnh chiến tranh với mong muốn giành thắng lợi quân sự để kết thúc chiến tranh trong danh dự. Với ý đồ đó, Kế hoạch Navarre - một kế hoạch đầy tham vọng của cả thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ra đời. Mục tiêu của kế hoạch là giành thắng lợi quyết định về quân sự trong vòng 18 tháng để kết thúc chiến tranh có lợi cho cả Pháp và Mỹ. Với tham vọng giành lại quyền chủ động trong thế bị động, H. Navarre đã đổ quân tinh nhuệ của Pháp xuống Điện Biên Phủ và xây dựng ở đây một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương. Theo đó, quân địch chiếm đóng ở Điện Biên Phủ với quân số lúc cao nhất lên tới 16.200 tên, gồm những đơn vị tinh nhuệ, bố trí trong 49 cứ điểm, chia làm ba phân khu: Bắc, Nam và Trung tâm. Ỷ vào thế mạnh về quân sự, vào ưu thế của vũ khí, trang bị và khả năng tiếp tế, thực dân Pháp và cả đế quốc Mỹ đều đi đến một nhận định, Điện Biên Phủ là “pháo đài bất khả xâm phạm”, một “con nhím” hoàn hảo được tổ chức phòng ngự theo kiểu hiện đại, là nơi “nghiền nát chủ lực của Việt Minh”. Trái với những tham vọng và tuyên bố huênh hoang, hiếu chiến của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, một lần nữa lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam lại khẳng định sự tất thắng của sức mạnh khối đoàn kết toàn dân tộc trước kẻ thù có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh, vũ khí tối tân, hiện đại. Trong lịch sử, chính sức mạnh đó đã “nhấn chìm” không ít kẻ thù hung bạo khi chúng đến xâm lược Việt Nam.

Sau khi phân tích tình hình trên các chiến trường, đầu tháng 12-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị quyết định tập trung lực lượng mở chiến dịch tiêu diệt tập đoàn cứ điểm của địch ở Điện Biên Phủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà cả đối với quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được”. Từ đây, một cuộc động viên sức người, sức của của toàn dân tộc đã được triển khai rầm rộ, với quy mô lớn chưa từng có. Công nhân, nông dân, trí thức, học sinh, nhà buôn và cả một số địa chủ, tư sản, ai ai cũng sẵn lòng góp công, góp của. Đâu đâu cũng có phong trào ra quân rầm rộ. Hội đồng Cung cấp Mặt trận Trung ương nhanh chóng được thành lập, do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch, đã chỉ đạo các địa phương, các ngành kinh tế, tài chính, tổ chức động viên nhân tài, vật lực của cả nước cho cuộc kháng chiến. Với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng”, mọi địa phương đều thi đua chi viện cho mặt trận. Đồng bào các dân tộc Tây Bắc, dù nhiều nơi mới được giải phóng, còn rất nhiều thiếu thốn, nhưng đã tích cực đóng góp cho chiến dịch đến 1.200 tấn gạo, 300 tấn thịt và gần 100 tấn rau. Liên khu Việt Bắc đóng góp 7.311 tấn lương thực, riêng tại Lai Châu (nay là tỉnh Điện Biên và tỉnh Lai Châu) là 2.266 tấn. Ở Liên khu III (do đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng chỉ đạo), tuy còn nhiều vùng địch chiếm đóng nhưng cũng huy động được 1.183 tấn gạo, 57 tấn muối. Ở Liên khu IV, chủ yếu là tỉnh Thanh Hóa, mặc dù đồng bào còn rất khó khăn, nhưng vì tiền tuyến, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Chí Thanh, nhân dân đã sẵn sàng và huy động hơn 8.000 tấn thức ăn khô. Đặc biệt, dù là nơi đang trực tiếp chiến đấu với địch, nhân dân huyện Điện Biên cũng đóng góp được 555 tấn lương thực (vượt mức trên giao 64 tấn), 226 tấn thịt (vượt 43 tấn).

Cùng với những đóng góp tích cực của nhân dân cả nước về lương thực, thực phẩm cho tiền tuyến, lực lượng dân công của các địa phương cũng được huy động đủ đáp ứng yêu cầu cho chiến dịch. Liên khu III tổ chức mỗi đoàn từ 300 đến 500 người. Tỉnh Hòa Bình huy động 5.000 dân công làm đường. Huyện Mỹ Đức (Hà Đông) mới giải phóng đã có 800 người tình nguyện đi dân công phục vụ chiến dịch, huyện Gia Viễn (tỉnh Ninh Bình) huy động đội xe thồ 150 chiếc làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực. “Ngay tại hỏa tuyến, đồng bào Điện Biên cũng đưa 3.000 người đi dân công với 64.670 ngày công phục vụ. Hậu phương tại chỗ, khu Tây Bắc huy động 31.818 dân công. Việt Bắc, căn cứ địa kháng chiến chung của cả nước cũng cung cấp cho mặt trận 36.518 dân công. Trong vùng địch hậu tỉnh Kiến An đã đóng góp 230.294 ngày công. Trong vùng tạm chiếm của các tỉnh Bắc Bộ, đồng bào đã chuyển ra vùng tự do hơn 20 vạn tấn thóc và 7,5 triệu ngày công đi dân công”.

Tính chung trong chiến dịch, ngoài 16 đại đội ô tô vận tải của quân đội, các phương tiện thô sơ của các địa phương là lực lượng hết sức quan trọng và vận chuyển hiệu quả hàng hóa, điển hình có tới hơn hai vạn xe đạp thồ được huy động. Ngoài việc tham gia vận tải gạo, đạn cho chiến trường, lực lượng dân công còn tích cực tham gia vận chuyển thương binh ra hậu cứ để cứu chữa, trực tiếp vào tận chiến hào để phục vụ chiến đấu. Đồng bào nhiều địa phương cùng sát cánh bên nhau xẻ núi, san đồi, làm đường, phá thác để mở lối cho quân đi, cho thuyền chở hàng qua lại. Nhờ những nỗ lực đó mà điều lo lắng và khó khăn nhất tưởng chừng như không thể vượt qua là vấn đề hậu cần chiến dịch đã được giải quyết thành công. Sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã góp phần tạo nên thành công vượt bậc đó.

Tổng kết toàn chiến dịch, nhân dân cả nước huy động được 23.126 tấn gạo, 266 tấn muối, 992 tấn thịt, 800 tấn rau, 917 tấn thực phẩm khác... Huy động 216.451 lượt dân công bằng 12 triệu ngày công, 20.991 xe đạp thồ, 736 xe súc vật kéo, 11.400 thuyền bè mảng. Ghi nhận kết quả này, tại Hội nghị tổng kết chiến dịch, thay mặt cho toàn quân, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Trên mặt trận Điện Biên Phủ, vấn đề cung cấp đạn dược là nhân tố vô cùng quan trọng, quan trọng không kém các vấn đề chiến thuật; khó khăn về cung cấp lương thực không kém khó khăn về tác chiến. Tình hình cung cấp khẩn trương từng ngày từng giờ, không kém tình hình chiến đấu… quân địch không bao giờ tưởng tượng được rằng, chúng ta có thể khắc phục khó khăn này. Bọn đế quốc, phản động không bao giờ đánh giá được sức mạnh của nhân dân. Sức mạnh đó có thể khắc phục tất cả mọi khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù”. Đánh giá kỳ tích này, tướng Pháp Y. Gra nhận xét rất đúng rằng: “Cả dân tộc đã tìm ra giải pháp cho vấn đề hậu cần và giải pháp này đã làm thất bại mọi toan tính cũng như dự kiến của Bộ Tham mưu Pháp”.

Sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc còn được huy động ở mức cao nhất trong phối hợp tiến công trên các hướng chiến lược để căng kéo quân địch, buộc chúng phải phân tán ra các chiến trường theo ý định của ta. Quân và dân ta ở khắp các địa phương trong cả nước, từ Tây Bắc, Liên khu III, Tả ngạn, đến Bình - Trị - Thiên, Liên khu V, Bắc Tây Nguyên, Sài Gòn - Gia Định, Nam Bộ… đều đẩy mạnh các hoạt động phối hợp, liên tiếp tiến công tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng đất đai và nhân dân, buộc thực dân Pháp phải phân tán lực lượng khắp nơi để đối phó. Tại Liên khu III, ta tăng cường tiến công tập kích Đường 5 - tuyến đường vận tải chiến lược của địch từ Hải Phòng về Hà Nội; đồng thời, liên tiếp tập kích các sân bay Gia Lâm và Cát Bi để phá tuyến vận tải đường không của địch chi viện cho Điện Biên Phủ… Ở chiến trường Nam Bộ, theo chủ trương của Bộ Chính trị, Trung ương Cục miền Nam đã chỉ đạo dốc toàn lực đẩy nhanh nhịp độ tiến công để phối hợp với Chiến dịch Điện Biên Phủ. Các đơn vị chủ lực của các khu và các tỉnh đã kết hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiến công vào vùng địch hậu các tỉnh: Thủ Biên, Long Châu Sa, Mỹ Tho, Cần Thơ, Sóc Trăng, Rạch Giá, Bạc Liêu… Bằng nhiều hình thức, như phục kích, tập kích, công đồn, các lực lượng vũ trang Nam Bộ đã diệt nhiều sinh lực địch, phá nhiều đồn bốt. Trong cả nước, nhân dân từ Nam chí Bắc, từ thành thị đến nông thôn liên tiếp mở nhiều cuộc đấu tranh, vùng lên diệt ác, phá tề, giành quyền làm chủ. Các lực lượng thanh niên, phụ nữ từ thành thị đến nông thôn, từ vùng núi đến đồng bằng tích cực tham gia đấu tranh chính trị, phá tề trừ gian. Qua đó, ta đã phân tán một bộ phận quan trọng lực lượng địch, buộc chúng phải căng sức đối phó, bị giam chân ở nhiều chiến trường. Đây là những hoạt động phối hợp kịp thời của cả nước có tác động tích cực tới chiến trường Điện Biên Phủ.

