Thứ Bảy, 4 tháng 5, 2024

Vai trò, trách nhiệm của báo chí cách mạng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng công tác tư tưởng, tuyên truyền, dân vận. Đây được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng của cách mạng. Sự thành công của công tác này có vai trò của báo chí.

Báo chí phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và Đảng lãnh đạo trực tiếp toàn diện báo chí bằng đường lối, chủ trương, chính sách.

Báo chí phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và Đảng lãnh đạo trực tiếp toàn diện báo chí bằng đường lối, chủ trương, chính sách.

Vì thế, Hồ Chí Minh và Đảng ta quan tâm đến xây dựng và phát triển báo chí cách mạng Việt Nam, coi đây là một trong những phương thức để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Nhờ đó, nền báo chí cách mạng Việt Nam đạt nhiều kết quả, đóng góp tích cực vào công cuộc kiến thiết nước nhà nói chung và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nói riêng. 

Cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý Nhà nước đối với hoạt động báo chí trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý Nhà nước đối với hoạt động báo chí trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Quan điểm của Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò, trách nhiệm của báo chí trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong thời đại ngày nay, không có tờ báo chính trị thì không thể có phong trào gọi là chính trị”, “chúng ta cần trước hết là tờ báo, không có nó thì không thể tiến hành một cách có hệ thống cuộc tuyên truyền, cổ động hết sức có nguyên tắc và toàn diện” báo chí cần “chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”; “cần phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hoà bình thế giới”. “Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu”. Như vậy, báo chí là một bộ phận quan trọng của sự nghiệp cách mạng, là vũ khí sắc bén trong công cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc và xây dựng cuộc sống mới cho nhân dân. Để làm được điều đó, Người yêu cầu: “Đối với những người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng để động viên quần chúng đoàn kết đấu tranh, chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, chống chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ, vì độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội và hòa bình thế giới”. 

Với người làm báo, Hồ Chí Minh quan niệm: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng”. Họ là người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng của Đảng, góp phần quan trọng trong công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Để hoàn thành nhiệm vụ đó, Hồ Chí Minh yêu cầu người làm báo phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, trau dồi tư tưởng, học tập chính trị để nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đi sâu vào thực tế, đi sâu vào quần chúng lao động, phải luôn nâng cao trình độ văn hoá, rèn giũa nghiệp vụ, mài sắc ngòi bút của mình trong sự nghiệp cách mạng. Hồ Chí Minh căn dặn: “Về trách nhiệm báo chí, Lênin có nói: Báo chí là người tuyên truyền, người cổ động, người tổ chức chung, người lãnh đạo chung. Vì vậy, nhiệm vụ của người làm báo là quan trọng và vẻ vang. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản; phải nâng cao trình độ văn hoá, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình. Cần phải luôn luôn cố gắng, mà cố gắng thì nhất định thành công”.
Để báo chí nói chung và người làm báo nói riêng làm được điều đó cần bảo đảm nguyên tắc: “Ban Chấp hành Trung ương phải kiểm soát các báo chí của Đảng để tránh những khuyết điểm về kỹ thuật và chính trị”. Người yêu cầu phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, trong đó có việc đưa đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam vào phụ trách báo chí của Đảng. Theo Hồ Chí Minh, muốn có đóng góp tích cực nhất vào công cuộc kháng chiến kiến quốc, báo chí phải tự giác phục tùng và tranh thủ tối đa sự lãnh đạo của Đảng. “Chính vì thế cho nên, tất cả những người làm báo (người viết, người in, người sửa bài, người phát hành, v.v.) phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên các báo chí của ta đều phải có đường lối chính trị đúng”.
Để khẳng định tính tất yếu phải có sự lãnh đạo của Đảng trong báo chí, Hồ Chí Minh chỉ dẫn: “Tờ báo của chúng ta có mấy điểm chính: 1. Nhiệm vụ của tờ báo là tuyên truyền, cổ động, huấn luyện, giáo dục, và tổ chức dân chúng, để đưa dân chúng đến mục đích chung. 2. Mục đích là kháng chiến và kiến quốc. Để đi đến kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công, thì: 3. Tôn chỉ của tờ báo là đoàn kết toàn dân, thi đua ái quốc. Vì vậy: 4. Đối tượng của tờ báo là đại đa số dân chúng. Một tờ báo không được đại đa số dân chúng ham chuộng, thì không xứng đáng là một tờ báo. Muốn được dân chúng ham chuộng, coi tờ báo ấy là tờ báo của mình, thì: 5. Nội dung tức là các bài báo phải giản đơn, dễ hiểu, phổ thông, thiết thực, hoạt bát. Và: 6. Hình thức tức là cách sắp đặt các bài, cách in phải sạch sẽ, sáng sủa. Hiện nay, các báo ta thường có những khuyết điểm sau đây: Về mặt tuyên truyền thì không kịp thời và chính trị suông quá nhiều” (10).

Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về trách nhiệm của báo chí cách mạng, hơn 96 năm qua, Đảng ta luôn quan tâm lãnh đao, chỉ đạo công tác báo chí. Đảng khẳng định: báo chí cách mạng phải làm tốt chức năng tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, phát hiện, khẳng định và nhân rộng ra toàn xã hội cái hay, cái đẹp, những điển hình, những nhân tố mới; đồng thời, phải tích cực đấu tranh phê phán cái xấu, tiêu cực, uốn nắn những nhận thức lệch lạc, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Cương lĩnh chính trị được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (sửa đổi, bổ sung tại Đại hội lần thứ XI) và tiếp tục khẳng định tại Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013:“Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động”. Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, đã xác định phải “phát huy vai trò của báo chí truyền thông”. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định:“Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng… Tích cực đấu tranh, phản bác có hiệu quả quan điểm sai trái của các thế lực thù địch” (11). Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định nhiệm vụ: Xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại. Thực hiện tốt quy hoạch, phát triển hệ thống báo chí, truyền thông, sắp xếp ngành xuất bản, in và phát hành theo hướng tinh gọn, chất lượng, hiện đại hóa. Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên internet. Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục.
Từ khi Nghị quyết 35 được ban hành, báo chí đã chủ động, tích cực tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Báo chí đã thể hiện rõ vai trò quan trọng trong tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước. Từ đó, góp phần khẳng định những thành tựu, tính ưu việt của chế độ, sự đúng đắn trong lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng và Nhân dân ta. Đặc biệt, hình ảnh con người Việt Nam vì cộng đồng trong ứng phó với đại dịch Covid-19 được báo chí truyền thông cập nhật thường xuyên, toàn diện, sáng tạo đến đông đảo nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế. Báo chí tích cực tham gia, tiên phong trong công tác đấu tranh, trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Nhiều cây bút - nhà báo chuyên sâu về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng với những bài viết có tính chiến đấu, thuyết phục cao... góp phần phản bác quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, góp phần ngăn chặn và đẩy lùi các âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố và tăng cường niềm của Nhân dân. Có thể nói, báo chí đã góp phần quan trọng trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Bên cạnh các kết quả đạt được, sự đóng góp của nhà báo vào công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng còn hạn chế. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân do tri thức lý luận chính trị của một bộ phận đội ngũ báo chí chưa thực sự sâu sắc, nhận thức về các vấn đề cơ bản của chủ nghĩa - Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước còn hạn chế. Nguyên nhân của vấn đề này là một số cơ quan đại chúng chưa có chính sách bồi dưỡng lý luận chính trị thường xuyên, liên tục, hợp lý cho nhà báo; một số nhà báo còn ngại, lười học chính trị. Do đó, nhận thức về bảo vệ nền tảng của Đảng chưa toàn diện, coi bút chiến là chính mà chưa chú trọng đến tuyên truyền cái hay, cái đẹp để chứng minh điều ngược lại. Nhiều bài viết chưa xác định rõ đối tượng mình hướng đến để đấu tranh, tuyên truyền, từ đó cách viết, ngôn từ chưa thực sự phù hợp.
Nâng cao vai trò của báo chí trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Để phát huy vai trò của công tác báo chí trong công tác đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau.

