Thứ Ba, 5 tháng 11, 2024

Công tác Đảng, công tác chính trị thực sự là “linh hồn, mạch sống” của Quân đội

 

Ban Công tác chính trị của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là cơ quan chính trị đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Sự ra đời Ban Công tác chính trị là một quyết định đúng đắn, kịp thời, xác lập và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội ngay từ những ngày đầu mới thành lập; tạo cơ sở cho việc xây dựng, phát triển và ngày càng hoàn thiện cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị các cấp trong Quân đội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ từng thời kỳ, giai đoạn, đặc biệt trong tình hình hiện nay.

Với vị trí, vai trò là cơ quan tham mưu chiến lược của Đảng trong xây dựng Quân đội về chính trị, đảm nhiệm công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội; trong suốt 80 năm qua, cùng với quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội, Tổng cục Chính trị đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, góp phần cùng toàn quân, toàn dân tiến hành thắng lợi Cách mạng Tháng Tám; đánh bại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; làm tròn nhiệm vụ quốc tế cao cả. Từ khi đất nước thống nhất đến nay, Quân đội đã phát huy tốt vai trò là lực lượng nòng cốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong suốt chặng đường vẻ vang của mình, Tổng cục Chính trị đã có những đóng góp to lớn làm cho công tác Đảng, công tác chính trị thực sự là “linh hồn, mạch sống” của Quân đội... Trong 80 năm qua, các thế hệ cán bộ, nhân viên, chiến sĩ Tổng cục Chính trị luôn tỏ rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; xây đắp nên truyền thống vẻ vang.

Hiện nay, sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Trong thời gian tới, Tổng cục Chính trị cần thường xuyên quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện thắng lợi các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc… Xây dựng Đảng bộ Cơ quan Tổng cục Chính trị trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, góp phần xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trong Tổng cục và toàn quân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm “người trước, súng sau” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xây dựng Quân đội, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng kiên định, vững vàng; đoàn kết, thống nhất cao, sẵn sàng nhận và phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đồng thời cần tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác dự báo, tham mưu chiến lược về công tác Đảng, công tác chính trị. Để phát huy sức mạnh tổng hợp trong hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị, Tổng cục Chính trị, các cơ quan của Tổng cục cần thường xuyên phối hợp chặt chẽ, đồng bộ với các ban, bộ, ngành của Trung ương, các cấp, các ngành, các đoàn thể của Trung ương và địa phương; bảo đảm triển khai các hoạt động đồng bộ, thống nhất, thông suốt và hiệu quả mục tiêu xây dựng Quân đội về chính trị.

 

Đại tướng Phan Văn Giang lý giải quy định sĩ quan cấp tướng trong Quân đội nghỉ hưu ở tuổi 60

 

Sáng 5-11, sau khi nghe các đại biểu phát biểu thảo luận, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam quy định hạn tuổi cao nhất của sĩ quan phục vụ tại ngũ theo cấp bậc quân hàm như sau: Cấp úy: 50; Thiếu tá: 52; Trung tá: 54; Thượng tá: 56; Đại tá: 58; Cấp tướng: 60.

Trong điều kiện thời bình, Quân đội vẫn có cường độ lao động đặc biệt, vẫn phải rèn quân, rèn cán

Trước một số ý kiến của đại biểu liên quan đến việc tăng tuổi phục vụ tại ngũ của sĩ quan như trên, nhất là quân hàm cấp úy, Đại tướng Phan Văn Giang cho biết: Luật hiện hành hiện quy định tuổi nghỉ hưu của cấp úy trước đây là 46 tuổi, nay nâng lên 50 tuổi.

“Sĩ quan sau khi ra trường khoảng 10-12 năm sẽ mang quân hàm Đại úy. Trường hợp 50 tuổi mới mang quân hàm Đại úy cơ bản không có, song vẫn phải quy định vào luật để nếu gặp trường hợp này thì có quy định để xử lý”, Bộ trưởng Phan Văn Giang nói.

Ngoài ra, cũng theo Bộ trưởng Phan Văn Giang, Quân đội có nhiều nhóm ngành sĩ quan như: Sĩ quan chỉ huy, sĩ quan chính trị, sĩ quan hậu cần, chuyên môn kỹ thuật và một số nhóm ngành sĩ quan khác. Bộ trưởng Phan Văn Giang cho biết, trong điều kiện thời bình, Quân đội vẫn có cường độ lao động đặc biệt, vẫn phải rèn quân, rèn cán để đến khi có tình huống thì có thể xử lý được. Mặt khác, cường độ rèn luyện cũng như yêu cầu về chuyên môn, kỹ thuật cũng ngày phải càng cao hơn mới đáp ứng được yêu cầu trong thực tiễn.

"Quan điểm của chúng tôi vẫn phải là "Nuôi quân 3 năm, dùng 1 giờ", do đó, trong thời bình cũng phải rèn quân để đến khi có tình huống thì phải xử lý được. Nếu chúng ta lơi lỏng thì đến lúc có tình huống lại không xử lý được. Cường độ huấn luyện cũng phải ngày càng cao, nhất là về chuyên môn, kỹ thuật", Bộ trưởng Phan Văn Giang nhấn mạnh.

Trước đó, tại phiên thảo luận tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, Bộ trưởng Phan Văn Giang cho biết, cấp úy nhập ngũ năm 18 tuổi, hết tuổi phục vụ tại ngũ là 50 thì mới đóng bảo hiểm xã hội được 32 năm, đến khi nghỉ hưu thì được 33 năm, còn thiếu 2 năm mới đạt mức lương hưu tối đa.

“Nhưng thực ra trong Quân đội hầu như không có trường hợp nghỉ hưu ở cấp úy. Có những trường hợp bất đắc dĩ lắm mới nghỉ hưu ở Đại úy”, Đại tướng Phan Văn Giang nói. Mặt khác, tuổi phục vụ tại ngũ của Thiếu tá theo quy định hiện hành là 48, dự thảo luật đề nghị tăng lên 52. Như vậy, Thiếu tá có 34 năm phục vụ trong Quân đội, nghỉ chờ 1 năm là đủ 35 năm.

Giữ tuổi nghỉ hưu của cấp tướng ở 60 tuổi

Trước ý kiến đại biểu đề nghị nâng độ tuổi tại ngũ của sĩ quan cấp tướng, vì đây là cấp tinh hoa của Quân đội và của đất nước, Bộ trưởng Phan Văn Giang cho biết, cơ quan chủ trì soạn thảo cũng bàn bạc nhiều về vấn đề này. 

Bộ trưởng Phan Văn Giang nêu rõ: Nếu kéo dài độ tuổi cấp tướng lên 62 tuổi, trong khi cấp Đại tá nghỉ hưu ở 58 tuổi, nghĩa là tuổi nghỉ hưu chênh nhau 4 tuổi.

“Như vậy, cấp tá không lên được tướng; trong khi Quân đội còn rất nhiều cấp bậc, chức vụ khác nhau”, Bộ trưởng Phan Văn Giang nói và xin giữ nguyên như dự thảo luật về độ tuổi nghỉ hưu của cấp tướng là 60 tuổi.

Theo Bộ trưởng Phan Văn Giang, cấp tướng đúng là tinh hoa, nhưng có những đồng chí Đại tá cũng tinh hoa không kém. Do vậy, nếu nâng tuổi phục vụ tại ngũ của cấp tướng lên 62 thì cấp Đại tá không còn đủ tuổi lên tướng.

Cuối cùng, thay mặt cho cơ quan chủ trì soạn thảo, Bộ trưởng Phan Văn Giang xin tiếp thu tối đa các ý kiến của các đại biểu, hoàn chỉnh dự thảo luật; bày tỏ mong muốn các đại biểu ủng hộ dự án luật, biểu quyết thông qua để bảo đảm Quân đội thực hiện nhiệm vụ nhanh nhất, sớm nhất.

 

Một số vấn đề cơ bản về phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước trong xây dựng nhà nước pháp quyền

 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, trong đó, “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”(1). Như vậy, kiểm soát quyền lực nhà nước là nguyên tắc căn bản để bảo đảm tính thượng tôn pháp luật, mọi lợi ích thực sự thuộc về nhân dân, là điều kiện then chốt để hiện thực hóa nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Tính tất yếu của kiểm soát quyền lực nhà nước

Quyền lực vốn là của nhân dân, nhân dân sử dụng quyền ấy bằng cách ủy quyền cho nhà nước, thông qua đó, nhà nước lại trao quyền cho các cá nhân và tổ chức đại diện để vận hành xã hội với mục tiêu phục vụ lợi ích nhân dân. Tuy vậy, lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh, rằng “quyền lực luôn có xu hướng tha hóa” khi thiếu cơ chế kiểm soát hợp lý và hiệu quả. Thực tế, quyền lực luôn có tính hai mặt: 1) Trong xã hội có tổ chức, sự tồn tại của quyền lực là tất yếu để duy trì hoạt động xã hội trong khuôn khổ, trật tự, bảo đảm lợi ích chung của cộng đồng; 2) Quyền lực luôn luôn có xu hướng bị lạm dụng. 

Trong nhà nước pháp quyền, bầu cử là phương tiện chủ yếu để người dân thực hiện sự ủy quyền, lựa chọn người cầm quyền. Ở mỗi chế độ chính trị khác nhau, các cuộc bầu cử được tiến hành nhiều cách thức riêng, song đều nhân danh lợi ích nhân dân để ban hành các quyết định chính trị. Người được bầu chọn phải cam kết phục vụ cho lợi ích của người dân, khi họ không giữ lời hứa, nhân dân sẽ thay thế bằng người khác. Như một lẽ tự nhiên, ở đâu xuất hiện sự ủy quyền thì ở đó chứa đựng nguy cơ lạm dụng quyền lực. Thực tế, quyền lực nhà nước luôn có xu hướng tự mở rộng và tự tăng cường vai trò của mình, do vậy, người dân phải kiểm soát quyền lực ấy; cũng do vậy, nhiều nước chú trọng xây dựng các quy định và các điều kiện giúp người dân có thể tước quyền nếu quan chức được bầu có hành vi lạm dụng quyền lực. 