Để huy động sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, vấn đề quan trọng là phải giải quyết hợp lý quyền lợi giữa các tầng lớp nhân dân ở vùng hậu phương. Nhiệm vụ tối cao lúc này là kháng chiến đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại độc lập dân tộc; song, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chú trọng giải quyết thỏa đáng những quyền lợi giữa các tầng lớp nhân dân, không làm ảnh hưởng đến quyền lợi tối cao dân tộc và không làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nổi bật trong thời gian này ở hậu phương (vùng mới giải phóng), Đảng đã có chủ trương và chính sách nhằm đem lại mục tiêu, quyền lợi dân chủ, nhất là cho nông dân - lực lượng đông đảo nhất trong xã hội. Theo đó, năm 1953, Đảng phát động quần chúng triệt để giảm tô, tiến hành cải cách ruộng đất, thực hiện “Người cày có ruộng”. Tháng 12-1953, Luật Cải cách ruộng đất được ban hành. Trên thực tế, từ tháng 4-1953 đến tháng 7-1954, Đảng đã lãnh đạo tiến hành 5 đợt giảm tô và 1 đợt cải cách ruộng đất ở vùng tự do. Điều đó đã động viên được các tầng lớp nhân dân ở vùng tự do và sau lưng địch, làm cho cán bộ, chiến sĩ ở tiền tuyến càng tin tưởng sâu sắc vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tạo thành khối đại đoàn kết, dồn sức người, sức của cho chiến dịch. Bên cạnh đó, trong suốt cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp cũng như trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, ta đã có thành công lớn trong vận động nhiều địa chủ, tư sản dân tộc cùng con em, gia đình họ tham gia kháng chiến.

Lực lượng công an đã góp phần tích cực trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, tích cực phối hợp hoạt động, thành lập “Ban Công an tiền phương” làm nhiệm vụ bảo vệ các lực lượng tham gia chiến dịch, bảo vệ dân công, bảo vệ giao thông vận chuyển, kho tàng, các cuộc hành quân, trú quân của bộ đội chủ lực. Từng đơn vị tổ chức ra các ban bảo vệ dân công và phát động phong trào “phòng gian bảo mật”; giữ bí mật, phổ biến cách thức phòng, chống do thám, điều tra của địch; quy định việc đi lại, tiếp xúc giao dịch… Tính từ tháng 1 đến tháng 5-1954, Công an Liên khu II, IV, khu Tây Bắc, Việt Bắc đã bắt hàng trăm tên tình báo gián điệp chuyên theo dõi thu thập tin tức về các cuộc hành quân, đóng quân của bộ đội ta từ các hướng lên Điện Biên Phủ. Phong trào “phòng gian bảo mật” được phát động rộng khắp trên toàn mặt trận, công tác chống gián điệp, bảo vệ nội bộ được triển khai một cách chủ động, vững chắc và đạt hiệu quả cao; vì vậy, địch hoàn toàn bất ngờ và bị động trước sự tiến công của ta. Đồng thời, lực lượng công an đã làm tốt công tác bảo vệ lãnh tụ, bảo vệ các cơ quan đầu não chỉ đạo kháng chiến, bảo đảm tuyệt đối an toàn trong mọi tình huống…

Sức mạnh đoàn kết, sự đồng tâm hiệp lực của cả dân tộc Việt Nam đã quyết định thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá: “Nhờ sự đoàn kết chặt chẽ và anh dũng hy sinh của toàn quân và toàn dân ta, chúng ta đã đại thắng ở Điện Biên Phủ”. Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy cao độ và làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ bắt nguồn từ đường lối chiến lược đúng đắn của Đảng; sự chỉ đạo kiên quyết và tham gia tích cực của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương bằng những hình thức, biện pháp hết sức linh hoạt, sáng tạo và đặc biệt là sự tham gia đông đảo của mọi giai cấp, tầng lớp nhân dân để “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng”. Chính sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc ấy được phát huy cao độ trong Chiến dịch Điện Biên Phủ mà tướng H. Navare - Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp tại Đông Dương - đã phải thừa nhận: “Quân viễn chinh Pháp không những phải chống chọi với một đội quân chính quy mà còn phải đương đầu với cả một dân tộc”.

Cán bộ, chiến sĩ và học sinh tham quan Triển lãm "Sức mạnh Hậu cần trong chiến thắng Điện Biên Phủ"_Ảnh: TTXVN

Tiếp tục phát huy tinh thần, ý nghĩa lịch sử của chiến thắng Điện Biên Phủ trong giai đoạn hiện nay

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ dù đã lùi vào lịch sử 70 năm, nhưng bài học kinh nghiệm quý báu về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để giành thắng lợi đến hôm nay vẫn nguyên giá trị lịch sử. Vận dụng bài học về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 nhằm phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay là rất cần thiết, bởi vì, “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Theo đó, cần tiếp tục quán triệt, thực hiện quan điểm của Đảng: “Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung... để tập hợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội”; hướng vào thực hiện mục tiêu: “Tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường đồng thuận xã hội, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, niềm tin, khát vọng cống hiến và xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc; góp phần thực hiện thành công mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Theo phương hướng đó, cần tập trung thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu: Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, hệ thống chính trị và nhân dân về vị trí, tầm quan trọng của việc phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; hoàn thiện chủ trương, chính sách về đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy ý chí, khát vọng phát triển đất nước; xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh; tăng cường đoàn kết trong Đảng, giữ vững vai trò hạt nhân lãnh đạo của Đảng cũng như nâng cao vai trò, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước trong phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tiềm năng và sức sáng tạo của nhân dân; đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; đẩy mạnh công tác vận động quần chúng, huy động mọi nguồn lực cho phát triển đất nước; tổ chức các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước thiết thực, hiệu quả.

Theo đó, tiếp tục thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, mở rộng đối ngoại; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Cần tiếp tục coi trọng quyền làm chủ của nhân dân và thực hành dân chủ ngày càng đi vào thực chất, nhất là dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở, tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình. Tiếp tục phát huy vai trò của nhân dân trong tham gia, quyết định chính sách liên quan đến cuộc sống, những vấn đề lớn và hệ trọng của đất nước, đề cao quyền con người, quyền công dân. Người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền phải quan tâm tiếp xúc, sẵn sàng đối thoại, lắng nghe, giải quyết kiến nghị, bức xúc của nhân dân. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tăng cường tuyên truyền, vận động, tập hợp, tạo sự đồng thuận, khơi dậy tinh thần yêu nước; phát huy tích cực vai trò đại diện quyền lợi và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân; tăng cường giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; làm tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trong tình hình mới hiện nay, chúng ta tin tưởng rằng, một dân tộc đã đoàn kết một lòng, đứng lên đem hết “tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải” để giữ vững nền độc lập và “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng” để làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ năm xưa - “một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử” trong thế kỷ XX, sẽ tiếp tục phát huy cao độ tinh thần Điện Biên Phủ, “nêu cao lòng yêu nước, tinh thần độc lập tự chủ, tự tôn dân tộc, tự lực tự cường, không cam chịu nghèo nàn và lạc hậu, quyết tâm vượt qua thách thức, phát huy trí thông minh sáng tạo, dám nghĩ dám làm, làm nên một “Điện Biên Phủ” mới trong sự nghiệp đổi mới”, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện thắng lợi mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, đưa đất nước vững bước trên con đường xã hội chủ nghĩa./.

ST.

