Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2024

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TÌNH BÁO QUỐC PHÒNG - SON SẮT, KIÊN CƯỜNG, MỘT TRÁI TIM: "QUÂN BÁO TRINH SÁT - LỰC LƯỢNG ĐI TRƯỚC, VỀ SAU"!

     Thắng lợi của Cuộc tiến công Đông Xuân 1953-1954, mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử cách đây 70 năm, có sự đóng góp không nhỏ của lực lượng Điệp báo chiến lược và Quân báo trinh sát. Những chiến công thầm lặng ấy đã tô thắm truyền thống ngành Tình báo quốc phòng, mãi mãi là niềm tự hào của thế hệ kế tiếp sau này!

Khoét ngạch chui rào là nghề nghiệp

Gỡ mìn phá bẫy khéo chân tay

Quan sát ngày đêm tinh đôi mắt

Rình nghe sớm tối thính hai tai

Tiềm nhập vào đồn tung hoành khắp

Tù binh chụp bắt giữa ban ngày

Hóa trang khéo léo bưng mắt giặc

Địch hậu ra vào tựa dạo chơi

Nghi binh hóa phép: Không mà có

Độn thổ thu hình: Một hóa hai!

Đó là một đoạn trích trong bài thơ “Cuộc đời trinh sát thật là hay” của đồng chí Thanh Tùng, cán bộ lão thành của ngành Quân báo. Những dòng thơ khiến ta hiểu hơn và càng khâm phục những người “chiến sĩ ấy”. Họ âm thầm, lặng lẽ góp phần vào chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954.

Quân báo trinh sát - Lực lượng chuẩn bị trận địa cho mỗi chiến dịch.
Sau Hội nghị do Bác Hồ chủ trì tại Tỉn Keo vào tháng 12-1953, lực lượng Quân báo trinh sát của ta tổ chức theo dõi địch trên các hướng và đi đến quyết định: Trước mắt, chuẩn bị đánh Lai Châu. Ngay lập tức, đồng chí Mạc Lâm được cử lên trại tù binh ở Tuyên Quang, tập trung khai thác các sĩ quan địch bị quân ta bắt ở chiến dịch Tây Bắc, tổ chức một cuộc “hội thảo” về cách đánh Lai Châu, cách đối phó của quân Pháp và dự kiến đường rút chạy của chúng.  

Khai thác một sĩ quan tù binh Pháp đã từng ở Điện Biên, thông thạo đường Tây Bắc, Thượng Lào ta nắm được nhiều thông tin giá trị về chiến dịch cũng như về chiến thuật. Sau buổi “hội thảo” đó, đồng chí Nguyễn Việt - Trưởng phòng Trinh sát, Cục Quân báo được giao nhiệm vụ cùng một đơn vị trinh sát của Bộ lên đường đi Lai Châu nghiên cứu tình hình, chuẩn bị cho trận đánh.  

Cuối năm 1953, Đại tướng Võ Nguyên Giáp phổ biến Nghị quyết của Bộ Chính trị về kế hoạch tác chiến Đông-Xuân 1953-1954 và giao nhiệm vụ cho các đại đoàn. Ngày 20-11-1953, quân báo của ta nắm được tin tức về việc quân Pháp điều động 6 tiểu đoàn nhảy dù xuống Điện Biên Phủ.  

Ngay lập tức, đồng chí Hoàng Văn Thái điện thoại và tiếp theo đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ thị cơ quan Quân báo phải làm rõ: Địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ với mục đích gì? Có phải vì đã phát hiện Đại đoàn 316 đang hành quân lên đánh Lai Châu? Chúng có đóng lại không? Hay chúng sẽ rút? Nếu chúng đóng lại thì sử dụng bao nhiêu lực lượng và sẽ bố trí thế nào? Chỉ thị yêu cầu lực lượng Quân báo trinh sát phải trả lời trong thời gian ngắn nhất. Tuy nhiên, có hai câu hỏi hóc búa nhất đòi hỏi lực lượng Quân báo trinh sát phải trả lời ngay: Địch có rút không? Chúng bố trí như thế nào?  

Để trả lời được những câu hỏi trên, việc cần làm trước hết là điện ngay cho bộ phận trinh sát chuẩn bị đi Lai Châu phải lập tức chuyển hướng về phía Điện Biên Phủ, phối hợp với các đơn vị tại chỗ bám sát và điều tra tình hình địch, hằng ngày báo cáo về Cục; đồng thời tăng cường lực lượng trinh sát kỹ thuật theo dõi liên tục địch ở Điện Biên Phủ, Lai Châu, Thượng Lào, vì có tin có cánh quân từ Lào tiến về hướng Điện Biên Phủ.

Lúc này, một khó khăn mới xuất hiện. Trên bản đồ Bắc Bộ chỉ vỏn vẹn có một chấm đen với ba chữ “Điện Biên Phủ”. Yêu cầu cấp thiết ngay lúc này đòi hỏi quân ta phải có được những tấm bản đồ quân sự. Trước tình hình đó, đồng chí Hùng Châu, một cán bộ ở Ban Hỏi cung đã đi gấp lên trại tù binh, phối hợp cùng với đồng chí Mạc Lâm để khai thác một viên sĩ quan Pháp đã ở Điện Biên Phủ về địa hình và dự kiến khả năng bố trí công sự của địch. 

Vài ngày sau, ta phác họa được một sơ đồ về Điện Biên Phủ, cùng với báo cáo, nhận xét về giá trị đặc biệt quan trọng của dải đồi phía Đông sông Nậm Rốm. Nếu tổ chức phòng ngự ở đây, nhất thiết phải chiếm các mỏm đồi cao; còn ở phía Tây là cánh đồng rộng, xa hơn là dải núi không có giá trị chiến thuật quan trọng trong phòng ngự. Đại tướng Võ Nguyên Giáp rất vui khi nhận được báo cáo này và gửi lời khen ngợi anh em hỏi cung. 

Đồng chí Cao Pha được chỉ thị tổ chức theo dõi, nắm địch ở Lai Châu, Điện Biên Phủ và Thượng Lào. Ngày 26-11-1953, đồng chí Cao Pha cùng một tổ quân báo di chuyển đi Điện Biên Phủ bằng xe vận tải. Qua Nà Sản, xe dừng lại để anh em nghiên cứu tận mắt tập đoàn cứ điểm của địch. Tại đây, đồng chí Cao Pha nhớ lại lần đầu vấp phải cách phòng ngự của địch; do không điều tra kỹ đặc điểm của hệ thống bố trí phòng ngự nên khi bộ đội ta tiến công đã bị thương vong nặng nề. 

Đang nghiên cứu Nà Sản thì Đại tướng Võ Nguyên Giáp điện cho biết tin địch “đốt khói” ở Điện Biên Phủ và chỉ thị đồng chí Cao Pha phải theo dõi sát tình hình vì lo ngại địch định rút quân. Mối quan tâm của Tổng Tư lệnh là hoàn toàn có lý. Vì lúc này, ta đang có kế hoạch điều Đại đoàn 308 chủ lực lên đây và tùy tình hình sẽ điều tiếp các đơn vị khác. 

Thời điểm này, công tác điều tra và nắm địch ở Điện Biên Phủ là trọng tâm số một. Hai đội trinh sát của Bộ, do các đồng chí Nguyễn Việt, Phạm Huy, Nguyễn Ngọc Bảo chỉ huy đã phối hợp với trinh sát các Đại đoàn hình thành một mạng lưới trinh sát mặt đất khá chặt chẽ. Đồng thời, bộ phận trinh sát kỹ thuật cũng bám địch suốt ngày đêm với quyết tâm không để lọt bất kỳ tin tức nào. 

Kết hợp chặt chẽ giữa trinh sát mặt đất và trinh sát kỹ thuật, ta biết được: Ngày 3-12, địch đã đưa thêm 3 tiểu đoàn lên Điện Biên Phủ, thành lập “Binh đoàn hành quân Tây Bắc” do De Castries chỉ huy. Đến cuối tháng 12, địch lại tăng thêm 3 tiểu đoàn nữa. Như vậy, trong hơn một tháng, lực lượng địch ở Điện Biên Phủ đã lên đến 12 tiểu đoàn bộ binh, cùng các binh chủng khác, tổng quân số là 12.000 quân. Trọng tâm của Kế hoạch Navarre chính là quyết tâm chiếm đóng Điện Biên Phủ. 

Trở lại với yêu cầu cần phải có bản đồ quân sự để nghiên cứu, chuẩn bị cho tác chiến. Tổ trinh sát luồn sâu do đồng chí Trần Phận - Phân đội phó dẫn theo 6 đồng chí mang theo lương thực lên đường. Đêm thứ nhất, tổ vượt núi, ra đến gần sông Nậm Rốm thì bị phục kích phải quay về. Cách một đêm, đến đêm thứ ba, tổ tiềm nhập lại lên đường. Lần này trót lọt vượt sang phía Tây, anh em đã lên một mỏm đồi gần bản Hồng Lếch để quan sát theo dõi, sau đó chuyển xuống lạch suối chảy qua Nà Noong. Tại đây, hai bên um tùm rậm rạp, tiện cho việc ém quân, tiềm nhập vào Mường Thanh và sân bay. Cứ ban ngày quan sát theo dõi địch thả dù, đêm lại tiềm nhập. 

