Thứ Hai, 6 tháng 5, 2024

Nâng cao chất lượng hoạt động tuyên truyền phổ biến kiến thức, nghiên cứu khoa học, tư vấn, giám sát, phản biện

 (TG) - Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa đề nghị Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam chú trọng nâng cao chất lượng các hoạt động tuyên truyền và phổ biến kiến thức, nghiên cứu khoa học, tư vấn, giám sát, phản biện, giám định xã hội. Chủ động làm tốt hơn nữa nhiệm vụ tham mưu, tư vấn cho Đảng và Nhà nước trong các hoạt động tổng kết 40 năm đổi mới...

Chiều 23/4, tại Hà Nội, đoàn công tác của Ban Tuyên giáo Trung ương do đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương làm trưởng đoàn đã có buổi thăm và làm việc với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội).

Các đồng chí: Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Phan Xuân Dũng, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Liên hiệp Hội; Vũ Thanh Mai, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội đồng chủ trì buổi làm việc.

Tham dự buổi làm việc có các đồng chí: Triệu Tài Vinh, Phó Trưởng Ban Dân vận Trung ương; Tô Thị Bích Châu, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Trần Hồng Thái, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Cộng nghệ; Phan Chí Hiếu, Chủ tịch Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam; Đại diện lãnh đạo một số ban, bộ, ngành Trung ương; các đồng chí lãnh đạo Liên hiệp Hội; đại diện các vụ, đơn vị chức năng của Ban Tuyên giáo Trung ương; các đại biểu trí thức, nhà khoa học cùng lãnh đạo các Liên hiệp Hội địa phương...

THỰC HIỆN TỐT VAI TRÒ CẦU NỐI GIỮA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VỚI TRÍ THỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Báo cáo kết quả hoạt động và tình hình đội ngũ trí thức của Liên hiệp Hội, đồng chí Phan Xuân Dũng, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Liên hiệp Hội nêu rõ, sau hơn 40 năm xây dựng và phát triển, đến nay Liên hiệp Hội đã hình thành hệ thống tổ chức từ Trung ương đến tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo đúng tinh thần Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 16/4/2010 của Bộ Chính trị khóa X về “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và Điều lệ của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn ngày ngày 21/10/2015.

Đến nay, Liên hiệp Hội đã trở thành một tổ chức chính trị - xã hội lớn mạnh được xếp trong số 30 hội quần chúng được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở Trung ương, với 156 hội thành viên, trong đó có 93 hội ngành toàn quốc và 63 liên hiệp hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; thành lập 560 tổ chức khoa học và công nghệ (KH&CN); thành lập cơ quan báo, tạp chí, 1 nhà xuất bản, 1 quỹ hỗ trợ sáng tạo kỹ thuật; đã tập hợp, thu hút được khoảng 3,7 triệu hội viên, trong đó có khoảng trên 2,2 triệu trí thức, chiếm khoảng 32,5% số trí thức trong cả nước.

Liên hiệp Hội luôn được Đảng và Chính phủ đặc biệt quan tâm lãnh đạo và tạo điều kiện thuận lợi hoạt động, đạt được những kết quả đáng ghi nhận và được đánh giá cao. Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, Liên hiệp Hội đã tập hợp, đoàn kết và phát huy tiềm năng trí tuệ của đội ngũ trí thức KH&CN; thực hiện tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với trí thức KH&CN, góp phần ổn định tình hình chính trị tư tưởng trong đội ngũ trí thức.

Với hệ thống từ Trung ương tới địa phương, Liên hiệp Hội với 3,7 triệu hội viên, trong đó có 2,2 triệu trí thức đã tham mưu cho Đảng và Nhà nước nhiều vấn đề quan trọng về đường lối, chủ trương, chính sách xây dựng, phát triển đất nước. Trong đó có các lĩnh vực nổi bật như tư vấn, phản biện và giám định xã hội; nghiên cứu KH&CN, bảo vệ môi trường, chăm sóc sức khỏe, giáo dục và đào tạo; thông tin và phổ biến kiến thức; phát triển cộng đồng và xoá đói giảm nghèo; động viên phong trào quần chúng tham gia hoạt động sáng tạo KH&CN; tôn vinh trí thức; hợp tác trong và ngoài nước...