Hoàn thiện lý luận về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam qua tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

Lý luận về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam hiện nay là thành quả của tiến trình đổi mới, đồng thời phản ánh quỹ đạo “tiến hóa tất yếu” của mô hình kinh tế thị trường đương đại. Thông qua tác phẩm của mình, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có những luận giải, bổ sung nhiều quan điểm mới, góp phần hoàn thiện mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thăm mô hình du lịch văn hoá cộng đồng tại xã Vân Hồ, huyện Vân Hồ, tỉnh Lai Châu_Nguồn: vietnamplus.vn

Quá trình hình thành lý luận về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Năm 1986, trước bối cảnh nền kinh tế nước ta lâm vào khủng hoảng, trì trệ trầm trọng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành đổi mới toàn diện đất nước. Công cuộc đổi mới không đơn thuần là tìm ra giải pháp trước mắt cho nền kinh tế, mà thực chất là tìm ra mô hình phát triển mới và con đường phù hợp để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trước đó, Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (tháng 9-1979) được xem là dấu mốc khởi đầu quá trình đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội đất nước với những chủ trương mới là “phát súng hiệu” về phát triển kinh tế hàng hóa, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần…, thể hiện qua những việc “bỏ ngăn sông, cấm chợ”, cho “sản xuất bung ra”, thừa nhận sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế.  

Đại hội VI của Đảng (năm 1986) chủ trương đoạn tuyệt với cơ chế tập trung, bao cấp, tạo lập cơ chế thị trường, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Trong cơ cấu nền kinh tế, ngoài thành phần kinh tế XHCN, với khu vực quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, Đảng thừa nhận và tôn trọng sự tồn tại khách quan của các thành phần kinh tế khác, gồm: tiểu sản xuất hàng hóa, tư bản tư nhân, tư bản nhà nước và kinh tế tự nhiên, tự túc, tự cấp.

Trên cơ sở những thành công bước đầu trong phát triển nền kinh tế đa thành phần, Đại hội VII của Đảng (năm 1991) tiếp tục lộ trình xây dựng nền kinh tế hàng hoá trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với cơ cấu gồm năm thành phần kinh tế (quốc doanh, tập thể, cá thể tiểu chủ, tư bản tư nhân và tư bản nhà nước). Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) bắt đầu định hình các thành tố cơ bản về định hướng XHCN trong phát triển nền kinh tế thị trường: “Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Bảo đảm nền kinh tế tăng trưởng gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái".

Mặc dù từ Đại hội VI của Đảng đến Đại hội VIII của Đảng, Đảng đã có những bước phát triển nhất định về lý luận kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, tuy nhiên, thị trường chỉ được coi là một cơ chế để điều tiết nền kinh tế, chưa xác lập là một chỉnh thể, bao gồm cả cấu trúc nội tại lẫn thiết chế vận hành. Về thực chất, chưa coi kinh tế thị trường là cơ sở kinh tế của xã hội để xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Đại hội IX của Đảng (năm 2001) chuyển từ nhận thức thị trường như một công cụ, cơ chế quản lý kinh tế sang nhận thức thị trường là một chỉnh thể, cơ sở kinh tế của xã hội trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội: “Thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội".

Về cơ bản, đến Đại hội IX của Đảng, mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta đã được định hình. Theo đó, mô hình này vừa phản ánh tính phổ quát của nền kinh tế thị trường hỗn hợp (thị trường và nhà nước), vừa mang tính “định hướng XHCN”, với những đặc trưng là: nền kinh tế nhiều thành phần, dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, có sự quản lý của nhà nước XHCN, thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu phát triển bền vững trên cơ sở: “Từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường”.

Đại hội X của Đảng (năm 2006) nhấn mạnh việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và trước hết cần nắm vững định hướng XHCN. Trong đó, tính định hướng XHCN được thể hiện là nền kinh tế được xây dựng ở một chế độ xã hội do nhân dân làm chủ, Nhà nước pháp quyền XHCN quản lý, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”. Đại hội XI của Đảng (năm 2011) tiếp tục bổ sung và luận giải rõ hơn về nội hàm của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đây là mô hình kinh tế thị trường vừa tuân theo những quy luật của thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt chi phối bởi nguyên tắc và bản chất chủ nghĩa xã hội”.

Đại hội XII của Đảng (năm 2016) tiếp tục hoàn thiện về nội hàm trên cơ sở gắn kết từng cấu phần “bên trong” với mục tiêu và phương thức vận hành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là: “Nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đến Đại hội XIII (năm 2021) của Đảng tiếp tục khẳng định “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”.

Những thành tựu đáng tự hào

Việt Nam đang chứng kiến bức tranh kinh tế đầy khởi sắc, giai đoạn 1986 - 2020, mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm, quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2023 đạt khoảng 430 tỷ USD, trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 trong ASEAN và thứ 35 trong 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Năm 2023, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 4.300 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008 và sẽ trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 (thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 7.500 USD). Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu tăng mạnh, năm 2023 đạt gần 700 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 355 tỷ USD, xuất siêu đạt mức kỷ lục 28 tỷ USD; Việt Nam đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ 22 toàn cầu. Đầu tư nước ngoài liên tục phát triển, vốn đăng ký tăng 32%, vốn thực hiện tăng 3%, đạt 23 tỷ USD trong năm 2023, cao nhất từ trước đến nay; và Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia hàng đầu ASEAN về thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) của Việt Nam năm 2023 được các tổ chức quốc tế đánh giá đứng 46/132 nước được xếp hạng.

Không những tăng tốc về lượng, trên cơ sở ứng dụng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, chiều sâu nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn này cũng được cải thiện ấn tượng. Xét trên bình diện tổng thể theo cấu trúc ba yếu tố đầu vào nền kinh tế: vốn, lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp - TFP cho thấy, đóng góp của TFP trong tăng trưởng kinh tế ngày một lớn. Cụ thể: Tính chung cả giai đoạn 2016 - 2020, đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế đạt 45,57%, cao hơn mức 32,88% của giai đoạn 2011 - 2015. Năm 2021, đóng góp của TFP vào tăng trưởng tiếp tục được duy trì và đạt 37,13%.

Thành tích ấn tượng nhất trong tiến trình đổi mới của Việt Nam được ghi nhận là công cuộc xóa đói giảm nghèo. Năm 2023, tỷ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% theo chuẩn cũ năm 1993 của Chính phủ xuống còn 2,93% theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước); có 78% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, hầu hết các xã nông thôn mới đều có đường ô-tô đến trung tâm, có điện lưới quốc gia, trường tiểu học và trung học cơ sở, trạm y tế và mạng điện thoại. Quá trình đô thị hóa được đẩy mạnh gắn với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tỷ lệ đô thị hóa đã đạt khoảng 43%; hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở cả nông thôn và đô thị, nhất là hạ tầng y tế, giáo dục - đào tạo, giao thông, bưu chính viễn thông đều có bước phát triển mạnh mẽ; đã đưa vào sử dụng nhiều sân bay, bến cảng hiện đại, hơn 1.900km đường cao tốc và phủ sóng rộng rãi mạng 4G, 5G.

Việt Nam đã hoàn thành xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2014; số sinh viên đại học, cao đẳng tăng 20 lần trong gần 40 năm qua. Hiện nay, Việt Nam có gần 99% số người lớn biết đọc, biết viết. Bên cạnh đó, Việt Nam đã mở rộng diện bảo hiểm y tế cho toàn dân, đạt mức 93,35%, trong đó, người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi được cấp bảo hiệm y tế miễn phí; đồng thời, tập trung vào việc tăng cường y tế phòng ngừa, phòng, chống dịch bệnh, hỗ trợ các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn... Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Năm 2022, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,737, thuộc nhóm các nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có trình độ phát triển cao hơn. Chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2023 được các tổ chức xếp thứ 65/137 quốc gia được xếp hạng. 

Công nhân lắp ráp các linh kiện điện tử phục vụ cho ngành công nghiệp điện tử tại Công ty TNHH Khvatec Thái Nguyên (vốn đầu tư của Hàn Quốc) tại Khu công nghiệp Yên Bình, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên_Ảnh: TTXVN

Tiếp tục hoàn thiện lý luận về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quan điểm của Tổng Bí thư

Trong tác phẩm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”. Để đạt được mục tiêu đó, cần phải phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN - “một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới”. Trong đó, Tổng Bí thư tập trung luận giải, nhấn mạnh một số vấn đề cơ bản sau:

Về quan hệ sở hữu. Tương ứng với quá trình vận động, phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất nước ta từng bước được xây dựng phù hợp, tiến bộ, với nhiều hình thức sở hữu, đa thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật và đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố và phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

Về tổ chức, quản lý. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất để định hướng, điều tiết, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Về quan hệ phân phối. Bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh, phúc lợi xã hội.

Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng XHCN trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Nói cách khác, kinh tế thị trường và tính định hướng XHCN có mối quan hệ chặt chẽ, không mâu thuẫn với nhau. Phát triển kinh tế thị trường để thực hiện mục tiêu XHCN và định hướng XHCN có vai trò định hướng cho nền kinh tế thị trường. Đây là điểm đặc sắc trong mô hình kinh tế thị trường ở Việt Nam, Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xoá đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn”; đây là “yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”; Đồng thời, mô hình kinh tế này cũng hướng đến giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa nhà nước - thị trường - xã hội, cụ thể:

Một là, Nhà nước đóng vai trò bảo đảm thị trường và xã hội thực hiện đúng chức năng của nó. Nhà nước không “làm thay” mà sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của mình để định hướng và điều tiết nền kinh tế không làm méo mó thị trường, thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh và bảo vệ môi trường.