Quan sát thấy địch thả dù nhiều, trong đó có một dù màu đỏ không phải dù hoa như các dù khác. Anh em trinh sát nghĩ ắt hẳn phải có gì đặc biệt. Đến đêm tiềm nhập vào sân bay tìm dù đỏ, anh em lùng sục thấy rất nhiều hàng mà chúng chưa kịp dỡ, tìm mãi mới thấy cái dù đỏ, hàng còn nguyên gồm hai hòm sắt và một hòm gỗ nặng. Anh em thu hai hòm sắt và hòm gỗ về vị trí ém quân, lấy bạt che kín rồi lấy dao găm cạy hòm gỗ, trong có gạo và nước mắm; cạy đến hai hòm sắt thì thấy từng cuộn bản đồ và giấy ảnh đã rửa. Mặc dù chưa biết những cuộn bản đồ này có giá trị như nào, nhưng theo phán đoán của lính trinh sát đã là bản đồ thì ắt phải quan trọng. 

Kiểm tra những cuộn bản đồ trong hòm thì đây là bản đồ tỷ lệ 1:25.000, gồm 25 bản đồ vùng lòng chảo Điện Biên vẫn còn thơm mùi mực và 32 tấm ảnh ghép cảnh đồ của vùng này. Tổ trinh sát lập tức mang chiến lợi phẩm mới lấy được ở Mường Thanh đến báo cáo đồng chí Cao Pha: “Đơn vị tiềm nhập trinh sát ban đêm ở Mường Thanh thu được một tập bản đồ về Điện Biên Phủ của địch mới thả dù xuống hôm kia”. 

Cơ quan Quân báo đã báo cáo ngay với đồng chí Hoàng Văn Thái. Đồng chí Tham mưu trưởng chiến dịch rất mừng vì đây là lần đầu quân ta tác chiến hiệp đồng có đầy đủ pháo binh, pháo cao xạ, đòi hỏi bản đồ địa hình phải thật chính xác. Tấm bản đồ tỷ lệ 1:25.000 đáp ứng đầy đủ yêu cầu của Phòng Tác chiến mặt trận. Lập tức, một đồng chí được cử dùng xe Jeep chạy hỏa tốc suốt ngày đêm về hậu phương in ra thành nhiều bản đưa lên mặt trận phát cho các đơn vị. Chiến sĩ trinh sát Trần Phận - Tổ trưởng tổ trinh sát lấy được tập bản đồ, được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Hai ngay tại mặt trận.

Nhờ tập bản đồ, quân ta đã đắp được sa bàn Điện Biên Phủ, tất cả các mục tiêu của địch đều xuất hiện đầy đủ, cho thấy hệ thống phòng ngự của địch không chỉ vững chắc ở phía Đông mà đã tăng cường tuyến phòng thủ kiên cố ở cả phía Tây, dọc sân bay vào tung thâm, trên các hướng tiến công chính của 2 đại đoàn do đồng chí Lê Trọng Tấn và Vương Thừa Vũ chỉ huy. Những dữ kiện đầu tiên cực kỳ quan trọng này cho thấy khó có khả năng “đánh nhanh, giải quyết nhanh” theo kế hoạch ban đầu. Kết hợp với tình hình thực tế tại mặt trận, Ðại tướng Võ Nguyên Giáp đã đưa ra một quyết định vô cùng sáng suốt và đúng đắn, chuyển phương châm sang “đánh chắc, tiến chắc” để đi đến thắng lợi cuối cùng./.
Yêu nước ST.

Tư tưởng Hồ Chí Minh - Ngọn đuốc sáng dẫn dắt cách mạng Việt Nam đến thắng lợi

 Trong sự nghiệp đổi mới, cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của cách mạng Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng đã tiếp tục vận dụng, phát triển tư tưởng của Người, thông qua việc khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng sự nghiệp đổi mới đất nước

Trước hết, con đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh là con đường đổi mới, tìm đến chân lý của thời đại, đưa chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn Việt Nam, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.

Trước cảnh giang sơn chìm đắm trong nỗi nhục mất nước, người thanh niên Nguyễn Tất Thành vừa bước qua tuổi 21 đã ra đi tìm đường cứu nước với hành trang duy nhất là lòng yêu nước, thương dân vô hạn và hoài bão cứu nước, cứu dân. Người quyết định tìm một hướng đi mới, chưa ai làm, đó là sang phương Tây, vào tận “sào huyệt của kẻ thù” để tìm đường cứu nước. Sự sáng tạo đầu tiên trong hành trình đó đã chứng tỏ bản lĩnh, trí tuệ, nhãn quan chính trị sắc bén, đổi mới trong con người Hồ Chí Minh và chuyến đi kéo dài hơn 30 năm của Nguyễn Tất Thành trở thành một trong những cuộc hành trình kỳ lạ, vĩ đại trong lịch sử dân tộc(1).

Người đã trải qua nhiều khó khăn, gian khổ, hòa mình vào đời sống của các tầng lớp nhân dân lao động để từ đó, mở mang nhận thức, tìm ra chân lý cách mạng. Người tìm hiểu, so sánh cuộc cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ với Cách mạng Tháng Mười Nga, học hỏi nền văn hóa phương Đông và nền văn hóa phương Tây, tiếp thu những giá trị của Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo, đọc những tác phẩm của các nhà khai sáng Pháp... Đến khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lê-nin, Người đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam - con đường cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội theo ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Sự lựa chọn của Người cũng chính là sự lựa chọn của dân tộc Việt Nam. Từ đây, dưới sự lãnh đạo của Người, nhân dân Việt Nam đã làm nên Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, lật đổ ách thống trị của ngoại bang giành độc lập dân tộc, lật nhào chế độ phong kiến tồn tại cả nghìn năm để xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra bước phát triển vĩ đại của dân tộc. Tổng Bí thư Lê Duẩn đã đúc kết: “Công lao vĩ đại đầu tiên của Hồ Chủ tịch là đã gắn phong trào cách mạng Việt-nam với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt-nam đi theo con đường mà chính Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lê-nin”(2). Người đã để lại tấm gương sáng ngời về đổi mới ngay từ khi lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc để hình thành nên quy luật phát triển và thắng lợi của cách mạng Việt Nam - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực của tư duy đổi mới, ham học hỏi, tiếp thu cái mới, cái tiến bộ; soi sáng, dẫn đường sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đổi mới là bản chất của cách mạng, của phát triển. Trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”, Người chỉ rõ: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”(3). Nói về công cuộc kiến thiết đất nước sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, Người nhấn mạnh đó là cuộc chiến đấu chống lại những cái gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Triết lý đổi mới, chân lý đổi mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh là ích nước, lợi dân: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”(4).

Nói đến phát triển thì phải luôn luôn thể hiện và gắn liền với sự sáng tạo, đổi mới; bởi lẽ, đó vừa là đường dẫn, vừa là linh hồn của phát triển. Người luôn suy nghĩ, tìm tòi, đổi mới trong công việc, không cứng nhắc, bảo thủ, đóng khung mà rất linh hoạt, mềm dẻo khi xử lý, giải quyết từng vấn đề, sự việc cụ thể. Phong cách làm việc của Người không chấp nhận tư duy lối mòn, kinh nghiệm chủ quan, mà hướng tới sự mới mẻ, hiệu quả để ngày càng đạt kết quả tốt hơn.

Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam được soi sáng bởi chính tư duy, trí tuệ Việt Nam trên cơ sở kế thừa, phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, với nền tảng, gốc rễ là tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thứ ba, Chủ tịch Hồ Chí Minh là trung tâm quy tụ ý chí, khát vọng, niềm tin và sức mạnh của sự nghiệp đổi mới của cách mạng Việt Nam.

Trong cuộc khủng hoảng và đổ vỡ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu cuối thế kỷ XX, trong khi nhiều lãnh tụ cầm quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa bị công kích thì Chủ tịch Hồ Chí Minh lại được loài người tiến bộ tôn vinh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất. Giữa lúc nhiều nước xã hội chủ nghĩa có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn Việt Nam, tiến hành cải tổ không thành công thì công cuộc đổi mới ở Việt Nam lại đạt được thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Câu hỏi ở đây là: Vì sao có thực tế vĩ đại đó? Đó là bởi, tư tưởng, nhân cách văn hóa, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã soi sáng, dẫn đường cho cách mạng Việt Nam; dưới ánh sáng ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thách thức, trở ngại, dũng cảm nhìn vào sự thật, để sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm của chính mình, từ đó đề ra được đường lối đổi mới kịp thời, đúng đắn, sáng suốt nhất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là tấm gương sáng ngời trong phòng, chống tệ quan liêu, tham nhũng, nêu gương đạo đức liêm khiết, mẫu mực, tận trung với nước, tận hiếu với dân. Điểm đặc sắc trong tư tưởng của Người là hàm chứa trí tuệ cao gắn liền với tình cảm cách mạng sâu sắc, được diễn đạt một cách giản dị, giữa “nói đi đôi với làm”, rất gần với lối cảm, lối nghĩ của quần chúng. Chính vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh đã đi vào lòng người một cách tự nhiên, thẩm thấu, đọng lại sâu sắc, lan tỏa trong trái tim, khối óc của mỗi người dân Việt Nam, trở thành nguồn động lực tinh thần vô giá để xây dựng nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” như tâm nguyện của Người.

Thấm đẫm giá trị và tầm vóc của tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, và tư tưởng của Người đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc ta. Tại Đại hội VI (tháng 12-1986) - Đại hội khởi xướng công cuộc đổi mới - Đảng đã nhấn mạnh: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”(5). Tại Đại hội VII (tháng 6-1991), thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta lần đầu tiên đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào văn kiện và khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(6), và tổng kết thành bài học: “Điều kiện cốt yếu để công cuộc đổi mới giữ được định hướng xã hội chủ nghĩa và đi đến thành công là trong quá trình đổi mới Đảng phải kiên trì và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”(7). Đại hội IX của Đảng khẳng định, những bài học đổi mới do các Đại hội VI, VII, VIII nêu lên, vẫn còn nguyên giá trị, mà bài học hàng đầu vẫn là: “Trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”(8).