Chủ tịch Liên hiệp Hội Phan Xuân Dũng nhấn mạnh, tại Lễ kỷ niệm 60 năm Ngày Bác Hồ gặp mặt đội ngũ trí thức và 40 năm Ngày thành lập Liên hiệp Hội, ngày 24/3/2023, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đánh giá: “Nội dung và phương thức hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cũng ngày càng có sự đổi mới, cải tiến, đa dạng và phong phú, có sức lan tỏa rộng khắp hơn trong cả nước. Các ý kiến tư vấn, phản biện… đã góp phần quý báu cho việc xây dựng và từng bước hoàn thiện chế độ xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đóng góp tích cực cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của Đất nước”.

Đồng chí Phan Xuân Dũng khẳng định, sự hình thành và phát triển các hội trí thức, trong đó có Liên hiệp Hội là yếu tố khách quan, phù hợp với xu thế phát triển của xã hội. Trong bối cảnh các thế lực chống đối đang tìm mọi cách để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, thì đội ngũ trí thức, các hội của trí thức luôn là mục tiêu để họ tìm cách lôi kéo và lợi dụng. Đảng, Nhà nước đã dành nhiều sự quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện để tập hợp, sử dụng đội ngũ này phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII (Nghị quyết 45-NQ/TW) đã khẳng định đội ngũ trí thức “là nhân tố quan trọng trong nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, nâng tầm trí tuệ và sức mạnh dân tộc, đóng góp to lớn cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, “xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh toàn diện là đầu tư cho xây dựng, bồi đắp “nguyên khí quốc gia” và phát triển bền vững; là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và xã hội”...

Tại buổi làm việc, các đại biểu đã phát biểu ý kiến nhằm làm rõ hơn những kết quả cũng như những đóng góp của đội ngũ trí thức, Liên hiệp Hội đối với sự phát triển đất nước, đồng thời kiến nghị, đề xuất nhiều ý kiến tâm huyết nhằm tạo điều kiện để đội ngũ trí thức, Liên hiệp Hội ngày càng phát triển...

ĐỊA CHỈ ĐỂ ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC GỬI GẮM NIỀM TIN, THỂ HIỆN TRÁCH NHIỆM, NGHĨA VỤ, BỔN PHẬN ĐỐI VỚI ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC

Phát biểu kết luận buổi làm việc, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa biểu dương và ghi nhận những kết quả mà Liên hiệp Hội đã làm được trong thời gian qua. Đồng thời nhấn mạnh, hoạt động chung của đội ngũ trí thức Việt Nam và Liên hiệp Hội đã đạt được những kết quả to lớn, ngày càng khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức KH&CN, thực hiện tốt vai trò là cầu nối giữa các hội thành viên với các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để vận động, tập hợp trí thức khoa học và công nghệ trong và ngoài nước vì sự nghiệp của Đảng, của nhân dân và đất nước.

Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa nhấn mạnh, nội dung và phương thức hoạt động của Liên hiệp Hội trong những năm qua có sự đổi mới, cải tiến, đa dạng và phong phú, có sức lan tỏa trong cả nước. Hoạt động tư vấn, phản biện, phổ biến kiến thức đã có nhiều đóng góp quan trọng trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân...

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, đồng chí Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương cũng nêu ra những hạn chế, bất cập cần quan tâm giải quyết, khắc phục như: chất lượng và hiệu quả hoạt động ở một số bộ phận vẫn chưa cao; chưa tập hợp, thu hút được nhiều trí thức trẻ, trí thức trong các doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và trí thức là người Việt Nam ở nước ngoài tham gia hoạt động của Hội; còn thiếu cơ chế để các hội tham gia một cách chủ động, tích cực hơn nữa trong việc nghiên cứu, ứng dụng và phổ biến kiến thức KH&CN, tư vấn, phản biện và giám định xã hội. Một số hội, ngành chưa phát huy được vai trò là nòng cốt trong việc tổ chức các phong trào quần chúng tiến quân vào khoa học, kỹ thuật; vẫn còn có một số tổ chức khoa học và công nghệ trực thuộc vi phạm pháp luật, đã bị các cơ quan chức năng xử lý...

Để xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức nói chung, phát triển Liên hiệp Hội nói riêng, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; tham gia tích cực vào các hoạt động tổng kết những vấn đề lý luận, thực tiễn qua 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới và chuẩn bị xây dựng dự thảo các văn kiện Đại hội XIV của Đảng, Bí thư Trung ương ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa đề nghị trong thời gian tới, Liên hiệp Hội quan tâm thực hiện tốt một số nội dung sau:

Thứ nhất, quán triệt và triển khai thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIII về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức; về công nghiệp hóa, hiện đại hóa; về phát triển KH&CN, đổi mới sáng tạo; về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới... Khẩn trương triển khai bảo đảm có hiệu quả trong thực tiễn Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 45-NQ/TW về “Tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới”...