Hai là, thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất. Kinh tế thị trường không phải vốn dĩ là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản, mà là kết quả của tiến trình phát triển văn minh nhân loại. Alvin Toffler - nhà tương lai học người Mỹ - khẳng định: Thị trường là một mạng lưới trao đổi được ví như một tổng đài, mà ở đó, hàng hóa, dịch vụ (cũng như tin tức) sẽ tìm tới nơi có nhu cầu. Do đó, nó không chỉ thuộc về tư bản, mà thiết yếu cho cả xã hội công nghiệp xã hội chủ nghĩa, cũng như bất kỳ đâu có hệ thống công nghiệp quy mô lớn gắn với động cơ lợi nhuận.

Ba là, xã hội là điểm nổi bật trong mục tiêu phát triển của Việt Nam, do đó Đảng Cộng sản chủ trương kết hợp chặt chẽ các mục tiêu, chính sách kinh tế với các mục tiêu, chính sách xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững. Các vấn đề xã hội không phải đi sau kinh tế, mà giải quyết tốt các vấn đề xã hội cũng chính là tạo điều kiện, động lực cho tăng trưởng.

Bên cạnh đó, trong cuốn sách, Tổng Bí thư còn có những bài viết quan trọng về phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, như: xây dựng giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp thanh niên, lực lượng công an, quân đội lớn mạnh…, đồng thời nhấn mạnh cần phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam; trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam”; khơi dậy khát vọng hùng cường, thịnh vượng Việt Nam… để có thể xây dựng, phát triển thành công mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam./.

ST.

Không thể xuyên tạc vai trò của Quân đội tham gia bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội

Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, có nhiệm vụ chính trị là sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu chống xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc; đồng thời, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc, phủ nhận. Đây là vấn đề không mới nhưng rất nguy hiểm, cần vạch trần, lên án và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ.

Trên một số diễn đàn, trang mạng, phương tiện truyền thông, như: BBC, RFA, VOA, “Viettan”, “Dân làm báo”, “Báo tiếng dân”,… các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thi nhau lu loa rằng: Quân đội tham gia phối hợp với Công an trong bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội là không đúng chức năng, nhiệm vụ. Họ bịa đặt, xuyên tạc rằng: Quân đội “lấn sân”, “đàn áp nhân dân”, “quân sự hóa hoạt động dân sự”,... trắng trợn hơn, chúng còn kích động người dân ngăn cản các đơn vị Quân đội tham gia thực thi nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự an toàn xã hội. Bên cạnh đó, chúng triệt để lợi dụng sự hiểu biết chưa đầy đủ của một số cán bộ, chiến sĩ và nhân dân về mối quan hệ giữa quốc phòng và an ninh, cái chung và cái riêng của mỗi lĩnh vực, từ đó khoét sâu vào những thiếu sót, bất cập ở một số địa phương khi giải quyết những vấn đề an ninh để thổi phồng, kích động, làm cho tình hình thêm phức tạp. Mục đích của chúng là nhằm chia rẽ mối quan hệ, sự đoàn kết, thống nhất giữa hai lực lượng Quân đội và Công an trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Chiêu thức này vô cùng nguy hiểm vì nó làm cho không ít người dân, kể cả một số cán bộ, đảng viên nảy sinh tư tưởng giao động, mơ hồ, hoài nghi, hiềm khích mối quan hệ giữa Quân đội và Công an.

Cần khẳng định rõ: các luận điệu xuyên tạc trên là hoàn toàn sai trái, không thể chấp nhận và phải bị vạch trần, lên án, đấu tranh bác bỏ. Bởi, nhiệm vụ tham gia bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội của Quân đội ta được khẳng định cả phương diện về lý luận và thực tiễn.

Thứ nhất, Quân đội tham gia bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội là xuất phát từ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: quốc phòng có mối quan hệ biện chứng với các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, đối ngoại. Và “bạo lực là bà đỡ cho mọi xã hội cũ đang thai nghén một xã hội mới trong lòng”, do đó tất yếu phải sử dụng bạo lực cách mạng với nhiều hình thức khác nhau kể cả hình thức vũ trang nhằm cải tạo xã hội, bảo vệ thành quả cách mạng, khắc phục sự chống đối của lực lượng phản động. Việc quân đội cách mạng tham gia thực hiện nhiệm vụ an ninh quốc gia khác về bản chất so với quân đội tư sản. Theo đó, Quân đội tham gia bảo vệ an ninh là tạo tiền đề cho nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, bởi sự ổn định rất cần thiết cho phát triển. Trong khi đó, khái niệm an ninh ngày càng được mở rộng. Trong an ninh hàm chứa cả yếu tố kinh tế, trạng thái bình yên của xã hội, của nhà nước, ổn định của chế độ chính trị, phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng văn hóa và đối ngoại; yếu tố an ninh đã bao hàm trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, an ninh mạng, an ninh con người và cả yếu tố quốc phòng. Quân đội tham gia bảo vệ an ninh quốc gia đã trở thành nhân tố quan trọng, không thể thiếu để đem lại thành công cho sự nghiệp cách mạng mà nhân dân tiến hành. Đây là cơ sở lý luận phản bác luận điểm của các thế lực thù địch đồng nhất bạo lực cách mạng với bạo lực phản cách mạng, đồng nhất sự tham gia trấn áp các thế lực phản động, giữ vững an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội của quân đội cách mạng với hành động đàn áp phong trào cách mạng do quân đội tư sản tiến hành.

Hơn thế nữa, theo V.I.Lênin “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự bảo vệ”; đồng thời, chỉ ra trách nhiệm của toàn dân, toàn quân đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, trong đó có nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội với nguyên tắc cơ bản nhất là Đảng Cộng sản phải lãnh đạo Quân đội, Công an trong mọi tình huống: “Muốn bảo vệ chính quyền của công nông... chúng ta phải có Hồng quân mạnh mẽ... Có Hồng quân mạnh, chúng ta sẽ vô địch”. Như vậy, luận điệu cho rằng, Quân đội tham gia bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội là không đúng chức năng, nhiệm vụ đã hoàn toàn sai về phương diện lý luận.

Thứ hai, Quân đội tham gia bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội bắt nguồn từ tư tưởng Hồ Chí Minh và sự nhất quán trong đường lối lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước ta. Chúng ta biết, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mối liên hệ chặt chẽ giữa quốc phòng và an ninh, Quân đội với Công an đã được thể hiện rõ nét. Theo Người, quốc phòng không đơn thuần chỉ là để chống lại sự xâm lược của kẻ thù từ bên ngoài, an ninh không chỉ là giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội, chống các thế lực phản động bên trong, mà cả hai tuy có nhiệm vụ cụ thể riêng, phương thức bảo vệ riêng nhưng quan hệ mật thiết trong mục tiêu chung bảo vệ Tổ quốc; trong nhiệm vụ quốc phòng có cả an ninh, trong nhiệm vụ an ninh có cả quốc phòng. Người khẳng định: “Công an và Quân đội là hai cánh tay của Nhân dân, của Đảng, của Chính phủ, của vô sản chuyên chính. Vì vậy, càng phải đoàn kết chặt chẽ với nhau, giúp đỡ lẫn nhau, ra sức phát triển ưu điểm, khắc phục những tư tưởng không đúng”. Bác căn dặn: “Công an và bộ đội phải cảnh giác, phải biết trấn áp kẻ địch bên trong và kẻ địch bên ngoài. Kẻ địch bên trong là bọn phản động, bọn phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; kẻ địch bên ngoài là bọn đế quốc, bọn xâm lược. Chống bọn xâm lược và bọn phá hoại là nhiệm vụ của quân đội, của công an nói riêng và toàn dân nói chung”Người phê bình những quan điểm sai trái: “Cũng có người có ý nghĩ quân đội hơn công an, hoặc công an hơn quân đội. Nghĩ như thế càng không đúng, bởi vì mỗi ngành có nghiệp vụ chuyên môn của nó. Nhưng cả hai đều phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng cả. Vì vậy, không nên coi mình là giỏi mà phải luôn luôn học hỏi lẫn nhau, giúp đỡ nhau để càng ngày càng tiến bộ”.



Thượng tướng  Nguyễn Tân Cương phát biểu tại Hội nghị giao ban giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện Nghị định 03/2019/NĐ-CP. Ảnh: cand.com.vn

Đảng ta luôn coi trọng nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nói chung và nhiệm vụ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội nói riêng. Điều đó được thể hiện trong kế thừa, vận dụng, phát triển các quan điểm, chủ trương đã có từ trước về Quân đội tham gia bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội để hoạch định các chủ trương, chính sách phù hợp với yêu cầu thực tiễn trong từng giai đoạn; được triển khai thực hiện đồng bộ trong Chiến lược bảo vệ Tổ Quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, v.v. Nghị quyết Đại hội XIII khẳng định: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch”.

