Thứ Ba, 7 tháng 5, 2024

Karl Marx đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội và những vấn đề đặt ra hiện nay

 

Đã gần 180 năm kể từ khi còn là “bóng ma ám ảnh châu Âu” và trong suốt quá trình phát triển của mình, Chủ nghĩa Mác luôn vấp phải sự chống phá quyết liệt của những quan điểm phi mác-xít nói chung, của chủ nghĩa cơ hội trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nói riêng.

Do vậy, Karl Marx và những người đồng chí của mình đã phải tiến hành cuộc đấu tranh quyết liệt chống lại các chủ nghĩa cơ hội dưới mọi màu sắc. Cuộc đấu tranh đó có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn, đồng thời đã để lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho Đảng ta trong cuộc đấu tranh chống lại những biểu hiện cơ hội chủ nghĩa hiện nay.

Cuộc "đấu tranh sống mái"

Chủ nghĩa cơ hội ra đời đã gây ra những tác hại rất lớn đối với sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân. Chính những tác động tiêu cực của chủ nghĩa cơ hội nên Karl Marx và những người đồng chí của mình đã phải tiến hành cuộc “đấu tranh sống mái”(1) chống lại chủ nghĩa cơ hội dưới nhiều màu sắc khác nhau như: Chủ nghĩa Proudhon, Lassalle, Bakunin... để phong trào công nhân quốc tế mau chóng hồi phục và phát triển.

Thứ nhất, đấu tranh chống Chủ nghĩa Proudhon. Chủ nghĩa Proudhon là chủ nghĩa cải lương và trào lưu vô chính phủ lưu hành trong phong trào công nhân Pháp từ những năm 40 đến những năm 90 của thế kỷ 19, đại biểu là P.J.Proudhon. Đứng trên lập trường của tầng lớp tiểu tư sản, Proudhon kịch liệt phản đối các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại chế độ tư bản. Ông đã ảo tưởng cải tạo xã hội một cách hòa bình và đưa ra tư tưởng cải cách dần dần từ bên trên. Với những quan điểm của mình, Chủ nghĩa Proudhon đã gây trở ngại nghiêm trọng cho sự truyền bá chủ nghĩa xã hội khoa học trong phong trào cộng sản, công nhân quốc tế lúc bấy giờ. Trước tình hình đó, Karl Marx đã viết nhiều tác phẩm: "Bản thảo kinh tế-triết học" (1844), "Hệ tư tưởng Đức" (1846), "Sự khốn cùng của triết học" (1847), "Bàn về Proudhon" (1865)... phê phán nghiêm khắc lý luận vô sách lược của Chủ nghĩa Proudhon. Karl Marx  trình bày những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học, phê phán lý luận “cách mạng xã hội” của Chủ nghĩa Proudhon. Karl Marx  đã chỉ ra sự ảo tưởng trong việc cải tạo xã hội một cách hòa bình và chứa đầy mâu thuẫn về mặt lý luận của Proudhon. Trong khi phê phán Proudhon, Karl Marx đã lập luận học thuyết đấu tranh giải phóng giai cấp vô sản, đó là sự thống nhất giữa đấu tranh kinh tế và đấu tranh chính trị nhằm cải thiện đời sống sinh hoạt vật chất tiến tới giải phóng bản thân, lật đổ nền thống trị của giai cấp tư sản. Cuộc đấu tranh của những người sáng lập Chủ nghĩa Mác chống chủ nghĩa vô chính phủ của Proudhon kéo dài suốt mấy chục năm, tới khi Công xã Paris thất bại mới triệt để xóa bỏ được nó. Và từ đây, chủ nghĩa cơ hội Proudhon đã không còn ảnh hưởng gì trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.Thứ hai, đấu tranh chống Chủ nghĩa Lassalle. Chủ nghĩa Lassalle hình thành ở nước Đức vào những năm 60 của thế kỷ 19, là trào lưu cơ hội chủ nghĩa mà đứng đầu là F.Lassalle (1825-1864). Đây là một trào lưu cơ hội chủ nghĩa có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của phong trào công nhân Đức và phong trào công nhân quốc tế. Bên cạnh việc tuyên truyền cái gọi là “quy luật sắt về tiền công”, Lassalle cổ vũ cho quan điểm duy tâm chủ nghĩa về nhà nước, kêu gọi thực hiện chủ nghĩa xã hội thông qua quyền phổ thông đầu phiếu, biến nhà nước chuyên chế Phổ thành “nhà nước tự do”, sau đó, nhà nước ấy sẽ đem tiền của dùng vào chiến tranh để xây dựng các hợp tác xã, làm cho công nhân thoát khỏi nghèo khổ. Tư tưởng của F.Lassalle thực tế là thỏa hiệp và theo đuôi giai cấp tư sản. Karl Marx đã viết tác phẩm "Phê phán Cương lĩnh Gotha"(1875), phê phán những sai lầm thỏa hiệp, hữu khuynh vô nguyên tắc của những người lãnh đạo Đảng Dân chủ xã hội Đức, vạch trần bản chất cơ hội, cải lương của phái Lassalle. Karl Marx đã vạch trần tính chất sai lầm và phản động của F.Lassalle trên nhiều vấn đề; trong đó, ông phê phán luận điểm nhảm nhí về “nhà nước tự do” dựa theo quan điểm siêu giai cấp của Lassalle. Cũng thông qua cuộc đấu tranh này, Karl Marx đã phát triển lý luận về hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa, làm nổi bật tính tất yếu, vai trò lịch sử của chuyên chính vô sản và phát triển thêm một bước học thuyết về nhà nước.

Thứ ba, đấu tranh chống chủ nghĩa vô chính phủ Bakunin. Chủ nghĩa Bakunin là một trào lưu tư tưởng chính trị tiểu tư sản và chủ nghĩa vô chính phủ có ảnh hưởng rộng rãi nhất trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế vào những năm 70 của thế kỷ 19. Bakunin đòi xóa bỏ mọi hình thức chính quyền, kể cả chuyên chính vô sản bằng các cuộc bạo động có tính chất âm mưu; khước từ mọi hoạt động chính trị của giai cấp công nhân... Cuộc đấu tranh của Karl Marx chống lại tư tưởng cơ hội tiểu tư sản và vô chính phủ của Bakunin được đưa lên hàng đầu trong Quốc tế I. Karl Marx đã chỉ ra tư tưởng của Bakunin là “sai lầm về mặt lý luận và phản động về mặt thực tiễn”, dẫn giai cấp công nhân đi theo chủ nghĩa cải lương. Ông chỉ ra rằng không thể thủ tiêu chủ nghĩa tư bản bằng việc xóa bỏ quyền thừa kế mà phải sử dụng chuyên chính vô sản. Thông qua sự đấu tranh quyết liệt của mình, Karl Marx đã đánh bại Chủ nghĩa Bakunin và năm 1872 khai trừ Bakunin ra khỏi Quốc tế I, đồng thời đưa Chủ nghĩa Mác phát triển lên một tầm cao mới trong lý luận về nhà nước chuyên chính vô sản.

Có thể nói, Karl Marx đã tiến hành cuộc đấu tranh triệt để chống lại chủ nghĩa cơ hội trong những năm 1844-1873 và đã bác bỏ gần như toàn bộ học thuyết cơ hội trong giai đoạn đầu của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Cuộc đấu tranh này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần đưa phong trào công nhân quốc tế phát triển đúng hướng. Đồng thời còn tạo ra một bước phát triển vượt bậc của hệ tư tưởng vô sản, ngày càng khẳng định tính đúng đắn, khoa học của học thuyết này, tạo cơ sở vững chắc cho những thắng lợi của các cuộc cách mạng vô sản sau này.

Những vấn đề đặt ra đối với đấu tranh chống tư tưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Trong Đảng ta hiện nay chưa có chủ nghĩa cơ hội như thời của Karl Marx, tức là chưa có những trào lưu tư tưởng, học thuyết hay một tổ chức công khai đối lập với Đảng, tuy nhiên, những tư tưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa xuất hiện dưới những mức độ, tính chất khác nhau. Biểu hiện cơ hội chủ nghĩa ở trong Đảng ta thể hiện dưới những dạng cơ hội chính trị và cơ hội thực dụng mà Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) chỉ ra đó là 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Những t­ư t­ưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa đã và đang làm giảm sút năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, đe dọa tới sự tồn vong của chế độ. Do vậy, kế thừa những bài học, kinh nghiệm từ cuộc đấu tranh của Karl Marx chống chủ nghĩa cơ hội, để có thể ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện cơ hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, cần phải tập trung giải quyết những vấn đề sau:

Một là, cần giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trong đấu tranh chống những tư tưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa. Cho dù các phần tử cơ hội chủ nghĩa dưới nhiều màu sắc, song chúng đều có một trong 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Do đó, cần tuyên truyền, giáo dục để đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân phát hiện ra những phần tử cơ hội chủ nghĩa trong Đảng, thấy rõ tác hại của chúng, trên cơ sở đó, nâng cao trách nhiệm trong đấu tranh phòng, chống những phần tử cơ hội chủ nghĩa, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh.