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý Nhà nước đối với hoạt động báo chí trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Báo chí phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và Đảng lãnh đạo trực tiếp toàn diện báo chí bằng đường lối, chủ trương, chính sách, những định hướng lớn và nội dung tư tưởng đối với báo chí, bằng công tác cán bộ đối với các tổ chức cơ quan báo chí. Nghị quyết Trung ương 5 (khoá X) về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí đã nhấn mạnh phải hoàn thiện cơ chế chính sách và luật pháp.

Chủ trương của Đảng phải được thể chế hóa thành hệ thống pháp luật, thể chế liên quan lĩnh vực báo chí, truyền thông và công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong đó, chú trọng các văn bản pháp luật tạo hành lang pháp lý cho báo điện tử, mạng xã hội và các loại hình truyền thông trên internet phát triển, phục vụ sự nghiệp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Các cơ quan chức năng cần tham mưu sửa đổi, bổ sung Luật Báo chí năm 2016 và các luật liên quan; xây dựng cơ chế, chính sách kinh tế báo chí, đặt hàng báo chí, truyền thông phục vụ nhiệm vụ chính trị; chính sách đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp và lý luận chính trị cho lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí, truyền thông.
Hai là, nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác báo chí nói chung và đội ngũ làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng nói riêng.
Cán bộ lãnh đạo, quản lý báo chí ngoài tri thức, hiểu biết về báo chí, cần có trình độ lý luận chính trị, hiểu biết về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước. Người lãnh đạo cũng cần có khả năng vận dụng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào công tác chỉ đạo báo chí. Đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch không được áp đặt chủ quan, không dùng mệnh lệnh hành chính đơn thuần; phải lấy thực tiễn khách quan làm tiêu chuẩn, thước đo để đấu tranh, phê phán, bác bỏ. Cùng với việc đấu tranh, phê phán, bác bỏ các quan điểm thù địch, sai trái cần khẳng định, tuyên truyền, phổ biến những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định những thành tựu trong chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta. Mặt khác, người cán bộ lãnh đạo báo chí cần có năng lực, bản lĩnh về chuyên môn, nghiệp vụ để có thể ra quyết định đăng tải tin, bài; bảo đảm đặt lên hàng đầu lợi ích của Đảng, quốc gia, dân tộc, Nhân dân.
Người làm báo nói chung phải có lập trường chính trị vững vàng, nhà báo phải là chiến sĩ trên mặt trận đấu tranh cách mạng. Do đó, lập trường chính trị tư tưởng vững chắc là tiêu chuẩn và là yêu cầu hàng đầu đối với mỗi người làm báo. Cần đa dạng các hình thức đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, báo chí, như: học tập chính trị, thảo luận chuyên đề, thực tiễn tác nghiệp báo chí hoặc thông qua sinh hoạt của chi bộ, đoàn thanh niên, công đoàn… Thông qua các hình thức này đội ngũ phóng viên, biên tập viên không chỉ nắm vững quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những chủ trương và chỉ đạo của Đảng, chính sách của Nhà nước,... mà còn có điều kiện thể hiện chính kiến quan điểm của mình, thể hiện tin, bài một cách khách quan, khoa học.
Ba là, tăng cường đầu tư các nguồn lực cho các cơ quan báo chí, truyền thông và công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Chú trọng rà soát, hoàn thiện cơ chế tài chính đối với công tác tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nói chung và các cơ quan báo chí nói riêng. Rà soát, xây dựng, bổ sung, hoàn thiện quy định, hướng dẫn về chế độ tài chính đối với tin bài, ấn phẩm đấu tranh phản bác trên báo chí, truyền thông và trên không gian mạng. Có chế độ khuyến khích đội ngũ báo chí trong tuyên truyền thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, những mô hình mới, nhân tố mới, người tốt việc tốt… Đồng thời, cần đầu tư tài chính phù hợp cho việc trang cấp trang thiết bị hiện đại cho cơ quan báo chí, trong đó, ưu tiên cho đội ngũ là công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng./.

ST.

Thực chất học thuyết phản kháng phi bạo lực - cơ sở lý luận của “cách mạng màu”

Kể từ sau Chiến tranh Lạnh, thế giới chứng kiến sự bùng nổ làn sóng chính trị chưa từng có được gọi bằng những cái tên khác nhau rất mỹ miều, như “cách mạng màu”, “mùa xuân Arab”, hay “biểu tình hòa bình” núp dưới các yêu sách “đòi dân sinh”, “xúc tiến dân chủ”, “cải cách”, “bảo vệ nhân quyền”, “chống tham nhũng”, “chống độc tài” hay là “chống gian lận trong bầu cử”...