Cùng với đó, trong công tác quản lý nhà nước, Luật Quốc phòng năm 2018 quy định: Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội,... có trách nhiệm phối hợp với Quân đội nhân dân, dân quân tự vệ trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng; Luật Công an nhân dân năm 2018 chỉ rõ: Quân đội nhân dân, dân quân tự vệ có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Công an nhân dân để bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và xây dựng Công an nhân dân. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 107/2003/QĐ-TTg, ngày 02/6/2003 về Quy chế phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong tình hình mới; Nghị định số 77/2010/NĐ-CP, ngày 12/7/2010 về phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và nhiệm vụ quốc phòng (nay là Nghị định số 03/2019/NĐ-CP, ngày 05/9/2019 về phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và nhiệm vụ quốc phòng) tạo cơ sở pháp lý để Quân đội thực hiện nhiệm vụ. Như vậy, Quân đội tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội bắt nguồn từ tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước ta.

Thứ ba, Quân đội tham gia bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội thể hiện truyền thống đoàn kết, gắn bó, hiệp đồng chiến đấu giữa Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Là “hai cánh tay của Đảng, Chính phủ, của Nhân dân và của chuyên chính vô sản”, “thanh bảo kiếm và lá chắn” bảo vệ hòa bình, chế độ xã hội chủ nghĩa, gần 80 năm qua, trong mọi hoàn cảnh, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân luôn kề vai, sát cánh, đoàn kết, hiệp đồng chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và đã trở thành truyền thống vẻ vang, kinh nghiệm quý của hai lực lượng. Nước nhà độc lập, trong hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”, lực lượng Quân đội, Công an, dân quân tự vệ đã phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ đập tan mọi âm mưu chống phá cách mạng của các tổ chức phản động ngay trong trứng nước; cùng với nhân dân chiến đấu anh dũng “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” bảo vệ Thủ đô; đồng cam, cộng khổ, hy sinh, phối hợp, hiệp đồng chiến đấu chống hoạt động do thám, gián điệp, phản động tay sai, càn quét của địch, bảo vệ vững chắc hậu phương và khu căn cứ kháng chiến, góp phần làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Mối quan hệ tốt đẹp đó còn được thể hiện ở sự phối hợp, hiệp đồng đấu tranh chống gián điệp, biệt kích của Mỹ - ngụy phá hoại miền Bắc cũng như bảo vệ các cơ sở, căn cứ cách mạng miền Nam trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, v.v. Đó là biểu tượng cao đẹp, tô thắm truyền thống đoàn kết, gắn bó, hiệp đồng chiến đấu giữa Quân đội nhân dân và Công an nhân dân.

Cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội, hai lực lượng tiếp tục đoàn kết, thường xuyên trao đổi, nắm chắc tình hình, chủ động tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước các chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; trực tiếp triệt phá các tổ chức Fulro, các băng nhóm tội phạm, các nhen nhóm phản động, bảo đảm an ninh, trật tự khu vực biên giới, biển, đảo và nội địa, nhất là địa bàn chiến lược Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ. Tích cực cùng nhân dân phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, đặc biệt là trong đại dịch Covid-19, cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã phát huy văn hóa, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, cống hiến, hy sinh, khắc phục mọi khó khăn gian khổ để đem lại cuộc sống bình yên cho nhân dân. Cùng với đó, Quân đội còn tích cực tham gia có hiệu quả xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh với các mô hình: “Liên kết xây dựng vùng giáp ranh an toàn về an ninh, trật tự”, “Tiếng kẻng vùng biên”, “Xóm chài bình yên”, “Cụm tàu thuyền an toàn”,... tạo sức mạnh tổng hợp xây dựng thế trận quốc phòng và an ninh vững chắc. Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng khẳng định: “Thời gian qua, những vấn đề phức tạp về quốc phòng, an ninh được hai lực lượng phối hợp tham mưu với Đảng, Nhà nước, triển khai xử lý kịp thời, hiệu quả, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Sự đoàn kết, phối hợp giữa hai lực lượng đã trở thành truyền thống, là nhân tố không thể thiếu, góp phần làm nên sức mạnh của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân”.

Thực tiễn lịch sử đã minh chứng, Quân đội tham gia và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội đã góp phần tạo thế chủ động bảo vệ vững chắc Tổ quốc, cùng với toàn Đảng, toàn dân phấn đấu vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Sự thật này không ai có thể chối cãi được! Vì thế, những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận nhằm hạ thấp vai trò của Quân đội, chia rẽ sự đoàn kết, thống nhất giữa Quân đội và Công an trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa phải bị vạch trần, lên án, đấu tranh bác bỏ./.

ST.

Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện “phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng”

Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, đã chỉ ra 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân; trong đó, “phai nhạt, phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng” là một biểu hiện ở cấp độ cao nhất. Đấu tranh với biểu hiện này có ý nghĩa quan trọng trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, ngăn chặn, triệt tiêu sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm sáng mãi phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

Nhận diện những biểu hiện phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng

Chúng ta biết, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng cách mạng xuyên suốt của Đảng và dân tộc Việt Nam; là con đường đúng đắn, phù hợp với xu thế thời đại để đưa đất nước ta ngày càng phát triển, trường tồn, nhân dân ta ấm no, hạnh phúc. Đó cũng là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta. Trong suốt gần 80 năm qua, đội ngũ cán bộ, đảng viên, chiến sĩ trong Quân đội luôn thấm nhuần, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì mục tiêu cao cả đó. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan mà một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng; biểu hiện trên một số khía cạnh cơ bản sau:

Thứ nhất, mơ hồ, hoài nghi về lý tưởng xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa; dao động, thiếu lòng tin vào mục tiêu của cách mạng, nền tảng tư tưởng của Đảng; nhận thức không đúng, không đầy đủ về Cương lĩnh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái; mất phương hướng phấn đấu vươn lên.

Thứ hai, dao động về lập trường, ngộ nhận về quan điểm giai cấp, hùa theo quan điểm của các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị, cho rằng cần phải đa nguyên, đa đảng. Thực tiễn cho thấy, có những cán bộ, đảng viên từng vào sống ra chết trong trận mạc, gia đình có truyền thống cách mạng, nhưng sau này do không làm chủ được bản thân nên đã bị lôi kéo, kích động bởi các luận điệu tuyên truyền của các thế lực phản động, để rồi quay lại phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng; xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nói xấu Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Thứ ba, thờ ơ, bàng quan, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh; không còn hết lòng vì nước, vì dân, vì tập thể cơ quan, đơn vị, dẫn tới không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao.

Thứ tư, vướng vào “tư duy nhiệm kỳ”, “lợi ích nhóm”, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, chức trách, nhiệm vụ để tham ô, tham nhũng, tiêu cực làm thiệt hại tài sản của đất nước, vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật của Quân đội.

Đấu tranh với những biểu hiện “phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay

Những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng là rất nguy hiểm; làm xói mòn phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, gây ra những tổn hại cho sự nghiệp cách mạng, chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu và hoàn thành nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị và Quân đội. Do đó, kiên quyết đấu tranh, kịp thời ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện này là nhiệm vụ cấp bách, đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ các giải pháp.

Một là, cấp ủy, tổ chức đảng nêu cao tính chiến đấu trong tự phê bình và phê bình, nhận rõ, kiên quyết đấu tranh với biểu hiện “phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng”. Thực tiễn cho thấy, biểu hiện suy thoái ở một bộ phận cán bộ, đảng viên được thể hiện đa dạng, ở nhiều mức độ khác nhau, thậm chí được che giấu rất tinh vi. Vì vậy, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần nêu cao tính chiến đấu thường xuyên và liên tục thông qua tự phê bình, phê bình mới làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng nhận ra và kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện đó; giúp nhau sửa chữa, khắc phục. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất, là “thang thuốc hay nhất”, “hữu hiệu nhất” để sửa chữa chữa khuyết điểm. Để thực hiện tốt, các cấp ủy, tổ chức đảng phải duy trì thường xuyên, nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình; đồng thời, cấp ủy, tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải có “dũng khí”, dám nhìn thẳng vào khuyết điểm, “dám nói”, trên tinh thần vì sự tiến bộ của tổ chức, của đồng chí, đồng đội để đấu tranh với bản thân, với đồng chí, đồng đội, thậm chí là cấp trên về những biểu hiện phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Song, kiên quyết tránh động cơ cá nhân trong tự phê bình và phê bình làm ảnh hưởng đến uy tín, phẩm chất của tổ chức, cán bộ, đảng viên.