Tiếp đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) tại Đại hội XI (năm 2011) của Đảng tiếp tục khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(9). Tại Đại hội XIII (năm 2021), Đảng ta chỉ rõ: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng... để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(10).

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và các đại biểu dự Đại hội XIII của Đảng, tháng 1-2021. Ảnh: Tư liệu

Bước phát triển trong tư duy, nhận thức và hoạt động thực tiễn của Đảng đã cho thấy, cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là một bộ phận cơ bản cấu thành hệ tư tưởng, thế giới quan, phương pháp luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng thời, sự khẳng định này cũng bảo đảm sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, thể hiện rõ ý chí kiên quyết đấu tranh đối với những luận điệu sai trái, thù địch, đi ngược lại tư tưởng cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Thực tế cho thấy, nếu xa rời tư tưởng Hồ Chí Minh thì cách mạng Việt Nam sẽ gặp khó khăn, thử thách. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành yếu tố tất yếu, không thể thiếu trong toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của cách mạng Việt Nam.

Như vậy, trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta luôn nhận thức đúng đắn, nhất quán, quán triệt, vận dụng sáng tạo và bảo vệ bản chất khoa học, cách mạng, nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đây chính là nhân tố quyết định, làm nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh - ngọn cờ dẫn dắt đất nước đến phồn vinh, hạnh phúc

Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là ngọn cờ dẫn dắt sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, mà còn có giá trị bền vững, lâu dài đối với sự nghiệp đổi mới, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Khác với sự ra đời của nhiều tư tưởng, lý luận trên thế giới, tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành, phát triển trong quá trình đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, từ khát vọng làm cho dân tộc độc lập, đất nước hùng cường, phồn vinh, nhân dân được ấm no, tự do, hạnh phúc. Đó là sự đúc rút, tổng kết từ cuộc đấu tranh cách mạng đầy gian khổ, hy sinh, nhưng vô cùng sôi nổi, phong phú, cao đẹp và trong sáng của Người.

Một là, Chủ tịch Hồ Chí Minh nuôi dưỡng và truyền cảm hứng về khát vọng phát triển đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.

Khi cách mạng vừa thành công, đất nước trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Người đã nêu khát vọng đưa dân tộc Việt Nam “bước tới đài vinh quang”, “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Đó chính là nỗi niềm chung, mong muốn chung của cả dân tộc, là cái đích mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phấn đấu đạt tới. Để thực hiện mong muốn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm đề ra các biện pháp giải quyết các nhiệm vụ cấp bách, như nạn đói, nạn mù chữ, xây dựng Hiến pháp dân chủ, bảo đảm tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính trong đội ngũ cán bộ, đảng viên... Người nêu rõ mong muốn, khát vọng mãnh liệt “...là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Người yêu cầu phải thực hiện ngay “làm cho dân có ăn; làm cho dân có mặc; làm cho dân có chỗ ở; làm cho dân có học hành”.

Hai là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định hướng, vạch ra con đường, biện pháp để xây dựng, phát triển đất nước Việt Nam “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, phồn vinh, hạnh phúc.

Trong bản Di chúc thiêng liêng, Người trăn trở, suy nghĩ về kế hoạch xây dựng lại thành phố và làng mạc bị chiến tranh tàn phá; khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế; sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân; trồng cây thành rừng tốt cho phong cảnh, lợi cho nông nghiệp... Người mong muốn toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Ba là, Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng, là tinh hoa của tinh thần khoan dung, nhân ái, yêu chuộng hòa bình, văn minh Việt Nam và tiến bộ của thế giới.

Khoan dung, nhân ái, yêu chuộng hòa bình Hồ Chí Minh cũng chính là biểu hiện của tinh thần tiến bộ, văn minh Việt Nam và thế giới trong thời đại mới. Đó là lòng yêu thương sâu sắc đối với con người, ở cái nhìn rộng lượng đối với những sự khác biệt với mình, ở sự tôn trọng niềm tin của người khác; xa lạ với mọi thái độ cuồng tín, giáo điều. Đối với các tôn giáo, Người tôn trọng đức tin của người có đạo, tìm điểm tương đồng về giá trị giữa lý tưởng của các bậc sáng lập tôn giáo với mục tiêu giải phóng dân tộc và mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân, của Đảng ta. Người được cả dân tộc và nhân loại tôn vinh là chiến sĩ vì hòa bình, đấu tranh chống lại những bất công, tàn bạo, nâng đỡ, giúp đỡ con người được sống một cuộc sống đúng nghĩa của con người.

Hiện thực hóa khát vọng đổi mới, sáng tạo và xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Nhìn lại hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng sáng rõ hơn và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước. Ý chí và khát vọng về một dân tộc Việt Nam hùng cường của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng, từng bước đưa dân tộc Việt Nam tiến cùng nhịp bước với trào lưu tiến bộ trên thế giới và ý nguyện hòa bình, phát triển của nhân loại.

Đại hội XIII của Đảng là sự kiện chính trị có ý nghĩa lịch sử đặc biệt, là dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của Đảng ta, dân tộc ta, đất nước ta. Tại Đại hội XIII, lần đầu tiên trong chủ đề của Đại hội và trong các văn kiện chính trị đề cập đến “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Đây là một điểm rất mới và là một dấu ấn rất quan trọng. Khát vọng thịnh vượng đã được khơi dậy, truyền cảm hứng và như một lời hiệu triệu với non sông, đất nước, với gần một trăm triệu người dân Việt Nam mà ở đó, mục tiêu rõ nhất là làm cho người dân được hạnh phúc dưới ánh sáng tư tưởng, đạo đức, phong cách và khát vọng Hồ Chí Minh.

Hiện nay, bên cạnh xu thế tích cực là chủ đạo, tình hình thế giới vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân túy trong quan hệ quốc tế có xu hướng gia tăng. Các nước đang phát triển, nhất là các nước nhỏ, đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới. Kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng và có thể còn kéo dài do tác động của đại dịch COVID-19. Các quốc gia, nhất là các nước lớn, điều chỉnh lại chiến lược phát triển, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài, làm thay đổi các chuỗi cung ứng. Cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại, tranh giành thị trường, các nguồn tài nguyên, công nghệ, nhân lực chất lượng cao giữa các nước ngày càng gay gắt, quyết liệt, tác động mạnh đến chuỗi sản xuất và phân phối toàn cầu.

Ở trong nước, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, đất nước ta đang phải đối diện với những khó khăn, thử thách và trở ngại không hề nhỏ. Nền kinh tế phát triển chưa bền vững, còn nhiều hạn chế, yếu kém, lại phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức mới do tác động của đại dịch COVID-19 và khủng hoảng kinh tế toàn cầu gây ra. Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta. Bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và thích ứng với biến đổi khí hậu là yêu cầu cấp thiết, đồng thời là những thách thức rất lớn đối với nước ta trong thời gian tới.

Để hiện thực hóa khát vọng đổi mới sáng tạo và xây dựng nước Việt Nam phát triển phồn vinh, hạnh phúc theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cần vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người trong bối cảnh mới của thời đại, phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước trên những nội dung sau:

Thứ nhất, kiên định, trung thành với lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn. Đổi mới là một quá trình cách mạng toàn diện, sâu sắc và triệt để trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đổi mới không phải là từ bỏ, thay đổi mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả, để chủ nghĩa xã hội phát huy được bản chất ưu việt, không giáo điều, trì trệ và xơ cứng trong tư duy và tư tưởng, làm sống động những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn đổi mới của Việt Nam.

Thứ hai, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, sức mạnh tổng hợp của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Thứ ba, gắn phát triển kinh tế với phát triển xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững của đất nước và phục vụ cuộc sống, vì cuộc sống bình yên của người dân. Không phải ngẫu nhiên mà trong hệ mục tiêu của đổi mới, Đảng ta đặt “dân giàu, nước mạnh” lên hàng đầu. Các chính sách kinh tế phải thống nhất với các chính sách xã hội, lấy sự phát triển toàn diện của con người làm mục tiêu, là thước đo của sự phát triển.

Thứ tư, tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện; đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán bộ cấp chiến lược có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; làm tốt công tác tư tưởng, lý luận; chú trọng công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng.

Thứ năm, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh kinh tế, an ninh mạng, an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương. Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những nhân tố bất lợi, nhất là những nhân tố có thể gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch./. 

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUA 50 NĂM ĐẤT NƯỚC THỐNG NHẤT!

         Sáng nay, ngày 03 tháng 5 Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức Kỳ họp thứ 9, tập trung thảo luận, góp ý kiến vào báo cáo tổng kết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua 50 năm đất nước thống nhất (1975-2025), góp phần hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”!

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Nguyễn Xuân Thắng chủ trì kỳ họp.

Tại kỳ họp, các đại biểu đánh giá: Bối cảnh thế giới và trong nước qua 50 năm đất nước thống nhất, đi lên CNXH cùng những tác động đến sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; Một số vấn đề lý luận và thực tiễn chủ yếu qua 50 năm đất nước thống nhất, đi lên CNXH; thời cơ, thách thức và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục làm rõ về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam trong thời gian tới, góp phần hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới, về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

Các đại biểu nhấn mạnh 5 bài học kinh nghiệm khái quát từ thực tiễn 50 năm đất nước thống nhất, đó là: Kiên định các mục tiêu đã chọn; Lấy dân làm gốc, dân là trung tâm; Đảm bảo tính đồng bộ, toàn diện, có bước đi và hình thức thích hợp trong xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế; Sự lãnh đạo, cầm quyền đúng đắn của Đảng.