Ảnh minh họa / tuyengiao.vn

Ảnh minh họa / tuyengiao.vn

Đã có không ít nguyên thủ nhiều nước đương quyền hoặc vừa mới giành thắng lợi trong các cuộc bầu cử đã phải ra đi trước sức ép của làn sóng chính trị này. Ở Việt Nam, một số kẻ cơ hội chính trị, phản động đã vận dụng học thuyết phản kháng phi bạo lực, đề ra chủ thuyết về "cách mạng trắng", "cách mạng hoa sen"... với âm mưu thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam. Vậy thực chất của học thuyết phản kháng phi bạo lực là gì?   
Nạn nhân của học thuyết phản kháng phi bạo lực, điển hình là cuộc “cách mạng hoa hồng” trong năm 2003 buộc Tổng thống Gruzia Eduard Shevardnadze phải từ chức ngay sau khi vừa tuyên bố đắc cử tổng thống để nhường ghế cho Mikheil Saakashvili-một chính khách được đào tạo rất bài bản ở Mỹ. Cuộc “cách mạng cam” lần thứ nhất ở Ukraine năm 2004 đưa Viktor Yushchenko lên cầm quyền và cuộc “cách mạng cam” lần thứ hai cuối năm 2013 đầu năm 2014 dẫn tới cuộc chiến tranh bạo loạn lật đổ chính thể của Tổng thống Viktor Yanukovych. Phong trào chính trị mang tên “mùa xuân Arab” từ cuối năm 2010 tới nay vẫn chưa chấm dứt ở các nước Bắc Phi-Trung Đông, núp dưới khẩu hiệu “chống tham nhũng” và “chống độc tài” để lật đổ chính thể của chính phủ nhiều nước trong khu vực này. “mùa xuân Arab” đã dẫn tới cuộc chiến tranh xâm lược Libya do NATO tiến hành để xóa bỏ chính thể của Tổng thống Muammar Gaddafi. “Cuộc cách mạng nhung” dẫn tới bạo loạn chính trị ở Venezuela năm 2012 với toan tính ngăn chặn Tổng thống Hugo Chaves tái đắc cử nhưng bất thành. Cuộc “cách mạng trắng” ở Nga với toan tính ngăn cản Vladimir Putin đắc cử nhiệm kỳ thứ ba trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2012... 
Theo giới phân tích chính trị quốc tế, căn nguyên sâu xa của làn sóng các cuộc “cách mạng màu” trên đây đều xuất phát từ một học thuyết chính trị mang tên “phản kháng phi bạo lực”-nghĩa là không thiên về sử dụng bạo lực để giành chính quyền. Học thuyết này đang là tâm điểm thu hút sự quan tâm của dư luận quốc tế và giới nghiên cứu công nghệ chính trị. Một trong những chuyên gia bậc thầy về học thuyết “phản kháng phi bạo lực” là Michael McFaul-vị đại sứ của Mỹ ở Nga nhậm chức vào năm 2012. Michael McFaul từng nhận được học bổng theo chương trình đào tạo mang tên “Cecil Rhodes, 1853-1902” để theo học tại Đại học Oxford (Anh). Chương trình này chuyên đào tạo giới tinh hoa chính trị của nhiều nước nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của đế chế Anh trên toàn thế giới dưới khẩu hiệu “đòi dân chủ” và “vì tự do”. Theo Michael McFaul, khi quá trình phi thực dân hóa bùng phát sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Chính phủ Anh quyết định phát triển một hình thức bá chủ thế giới kiểu mới được gọi là cuộc “chiến tranh ủy nhiệm”. Chủ trương chiến lược này được nghiên cứu và hoàn thiện tại Đại học Oxford theo một chương trình mang tên "Đề án phản kháng dân sự và chính sách sức mạnh", gọi tắt là CR&PP (Civil Resistance and Power Politics). Từ năm 2006, lãnh đạo đề án này là hai vị giáo sư của Đại học Oxford là Adam Roberts và Timothy Garton Ash. 
Adam Roberts cũng là người phụ trách chương trình của Đại học Oxford về thay đổi tính chất chiến tranh (Oxford University Programme on the Changing Character of War) nhằm áp dụng các biện pháp phản kháng phi bạo lực trong chiến lược chính trị và quân sự trên phạm vi toàn cầu. Trong một cuộc hội thảo quốc tế tại Đại học Oxford được tổ chức trong khuôn khổ Đề án CR&PP do Adam Roberts chủ trì, Michael McFaul tham dự và đọc tham luận về học thuyết phản kháng phi bạo lực. Về sau, Michael McFaul tập trung nghiên cứu về Nga và trở thành chuyên gia hàng đầu về học thuyết phản kháng phi bạo lực với nhiều công trình nghiên cứu như “Cuộc cách mạng chưa kết thúc ở Nga: Những thay đổi chính trị từ Gorbachev tới Putin” (“Russia's Unfinished Revolution: Political Change from Gorbachev to Putin”); “Sự lựa chọn phổ biến và nền dân chủ có điều khiển: Các cuộc bầu cử ở Nga trong những năm 1999-2000” (“Popular Choice and Managed Democracy: The Russian Elections of 1999 and 2000”); “Dân chủ và chuyên quyền trong thế giới hậu cộng sản” (“Democracy and Authoritarianism in the Рostcommunist World”) và “Dân chủ tiến bộ trên thế giới: vì sao chúng ta cần và chúng ta có thể hành động thế nào” (“Advancing Democracy Abroad: Why We Should and How We Can”)... Chính Michael McFaul là kiến trúc sư trưởng của nhiều cuộc “cách mạng màu” và là người chấp bút bản báo cáo tổng kết của Cơ quan phát triển quốc tế Mỹ (USAID) về các cuộc “cách mạng màu” trong không gian hậu Xô viết
Một chuyên gia chính trị học người Mỹ khác là Gene Sharp-nhà lý luận bậc thầy về học thuyết phản kháng phi bạo lực và cũng từng được đào tạo tại Đại học Oxford. Gene Sharp nổi tiếng thế giới bởi những tác phẩm của ông viết về các phương pháp phản kháng phi bạo lực nhằm lật đổ các chế độ cầm quyền được ông gọi là “chuyên chế”. Năm 1983, Gene Sharp thành lập Viện xã hội mang tên Albert Einstein-một tổ chức phi chính phủ chuyên nghiên cứu cách thức sử dụng các phương pháp đấu tranh phi bạo lực. Gene Sharp là tác giả hai chuyên khảo nổi tiếng mang tựa đề "Từ chuyên chế đến dân chủ" ("From Dictatorship to Democracy") và "198 phương pháp phản kháng phi bạo lực" ("198 Methods of Nonviolent Action"). Hai tác phẩm này là cơ sở lý luận và thực tiễn của học thuyết phản kháng phi bạo lực, được dịch ra hàng chục thứ tiếng và phổ biến rộng rãi ở nhiều nước. Chỉ tính riêng năm 2012 đã có 44 bản dịch học thuyết phản kháng phi bạo lực của Gene Sharp sang tiếng Nga, tiếng Thái, tiếng Arab, tiếng Myanmar... và được sử dụng làm “cẩm nang” của “các chiến sĩ đấu tranh cho tự do” chống lại chế độ “chuyên chế” ở nhiều nước trên thế giới. Những tác phẩm của Gene Sharp được sử dụng làm giáo trình huấn luyện về chiến lược và chiến thuật phản kháng phi bạo lực tại Trung tâm quốc tế nghiên cứu về xung đột phi bạo lực của Mỹ. Các lực lượng đối lập ở nhiều nước, nhất là một số nước cộng hòa trong không gian hậu Xô viết và các nước Arab từng trải qua các khóa huấn luyện tại trung tâm này. Vì thế, Gene Sharp được mệnh danh là “cha đẻ” tư tưởng về các cuộc “cách mạng màu” đã và đang diễn ra trên khắp thế giới.
Theo học thuyết phản kháng phi bạo lực của Gene Sharp, quần chúng nhân dân không chỉ là người bỏ lá phiếu bầu nguyên thủ các quốc gia mà cũng có thể là lực lượng nòng cốt trong các cuộc bạo loạn chính trị để lật đổ họ một khi không đáp ứng được lợi ích của phương Tây. Khi đó, người dân được kích động, lôi kéo bằng rất nhiều thủ đoạn tinh vi và trở thành các chiến binh thực sự trong cuộc chiến tranh bạo loạn được tiến hành dưới khẩu hiệu “đòi dân chủ”, “vì tự do”, “đòi nhân quyền”, “chống tham nhũng”, “chống đói nghèo”... Tuy nhiên, theo Gene Sharp, hoạt động phản kháng phi bạo lực để lật đổ chính thể của các quốc gia “chuyên chế” không chỉ bằng các biện pháp “biểu tình hòa bình” mà trong trường hợp cần thiết phải kết hợp với hành động can thiệp quân sự từ bên ngoài. Cuộc chiến tranh xâm lược do NATO tiến hành ở Libya năm 2011 là diễn biến tiếp theo sau các cuộc “biểu tình hòa bình” trong “mùa xuân Arab” là thí dụ điển hình nhất về luận điểm này của Gene Sharp. Cũng theo Gene Sharp, phản kháng phi bạo lực không chỉ là sự phản kháng của người dân trong khuôn khổ pháp luật như thiết lập đối thoại với chính quyền mà còn có thể xóa bỏ luật pháp hiện hành bằng bạo lực. Trong số 198 phương pháp phản kháng phi bạo lực do Gene Sharp đề xuất, có cả các phương pháp bạo lực như khủng bố, làm giả tài liệu, phát tán tiền giả, cướp bóc, hãm hại, ám sát, thâm nhập vào những công trình được bảo vệ để chiếm giữ các tòa nhà và văn phòng của chính phủ. Các cuộc “cách mạng màu” hay phong trào “mùa xuân Arab” đã thể hiện rất rõ luận điểm này của Gene Sharp. 
Theo học thuyết phản kháng phi bạo lực của Gene Sharp, hoạt động lật đổ chính thể của một quốc gia diễn ra theo 3 giai đoạn. Giai đoạn 1, phát hiện các điểm yếu trong bộ máy chính quyền sở tại như nạn tham nhũng của các quan chức chính phủ, khó khăn kinh tế-xã hội, khoảng cách giàu-nghèo quá lớn, nội bộ chính quyền bị chia rẽ, gian lận trong bầu cử. Từ đó xác định khẩu hiệu cho các hoạt động “mềm” như mít tinh và biểu tình nhằm khoét sâu thêm khiếm khuyết và tiêu cực trong xã hội và hệ thống chính trị, từ đó quy kết bộ máy quản lý yếu kém của chính quyền và chứng tỏ chính thể hiện thời “không có năng lực” và “không hợp lòng dân”... Để thực hiện nhiệm vụ trong giai đoạn này sẽ sử dụng bộ máy truyền thông, trước hết là các mạng xã hội như Facebook, Twitter... Lấy cảm hứng từ hiệu quả rất cao của các mạng xã hội trong việc khơi mào các hoạt động phản kháng và đẩy tới bạo loạn chính trị, cựu Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã đưa ra dự báo về “kỷ nguyên cách mạng màu từ mạng internet”. Nhiệm vụ của giai đoạn này còn là để kiểm chứng khả năng phản ứng của chính quyền, khả năng kích động dư luận xã hội và liên kết các nhóm phản kháng đơn lẻ thành phong trào chống chính phủ trên quy mô lớn, thậm chí trong phạm vi cả nước. Giai đoạn 2, tập trung làm băng hoại uy tín và thể diện của bộ máy quyền lực nhà nước, thậm chí vận động các quan chức chính phủ đã thoái hóa biến chất đứng về phía “người dân” để chống lại chính quyền. Giai đoạn 3, ra tối hậu thư yêu cầu người đứng đầu chính quyền từ chức, thậm chí gây bạo loạn để lật đổ chính thể hiện hành và dựng lên chính quyền mới đáp ứng lợi ích của các thế lực bên ngoài. 
Trung tâm điều phối toàn bộ hoạt động phản kháng phi bạo lực là đại sứ quán nước ngoài ở nước sở tại và các cơ quan tình báo quốc tế. Tài trợ trực tiếp cho các hoạt động này là hàng trăm tổ chức phi chính phủ của phương Tây hoạt động trên khắp thế giới như “Ngôi nhà tự do” , “Quỹ quốc gia hỗ trợ dân chủ”, “Viện quốc gia nghiên cứu quốc tế của Đảng Cộng hòa”, “Viện quốc gia nghiên cứu quốc tế của Đảng Dân chủ”, Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ. Những tổ chức này tài trợ cho hàng nghìn tổ chức phi chính phủ được lập ra ở các quốc gia mục tiêu-nơi dự kiến sẽ tiến hành “cách mạng màu” để lật đổ chính quyền sở tại. Những tổ chức này hiện diện trước hết tại các quốc gia nằm ở những khu vực đang diễn ra cạnh tranh địa-chính trị giữa các cường quốc như không gian hậu Xô viết, Bắc Phi-Trung Đông, Mỹ Latin, Đông Nam Á, Nam Á. Lực lượng trực tiếp tiến hành hoạt động phi bạo lực là các lực lượng đối lập thường được hình thành ở những quốc gia có chế độ chính trị đa nguyên đa đảng, hoặc “đội quân thứ năm” được cài cắm trong hệ thống chính trị của nước sở tại. Công cụ để tiến hành hoạt động phản kháng phi bạo lực là bộ máy truyền thông rộng khắp, trước hết là mạng xã hội Facebook hay Twitter...
Nắm rõ bản chất của học thuyết phản kháng phi bạo lực là vấn đề rất quan trọng để giữ vững ổn định chính trị ở các quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển. Đối với công dân Việt Nam, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, đảng viên cần nghiên cứu, nắm chắc thực chất của học thuyết phản kháng phi bạo lực để có "sức đề kháng" trước âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch; cũng như góp phần ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ suy thoái tư tưởng chính trị, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; thực hiện bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ sớm, từ xa./.