Hai là, phải có thái độ đấu tranh dứt khoát, kiên quyết, triệt để, không khoan nhượng với những tư tưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa. Các phần tử cơ hội chủ nghĩa như những “ung nhọt”, “vi trùng rất độc”, “khối u ác tính”; là một tai họa hiển nhiên, do vậy, toàn Đảng cần đấu tranh chống lại chúng ở mọi nơi, mọi lúc; trên tất cả lĩnh vực; không cho chúng cơ hội trở thành một chủ nghĩa, một trào lưu tư tưởng có ảnh hưởng lớn tới sự nghiệp cách mạng. Cần phải có thái độ rõ ràng, đấu tranh một cách kịp thời, triệt để, dứt khoát, không cho chúng có “mảnh đất” để tồn tại. Kiên quyết xử lý, loại bỏ chúng dù ở bất cứ vị trí nào, cần “tẩy rửa chất mủ ấy đi càng nhanh và càng kỹ chừng nào càng tốt chừng nấy, dù cho việc mổ xẻ ấy có làm cho ta phải tạm thời chịu đau đớn kịch liệt đi nữa”(2).

Ba là, xác định nội dung, phư­ơng pháp, hình thức phù hợp để đấu tranh hiệu quả với các biểu hiện cơ hội chủ nghĩa. Cuộc đấu tranh chống các phần tử cơ hội chủ nghĩa phải đư­ợc tiến hành trên mọi mặt trận, ở mọi nơi, từ đấu tranh lý luận đến đấu tranh thực tiễn. Nâng cao chất lượng công tác tư tưởng lý luận, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận. “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” (3). Kết hợp chặt chẽ giữa nâng cao chất lượng giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng viên với thực hiện nghiêm túc các khâu, các bước trong công tác cán bộ, thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Kết hợp chặt chẽ giữa tự phê bình và phê bình trong nội bộ với công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp, sự giám sát của các phương tiện thông tin đại chúng, của quần chúng nhân dân và công tác thanh tra, điều tra, xét xử của các cơ quan chức năng. Qua đó kịp thời phát hiện, ngăn chặn, loại bỏ những phần tử cơ hội chủ nghĩa “luồn sâu, leo cao” vào trong bộ máy của Đảng.

Nói tóm lại, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội của Karl Marx đã để lại những ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn hết sức sâu sắc, trong đó chỉ dẫn cho cuộc đấu tranh phòng, chống những tư tưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa trong Đảng ta hiện nay. Để đấu tranh chống các phần tử cơ hội chủ nghĩa đòi hỏi cần phải xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng. Có như vậy, Đảng mới tăng cường “sức đề kháng” và đủ sức loại bỏ được những phần tử cơ hội chủ nghĩa ra khỏi bộ máy.

------------------------------------

(1) K.Marx và F.Engels, Toàn tập, tập 4, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.58

(2) V.I.Lenin, Toàn tập, tập 27, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.154

(3) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, NXB Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.183

Thiếu tá, Thạc sĩ PHẠM VĂN PHONG, Học viện Chính trị

Thứ Hai, 6 tháng 5, 2024

Tinh thần chiến thắng!

 

70 năm trước, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đưa Việt Nam bước sang thời kỳ mới: Miền Bắc quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội và thực hiện cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Chiến thắng Điện Biên Phủ cũng mở ra trang sử mới cho lịch sử nhân loại, cổ vũ các dân tộc bị áp bức đứng lên đấu tranh tự giải phóng; đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn thế giới.

Điện Biên Phủ có vị trí chiến lược quan trọng đối với chiến trường Đông Dương và cả Đông Nam Á. Vì thế, quân Pháp đã biến nơi đây thành một tập đoàn cứ điểm quân sự mạnh nhất Đông Dương, được chúng huênh hoang là “pháo đài bất khả xâm phạm”. Đánh giá đúng tình hình và âm mưu, thủ đoạn của địch, cuối năm 1953, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà cả đối với quốc tế. Vì vậy, toàn dân, toàn quân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được.Để thực hiện quyết tâm chiến lược đánh chắc thắng, quân và dân ta phải vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, nhất là khi lực lượng chủ lực của ta hạn chế về vũ khí, trang bị; đường cơ động xa, địa hình rừng núi rất hiểm trở, việc bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho chiến dịch lớn và dài ngày là thách thức chưa từng có.

Tuy nhiên, với tinh thần “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc cộng với sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đã được phát huy cao độ. Cả nước đồng lòng dồn sức người, sức của; các chiến sĩ Điện Biên chiến đấu với tinh thần quả cảm, sẵn sàng hy sinh; Bộ chỉ huy mặt trận, đặc biệt là Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các tướng lĩnh, cán bộ các đơn vị chỉ đạo tài tình, linh hoạt, mưu trí, sáng tạo... đã tạo nên sức mạnh làm nên chiến thắng lẫy lừng.

Chiến thắng Điện Biên Phủ là biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tiêu biểu cho trí tuệ, bản lĩnh, sức mạnh của dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tri ân, tưởng nhớ đồng bào, đồng chí, cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc; cảm ơn sự giúp đỡ to lớn, chí nghĩa, chí tình của bạn bè quốc tế. Đồng thời, tiếp tục hun đúc tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân; khơi dậy khát vọng hòa bình, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để phát triển đất nước; giáo dục các thế hệ người Việt Nam phát huy truyền thống anh hùng, tích cực đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã để lại cho chúng ta nhiều bài học quý, rất sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn, vẫn còn nguyên giá trị.

Trước hết, đó là bài học về sự lãnh đạo, chỉ đạo chiến lược đúng đắn, sáng tạo của Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, trực tiếp là tài thao lược của người chỉ huy chiến dịch, các tướng lĩnh, cán bộ trên chiến trường.

Đó là bài học về công tác Đảng, công tác chính trị trong phát huy cao độ bản lĩnh, trí tuệ và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam; phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, “quân với dân một ý chí”, sẵn sàng hy sinh tất cả, “không có gì quý hơn độc lập, tự do”-quyết chiến và biết cách đánh thắng!   

Đó là bài học về sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Bài học về nhận định đúng tình hình, tận dụng thời cơ mở chiến dịch có ý nghĩa quyết định. Bài học về vận dụng sự độc đáo, sáng tạo của nghệ thuật quân sự Việt Nam, linh hoạt thay đổi cách đánh, ta biến yếu thành mạnh, làm cho địch từ mạnh thành yếu; toàn mặt trận thống nhất ý chí và hành động, chấp hành nghiêm kỷ luật chiến trường, phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ, bảo đảm hiệu suất chiến đấu cao, tạo những đòn tấn công bất ngờ, làm địch bị phân tán, từ tan rã từng phần đến thất bại toàn bộ...

Đó là nhiều bài học trong tổ chức sử dụng lực lượng linh hoạt, hiệu quả; phát huy tối đa mọi nguồn lực bảo đảm hậu cần, kỹ thuật và tất cả các mặt cho tác chiến chiến dịch nói riêng và chiến tranh nói chung; không ngừng xây dựng LLVT, nhất là Quân đội nhân dân (QĐND) vững mạnh, làm nòng cốt trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc...

Đặc biệt là bài học “đánh chắc, tiến chắc”, chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh; tiến hành “chỉnh huấn” ngay tại chiến trường để kịp thời khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, biểu hiện tư tưởng tiêu cực, giữ vững ý chí quyết tâm chiến đấu thắng lợi.

Đất nước ta đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh có nhiều thuận lợi, thời cơ, song cũng không ít khó khăn, thách thức. Để thực hiện thành công các mục tiêu mà Đảng ta xác định, tinh thần đại đoàn kết, yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí quyết tâm không quản ngại gian khổ, hy sinh, phấn đấu hết mình vì lợi ích chung như trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm xưa cần được nhân lên. Đảng đã có đường lối đúng, mọi tổ chức, cá nhân phải nghiêm túc chấp hành, nỗ lực thực hiện; phát huy tinh thần chủ động, linh hoạt, sáng tạo nhưng phải bảo đảm hoàn thành thắng lợi mục tiêu như phương châm “đánh chắc, tiến chắc”, có như vậy mới tạo được sự phát triển bền vững.  