Hai là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Đây là giải pháp quan trọng để phát hiện, ngăn chặn từ sớm, từ xa những biểu hiện suy thoái của cán bộ, đảng viên, nhất là trong tình hình hiện nay. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng… chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên”. Vì vậy, để tạo sức mạnh trong đấu tranh, ngăn chặn biểu hiện phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, cấp ủy, tổ chức đảng, Ủy ban kiểm tra đảng các cơ quan, đơn vị cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát định kỳ, đột xuất để kịp thời cảnh báo, phòng ngừa và xử lý sai phạm. Nội dung kiểm tra, giám sát phải toàn diện, được tiến hành thường xuyên; chú trọng kiểm tra, giám sát về tư tưởng chính trị, thực hiện Cương lĩnh chính trị, các nghị quyết, nguyên tắc sinh hoạt của Đảng. Quá trình thực hiện cần phối hợp chặt chẽ với công tác bảo vệ chính trị nội bộ, các biện pháp hành chính, kiên quyết xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm theo tinh thần không có “vùng cấm”; đưa ra khỏi bộ máy cơ quan Đảng, Nhà nước những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất làm trong sạch nội bộ.

Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” với “chống”; tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên. Đây là giải pháp nền tảng, xuyên suốt góp phần làm cho mọi cán bộ, đảng viên luôn giác ngộ sâu sắc mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Theo đó, công tác giáo dục phải bao quát trên tất cả các nội dung, song cần tập trung vào những vấn đề cốt lõi là: chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; mục tiêu, lý tưởng cách mạng; các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Quân ủy Trung ương; đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần suốt đời phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân của người cán bộ, đảng viên. Trong quá trình giáo dục phải chỉ ra, kiên quyết đấu tranh với nhận thức sai trái, luận điệu xuyên tạc; những biểu hiện cụ thể của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong mỗi cán bộ, đảng viên. Qua đó, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, khơi dậy niềm vinh dự, tự hào, khát vọng cống hiến, khắc phục mọi khó khăn, thử thách, “vượt qua chính mình” trước những “cám dỗ” về vật chất, danh lợi, địa vị và sự lôi kéo, kích động của các thế lực thù địch, ra sức phấn đấu thực hiện mục tiêu, lý tưởng cách mạng, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Bốn là, xây dựng tổ chức cơ sở đảng các cấp trong sạch, vững mạnh, tạo môi trường tốt để rèn luyện, đấu tranh với những biểu hiện suy thoái của cán bộ, đảng viên. Tổ chức cơ sở đảng là nơi đảng viên sinh hoạt, công tác; nơi quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên. Vì vậy, để đấu tranh hiệu quả với những biểu hiện suy thoái của cán bộ, đảng viên, việc xây dựng các tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ là giải pháp cơ bản, cấp bách. Theo đó, các tổ chức cơ sở đảng tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, gắn với thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, Nghị quyết số 847 của Quân ủy Trung ương, v.v. Qua đó, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, nhất là khả năng đấu tranh trước những hiện tượng tiêu cực, biểu hiện suy thoái, chủ nghĩa cá nhân của cán bộ, đảng viên.

Năm là, nêu cao ý thức “tự soi, tự sửa” trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên. Phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng là một trong những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, nó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nếu lơ là, xem nhẹ, buông lỏng, thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống sẽ là mảnh đất màu mỡ dẫn tới tha hóa, biến chất, thậm chí phản bội Tổ quốc. Thực tế cho thấy, những cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật có nguyên nhân căn bản từ việc thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần “tự soi, tự sửa”, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, cả trong tư tưởng, suy nghĩ và hành động. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Theo đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao nhận thức về tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, đó không chỉ là yêu cầu của cấp ủy, tổ chức đảng, mà thực hiện tốt góp phần làm cho bản thân ngày càng hoàn thiện hơn. Muốn vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải có quyết tâm cao, kế hoạch tu dưỡng, rèn luyện; đăng ký với cấp ủy, tổ chức đảng để theo dõi, giám sát, đôn đốc, nhắc nhở; định kỳ kiểm điểm, đánh giá, kịp thời khắc phục những hạn chế, khuyết điểm.

Chủ nghĩa cá nhân, biểu hiện “phai nhạt, phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, tuy đã được ngăn chặn bước đầu, song vẫn diễn biến phức tạp, làm suy yếu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức mạnh, sự đoàn kết, thống nhất trong mỗi tổ chức đảng, phai nhạt phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, giảm sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta. Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên; đòi hỏi cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị cần nhận thức sâu sắc, quyết tâm chính trị cao, hành động quyết liệt, chủ động, sáng tạo, thực hiện đồng bộ các giải pháp. Qua đó, không chỉ tạo ra nguồn cán bộ, đảng viên “vừa hồng, vừa chuyên”, đẩy lùi biểu hiện phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, mà còn tô thắm và làm sáng mãi phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới./.

ST.

Phải chăng Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản “đã là quá khứ, không còn phù hợp với thời đại hiện nay”?

“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” là tác phẩm kinh điển chủ yếu của chủ nghĩa xã hội khoa học. Những nguyên lý mà C. Mác và Ph. Ăng-ghen trình bày trong tác phẩm đến nay vẫn còn nguyên giá trị; là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho toàn bộ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, không luận điệu nào có thể xuyên tạc, phủ nhận.

Cách đây 176 năm, tháng 02/1848, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã ra đời bằng sự công bố của C. Mác và Ph. Ăngghen do chính các ông soạn thảo bởi sự ủy nhiệm của Đồng minh những người cộng sản. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản công khai “trình bày trước toàn thế giới những quan điểm, ý đồ” của những người cộng sản; vạch ra những phạm trù, nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa cộng sản khoa học mang tính chất phổ biến toàn nhân loại cả về mặt lý luận và thực tiễn; đập lại “câu chuyện hoang đường” mà các thế lực chống đối rêu rao về một “bóng ma cộng sản” ở châu Âu. V.I. Lênin từng đánh giá: “Cuốn sách nhỏ ấy có giá trị bằng hàng nghìn bộ sách, tinh thần của nó đến bây giờ vẫn cổ vũ và thúc đẩy toàn thế giới giai cấp vô sản có tổ chức và đang chiến đấu của thế giới văn minh”. Giá trị lý luận - thực tiễn và tầm ảnh hưởng của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là vô cùng sâu sắc và to lớn, mang tầm thời đại, toàn nhân loại, có sức sống mãnh liệt “xuyên thế kỷ”, đã và đang vận động trong dòng chảy thời đại.

Thế nhưng, suốt 176 năm qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị dưới mọi màu sắc không ngừng điên cuồng chống phá, công kích, xuyên tạc, phủ nhận giá trị và những nguyên lý lý luận cơ bản trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Hiện nay, chúng có vẻ hữu ý “thừa nhận” những giá trị của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, nhưng lại cho rằng Tuyên ngôn chỉ có giá trị trong thời của C. Mác, cùng lắm là trong thế kỷ XX, không còn phù hợp với hiện tại của thế kỷ XXI, nó đã là “quá khứ”, bị “thời đại vượt qua”. Đây là sự xuyên tạc trắng trợn, rất thâm độc và tinh vi, xảo quyệt. Nó dễ làm cho chúng ta rơi vào ngộ nhận và “lầm tưởng” rằng đó là một kiểu bổ sung, phát triển sáng tạo những tư tưởng cơ bản trong Tuyên ngôn! Và vấn đề càng đặc biệt trở nên nguy hại khi chúng ta đang đẩy mạnh việc nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin.

Vậy, có đúng là Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã là “quá khứ”, bị “thời đại vượt qua” không? Với lập trường cách mạng và từ sự kiểm nghiệm những nguyên lý lý luận của Tuyên ngôn trong lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc và xã hội chủ nghĩa suốt tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người 176 năm qua, thì câu trả lời của chúng ta dứt khoát là không. Trái lại, chúng ta càng thấy rõ hơn những giá trị to lớn cả về phương diện lý luận và thực tiễn, cũng như sức sống bất diệt của nó đối với phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và nhân loại cần lao.

Thực tế chứng minh, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị càng điên cuồng chống phá, thì ý nghĩa và tầm ảnh hưởng của Tuyên ngôn càng trở nên sâu rộng và tỏa sáng không ngừng. Những kẻ tung ra luận điệu Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã là “quá khứ”, đã bị “thời đại vượt qua” cần nhớ lại và hiểu rõ thực tiễn rất sống động rằng, trong 176 năm qua, nhận thức của nhân loại và tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người có những phát triển lớn lao, biến đổi rất sâu sắc theo chiều hướng tiến bộ và văn minh. Đó là bởi sự tác động mạnh mẽ và ảnh hưởng sâu rộng của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, của chủ nghĩa Mác - Lênin. Sự lớn mạnh và phát triển, những thay đổi to lớn, cả những thăng trầm và biến cố lớn của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế suốt gần 200 năm qua đã đặt ra nhiều vấn đề rất mới mang tầm thời đại cả về lý‎ luận và thực tiễn, cần phải giải quyết. Song những nguyên lý cơ bản trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản vẫn còn nguyên giá trị, vẫn là phương pháp luận và lời giải cơ bản cho câu trả lời về các vấn đề mới đặt ra của thời đại.