Thứ hai, đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động của Liên hiệp Hội và các hội thành viên theo tinh thần Nghị quyết số 45-NQ/TW và những định hướng chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong Bài phát biểu ngày 24/3/2023, tại Lễ kỷ niệm 60 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp mặt đội ngũ trí thức và 40 năm Ngày thành lập Liên hiệp Hội. Chú trọng nâng cao chất lượng các hoạt động tuyên truyền và phổ biến kiến thức, nghiên cứu khoa học, tư vấn, giám sát, phản biện, giám định xã hội. Lựa chọn những vấn đề lớn, tiêu biểu, bám sát chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để có những ý kiến tư vấn, phản biện sâu sắc, hiệu quả thiết thực. Chủ động làm tốt hơn nữa nhiệm vụ tham mưu, tư vấn cho Đảng và Nhà nước trong các hoạt động các hoạt động tổng kết 40 năm đổi mới và chuẩn bị các văn kiện Đại hội XIV của Đảng.

Thứ ba, đặc biệt coi trọng công tác thu hút, tập hợp, đoàn kết trí thức, nhất là trí thức trẻ, trí thức là người Việt Nam ở nước ngoài, phát triển tổ chức, phát triển hội viên, làm cầu nối vững chắc giữa Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị với đội ngũ trí thức. Liên hiệp Hội vừa đóng vai trò đại diện cho quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên, đồng thời, đóng vai trò là địa chỉ để hội viên, nhất là đội ngũ trí thức gửi gắm niềm tin, thể hiện trách nhiệm, nghĩa vụ, bổn phận đối với Đảng và Nhà nước.

Thứ tư, tăng cường công tác xây dựng Đảng, nhất là về chính trị, tư tưởng, đạo đức trong Đảng đoàn Liên hiệp Hội và các hội thành viên. Xây dựng tổ chức đảng vững mạnh trong các hội trí thức, đóng vai trò nòng cốt chính trị trong hoạt động của hội. Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Phát huy tính tiền phong, gương mẫu, nêu gương toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo ở Trung ương. Làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức nghề nghiệp đối với đội ngũ trí thức. Chú trọng công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Kịp thời nắm bắt, phản ánh và xử lý thỏa đáng tâm tư, ý chí, nguyện vọng của đội ngũ trí thức. Quan tâm phát triển đảng viên trong đội ngũ trí thức trẻ.

Thứ năm, đẩy mạnh các hoạt động phối hợp công tác giữa Liên hiệp Hội với Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Thông tin và Truyền thông, 2 viện hàn lâm, 2 đại học quốc gia và các cơ quan chức năng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, điều lệ, quy chế của Liên hiệp Hội và các hội thành viên. Chú trọng nâng cao tính thực chất, hiệu quả phối hợp trong các hoạt động tuyên truyền, phổ biến kiến thức, nghiên cứu khoa học; tư vấn, phản biện, giám định xã hội; quản lý hoạt động báo chí, xuất bản... Tăng cường phối hợp với các thiết chế trong nước và quốc tế, thông qua các diễn đàn, thỏa thuận hợp tác... bảo đảm đúng các quy định của Đảng và pháp luật Nhà nước.

Thứ sáu, khẩn trương tiến hành tổng kết, đánh giá bảo đảm thật sự khách quan, toàn diện, khoa học về việc thực hiện các văn bản của Đảng và Nhà nước có liên quan đến Liên hiệp Hội. Trên cơ sở đó, đề xuất những kiến nghị về mô hình tổ chức và hoạt động của Liên hiệp Hội trong nhiệm kỳ mới, phù hợp với tình hình mới và các yêu cầu, nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao. Chuẩn bị chu đáo và tổ chức thật tốt Đại hội lần thứ IX của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam nhiệm kỳ 2025-2030./.

Tin, ảnh: THẾ HOÀNG

Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa dự Khai mạc Triển lãm ảnh “Tổ quốc bên bờ sóng”

 (TG) - Kỷ niệm 49 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2024), 138 năm Ngày Quốc tế Lao động (1/5/1886 - 1/5/2024), chiều 25/4, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo Trung ương cùng Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh và Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam phối hợp tổ chức Triển lãm ảnh với chủ đề “Tổ quốc bên bờ sóng”  “Thành phố Hồ Chí Minh - vì cả nước, cùng cả nước”.