GS.TS Phùng Hữu Phú, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng lý luận Trung ương cho rằng: "Báo cáo này cố gắng tập trung đánh giá sâu sắc hơn chúng ta đã thực hiện thống nhất đất nước như thế nào? Thực hiện và phát huy sức mạnh lợi thế của đất nước như thế nào? Đạt được kết quả gì? rút ra kinh nghiệm gì? và sắp tới làm thế nào để phát huy tốt hơn nữa sức mạnh của đất nước thống nhất, bảo vệ vững chắc hơn đưa Tổ quốc thống nhất trong sự nghiệp xây dựng CNXH".

Nhấn mạnh sự thống nhất về lãnh thổ gắn với kinh tế lãnh thổ chưa tốt, dẫn đến cát cứ, phân vùng, lãng phí về nguồn lực và tài nguyên, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh Nguyễn Anh Tuấn lưu ý, thời gian tới không chỉ bàn thống nhất về lãnh thổ kinh tế, thông qua hạ tầng giao thông mà phải bàn về thống nhất lãnh thổ kinh tế thông qua hạ tầng thông tin truyền thông, thông qua hạ tầng về khoa học vũ trụ, thông qua hạ tầng về kinh tế biển... Đây là những lĩnh vực rất mới và quan trọng nếu chúng ta không có định hướng thì đã chậm".

Tại kỳ họp, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương Nguyễn Xuân Thắng nhấn mạnh cách tiếp cận của việc tổng kết 50 năm đất nước thống nhất sẽ khác việc tổng kết 40 năm đổi mới ở chỗ: nhìn nhận, tổng kết, đánh giá vấn đề dưới góc độ "thống nhất đất nước". Phải làm rõ nghĩa lịch sử của việc thống nhất đất nước đã mở ra một giai đoạn phát triển mới của đất nước ta; đó là cả nước đi lên CNXH.

Việc thống nhất đất nước còn được thể hiện qua sự thống nhất toàn diện: về tư tưởng, ý thức hệ; về đường lối chính sách; về hệ thống kinh tế; về văn hóa-xã hội; đặc biệt nhìn lại 50 năm sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất đối với sự nghiệp tiếp tục bảo vệ độc lập, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

"Nội dung liên quan đến kinh tế độc lập tự chủ, hội nhập, hệ thống tổng thể để đảm bảo thống nhất về mặt nhà nước, về mặt tổ chức của hệ thống chính trị. Mô hình nào cần được đề xuất? Quan hệ giữa trung ương và địa phương? Vấn đề phân cấp, ủy quyền, phối hợp, kiểm tra giám sát như thế nào... để thực hiện sứ mệnh thống nhất đất nước mà 50 năm qua mang lại và đang kế thừa cho sự phát triển sắp tới", ông Nguyễn Xuân Thắng nói.

Ông Nguyễn Xuân Thắng cũng đề nghị tiếp tục hoàn thiện, nâng cao chất lượng báo cáo, sớm trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư, góp phần có hiệu quả, kịp thời chuẩn bị cho việc xây dựng Văn kiện Đại hội XIV của Đảng./.
Yêu nước ST.

Không thể xuyên tạc, phủ nhận giá trị trường tồn của chiến thắng Điện Biên Phủ

 56 ngày đêm “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt, máu trộn bùn non” trong chiến dịch Điện Biên Phủ là những tháng ngày không thể nào quên…. 70 năm đã trôi qua chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, là chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, là mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc, mở ra kỷ nguyên mới cho đất nước Việt Nam-kỷ nguyên độ lập dân tộc, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; là chiến thắng ảnh hưởng sâu sắc đến các nước thuộc địa và làm thay đổi cục diện thế giới, là sự kiện không thể xuyên tạc hay phủ nhận.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã lùi xa 70 năm và trở thành mốc son chói lọi trong tiến trình lịch sử   hào hùng của dân tộc Việt Nam, nhưng giá trị, ý nghĩa tầm vóc của nó vẫn còn nguyên với dân tộc Việt Nam và cả nhân loại yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới.

Bức tranh "phút giây chiến thắng" tại Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.

Tháng 2/1993, tổng thống Pháp Francois Mitterrand thăm chính thức Việt Nam và tới thăm chiến trường Điện Biên Phủ, phát biểu sau chuyến thăm, tổng thống Pháp cho rằng cuộc chiến của Pháp ở Đông Dương "dường như là sai lầm"; "Chủ nghĩa thực dân Pháp phải hiểu sự cần thiết của việc bước sang trang mới. Kể từ thời điểm chiến tranh kết thúc, tôi nghĩ tất cả đều đáng suy ngẫm lại. Tôi cảm thấy hài lòng khi Pháp là quốc gia phương Tây đầu tiên đến đây để thể hiện mong muốn hòa giải".

Năm 2018, thủ tướng Pháp Edouard Philippe đã đến thăm Điện Biên Phủ, ông đã nói rằng: “Trận chiến cuối cùng ở Điện Biên Phủ... Nó đã đánh dấu việc Việt Nam giành được nền độc lập hoàn toàn”, đó là tâm sự chân thành để chúng ta khép lại quá khứ và hướng đến tương lai.

  

Tổng thống Cộng hòa Pháp Francois Mitterrand thăm hầm De Castries tại Điện Biên Phủ chiều 10/2/1993

Học giả J.C.Rome (Đại học Tổng hợp Strabua III-Pháp) nhấn mạnh với trận Điện Biên Phủ, năm 1954 trở thành “một năm thay đổi cục diện... Năm 1954 quả là một năm quan trọng đối với lịch sử nước Pháp và lịch sử Việt Nam. Nhưng vượt ra khỏi phạm vi của mảnh đất thuộc địa này, người ta còn coi đây là năm bản lề trong lịch sử xung đột Đông-Tây

Lịch sử đã lùi xa 70 năm, chúng ta thế con cháu, tương lai của đất nước sẽ không được phép lãng quên những bài học từ lịch sử. Chiến thắng Điện Biên Phủ là nhân tố to lớn xóa bỏ chế độ thực dân kiểu cũ trên phạm vi toàn thế giới, buộc thực dân Pháp phải ký hiệp định Genever ngày 20/07/1954, lập lại hòa bình tại Đông Dương. Nhìn lại quá khứ, tiếp thu những bài học có ý nghĩa lịch sử phải có cách tiếp cận toàn diện, khách quan, đầy đủ, thúc đẩy mối quan hệ giữa hai nước Việt-Pháp trong hiện tại và tương lai, đồng thời không bao giờ để chiến tranh lập lại. Trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước dân tộc ta đã trải qua hai phần ba thời gian phải chiến đấu bảo vệ sự độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Chúng ta hiểu rõ được sự mất mát, tàn khốc của chiến tranh và yêu chuộng hòa bình hơn bất cứ một dân tộc nào trên thế giới.

70 năm qua, tình hình, cục diện thế giới, khu vực và trong nước đã đổi thay rất nhiều, những giá trị, ý nghĩa, tầm vóc của chiến thắng Điện Biên là rất to lớn, được cả thế giới khẳng định. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động và một số kẻ thiếu thiện chí vẫn cố tình tìm mọi cách hạ thấp ý nghĩa, xuyên tạc bản chất, tính chính nghĩa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta, chúng cố tình cho rằng “nếu không có sự giúp đỡ của nước ngoài thì Việt Nam không thể chiến thắng”; hay chúng lu loa rằng đó chỉ là cuộc chiến của 2 bên hiếu chiến chứ không phải cuộc chiến chính nghĩa bảo vệ nền độc lập, tự do.. Mục đích của chúng nhằm xuyên tạc lịch sử, bịa đặt phi lý với tư tưởng của những kẻ vô ơn. Chúng quên rằng tại chiến trường Điện Biên Phủ, quân viễn chinh Pháp đã nhận được sự hỗ trợ khổng lồ về vũ khí và nhân lực bằng cầu hàng không trực tiếp từ quân đội Mỹ. Bản chất của những âm mưu, luận điệu đó nhằm gieo rắc tư tưởng hoài nghi, làm giảm vai trò lãnh đạo của Đảng về mọi mặt với Quân đội và nghệ thuật quân sự Việt Nam; hạ thấp uy tín chính trị, vai trò, công lao to lớn của Quân ta đối với nền độc lập dân tộc... Đồng thời từng bước đề cao công lao của các thế lực chính trị khác (như Ukraina hiện nay là một trường hợp điển hình thành công của mưu đồ xét lại lịch xử và lật sử).

Để có được chiến thắng tại Điện Biên Phủ quân và dân ta bằng trí tuệ, sức người, sức của, không tiếc xương máu tiến hành chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950 khai thông biên giới Việt - Trung và Chiến cuộc Đông - Xuân 1953-1954 làm thất bại Kế hoạch Nava, giải phóng đất đai, tạo thế và lực chuyển biến cục diện chiến tranh có lợi cho ta giành thắng lợi quyết định. Trước khi bước vào chiến dịch Điện Biên Phủ, được sự giúp đỡ của một số chuyên gia, cố vấn quân sự Đông Đức, Trung Quốc và vũ khí của Liên Xô chúng ta đã xây dựng được các Đại đoàn, tuy nhiên chiến thắng Điện Biên Phủ hoàn toàn là trí tuệ, sức người, sức của của nhân dân Việt Nam và là kết quả những thắng lợi trong giai đoạn 1950-1953, mà không thể có một lực lượng nào làm được và phủ nhận công sức đó. Khi bước vào chiến dịch, chúng ta xây dựng kế hoạch tác chiến theo phương pháp “đánh nhanh thắng nhanh” của các cố vấn Trung Quốc, tuy nhiên phương pháp đó chưa thực sự phù hợp với tình hình thực tế chiến trường Điện Biên Phủ, chúng ta phải thay đổi bằng kế hoạch “đánh chắc thắng chắc”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp bàn bạc hoạch định đường lối mở Chiến dịch Điện Biên Phủ, 1954.