ST.

Nhận diện, phê phán những biểu hiện lệch lạc trong sáng tạo văn chương hiện nay

Nền văn học nước nhà trong hơn 35 năm đổi mới chứng kiến sự cách tân mạnh mẽ từ góc độ nội dung lẫn thi pháp biểu hiện và tư tưởng nghệ thuật. Tuy vậy, mỗi sự phát triển luôn bao hàm mặt trái của nó. Dưới quan điểm biện chứng, mỗi giai đoạn văn học đều có những giới hạn tất yếu cần thẳng thắn chỉ ra nhằm khắc phục, từ đó hạn chế tối đa những tác hại có thể gây ra cho bạn đọc nói riêng và đời sống văn hóa tinh thần xã hội nói chung.

Ảnh minh họa: TTXVN

Ảnh minh họa: TTXVN

Cảnh báo những biểu hiện lệch lạc trong sáng tạo văn chương
1. Vấn đề nổi cộm, lệch lạc trong đời sống văn học thời gian qua cần chỉ ra là việc hư cấu lịch sử vượt ra khỏi logic của sự thật và bối cảnh xã hội thực tiễn của lịch sử. Viết về lịch sử không thể viết tùy tiện, sáng tạo hư cấu như thế nào cũng được. Nhà văn viết về lịch sử có thể sáng tạo ra tâm lý, ngôn ngữ, tư tưởng, tình cảm cho những nhân vật lịch sử nổi tiếng có thật, thậm chí có thể hoàn toàn sáng tạo ra thêm một vài nhân vật hư cấu để làm rõ hơn dụng ý nghệ thuật của mình, như Nguyễn Xuân Khánh đã làm trong tiểu thuyết “Hồ Quý Ly”.
Nhưng nhà văn viết về lịch sử buộc phải nghiên cứu kỹ bối cảnh xã hội của thời điểm lịch sử mà tác phẩm đề cập đến. Đặt một loài cây, một đồ vật, một chi tiết, một sự kiện chưa/không thể có ở thời điểm lịch sử mà tác phẩm miêu tả, thì đó nhất định là một lỗi sáng tạo, một nhầm lẫn kém cỏi, chứ không thể ngụy biện dưới cái ô “sáng tạo không giới hạn về lịch sử”, hay thậm chí là cả thủ pháp “hư cấu siêu sử ký” (historical fiction) của chủ nghĩa hậu hiện đại. Trong văn học hậu hiện đại, những nhà văn như Isaac Bashevis Singer, Donald Barthelme có chủ ý và công khai ngay từ đầu những hư cấu lịch sử phi lý, cố tình trộn lẫn các sự kiện, nhân vật vào những bối cảnh xã hội khác nhau. Còn ở ta, đơn giản là những nhà văn có sự nhầm lẫn, sai sót về thời điểm và văn hóa lịch sử trong sáng tạo.
2. Vẫn còn hiện tượng nhiều nhà văn thường chủ trương sử dụng các chi tiết dục tính (sex), kinh dị, những chất liệu ngôn từ suồng sã, dung tục quá nhiều trong tác phẩm đã tạo ra nhiều hệ lụy, tác hại đối với đời sống tinh thần bạn đọc. Việc xuất hiện yếu tố sex, kinh dị hay từ tục trên văn đàn thế giới, trong sáng tác của các bậc thầy văn học là không hiếm. Nhưng yếu tố sex, từ tục hay kinh dị, huyền ảo xuất hiện trong tác phẩm của những bậc thầy văn học là những thủ pháp nghệ thuật có tính tư tưởng, có quan niệm thẩm mỹ nhất định.
Ngược lại, nhiều tác phẩm văn học đương đại của Việt Nam hiện nay chủ yếu chỉ tập trung vào sex, kinh dị, hay sử dụng từ tục nhằm gây scandal (bê bối) nhằm nổi tiếng và bán sách. Ranh giới giữa thanh và tục, giữa thủ pháp nghệ thuật với sự non kém nghệ thuật, vấn đề đạo đức trong sáng tạo văn học luôn rất khó để minh/nhận định. Cùng một từ, một bối cảnh, một hành vi, nhưng ở nhà văn có tài, có tâm, thì nó có thể là một sáng tạo, ngược lại, với những nhà văn kém tài, hoặc có tài song tâm không trong sáng, thì nó chỉ đơn thuần là một chiêu trò để thu hút độc giả.
3. Biểu hiện lệch lạc khác trong sáng tác văn học là kiểu sáng tạo theo bản năng, viết văn “cứ hay là được”, “vô chiêu thắng hữu chiêu”. Rất nhiều nhà văn hiện nay, cả thế hệ già lẫn thế hệ trẻ cố chấp tin rằng tài năng thiên bẩm của họ sẽ là tấm hộ chiếu thông hành suốt đời trên con đường văn chương. Họ chẳng cần bất kỳ một "visa" nào để đi vào những thế giới khác của nghệ thuật đương đại thế giới.
Có nghĩa là, nhà văn cứ viết theo cảm xúc, nhận thức cá nhân là được, không cần đọc nhiều các tác giả đồng nghiệp, đọc văn học thế giới lại càng viển vông xa vời, tất nhiên không cần đọc các tri thức xã hội nhân văn hay khoa học tự nhiên làm gì cho mất thời gian. Những lý thuyết văn học, những trào lưu, trường phái văn học thế giới lại càng xa xỉ đối với nhà văn Việt Nam. Điều này dẫn đến hiện trạng những sáng tác văn học Việt Nam thiên về miêu tả vấn đề địa phương, về suy tư cá nhân, thời gian bị tù đọng.
Những nhà văn dẫu tài năng nhất cũng sớm tàn lụi, hoặc mất đi sức sáng tạo, sự cương mãnh trong tư duy nghệ thuật sau khi những tác phẩm đầu tay đã gây xôn xao văn đàn, hứa hẹn một sự nghiệp tươi sáng. Họ đã không thể đi xa và đi lâu dài trong thế giới nghệ thuật khi tác phẩm thiếu đi tính tư tưởng, tính thời đại, những kiến thức đương đại về lý thuyết văn học và những quan điểm mỹ học, triết học mới.
Nhiều nhà văn ngày nay có thể vẫn có những tác phẩm đáng chú ý, hoặc tác phẩm bán chạy trên thị trường sách, song họ đã không còn là người tiên phong, người dẫn đầu cho một thời đại văn học mới. Đơn giản hơn, họ đã không vượt qua được cái bóng của chính mình trong quá khứ. Chính vì ít đọc, nhất là ít đọc những kiệt tác văn học thế giới đương đại cùng những lý thuyết văn học, trào lưu và trường phái văn học mới của thế giới nên nhiều nhà văn ở nước ta ngộ nhận trong sáng tạo. 
4. Trong đời sống văn học Việt Nam hiện nay, tạo ra những hạn chế và lệch lạc không nhỏ là bộ phận văn học mạng. Chúng ta đang sống trong một thế giới toàn cầu hóa, “thế giới phẳng” theo cách nói của nhà báo người Mỹ T.Friedman, nơi chứng kiến thân phận của tri thức bị biến thành hàng hóa và được chu chuyển, buôn bán trên internet. Nhà văn viết bằng bàn phím và mười đầu ngón tay chứ không dùng bút giấy truyền thống nữa.
Mạng xã hội trở thành cộng đồng diễn giải chính, là không gian khả dĩ để nhà văn tồn tại, thay vì thế giới của thực tại. Thế giới ảo đang dần lấn át thế giới thực, từ đó những tác giả và tác phẩm văn học mạng bước ra văn đàn, lấn át những nhà văn truyền thống. Hàng loạt nhà văn được đông đảo bạn đọc, nhất là bạn đọc trẻ/nhỏ tuổi hiện nay yêu mến cuồng nhiệt là nhà văn mạng. Họ chiếm lĩnh thị trường sách một cách áp đảo so với văn học viết truyền thống. Đa phần họ đều trẻ tuổi, thông minh, có tài năng.