Cùng với cả nước, LLVT mà nhất là QĐND Việt Nam càng phải phát huy bản chất, truyền thống anh hùng cách mạng; vận dụng sáng tạo, hiệu quả những bài học kinh nghiệm trong Chiến dịch Điện Biên Phủ vào xây dựng, tổ chức lực lượng, tiến hành công tác tư tưởng; tăng cường huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu để đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, bảo đảm sức mạnh giành thắng lợi trong mọi tình huống.

Trước mắt, toàn quân cần phát huy tinh thần, ý chí của chiến sĩ Điện Biên trong rèn cán, luyện binh, xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, thực sự là đội quân cách mạng, làm nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, đồng thời tích cực tham gia xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh. Từ tướng lĩnh đến mỗi chiến sĩ cần biến niềm tự hào thành động lực, tạo sức bật mới cho đơn vị và toàn quân, lập thành tích hướng tới kỷ niệm 80 năm thành lập QĐND Việt Nam, 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân; xứng đáng với truyền thống Quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng.

QĐND

Chiến thắng Điện Biên Phủ - nhìn từ văn hóa phong thủy quân sự

Thuật ngữ “phong thủy” được hiểu khái quát nhất là vận dụng quy luật của hai hiện tượng cơ bản trong tự nhiên là “gió” (phong) và “nước” (thủy) để phục vụ tốt hơn cuộc sống của con người. Ngày nay, lý thuyết phong thủy hiện đại đang được ứng dụng phổ biến ở nước ta và thế giới (đặc biệt là Nhật Bản, Trung Quốc...). “Phong thủy quân sự” là vận dụng những yếu tố trên vào mục đích quân sự. Ngày xưa, phép dùng binh của Tôn Tử đã nói đến vấn đề này.

Cha ông ta (thời Ngô Quyền và Trần Hưng Đạo) đã vận dụng tài tình thế đất, hướng gió, nước thủy triều... nhử thủy quân xâm lược (Nam Hán, giặc Nguyên) vào bãi cọc chôn dưới đáy sông để tiêu diệt. Trong “Tam quốc diễn nghĩa”, tác giả La Quán Trung miêu tả sinh động, hấp dẫn các trận đánh lớn có sự vận dụng nguyên tắc phong thủy. Cái tài “hô phong hoán vũ” (gọi gió đuổi mưa) về bản chất là năng lực hiểu, vận dụng phong thủy.Từ khi còn nhỏ, Bác Hồ đã học chữ Nho, tiếp thu tinh hoa “nho, y, lý, số” phương Đông và vận dụng vào cuộc sống, sinh hoạt một cách rất tự nhiên. Trong “Lời than vãn của Bà Trưng Trắc” viết bằng tiếng Pháp, Nguyễn Ái Quốc có nói đến “quẻ Dương cửu”, một quẻ trong "Kinh Dịch" nói về thời thế, thời vận để “tiên tri” về sự “xuống dốc” của Khải Định. Sự thật sau đó đúng như vậy. Nhìn tổng thể, cấu trúc trước tác của Bác Hồ cùng theo thế phong thủy rất vững vàng, thường có điểm tựa là một thực tế, một quy luật: “Gạo đem vào giã bao đau đớn.../ Sống ở trên đời người cũng vậy...”; “Trời có bốn mùa.../ Người có bốn đức...”. Bác là người đưa phong thủy vào phong cách làm việc thường ngày: Hòa mình vào thiên nhiên, lấy thiên nhiên làm thước đo sinh hoạt.

Thời kỳ ở Việt Bắc, Bác nói với một nhà báo: “Chim rừng đánh thức tôi, còn tôi đi nằm lúc trên trời xuất hiện những vì sao”. Trong phòng làm việc của Bác luôn có hoa tươi (một vật phong thủy). Bác không bao giờ chặt cây, bẻ cây mà luôn trồng cây, chăm cây, đặt tên cho các đồng chí cũng theo nguyên tắc phong thủy: Thảo, Nghĩa, Kháng, Trường, Kỳ... 

Còn Bác đặt mình tên Xuân. Thời kỳ làm việc ở Việt Bắc, Bác thường ở nhà sàn theo “thế” nhà tựa vào cây, vào núi, hướng ra sông, ra nơi cánh đồng rộng rãi. Bác đặt ra cho các đồng chí cảnh vệ đi tìm nơi ở, thường là các hang ăn sâu vào núi (khoảng 1, 2 tháng phải thay đổi) tiêu biểu cho thế đất tốt: “Trên có núi, dưới có sông/ Có đất ta trồng, có bãi ta chơi/ Tiện đường sang Bộ Tổng/ Thuận lối tới Trung ương/ Nhà thoáng, ráo, kín mái/ Gần dân, không gần đường”. Địa danh Đá Chông (K9) lịch sử điển hình cho phong thủy cổ điển, tiêu biểu cho vấn đề lợi dụng địa hình, địa vật trong chiến tranh. Bác Hồ tự tay phác thảo bản vẽ sơ bộ về đường đi, hướng nhà, tự mình xem ngày khởi công, cất nóc...

Là người kế thừa, kết tinh văn hóa quân sự của Tôn Tử và cha ông ta thể hiện ở việc kiến tạo chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 theo thế phong thủy có lợi nhất, cuối tháng 9-1953, tại Tỉn Keo (Định Hóa, Thái Nguyên) cùng Bộ Chính trị họp bàn kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954, Bác Hồ chỉ đạo: “Về hướng hoạt động, lấy Tây Bắc làm hướng chính, các hướng khác là hướng phối hợp", "phép dùng binh là phải thiên biến vạn hóa”. Người đề ra chiến lược đưa quân Pháp vào thế bị động: “Địch tập trung quân cơ động để tạo nên sức mạnh... Không sợ! Ta buộc chúng phải phân tán binh lực thì sức mạnh đó không còn”.

Khi nói câu này, bàn tay Người mở ra, mỗi ngón tay chỉ về một hướng. Hành động “mở bàn tay” đã minh họa cụ thể, sinh động cho việc “buộc chúng phải phân tán binh lực”. Chỉ qua một cử chỉ nhỏ nhưng nói được cái thần thái của một tình thế chiến lược. Sau này, một nhà báo Pháp bình luận một bàn tay của Hồ Chí Minh đã “vơ gọn cả cứ điểm Điện Biên Phủ”!

Ngày 20-11-1953, tướng Navarre cho quân Pháp nhảy dù chiếm Điện Biên Phủ. Bác Hồ và Bộ Chính trị nhận định: “Quân Pháp nhảy dù chiếm đóng Điện Biên Phủ là hoàn toàn có lợi cho ta và cũng đã nằm trong dự kiến của ta”. Thế là người Pháp chọn Điện Biên Phủ làm cứ điểm chiến lược đã bị “mắc bẫy”, chẳng khác gì ngày xưa quân xâm lược Nam Hán, quân Nguyên bị cha ông ta “dụ” vào bãi cọc. Kế giỏi nhất là kế điều địch, là như vậy!

Nhìn từ phong thủy quân sự cổ điển thì đóng quân ở địa thế lòng chảo, núi non bao bọc xung quanh là một tối kỵ. Vì ở một vị trí thấp là tự đẩy mình vào thế bị động phòng ngự, nhất là khi bị bao vây. Là bậc thầy phong thủy quân sự, tháng 4-1954, tại Việt Bắc, tiếp nhà báo Burchett (Australia), mô tả vị trí Điện Biên Phủ, Bác Hồ lật ngửa chiếc mũ cát trên chiếc bàn tre, đưa mấy ngón tay vòng quanh mũ, giải thích: "Đây là rừng núi, nơi có lực lượng của chúng tôi". Rồi Người nắm tay lại, đấm vào lòng mũ và nói tiếp: "Còn đây là quân Pháp. Họ không thoát khỏi chỗ này được”. 

Một cách diễn tả hóm hỉnh nhưng thể hiện rõ thế chủ động chiến lược của ta và sự bị động của Pháp: Nếu ta cắt đứt các con đường vận chuyển, cả đường bộ, đường thủy, đường không thì “con nhím” dù khổng lồ cũng tự chết đói. Quân ta đổi cách đánh là đánh vào điểm cốt tử này. Cuối thế kỷ 20, nhiều hội thảo khoa học quân sự quốc tế (tại Pháp, Mỹ) về Điện Biên Phủ đều khẳng định Pháp thua từ trước đó (tức chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954), bởi sa vào sai lầm, mà người tạo ra sai lầm ấy là thiên tài quân sự Hồ Chí Minh!