Ví như, phát hiện và làm sáng tỏ về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân - phạm trù trung tâm của chủ nghĩa xã hội khoa học - cống hiến vĩ đại của C. Mác đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Trong tình hình hiện nay, giai cấp công nhân đang tiếp tục thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình với những nội dung, hình thức mới trong điều lịch sử mới trước sự phát triển mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Phạm trù trung tâm này được C. Mác và Ph. Ăng-ghen luận chứng, làm sáng tỏ và chỉ rõ trong Tuyên ngôn; đó là điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là do địa vị kinh tế - xã hội của chính nó, chứ không phải giai cấp này chỉ là giai cấp nghèo khổ; đồng thời khẳng định, chỉ có giai cấp công nhân là giai cấp thực sự cách mạng. “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và sự thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”. C. Mác và Ph. Ăng-ghen cũng vạch ra con đường, biện pháp và những điều kiện thiết yếu để giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình.

Thời đại ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của nó không những không bị mất đi, mà càng trở nên sống động và thực tế hơn. Cách mạng công nghiệp 4.0 dù có phát triển như thế nào chăng nữa cũng không thể làm thay đổi địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp công nhân. Trong điều kiện hiện nay, yếu tố vốn không còn quan trọng như trước nữa, mà tri thức, tài năng, chất xám và những ý tưởng liên quan đến công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành yếu tố chính yếu, chiếm ưu thế nổi trội của nền sản xuất hiện đại trong khi giai cấp công nhân có sự phát triển mới cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt là trình độ tri thức, công nghệ, kỹ năng lao động. Địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp công nhân không bị mất đi nên sứ mệnh lịch sử của giai cấp tiên tiến này cũng không thể mất đi. Giai cấp công nhân vẫn là lực lượng đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến - phương thức sản xuất với mức độ xã hội hóa, quốc tế hóa ngày càng cao, là lực lượng nắm giữ và vận dụng khoa học, công nghệ hiện đại; bản chất cách mạng, tính tiên tiến, triệt để cách mạng, tính kỷ luật của giai cấp công nhân vẫn không thay đổi, mà tiếp tục được củng cố, tăng cường và ngày càng thêm sâu sắc.

Luận điểm nổi tiếng trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: “Giai cấp tư­ sản không những đã rèn những vũ khí sẽ giết mình, mà nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy - những công nhân hiện đại, những ng­ười vô sản” đã cung cấp cho chúng ta phương pháp luận rất cơ bản trong việc xem xét vấn đề sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong điều kiện lịch sử mới. Cách mạng công nghiệp 4.0 trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả các công nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình, phương thức sản xuất,... làm biến đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống nhân loại. Thực chất, đó là sự phát triển của công nghiệp, của khoa học, công nghệ mang tính khách quan đã và đang tạo điều kiện cho chủ nghĩa tư­ bản làm “tốt hơn” việc rèn dũa “vũ khí sẽ giết mình” thêm sắc nhọn. Đồng thời, tạo ra và phát triển cả về số lượng và chất lượng đội ngũ “những ngư­ời sử dụng vũ khí ấy” - giai cấp công nhân nhận thức rõ hơn sứ mệnh lịch sử của mình là loại bỏ chủ nghĩa t­ư bản, xây dựng chủ nghĩa cộng sản văn minh, xác định rõ hơn con đ­ường, biện pháp thực hiện sứ mệnh lịch sử vĩ đại đó.

Ở các nước tư bản phát triển hiện nay, công nhân không còn bị bóc lột như trước nữa, đã và đang trở nên “trung lưu hóa”, thậm chí một bộ phận trở nên khá giả khi đã có cổ phiếu trong các nhà máy, xí nghiệp, công ty. Nhưng, cần phải thấy rõ, sự “trung lưu hóa” đó là sự phản ánh mức sống của giai cấp công nhân trong điều kiện lịch sử mới, do tiến bộ chung của sự phát triển xã hội và là kết quả đấu tranh liên tục, bền bỉ của chính giai cấp này trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản suốt nhiều thế kỷ qua, chứ điều đó tuyệt đối không phải làm thay đổi bản chất cách mạng của giai cấp công nhân. Người công nhân không phải đã trở thành “nhà t­ư bản” như cách người ta vẫn nói, mà “thành nhà t­ư bản đối với chính mình”; họ dù có cổ phiếu với giá trị cao hơn trước cũng chẳng vì thế mà thay đổi địa vị làm thuê và bị bóc lột trong xã hội tư­ bản. Người công nhân trước kia chỉ bán sức lao động cơ bắp là chủ yếu, thì ngày nay họ còn bán cả sức lao động trí óc, chất xám cho nhà tư bản. Những tư liệu sản xuất chủ yếu vẫn nằm trong tay giai cấp tư sản và người hưởng lợi lớn nhất từ cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 vẫn là các nhà tư bản. Vậy là, giai cấp công nhân vẫn là giai cấp bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư dưới nhiều hình thức tinh vi, họ vẫn là giai cấp những người làm thuê. Do đó, giai cấp công nhân muốn giải phóng mình, thì dứt khoát phải đồng thời giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công.

Trong thời đại ngày nay, những luận đề lý luận then chốt của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản vẫn còn nguyên giá trị và có sức sống mới. Trước đây, giai cấp công nhân đã từng đứng lên kêu gọi và đoàn kết tất cả các giai cấp, các tầng lớp khác đấu tranh vì dân chủ, dân sinh, đòi tăng lương, cải thiện điều kiện lao động, chống giai cấp tư sản; đã từng đi tiên phong trong các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người khỏi áp bức bất công, giành độc lập, tự do cho dân tộc. Ngày nay, với trình độ được tri thức hóa, với tổ chức khoa học và tinh thần cách mạng triệt để, giai cấp công nhân vẫn là chủ thể hàng đầu trong đấu tranh vì các quyền tự do cơ bản của con người, quyền của các dân tộc, chống mọi áp bức, bóc lột, bất công, thúc đẩy công bằng, dân chủ, bình đẳng và tiến bộ xã hội; vẫn là lực lượng đi tiên phong và đoàn kết với nhân dân lao động trên toàn thế giới trên con đường đi tới xã hội chủ nghĩa. Kể từ khi Tuyên ngôn ra đời đến nay, dù có những thăng trầm và biến động lớn lao, nhưng sự lớn mạnh và trưởng thành của giai cấp công nhân; sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; sự hình thành, phát triển của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới và sự phát triển mới của chủ nghĩa xã hội hiện thực; những giá trị nhân văn, nhân đạo, tiến bộ của nhân loại; sự quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu của nhiều chính giới, học giả, kể cả học giả tư sản đối với Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, đối với chủ nghĩa Mác - Lênin,… là thực tiễn sinh động cho thấy giá trị trường tồn và sức sống bất diệt của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và chủ nghĩa Mác - Lênin.

Ngày nay, dù tình hình có phát triển và biến đổi như thế nào chăng nữa, nhưng Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản không phải đã là “quá khứ”, “không còn phù hợp với thời đại ngày nay” như sự rêu rao, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Trái lại, những nguyên lý cơ bản của Tuyên ngôn vẫn còn nguyên giá trị, vẫn là định hướng tương lai, vẫn là cơ sở khoa học, phương pháp luận cho việc luận giải các vấn đề cơ bản của thời đại, vẫn là kim chỉ nam, ngọn cờ dẫn dắt giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới trên con đường thực hiện sứ mệnh lịch sử: loại bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản văn minh.

Tuy vậy vẫn cần có sự bổ sung và phát triển mới khi thời đại đã có những thay đổi. Điều đó đòi hỏi chúng ta khi vận dụng, phát triển phải đứng vững trên lập trường cách mạng của giai cấp công nhân, phải thực hiện với một tinh thần và phương pháp khoa học nghiêm túc, đúng đắn. Nắm vững bản chất cách mạng và khoa học; dựa chắc vào thực tế khách quan, trung thành, vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận là yêu cầu tối quan trọng để bảo đảm sức sống và phát huy những giá trị, vai trò to lớn của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, của chủ nghĩa Mác - Lênin trong thực tiễn./.

ST.

Không một thế lực nào có thể hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam*

Thời gian qua, lợi dụng tình hình thế giới có những diễn biến phức tạp, khó lường cùng một số mặt khó khăn của đất nước, các thế lực thù địch gia tăng hoạt động chống phá cách mạng nước ta trên nhiều hướng, đặc biệt trên môi trường mạng xã hội hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ coi đây là đột phá khẩu, con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất để xóa bỏ mọi thành quả của cách mạng Việt Nam mà Đảng và Nhân dân ta đã dày công vun đắp, tạo dựng. Nhưng thực tiễn đã khẳng định, không một thế lực nào có thể hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.