Tuy nhiên, mặt trái của văn học mạng, xuất phát từ đặc trưng trong tiếp nhận và bản chất của ngôn ngữ, đó là nặng về tính giải trí, tính truyền thông đa phương tiện mà yếu về tính tư tưởng, thiếu chiều sâu về nghệ thuật. Chúng ta không phủ nhận những đóng góp của văn học mạng. Sự phát triển của nó trong xu thế văn hóa, văn minh hiện nay là tất yếu, song cũng cần nhận ra văn học mạng chỉ chủ yếu là văn học giải trí, văn học thị trường hoặc là cận văn học. 
Tạo "bệ đỡ" và không gian lành mạnh cho sáng tạo văn chương chân chính
Từ nhận định nói trên, chúng ta có thể thực hiện một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đời sống văn học nói chung, cũng như thực tiễn sáng tạo văn học nói riêng. 
Giải pháp đầu tiên là đổi mới tư duy trong quản lý văn nghệ. Các cơ quan quản lý văn học hiện nay đa phần nặng về tính hành chính và tư tưởng mà thiếu đi những nhà chuyên môn đích thực, được đào tạo bài bản. Những hội văn nghệ cả ở Trung ương và địa phương ngày càng mở rộng quy mô hội viên, song lại hoạt động chưa hiệu quả, nặng về tính quan liêu, cơ chế xin-cho và bị mối quan hệ cá nhân chi phối. Do đó, cần sớm đổi mới phương thức quản lý nhà nước về văn học-nghệ thuật, cũng như đổi mới phương thức hoạt động của các hội nghề nghiệp liên quan đến văn chương, nâng cao chất lượng các giải thưởng văn học.
Trong tình hình hiện nay, cần quan tâm đến đời sống nhà văn, nhất là các nhà văn trẻ, làm sao cho họ có thể sống được với đam mê và nghề nghiệp. Muốn vậy, cần quảng bá, khuyến khích phát triển văn hóa đọc. Vị thế của môn văn trong nhà trường cũng cần được cải thiện, thông qua đổi mới cách giảng dạy văn chương, đổi mới cách lựa chọn tác phẩm văn học. Người học văn phải được tự do sáng tạo trong cảm thụ và nghị luận, từ đó mới yêu văn chương một cách thuần khiết. Nhà nước, các nhà xuất bản và các đoàn thể, doanh nghiệp cần thành lập những quỹ bồi dưỡng tài năng trẻ, những giải thưởng văn học danh giá, có giá trị kinh tế cao.
Bên cạnh đó, cần chú trọng đến vai trò của bộ môn lý luận văn học nói riêng và ngành Ngữ văn nói chung trong hệ thống giáo dục đại học. Chính họ sẽ là những nhà lý luận, phê bình văn học tương lai-"bà đỡ" cho những tác phẩm lớn ra đời. Chỉ có thể có một nền văn chương lớn chừng nào có một nền lý luận phê bình văn học vững mạnh. Các hội văn học, Hội đồng Lý luận, phê bình văn học nghệ thuật Trung ương cần tổ chức thường xuyên hơn các diễn đàn, hội nghị trao đổi, hội thảo khoa học và các khóa học ngắn hạn về lý luận, phê bình văn học cho các nhà báo, nhà văn và giáo viên, giảng viên của ngành văn học.
Trong bối cảnh thông tin bùng nổ hiện nay, cần chú trọng làm trong sạch và nâng cao chất lượng xuất bản, văn hóa đọc. Các cơ quan chức năng cần phối hợp các giải pháp tư tưởng, hành chính để tinh lọc, loại bỏ những tác phẩm tiêu cực, có nội dung độc hại, rẻ tiền, chủ yếu đánh vào tâm lý tò mò, những động cơ thấp hèn, bản năng của bạn đọc và tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa, đạo đức xã hội.
Việc làm căn cơ hơn là kiến tạo cho nhà văn không gian sáng tạo lành mạnh, để họ có thể phát huy tâm huyết, tài năng của mình nhằm cho ra đời những tác phẩm văn chương có giá trị về nội dung, tư tưởng và nghệ thuật. Muốn vậy, cần có chính sách đãi ngộ tốt cho những nhà văn thực tài. Các tạp chí văn học cần nâng cao mức nhuận bút, các nhà xuất bản cần mạnh dạn đầu tư cho những bản thảo văn học tốt (chứ không phải chỉ bán giấy phép để lấy tiền), các hội văn nghệ cần có quỹ sáng tạo văn học lớn để đầu tư cho sáng tác. Nguồn tiền đầu tư cho sáng tác văn học cần đa dạng hóa, ngân sách nhà nước, doanh nghiệp ủng hộ, gây quỹ bạn đọc... Nhà văn sống được với nghề nghiệp, là một con người tử tế, đàng hoàng, thì mới có thể an tâm đầu tư sáng tạo ra những tác phẩm chân chính, có giá trị về tư tưởng, nghệ thuật./.

ST.

Cần nhận thức đúng chế độ dân chủ của xã hội ta ngày nay

Hiện nay có những luận điệu sai trái được lan truyền trên không gian mạng rằng: “Mô hình “độc đảng” (Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo) là một mô hình tạo ra sự mất dân chủ trong xã hội Việt Nam".

Ảnh minh họa / Vietnam+

Ảnh minh họa / Vietnam+

Theo luận điệu này, muốn có một xã hội dân chủ, muốn phát triển thì Việt Nam phải từ bỏ “chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN)”, đi theo con đường “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” như ở các nước phương Tây. Vậy luận điệu trên sai trái ở điểm nào?
Xã hội dân chủ tại Việt Nam mang giá trị chung của nhân loại
Trước hết, tư tưởng dân chủ của phương Tây có nguồn gốc từ thời Hy Lạp cổ đại. Thuật ngữ dân chủ xuất hiện đầu tiên tại Athens, Hy Lạp trong thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên. Về nội dung, đó là “quyền lực thuộc về nhân dân” đồng thời theo nguyên tắc đa số. Nhưng khái niệm “nhân dân” ở đây không bao gồm phụ nữ và người nô lệ. Về mặt phương thức, dân chủ có nhiều hình thức: Dân chủ trực tiếp đó là những người tham gia bầu cử bầu ra người đại diện cao nhất của xã hội. Dân chủ gián tiếp-dân chủ đại diện là người bầu cử chỉ bầu ra người đại diện của mình... từ đó chỉ có những người đại diện mới bầu ra cơ quan và người lãnh đạo xã hội. 
Trải qua quá trình phát triển, chế độ dân chủ trên thế giới hiện nay có nhiều mô hình, trong đó có chế độ dân chủ đa đảng nhưng thực chất chỉ có hai đảng thay nhau cầm quyền như ở Mỹ (Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa); hay dân chủ với nhiều đảng nhưng đều thừa nhận Đảng Cộng sản là đảng cầm quyền như tại Trung Quốc... Đáng lưu tâm là vào năm 2019, Đại học Cambridge (Anh) có một nghiên cứu cho thấy mức độ bất mãn về thực trạng nền dân chủ tại Hoa Kỳ và Anh ở mức cao đặc biệt. Cụ thể, năm 2019, tỷ lệ người không hài lòng với nền dân chủ ở Anh lên tới 61%. Tại Mỹ, mức độ hài lòng chỉ còn dưới 50%. Như thế có thể thấy, chế độ dân chủ tại hai quốc gia trên chưa làm hài lòng chính công dân của họ, nên không thể và không nên được coi là hình mẫu cho nền dân chủ của bất cứ quốc gia nào.   