Nhìn về tổng thể cấu trúc phòng thủ, cứ điểm Điện Biên Phủ là một khối gắn kết chặt chẽ, được bảo vệ bởi những loại phương tiện, vũ khí hiện đại nhất. Nhưng thực tế, cứ điểm hoàn toàn độc lập về khả năng tác chiến, khi bị tấn công, chủ yếu vẫn là lực lượng tại chỗ. Quân ta đã phát huy tối đa sức mạnh của hệ thống pháo 105mm mà tình báo Pháp không phát hiện được. Vì lẽ này, pháo binh Pháp dù hùng mạnh cũng không phát huy được tác dụng, không phát hiện được vị trí nên không thể phản pháo.

Với con mắt của nhà quân sự phương Tây, lên thăm Điện Biên Phủ, tướng Navarre chỉ nhìn thấy những ưu điểm của địa hình “xe tăng cơ động”, “các loại máy bay lên xuống”, “bức thành thiên nhiên ngăn chặn không cho đối phương đặt pháo”...

Ông ta không tính được ý chí quyết tâm của quân, dân ta đã làm những việc tưởng chừng không thể là vận chuyển hậu cần hay đưa pháo vượt núi cao... Ông ta càng không tính được “phong thủy quân sự” mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp vận dụng rất giỏi: Từ đầu tháng Ba âm lịch (đầu tháng 4 dương lịch) gió Lào qua cửa khẩu Tây Trang tràn vào cái túi lòng chảo, khí nóng khô bị chắn lại bởi các vòng cung núi, không chỉ tạo ra thời tiết bức bối khó chịu (nhất là với lính Pháp) mà còn gây nên tình trạng khan hiếm nước, dễ tạo ra cháy nổ khi kim loại bị cọ xát.

Bị vây lấn lâu ngày sẽ càng bị đẩy vào tình trạng kiệt quệ cả về vật chất lẫn tinh thần. Chưa nói tới tình huống nguồn nước (sông Nậm Rốm) bị khống chế...  Do vậy, nếu “đánh nhanh” sẽ không tận dụng được tối đa lợi thế “phong thủy” này.

Cha ông ta xưa đuổi giặc bằng “hình sông thế núi” (tức phong thủy). Chiến thắng Điện Biên Phủ là một sự kế thừa và phát triển nghệ thuật ấy một cách tinh tế, hiệu quả.

Đại tá, PGS, TS NGUYỄN THANH TÚ

Lời Bác dạy ngày 07/5/1958

 “Lý luận kết hợp với thực hành, học tập kết hợp với lao động”.[7]

Đó là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội Sinh viên Việt Nam lần thứ II, năm 1958.
Lời dạy của Người đối với sinh viên Việt Nam diễn ra trong bối cảnh miền Bắc đang thực hiện Kế hoạch 3 năm lần thứ hai (1958- 1960). Cùng với các lĩnh vực khác, trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Tuy nhiên, cũng có những vấn đề mới trong thực tiễn đặt ra, đòi hỏi phải kịp thời chấn chỉnh, định hướng; Bác đã chỉ rõ: “Lao động trí óc mà không lao động chân tay, chỉ biết lý luận mà không thực hành thì cũng là tri thức có một nửa. Vì vậy, cho nên các cháu trong lúc học lý luận cũng phải kết hợp với thực hành”. Lời dạy của Người chỉ ra phương châm giáo dục đào tạo bao hàm cả lý luận và thực tiễn, lý thuyết với thực hành, Người xác định lao động là quyền, là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi công dân đối với Tổ quốc. Ai cũng phải tùy khả năng của mình mà tự nguyện, tự giác tham gia lao động, góp phần xây dựng nước nhà. Mỗi người phải nhận rõ: Lao động là vinh quang, lao động chân tay hay lao động trí óc đều là vẻ vang, đáng quý. Do vậy, học tập phải kết hợp với lao động, sản xuất…
Học tập và làm theo lời Bác dạy, công tác huấn luyện, đào tạo trong quân đội luôn được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cấp quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện nghiêm túc với việc ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết chuyên đề lãnh đạo công tác huấn luyện, công tác giáo dục đào tạo và được cụ thể hóa thành 3 quan điểm, 8 nguyên tắc, 6 mối kết hợp trong huấn luyện; trong đó, xác định lý luận liên hệ với thực tiễn, lý thuyết đi đôi với thực hành, lấy thực hành làm chính. Kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện, kiểm tra và diễn tập các cấp có bắn đạn thật để không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Kết quả công tác huấn luyện, đào tạo được xác định là một tiêu chí quan trọng, là thước đo để đánh giá năng lực lãnh đạo, chỉ huy của cấp ủy, chỉ huy các cấp. Bên cạnh việc thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của đội quân chiến đấu, quân đội luôn coi trọng và tiến hành có hiệu quả chức năng đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất trong tình hình mới.
st

Từ lịch sử ngàn năm dựng nước đến triết lý “ngoại giao cây tre”

 


Từ bao đời nay, cây tre luôn gắn bó với cộng đồng dân tộc Việt Nam, mang trong mình cốt cách riêng của nền văn hóa, con người Việt Nam: kiên cường mà mềm dẻo, bản lĩnh mà linh hoạt, dung dị mà sáng tạo... Từ hình tượng và sự gần gũi của cây tre đã hình thành triết lý “Ngoại giao cây tre Việt Nam”. Đó là nền ngoại giao độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế, kiên trì về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, thủy chung, chính nghĩa, vì hòa bình, hợp tác và tiến bộ của nhân loại.

Từ đời sống bình dị đến triết lý ngoại giao

Trong lịch sử và văn hóa Việt Nam, cây tre là biểu trưng của bản lĩnh quật cường, ý chí bất khuất của con người Việt Nam. Từ thuở hồng hoang, những ý niệm về quốc gia - dân tộc của Việt Nam được hình thành từ sự cố kết cộng đồng trải qua hàng nghìn năm trường kỳ phòng, chống thiên tai và địch họa. Cây tre tạo nên những lũy, thành, giúp cha ông ta bảo vệ làng quê trước thử thách của thiên nhiên và bảo vệ đất nước khỏi giặc ngoại xâm. Thấm đượm bản sắc và văn hóa Việt Nam, hình tượng cây tre và ngoại giao Việt Nam rất gần gũi nhau. Ngoại giao là sự giao thoa của chính trị - an ninh, kinh tế - xã hội và văn hóa, là sợi dây kết nối quá khứ với hiện tại, lịch sử và tương lai, đất nước với thế giới. Ngoại giao lấy cái gốc là văn hóa dân tộc và mang trong mình nội hàm văn hóa dân tộc. Điều đó đã được minh chứng trong lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc đã minh chứng ngoại giao là một trong số những thế mạnh vượt trội của Việt Nam, góp phần quan trọng giúp chúng ta giữ vững độc lập, chủ quyền, khẳng định vị thế trên trường quốc tế.

Kế thừa truyền thống văn hóa của dân tộc, thực hiện phương châm sẵn sàng “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra ngay từ những ngày đầu giành độc lập, Việt Nam đã và đang thực sự “là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Đó là khởi điểm của quá trình hình thành, phát triển của nền ngoại giao Việt Nam từ khi Đảng lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, lập nước, hình thành nên trường phái ngoại giao của Việt Nam. Tới nay, “gốc tre” của ngoại giao Việt Nam nói riêng và đất nước nói chung đã bén rễ, vươn cành vững chắc hơn với những thành quả thật đáng tự hào, bất chấp giông tố của thời cuộc. Luôn luôn đề cao mục tiêu độc lập dân tộc, tinh thần hòa hiếu, hữu nghị, dùng ngoại giao để đẩy lùi xung đột, đưa đất nước tới hòa bình, phát triển.

Từ lịch sử ngàn năm dựng nước đến triết lý “ngoại giao cây tre” -0
Cuốn sách về xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao cây tre của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Với sự đóng góp của ngành Ngoại giao, chúng ta đã cho nhân dân thế giới thấy một Việt Nam với khát vọng hòa bình, kiên cường, bất khuất đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, phá thế bao vây cấm vận, đưa đất nước phát triển.