Tính vị kỷ và khát vọng quyền lực của con người đã được các nhà tư tưởng chính trị chỉ ra rằng “Quyền lực luôn có xu hướng tha hóa và quyền lực tuyệt đối thì tha hóa tuyệt đối”(2). Vì vậy, để ngăn ngừa nguy cơ quyền lực bị lạm dụng, các nhà nước trên thế giới đều phải thiết kế các cơ chế kiểm soát quyền lực riêng, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, văn hóa chính trị, nhận thức, tư duy về thực trạng và tương lai đất nước trên nguyên tắc bảo đảm người nắm giữ quyền lực công cộng không thể lạm quyền hoặc sử dụng quyền lực vì mục đích mang tính cá nhân.

Tuy nhiên trong thực tế, hiện tượng tham nhũng, lợi dụng chức quyền của các quan chức vẫn tương đối phổ biến, đặc biệt là ở các nước đang phát triển có hệ thống kiểm soát quyền lực vẫn chưa đủ mạnh để ngăn ngừa các hành vi lạm dụng quyền lực. Việc lạm dụng quyền lực nhằm trục lợi cá nhân xuất phát từ vấn đề quyền lực nhà nước là sức mạnh và là sự thể hiện ý chí chung của cộng đồng, nhưng quyền lực ấy lại được giao cho một số người với những năng lực hữu hạn thực hiện; về mặt lý thuyết, thì “tập thể trao quyền cho cá nhân vì lợi ích chung”(3), nhưng cũng từ đó, việc sử dụng quyền lực mắc phải sai lầm xuất phát từ hạn chế cố hữu của con người và nếu rủi ro xảy ra thì nhân dân lại phải gánh chịu những hậu quả. Mặt khác, chính sự hữu hạn về năng lực điều hành trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước khiến các quyết định, chính sách của nhà nước không đem lại hiệu quả mong muốn, thậm chí còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của người dân. Vì vậy, việc thiết lập một cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả là rất quan trọng, bảo đảm các quyết định, chính sách được bàn bạc, thảo luận trước khi ban hành, hạn chế thấp nhất tình trạng đưa ra quyết định sai lầm. 

Mục đích và phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền hiện nay

Như vậy, quyền lực nhà nước tất yếu phải được kiểm soát. Việc kiểm soát quyền lực nhà nước theo nghĩa rộng chính là việc thiết kế tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước sao cho đúng mục đích, hiệu quả nhất; là toàn bộ những cách thức, quy trình, quy định mà dựa vào đó để ngăn chặn, loại bỏ những hành động sai trái của nhà nước, phát hiện và điều chỉnh việc thực thi quyền lực bảo đảm mục đích và hiệu quả của quyền lực nhà nước. Kiểm soát quyền lực nhà nước theo nghĩa hẹp là hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước hợp pháp bằng thể chế với mục tiêu xác định. 

Mục đích của kiểm soát quyền lực nhà nước

Từ góc độ chủ nghĩa mác-xít, mục đích của kiểm soát quyền lực nhà nước chính là khắc phục sự tha hóa của quyền lực, đưa quyền lực nhà nước trở về đúng bản chất quyền lực của nhân dân, thực hiện chức năng công quản của xã hội một cách đúng đắn và hiệu quả. Kiểm soát quyền lực nhà nước là khắc phục những nan giải của chính thể đại diện. Trong nhà nước pháp quyền, quan hệ giữa nhà nước - nhân dân chính là quan hệ giữa người đại diện - người chủ. 

Nhằm bảo đảm cho quyền lực nhà nước được thực thi đúng mục đích và hiệu quả, quá trình kiểm soát quyền lực nhà nước trước hết là việc kiểm soát phạm vi hoạt động của quyền lực nhà nước, bởi quyền lực nhà nước là quyền lực được ủy nhiệm nên trước hết chủ thể quyền lực có quyền kiểm soát đối với quyền lực nhà nước trong phạm vi tác động của quyền lực. Kiểm soát quyền lực cũng cần được thể hiện ở việc kiểm soát quá trình thông qua và sửa đổi hiến pháp, bao gồm cách thức, quy trình hình thành, điều chỉnh, sửa đổi hiến pháp theo đúng quy trình dân chủ, bảo đảm hiến pháp phản ánh được ý chí, lợi ích của nhân dân, không xâm phạm đến lợi ích của cá nhân, nhân dân trong xã hội. Kiểm soát quyền lực nhà nước còn thể hiện ở khâu kiểm soát tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, đó là: 1) Kiểm soát cách thức tổ chức bộ máy nhà nước nhằm bảo đảm sự tuân thủ đúng các quy định của hiến pháp và khả năng vận hành hiệu quả trong thực tế; 2) Kiểm soát hoạt động hoạch định chính sách của nhà nước bảo đảm quá trình ra chính sách của nhà nước tuân thủ những quy trình, thủ tục quy định trong hiến pháp và các đạo luật, bảo đảm hiệu quả của hoạt động ra chính sách; 3) Kiểm soát các chính sách, quy định của nhà nước nhằm ngăn chặn, loại bỏ những chính sách, quy định trái với hiến pháp và luật, vi phạm đến quyền và lợi ích của công dân; các chính sách không phù hợp với thực tiễn, không có tính khả thi hoặc hiệu quả kém cũng phải được điều chỉnh, sửa đổi hoặc loại bỏ; 4) Kiểm soát hoạt động thực thi chính sách của nhà nước nhằm bảo đảm hoạt động đó tuân thủ theo các quy định của pháp luật, ngăn chặn, loại bỏ những hoạt động, hành vi sai trái hoặc kém hiệu quả của nhà nước. Đặc biệt, quá trình kiểm soát quyền lực nhà nước phải là sự kiểm soát những người thực thi quyền lực nhà nước, thể hiện ở kiểm soát quy trình lựa chọn những người đảm nhiệm các công việc của nhà nước và kiểm soát hoạt động của các chủ thể thực thi quyền lực nhà nước theo quy định của hiến pháp, các đạo luật, những cam kết chính trị, đạo đức khi ở cương vị là người thực thi quyền lực. 

Các phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước

Thứ nhất, kiểm soát quyền lực nhà nước bằng cách hạn chế phạm vi quyền lực nhà nước. Tính chất của quyền lực nhà nước là việc người dân ủy nhiệm một phần quyền của mình cho nhà nước, vì thế, chỉ trong các lĩnh vực đòi hỏi có sự phối hợp xã hội, đòi hỏi sự tuân thủ quyền lực công thì mới cần tới quyền lực nhà nước. Vậy nên, việc xác định và kiểm soát trong các phạm vi tác động là rất quan trọng, nhờ đó mà không gian hoạt động của công dân và xã hội được thừa nhận và bảo đảm, đồng thời góp phần làm cho quyền lực nhà nước được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả. C. Mác từng khẳng định: “Tự do là ở chỗ biến nhà nước, cơ quan tối cao của xã hội thành một cơ quan hoàn toàn phụ thuộc vào xã hội, và ngay cả ngày nay nữa, các hình thức nhà nước tự do hay không tự do là tùy ở chỗ trong những hình thức ấy, “sự tự do của nhà nước” bị hạn chế nhiều hay ít”(4). Việc hạn chế phạm vi quyền lực nhà nước có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức, như thông qua hiến pháp, các đạo luật, quy ước, luật lệ bất thành văn… tùy thuộc vào điều kiện lịch sử và truyền thống văn hóa chính trị của mỗi quốc gia. 

Thứ hai, kiểm soát quyền lực thông qua hiến pháp và các chế định hiến pháp. Với tư cách là bộ luật cao nhất, là tuyên ngôn của nhân dân về quyền lực nhà nước, hiến pháp giới hạn quyền lực nhà nước trong một trật tự hiến định, qua đó, nội dung, cách thức và cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước có tính bền vững và khó thay đổi. Hiến pháp quy định các quyền và tự do cơ bản của con người. Để tránh tình trạng các đại diện có xu hướng vi phạm quyền của nhân dân khi được ủy nhiệm, một hiến pháp tiến bộ thường bao gồm cả các quy định về các quyền cơ bản của con người. Kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua các chế định hiến pháp là bằng bầu cử định kỳ, hay là sự kiểm soát gián đoạn, được thể hiện ở: 1) Quyền bãi miễn của nhân dân là một phương thức để xử lý vấn đề khi những người được ủy quyền không đủ năng lực phục vụ nhân dân. C. Mác đã khẳng định ngay từ khi thiết lập Công xã Pa-ri rằng: “Công xã loại bỏ hoàn toàn hệ thống đẳng cấp chính trị và thay thế những ông chủ ngạo mạn của nhân dân bằng những đầy tớ luôn có thể bị bãi miễn; thay thế một trách nhiệm tưởng tượng bằng một trách nhiệm thật sự vì những người được ủy nhiệm này luôn hành động dưới sự kiểm soát của nhân dân”(5); 2) Quyền thay đổi hiến pháp, hiến pháp sẽ được thay đổi khi có sự đồng ý của một đa số người dân; 3) Quyền quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia thông qua trưng cầu dân ý thể hiện rằng các quốc gia sử dụng trưng cầu dân ý như một phương thức phê chuẩn sửa đổi hiến pháp hoặc thể hiện quyền quyết định của người dân, trong thực tiễn, đây chính là sự kiểm soát quyền lực rất mạnh mẽ. 

Thứ ba, kiểm soát quyền lực nhà nước bằng cách tối ưu hóa các mục tiêu của nhà nước. Thông qua các quy định ràng buộc của hiến pháp và pháp luật, quyền lực nhà nước được giới hạn trong các mục tiêu xác định. Tuy nhiên, trên thực tế, do hạn chế của hiến pháp và pháp luật, cũng như xuất phát từ các nguyên nhân khác nên quyền lực nhà nước có thể được sử dụng cho đa mục tiêu so với quy định ban đầu, dẫn tới sự sai lệch hoặc phân tán về quyền lực, nguồn lực. Do đó, cần kiểm soát quyền lực nhà nước theo sát các mục tiêu ban đầu hoặc tối ưu hóa mục tiêu phát sinh trong tổng thể. 

Thứ tư, kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua sự kiểm soát của nhân dân và xã hội được thể hiện tập trung ở việc bầu cử theo nhiệm kỳ. Qua bầu cử, cử tri và nhân dân có thể loại bỏ những đại diện không xứng đáng với sự ủy nhiệm của mình ra khỏi nhà nước. Ph. Ăng-ghen từng khẳng định: “Để ngăn ngừa sự chuyển hóa ấy của nhà nước và các cơ quan của nhà nước, từ chỗ là công bộc của xã hội thành ông chủ đứng trên đầu xã hội - sự chuyển hóa không thể tránh từ trước đến nay trong tất cả các chế độ công xã đã áp dụng hai biện pháp rất chính xác; tất cả những chức vị quản lý, tư pháp, giáo dục nhân dân đều giao cho những người đầu phiếu phổ thông bầu ra, ngoài ra các cử tri có quyền bãi miễn bất cứ lúc nào những người mình bầu ra”(6). Tuy nhiên, quy trình này cũng cần tính đến trường hợp các cuộc bầu cử phổ thông và định kỳ trong thực tế gặp những vấn đề nan giải, đó là việc soi xét, kháng cáo thường xuyên nhằm phóng đại các khuyết điểm của nhà nước, làm giảm sự tôn trọng cần thiết đối với nhà nước và dễ dẫn tới mất ổn định. 

Thứ năm, kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua sự giám sát của nhân dân, phương tiện thông tin đại chúng, công luận. Sự giám sát chặt chẽ của nhân dân là một yếu tố cốt lõi để bảo đảm tính minh bạch, công bằng và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của nhà nước, qua đó, mọi hoạt động của nhà nước sẽ hướng đến phục vụ lợi ích của toàn dân, từ đó tạo ra một môi trường xã hội ổn định và phát triển. Giám sát bằng phương tiện thông tin đại chúng cũng là một mắt xích quan trọng của quá trình kiểm soát quyền lực nhà nước, có tác dụng hỗ trợ đắc lực cho việc thực hiện các phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước. Phương tiện thông tin đại chúng, do tính chất nghề nghiệp của mình trong xã hội, có khả năng kết nối, tạo công luận gây sức ép với nhà nước, buộc nhà nước phải có trách nhiệm trong nhiều vấn đề quan trọng. Đây là sự giám sát, phản biện có tính chất thường xuyên của xã hội đối với nhà nước, đặc biệt trong thời đại số hiện nay, cách thức giám sát này càng thể hiện vai trò quan trọng.

Thứ sáu, kiểm soát quyền lực nhà nước bằng cách tách các lĩnh vực của quyền lực nhà nước và bằng cơ chế kiềm chế đối trọng trong bộ máy nhà nước. Đây là hai phương thức kiểm soát phổ biến ở các nhà nước pháp quyền tư sản. Kiểm soát bằng cách tách các lĩnh vực của quyền lực thể hiện yêu cầu khách quan của sự chuyên môn hóa và để hạn chế sự chuyên quyền của nhà nước, phương thức này thể hiện ở sự phân chia chức năng giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhánh lập pháp quyết định luật nào được thông qua, nhánh hành pháp thực thi luật và nhánh giám sát việc thực thi. Sự phân chia các nhánh quyền lực nhà nước nhằm mục đích cân bằng quyền lực, ngăn chặn bất kỳ một nhánh riêng lẻ nào giành quá nhiều quyền lực; làm tăng trách nhiệm của các quan chức được bầu. Kiểm soát thông qua cơ chế kiềm chế đối trọng trong bộ máy nhà nước được vận hành bởi việc cơ quan lập pháp có thể thực hiện quyền lực đối với người đứng đầu hành pháp thông qua việc yêu cầu hành pháp ra lệnh thực thi một đạo luật và bỏ phiếu luận tội; thực hiện quyền lực đối với tư pháp như thông qua một sửa đổi hiến pháp và thông qua luật. Quyền lực của tư pháp đối với hành pháp xuất phát từ việc thực hiện các quyền hiến định bảo vệ công dân khỏi hành động chuyên quyền trong thực thi luật. Tuy nhiên, việc kiểm soát bằng thể chế như vậy cũng gặp phải sự hạn chế, đó là sự ngăn cản khả năng người đại diện làm những việc sai trái, nhưng cũng có thể ngăn cản các đại diện làm những việc đáng làm (đây là sự kém linh hoạt và chậm trễ của thực thi quyền lực nhà nước). 

Nhìn chung, các cơ chế kiểm soát khác của nhà nước được thể hiện ở việc nhà nước thiết kế những thể chế có trách nhiệm kiểm soát các cơ quan đại diện thực thi quyền lực của nhà nước, nhằm nâng cao trách nhiệm, bảo đảm hoạt động của nhà nước đạt được đúng mục tiêu, hiệu quả.

Vấn đề phân công và phối hợp giữa các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Ở Việt Nam, sau thời kỳ đổi mới, Đảng ta xác định nhiệm vụ quan trọng: “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước. Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tội phạm và tệ nạn xã hội”(7); đồng thời tập trung “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động”(8) và “Nhà nước quản lý, điều hành nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ điều tiết trên cơ sở các quy luật thị trường. Tăng cường công tác giám sát, chủ động điều tiết, giảm các tác động tiêu cực của thị trường, không can thiệp làm sai lệch các quan hệ thị trường”(9). Thêm vào đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Hiến pháp, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng và đặc biệt Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII, “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới” đều nhấn mạnh phải “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động”(10).

Đến nay, với nhiều thành tựu to lớn đạt được sau gần 40 năm đổi mới, đất nước ta đang đứng trước nhiều thời cơ, vận hội mới cả về “thế” và “lực”, đứng trước “cơ hội lịch sử đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”(11). Tuy nhiên, dù đạt được nhiều thành tựu trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, song một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề này chưa được luận giải một cách đầy đủ, thuyết phục; tổ chức bộ máy nhà nước, hệ thống pháp luật còn một số bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn; đặc biệt, quyền lực nhà nước chưa được kiểm soát hiệu quả, cơ chế kiểm soát quyền lực chưa hoàn thiện(12)

Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc phân công và phối hợp giữa các cơ quan thực hiện quyền lực được hiểu là việc cùng nhìn về một mục tiêu của các bộ phận quyền lực nhà nước trong thực thi các quyết định chính trị. Theo đó, việc phân công và phối hợp giữa các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước cần thỏa mãn các điều kiện, như cần có cơ chế kiểm soát quyền lực, nghĩa là mọi quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế, phải được ràng buộc bằng trách nhiệm, quyền lực đến đâu trách nhiệm đến đó, lạm dụng, lợi dụng quyền lực phải bị truy cứu và xử lý phải rõ ràng và phối hợp nhịp nhàng để tránh sự chồng chéo, xác định rõ trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân được phân công trong quá trình thực thi công vụ, bảo đảm cho quyền lực nhà nước được thực thi đúng lộ trình và hiệu quả cao. Đây cũng là giải pháp được nhấn mạnh trong Nghị quyết 27-NQ/TW: “Hoàn thiện cơ chế thực thi quyền lực nhà nước, xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của mỗi cơ quan và mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực bên trong mỗi cơ quan và giữa các cơ quan nhà nước”(13).

Ở Việt Nam, cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước cần đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, bởi Đảng thực thi quyền lực chính trị của mình trước hết bằng Nhà nước và thông qua quyền lực nhà nước. Đảng có trách nhiệm kiểm soát quyền lực nhà nước đi đúng quỹ đạo, là công cụ mạnh mẽ, đắc lực nhất để thực hiện mục tiêu, lý tưởng chính trị của Đảng. Đặc biệt, Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên, bằng công tác tổ chức và cán bộ bên trong các cơ quan nhà nước, nên sự phân công nhiệm vụ và phối hợp công tác trong Đảng mang tính quyết định đối với phân công và phối hợp giữa các cơ quan quyền lực nhà nước. Đồng thời, cũng cần cơ chế kiểm soát quyền lực trong nội bộ Đảng thông qua các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, công tác kiểm tra, giám sát... nhằm bắt buộc các tổ chức đảng, đảng viên được trao quyền phải thực hiện quyền lực được ủy nhiệm đúng với mục đích và tôn chỉ của Đảng.

Công cụ phân công và phối hợp chủ yếu giữa các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước là đạo đức và thể chế, dựa trên các giá trị đạo đức xã hội, tập quán pháp, các thiết chế, quy định, luật pháp… đã được thiết lập. Việc phân công và phối hợp giữa các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước bằng đạo đức căn bản dựa vào nhận thức và sự tự giác của các chủ thể nắm giữ quyền lực nhà nước. Bên cạnh đó, phương thức phân công và phối hợp giữa các cơ quan thực hiện quyền lực cần dựa trên nền tảng Hiến pháp, pháp luật. 

Việc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đều hướng tới mục tiêu bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân và nhân lên các giá trị ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa/.

 

 

Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả

 Xây dựng tổ chức bộ máy hiệu lực, hiệu quả là công việc khó khăn, phức tạp, đòi hỏi sự đoàn kết, thống nhất, dũng cảm, sự hy sinh của từng cán bộ, đảng viên cùng với quyết tâm rất cao của toàn Đảng, cả hệ thống chính trị, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp. Tạp chí Cộng sản trân trọng giới thiệu bài viết của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm về xây dựng hệ thống chính trị với tiêu đề: “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”:

1. Trong mọi giai đoạn cách mạng, Đảng, Nhà nước ta luôn đặc biệt coi trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, tăng cường hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Đây là một trong những yếu tố then chốt đưa Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành người cầm lái vĩ đại, người thuyền trưởng tinh anh đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt mọi thác ghềnh, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Điểm hội tụ chiến lược sau 40 năm đổi mới đất nước đang đem đến cơ hội lịch sử đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; cũng đặt ra yêu cầu cấp bách thực hiện quyết liệt cuộc cách mạng nhằm xây dựng hệ thống chính trị thật sự tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới.

Mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị nước ta từ năm 1945 đến nay cơ bản ổn định gồm 3 khối (Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội). Với cơ chế vận hành Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, tổ chức bộ máy của từng khối đã có sự điều chỉnh để đáp ứng yêu cầu cách mạng của từng giai đoạn lịch sử. Từ Hội nghị Trung ương 6 khóa VI đến nay, khái niệm “hệ thống chính trị” chính thức được sử dụng đánh dấu sự phát triển tư duy, nhận thức của Đảng về yêu cầu, nhiệm vụ đối với hệ thống chính trị trong thời kỳ đổi mới.

Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xuất phát từ tầm quan trọng đặc biệt và đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn phát triển nóng bỏng của đất nước, qua nhiều kỳ đại hội, nhất là trong các đại hội gần đây, trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX, XII, XIII đều nhấn mạnh các nhiệm vụ cụ thể về tinh gọn tổ chức bộ máy hoặc nghiên cứu xây dựng mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Từ Đại hội VII đến nay, Đảng ta liên tục ban hành nhiều nghị quyết, kết luận để lãnh đạo thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn tổ chức bộ máy hoạt động hiệu lực hiệu quả, như: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa VII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 9-2-2007, Ban Chấp hành Trung ương khóa X về đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan đảng, định hướng đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; Nghị quyết số 17-NQ/TW, ngày 1-8-2007, của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước; Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 2-2-2008, của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16-1-2012, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng; Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 3-6-2017, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; Kết luận số 50-KL/TW, ngày 28-2-2023, của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW; Kết luận số 37-KL/TW, ngày 2-2-2009 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chiến lược cán bộ đến năm 2020; Kết luận số 63-KL/TW, ngày 27-5-2013, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI một số vấn đề về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2020; Kết luận số 64-KL/TW, ngày 28-5-2013, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương; Kết luận số 62-KL/TW, ngày 8-12-2009, của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội; Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 17-4-2015, của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Thực hiện các nghị quyết, kết luận của Đảng, hệ thống tổ chức đảng các cấp, bộ máy nhà nước từ Trung ương tới cơ sở, tổ chức cơ quan Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội từng bước được đổi mới, phát huy hiệu lực, hiệu quả; chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của từng tổ chức trong hệ thống chính trị được phân định, điều chỉnh hợp lý hơn, từng bước đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hệ thống chính trị cơ bản ổn định, phù hợp với Cương lĩnh và Hiến pháp; bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Thông qua vai trò, sức mạnh của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng; giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền; kinh tế - xã hội phát triển, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân. Những đổi mới về thể chế, trọng tâm là đổi mới công tác tổ chức bộ máy hệ thống chính trị là một trong những điều kiện cơ bản, quyết định đạt được những thành tựu vĩ đại sau 40 năm đổi mới đất nước.

Qua 7 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, chúng ta đã đạt được một số kết quả quan trọng, bước đầu tạo chuyển biến tích cực trong đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong hệ thống chính trị. Tuy nhiên, nhận thức và hành động của một số cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu ở một số cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương chưa đầy đủ, chưa sâu sắc, quyết tâm chưa cao, hành động chưa quyết liệt, việc sắp xếp tổ chức bộ máy chưa đồng bộ, tổng thể, chưa gắn tinh giản biên chế với cơ cấu lại... một số bộ, ngành còn ôm đồm nhiệm vụ của địa phương, dẫn đến tồn tại cơ chế xin - cho, dễ này sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực... Chính vì vậy, cho đến nay, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, quan hệ công tác giữa nhiều cơ quan, bộ phận chưa thật rõ ràng, còn trùng lắp, chồng chéo; phân định trách nhiệm, phân cấp, phân quyền chưa đồng bộ, hợp lý, có chỗ bao biện làm thay, có nơi bỏ sót hoặc không đầu tư thích đáng… Chất lượng tham mưu, đề xuất của một cơ quan, tổ chức đảng với Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với một số lĩnh vực còn hạn chế; năng lực điều phối, hướng dẫn, tổ chức thực hiện trong toàn Đảng chưa đáp ứng yêu cầu đề ra; phân định phạm vi quản lý đa ngành, đa lĩnh vực của các bộ chưa triệt để; một số nhiệm vụ liên thông, gắn kết nhau hoặc cùng một lĩnh vực nhưng giao cho nhiều bộ quản lý. Tổ chức bộ máy của một số cấp, ngành đến nay cơ bản vẫn giữ nguyên về số lượng, việc sắp xếp chưa gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả, xác định vị trí việc làm, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ. Bộ máy trong bộ, cơ quan ngang bộ còn nhiều tầng nấc, có cấp không rõ địa vị pháp lý; đơn vị trực thuộc có tư cách pháp nhân tăng, gia tăng tình trạng “bộ trong bộ”. Tinh giản biên chế mới tập trung giảm số lượng, chưa gắn với nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ.

Những tồn tại, hạn chế, sự chậm chạp, thiếu quyết liệt trong thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị gây ra nhiều hệ luỵ nghiêm trọng. Bộ máy cồng kềnh gây lãng phí và kìm hãm sự phát triển, là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều chủ trương, chính sách của Đảng chậm đi vào thực tiễn cuộc sống hoặc một số chủ trương không được triển khai hoặc triển khai hình thức trên thực tế. Sự chồng chéo, phân định không rõ chức năng, nhiệm vụ dẫn đến không rõ trách nhiệm, “lấn sân”, cản trở, thậm chí “vô hiệu hóa” lẫn nhau, làm giảm tính chủ động, sáng tạo, dẫn đến năng suất lao động, hiệu suất công tác thấp, đùn đẩy trách nhiệm, tiêu cực, cản trở phát triển, phát sinh phiền nhiễu, giảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Tầng nấc trung gian dẫn đến mất thời gian qua “nhiều cửa” thủ tục hành chính, gây cản trở, thậm chí tạo điểm nghẽn, làm lỡ cơ hội phát triển. Chi phí vận hành hệ thống tổ chức bộ máy lớn, làm giảm nguồn lực cho đầu tư phát triển, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. So với những thay đổi to lớn của đất nước sau 40 năm đổi mới, sự phát triển của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và những thành tựu khoa học - công nghệ, tổ chức bộ máy hệ thống chính trị nước ta tuy đã được đổi mới ở một số bộ phận, nhưng cơ bản vẫn theo mô hình được thiết kế từ hàng chục năm trước, nhiều vấn đề không còn phù hợp với điều kiện mới là trái với quy luật phát triển; tạo ra tâm lý “Nói không đi đôi với làm”.

2. Thời điểm 100 năm đất nước ta dưới sự lãnh đạo Đảng và 100 năm thành lập nước không còn xa, để đạt được các mục tiêu chiến lược, không chỉ đòi hỏi những nỗ lực phi thường, những cố gắng vượt bậc, mà còn không cho phép chúng ta chậm trễ, lơi lỏng, thiếu chính xác, thiếu đồng bộ, thiếu nhịp nhàng trên từng bước đi; muốn vậy cần khẩn trương thực hiện cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, với một số công tác trọng tâm, sau đây:

Thứ nhất, xây dựng và tổ chức thực hiện trong toàn hệ thống chính trị mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị Việt Nam đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới. Tập trung tổng kết 7 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, đánh giá nghiên túc, toàn diện về tình hình và kết quả đạt được, những ưu điểm, khuyết điểm, hạn chế, vướng mắc, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm trong quá trình thực hiện nghị quyết; đề xuất, kiến nghị với Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Tổng kết phải tiến hành khách quan, dân chủ, khoa học, cụ thể, sâu sắc, cầu thị, sát đúng với tình hình thực tiễn từ đó đề xuất mô hình tổ chức mới, đánh giá ưu điểm và tác động khi thực hiện mô hình mới, phải bám sát Hiến pháp, Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nguyên tắc của Đảng, các nghị quyết của Trung ương... bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ, liên thông, một cơ quan thực hiện nhiều việc, một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì và chịu trách nhiệm chính; khắc phục triệt để chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, chia cắt về địa bàn, lĩnh vực; hạn chế tổ chức trung gian; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm cụ thể trên cơ sở tính đảng, tính hợp lý, tính hợp pháp.

Thứ hai, tập trung hoàn thiện thể chế theo tinh thần “vừa chạy vừa xếp hàng” để nhanh chóng đưa chủ trương của Đảng đi vào thực tiễn cuộc sống. Rà soát các quy định pháp luật có liên quan để chủ động chuẩn bị sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới theo đúng quy định, bảo đảm chủ trương của Đảng được triển khai nhanh nhất sau khi được Trung ương thống nhất thông qua. Tập trung hoàn thiện pháp luật về tổ chức, hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị, gắn với tinh thần đẩy mạnh phân cấp, phân quyền với phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, Trung ương, Chính phủ, Quốc hội tăng cường hoàn thiện thể chế, giữ vai trò kiến tạo và tăng cường kiểm tra, giám sát và cải cách tối đa thủ tục hành chính, giảm chi phí, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân và doanh nghiệp. Quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong bộ máy nhà nước, bảo đảm sự phân biệt rõ cấp ban hành chủ trương, chính sách, pháp luật với cấp tổ chức thực hiện.

Thứ ba, gắn tinh gọn tổ chức bộ máy với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực ngang tầm nhiệm vụ, biên chế hợp lý, chuẩn hóa chức danh. Ban hành quy định về khung tiêu chuẩn, tiêu chí bố trí cán bộ ở từng cấp, từ Trung ương tới cơ sở, từng loại hình để chủ động rà soát, xác định có thể bố trí ngay. Đổi mới mạnh mẽ công tác tuyển dụng, đào tạo, đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển, điều động, đánh giá cán bộ theo hướng thực chất, vì việc tìm người, trên cơ sở sản phẩm cụ thể đo đếm được, không có vùng cấm, không có ngoại lệ trong đánh giá cán bộ. Có cơ chế hữu hiệu sàng lọc, đưa ra khỏi vị trí công tác đối với những người không đủ phẩm chất, năng lực, uy tín và sử dụng đối với người có năng lực nổi trội.

V.I Lê-nin khi nói về cải tiến bộ máy nhà nước đã nhấn mạnh: “Phải tuân theo quy tắc này: thà ít mà tốt... Tôi biết rằng giữ vững quy tắc ấy và vận dụng được nó vào tình hình thực tế của chúng ta là khó khăn... Tôi biết rằng sẽ phải kháng cự một cách mãnh liệt, sẽ phải tỏ ra kiên trì phi thường... Song tôi vẫn tin chắc rằng chỉ có tiến hành công tác đó, chúng ta mới có thể xây dựng được một nước cộng hòa thật sự xứng danh là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô-Viết”(1); xây dựng tổ chức bộ máy hiệu lực, hiệu quả là công việc khó khăn, phức tạp, đòi hỏi sự đoàn kết, thống nhất, dũng cảm, sự hy sinh của từng cán bộ, đảng viên cùng với quyết tâm rất cao của toàn Đảng, cả hệ thống chính trị, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp, tất cả vì sự một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, sớm sánh vai với các cường quốc năm châu./.

 

KHÔNG GIAN MẠNG - NƠI "CHIẾN ĐẤU" CỦA MỖI ĐẢNG VIÊN

 Mạng xã hội ngày nay là một phần không thể thiếu của cuộc sống con người. Tuy nhiên, không gian mạng cũng có nhiều rủi ro và nguy cơ tiềm ẩn mà chúng ta - nhất là đảng viên cần phải khắc phục và sử dụng nó một cách hiệu quả nhất để bảo vệ, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Ðồng thời, tuyên truyền, lan toả rộng rãi sự đúng đắn của nền tảng tư tưởng của Ðảng.

 

Nhận diện rõ nguy cơ trên không gian mạng

 

Việt Nam có lượng người dùng Internet được đánh giá cao, những thông tin xấu độc có ảnh hưởng, tác động tiêu cực rất lớn tới xã hội. Hàng ngày, các tin, bài chống phá được các thế lực thù địch tung lên không gian mạng, gây nhiễu loạn thông tin, hướng công chúng hiểu sai lệch, kích động những tư tưởng bất mãn, phản kháng, chống đối với Ðảng, Nhà nước. Nếu chủ quan, lơ là, mất cảnh giác hoặc thiếu những giải pháp đấu tranh cứng rắn, hữu hiệu sẽ gây nên hệ luỵ khôn lường.

 

Các thông tin xấu, độc trên không gian mạng với những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch tấn công trực diện vào những vấn đề lý luận cốt lõi thuộc nền tảng tư tưởng của Ðảng ta đặc biệt nguy hiểm. Hiện nay, sự chống phá này không chỉ ở diện rộng bằng những bài viết dung tục, thù hận, cực đoan một chiều như trước đây, các thế lực thù địch đầu tư xây dựng và sử dụng ngày càng nhiều bài viết đa tầng thông tin, đa quan điểm, với nhiều chiêu trò đánh tráo khái niệm, ngụy tuyên truyền hết sức tinh vi, khiến công tác đấu tranh của ta càng thêm khó khăn, phức tạp.

 

Nội dung thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch đa dạng, phức tạp, trên tất cả các lĩnh vực: tư tưởng, chính trị, xây dựng Ðảng, kinh tế, văn hoá, xã hội..., trong đó tập trung tấn công vào một số nội dung cốt lõi thuộc hệ tư tưởng, đường lối của Ðảng ta, như: đòi Ðảng ta từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, chúng xuyên tạc nhằm “hạ bệ” tư tưởng Hồ Chí Minh bằng phủ nhận nội dung và giá trị tư tưởng của Người; chúng chống phá, xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước hiện nay, nhất là đường lối đổi mới của Ðảng ta; chúng phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi xoá bỏ sở hữu toàn dân, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân đồng nhất với tư nhân hoá nền kinh tế, xoá bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước; cổ suý phi chính trị hoá lực lượng vũ trang, phủ nhận bản chất cách mạng và Nhân dân của lực lượng vũ trang, chia rẽ quân đội Nhân dân và công an Nhân dân; tán dương nền tự do báo chí tư sản, vai trò “quyền lực thứ tư” của báo chí, nhân danh tự do sáng tạo để tách sự lãnh đạo của Ðảng khỏi hoạt động báo chí, văn học, nghệ thuật; thúc đẩy hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” trá hình, từ đó cho ra đời các tổ chức đối lập chính trị ở Việt Nam; tiếp tục lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để chống phá...

 

“Làm chủ” không gian mạng để bảo vệ Ðảng

 

Ðại hội XIII của Ðảng đề cập trực tiếp và nhấn mạnh việc quản lý và phát triển thông tin trên không gian mạng, trong đó có việc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch: “Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên Internet. Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục”.

 

Thời gian tới, các thế lực thù địch tiếp tục chĩa mũi nhọn tấn công vào những vấn đề tư tưởng, lý luận, đồng thời sử dụng không gian mạng là một mặt trận chính để chống phá ta. Do đó công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng có vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Ðảng. Theo đó, chúng ta thực hiện một số giải pháp:

 

Một là, tổ chức tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức trách nhiệm cho mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng về nhiệm vụ đấu tranh, phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức “tính hai mặt” của không gian mạng, “nhận diện” rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù trong việc sử dụng không gian mạng để chống phá cách mạng nước ta. Từ đó, nêu cao nhận thức, có tinh thần cảnh giác cách mạng cao, có nhãn quan chính trị đúng đắn, đủ sức “phản biện” trước các thông tin xấu, độc trên không gian mạng.

 

Hai là, tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt các quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp đã được xác định trong Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”.

 

Ba là, phát huy vai trò và sức mạnh của các tổ chức, các lực lượng trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Ðặc biệt, hiện nay trong thời đại công nghệ 4.0, mỗi đảng viên được tiếp cận trình độ khoa học công nghệ hiện đại, đều có thể truy cập vào các trang mạng, tự mình thiết lập, sử dụng các tài khoản, trang thông tin cá nhân (thư điện tử: Gmail, Yahoo...), Facebook, Zalo, Blog, Line, Tiktok... để viết tin, bài đấu tranh, phản bác chống quan điểm sai trái, thù địch. Ðặc biệt, phải chủ động làm chủ không gian mạng, để không gian mạng trở thành phương tiện, công cụ đắc lực phục vụ cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng.

 

Bốn là, phát huy vai trò, hiệu quả hoạt động của lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Lực lượng này là những cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ, năng lực tốt, có nhiệt huyết, dũng khí, quyết tâm đấu tranh để bảo vệ Ðảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa./.

CHỐNG LÃNG PHÍ - CUỘC ĐẤU TRANH VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA ĐẤT NƯỚC

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tham ô có hại, nhưng lãng phí có khi còn có hại nhiều hơn. Nó tai hại hơn tham ô vì lãng phí rất phổ biến…”.

Cho đến thời điểm hiện nay, trong nhận thức của không ít người, chưa thấy hết tác hại vô cùng lớn của lãng phí. Chắc rằng, một phần quan trọng là do chúng ta đang tập trung vào những việc hệ trọng khác, như đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Để góp phần khắc phục tình hình này, bài viết “chống lãng phí” của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã hệ thống lại những việc Đảng và Nhà nước đã triển khai thực hiện xoay quanh vấn đề này, cùng sự lý giải tình hình với những diễn biến cụ thể trên mọi lĩnh vực với mức độ khác nhau của tình trạng lãng phí hiện nay. Đồng thời, xác định những giải pháp mang tính tổng thể, đồng bộ để từng bước khắc phục thực trạng trên, góp phần tạo nguồn lực đưa đất nước bước vào thời kỳ mới, kỷ nguyên cho sự phát triển đột phá của đất nước.

Lãng phí vô hình tồn tại trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, không giản đơn, dễ nhận biết như lãng phí trong tiêu dùng sử dụng cơ sở vật chất từ trong bộ máy Nhà nước đến tiêu dùng và sinh hoạt của toàn xã hội.

Lãng phí từ trong quá trình xây dựng pháp luật, ra các chủ trương, chính sách, các quyết định, rồi sửa luật, điều chỉnh các chủ trương, chính sách, các quyết định… mà chưa được sự suy xét cẩn trọng, khó hòa nhập vào cuộc sống, gây ách tắc trong quản lý, điều hành của Nhà nước, làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của doanh nghiệp và người dân.

Xoay quanh vấn đề này, qua các phương tiện truyền thông đã cung cấp cho chúng ta biết bao sự việc cụ thể, điển hình trên mọi lĩnh vực của hoạt động kinh tế - xã hội.

Ở một khía cạnh khác, chậm thực thi, thậm chí không thực thi những chủ trương, nghị quyết, những quyết sách… đã được xác định, đặc biệt là những dự án mang tầm cỡ quốc gia mang tính đột phá đúng thời cơ cho sự phát triển của đất nước, do những nhận định đánh giá chưa sát thực tiễn, mang tính cầu toàn. Sau đó, một thời gian dài lại khởi động triển khai. Đây là một sự lãng phí với những tổn thất vô cùng to lớn, vô hình về nhiều mặt, mà không ai chịu trách nhiệm. Trong chống lãng phí, đây là điều cần xem xét nghiêm túc, rút ra những bài học từ khâu lãnh đạo, chỉ đạo cho đến việc tiếp thu có chọn lọc ý kiến của dư luận xã hội để không bỏ lỡ những cơ hội lịch sử trong tương lai.

Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 21-8-2006, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã khẳng định chống lãng phí cũng rất quan trọng như chống tham nhũng.

Trên thực tế, trong thời gian dài, chúng ta chưa thực sự hành động với những giải pháp quyết liệt như phòng, chống tham nhũng!

Lãng phí thực sự là hiểm hoạ của đất nước, nên phải kiên quyết đấu tranh loại trừ. Điều đó càng bức thiết khi chúng ta bước vào kỷ nguyên mới. Có nhiều biện pháp, giải pháp để phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân. Với giải pháp tổng thể, căn cơ bao gồm 4 nhóm nội dung vừa cơ bản, lâu dài, vừa khẩn trương, cấp bách được xác định trong bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, tin rằng, sẽ có những bước đột phá mạnh mẽ vào “bức tường” lãng phí, đã được nhận diện từ lâu, nhưng phòng, chống chưa đạt được như ước vọng của chúng ta./.

St

LẤY ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG LÀM THƯỚC ĐO ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ LÀ HOÀN TOÀN ĐÚNG

 

Trên trang mạng gần đây xuất hiện bài viết “Lấy đạo đức, lối sống làm thước đo đánh giá cán bộ là phi thực tế” của một người khác chính kiến nhằm phủ nhận vấn đề đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên. Tác giả viết: “Bây giờ Bộ Nội vụ lại nhắc lấy đạo đức, lối sống của cán bộ làm thước đo đánh giá cán bộ liệu cách này có hiệu quả trong việc phòng ngừa tham nhũng”. “Những quy định về đạo đức cán bộ chỉ là mị dân”. “Những quy định về đạo đức đảng viên này được đặt ra là để người dân nhìn vào thì thấy cũng cố gắng chống tiêu cực. Nhưng thực tế đó là mị dân”. “Trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đã để lại một sự bưng bít”…

 

Những lời nêu trên là phi thực tế. Đảng Cộng sản Việt Nam lấy đạo đức, lối sống làm thước đo đánh giá cán bộ là hoàn toàn đúng. Nó rất có hiệu quả trong việc phòng ngừa tham nhũng, chống tiêu cực. Nó hoàn toàn không mị dân như những người khác chính kiến viết. Văn kiện Đại hội XIII (năm 2021) của Đảng nhấn mạnh đến một vấn đề rất quan trọng:

 

“Tập trung xây dựng Đảng về đạo đức. Nêu cao tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên. Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, thực hiện thường xuyên, sâu rộng, có hiệu quả việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị. Thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng”1.

 

Đạo đức cách mạng (còn gọi là đạo đức cộng sản chủ nghĩa, đạo đức xã hội chủ nghĩa) là hình thái của ý thức xã hội và thực tiễn xã hội. Chức năng cơ bản của đạo đức cách mạng là bảo đảm năng lực hoạt động có tính chất lịch sử của xã hội; phối hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, điều chỉnh về mặt xã hội những hành vi của cá nhân. Với tính cách là hình thái của ý thức, đạo đức cách mạng là biểu hiện của những nguyên tắc, tiêu chuẩn, giá trị đạo đức, quy tắc hành xử, tâm lý và những nhu cầu về tình cảm, phẩm chất. Điều quyết định khả năng và đặc thù của việc điều chỉnh đạo đức là sự quyết định khách quan hành động của con người có tính chất lựa chọn, chứ không phải là cứng nhắc một chiều, nó cho phép cá nhân được lựa chọn tương đối tự do trong việc xử thế nào đó trong từng trường hợp cụ thể và do đó làm nảy sinh tinh thần trách nhiệm đối với sự lựa chọn đó, lòng mong muốn làm cho sự lựa chọn đó phù hợp với các yêu cầu của giá trị đạo đức. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, đạo đức cách mạng là sự thể hiện đầy đủ nhất những khuynh hướng tiến bộ của sự phát triển đạo đức xã hội loài người.

 

Đạo đức nói chung là những phép tắc căn cứ vào chế độ xã hội đặt ra để quy định quan hệ giữa người và người, giữa cá nhân và xã hội nhằm bảo vệ chế độ xã hội.

 

Đạo đức cách mạng là một trong những biểu hiện cao nhất của sự thông nhất tư tưởng – chính trị của đạo đức xã hội, của sự vận động tiến đến sự đồng nhất của xã hội, thể hiện lòng trung thành với sự nghiệp cách mạng, tình yêu Tổ quốc, nói lên sự thống nhất vốn có của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, giữa giáo dục về đạo đức cách mạng và giáo dục tư tưởng.

 

Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là một biểu hiện của đạo đức cách mạng. Đạo đức cách mạng thể hiện rõ rệt chủ nghĩa nhân đạo cao cả của những lý tưởng cách mạng; ở sự hài hòa giữa đạo đức và cái đẹp, giữa văn hóa và cách ứng giữa con người với con người.

 

Chủ nghĩa xã hội được hiện thực, củng với sự củng cố thêm giá trị cuộc sống làm cho giá trị yếu tố đạo đức trong đời sống xã hội tăng lên rất nhiều. Ý thức coi lợi ích xã hội cũng là lợi ích riêng của mình, sự hòa đồng giữa lợi ích riêng của bản thân với lợi ích xã hội, chủ nghĩa yêu nước, tinh thần tập thể và những phẩm chất khác mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã giáo dục cho những công dân Việt Nam đều được thể hiện trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 

Quan hệ giữa lãnh đạo và người thi hành nhiệm vụ không chỉ đơn thuần mang nội dung tổ chức – hành chính mà còn mang cả nội dung đạo đức cách mạng.

 

Sự kích thích lao động bằng đạo đức cách mạng có tác dụng to lớn làm tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, là tác nhân kích thích vật chất và tinh thần, có một ý nghĩa đạo đức cách mạng to lớn, cải thiện bầu không khí tâm lý – đạo đức trong lao động sản xuất.

 

Chủ nghĩa xã hội trưởng thành có đặc điểm là những yếu tố đạo đức cách mạng phát triển không những trong lao động mà cả trong mọi lĩnh vực sinh hoạt khác của con người và trong đời sống xã hội.

 

Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, xét về cơ sở và nội dung chủ yếu, thì đạo đức và pháp luật có những nhiệm vụ xã hội hoàn toàn giống nhau. Điều đó có nghĩa các tiêu chuẩn đạo đức cách mạng và các trừng phạt về mặt pháp luật đều có những kết quả giáo dục đạo đức cách mạng to lớn. Việc điều chỉnh mối quan hệ giữa người và người về mặt đạo đức cách mạng lại có ảnh hưởng to lớn đến sự tuân thủ của con người đối với các quy định của pháp luật.

 

Một nhân tố quan trọng trong đạo đức cán bộ, đảng viên là khẳng định vị trí lãnh đạo, vài trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng. Cổ vũ, biểu dương các gương sáng đạo đức, tạo ảnh hưởng sâu rộng trong Đảng và ngoài xã hội.

 

Nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng theo tinh thần “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”2 cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì người tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân.

 

Xây dựng các chuẩn mực đạo đức làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hằng ngày.

 

Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng. Nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng.

 

Tăng cường đấu tranh chống các quan điểm phản đạo đức, phi đạo đức, phi nhân tính.

 

Coi trọng công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng kết hợp với phát huy vai trò giám sát của cơ quan dân cử, của Mặt trận Tổ quốc, báo chí và nhân dân đối với cán bộ, đảng viên thực hiện các quy định nêu gương.

 

Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến giáo dục đạo đức cách mạng, đấu tranh kiên quyết với những người đối lập lại đạo đức cách mạng, nhằm loại trừ những tàn dư xấu xa của quá khứ thù địch với chủ nghĩa xã hội nhiều khi còn tồn tại trong cuộc sống như tệ hối lộ, tệ tham nhũng, tiêu cực, muốn bòn rút nhiều hơn của xã hội mà không đóng góp gì cho xã hội, gây lãng phí thất thoát cho Nhà nước, vi phạm pháp luật và kỷ luật lao động.

 

Tóm lại, đạo dức cách mạng như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

 

“Đạo đức cách mạng là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân”3.

 

Khi nói về vấn đề đạo đức cách mạng thì không thể không nói đến vấn đề nhân tài. Đức và tài phải đi đôi với nhau, không thể tách rời nhau. Người có đức mà không có tài chẳng khác gì ông bụt mọc ở trong chùa, người có tài mà không có đức, nhiều khi sẽ là “tài phá”. Giữa đức và tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói nhiều đến đạo đức cách mạng, coi đạo đức cách mạng là điều chủ chốt nhất, nhưng theo Người, tài cũng là quan trọng, có đức thì phải có tài, người đó mới trở nên hoàn hảo. Người nói: “Kháng chiến phải đi đôi với kiến quốc. Kháng chiến có thắng lợi thì kiến quốc mới thành công. Kiến quốc có chắc thành công, kháng chiến mới mau thắng lợi. Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm, nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều”4.

 

Trên đây là những vấn đề cơ bản của đạo đức cách mạng mà cán bộ, đảng viên cần phải có. Những người phủ nhận đạo đức cách mạng, cho những quy định về đạo đức cách mạng chỉ là mị dân là những người đi ngược lại với thực tế đời sống đạo đức xã hội, cần phải trao đổi lại cho ra lý ra lẽ./.

St

Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử gần 40 năm qua là minh chứng rõ nhất khẳng định tính đúng đắn, khả thi của đường lối đổi mới

 Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sau gần 40 năm đổi mới đất nước, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử: “Kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố”3. Có được kết quả đó là nhờ có đường lối phát triển đúng đắn, “phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”4. Chính vì vậy mà cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước đang ngày càng được tăng cường, củng cố. Điều đó được thực tế minh chứng, bác bỏ những quan điểm, nhận định sai trái, phiến diện của các thế lực thù địch.

Hiện nay, Việt Nam là một quốc gia độc lập, toàn vẹn, có chủ quyền, được tất cả các nước trên thế giới trong Liên hợp quốc công nhận. Việt Nam có tiềm lực ngày càng mạnh mẽ về kinh tế, quân sự, quốc phòng, an ninh, đối ngoại…; tham gia các tổ chức quốc tế lớn, như: Liên hợp quốc, Hội đồng nhân quyền và nhiều tổ chức quốc tế khác. Những giá trị bản sắc văn hóa truyền thống, con người Việt Nam đang được phát huy mạnh mẽ, góp phần định hình những giá trị chung cho nhân loại.

Trên lĩnh vực kinh tế, quy mô GDP của Việt Nam năm 2023 đạt khoảng 433,3 tỷ USD, xếp thứ 5 trong khu vực Đông Nam Á và là nền kinh tế lớn thứ 34 trên thế giới. Năm 2024, quy mô GDP của Việt Nam được dự báo đạt khoảng 469,67 tỷ USD5. Thu nhập bình quân đầu người đạt ngưỡng 4.000 USD/người/năm; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt mức kỷ lục 732 tỷ USD, đưa Việt Nam vào trong nhóm 20 nước có quy mô thương mại lớn nhất thế giới và duy trì xuất siêu năm thứ bảy liên tiếp6. Đặc biệt, giai đoạn 1986 - 2022, Việt Nam  nằm trong top 5 nước có quy mô kinh tế tăng nhiều nhất thế giới. 

Về chính trị, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc được củng cố; dân chủ xã hội chủ nghĩa tiếp tục phát huy được quyền làm chủ của nhân dân. Đảng Cộng sản cầm quyền ngày càng khẳng định vai trò lãnh đạo đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được xây dựng và ngày càng hoàn thiện, góp phần quan trọng trong bảo vệ lợi ích chính đáng và hợp pháp của nhân dân. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân phát huy tốt quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng hệ thống chính trị và đời sống xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. 

Về xã hội, việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển đạt được nhiều tiến bộ vượt bậc. Con người trở thành mục tiêu, động lực của sự phát triển. Người dân được thụ hưởng những thành quả của sự nghiệp đổi mới, chất lượng cuộc sống được nâng cao rõ rệt. Tuổi thọ trung bình, giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe,… đạt mức độ tương xứng với trình độ phát triển của nhiều nước trên thế giới. Năm 2023, tuổi thọ trung bình của cả nước là 73,7 (năm 2022 là 73,6 tuổi), trong đó nam là 71,1 tuổi và nữ là 76,5 tuổi7. Chỉ số Phát triển con người (HDI) của Việt Nam ngày càng tăng cao; từ năm 1990 đến năm 2022, giá trị HDI của Việt Nam thay đổi từ 0,492 lên 0,726, tăng gần 50%. Việt Nam  liên tục đạt được tiến bộ trong 30 năm qua8.

Về văn hóa, những giá trị cốt lõi của văn hóa, con người Việt Nam như lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng, ý chí tự lực, tự cường, tự tôn, tự hào dân tộc, nhân cách, đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ,… được phát huy mạnh mẽ. Tính tích cực xã hội, sức sáng tạo, những năng lực bản chất nhất của con người Việt Nam được khơi dậy mạnh mẽ. Đây là sức mạnh vĩ đại, nguồn lực to lớn, mạnh mẽ, sống động,… thúc đẩy sự phát triển của quốc gia - dân tộc trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. 

Về quốc phòng, an ninh, gần 40 năm đổi mới, đất nước luôn giữ được ổn định về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; quốc phòng được củng cố và bảo vệ vững chắc “Năm 2023, Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia cải thiện thứ hạng về chỉ số hòa bình, tăng 4 hạng lên vị trí 41/163 quốc gia và vùng lãnh thổ”9. Với chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động tích cực hội nhập quốc tế, là bạn là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, vì hòa bình, hợp tác và phát triển, Việt Nam trở thành địa điểm gặp gỡ, giao lưu văn hóa, kinh tế, đối thoại an ninh, chính trị an toàn của nhiều quốc gia và nhiều tổ chức quốc tế lớn trên thế giới, như: Chủ tịch ASEAN-2020, AIPA-41, Ủy viên không Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khóa 77; tổ chức thành công Hội nghị Diễn đàn Kinh tế Thế giới về ASEAN, Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Triều lần 2; Chủ tịch ASEAN và Chủ tịch AIPA, Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014 - 2016, 2023 - 2025, Ủy ban Di sản Thế giới của UNESCO nhiệm kỳ 2013 - 2017, Hội đồng Kinh tế - Xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016 - 2018, v.v.

Thế giới đánh giá cao lực lượng gìn giữ hòa bình của Việt Nam tại Phái bộ Cộng hòa Trung Phi, Cộng hòa Nam Sudan, Khu vực Abyei và đội tham gia tìm kiếm, cứu nạn ở Thổ Nhĩ Kỳ..., qua đó góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam yêu chuộng hòa bình, nhân văn và có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, v.v. 

Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 40 năm đổi mới đất nước đã minh chứng cho tính ưu việt về bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, tính đúng đắn, khả thi của đường lối đổi mới và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng như những nỗ lực của toàn thể nhân dân Việt Nam trong hành trình gian nan đó. Điều này bác bỏ hoàn toàn những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch, phản động đối với đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo.

Tính khách quan, khoa học và khả thi của đường lối đổi mới của Đảng

Thực tế cho thấy, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, được mở đầu từ Đại hội VI của Đảng năm 1986, đó là một tất yếu khách quan, xuất phát từ quá trình vận động, biến đổi và phát triển của đất nước, do những quy luật khách quan chi phối, cùng với những đòi hỏi bức thiết của cuộc sống, nhằm đưa đất nước vượt qua những khó khăn, thử thách, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Mặc dù sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chúng ta đã tạo ra được những tiền đề nhất định để xây dựng chủ nghĩa xã hội; trong đó, tập trung vào phát triển kinh tế, xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị, cải biến các mặt của đời sống xã hội, xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, đất nước còn đứng trước nhiều thử thách, khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng làm cho kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, v.v. Để đưa đất nước vượt qua khó khăn, có bước phát triển mạnh mẽ mang tính đột phá, nhất thiết phải thực hiện một sự thay đổi mang tính cách mạng, nhằm chuyển đổi mô hình quản lý và phát triển kinh tế - xã hội cho phù hợp với tình hình mới. Đó là cơ sở để Đảng ta đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước vào năm 1986.

Có thể khẳng định, đường lối đổi mới của Đảng là khoa học, cách mạng và khả thi. Bởi đường lối ấy được xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - học thuyết khoa học và cách mạng vì sự nghiệp giải phóng nhân loại, giải phóng giai cấp và giải phóng con người, cũng như xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam. Trên cơ sở nền tảng tư tưởng ấy, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới khoa học và cách mạng, mang tính sáng tạo, đột phá, được thể hiện tập trung ở ba trụ cột chủ yếu là: lý luận kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Theo đó, lý luận “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” là một sáng tạo đột phá của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lý luận về đường lối đổi mới. Lý luận này được đề xuất trên cơ sở tổng kết thực tiễn chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thế giới thế kỷ XX, cũng như xuất phát từ thực tế khủng hoảng kinh tế - xã hội trong nước theo mô hình kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu, bao cấp đã tồn tại lâu dài trong chủ nghĩa xã hội. Lý luận này tạo ra bước ngoặt căn bản cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tạo tiền đề cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đại hội IX của Đảng xác định mô hình kinh tế tổng quát ở Việt Nam là “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”1. Từ Đại hội IX đến Đại hội XIII, lý luận kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa càng được nhận thức, bổ sung, phát triển đầy đủ, sâu sắc. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”2.

Tiếp đó, sự hình thành khái niệm “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” là một trong những đóng góp quan trọng bổ sung, phát triển cơ sở lý luận về nhà nước của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đồng thời, làm thay đổi căn bản lý luận về quyền lực chính trị trong chủ nghĩa xã hội hiện thực. Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng là bước đột phá trong đổi mới tư duy chính trị của Đảng ta, đánh một dấu mốc quan trọng trong đổi mới hệ thống chính trị nói chung, đổi mới Nhà nước ở nước ta nói riêng, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Cùng với đó, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của chủ nghĩa xã hội cũng là sự phát triển mới về tư duy lý luận của Đảng. Thực tế cho thấy, dân chủ là một nội dung của cuộc cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo từ khi mới thành lập - cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Sau 40 năm đổi mới đất nước, từ quan điểm “Dân là gốc”, “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đến “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đã tạo cơ sở, điều kiện cho toàn thể nhân dân lao động Việt Nam thực hiện được những quyền và thụ hưởng được những lợi ích căn bản của mình, góp phần giải phóng, phát triển con người và hoàn thiện xã hội.

Như vậy, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa được coi là trụ cột của đường lối đổi mới. Bởi lẽ, ba yếu tố này tạo nên nền tảng cho chế độ kinh tế, chế độ chính trị và chế độ xã hội của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Ba yếu tố này làm điều kiện, tiền đề cho nhau, vừa tạo ra sự vững chắc, ổn định, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tạo ra nền tảng vật chất cho nhà nước xã hội chủ nghĩa, thông qua vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước; đồng thời, tạo ra cơ chế tự do, tự chủ thúc đẩy sự tiến bộ của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở cho sự giải phóng và phát triển con người. Nhà nước xã hội chủ nghĩa đảm bảo tính định hướng, cơ chế, chính sách thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng và minh bạch; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, dân chủ trong xã hội. Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Chỉ khi nào có dân chủ thực sự thì kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mới có môi trường phát triển đầy đủ, lành mạnh và khi có dân chủ thực sự thì quyền lực của nhà nước xã hội chủ nghĩa mới được thực thi một cách thực chất. Do đó, không thể phán bừa rằng đường lối đổi mới của Đảng là không khoa học, không có cơ sở lý luận và thực tiễn,... như những luận điệu xuyên tạc thường rao giảng.

LẠI THÊM NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VIỆC THỰC HIỆN NGHĨA VỤ QUÂN SỰ CỦA CÔNG DÂN

 

Những ngày này, khi các địa phương trên cả nước đang tích cực triển khai công tác khám sức khỏe (từ ngày 1-11 đến 31-12), gọi thanh niên nhập ngũ thì trên không gian mạng lại xuất hiện các thông tin, luận điệu sai trái, xuyên tạc việc tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự (NVQS), đả kích môi trường quân ngũ. Đây là luận điệu nhằm bôi nhọ hình ảnh, truyền thống của người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, xuyên tạc việc thực hiện NVQS, bảo vệ Tổ quốc, tạo dư luận xấu, gieo rắc tư tưởng thoái thác về trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân với Tổ quốc, nhất là những người trong độ tuổi thực hiện NVQS.

Những luận điệu sai trái, xuyên tạc

Trên không gian mạng, mạng xã hội, các thế lực thù địch và những kẻ cơ hội chính trị đang rêu rao, tuyên truyền các bài viết, đăng status, dòng trạng thái sai sự thật như: “Trong khi các nước phát triển quan tâm chăm lo đào tạo cho thanh niên lập nghiệp, làm ăn kinh tế thì chỉ có Việt Nam mới bắt ép người dân đi NVQS, nghĩa vụ công an”, “hãy để thanh niên lập nghiệp, làm giàu, đừng bắt đi NVQS”, “mất 2 năm đi NVQS về chẳng được gì”, “chỉ con nhà nghèo mới bị bắt đi nghĩa vụ”...

Trong khi sự thật là, nhiều nước trên thế giới vẫn đang áp dụng bắt buộc nghĩa vụ quân sự, không thực hiện miễn, hoãn-kể cả các ngôi sao nghệ thuật. Nguy hiểm hơn, các thế lực thù địch, phản động còn đăng tải các cảnh bạo lực, quân phiệt của quân đội nước ngoài với lời bình xuyên tạc là ở Việt Nam; họ cắt ghép, dàn dựng hình ảnh, video để bóp méo sự thật, xuyên tạc về đạo đức, tác phong và hoạt động của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội... nhằm kích động một số người nhẹ dạ, cả tin, thiếu hiểu biết chia sẻ, lan tỏa trên mạng xã hội, làm nóng vấn đề.

Mục đích của họ là bôi nhọ hình ảnh tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ, bản chất, truyền thống, uy tín của Quân đội, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Quân đội, với Đảng, Nhà nước. Từ đó, khiến cho công dân đến độ tuổi nhập ngũ và gia đình, người thân “tự diễn biến”, dao động tư tưởng, hoài nghi, thiếu niềm tin, trốn tránh thực hiện NVQS, chống đối việc thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc. Hệ quả là rơi vào âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tham gia biểu tình, chống phá, kích động các quân nhân đào ngũ, bỏ ngũ.

Trách nhiệm và nghĩa vụ thiêng liêng của mọi công dân

Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật trường tồn của dân tộc Việt Nam. Lịch sử minh chứng, biết bao thế hệ ông cha đã ngã xuống cho nền độc lập của Tổ quốc, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, hàng triệu thanh niên Việt Nam đã xung phong “xếp bút nghiên lên đường ra trận”, trở thành những chiến sĩ kiên trung, bất khuất.

Những anh hùng liệt sĩ như: Võ Thị Sáu, Lý Tự Trọng, Bế Văn Đàn, Cù Chính Lan, Tô Vĩnh Diện, Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Viết Xuân, Nguyễn Văn Thạc, Đặng Thùy Trâm, 10 nữ thanh niên xung phong tại Ngã ba Đồng Lộc... là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, niềm tự hào của các thế hệ thanh niên Việt Nam học tập, noi theo: “Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, không thể là con đường nào khác”-câu nói đanh thép của Anh hùng Lý Tự Trọng đã trở thành lời hiệu triệu, động lực thôi thúc hàng triệu thế hệ thanh niên Việt Nam mong muốn được cống hiến, hy sinh cho Tổ quốc.

Thực hiện NVQS, bảo vệ Tổ quốc là quyền lợi và trách nhiệm cao cả của mỗi công dân Việt Nam để bảo vệ nền độc lập, tự do, hòa bình cho Tổ quốc, bảo vệ sự bình yên cho chính quê hương, gia đình, người thân của mình. Thực hiện NVQS đã được hiến định trong Hiến pháp, pháp luật Nhà nước. Điều 45, Chương II, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân.

Công dân phải thực hiện NVQS và tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân” và Điều 64, Chương IV quy định: “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân... Cơ quan, tổ chức, công dân phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh”. Thể chế hóa Hiến pháp, khoản 1, khoản 2, Điều 4 và khoản 1, Điều 59 Luật NVQS năm 2015 quy định: “NVQS là nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội nhân dân; công dân trong độ tuổi thực hiện NVQS, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú phải thực hiện NVQS theo quy định.

Tổ chức, cá nhân có hành vi trốn tránh, chống đối, cản trở việc thực hiện NVQS thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự”. Theo đó, công dân đến tuổi tham gia NVQS không thể đưa ra để bàn luận, so đo, tính toán “đi hay không đi”, “dám hay không dám”. Việc trốn tránh NVQS, trốn tránh trách nhiệm công dân không những vi phạm pháp luật mà còn là tội lớn với thế hệ cha anh đi trước, với Tổ quốc và dân tộc.

Trường học lớn để thanh niên phấn đấu

Cần khẳng định, Quân đội là trường học lớn để lớp lớp thế hệ thanh niên phấn đấu rèn luyện, trưởng thành. Được phục vụ trong môi trường Quân đội, cống hiến sức trẻ bảo vệ Tổ quốc là niềm vinh dự, tự hào của mỗi công dân. Với kỷ luật tự giác và nghiêm minh, môi trường văn hóa quân sự là cơ hội để thanh niên học tập, rèn luyện, trưởng thành và cống hiến.

Cùng với sự phát triển của đất nước, đời sống vật chất, tinh thần, chế độ, chính sách đối với quân nhân ngày càng được quan tâm, bảo đảm tốt. Quá trình thực hiện NVQS, thanh niên được học tập, tiếp thu những kiến thức về chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ hữu ích cho bản thân. Trong môi trường quân ngũ, họ được học tập, quán triệt đầy đủ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên các lĩnh vực, nhất là về quốc phòng, an ninh, chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; được giáo dục chính trị, truyền thống, giáo dục pháp luật...

Thông qua đó, thanh niên trưởng thành về nhận thức chính trị, hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học để nhận diện rõ, đúng những vấn đề thời sự, chính trị diễn ra trong nước và thế giới; đồng thời, nâng cao tinh thần yêu nước, nhận thức, ý thức cảnh giác cách mạng, có lập trường chính trị vững vàng, có khả năng “miễn dịch” trước những luận điệu xuyên tạc, kích động, chống phá của các thế lực thù địch.

Môi trường quân ngũ còn giúp thanh niên được rèn luyện sức khỏe, thể lực dẻo dai; tác phong chững chạc, có trách nhiệm cao với công việc, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm; giao tiếp, ứng xử đúng mực, có văn hóa. Quân đội cũng chính là môi trường giáo dục tốt nhất về tình đồng chí, đồng đội; tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái; cán bộ, chiến sĩ đồng sức, đồng lòng cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ. Đó còn là nơi mà thanh niên thấm nhuần sâu sắc tình đoàn kết, gắn bó máu thịt quân dân, tình yêu quê hương, đất nước trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

Bên cạnh đó, sau khi huấn luyện, những quân nhân có đủ điều kiện sẽ được tuyển chọn, bố trí công việc phù hợp với khả năng hoặc cử đi đào tạo để trở thành sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp (nếu có nguyện vọng phục vụ lâu dài trong Quân đội). Những quân nhân hoàn thành NVQS, khi xuất ngũ sẽ được hưởng chính sách ưu đãi như cộng điểm khi thi tuyển sinh vào các trường đại học, học viện, hỗ trợ đào tạo học nghề, tạo công ăn việc làm...

Khi xuất ngũ được hưởng trợ cấp xuất ngũ, trợ cấp việc làm, trợ cấp bảo hiểm, thanh toán nghỉ phép, quà Tết, phụ cấp, thẻ học nghề giúp thanh niên lập thân, lập nghiệp và ổn định cuộc sống sau này. Điều đó minh chứng, môi trường Quân đội không những không “xấu” như sự bịa đặt, xuyên tạc của các thế lực thù địch mà còn là nơi có điều kiện tốt để thanh niên rèn luyện, phấn đấu, trưởng thành về mọi mặt.

Thực hiện NVQS, bảo vệ Tổ quốc không chỉ là nghĩa vụ, trách nhiệm mà trên hết đó còn là niềm vinh dự, tự hào của mỗi công dân Việt Nam, góp phần bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, giữ gìn bản sắc, truyền thống dân tộc, hội nhập quốc tế. Đồng thời, đây cũng là cơ hội để các thế hệ thanh niên được tu dưỡng, rèn luyện và trưởng thành trong môi trường “Quân đội anh hùng của dân tộc anh hùng”. Thực tiễn sinh động đó là minh chứng bác bỏ, phê phán các luận điệu xuyên tạc về thực hiện NVQS, bảo vệ Tổ quốc hiện nay./.

#Nguồn st