Chế độ dân chủ của chúng ta khởi nguồn từ khi dân tộc Việt Nam đi theo con đường cách mạng giải phóng dân tộc của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh từ những thập niên đầu thế kỷ 20. Giữa vòng vây của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc ta đã vùng lên tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành lại được độc lập dân tộc, đồng thời xây dựng xã hội mới. Trong “Tuyên ngôn Độc lập”, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định Nhà nước của chúng ta đã kế thừa có chọn lọc những tư tưởng dân chủ trên thế giới: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền  ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.

Từ đó, trong phần cuối của “Tuyên ngôn Độc lập”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Ngay từ hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta-Hiến pháp năm 1946 đã cho thấy các quyền công dân (bao gồm cả quyền con người) được bảo đảm. Hơn 77 năm qua (1945-2022), dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc ta đấu tranh giành độc lập dân tộc, đi lên chủ nghĩa xã hội, vượt qua những giai đoạn đầy khó khăn, gian khổ, đến nay đã trở thành một trong những quốc gia có nền kinh tế ngày càng phát triển, có vị thế, uy tín cao trong khu vực và cộng đồng quốc tế. Những mô hình xã hội Việt Nam là sự vận dụng và phát triển sáng tạo các mô hình xã hội hiện đại trên thế giới, đồng thời kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nền dân chủ của Việt Nam hiện nay là nền dân chủ gắn với chế độ làm chủ của nhân dân, do một đảng duy nhất lãnh đạo, cầm quyền-đó là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hệ thống chính trị Việt Nam là cơ sở chính trị-pháp lý của nền dân chủ Việt Nam. Về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam, Điều 4, Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “1- Đảng Cộng sản Việt Nam-đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; 2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. 3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Như thế, qua quy định trong Hiến pháp có thể thấy: 1-Đảng không chỉ là đại diện lợi ích cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động mà còn là đại biểu trung thành lợi ích của cả dân tộc; 2-Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền nhưng các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; 3-Dân chủ gắn liền với Nhà nước và pháp luật.
Cũng theo Hiến pháp năm 2013 thì: "Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam". Các đại biểu Quốc hội được bầu thông qua phổ thông đầu phiếu, nghĩa là mọi công dân đều có quyền lợi và nghĩa vụ tham gia trực tiếp bầu cử đại biểu Quốc hội để đại diện cho tiếng nói của mình tại cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. 
Dân chủ trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật
Chế độ dân chủ của Việt Nam còn bao hàm cả văn hóa dân chủ. Trong đó, các cán bộ, công chức phải là công bộc của nhân dân. Các cấp chính quyền phải bảo đảm phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Cùng với đó, công dân phải tuân thủ pháp luật.              
Chúng ta đang nỗ lực xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN, bản chất là yêu cầu thượng tôn pháp luật, mọi cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân trong xã hội phải sống và làm việc trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đây là yêu cầu mà mọi nhà nước pháp quyền trên thế giới đều hướng tới.                   
Thế nhưng, hiện nay có nhiều người lầm tưởng rằng, môi trường internet, mạng xã hội là môi trường dân chủ vô hạn độ, người ta muốn nói gì thì nói, viết gì thì viết... mà không phải chịu trách nhiệm. Đó là một sai lầm rất nguy hiểm, vì suy nghĩ như vậy không khác nào coi môi trường internet, mạng xã hội là một môi trường vô luật pháp. Không ít người đã vi phạm pháp luật bị xử lý, thậm chí bị xử lý hình sự vì những phát ngôn xuyên tạc, chống đối Đảng, Nhà nước; vu khống, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác trên internet và bị quy vào tội danh “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo Bộ luật Hình sự. Không chỉ ở Việt Nam mà ở bất cứ quốc gia nào, các quyền dân chủ đều phải nằm trong khuôn khổ pháp luật.   
Tương tự, quyền tự do báo chí của công dân được Nhà nước ta tôn trọng, bảo vệ. Tuy nhiên, quyền tự do đó cũng phải trong khuôn khổ pháp luật. Điều 10, Luật Báo chí năm 2016 quy định rõ: “Quyền tự do báo chí của công dân bao gồm: “1.Sáng tạo tác phẩm báo chí; 2.Cung cấp thông tin cho báo chí; 3.Phản hồi thông tin trên báo chí; 4.Tiếp cận thông tin báo chí; 5. Liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí; 6. In, phát hành báo in”.
Điều 9 của Luật Báo chí quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm, ví dụ như: “Đăng, phát thông tin chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam có nội dung: a) Xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền nhân dân; b) Bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; c) Gây chiến tranh tâm lý; Đăng, phát thông tin có nội dung: a) Gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền nhân dân, với lực lượng vũ trang nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội; b) Gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ, ly khai dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc...; Xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc...; Kích động bạo lực; tuyên truyền lối sống đồi trụy...”.
Sở dĩ ngày nay, Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá cao trước hết nhờ những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội, tích cực chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm các quyền tự do, dân chủ, bảo đảm an sinh xã hội. Việt Nam còn là một môi trường hòa bình, ổn định, có quan hệ ngoại giao hữu nghị với các nước, đấu tranh vì tiến bộ trên thế giới. Vừa qua, Việt Nam đã trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Đây là lần tái cử của Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc sau nhiệm kỳ 2014-2016 rất thành công, cho thấy uy tín cao của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế về dân chủ, nhân quyền. Những thực tế khách quan đó cho thấy bản chất của xã hội XHCN tại Việt Nam là một xã hội dân chủ, vì con người, và không có luận điệu xuyên tạc nào có thể phủ nhận./.

ST.

Nhận diện và phòng ngừa các thủ đoạn lợi dụng tôn giáo chống phá Việt Nam hiện nay

Thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam, những năm qua, tôn giáo là một trong những nội dung chiến lược được các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội (ANCT, TTATXH), tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chúng coi đó là một yếu tố quan trọng để tạo sức ép từ bên ngoài, đồng thời kích động các hoạt động chống phá từ bên trong.