Trước năm 1986, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều nước ngoài hệ thống xã hội chủ nghĩa; gia nhập Liên hợp quốc và một số tổ chức kinh tế, xã hội khác. Tuy nhiên, giai đoạn này an ninh, chính trị thế giới xảy ra nhiều biến động, các nước xã hội chủ nghĩa rơi vào khủng hoảng chính trị, kinh tế, xã hội. Trong nước, thiên tai liên tục xảy ra, hai đầu biên giới xảy ra chiến tranh, lại bị các nước thù địch bao vây, cấm vận. Trước tình hình này, tại Đại hội VI (tháng 12-1986), Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo nhân dân thực hiện công cuộc đổi mới. Trong đó, Đảng đã đánh giá lại cục diện thế giới để xác định đường lối, chính sách đối ngoại trong hoàn cảnh mới. Từ một nước bị bao vây, cấm vận, đến nay, nước ta đã có quan hệ ngoại giao với 193 quốc gia, trong đó Việt Nam có quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với 7 quốc gia, đó là: Trung Quốc (2008), Liên bang Nga (năm 2012), Ấn Độ (2016), Hàn Quốc (2022), Mỹ (2023), Nhật Bản (2023) và Australia (2024). 12 nước Đối tác chiến lược và 12 nước Đối tác toàn diện. Việt Nam là tâm điểm của nhiều mạng lưới liên kết kinh tế năng động với hơn 230 đối tác thương mại, 60 hiệp định thương mại tự do sâu rộng với nhiều phương diện hợp tác. Qua đó sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Vậy nên, khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khái quát quyết tâm xây dựng và phát triển một nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại, mang đậm bản sắc dân tộc là trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam” đã truyền đi thông điệp mạnh mẽ về một Việt Nam với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Triết lý ngoại giao cây tre nâng tầm vị thế đất nước

Bám sát đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng, các nghị quyết, kết luận, chỉ thị về đối ngoại của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và sự chỉ đạo của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các hoạt động đối ngoại, nhất là đối ngoại cấp cao đã diễn ra sôi động, rộng khắp các châu lục và tại nhiều diễn đàn, cơ chế đa phương quan trọng trong thời gian qua, “ngoại giao cây tre Việt Nam” kiên định về nguyên tắc và mục tiêu song đã uyển chuyển, chủ động và linh hoạt về phương pháp thực hiện. Mục tiêu của chúng ta là bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc, thực hiện đúng như lời dạy của Bác Hồ, đó là “muốn làm gì cũng cần vì lợi ích của dân tộc mà làm”. Nguyên tắc của chúng ta là “hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”, mọi quốc gia, dù lớn hay nhỏ đều bình đẳng, tôn trọng chủ quyền, quyền và lợi ích chính đáng của nhau, giải quyết bất đồng trên tinh thần hữu nghị, tuân thủ triệt để Hiến chương Liên hợp quốc và phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. Chúng ta cũng phản đối mọi hình vi bắt nạt, chính trị cường quyền, bao vây, cấm vận đơn phương; phản đối việc sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Vị thế, uy tín và tiếng nói của Việt Nam tiếp tục được khẳng định tại nhiều diễn đàn, cơ chế đa phương quan trọng như ASEAN, Liên hợp quốc, Tiểu vùng Mê Công, Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Hội đồng Liên Nghị viện ASEAN (AIPA), Liên minh Nghị viện thế giới (IPU), Hội nghị của các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) lần thứ 28 (Hội nghị COP-28), Diễn đàn cấp cao Vành đai và Con đường… Bên cạnh đó, Việt Nam đã đảm nhiệm thành công nhiệm kỳ Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc Khóa 77, thực hiện tốt chức trách thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025, Ủy ban Luật pháp quốc tế; đồng thời, được cộng đồng quốc tế tín nhiệm bầu vào nhiều vị trí quan trọng tại các tổ chức quốc tế; tổ chức thành công các hội nghị quốc tế lớn, như Hội nghị Nghị sĩ trẻ toàn cầu lần thứ 9, Hội nghị IPU về an ninh nguồn nước... Chúng ta không chỉ gia nhập WTO mà đã ký hơn 90 hiệp định thương mại song phương, gần 60 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư; đàm phán, ký kết và thực thi 19 FTA song phương và đa phương, với hầu hết các nền kinh tế lớn trên thế giới; trong đó, 16 FTA đã có hiệu lực với hơn 60 đối tác, phủ rộng khắp các châu lục, với tổng GDP chiếm gần 90% GDP toàn cầu; đưa Việt Nam trở thành một trong những nước dẫn đầu khu vực về tham gia các khuôn khổ hợp tác kinh tế song phương và đa phương. Cũng chính nhờ thực thi hiệu quả các FTA thời gian qua đã giúp mở rộng, đa dạng thị trường, chuỗi cung ứng và sản phẩm xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng hóa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất, nhập khẩu tăng trưởng mạnh và cán cân thương mại được cải thiện rõ rệt theo hướng chuyển từ thâm hụt sang thặng dư. Năm 2023 là năm thứ 8 liên tiếp Việt Nam xuất siêu với mức thặng dư cao so với thời trước khi gia nhập WTO.

Trong quá trình thực hiện, “ngoại giao cây tre Việt Nam” linh hoạt, chủ động và uyển chuyển. Chúng ta kiên trì và kiên quyết bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông nhưng chúng ta không cực đoan để xảy ra xung đột. Mục tiêu cao nhất là của chúng ta là bảo vệ và giữ vững chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, nhưng tránh đối đầu và xung đột vũ trang nếu đó không phải là giải pháp cuối cùng buộc phải làm, đảm bảo môi trường hòa bình và ổn định để phát triển. Trong quan hệ quốc tế luôn có sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước, đó là điều không thể tránh khỏi và cũng là quy luật sinh tồn. Có thể nói không quá rằng vị trí địa chiến lược của Việt Nam đã tự nó tạo cho Việt Nam luôn là một phần trong câu chuyện về quan hệ quốc tế, hẹp thì ở phạm vi khu vực Đông Nam Á, rộng hơn thì là châu Á-Thái Bình Dương hay Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Trong bối cảnh sự cạnh tranh và xung đột và lợi ích của các nước lớn trên thế giới sự linh hoạt trong “Ngoại giao cây tre Việt Nam” thời gian qua đã thực hiện diễn biến phức tạp bằng sự uyển chuyển, khéo léo và mềm dẻo trong quan hệ với từng nước, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ và tiếng nói của tập thể để tạo thành sức mạnh chung. Hơn nữa, chúng ta còn tạo ra được mạng lưới lợi ích đan xen, lồng ghép giữa lợi ích quốc gia với lợi ích tổ chức khu vực và quốc tế, nhờ đó giúp chúng ta bảo vệ được lợi ích quốc gia.

Trên tinh thần bình đẳng, hài hòa lợi ích, chia sẻ khó khăn và tương trợ lẫn nhau, Việt Nam đã đề xuất nhiều sáng kiến, giải pháp thúc đẩy hợp tác, đóng góp có trách nhiệm vào các vấn đề chung của thế giới, như phòng, chống dịch bệnh, thiên tai, biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, gìn giữ hòa bình ở châu Phi, cử lực lượng hỗ trợ khắc phục hậu quả động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ... Có thể nói, chưa bao giờ vị thế, uy tín và hình ảnh đất nước Việt Nam độc lập, tự chủ, phát triển năng động, là bạn bè thủy chung, chân thành, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế lại nổi bật trên trường quốc tế như hiện nay. Tựu chung lại, “ngoại giao cây tre Việt Nam đã làm tốt được nhiệm vụ bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc là vì chúng ta đã thực hiện nhất quán “đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” trên tinh thần chủ động và tích cực.

Nhìn vào lịch sử dân tộc, trong suốt thời kỳ chiến tranh giành độc lập dân tộc, cũng như trong thời kỳ hoà bình, hoạt động đối ngoại luôn là một mặt trận có vai trò vô cùng quan trọng, góp phần tạo nên những thắng lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước; tạo lối, mở đường, từng bước phá thế bao vây, cấm vận, khơi thông quan hệ với nhiều đối tác, mở ra cục diện mới cho công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và toàn diện. Để hoàn thành các mục tiêu lớn mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra, đòi hỏi chúng ta phải kiên định về nguyên tắc và linh hoạt về sách lược trong thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm chủ quyền quốc gia; làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn, xuyên tạc, chống phá của các thế lực phản động, thù địch đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước; quyết tâm xây dựng và phát triển một nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại, mang đậm bản sắc dân tộc, góp phần xây dựng Việt Nam trở thành một quốc gia hùng cường và thịnh vượng.

Khẳng định tính đúng đắn của đường lối ngoại giao "Cây tre Việt Nam"

 


Chúng ta luôn tự hào và tuyệt đối tin tưởng vào đường lối đối ngoại đúng đắn, sáng tạo đậm bản sắc “Cây tre Việt Nam” của Đảng. Từ đó, nhận diện và kiên quyết đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ đường lối đối ngoại của Đảng, cũng chính là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

a
Ảnh minh họa: Cờ Việt Nam và các nước trên thế giới.

Từ sau Đại hội XIII của Đảng đến nay, tình hình thế giới và khu vực đã trải qua những biến động lớn, bên cạnh cơ hội, thuận lợi, cũng xuất hiện nhiều khó khăn, thách thức mới. Cạnh tranh nước lớn diễn ra gay gắt, chính trị cường quyền, nguy cơ chạy đua vũ trang, các cuộc xung đột và tình hình căng thẳng, bất ổn trên thế giới gia tăng; kinh tế thế giới phục hồi chậm, an ninh truyền thống và phi truyền thống (nhất là biến đổi khí hậu, dịch bệnh, an ninh con người, an ninh mạng...) đan xen ngày càng phức tạp,.. hợp thành những trở ngại không nhỏ, vượt khỏi tầm kiểm soát ở từng khu vực và mỗi quốc gia.

Trong bối cảnh đó, ngành Ngoại giao và Đối ngoại cả nước cùng chung sức, đồng lòng, nỗ lực phấn đấu, đã “đạt được nhiều kết quả, thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử, trở thành một điểm sáng đầy ấn tượng trong toàn bộ những kết quả, thành tựu chung của đất nước”

Kể từ sau những hoạt động đối ngoại diễn ra hết sức sôi động, liên tục và là điểm sáng nổi bật của năm 2023; việc tổ chức đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình, Tổng thống Mỹ Joe Biden, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thoong-lun Xỉ-xu-lít, Chủ tịch Đảng Nhân dân Cam-pu-chia Hun Sen và nhiều nguyên thủ quốc gia các nước quan trọng khác đến thăm Việt Nam được đánh giá là những sự kiện có ý nghĩa lịch sử, góp phần khẳng định "chưa bao giờ đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế quốc tế như ngày nay"

Đất nước ta càng đạt được những thành tựu phát triển to lớn, toàn diện (trong đó có lĩnh vực đối ngoại), thì các thế lực thù địch, phản động lại càng hằn học, điên cuồng tìm mọi cách để chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, toan tính chọn ra “khoảng trống” trong nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về lĩnh vực đối ngoại, tập trung xuyên tạc đường lối ngoại giao “Cây tre Việt Nam”, gieo rắc, kích động tư tưởng dân tộc cực đoan, tạo tư tưởng hoài nghi, hoang mang, dao động, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Thuật ngữ Ngoại giao “Cây tre Việt Nam” gần đây được xuất hiện và trở nên phổ biến tại các diễn đàn ngoại giao ở trong và ngoài nước.

Tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 29 (năm 2016), thuật ngữ “Cây tre Việt Nam” đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề cập ẩn dụ về đường lối đối ngoại của Việt Nam: “cây tre Việt Nam” mềm mại mà cứng cỏi, nhân ái mà quật cường, biết nhu biết cương, biết thời biết thế, biết mình biết người..."

Hội nghị Đối ngoại toàn quốc ngày 14/12/2021, Tổng Bí thư tái khẳng định "cây tre Việt Nam" với những góc tiếp cận “Gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển… thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam...”

Đến Hội nghị Ngoại giao toàn quốc lần thứ 32 ngày 19/12/2023, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “tiếp tục đổi mới, xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại, vững mạnh toàn diện, mang đậm bản sắc "cây tre Việt Nam" ”

Ngoại giao “Cây tre Việt Nam” với thuộc tính Vững ở gốc, Chắc ở thân, Uyển chuyển ở cành, đã được kiểm nghiệm và đúc kết qua thực tiễn quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, và nay đã được hình tượng hóa đường lối đối ngoại mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang thực hiện nhất quán vì lợi ích tối cao của quốc gia, dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi.

Từ những phân tích trên cho thấy, các thế lực thù địch (được chỉ rõ tên trong Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị) tập trung xuyên tạc trường phái ngoại giao mang đậm bản sắc “Cây tre Việt Nam”, thực chất là xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, hạ thấp vị thế, uy tín nước ta trên trường quốc tế, gây ra sự hiểu sai về đất nước, con người Việt Nam; tìm cách cô lập Việt Nam với thế giới... Họ phủ nhận giá trị lịch sử và nhân văn của ngoại giao “Cây tre Việt Nam” và cho rằng, đường lối “ngoại giao cây tre” là “theo chiều gió”, “không có chính kiến, thiếu lập trường nhất quán”, “bắt cá hai tay”...

Chuyến thăm cấp cao chính thức Việt Nam của Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (10 - 11/9/2023), hai bên nhất trí nâng cấp thiết lập quan hệ, thành Đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững. Nhưng các thế lực thù địch đã xuyên tạc kết quả, ý nghĩa của chuyến thăm. Gần đây, trên một số trang mạng phản động: “Daploisongnui”, “Đài Á Châu tự do”, “Thongluan”, “Baotiengdan”... các thế lực thù địch lại tung ra những luận điệu sai trái: “Việt Nam đang ngả về phương Tây”; “sẽ có một vận hội mới với phong trào dân chủ ở Việt Nam sau chuyến thăm của Biden”;…

Sự kiện Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc, nhân chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Tập Cận Bình, ngày 12 - 13/12/2023, đã trở thành mục tiêu xuyên tạc của các lực lượng thù địch. Việt Tân, Tiếng Dân News, RFA, BBC, VOA tiengviet, Nguyễn Văn Đài, Mạc Văn Trang... tiếp tục bịa đặt và xuyên tạc nội dung, ý nghĩa của chuyến thăm: “Đảng Cộng sản Việt Nam đang tự chui đầu vào vòng kim cô, vào cái thòng lọng của Đảng Cộng sản Trung Quốc”, “bước đi dứt khoát đẩy Việt Nam phụ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc”... Đây là những luận điệu hoàn toàn sai trái, xuyên tạc một cách trắng trợn trường phái ngoại giao “Cây tre Việt Nam”, lộ rõ âm mưu phủ nhận đường lối đối ngoại “độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển ... trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế,... Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.”

Việt Nam đã chủ động, tích cực tham gia các cơ chế, các diễn đàn khu vực và toàn cầu để vừa thích ứng với các trào lưu, xu thế chung của thế giới, vừa phục vụ một cách tốt nhất các lợi ích quốc gia - dân tộc. Theo đó, với Trung Quốc, chúng ta tăng cường quan hệ (thể hiện qua Thông cáo chung Việt Nam - Trung quốc với 36 thỏa thuận), “Hai bên nhất trí xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược, nỗ lực vì hạnh phúc của nhân dân hai nước, vì hòa bình và tiến bộ của nhân loại, phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế”. Với Hoa Kỳ, chúng ta nâng cấp quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện “Hai Nhà Lãnh đạo hoan nghênh một giai đoạn lịch sử mới của tình hữu nghị và hợp tác song phương với việc nâng cấp quan hệ hai nước lên Đối tác Chiến lược Toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững. Hoa Kỳ ủng hộ một nước Việt Nam mạnh, độc lập, thịnh vượng và tự cường”[8], trên cơ sở mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các nước này ngày càng trở nên thực chất và hiệu quả hơn.

Với những chính sách tạo được lòng tin, sự tin cậy đối với các tổ chức và các nước trên thế giới, hiện nay mạng lưới các mối quan hệ đối tác của Việt Nam tiếp tục được củng cố và mở rộng, từng bước đi vào chiều sâu, gia tăng điểm đồng, đan xen lợi ích; chúng ta đã thực hiện nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới điển hình như “CPTPP, EVFTA, RCEP”[9], đặc biệt với AFTA.. Theo đó, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao chính thức với đủ 5 Ủy viên Thường trực và các thành viên của Liên hợp quốc. Kênh Đảng, với 247 chính đảng ở 111 quốc gia; kênh Quốc hội, với hơn 140 nước; kênh nhân dân, với 1.200 tổ chức nhân dân và phi chính phủ nước ngoài. Việt Nam đã được tín nhiệm bầu vào các cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc như: Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014 - 2016, 2023 - 2025; Ủy ban Di sản Thế giới của UNESCO nhiệm kỳ 2013 - 2017; Hội đồng Kinh tế - Xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) 2016 - 2018…

Những thành tựu đã đạt được, cũng như thực tiễn sinh động về hoạt động đối ngoại của Việt Nam là minh chứng thuyết phục nhất để bác bỏ các luận điệu xuyên tạc, bóp méo trường phái ngoại giao “Cây tre Việt Nam”. Từ đó, củng cố niềm tin của nhân dân vào đường lối đối ngoại đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Nhà nước; củng cố sự tin cậy của bạn bè quốc tế và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới đối với Việt Nam; góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

Là cán bộ, đảng viên, trước những diễn biến phức tạp của tình hình trong và ngoài nước, chúng ta luôn tự hào và tuyệt đối tin tưởng vào đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Dù ở bất kỳ cương vị công tác nào, chúng ta cần chấp hành nghiêm Quy định về “Những điều đảng viên không được làm” và những Quy định khác của Đảng. Tự giác học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị và kiến thức thực tiễn để “tăng cường sức đề kháng”, “miễn dịch” của chính mình trước âm mưu “tự diến biến”, “tự chuyển hóa”; để không chỉ, nhận diện ngay cho được những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các lực lượng thù địch mà còn, kịp thời kiên quyết đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, bảo vệ trường phái ngoại giao “Cây tre Việt Nam”, bảo vệ đường lối đối ngoại của Đảng cũng chính là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng./.


Minh chứng sinh động phản bác luận điệu sai trái về trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam”

 



Nhận diện âm mưu, thủ đoạn chống phá

Mới đây, sau  khi cuốn sách “Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được ra mắt bạn đọc thì một số tổ chức, cá nhân phản động lưu vong ở nước ngoài, các hãng truyền thông hải ngoại định kiến với Việt Nam đã tung ra những bài viết, hình ảnh, video trên các nền tảng mạng xã hội với nội dung sai trái.

Họ đưa ra luận điệu sai lệch rằng “cuốn sách là không cần thiết”, “trường phái ngoại giao cây tre là ngả nghiêng, không thực chất, không có lập trường, không rõ ràng”, “gió chiều nào theo chiều ấy”… Mục đích của các thế lực thù địch là xuyên tạc trường phái “ngoại giao cây tre”, thể hiện qua những vấn đề sau:

Minh chứng sinh động phản bác luận điệu sai trái về trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam” -0
Hội nghị ngoại giao lần thứ 32 xác định xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, vững mạnh…

Thứ nhất, xuyên tạc để tiến tới phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta cũng như vai trò quản lý xã hội của Nhà nước, đòi thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam; ca ngợi kiểu cách đối ngoại phương Tây để tạo “cơn sóng ngược” nhằm hướng lái nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, cho rằng như thế mới có đường lối đối ngoại đúng đắn.

Thứ hai, gieo rắc, kích động tư tưởng dân tộc cực đoan, tạo “ngòi nổ” để kích động tâm lý chống đối, phản kháng, gây chia rẽ, kỳ thị trong ngoại giao, đặc biệt gây sự hiểu nhầm đối với người dân trong đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước, gây mất ổn định xã hội, ảnh hưởng tiêu cực an ninh quốc gia, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Thứ ba, hạ bệ vị thế, uy tín nước ta trên trường quốc tế, tìm cách làm cho các đối tác của Việt Nam thiếu niềm tin, e ngại trong xúc tiến hợp tác kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; gây ra sự hiểu sai về đất nước, con người Việt Nam; tìm cách cô lập Việt Nam với thế giới.

Có thể thấy, âm mưu của các thế lực thù địch là rất nguy hiểm, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, nếu không tỉnh táo nhận diện và có cái nhìn khách quan, đúng đắn, đầy đủ về giá trị trường phái “ngoại giao cây tre”  thì rất dễ rơi vào cái bẫy của đối tượng xấu giăng ra, thậm chí dễ trở thành “quân tốt”, “con bài” trong các hoạt động chống phá của các hội nhóm phản động, cơ hội chính trị.

Cần hiểu đúng về trường phái “ngoại giao cây tre”

“Ngoại giao cây tre” là khái niệm được nhắc nhiều trong những năm gần đây. Đây là trường phái ngoại giao được đúc kết, hình tượng hóa đường lối đối ngoại mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang thực hiện, trong đó trường phái ngoại giao này được xây dựng trên phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

Vậy cụm từ “ngoại giao cây tre” có từ bao giờ?

Vào tháng 8/2016, tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 29, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định trường phái ngoại giao độc đáo, mang đậm bản sắc cây tre Việt Nam. Đến tháng 12/2021, tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Tổng Bí thư tiếp tục nhấn mạnh: “Hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đối ngoại, ngoại giao Việt Nam đã kế thừa và phát huy bản sắc, cội nguồn văn hóa và truyền thống dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa thế giới và tư tưởng tiến bộ của thời đại, phát triển trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hình thành nên trường phái đối ngoại, ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo, mang đậm bản sắc cây tre Việt Nam. Đó là vừa kiên định về nguyên tắc, vừa uyển chuyển về sách lược; mềm mại, khôn khéo nhưng cũng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, can trường trước mọi khó khăn, thử thách, vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân; đoàn kết, nhân ái nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc”.

Qua đó, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phân tích, làm sâu sắc thêm cơ sở hình thành, đặc trưng về trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”.

Trên cương vị là người đứng đầu Đảng, với tư duy đối ngoại sâu sắc mang tầm chiến lược cao và thực tiễn trải nghiệm hoạt động ngoại giao phong phú, sinh động, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã cho ra đời cuốn sách “Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam””.  Đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng ban Tổ chức Trung ương khẳng định, cuốn sách của Tổng Bí thư là kim chỉ nam cho đường lối, chủ trương của Đảng về công tác đối ngoại; đóng góp to lớn, góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận và cơ sở thực tiễn về xây dựng CNXH và con đường đi lên CNXH của Việt Nam.

Đồng chí Lê Hoài Trung, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương đánh giá, cuốn sách có giá trị vô cùng to lớn bởi đây là công trình đầu tiên mang tính hệ thống, tập hợp những phát biểu, bài viết của Tổng Bí thư về lĩnh vực đối ngoại, ngoại giao. Các bài viết thể hiện một cách cụ thể, sâu sắc và sinh động sự đóng góp to lớn, quan trọng của đồng chí Tổng Bí thư trên nhiều cương vị khác nhau trước đây và với cương vị là lãnh đạo cao nhất của Đảng ta hiện nay trong việc xây dựng và phát triển đường lối đối ngoại của Việt Nam; đồng thời, khẳng định sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, toàn diện, xuyên suốt của Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đối với công tác đối ngoại trên cả ba trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân.

Bàn về những thành tựu đối ngoại và những đóng góp của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đồng chí Thongsavanh Phomvihane, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào khẳng định: “Những thành tựu của Việt Nam nói chung, những thành tựu trong công tác đối ngoại nói riêng cũng chính là những thành tựu, là bài học kinh nghiệm quý báu cho đất nước Lào… Đặc biệt, Đảng, Nhà nước Lào đánh giá cao ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong việc nhấn mạnh 6 nhóm vấn đề là mục tiêu, nhiệm vụ to lớn, nặng nề nhưng đầy vẻ vang trong việc triển khai thực hiện đường lối đối ngoại của Việt Nam”.

Trong bài viết “Giá trị thời đại của trường phái ngoại giao mang bản sắc “cây tre Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng”, đồng chí Hàn Phương Minh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Chính hiệp toàn quốc Trung Quốc, Chủ tịch Học hội ngoại giao và quan hệ quốc tế CHARHAR đã chia sẻ cảm xúc: “Ngoại giao “cây tre Việt Nam” là vừa kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vừa tích cực mở rộng trong lĩnh vực ngoại giao, bảo vệ và phát triển lợi ích quốc gia của Việt Nam, kết hợp nhuần nhuyễn tính linh hoạt và tính nguyên tắc, nỗ lực thích ứng với thế giới không ngừng biến đổi; mặt khác, cùng với việc phát triển các quan hệ ngoại giao hiện có, thiết lập các quan hệ hợp tác mới. Đây chính là nền tảng ngoại giao để Việt Nam vẫn phát triển ổn định, lành mạnh dù đứng trước tình hình thế giới vô cùng phức tạp”.

Còn rất nhiều chính khách, học giả, nhà nghiên cứu thế giới đánh giá cao đường lối, chính sách đối ngoại, ngoại giao của Đảng, Nhà nước ta, ghi nhận những cống hiến to lớn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong quá trình phát triển đất nước, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam” mang lại giá trị gì?

Các hoạt động đối ngoại theo trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam” đã góp phần củng cố vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; phục vụ đắc lực, hiệu quả cho phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, tăng cường sức mạnh dân tộc, góp phần xây dựng một thế giới hòa bình, hợp tác. Qua trường phái ngoại giao ấy, từ đầu nhiệm kỳ khóa XIII của Đảng đến nay, Việt Nam tiếp tục mở rộng, làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, trọng tâm là các nước láng giềng, đối tác quan trọng và bạn bè truyền thống.