Trước hết cần khẳng định, những năm cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nhất là trước và trong chiến dịch Điện Biên Phủ chúng ta đã nhận được sự giúp đỡ về trang bị, vũ khí và đào tạo của các chuyên gia, cố vấn của các nước anh em xã hội chủ nghĩa nhưng xét từ bất cứ phương diện nào mọi sự giúp đỡ dù lớn đến đâu cũng không thể giúp cho sự nghiệp cứu nước của một dân tộc đi đến thắng lợi cuối cùng.

Nếu chiến dịch Điện Biên Phủ không mang tính chính nghĩa, không mang tinh thần tự chủ, thiếu đường lối chính trị đúng đắn, đường lối nghệ thuật quân sự mang bản sắc Việt Nam, không phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc thì không thể giành thắng lợi. Đây là nguyên tắc có tính sống còn, bài học luôn đúng và mang tính giá trị của thời đại. Minh chứng là sau chiến thắng Điện Biên Phủ của ta, sau thất bại từ chiến lược “Chiến tranh cục bộ” buộc phải ký hiệp định Paris với những điều khoản có lợi cho ta và rút quân về nước năm 1973, Mỹ có chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” cùng các khoản viện trợ khổng lồ cho chế độ ngụy quyền Sài Gòn, với nhiều vũ khí, trang thiết bị vượt trội so với Quân đội nhân dân Việt Nam nhưng cuối cùng vẫn phải chấp nhận thất bại. Bài học cay đắng đó các thế lực thù địch, phản động đến nay chưa thể quên, vì thế chúng đưa ra một số luận điệu xuyên tạc như “thực chất quân đội Mỹ hỗ trợ quân đội Pháp có mặt tại Việt Nam là để ngăn Việt Nam xâm lược một nước khác và lúc đó quân đội viễn chinh của Pháp trên toàn thế giới đã suy yếu, kể cả nếu không có trận Điện Biên Phủ thì chưa đầy một năm nữa Pháp sẽ rút quân về nước” hay tráo trở hơn chúng cho rằng “Quân đội nhân dân Việt Nam là lính đánh thuê cho nước ngoài, không phải là những người chiến thắng ở Điện Biên Phủ”. Đây là những luận điệu, hành động không mới nhưng hết sức thâm độc, tạo nên sự hoài nghi, xét lại lịch sử làm phân tâm, mất niềm tin trong cán bộ, đảng viên và nhân dân nhất là thế hệ trẻ hiện nay. 

Xe thồ của lực lượng dân công chở gạo ra mặt trận chuẩn bị cho Chiến dịch, với quyết tâm để "bộ đội ta ăn no đánh thắng"

Ngoài ra chúng cho rằng anh hùng, liệt sĩ trong chiến thắng Điện Biên Phủ của chúng ta không có thực, là nhân vật hư cấu, bịa đặt. Với những lý lẽ hết sức vô lý, không có căn cứ, chúng không chịu thừa nhận. Thực tế không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới khi con người rơi vào hoàn cảnh bất thường sẽ có hành động xả thân trên bình thường, phi thường không phải chuyện hiếm gặp. Những anh hùng, liệt sĩ như: Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai; Tô Vĩnh Diện lấy thân mình chèn pháo… là những con người có tên, có tuổi, có quê quán, địa chỉ rõ ràng; là con của những người mẹ mà sự hi sinh của họ là nỗi đau của một gia đình; được đồng chí, đồng đội trong đơn vị công nhận, không khó để chúng ta tìm hiểu về họ, nên không thể phủ nhận và xuyên tạc được, vì vậy ta phải nêu cao tinh thần tự giác bảo vệ danh dự, mồ hôi, xương máu của đồng bào, chiến sĩ và nhân dân, đặc biệt là những tấm gương liệt sĩ tiêu biểu đi vào sử sách và là tấm gương cho bao thế hệ cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam và là biểu tượng sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc Việt Nam.

Vượt qua bom đạn của kẻ thù, vượt qua điều kiện khắc nghiệt của tự nhiên, mặc dù có nhiều khó khăn nhưng hàng tấn gạo, thịt, xăng dầu, vũ khí, đạn dược được quân và dân cả nước vận chuyển đến mặt trận Điện Biên Phủ cho bộ đội bằng những phương tiện thô sơ nhất để góp phần vào thắng lợi cuối cùng, kỳ tích đó nằm ngoài suy nghĩ của những người thường lấy lý luận làm cơ sở giải quyết chiến tranh, nằm ngoài suy nghĩ của những kẻ sống chỉ biết trông chờ vào sự giúp đỡ của nước ngoài mà không thể tự đứng trên đôi chân của mình và trên hết là chưa bao giờ nhận được sự đồng lòng, ủng hộ toàn tâm, toàn ý của cả dân tộc. Quân đội nhân dân Việt Nam là đội quân non trẻ nhưng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.

Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi đã được 70 năm, ngày nay chúng ta càng khẳng định những nhân tố làm nên thắng lợi đó chính là sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn quân và dân ta; là sức mạnh của đường lối nghệ thuật, tinh thần quốc tế trong sáng. Sức mạnh đó đã minh chứng cho sức mạnh của một dân tộc anh hùng, với một quân đội anh hùng tất yếu sẽ chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược bảo vệ vững chắc nền độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.

Kỷ niệm 70 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, chúng ta thêm nhận thức sâu sắc, toàn diện hơn về tầm vóc, ý nghĩa, giá trị của chiến công đó, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Chiến thắng Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử”. Đó là thắng lợi của bản lĩnh, trí tuệ và sức mạnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Phát huy tinh thần chiến thắng Điện Biên Phủ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, chúng ta cần tiếp tục vận dụng sáng tạo những bài học, kinh nghiệm quý báu đã rút được. Từ đó phản bác những luận điệu của các thế lực thù địch, đập tan âm mưu phá hoại nền độc lập, tự chủ của dân tộc, những kẻ cơ hội chính trị đã xuyên tạc, phủ nhận chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ./.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: KIÊN ĐỊNH CÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG ĐẢNG - KINH NGHIỆM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA!

         Tổng kết thực tiễn công cuộc đổi mới, Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng là một trong “bốn kiên định” thuộc quan điểm chỉ đạo phải quán triệt trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng qua gần 40 năm đổi mới đã giúp Đảng không ngừng nâng cao bản lĩnh, sức chiến đấu, đứng vững trước những biến động nhanh chóng của thời cuộc và đạt được những thành tựu quan trọng trong công tác xây dựng Đảng thời gian qua!

Trong hệ quan điểm chỉ đạo xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN), cùng với tiếp tục khẳng định kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh  phải “kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng”(1).

Về lý luận, nguyên tắc là vấn đề có tính sống còn đối với một tổ chức, tuân thủ các nguyên tắc thì tổ chức vững mạnh, từ bỏ hoặc thực hiện không nghiêm túc các nguyên tắc thì sẽ dẫn đến sự rệu rã, giảm sút sức mạnh, thậm chí đứng trước nguy cơ tan rã của tổ chức. Cho đến trước Đại hội VII của Đảng (năm 1991), Đảng ta khẳng định trong Đảng có ba nguyên tắc: nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình, nguyên tắc đoàn kết thống nhất. Đại hội VII của Đảng bổ sung hai nguyên tắc: Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân và Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Điều lệ Đảng do Đại hội XI của Đảng thông qua khẳng định: “lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh, đồng thời thực hiện các nguyên tắc: tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”(2).

Trong công cuộc đổi mới gần 40 năm qua, để bảo đảm yêu cầu xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, Đảng ta luôn kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng và đạt được những thành tựu quan trọng. Một là, giữ vững các nguyên tắc xây dựng Đảng ngay khi khởi đầu công cuộc đổi mới. Hai là, khẳng định tính đúng đắn và kiên quyết giữ vững các nguyên tắc xây dựng Đảng trong thời điểm đặc biệt: chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, đảng cộng sản và công nhân ở các nước này mất vị thế cầm quyền. Ba là, không chỉ giữ vững các nguyên tắc xây dựng Đảng đã được khẳng định, mà còn bổ sung các nguyên tắc mới cần thiết; đồng thời, không ngừng tổng kết thực tiễn, hoàn thiện các nguyên tắc xây dựng Đảng đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Bốn là, vừa kiên định, vừa không ngừng cụ thể hóa, hoàn thiện nội dung của từng nguyên tắc. Năm là, kiên quyết bảo vệ nguyên tắc, kịp thời đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với các nguyên tắc xây dựng Đảng.

Những kinh nghiệm rút ra qua thực tiễn kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng
Một là, gắn việc kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng với kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định đường lối đổi mới.

Về bản chất, các nguyên tắc xây dựng Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam đều dựa chắc trên nền tảng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đảng cộng sản và công tác xây dựng Đảng. Vì thế, kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng đương nhiên gắn liền với kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xem đó như là một bộ phận hữu cơ của kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Không thể kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng nếu thoát ly những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đảng cộng sản. Việc kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng có sự bổ sung, phát triển cũng chính là sự tuân thủ, nhất quán quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về tránh giáo điều, rập khuôn máy móc học thuyết Mác - Lê-nin.

Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh trên cơ sở kiên định và thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc xây dựng Đảng cốt để Đảng thực hiện tốt sứ mệnh lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc trước đây và lãnh đạo đất nước giữ vững độc lập dân tộc, thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới, không ngừng phát triển, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ngày nay. Vì thế, kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng phải gắn kết chặt chẽ với việc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định đường lối đổi mới. Sẽ là trống rỗng, không có sức sống, thậm chí mất định hướng, nếu việc duy trì các nguyên tắc xây dựng Đảng không giải quyết được các vấn đề đặt ra trong nội bộ Đảng và trong hoạt động lãnh đạo của Đảng ở từng thời kỳ cách mạng; không đặt trong việc thực hiện mục tiêu giải phóng, giành độc lập dân tộc và giành chính quyền trước đây, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN hiện nay. Ở đây, việc gắn kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng với kiên định đường lối đổi mới bao hàm sự kiên định các nguyên tắc trong công cuộc đổi mới đất nước đã được Đảng ta xác định; kiên định đường lối phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên.

Hai là, kiên định nguyên tắc xây dựng Đảng bằng việc cụ thể hóa nguyên tắc trong Điều lệ Đảng, các nghị quyết, kết luận, quy chế, quy định, hướng dẫn của Đảng.

Các nguyên tắc xây dựng Đảng đều là những mệnh đề ngắn gọn, mang tính khái quát cao, trong khi hệ thống tổ chức của Đảng, thực tiễn công tác xây dựng Đảng và hoạt động của Đảng rất phong phú, đa dạng. Trên thực tế, không phải tất cả cán bộ, đảng viên đều có thể nhận thức đúng về các nguyên tắc; loại trừ những trường hợp cố tình vận dụng sai, vi phạm nguyên tắc vì mục đích cá nhân, “lợi ích nhóm”, có không ít trường hợp hiểu nguyên tắc chưa thật chuẩn xác, hoặc có các cách hiểu khác nhau. Cũng có nhiều tình huống thực tế mà các quy định của Đảng chưa bao quát hết, chưa cụ thể, hoặc bị lạc hậu... Do đó, để kiên định nguyên tắc, thì việc cụ thể hóa nguyên tắc trong Điều lệ Đảng, các nghị quyết, kết luận, quy chế, quy định, hướng dẫn của Đảng là nhiệm vụ đặc biệt cần thiết; trong đó, cần coi trọng việc xây dựng, ban hành, thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy chế làm việc của các cơ quan lãnh đạo đảng các cấp, quy chế quan hệ công tác giữa các cấp ủy, tổ chức đảng. Chẳng hạn, trong điều kiện có chính quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, các cấp ủy viên được bố trí đảm nhiệm cương vị người đứng đầu, các vị trí chủ chốt trong cơ quan nhà nước, nội dung “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” trong nguyên tắc tập trung dân chủ cần được quy định phù hợp; cũng là cơ quan lãnh đạo đảng, nhưng đảng đoàn, ban cán sự đảng có nhiều đặc điểm khác cả về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phương thức hoạt động so với cấp ủy... Việc áp dụng nguyên tắc tập trung dân chủ trong các lĩnh vực tư tưởng, tổ chức và cán bộ, công tác bảo vệ chính trị nội bộ, kinh tế, văn hóa, tư pháp, quốc phòng, an ninh cũng cần có quy định phù hợp.

Ba là, bám sát thực tế tổ chức và thực tiễn hoạt động của Đảng để kịp thời bổ sung, hoàn thiện nội dung của các nguyên tắc xây dựng Đảng.

Các nguyên tắc xây dựng Đảng có vai trò đặc biệt quan trọng, việc thêm bớt nguyên tắc, điều chỉnh nội dung của từng nguyên tắc cần được cân nhắc kỹ lưỡng, hết sức thận trọng. Việc cụ thể hóa các nguyên tắc, nhất là bổ sung, hoàn thiện các nguyên tắc phải được nghiên cứu nghiêm túc, công phu, làm rõ và tạo được sự đồng tình cao về căn cứ lý luận và thực tiễn. Có những vấn đề cần soi chiếu với các nguyên lý của học thuyết Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đảng cộng sản để khẳng định chắc chắn cơ sở lý luận, đồng thời chú trọng việc bám sát, tổng kết thực tiễn tổ chức và hoạt động của Đảng. Qua tổng kết thực tiễn, những nội dung gì đã rõ, được thực tiễn khẳng định là đúng đắn, được đa số đồng tình thì đưa vào quy chế, quy định; những vấn đề gì thấy cần thiết sửa đổi, nhưng ý kiến còn khác nhau nhiều, thì tổ chức làm thí điểm, sau đó tiến hành tổng kết, kết luận; đối với những vấn đề quá mới, chưa rõ về căn cứ lý luận và thực tiễn, thì tổ chức tiếp tục nghiên cứu, chưa đưa vào quy chế, quy định. Quá trình sửa đổi Điều lệ Đảng, bổ sung, hoàn thiện quy chế, quy định cần được tổ chức thực hiện một cách hết sức dân chủ, khách quan, có sự đóng góp của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, cơ quan khoa học, kể cả cán bộ có nhiều kinh nghiệm trong công tác xây dựng Đảng đã nghỉ hưu. Ngoài ra, cũng cần quan tâm nghiên cứu thực tế, kinh nghiệm của các đảng cộng sản cầm quyền để tham khảo chọn lọc những vấn đề thiết thực trong quá trình điều chỉnh những quy định liên quan đến nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng.  

Bốn là, thường xuyên làm tốt công tác tư tưởng, tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng về các nguyên tắc xây dựng Đảng.

Các nguyên tắc xây dựng Đảng là vấn đề sống còn của Đảng, bảo đảm cho Đảng luôn đề ra được cương lĩnh, đường lối đúng đắn; đoàn kết, thống nhất cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, ý chí và hành động; luôn trong sạch, vững mạnh, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tuyệt đối tin tưởng.

Một mặt, các nguyên tắc xây dựng Đảng đòi hỏi sự tuân thủ của tổ chức đảng và toàn thể đảng viên, trong đó có không ít quy định phòng ngừa, ngăn chặn sự tự do tùy tiện của những nhóm, cá nhân đảng viên muốn lợi dụng danh nghĩa Đảng để mưu cầu lợi ích riêng; mặt khác, sự nhận thức đúng đắn và đầy đủ, sự thông suốt tư tưởng của cán bộ, đảng viên về các nguyên tắc luôn là tiền đề đối với việc thực hiện nghiêm túc và sáng tạo nguyên tắc. Vì vậy, công tác tư tưởng của Đảng phải thường xuyên làm cho tất cả cán bộ, đảng viên nhận thức đúng về vai trò, tầm quan trọng của các nguyên tắc xây dựng Đảng, nội dung của từng nguyên tắc, mối quan hệ mật thiết giữa các nguyên tắc; xác định đúng trách nhiệm của tổ chức đảng, cá nhân trong thực hiện nghiêm các nguyên tắc; kịp thời phê phán nhận thức lệch lạc và đấu tranh, thi hành kỷ luật tổ chức, cá nhân cán bộ, đảng viên vi phạm nguyên tắc.

Năm là, xử lý hợp lý mối quan hệ giữa thực hiện các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng với các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội.

Trong điều kiện Đảng ta là Đảng duy nhất cầm quyền, trong tất cả cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, quân đội, công an, các đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ vốn điều lệ đều có tổ chức đảng; đồng thời, hầu hết vị trí lãnh đạo chủ chốt của tổ chức, cơ quan đó do đảng viên đảm nhiệm. Trong sự nghiệp đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN hiện nay thì việc thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng có ảnh hưởng lớn và sâu sắc đến tổ chức và hoạt động của các tổ chức khác, nhất là các tổ chức trong hệ thống chính trị.

Về nguyên tắc, Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác tổ chức, lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong toàn bộ hệ thống chính trị. Tuy nhiên, ở đây có những đặc điểm tạo nên sự khác biệt cần được quan tâm để xử lý đúng. Chẳng hạn, tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng, cũng là nguyên tắc tổng quát trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, nhưng nhiều cơ quan nhà nước (bộ, cơ quan ngang bộ, kiểm toán nhà nước, cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân...) lại hoạt động theo chế độ thủ trưởng; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên, trong khi Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, liên hiệp, thống nhất hành động. Cơ quan lãnh đạo Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp do bầu cử lập ra, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Vì vậy, trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội phải vừa bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, các tổ chức đảng trong các cơ quan, tổ chức đó thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc của Đảng, vừa phát huy vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị, tuân thủ pháp luật, tôn trọng điều lệ và đặc điểm về tổ chức, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và từng tổ chức chính trị - xã hội.

Sáu là, kịp thời chấn chỉnh những nhận thức lệch lạc, xử lý những biểu hiện vi phạm nguyên tắc xây dựng Đảng; kiên quyết đấu tranh phản bác luận điệu của các thế lực thù địch xuyên tạc, hòng phủ nhận, bác bỏ các nguyên tắc xây dựng Đảng.