Ảnh minh họa: TTXVN

Ảnh minh họa: TTXVN

Nhận diện các thủ đoạn, phương thức thâm độc
Qua nghiên cứu, có thể khái quát một số thủ đoạn, phương thức cơ bản mà các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo thời gian gần đây để chống phá nước ta như sau:
Một là, chúng tìm mọi cách tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước, tích cực thúc đẩy liên kết hoạt động giữa các tôn giáo hòng từng bước biến tôn giáo thành lực lượng chính trị đối trọng với Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chúng đẩy mạnh phát triển các hội đoàn tôn giáo, khuếch trương thanh thế, kết hợp với tăng cường truyền đạo trái phép, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ở Tây Bắc, Tây Nguyên để tập hợp quần chúng, gây áp lực với chính quyền địa phương. Chúng đã lập ra các hội, nhóm liên kết bất hợp pháp núp dưới danh nghĩa tôn giáo như “Hội đồng liên tôn Việt Nam”,“Hội đồng nhân quyền Việt Nam”, “Văn phòng Công lý-Hòa bình”... để lôi kéo, mua chuộc quần chúng, tín đồ nhằm tập hợp lực lượng tiến hành các hoạt động phá hoại ANCT, TTATXH ở một số địa phương. Đáng chú ý, kẻ địch triệt để đẩy mạnh hoạt động lấn chiếm, chuyển nhượng đất đai trái pháp luật của các cá nhân, tổ chức tôn giáo, như: Vụ lấn chiếm đất đai trái pháp luật tại Giáo xứ Sở Kiện (Hà Nam); vụ lấn chiếm, chuyển nhượng đất đai trái phép tại Giáo xứ Xuân Hòa (Bắc Ninh); vụ dòng Thiên An lấn chiếm đất rừng ở Hương Thủy (Thừa Thiên Huế)... Thông qua đó, đòi tư hữu hóa đất đai, gây mâu thuẫn giữa các chức sắc, tín đồ với chính quyền, kích động chức sắc, tín đồ tôn giáo cản trở việc thực hiện chính sách, pháp luật, chống người thi hành công vụ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình ANCT, TTATXH tại địa phương...
Hai là, chúng triệt để lợi dụng chiêu bài “tôn giáo hóa dân tộc” để thâm nhập, lôi kéo, tập hợp lực lượng là người DTTS, tiến tới hình thành tổ chức phản động trên địa bàn. Chúng thông qua các tôn giáo đã phát triển ở vùng DTTS hoặc lập ra một số hình thức "tôn giáo riêng" cho người DTTS như "Tin lành của người Mông" để thành lập “Nhà nước Mông” ở Tây Bắc; "Phật giáo Nam Tông Khmer" để thành lập “Vương quốc Chăm Pa” ở vùng DTTS Nam Trung Bộ, “Nhà nước Khmer Kampuchea Krom” ở Tây Nam Bộ... thực chất là hình thành các tổ chức phản động chống phá Nhà nước ta. Đáng chú ý, gần đây, tổ chức phản động “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên” (CHPC) do A Đảo (Sa Thầy, Kon Tum) làm “Giáo hội trưởng” đã kết nối với các đối tượng trong nước tuyên truyền, lôi kéo chức sắc, tín đồ và người dân tập hợp lực lượng, từng bước công khai hóa hoạt động. Chúng móc nối, lôi kéo, hướng dẫn các tín đồ theo đạo Tin lành thuần túy trong nước tham gia các buổi tập huấn trực tuyến về nhân quyền mà thực chất chính là các buổi đào tạo kỹ năng hoạt động “xã hội dân sự”; hướng dẫn phương pháp thu thập, cung cấp các thông tin sai lệch về tình hình trong nước để xuyên tạc, vu cáo ta trên mạng xã hội và các diễn đàn quốc tế.  
Ba là, lợi dụng thần quyền, giáo lý, giáo luật để kích động, ép buộc đồng bào tôn giáo chống lại chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; lôi kéo, kích động tín đồ và nhân dân biểu tình, gây rối để lấy cớ can thiệp từ bên ngoài. Đó là những biểu hiện như hoạt động chỉ đạo, kích động chống đối chính sách, pháp luật, bất hợp tác với chính quyền trong việc giải quyết các vấn đề phức tạp tại địa phương hay công khai bày tỏ thái độ thách thức chính quyền, coi thường pháp luật, kích động bạo lực, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc ta, kêu gọi đa nguyên, đa đảng, lật đổ chế độ...  
Bốn là, triệt để tác động, lôi kéo các chính khách cực đoan trong chính trường một số nước để tác động quốc hội, nghị viện các nước này thông qua các báo cáo, nghị quyết, thông cáo xuyên tạc tình hình tôn giáo, dân tộc ở trong nước, vu cáo Nhà nước vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo. Thông qua các cuộc hợp tác song phương, đa phương giữa Mỹ và các nước đồng minh với Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế-xã hội để gây sức ép với Việt Nam về dân tộc, tôn giáo, tìm cách gắn “các yêu sách về vấn đề tôn giáo, dân tộc”, “dân chủ, nhân quyền” trong quan hệ song phương, đa phương với Việt Nam; từ đó hòng tìm cách can thiệp vào nội bộ nước ta. Ở bên ngoài, các tổ chức phản động lưu vong ráo riết vận động Việt kiều, người nước ngoài ủng hộ kinh phí, vật chất, phương tiện rồi tìm cách đưa vào trong nước để “nuôi dưỡng, hậu thuẫn” các đối tượng trong nước hoạt động quyết liệt, tích cực hơn. Chúng còn móc nối với số cơ hội chính trị trong nước thu thập tin tức, tình hình dân tộc, tôn giáo, việc xử lý các đối tượng vi phạm pháp luật, những hạn chế, thiếu sót trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo ở địa phương rồi bóp méo, xuyên tạc trên các diễn đàn, trên mạng xã hội, phương tiện truyền thông nhằm hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Chủ động, đồng bộ các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh
Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các tôn giáo ở nước ta không ngừng được cải thiện, nâng lên, đồng bào có đạo và nhân dân tích cực tham gia vào công cuộc phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội. Các lực lượng chức năng đã kịp thời giải quyết bức xúc trong cộng đồng các tôn giáo và nhân dân, ổn định an ninh trật tự tại địa bàn, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân; xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật; tranh thủ được sự ủng hộ của đa số quần chúng và đồng bào các tôn giáo. Các bộ, ngành chức năng và các địa phương đã chủ động rà soát hệ thống pháp luật về tôn giáo hiện hành, xác định nội dung cần sửa đổi, bổ sung, phù hợp thực tế; tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Đồng thời, chủ động tuyên truyền đối nội kết hợp với tuyên truyền đối ngoại nhằm tuyên truyền mạnh mẽ về thành tựu của ta trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần đấu tranh, phản bác các luận điệu, thông tin xuyên tạc tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở trong nước, vu cáo Nhà nước ta đàn áp tôn giáo, vi phạm nhân quyền.   
Nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động lợi dụng tôn giáo để phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi công tác này phải được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý, điều hành của Chính phủ nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị. Trong đó, tiếp tục chú trọng xây dựng hệ thống chính trị, đặc biệt là ở cấp cơ sở vững mạnh, trong sạch, thực hiện tốt hơn dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân; xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng khối liên minh công-nông-trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, hiệu lực hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong mở rộng, đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân. Tiếp tục phát huy và thực hiện đồng bộ, triệt để, hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở trong vùng đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa. Đề cao tinh thần dân tộc và tôn trọng những điểm khác biệt của các DTTS không trái với lợi ích chung của đất nước; kiên quyết chống tư tưởng kỳ thị, chia rẽ dân tộc, tôn giáo, dân tộc hẹp hòi, cực đoan hoặc mặc cảm dân tộc, tôn giáo.
Tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, thường xuyên chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; không ngừng nâng cao trình độ dân trí, văn hóa, xã hội cho đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa; giải quyết kịp thời các nguyện vọng chính đáng của đồng bào các DTTS, vùng sâu, vùng xa trên cơ sở pháp luật. Tiếp tục bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa mang đậm bản sắc của các dân tộc; quan tâm xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; trong đó, tập trung xây dựng các khu vực phòng thủ; xây dựng LLVT nhân dân trên địa bàn vững mạnh, thực sự là nòng cốt trong giữ vững an ninh trật tự tại địa phương.
Các ban, bộ, ngành chức năng cần tiếp tục chủ động, thường xuyên tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nhân dân, tín đồ, chức sắc tôn giáo về chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo và âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá ta thông qua nhiều kênh, bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú khác nhau; làm cho tín đồ, chức sắc và người dân hiểu rằng, đấu tranh với hoạt động lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật cũng là bảo vệ tôn giáo chân chính và quyền lợi của chính họ. Để từ đó khuyến khích, thúc đẩy nhân dân, tín đồ, chức sắc tự giác tham gia vào công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động lợi dụng tự do tôn giáo vi phạm pháp luật của kẻ địch. Làm tốt công tác nắm tình hình, phát hiện, phối hợp giải quyết kịp thời, dứt điểm các mâu thuẫn, khiếu kiện, “điểm nóng” liên quan đến dân tộc, tôn giáo, không để lây lan, kéo dài, vượt cấp. Chú trọng đẩy mạnh công tác vận động quần chúng và tranh thủ chức sắc tôn giáo, phát huy tác dụng của các đoàn thể tôn giáo yêu nước. Kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các hành vi phát triển các hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo, tà đạo, đạo lạ, kiên quyết xử lý nghiêm minh các hành vi lợi dụng tự do tôn giáo để xuyên tạc, chống phá Việt Nam.
Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền và đấu tranh đối ngoại; thông qua các phương tiện thông tin truyền thông, qua kênh ngoại giao, hợp tác quốc tế, làm cho các nước, các tổ chức quốc tế và nhân dân thế giới hiểu đúng, hiểu đầy đủ về chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và thành tựu đã đạt được trong việc bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, kết quả xử lý những vụ việc, đối tượng lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật Việt Nam. Đặc biệt, cần tuyên truyền tới đông đảo quần chúng trong nước, kiều bào ta ở nước ngoài hiểu đúng bản chất hoạt động vi phạm pháp luật của các đối tượng lợi dụng tôn giáo ở Việt Nam thời gian qua. Vận động nhân dân tích cực ủng hộ chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; góp phần đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả các luận điệu xuyên tạc, vu cáo của những phần tử xấu./.