Họ cho rằng: (1). Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước và dân tộc là phi logic, phi lịch sử, lẽ ra phải là đội ngũ tinh túy của giới tinh hoa mới phù hợp; (2). Xuyên tạc, phủ nhận vai trò lịch sử và thành quả đấu tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng; (3). Đảng Cộng sản Việt Nam tuy đã thành công trong việc lãnh đạo giành lại độc lập dân tộc và xây dựng đất nước, nhưng hiện nay, một bộ phận lớn cán bộ cao cấp của Đảng thoái hóa, biến chất, tham nhũng, tiêu cực cho nên Đảng không còn là đội ngũ tiên phong để lãnh đạo đất nước nữa, v.v. Những luận điệu trên thể hiện mưu đồ đen tối, thâm hiểm, xuyên tạc, bịa đặt, hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Song, chúng ta có đầy đủ cơ sở khoa học và những luận cứ xác đáng để bác bỏ luận điệu sai lầm, phản động, phản khoa học đó.



Quang cảnh Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIII. Ảnh: dangcongsan.vn

1. Việc xác lập vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước và dân tộc.

Trong suốt chiều dài lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc, ông cha ta đã mở mang bờ cõi, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; vừa từng bước xây dựng đất nước, vừa kiên quyết đấu tranh chống giặc ngoại xâm, chiến thắng nhiều đế quốc hung hãn, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và độc lập dân tộc. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, triều đình nhà Nguyễn đã không giữ được độc lập dân tộc. Trong bối cảnh đó, với truyền thống yêu nước nồng nàn, các tầng lớp nhân dân ta đã liên tiếp vùng lên chống giặc. Song, các phong trào: Cần Vương, Duy Tân, Đông Du và các cuộc khởi nghĩa: Yên Thế, Yên Bái,... cùng hàng chục cuộc đấu tranh khác đều bị thực dân Pháp thẳng tay đàn áp, dìm trong biển máu. Sự đô hộ của thực dân Pháp gần một thế kỷ đã chứng tỏ cả giai cấp phong kiến và đại diện cho các thế lực tư sản đã hết vai trò lịch sử, vận mệnh của dân tộc và đất nước lâm vào tình thế bế tắc, không có đường ra. Vấn đề bức thiết đặt ra lúc đó là bằng con đường nào, cách thức nào, tổ chức lực lượng thế nào để đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại độc lập dân tộc.

Vấn đề vô cùng bức thiết này đã được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) đưa ra lời giải đáp. Trong suốt 30 năm đi tìm đường cứu nước, Người đã nhận rõ con đường giành độc lập dân tộc phải là con đường cách mạng vô sản. Nguyễn Ái Quốc đã gieo hạt, gây mầm và tạo dựng sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Với kỳ công của Người, đã kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam chuyển hóa thành một sự kiện trọng đại: năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục và rèn luyện đã được dân tộc giao phó, giành lại độc lập dân tộc và xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Lịch sử 94 năm của Đảng là hành trình thực hiện nhiệm vụ vô cùng khó khăn, phức tạp nhưng rất đỗi vinh quang.

2. Những thành quả to lớn của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng

Thứ nhất, Đảng xác định và lãnh đạo nhân dân thực hiện mục tiêu lý tưởng của sự nghiệp cách mạng: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Vừa ra đời, Đảng ta đã chủ trương tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Chủ trương đó đã được nhân dân đồng tình cao và trở thành lẽ đương nhiên; chủ nghĩa xã hội lúc này không chỉ là mục tiêu lựa chọn mà còn là xung lực thúc đẩy lịch sử Việt Nam chuyển mình, là con đường để dân tộc Việt Nam tạo dựng cơ đồ đất nước ngày càng bền vững. Mục tiêu lý tưởng và sự lựa chọn độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta, xét về logic là một tất yếu khách quan; xét về lịch sử là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu và xu thế của thời đại. Đó là hệ giá trị cơ bản nhất cho đất nước Việt Nam vừa qua, hôm nay và mai sau; là con đường duy nhất để kiến tạo và phát triển đất nước.

Thứ hai, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành lại giang sơn cho đất nước, độc lập, tự do cho dân tộc. Nhận thức và hành động theo sự lựa chọn con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dưới ngọn cờ của Đảng, toàn thể nhân dân ta chung sức, chung lòng tiến hành cuộc cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thách thức và đã giành được những thắng lợi vĩ đại, như: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954; đại thắng mùa Xuân năm 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; chiến thắng chiến tranh biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Thứ ba, Đảng lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội với các nội dung, mục tiêu, nhiệm vụ được hình thành trên cơ sở tổng kết hoạt động thực tiễn và nâng tầm lý luận. “Xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhiệm vụ tổng thể của toàn Đảng, Nhà nước và toàn dân ta nhằm đưa nước ta thành nước tiên tiến với mục tiêu cao cả: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo, có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”.

Bước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là việc Đảng ta phát động và lãnh đạo tổ chức thực hiện sự nghiệp đổi mới, tạo ra bước đột phá lớn và toàn diện, làm xoay chuyển tình hình đưa đất nước tiến lên. Chính đổi mới đã đưa đất nước ta từ chỗ thiếu thốn, hàng năm phải nhập lương thực để đảm bảo mức sống tối thiểu, nay trở thành nước xuất khẩu gạo và nhiều mặt hàng nông sản đứng nhất nhì thế giới. Chưa bao giờ nhịp độ phát triển và đổi thay từ nông thôn tới thành thị, từ miền núi đến đồng bằng lại nhanh chóng, mạnh mẽ như hiện nay. Cũng chưa bao giờ phong cách sống và làm việc của mọi người lại có những nét mới mẻ, tươi vui và sinh động như hôm nay. Đổi mới đã đem đến một sức sống mới cho đất nước, tiếp sức và nâng bước cho đôi chân chúng ta trên con đường hạnh phúc. Sau gần 40 năm đổi mới, “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

3. Đảng và Nhà nước ta kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và đã đạt được những kết quả tích cực.

Nhận thức rõ tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất trong một bộ phận cán bộ, đảng viên sẽ làm suy yếu Đảng, giảm quyền lực của Nhà nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình chung của đất nước, Đảng và Nhà nước có quyết tâm chính trị rất cao trong đấu tranh phòng, chống các biểu hiện tiêu cực này. Nó trở thành nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị.

Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII năm 1994, Đảng ta đã xác định nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội khác là một trong bốn nguy cơ đối với Đảng. Các nhiệm kỳ tiếp theo, Đảng ta thường xuyên ban hành các nghị quyết liên quan đến phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất. Đại hội XII của Đảng xác định rõ các nhiệm vụ trọng tâm, trong đó điều đầu tiên là: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”.

Cụ thể hóa các quan điểm, chủ trưởng của Đảng, Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống các tệ nạn này; các cơ quan chuyên trách được kiện toàn, đẩy mạnh hoạt động và phát huy hiệu quả. Cùng với những giải pháp quyết liệt trong nước, Việt Nam đã tham gia và ký kết nhiều văn bản pháp lý quốc tế về phòng, chống tham nhũng. Với quyết tâm chính trị cao của Đảng và Nhà nước, sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận, hưởng ứng của nhân dân, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thoái hóa, biến chất đã đạt được những kết quả tích cực. Trả lời phỏng vấn Thông tấn xã Việt Nam nhân dịp đầu năm 2023, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Năm 2022, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã được Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, có nhiều điểm mới, đạt nhiều kết quả cụ thể, được cán bộ, đảng viên, nhân dân và dư luận quốc tế đồng tình ủng hộ, đánh giá cao”. Đồng thời, chỉ rõ: “Trước một số ý kiến cho rằng, nếu quá tập trung vào chống tham nhũng sẽ làm “nhụt chí”, “chùn bước” những người dám nghĩ, dám làm, sẽ làm “chậm sự phát triển đất nước”; có thể khẳng định và thực tế đã chứng minh hoàn toàn ngược lại, chính nhờ làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, chúng ta giữ vững ổn định chính trị xã hội, phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại, củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân và bạn bè quốc tế”.

Sự thật không thể phủ nhận rằng chặng đường từ khi có Đảng là chặng đường rất đỗi vinh quang trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó đã chứng tỏ con đường cách mạng giải phóng dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta đã lựa chọn là đúng đắn, sáng tạo. Hiện nay, đường lối đổi mới và hội nhập quốc tế do Đảng ta khởi dựng, lãnh đạo, tổ chức thực hiện rất phù hợp với nhịp bước của thời đại. Đổi mới và hội nhập quốc tế là hai nhiệm vụ chiến lược thực hiện mục tiêu chung phát triển đất nước. Thành công của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế đã làm thay đổi rõ rệt diện mạo của đất nước, tăng cường xung lực cho đời sống xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Đất nước ta ngày càng lớn mạnh, vững chắc, tạo phong độ mới, thế mới, lực mới để vươn tầm, có đủ sức lực và trí tuệ để sánh vai cùng bạn bè thế giới. Chúng ta tin tưởng rằng, đất nước ngày càng phát triển vững chắc, tươi sáng hơn với mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Chính điều đó đã khẳng định, không một thế lực nào có thể hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam./.

ST.