Trong các văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, các nghị quyết Hội nghị Trung ương chuyên đề về công tác xây dựng Đảng đều có nội dung phê phán những nhận thức lệch lạc và những biểu hiện vi phạm các nguyên tắc xây dựng Đảng. Trong những năm gần đây, về nguyên tắc tập trung dân chủ, Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16-1-2012, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” chỉ rõ: “Nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” trên thực tế ở nhiều nơi rơi vào hình thức do không xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân; khi sai sót, khuyết điểm không ai chịu trách nhiệm. Do vậy, vừa có hiện tượng dựa dẫm vào tập thể, không rõ trách nhiệm cá nhân, vừa không khuyến khích người đứng đầu có nhiệt tình, tâm huyết, dám nghĩ, dám làm; tạo kẽ hở cho cách làm việc tắc trách, trì trệ, hoặc lạm dụng quyền lực một cách tinh vi để mưu cầu lợi ích cá nhân”(3). Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30-10-2016, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” phê phán khuyết điểm trong thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình: “Tự phê bình và phê bình nhiều nơi mang tính hình thức; vẫn còn tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm; một số cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình trong công việc được giao”(4). Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ ra 1 trong 5 nguyên nhân của những hạn chế, khuyết điểm của công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ vừa qua là: “Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm, thậm chí còn vi phạm, mất đoàn kết nội bộ, có nơi còn biểu hiện cục bộ, lợi ích nhóm. Kiểm soát quyền lực còn lúng túng, hiệu quả thấp”(5). Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”” cũng chỉ ra một trong những nguyên nhân chủ yếu của hạn chế, khuyết điểm của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là: “Không thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, chưa gương mẫu, mất đoàn kết nội bộ, chưa thẳng thắn đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thậm chí còn cục bộ, lợi ích nhóm, bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất, thờ ơ, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân”(6). Từ hạn chế, khuyết điểm đó, Đảng kịp thời đề ra chủ trương, biện pháp để khắc phục và phòng ngừa, không để tái phạm, kể cả xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên vi phạm, tạo sự cảnh báo, răn đe.

Việc đấu tranh phản bác luận điệu của các thế lực thù địch xuyên tạc, bác bỏ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng được Đảng ta thường xuyên quan tâm. Trong những năm gần đây, nhất là từ khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, việc phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch và phê phán nhận thức lệch lạc của cán bộ, đảng viên về công tác xây dựng Đảng, trong đó có các nguyên tắc xây dựng Đảng, được đẩy mạnh, trở thành phong trào rộng khắp, đi vào chiều sâu, đem lại hiệu quả tích cực.

Những vấn đề đặt ra trong tiếp tục thực hiện kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng
Một là, thống nhất quan niệm về các nguyên tắc xây dựng Đảng.

Cho đến trước Đại hội VII của Đảng, các văn kiện của Đảng dùng khái niệm “nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng”, vì ba nguyên tắc: tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, đoàn kết thống nhất điều chỉnh các quan hệ nội bộ của Đảng. Từ Đại hội VII của Đảng, trong các văn kiện của Đảng dùng phổ biến cụm từ “các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng”, vì đã bổ sung hai nguyên tắc: Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân; Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật - các nguyên tắc điều chỉnh với nhân dân, với Nhà nước, dưới sự điều chỉnh của pháp luật. Cách diễn đạt như vậy là chính xác cả về lý luận và thực tiễn. Trong điều kiện Đảng lãnh đạo, cầm quyền, Đảng không chỉ xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh, mà quan trọng là thực hiện tốt vai trò lãnh đạo, cầm quyền đối với Nhà nước và xã hội. Trong hoạt động lãnh đạo của Đảng cần có các nguyên tắc điều chỉnh hoạt động của Đảng, theo đó cần gọi đầy đủ là “nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng”. Việc dùng thêm khái niệm “nguyên tắc xây dựng Đảng” như một cách gọi tắt của khái niệm “nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng”, cần có sự giải thích để tạo sự thống nhất về nhận thức.

Về nguyên tắc tập trung dân chủ, cần thống nhất chỉ là “nguyên tắc tập trung dân chủ”, không nên viết kèm cụm từ “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”. Chỉ nên gọi “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” là “chế độ” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dùng: “Những người cán bộ phải thực hành cho kỳ đúng cái chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”(7).

Hai là, nghiên cứu sửa đổi Điều lệ Đảng.
Điều lệ Đảng hiện hành được Đại hội XI của Đảng (năm 2011) thông qua, các Đại hội XII và XIII của Đảng không sửa đổi Điều lệ Đảng. Thực tiễn xây dựng Đảng và hoạt động của Đảng trong hơn 10 năm qua đã đặt ra nhiều vấn đề mới cần được chế định trong Điều lệ Đảng. Trong những năm qua, trong các nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị các khóa đã có các quy định mới, được thực tiễn ghi nhận là cần thiết và đúng đắn, nhưng cần được điều chỉnh bằng văn bản cao nhất là Điều lệ Đảng. Chẳng hạn, liên quan đến nguyên tắc tập trung dân chủ, cần hoàn thiện cách diễn đạt về việc lập cơ quan lãnh đạo của Đảng ở các cấp để bao quát cả các đảng đoàn, ban cán sự đảng, các đảng ủy quân sự, chế độ báo cáo và chịu trách nhiệm của các đảng đoàn, ban cán sự đảng...; trong nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân cần bổ sung nội dung đã được ghi trong Hiến pháp năm 2013: Đảng Cộng sản Việt Nam “gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”, cũng như quan điểm “dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng” - đã được Đại hội XIII của Đảng khẳng định.

Ba là, giải quyết hợp lý việc phân cấp, ủy quyền với giữ vững sự thống nhất trong thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng.
Đương nhiên, các nguyên tắc của Đảng có hiệu lực áp dụng chung trong toàn Đảng; trong khi đó, hệ thống tổ chức của Đảng có nhiều cấp, nhiều loại hình, nên phải thực hiện việc phân cấp, ủy quyền để phát huy vai trò, trách nhiệm, tính chủ động, sáng tạo của từng cấp phù hợp với đặc điểm của từng cấp, từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Các nguyên tắc xây dựng Đảng cũng được vận dụng thích hợp với cấp ủy, tổ chức đảng từng cấp, từng địa phương, cơ quan, đơn vị, trong đó có sự phân cấp, ủy quyền nhất định. Tuy nhiên, khi phân cấp, ủy quyền sẽ có thể phát sinh hai khuynh hướng: Hoặc phân cấp, ủy quyền quá hẹp khiến cấp dưới luôn bị động, phụ thuộc cấp trên, phải xin ý kiến cấp trên, cấp trên thành ra bao biện...; hoặc phân cấp, ủy quyền quá rộng dẫn đến cấp dưới có thể lộng quyền, lạm quyền, cấp trên không kiểm soát được. Vì vậy, trong các quy chế, quy định thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng cần đặc biệt quan tâm xử lý thỏa đáng việc phân cấp, ủy quyền mạnh mẽ hơn, đồng thời vẫn giữ vững được sự thống nhất trong thực hiện các nguyên tắc của Đảng.

Bốn là, hoàn thiện cơ chế giám sát, kiểm soát việc thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng.
Quyền lực trong Đảng phải được kiểm soát để tránh cả khuynh hướng lạm quyền, lộng quyền và khuynh hướng không thực hiện đầy đủ quyền hạn được giao. Theo đó, việc thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng cũng phải được kiểm tra, giám sát, kiểm soát một cách chặt chẽ, thường xuyên, hiệu quả. Các quy định của Ban Chấp hành Trung ương từng nhiệm kỳ về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng(8) đã có nhiều quy định, chế tài liên quan đến kiểm soát quyền lực trong Đảng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hầu hết tổ chức đảng, cán bộ bị xử lý kỷ luật bằng các hình thức khác nhau trong thời gian qua đều do vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; ở nhiều nơi, vẫn còn tình trạng thực hiện tự phê bình và phê bình chưa nghiêm túc, còn nể nang, né tránh, đoàn kết xuôi chiều; quan hệ của cấp ủy, cán bộ, đảng viên với nhân dân chưa thật chặt chẽ; một số cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng can thiệp không đúng thẩm quyền vào công việc của cơ quan nhà nước... Điều đó rõ ràng đòi hỏi tăng cường hơn nữa hoạt động kiểm soát quyền lực trong Đảng nói chung, kiểm soát việc thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng nói riêng, trước hết là đối với các cơ quan lãnh đạo đảng và người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng ở các cấp. Việc kiểm soát này cần được quy chế hóa thành các quy chế, quy định chặt chẽ, cụ thể, có chế tài xử lý vi phạm (nếu có) theo tinh thần “nhốt quyền lực trong lồng cơ chế”, nhất là đối với những lĩnh vực, vấn đề dễ xảy ra sai phạm./.
Môi trường ST.

"ĐỀ CAO ĐỂ HẠ BỆ"-THỦ ĐOẠN NHAM HIỂM

 Với âm mưu thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ chính trị ở nước ta, các thế lực thù địch dùng mọi thủ đoạn chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng.

Một trong những luận điệu tinh vi mà chúng thường sử dụng là ra sức đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh nhưng lại đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin nhằm phá hủy gốc rễ nền tảng tư tưởng của Đảng. Vì thế, chống lại luận điệu xuyên tạc này là một nội dung căn cốt trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay.

Sự tinh vi của những giọng điệu phản khoa học

Giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin tồn tại mối quan hệ biện chứng. Chủ nghĩa Mác-Lênin là cội nguồn lý luận cơ bản hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam và đều là bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mọi luận điệu đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin đều là phản khoa học, phản lịch sử.