ST.

Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới

Nhìn lại 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trên mọi lĩnh vực. Tuy nhiên hiện nay, các thế lực thù địch ráo riết, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, công kích nền tảng tư tưởng của Đảng ta, tìm mọi cách chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng hòng làm giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Chính vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch là cuộc chiến lâu dài, quyết liệt. Trong cuộc chiến đó, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải vào cuộc với quyết tâm và sự chủ động cao nhất.

“BÌNH MỚI RƯỢU CŨ”

Các thế lực thù địch đã chống phá ngay từ khi Đảng ta ra đời, chúng ta phải đấu tranh bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng ngay từ thời điểm lịch sử đó.

Đảng càng trưởng thành và lớn mạnh, lãnh đạo nhân dân giành được thắng lợi có ý nghĩa lịch sử: Giành độc lập tự do, giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa đất nước vươn lên tầm cao, từng bước tiến kịp thời đại. Thành tựu đó như cái gai trong mắt kẻ thù, càng làm cho chúng điên cuồng chống phá Đảng ta.

Nhìn lại hơn 9 thập niên qua, dù với nhiều hình thức, số lượng, tần suất, cường độ chống phá theo hướng tinh vi, xảo quyệt, điên cuồng hơn, song mục tiêu và nội dung tấn công vào hệ tư tưởng của Đảng ta của các thế lực thù địch không hề thay đổi.

Cụ thể, chúng dùng chiêu bài tung tin “thật như giả, giả như thật”, “điều không sự thật nói mãi sẽ tin là sự thật”, “nội công, ngoại kích”, “mưa dầm thấm lâu”, bôi nhọ chủ nghĩa xã hội, tung hô chủ nghĩa xã hội dân chủ và chủ nghĩa tư bản. Nội dung chống phá của chúng nhằm vào hệ tư tưởng của Đảng ta vẫn là: Xuyên tạc học thuyết Mác - Lênin, hệ thống lý luận cách mạng và khoa học mà Đảng ta lấy làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Chúng xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin “Chủ nghĩa xã hội không tưởng, không bao giờ thực hiện được”, đã “lạc hậu, lỗi thời” không còn phù hợp trong thế kỷ XXI và “ở Việt Nam không ai còn tin vào chủ nghĩa Mác nữa”… Từ đó, chúng kích động cần “tránh chỗ tối, tìm chỗ sáng”, “tránh con đường đau khổ”, nên theo “con đường tư bản chủ nghĩa”.

Đặc biệt, sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII chúng trắng trợn bôi đen, phủ nhận trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân với chiêu trò xuyên tạc: “Đại hội XIII chỉ là sự “sao chép” các văn kiện trước đây, “nhập khẩu lý luận”, con đường, mục tiêu, tầm nhìn của Đại hội XIII là “ngẫu hứng”, “ảo tưởng”, đường lối Đại hội đưa ra là “lý thuyết, phi thực tế”…

Đồng thời, lợi dụng những hạn chế, sai lầm trong lãnh đạo, quản lý, những tiêu cực, suy thoái trong đội ngũ cán bộ đảng viên, xoáy sâu các đại án, thổi phồng, làm sai lệch sự thật, tạo hình ảnh về Đảng và đất nước Việt Nam với gam màu xám xịt “bế tắc không chỉ về kinh tế, mà còn cả về tinh thần”, “khủng hoảng toàn diện”, “tình thế hiểm nghèo”. Chúng quy tội cho Đảng và trắng trợn đòi Đảng phải rút khỏi vũ đài chính trị “từ bỏ quyền lãnh đạo” của mình.

Những nội dung độc hại được các thế lực thù địch chuyển tải qua hàng ngàn ấn phẩm; diễn đàn hội thảo, tọa đàm khoa học; dịch vụ thư điện tử, chat, Website, facebook, zalo, youtube… Nội dung thông tin bịa đặt, xuyên tạc, cắt ghép, vu khống, bóp méo, bôi đen, tô vẽ, ngụy tạo. Với cán bộ, đảng viên, mọi tầng lớp nhân dân, nếu không vững vàng thì ít nhiều gây tâm lý hoài nghi, hoang mang, xói mòn, mất dần niềm tin. Xa và nguy hại hơn, làm cho nội bộ Đảng nghi kỵ, bất đồng, “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” dần trở thành lực lượng đối lập trong nội bộ; gây bất ổn chính trị xã hội, khơi nguồn biểu tình, bạo loạn, lật đổ chế độ.

CHỦ ĐỘNG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Đây là nền tảng, điểm tựa, ngọn cờ, ánh sáng soi đường cho cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng của Đảng. Gần 4 năm qua, thực hiện Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị nền tảng tư tưởng của Đảng vẫn đứng vững trước sự tấn công, chống phá điên cuồng trên nhiều mặt, từ nhiều hướng của kẻ thù.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng dự báo, các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Điều đó cho thấy, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới là vô cùng gay go, phức tạp.

Do đó, để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cần tập trung thực hiện các giải pháp trọng tâm như sau:

Thứ nhất, các thế lực thù địch tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng thường triệt để khai thác những “khoảng trống” lý luận của Đảng. Do vậy, Đảng và Nhà nước nên “đặt hàng” cho tổ chức, nhà khoa học lý luận từng vấn đề nổi cộm nhất để nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, đi từng bước chắc chắn, hoàn thành từng nội dung, nhằm sớm hoàn chỉnh hệ thống lý luận khoa học về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đây là bước đi có tính quyết định trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ hai, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đẩy lùi quan điểm sai trái, thù địch khi trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân có sức đề kháng cao và đủ khả năng tự vệ. Muốn có điều đó, một mặt phải chủ động trang bị tri thức về lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng; về lịch sử, truyền thống của dân tộc, của Đảng, mặt khác phải vạch trần được bản chất đen tối của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng để cán bộ, đảng viên và Nhân dân nắm được, hiểu rõ, thấm nhuần, tạo chất “miễn dịch” và đủ sức “tự miễn dịch” trước mọi thủ đoạn, dã tâm của kẻ thù.

Thứ ba, rà soát, củng cố, liên kết, phát huy hiệu quả hoạt động của: Hội đồng Lý luận Trung ương, các học viện, viện nghiên cứu, Tạp chí Cộng sản, hệ thống Trường chính trị và đội ngũ cán bộ lý luận của Đảng từ Trung ương đến cơ sở. Tăng số lượng, chất lượng bài viết chuyên sâu để hình thành hệ thống luận chứng khoa học, khẳng định nền tảng tư tưởng của Đảng và đập tan luận điệu sai trái, thù địch.

Thứ tư, chăm lo bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho đội ngũ cán bộ lý luận hiện tại. Có cơ chế, chính sách đặc thù tạo động lực cho họ phát huy hết khả năng của mình. Cung cấp thông tin, kể cả những thông tin phản diện kịp thời, cần khen thưởng xứng đáng tác phẩm lý luận sắc bén trên mặt trận phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Xa hơn, Nhà nước cần tuyển chọn các em học xong phổ thông cơ sở, thông minh, có năng khiếu, đủ phẩm chất tư cách nhằm nuôi dưỡng, đào tạo tập trung, chính quy, chuẩn bị đội ngũ cán bộ lý luận cho đất nước 10-15 năm tới. Đội ngũ cán bộ lý luận trong tương lai, ngoài phẩm chất phải giỏi chuyên môn, ngoại ngữ và thành thạo công nghệ thông tin, công nghệ số.

Thứ năm, đầu tư cơ sở vật chất tương xứng để đội ngũ cán bộ lý luận đủ điều kiện nắm bắt tình hình và tác nghiệp. Ngoài lập trường, bản lĩnh, ý chí, kiến thức sâu rộng, cán bộ lý luận phải được trang bị, tiếp cận với phương tiện kỹ thuật đầy đủ, hiện đại./.

ST.