Tham dự sự kiện có các đồng chí: Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Nguyễn Hồ Hải, Phó Bí thư thường trực Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh (Thành phố); Vũ Thanh Mai, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Phan Nguyễn Như Khuê, Ủy viên Ban thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy Thành phố; Chuẩn đô đốc Đỗ Văn Yên, Phó Chính ủy Quân chủng Hải quân; Trần Thị Thu Đông, Chủ tịch Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam; các Phó chủ tịch UBND Thành phố: Dương Anh Đức, Nguyễn Văn Dũng; lãnh đạo một số vụ, đơn vị chức năng của Ban Tuyên giáo Trung ương và đại diện các sở, ban, ngành, đoàn thể, lực lượng vũ trang Thành phố, các Hội Văn học Nghệ thuật cùng đông đảo nhân dân…

Sau chương trình văn nghệ đặc sắc với các tiết mục hát múa về Tổ quốc; biển, đảo quê hương và Thành phố Hồ Chí Minh Anh hùng, phát biểu Khai mạc Triển lãm, đồng chí Nguyễn Hồ Hải, Phó Bí thư thường trực Thành ủy Thành phố nhấn mạnh, Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là một trang sử hào hùng trong lịch sử dựng nước và giữ nước vĩ đại của dân tộc ta. Chúng ta đã hoàn thành được sứ mệnh lịch sử vẻ vang là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa nước ta bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, cùng nhau xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa - dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Đồng chí Nguyễn Hồ Hải nêu, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng rất nhiều lần khẳng định: “Biển ta là “biển bạc”, biển nước ta dài và rộng chứa nhiều tài nguyên phong phú và quý hiếm là nguồn lực to lớn góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững”. Tư tưởng xuyên suốt này của Người có giá trị to lớn đối với chúng ta trong công cuộc phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc ngày nay.

Thay mặt Ban Tổ chức Triển lãm, đồng chí Phó Bí thư Thường trực Thành phố cho biết, “Tổ quốc bên bờ sóng” là tên gọi chung cho các sản phẩm/dự án tuyên truyền về đề tài biển, đảo Việt Nam do Ban Tuyên giáo Trung ương triển khai thực hiện từ năm 2021. Ngoài mục đích giới thiệu, quảng bá về tiềm năng, vẻ đẹp của thiên nhiên, con người vùng biển, đảo Việt Nam đến với đông đảo công chúng yêu nghệ thuật trong nước và ở nước ngoài, Cuộc thi ảnh nghệ thuật cấp quốc gia “Tổ quốc bên bờ sóng” (Cuộc thi) còn tiếp tục tuyên truyền, khẳng định chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng, Nhà nước, những nỗ lực của các địa phương trong việc thực hiện Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.

Trong năm 2023, cuộc thi đã nhận được gần 10 ngàn tác phẩm dự thi, các tác phẩm được đầu tư công phu, bám sát chủ đề cuộc thi, có tư duy sáng tạo, nhiều góc chụp mới, ấn tượng, thể hiện được: Tiềm năng, vẻ đẹp của biển, đảo Việt Nam; Tình yêu quê hương, đất nước, sự gắn bó của các thế hệ người Việt Nam với biển, đảo của Tổ quốc; các hoạt động khai thác và phát triển tiềm năng du lịch Việt Nam, cải thiện môi trường sinh thái vùng biển và ven biển, quảng bá nhiều hơn những giá trị văn hóa độc đáo của cộng đồng cư dân biển; những thành tựu phát triển về kinh tế - văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh của vùng biển, đảo trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế... Những kết quả này đã minh chứng cho sự quan tâm sâu sắc của các nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp, những người yêu thích nhiếp ảnh, các tầng lớp Nhân dân trong cả nước, nhất là thế hệ trẻ đối với biển, đảo Việt Nam.

Theo đồng chí Nguyễn Hồ Hải, Triển lãm ảnh lần nay nhằm tiếp tục lan tỏa kết quả của Cuộc thi, khẳng định những thành tựu mà Đảng, đất nước đã giành được trong thời gian qua; tiếp tục khẳng định cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam trên trường quốc tế. Đặc biệt là những thành tựu quan trọng, khá toàn diện trong tương quan với nhiều quốc gia trong khu vực, trong đó có bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển...

Bên cạnh đó, Triển lãm lần này đã giới thiệu khái quát về cuộc đấu tranh hào hùng của quân và dân miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đồng thời, Triển lãm còn nêu bật những hình ảnh về Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục phát huy truyền thống năng động, sáng tạo để tìm tòi, thử nghiệm những mô hình mới mang tính đột phá, từng bước tháo gỡ những khó khăn; chủ động thích ứng với tình hình mới, đề ra nhiều giải pháp mang tính “xé rào” để giải phóng sức lao động, thúc đẩy sản xuất, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân. Đặc biệt là những hình ảnh của Thành phố bước vào thời kỳ Đổi mới, khẳng định sức mạnh nội lực to lớn, từng bước chuyển mình mạnh mẽ, đạt nhiều thành tựu quan trọng, tiếp tục giữ vững vai trò trung tâm lớn về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, là đầu mối giao lưu và hội nhập quốc tế, đầu tàu, động lực của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và của cả nước; các hoạt động của Thành phố hướng đến xây dựng Thành phố trở thành đô thị thông minh, Thành phố tiên phong trong khởi nghiệp và sáng tạo, trở thành vùng động lực trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0; những công trình quy mô mang lại diện mạo mới cho Thành phố Hồ Chí Minh, thể hiện sức bật vươn lên, xứng đáng với vinh dự lớn, được mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh...

“Thành phố Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử nước nhà như là một biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, biểu tượng của sự năng động, sáng tạo, luôn đi đầu trong đổi mới; tiếp tục khẳng định “Thành phố Hồ Chí Minh - Vì cả nước, cùng cả nước”, đồng chí Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Thành phố nhấn mạnh.

 

Triển lãm ảnh “Tổ quốc bên bờ sóng” và “Thành phố Hồ Chí Minh - vì cả nước, cùng cả nước” kéo dài từ ngày 25/4 đến ngày 2/5/2024 tại đường đi bộ Nguyễn Huệ, Thành phố Hồ Chí Minh. Ở mảng chủ đề “Tổ quốc bên bờ sóng”, Triển lãm trưng bày chọn 154 tác phẩm ảnh tiêu biểu của Cuộc thi ảnh nghệ thuật cấp quốc gia “Tổ quốc bên bờ sóng”, trong đó có 22 tác phẩm đoạt giải thưởng gồm: 2 giải Nhất, 4 giải Nhì, 6 giải Ba và 10 giải Khuyến khích nhằm giới thiệu tới nhân dân Thành phố, công chúng trên khắp mọi miền của Tổ quốc, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế.

 

Ở mảng chủ đề "Thành phố Hồ Chí Minh - vì cả nước, cùng cả nước", Triển lãm trưng bày các hình ảnh về những nội dung: Giới thiệu khái quát về đại thắng mùa Xuân năm 1975 - đỉnh cao cuộc đấu tranh hào hùng của quân và dân miền Nam với sự động viên sức người, sức của to lớn của cả nước; Phong trào đấu tranh của công nhân Sài Gòn - Gia Định - Chợ Lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; Công nhân Thành phố phát huy truyền thống, bản lĩnh, trí tuệ, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm; Thành phố Hồ Chí Minh - Thành phố truyền thống, thành phố nhân ái, nghĩa tình…/.

Tin, ảnh: THẾ HOÀNG

Góp ý vào dự thảo Báo cáo tổng kết lý luận và thực tiễn qua 50 năm đất nước thống nhất

 (TG) - Ngày 2/5, tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hội đồng Lý luận Trung ương (Hội đồng) tổ chức Kỳ họp thứ chín nhiệm kỳ 2021-2026 cho ý kiến vào dự thảo Báo cáo “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua 50 năm đất nước thống nhất (1975-2025), góp phần hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”.

Phát biểu khai mạc Kỳ họp, GS. TS. Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh nêu rõ, nội dung của Kỳ họp thứ 9 tập trung thảo luận, góp ý kiến vào Dự thảo Báo cáo tổng kết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua 50 năm đất nước thống nhất (1975-2025), góp phần hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam", góp phần cung cấp những căn cứ lý luận và thực tiễn phục vụ Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong lãnh đạo, chỉ đạo và chuẩn bị xây dựng Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.

Với tầm quan trọng trên của Kỳ họp, GS. TS. Nguyễn Xuân Thắng đề nghị các thành viên Hội đồng và chuyên gia cao cấp phát huy tinh thần trách nhiệm, sáng tạo, trí tuệ tập thể, phát biểu, thảo luận những vấn đề trọng tâm của Kỳ họp.

Sau phát biểu khai mạc và nghe trình bày tóm tắt Dự thảo Báo cáo, các đại biểu đã tập trung thảo luận sâu, nhấn mạnh, bổ sung một số nội dung về các vấn đề trọng tâm trong dự thảo gồm: bối cảnh thế giới và trong nước qua 50 năm đất nước thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội cùng những tác động đến sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; về một số vấn đề lý luận và thực tiễn chủ yếu qua 50 năm đất nước thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội.

Các đại biểu cũng cho ý kiến về nội dung: thời cơ, thách thức và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục làm rõ về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong thời gian tới, góp phần hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Các đại biểu đã nghiêm túc nghiên cứu 5 bài học kinh nghiệm khái quát từ thực tiễn 50 năm đất nước thống nhất: 1) kiên định các mục tiêu đã chọn; 2) lấy dân làm gốc, dân là trung tâm; 3) đảm bảo tính đồng bộ, toàn diện, có bước đi và hình thức thích hợp trong xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; 4) kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế; 5) sự lãnh đạo, cầm quyền đúng đắn của Đảng.

Phát biểu kết luận Kỳ họp, GS. TS. Nguyễn Xuân Thắng đánh giá cao ý thức trách nhiệm, tâm huyết của các đồng chí thành viên Hội đồng, thể hiện qua các ý kiến xác đáng, trí tuệ.

Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng nhận định sự kiện thống nhất đất nước đã mở ra một giai đoạn phát triển mới của đất nước ta; đó là cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Ý nghĩa của việc thống nhất đất nước còn được thể hiện qua sự thống nhất toàn diện: về tư tưởng, ý thức hệ; về đường lối chính sách; về hệ thống kinh tế; về văn hoá - xã hội; về khối đại đoàn kết toàn dân tộc; về người Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài… Qua đó, khẳng định sự lãnh đạo toàn diện, thống nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam; khẳng định mô hình thống nhất của hệ thống chính trị Việt Nam; khẳng định mô hình thống nhất của bộ máy nhà nước Việt Nam; khẳng định sự thống nhất mọi vùng lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam. Đồng thời, cần nhấn mạnh trải qua 50 năm thống nhất đất nước, Việt Nam đang chuẩn bị bước sang một giai đoạn mới, đó là hướng tới kỷ niệm 100 thành lập Đảng; 100 năm thành lập nước.

Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng đề nghị Thường trực Hội đồng chỉ đạo tiếp thu ý kiến của các đại biểu, từ đó, hoàn thiện, nâng cao chất lượng Báo cáo, sớm trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư, góp phần chuẩn bị xây dựng Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.

Với tinh thần làm việc nghiêm túc, dân chủ, cởi mở, thẳng thắn, Kỳ họp thứ 9 Hội đồng Lý luận Trung ương đã hoàn thành chương trình đề ra./.

HOÀNG MINH

Tháng 12-1986: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng

 (TG) - Sau thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu n­ước, miền Nam đ­ược hoàn toàn giải phóng, đất nư­ớc thống nhất, non sông thu về một mối, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong niềm vui chiến thắng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân cả n­ước bắt tay vào hàn gắn vết th­ương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, từng bư­ớc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước.

Từ thời chiến chuyển sang thời bình, đòi hỏi Đảng phải đổi mới tư­ duy, thay đổi nội dung và phương thức lãnh đạo cho phù hợp với tình hình mới. Nghị quyết Đại hội IV và Đại hội V của Đảng đã đặt ra yêu cầu phải đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, từng bư­ớc xây dựng nư­ớc ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh. Tuy vậy, do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, đất nước vừa trải qua nhiều năm chiến tranh, cơ chế tập trung, quan liêu, hành chính mệnh lệnh đã ăn sâu vào tiềm thức của mọi người, việc đổi mới t­ư duy và phương thức lãnh đạo của Đảng phù hợp với điều kiện mới chư­a đư­ợc đặt ra một cách đúng mức. Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, một mặt, tạo ra những thuận lợi vô cùng to lớn cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; mặt khác, cũng tạo ra tâm lý chủ quan duy ý chí cản trở sự phát triển nhận thức của Đảng. Trên nhiều lĩnh vực, nhiều vấn đề, tình trạng Đảng bao biện làm thay khá nghiêm trọng, dẫn đến hệ thống chính trị bị xơ cứng, kém hiệu quả. Hoạt động của Nhà n­ước và các đoàn thể quần chúng nhiều khi chỉ mang tính hình thức. Tính độc lập, chủ động của Nhà n­ước bị vi phạm, hiệu lực quản lý của bộ máy nhà n­ước bị hạn chế. Kinh tế - xã hội thiếu năng động. Quyền làm chủ của Nhân dân không được coi trọng, phát huy một cách thực chất.

Chiến tranh kết thúc, sự viện trợ của các nước anh em giảm dần và chuyển sang hợp tác, trao đổi theo giá thị trường quốc tế. Các thế lực phản động quốc tế câu kết với nhau chống phá quyết liệt cách mạng n­ước ta. Chiến tranh bùng nổ ở hai đầu biên giới. Mỹ tiến hành cuộc bao vây, cấm vận n­ước ta ngày càng khắc nghiệt. Sau sự kiện Campuchia, nước ta gặp rất nhiều khó khăn trong quan hệ đối ngoại, vị thế đất nước bị giảm sút trên tr­ường quốc tế...

Do những sai lầm trong đư­ờng lối xây dựng chủ nghĩa xã hội và quản lý kinh tế, tình hình kinh tế - xã hội đất nư­ớc ngày càng khó khăn: tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, lạm phát phi mã[1], hiệu quả đầu tư­ hạn chế, đời sống Nhân dân không đ­ược cải thiện, thậm chí nhiều mặt còn sa sút hơn... Đất nước dần lâm vào một cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng.

Tr­ước tình hình đó, Đảng ta đã có nhiều chủ trư­ơng, biện pháp từng bư­ớc tháo gỡ khó khăn. Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ư­ơng khóa IV về ph­ương hư­ớng phát triển hàng tiêu dùng và công nghiệp địa ph­ương, tháo gỡ các rào cản, làm cho sản xuất “bung ra”; Chỉ thị số 100-CT/TW, ngày 31-1-1981 của Ban Bí th­ư khóa V về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và ng­ười lao động trong hợp tác xã nông nghiệp... đã tạo ra những bước đột phá nhất định, song vẫn không làm thay đổi được đáng kể tình hình kinh tế - xã hội đất nước. Cuộc cải cách giá - l­ương - tiền năm 1985 không những không cải thiện đ­ược tình hình, mà còn làm cho đời sống của Nhân dân khó khăn hơn. Trong bối cảnh đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã được triệu tập. Sau những ngày họp nội bộ (từ ngày 5 đến ngày 14-12-1986), từ ngày 15 đến ngày 18-12-1986, Đại hội họp công khai. Dự Đại hội có 1.129 đại biểu thay mặt gần 1,9 triệu đảng viên trong toàn Đảng, trong số đó có 925 đại biểu thuộc đảng bộ của 40 tỉnh, thành phố, đặc khu, 172 đại biểu thuộc các đảng bộ trực thuộc Trung ương, 153 đại biểu nữ, 115 đại biểu thuộc các dân tộc thiểu số, 50 đại biểu là anh hùng lực lượng vũ trang và anh hùng lao động, 72 đại biểu là công nhân trực tiếp sản xuất... Đến dự Đại hội có 35 đoàn đại biểu quốc tế[2].

Đồng chí Nguyễn Văn Linh đọc Diễn văn khai mạc, đồng chí Trường Chinh đọc Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Võ Văn Kiệt đọc Phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế, xã hội trong 5 năm 1986 - 1990.

Đại hội khẳng định: “Quyết tâm đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng theo tinh thần cách mạng và khoa học”[3].

Đại hội đánh giá cao quá trình dân chủ hóa sinh hoạt chính trị của Đảng và nhân dân ta trong thời gian chuẩn bị và tiến hành Đại hội.

Đại hội đã hoàn toàn nhất trí với những kết luận của Ban Chấp hành Trung ương về đánh giá tình hình, tổng kết kinh nghiệm, xác định mục tiêu và phương hướng, chính sách nhằm đưa sự nghiệp cách mạng nước ta tiếp tục tiến lên.

Đại hội nhận định: “Năm năm qua là một đoạn đường đầy thử thách đối với Đảng và nhân dân ta. Cách mạng nước ta diễn ra trong bối cảnh quốc tế và trong nước có những thuận lợi cơ bản, nhưng cũng có nhiều khó khăn, phức tạp. Thực hiện những nhiệm vụ và mục tiêu do Đại hội lần thứ V của Đảng đề ra, nhân dân ta anh dũng phấn đấu, khắc phục khó khăn, vượt qua trở ngại, đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, giành những thắng lợi to lớn trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế”[4]. Bên cạnh việc khẳng định những thành tích đã đạt được, Đại hội cũng đã nhận rõ: “Tình hình kinh tế - xã hội đang có những khó khăn gay gắt: sản xuất tăng chậm; hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp; phân phối, lưu thông có nhiều rối ren; những mất cân đối lớn trong nền kinh tế chậm được thu hẹp, có mặt gay gắt hơn; quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chậm được củng cố; đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn; hiện tượng tiêu cực xảy ra ở nhiều nơi và có nơi nghiêm trọng.

Nhìn chung, chúng ta chưa thực hiện được mục tiêu tổng quát do Đại hội lần thứ V đề ra là cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân2.

Không đánh giá thấp những nguyên nhân khách quan, Đại hội cũng nghiêm khắc nêu rõ, nguyên nhân chủ quan của tình hình khó khăn, khủng hoảng là do những sai lầm, khuyết điểm trong sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước. Đại hội nhận định trong những năm 1976 - 1980, trên thực tế, chúng ta đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết; vừa nóng vội, vừa buông lỏng trong công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa; chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế không còn phù hợp. Trong những năm 1981 - 1985, Đảng chưa cụ thể hóa đường lối kinh tế trong chặng đường đầu tiên, chưa kiên quyết khắc phục chủ quan, nóng vội và bảo thủ, trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế, lại phạm sai lầm mới, nghiêm trọng trong lĩnh vực phân phối, lưu thông, đã buông lỏng chuyên chính vô sản trong quản lý kinh tế - xã hội, trong đấu tranh tư tưởng, văn hóa, trong việc chống lại những âm mưu, thủ đoạn phá hoại thâm độc của kẻ thù. “Những sai lầm nói trên là sai lầm nghiêm trọng về chủ trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và về tổ chức thực hiện[5].

Khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm ấy, đặc biệt là những sai lầm về chính sách kinh tế, là bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội, là khuynh hướng buông lỏng trong quản lý kinh tế - xã hội, không chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và nguyên tắc của Đảng. Đó là những biểu hiện của tư tưởng tiểu tư sản vừa tả khuynh, vừa hữu khuynh. “Những sai lầm và khuyết điểm trong lĩnh vực kinh tế, xã hội bắt nguồn từ những khuyết điểm trong công tác tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ của Đảng”[6].

Trên cơ sở thực tiễn cách mạng của 10 năm vừa qua, Đại hội nêu lên bốn bài học kinh nghiệm có ý nghĩa hết sức quan trọng:

- Phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động.

- Phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan.

- Phải biết kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới.

- Phải xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị của một đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa[7].

Về nhiệm vụ chiến lược cách mạng, Đại hội khẳng định: “Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đoàn kết một lòng, quyết tâm đem hết tinh thần và lực lượng tiếp tục thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đồng thời tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”[8].

Về nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đại hội xác định: “Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo2.

Trong khi đặt nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội lên hàng đầu, Đại hội vẫn khẳng định phải “đề cao cảnh giác, tăng cường khả năng quốc phòng và an ninh của đất nước, quyết đánh thắng kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch, bảo đảm chủ động trong mọi tình huống để bảo vệ Tổ quốc”3.

Đại hội giao cho Ban Chấp hành Trung ương khóa VI chỉ đạo thực hiện thành công những nhiệm vụ đề ra trong Báo cáo chính trị, mà quan trọng là: (1) Xây dựng và tổ chức thực hiện ba chương trình kinh tế lớn là lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu (2) Thực hiện nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa một cách thường xuyên với những hình thức và bước đi thích hợp, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất (3) Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế (4) Giải quyết cho được những vấn đề cấp bách về phân phối, lưu thông (5) Xây dựng và tổ chức thực hiện một cách thiết thực và có hiệu quả các chính sách xã hội (6) Tăng cường khả năng quốc phòng và an ninh của đất nước (7) Tăng cường hoạt động trên lĩnh vực đối ngoại (8) Phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa (9) Xây dựng Đảng thật sự ngang tầm một đảng cầm quyền có trọng trách lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược (10) Nâng cao hiệu lực chỉ đạo và điều hành của bộ máy đảng và nhà nước.

 

Ban Chấp hành Trung ương phải chỉ đạo tiến hành trong toàn Đảng và toàn xã hội “cuộc vận động làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức đảng; làm trong sạch và nâng cao hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước; đẩy lùi và xóa bỏ các hiện tượng tiêu cực, làm lành mạnh các quan hệ xã hội và thực hiện công bằng xã hội[9].

Đại hội quyết định bổ sung và sửa đổi một số điểm cụ thể trong Điều lệ Đảng cho phù hợp với tình hình mới và bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa VI, gồm có 124 ủy viên chính thức, 49 ủy viên dự khuyết. Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm có 13 ủy viên chính thức, 1 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Lê Đức Thọ được giao trách nhiệm làm Cố vấn cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng là đại hội kế thừa và quyết tâm đổi mới, đoàn kết tiến lên của Đảng ta. Thành công của Đại hội đã mở ra một bước ngoặt có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam, đưa đất nước bước sang một giai đoạn phát triển mới.

TG