Chỉ tính trong năm 2023, chúng ta đã tổ chức thành công 22 chuyến thăm của lãnh đạo chủ chốt tới các nước láng giềng, các đối tác quan trọng, bạn bè truyền thống và 28 chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao các nước đến Việt Nam cùng với hàng trăm cuộc gặp cấp cao tại các diễn đàn, hội nghị đa phương; trong đó, có những chuyến thăm có ý nghĩa lịch sử như chuyến thăm Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Mỹ Joe Biden...

Thành công của các chuyến thăm, hoạt động đối ngoại này đã tạo nên bước phát triển mới về chất trong đối ngoại và hội nhập quốc tế của nước ta. Đến nay, nước ta đã có quan hệ ngoại giao với 193 quốc gia, trong đó có 6 nước đối tác chiến lược toàn diện, 12 nước đối tác chiến lược và 12 nước đối tác toàn diện. Trên phương diện kinh tế, thông qua ngoại giao “cây tre Việt Nam”, năm 2023 đã góp quan trọng vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xuất nhập khẩu đạt trên 680 tỷ USD, thu hút FDI đạt 36,6 tỷ USD, tăng 32,8%, nhiều tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đã cam kết đầu tư dài hạn ở Việt Nam…

Khẳng định thành tựu do “ngoại giao cây tre” mang lại, tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 32 ngày 19/12/2023, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định, công tác đối ngoại đã “đạt được nhiều kết quả, thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử, trở thành một điểm sáng đầy ấn tượng trong toàn bộ những kết quả, thành tựu chung của đất nước”.

Trước một thế giới với vô vàn sự chia rẽ, xung đột, Việt Nam đang dần khẳng định vị thế, uy tín đối với bạn bè quốc tế, là biểu tượng của hòa bình, độc lập, tự chủ, thân thiện, hiếu khách, nơi các đối tác đặt niềm tin cho những mối quan hệ tốt đẹp. Những đóng góp của trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam” đã được chứng minh, khẳng định giá trị trên thực tế. Đây là minh chứng sinh động góp phần bác bỏ những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động về đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam.

Việt Nam thành công từ bản sắc ngoại giao cây tre

 



Năm 2023, Việt Nam tiếp tục chứng kiến nhiều thành tựu trong các mối quan hệ quốc tế nhờ chính sách đối ngoại linh hoạt, trong đó trường phái "ngoại giao cây tre" đóng vai trò quan trọng.

Nêu cao bản sắc ngoại giao “cây tre Việt Nam”

 





Trong gần 40 năm đổi mới vừa qua, Đảng ta đã kế thừa và phát huy bản sắc, cội nguồn và truyền thống dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa thế giới và tư tưởng tiến bộ của thời đại, phát triển trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hình thành nên một trường phái đối ngoại, ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo, mang đậm bản sắc "cây tre Việt Nam".

Cây tre Việt Nam: Gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam. Bản sắc ngoại giao "cây tre Việt Nam" là vừa kiên định về nguyên tắc, vừa uyển chuyển về sách lược; mềm mại, khôn khéo nhưng cũng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức, vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của Nhân dân; đoàn kết, nhân ái nhưng luôn luôn kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

Tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng được tổ chức vào ngày 14/12/2021, chúng ta đã thống nhất cao khẳng định về sự hình thành, phát triển của Trường phái đối ngoại, ngoại giao "cây tre Việt Nam”. Trong 3 năm qua, đặc biệt là từ sau Hội nghị Đối ngoại toàn quốc lần đầu tiên được tổ chức theo tinh thần vừa nêu trên, cả nước ta đã nỗ lực phấn đấu, nghiêm túc quán triệt và chung sức, đồng lòng tổ chức thực hiện tốt đường lối đối ngoại của Đảng.

Đối ngoại và ngoại giao Việt Nam đã phát huy thế mới và lực mới, sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, củng cố vững chắc hơn cục diện đối ngoại rộng mở, thuận lợi cho phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới; Công tác đối ngoại, ngoại giao đã phối hợp chặt chẽ với quốc phòng, an ninh và các cấp, các ngành, phát huy vai trò tiên phong trong việc giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, bảo vệ Đảng, Tổ quốc và Nhân dân; Huy động các nguồn lực bên ngoài, góp phần quan trọng cho việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội...

Chúng ta đã cơ bản thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ: Vừa tập trung phòng, chống, kiểm soát, khắc phục hậu quả của dịch bệnh, thiên tai; vừa thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội; Đã chủ động, tích cực hội nhập quốc tế ngày càng toàn diện, sâu rộng, góp phần không ngừng nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của đất nước trên trường quốc tế...

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tham quan triển lãm ảnh về thành tựu đối ngoạitừ sau Đại hội XIII của Đảng (ngày 19/12/2023)
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tham quan triển lãm ảnh về thành tựu đối ngoạitừ sau Đại hội XIII của Đảng (ngày 19/12/2023)

Những kết quả trên có được là nhờ sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, chặt chẽ, thường xuyên của Trung ương Đảng, trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư; sự điều hành chủ động, linh hoạt của Nhà nước, sự vào cuộc và triển khai tích cực của tất cả các cấp, các địa phương, các ngành. Tuy nhiên, chúng ta tuyệt nhiên không được chủ quan, tự mãn với những kết quả, thành tích đã đạt được. Bởi vì, trước mắt còn nhiều khó khăn, thách thức phải vượt qua và rất nhiều việc phải làm.

Trong thời gian tới, tình hình thế giới và khu vực dự báo sẽ còn tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường. Chính vì thế, chúng ta cần thường xuyên theo dõi sát các diễn biến và dự báo đúng chiều hướng phát triển của tình hình bên ngoài, nhất là đánh giá thật đúng các tác động đến Việt Nam để không bị động, bất ngờ và luôn luôn bình tĩnh, tỉnh táo nắm bắt thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra. Cụ thể:

Một là, tiếp tục bám sát Nghị quyết và đường lối đối ngoại của Đại hội XIII và các nghị quyết của Trung ương, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chương trình hành động của Chính phủ; tăng cường công tác nắm bắt tình hình, phân tích, dự báo, kịp thời tham mưu điều chỉnh, bổ sung những xu hướng mới và những vấn đề mới phát sinh để cụ thể hoá, xây dựng và tổ chức thực hiện thật nghiêm, thật tốt các chương trình, kế hoạch cụ thể của từng cơ quan, đơn vị một cách đồng bộ, khoa học, bài bản, thống nhất, với quyết tâm cao, nỗ lực lớn của cả hệ thống chính trị theo đúng tinh thần "Tiền hô hậu ủng", "Nhất hô bá ứng", "Trên dưới đồng lòng", "Dọc ngang thông suốt"!

Hai là, luôn luôn quan tâm kết hợp nhuần nhuyễn sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại; xử lý hài hoà mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia - dân tộc và nghĩa vụ, trách nhiệm quốc tế...

Ba là, luôn phải kiên định trong nguyên tắc và linh hoạt trong sách lược. Nguyên tắc của chúng ta là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Sách lược của chúng ta là cơ động, linh hoạt điều chỉnh tuỳ theo từng vấn đề, từng thời điểm và tuỳ theo đối tượng hay đối tác, tuân thủ những tư tưởng lớn của Bác Hồ: "Dĩ bất biến ứng vạn biến", "thêm bạn bớt thù", "sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với ai". Việt Nam luôn sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy và có trách nhiệm với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế...

Bốn là, luôn luôn phải quan tâm xây dựng sự đoàn kết, đồng thuận trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân như lời căn dặn của Bác Hồ: "Sự nghiệp làm nên bởi chữ Đồng". Đường lối đối ngoại đúng đắn, giương cao ngọn cờ chính nghĩa và sự triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách cụ thể đã góp phần tạo nên sự đồng thuận cao của toàn bộ hệ thống chính trị, sự đoàn kết của toàn dân tộc và sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của bạn bè quốc tế...

Năm là, quan tâm, làm tốt hơn nữa việc kiện toàn tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại toàn diện cả về bản lĩnh, phẩm chất, đạo đức và trí tuệ, hiện đại về phương pháp, lề lối làm việc; chuyên nghiệp về tác phong, ứng xử; tinh thông về nghiệp vụ, ngoại ngữ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần căn dặn: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc"; "Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém"... Những lời dạy còn nguyên giá trị đó của Bác chính là định hướng xuyên suốt để các cán bộ làm công tác đối ngoại và ngoại giao phấn đấu, tu dưỡng và rèn luyện.