Trước hết, họ phủ nhận sự tồn tại của tư tưởng Hồ Chí Minh với lý do Hồ Chí Minh chỉ là nhà hoạt động thực tiễn chứ không phải nhà tư tưởng. Mặc dù giá trị, tầm vóc của tư tưởng Hồ Chí Minh đã được kiểm định bằng thắng lợi của cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới, được thừa nhận bởi các học giả trong và ngoài nước, những kẻ xuyên tạc vẫn rêu rao rằng “tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là sự tô vẽ của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Việc phủ nhận sự tồn tại và giá trị to lớn, bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh không xuất phát từ lý do khoa học mà từ động cơ chính trị đen tối là làm mất đi sức mạnh nền tảng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Các đối tượng chống phá còn có một giọng điệu hoàn toàn khác là ra sức ca tụng, đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh và phủ nhận giá trị của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Để hạ bệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, họ đã đưa ra nhiều lý do khác nhau. Đầu tiên, họ vin vào “yếu tố thời đại”, rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ 19, cùng lắm là đầu thế kỷ 20, chỉ thích hợp với văn minh công nghiệp; còn bây giờ nhân loại đã ở thế kỷ 21, trong thời đại kinh tế tri thức và toàn cầu hóa, sứ mệnh của giai cấp công nhân đã khác đi, vai trò của trí thức “lên ngôi” nên Chủ nghĩa Mác đã trở nên lỗi thời và bị lịch sử vượt qua. Đây cũng là cách lập luận rất hàm hồ bởi cho dù thời đại mà chúng ta đang sống khác rất nhiều so với thời đại mà Mác, Ăngghen, Lênin đã sống nhưng những biến đổi của nó vẫn không vượt ra ngoài những quy luật chung nhất mà Chủ nghĩa Mác-Lênin đã khám phá ra. Với đặc tính mở, Chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn là lý luận và phương pháp luận khoa học cho sự nhận thức xã hội, nhận thức thời đại mà chưa có một chủ nghĩa, học thuyết chính trị nào có thể thay thế.

Nhận dạng chiêu trò "đề cao để hạ bệ"
Ảnh minh họa / tuyengiao.vn 

“Yếu tố địa lý” cũng là lý do để đối tượng chống phá ra sức phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là sản phẩm của Việt Nam, nó là học thuyết  “ngoại lai”, “nhập ngoại” từ phương Tây nên không phù hợp với Việt Nam. Những đối tượng đưa ra luận điệu trên đã cố tình không hiểu sức mạnh của sự trừu tượng hóa, khái quát hóa và tầm nhìn thời đại của lý luận Mác-Lênin. Mặc dù Chủ nghĩa Mác-Lênin có nguồn gốc lý luận trực tiếp từ phương Tây nhưng đúng như Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định, “chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng cả ở đó”(1), tức là ở phương Đông, nhất là khi nó đã được bổ sung bằng “dân tộc học phương Đông” như Nguyễn Ái Quốc từng nhấn mạnh và nỗ lực thực hiện.

Lý do thứ ba để họ phản bác Chủ nghĩa Mác-Lênin chính là sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, rằng sự sụp đổ đã chứng tỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin sai lầm từ bản chất chứ không phải là do nhận thức sai, vận dụng sai. Họ cố tình không hiểu rằng sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô là sự sụp đổ của một mô hình xã hội chủ nghĩa nhiều khuyết tật và chậm được sửa chữa chứ không phải sự sụp đổ của một học thuyết khoa học. Tính bền vững của Chủ nghĩa Mác-Lênin so với các học thuyết khác nằm ở chỗ nó dựa trên một thế giới quan khoa học là phép biện chứng duy vật. Lý do thứ tư họ đưa ra để đòi hủy bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin chính là sự khác biệt giữa Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vì Chủ nghĩa Mác chủ trương đấu tranh giai cấp, Hồ Chí Minh lại chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc và Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không phải theo chủ nghĩa cộng sản; do đó, không có gì chung giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin. Họ còn cho rằng, trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam đã tồn tại “cuộc nội chiến về tư tưởng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin” nhưng thực chất đó chỉ là sự đấu tranh giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với các quan điểm giáo điều, cứng nhắc trong vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin mà thôi.

Sau khi đưa ra nhiều “cơn cớ” đầy tính ngụy biện như vậy, họ đi đến kết luận: Lúc này chỉ cần nói đến tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là “đáng giá” và vì thế, cần loại bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng.

Kiên định, kiên quyết bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Luận điệu “đề cao” tư tưởng Hồ Chí Minh, đem tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với Chủ nghĩa Mác-Lênin là hoàn toàn đối lập với tình cảm, tâm nguyện của bản thân Hồ Chí Minh.

Sinh thời, từ lúc trở thành người cộng sản (năm 1920) cho đến khi từ giã cõi đời, Hồ Chí Minh luôn gắn bó chặt chẽ và hết lời đề cao Chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ năm 1927, Người đã khẳng định: Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là Chủ nghĩa Lênin. Câu nói của Hồ Chí Minh, rằng “tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu Chủ nghĩa Các Mác”(2) đã nói lên sự lựa chọn kiên quyết của Người. Để nói về vai trò to lớn của Chủ nghĩa Mác-Lênin với cách mạng Việt Nam, Người còn khẳng định: “Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản".

Sự gắn bó không thể tách rời của Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin còn thể hiện qua những tình tiết rất sinh động và cảm động. Khi viết Di chúc gửi lại, Người đã gọi việc từ giã cõi đời của mình là “đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin” bởi giữa các bậc vĩ nhân ấy là sự đồng điệu về khát vọng giải phóng con người và “tình hữu ái vô sản” thiêng liêng. Trong lần trả lời phỏng vấn cuối cùng vào ngày 15-7-1969, Hồ Chí Minh còn khẳng định: “Chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng... trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là Chủ nghĩa Mác-Lênin".

Như vậy, từ lúc rơi những giọt nước mắt hạnh phúc khi đọc bản “Luận cương” của Lênin cho đến tháng ngày cuối cùng của cuộc đời, Hồ Chí Minh đều gắn bó với Chủ nghĩa Mác-Lênin bằng tình yêu và lòng trung thành trên tinh thần biện chứng. Do đó, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin là một sự xuyên tạc lịch sử mà Hồ Chí Minh là một nhân chứng sống động nhất.

Phải khẳng định rằng: Việc đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh và hạ thấp Chủ nghĩa Mác-Lênin thực chất là một âm mưu đen tối, thủ đoạn tinh vi. Sự nguy hiểm của nó nằm ở tính ngụy biện, dễ làm người ta ngộ nhận, tin theo bởi nó “đánh vào” tình yêu lãnh tụ và tinh thần tự tôn dân tộc. Tuy nhiên, đây thực chất không phải là sự ca ngợi, không phải là đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh theo đúng giá trị của nó mà chỉ là thủ pháp “nâng lên để hạ xuống”, là tìm cách cô lập, tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi ngọn nguồn lý luận chủ yếu của nó để qua đó làm suy yếu và tiến tới phủ định chính tư tưởng Hồ Chí Minh. Sâu xa hơn, những kẻ chống phá không chỉ phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin hay tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn muốn phủ nhận toàn bộ cương lĩnh, đường lối của Đảng được hoạch định trên nền tảng tư tưởng đó để đi đến mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ đang hiện hành, xóa bỏ định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.   

Để chống lại giọng điệu xuyên tạc, xảo trá này, trước hết cần giáo dục nâng cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn dân về mối quan hệ biện chứng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin và động cơ đen tối của lực lượng chống phá khi phủ nhận mối quan hệ này. Phải làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân thấu hiểu rằng, quan hệ giữa Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là quan hệ giữa cội nguồn và phát triển, giữa cái chung và cái đặc thù nên “tuy hai mà là một, tuy một mà là hai”. Cho dù tư tưởng Hồ Chí Minh có nhiều điểm sáng tạo so với Chủ nghĩa Mác-Lênin nhưng nó lại thống nhất với Mác-Lênin ở chiều sâu bản chất, ở lý tưởng giải phóng con người cùng khổ.

Cùng với đó, cần tăng cường công tác giáo dục lý luận chính trị để cán bộ, đảng viên thấu hiểu nội dung, bản chất, giá trị bền vững của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Hiện trạng “nhạt đảng, phai đoàn, khô lý tưởng” và căn bệnh lười học lý luận chính trị của một bộ phận cán bộ, đảng viên chính là “mảnh đất màu mỡ” cho kẻ thù đẩy mạnh công tác phản tuyên truyền. Vì thế, làm tốt công tác giáo dục, tích cực bồi đắp tri thức khoa học cho cán bộ và nhân dân chính là tạo “vắc-xin” phòng, chống sự xâm nhập của các luồng thông tin xấu, độc.

Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta phải kiên định và tăng cường hơn nữa sự vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam bởi thực tiễn là nơi kiểm nghiệm mọi chân lý một cách xác thực nhất. Ngược lại, mỗi hành vi sai trái của cá nhân và tổ chức đảng đều là sự tiếp tay cho các thế lực thù địch trong việc tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Vì thế, việc tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải gắn chặt với công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh.  

Lịch sử phát triển của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh luôn song hành với cuộc đấu tranh bảo vệ chân giá trị của học thuyết và chống lại những quan điểm sai trái thù địch. Vì thế, đấu tranh chống lại quan điểm đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin là việc làm mang tính quy luật nhằm gia tăng sức mạnh của Đảng và làm thất bại mưu đồ xuyên tạc, chống phá của các lực lượng thù địch. Bằng sự đúng đắn trong nhận thức cũng như trong hành động, mỗi cá nhân, tổ chức trong hệ thống chính trị phải có trách nhiệm tham gia vào việc khẳng định chân lý: Thế giới còn đổi thay nhưng Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi.