Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2025

Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - giá trị hiện thực không thể phủ nhận

Thực hiện mưu đồ chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch tiến hành mọi thủ đoạn nhằm xuyên tạc, phủ nhận, hạ thấp vai trò và ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy, đấu tranh bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề vừa cấp bách trước mắt, vừa thường xuyên, cơ bản, lâu dài.

Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở các nước Tây Âu đã phát triển mạnh mẽ trên nền tảng của Cuộc cách mạng công nghiệp được thực hiện trước tiên ở nước Anh (vào cuối thế kỷ XVIII), đánh dấu bước chuyển biến từ nền sản xuất thủ công tư bản chủ nghĩa sang nền sản xuất đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, làm thay đổi sâu sắc cục diện xã hội, trước hết là sự hình thành và phát triển của giai cấp vô sản – một lực lượng chính trị độc lập, tiên phong trong cuộc đấu tranh cho nền dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội. Cuộc đấu tranh đó đã đặt ra yêu cầu khách quan: phải có lý luận dẫn đường. Và, chủ nghĩa Mác ra đời để đáp ứng yêu cầu khách quan đó; đồng thời, chính thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản đã trở thành tiền đề thực tiễn cho sự khái quát và không ngừng bổ sung, hoàn chỉnh lý luận của chủ nghĩa Mác.

Gần hai thế kỷ kể từ khi C. Mác và Ph. Ăngghen đặt nền móng đầu tiên tại nước Đức, được V.I. Lênin kế tục và phát triển tại nước Nga, điều đó càng khẳng định tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin. Bởi, nó không những chỉ ra bản chất bóc lột, phơi bày bản chất sâu xa, những mâu thuẫn cố hữu nhất tồn tại trong lòng chế độ tư bản - nguyên nhân dẫn đến sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản, mà còn dự báo chính xác xu hướng vận động của các hình thái kinh tế - xã hội để đi đến khẳng định tương lai của nhân loại là chế độ cộng sản chủ nghĩa. Đồng thời, vạch ra cho giai cấp vô sản phương pháp cách mạng để giải phóng giai cấp, đưa xã hội loài người tiến lên.

Ở Việt Nam, trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các phong trào yêu nước, các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp đều bị thất bại vì không có đường lối phù hợp. Điều đó đặt ra yêu cầu khách quan, cấp thiết là phải khắc phục sự khủng hoảng về đường lối cứu nước. Từ thực tiễn đó, Nguyễn Ái Quốc đã nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam; trong đó, tập trung trước hết vào việc thành lập một chính đảng để lãnh đạo cách mạng. Và ngày 03/02/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra đời, đánh dấu một sự kiện đặc biệt quan trọng của cách mạng Việt Nam. Xuất phát từ điều kiện đặc thù của xã hội Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối cách mạng đúng đắn: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã giải quyết sáng tạo và thành công mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế, lãnh đạo nhân dân tiến hành Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, xóa bỏ chế độ phong kiến, thực dân, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc nền độc lập của Tổ quốc. Thành tựu phát triển toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội trong thời kỳ đổi mới đã được Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Điều đó khẳng định tầm vóc, ý nghĩa, giá trị thời đại của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Tuy nhiên, nhằm thực hiện mưu đồ thay đổi đường hướng chính trị ở Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động ra sức tấn công nền tảng tư tưởng của Đảng trên mọi phương diện, bằng mọi biện pháp, hòng phủ nhận giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin trong giai đoạn hiện nay; làm phai nhạt niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh với mục đích cuối cùng là xóa bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi đời sống chính trị - tinh thần của giai cấp công nhân và nhân dân lao động tiến bộ trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng bằng các luận điệu xuyên tạc, công kích, chống phá rất đa dạng:

Về tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Các thế lực thù địch sử dụng nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau để phủ nhận, xuyên tạc. Trước hết, họ phủ nhận tài năng kiệt xuất của C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin; đồng thời, cho rằng: C. Mác và V.I. Lênin là những nhà xã hội duy tâm, siêu hình và không tưởng; học thuyết Mác chỉ là sự sao chép sống sượng chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp, kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh và triết học cổ điển Đức; là sản phẩm lai tạo hỗn hợp mang tính chủ quan, áp đặt được tua lại nhiều lần. Đây là sự xuyên tạc vô căn cứ và có chủ đích của các thế lực thù địch. Cần thấy rằng, tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin được đúc rút, khái quát nhờ tài năng kiệt xuất của cả C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin trong thực tiễn hoạt động chính trị sôi động của các ông. Nhờ đó mà các ông đã  tạo ra bước ngoặt cách mạng trong lý luận, xác lập một thế giới quan, phương pháp luận khoa học trong xem xét và cải tạo hiện thực, từ đó xây dựng nên Học thuyết của mình. Nhìn vào thực tiễn lịch sử, nếu không có những bộ óc vĩ đại, với một thế giới quan khoa học, cách mạng thì không thể đáp ứng được đòi hỏi của lịch sử.

Đối với những quan điểm, nguyên lý có tính chất nền tảng, là những phát kiến vĩ đại của chủ nghĩa Mác – Lênin, họ tập trung xuyên tạc hòng hạ thấp, phủ nhận các nội dung: học thuyết hình thái kinh tế - xã hội; học thuyết giá trị thặng dư; học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Họ còn phê phán quan điểm của C.Mác về luận điểm đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội; cho rằng: những luận điểm này làm nghèo đi những hình thức tiến hóa của xã hội, khuyến khích hận thù, cổ vũ cho chiến tranh, độc quyền, độc đoán, mâu thuẫn, đấu tranh giai cấp liên miên không phù hợp với xu thế của thời đại, do đó không thể thúc đẩy xã hội phát triển, v.v. Các thế lực thù địch, phản động không chỉ tìm cách phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin về mặt lý luận mà dựa vào sự sụp đổ của mô hình chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu (trong thập niên 80 và 90 của thế kỷ XX), họ rêu rao: đó là do sự sai lầm của chủ nghĩa Mác – Lênin, cho nên đó là sự sụp đổ đã báo trước. Đây là thể hiện của nhận thức phiến diện, thiếu khách quan và khoa học trước sự vận động và phát triển của các mô hình xã hội. Nói về sự sụp đổ, tan rã của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, chúng ta coi đó là một tổn thất to lớn của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, nhưng không phải là tất yếu và càng không phải là sai lầm của học thuyết Mác. Nguyên nhân chính, trực tiếp, có tính quyết định dẫn đến sự tan rã đó là do những sai lầm trong đường lối chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ của Đảng Cộng sản cầm quyền, cùng sự phản bội của một số lãnh đạo cao nhất ở đó đối với những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Đúng như V.I. Lênin đã khẳng định: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta”. Do đó, đây chỉ là sự sụp đổ một mô hình chủ nghĩa xã hội cụ thể, không đồng nghĩa với “sự cáo chung của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội” như xuyên tạc, phủ nhận của các thế lực thù địch, phản động thường rêu rao.

Về vai trò của chủ nghĩa Mác – Lênin ở Việt Nam, họ dựa vào bối cảnh thời gian, không gian ra đời của chủ nghĩa Mác – Lênin để phủ nhậnxuyên tạc với luận điệu: chủ nghĩa Mác – Lênin không nghiên cứu dựa trên cơ sở khoa học, thực tiễn đầy đủ, nó chỉ phù hợp với các nước châu Âu; trong khi đó, ở châu Á có sự phát triển kinh tế khác, có trình độ văn hóa, cùng phong tục, tập quán khác các nước châu Âu. Do vậy, chủ nghĩa Mác – Lênin đối với Việt Nam chỉ là tư tưởng ngoại lai, xa lạ với truyền thống, văn hóa dân tộc, việc vận dụng vào Việt Nam là khiên cưỡng. Tuy nhiên, cần nhận thức rằng chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ ra những quy luật vận động chung của lịch sử loài người và các ông cũng đều nhấn mạnh việc vận dụng những quy luật chung ấy vào điều kiện cụ thể của mỗi nước cũng phải có những cải biến trong những vấn đề chi tiết cho phù hợp với đặc điểm của quốc gia, dân tộc. Bản thân các ông cũng không hề coi lý luận của mình là tối cao, tuyệt đỉnh, mà cần phải có sự bổ sung, phát triển, cụ thể hóa vào từng điều kiện lịch sử cụ thể: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”. Còn theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: trong quá trình vận dụng những quy luật chung, những nguyên lý chung của chủ nghĩa Mác – Lênin, của chủ nghĩa cộng sản, phải chú ý đến đặc thù của dân tộc mình. Người khẳng định: “Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được. Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”. Do đó, việc vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam là hoàn toàn phù hợp và đúng đắn.

Về vai trò và ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác – Lênin, các thế lực thù địch cho rằng: chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời vào thế kỷ XIX trong điều kiện Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (động cơ hơi nước), nền sản xuất dựa trên máy móc cơ khí nên chỉ hợp với thời điểm đó, cùng lắm là thế kỷ XX, còn hiện nay loài người đã chuyển mình sang Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kinh tế tri thức, kinh tế số, toàn cầu hóa, tin học hóa, thời đại “hậu công nghiệp”, kinh tế - xã hội có rất nhiều đổi thay, vì vậy hiện nay chủ nghĩa Mác – Lênin không còn phù hợp. Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác – Lênin là hệ thống tri thức thuộc ngành khoa học xã hội, khoa học nhân văn. Vì thế, nó mang đặc trưng tích lũy, kế thừa, chứ không mang đặc trưng thay thế như những tri thức thuộc ngành khoa học - kỹ thuật và công nghệ. Hơn nữa, sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và khoa học, công nghệ hiện đại ngày nay vốn không thể xóa bỏ được những mâu thuẫn cố hữu của chủ nghĩa tư bản là “bóc lột”; ngược lại, nó làm cho những mâu thuẫn đó càng thêm sâu sắc. Điều này được biểu hiện cụ thể trong xã hội tư bản chủ nghĩa hiện đại, như: mâu thuẫn giữa tư bản và người lao động vẫn tồn tại và gia tăng, khoảng cách giàu - nghèo mở rộng, phân phối của cải không công bằng, nạn thất nghiệp tăng lên, dẫn đến nhiều vấn đề xã hội trở nên trầm trọng, v.v. Điều đó càng chứng tỏ thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin là đúng đắn và có ý nghĩa thời đại như thực tiễn đã và đang minh chứng: Cải cách chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc (từ năm 1978), đổi mới ở Việt Nam (từ năm 1986) và các quá trình tương tự ở các nước xã hội chủ nghĩa khác được triển khai với các nguyên tắc đúng đắn; vừa toàn diện, đồng bộ; vừa có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, giải pháp phù hợp; vừa kiên định và sáng tạo, kế thừa và phát triển, gắn lý luận với thực tiễn, gắn quốc gia với thế giới. Nhờ vậy, Trung Quốc đã trở thành cường quốc có nền kinh tế đứng thứ hai thế giới. Việt Nam đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; Cuba hiên ngang trước bao vây cấm vận, kiên định xây dựng quốc gia xã hội chủ nghĩa độc lập, có chủ quyền, dân chủ, thịnh vượng và bền vững; các nước xã hội chủ nghĩa khác đều có nhiều thành công trong xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội. Đây thật sự là một quá trình cải cách, đổi mới thành công cả về tư duy lý luận, nhận thức, tầm nhìn và thực tiễn, chủ trương, chính sách, khẳng định xung lực của chủ nghĩa xã hội trước mọi sóng cồn, gió cả của thời cuộc.

Đối với tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch, phản động sử dụng thủ đoạn tấn công trên nhiều phương diện. Họ xuyên tạc rằng, Hồ Chí Minh không có tư tưởng riêng, mà chỉ là ảo tưởng do Đảng Cộng sản nghĩ ra. Hơn thế, họ còn đưa ra luận điệu: tư tưởng Hồ Chí Minh không còn phù hợp trong bối cảnh hiện nay và cho rằng, Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến đấu tranh dân tộc, theo chủ nghĩa dân tộc nên chỉ có giá trị trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc chứ không có giá trị đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Đây là sự xuyên tạc vô căn cứ, bởi tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện lịch sử của Việt Nam, đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mác – Lênin với giá trị truyền thống của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại. Chủ nghĩa Mác – Lênin trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã được chuyển hóa thành hệ thống thế giới quan, phương pháp luận, nhân sinh quan khoa học, cách mạng, sinh động, giàu tính thực tiễn, có giá trị dẫn đường cho thành công của cách mạng Việt Nam.

Thực hiện mưu đồ phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động tiến hành thủ đoạn vô cùng nham hiểm, đó là tách rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lênin. Đây là một thủ đoạn rất tinh vi, thâm độc, nhằm làm đứt gãy từng bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ biện luận rằng: chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ phù hợp với phương Tây, còn tư tưởng Hồ Chí Minh mới phù hợp với Việt Nam. Điển hình là việc Hồ Chí Minh không bao giờ “bê nguyên xi” chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, mà đều có sự thay đổi. Do đó, các thế lực thù địch ra sức kêu gọi “chỉ cần theo tư tưởng Hồ Chí Minh, bỏ qua chủ nghĩa Mác – Lênin” hay “chỉ cần chủ nghĩa Mác – Lênin là đủ sức lãnh đạo cách mạng Việt Nam”. Họ còn cho rằng: “chủ nghĩa Mác – Lênin là chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan, thiên về đấu tranh giai cấp, đối lập với tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng đề cao đoàn kết và thống nhất; Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không theo chủ nghĩa cộng sản, chỉ nhấn mạnh đến đoàn kết chứ không nhấn mạnh đến đấu tranh”. Việc tách rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lênin là cơ sở để các thế lực thù địch, phản động tiến thêm một bước nữa đòi lấy tư tưởng Hồ Chí Minh thay thế cho chủ nghĩa Mác – Lênin ở Việt Nam. Từ đó, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin ở Việt Nam và cũng gián tiếp phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh. Có thể khẳng định rằng: tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với chủ nghĩa Mác – Lênin ở bản chất khoa học và cách mạng, ở lý tưởng và mục tiêu nhân văn vì con người, vì giải phóng giai cấp, dân tộc và nhân loại. Về bản chất, tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với chủ nghĩa Mác – Lênin chứ không hề có sự khác biệt, đối trọng nhau như những luận điệu của thế lực thù địch rêu rao. Có được điều đó là do chính Hồ Chí Minh đã tìm đến chủ nghĩa Mác – Lênin, nghiên cứu, kế thừa, phát triển lên tầm cao mới, vận dụng phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Giá trị và ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với nhân loại nói chung và sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói riêng là không thể phủ nhận. Do vậy, bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là yêu cầu, nhiệm vụ tất yếu khách quan, đòi hỏi phải kết hợp giữa kiên định và phát triển; trung thành và vận dụng sáng tạo; giữa lý luận và thực tiễn; giữa tổng kết với bổ sung, phát triển; giữa bảo vệ và đấu tranh, làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin luôn và mãi là nền tảng tư tưởng vững chắc của các đảng cộng sản cầm quyền, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam./.

ST.

Vạch trần thủ đoạn cắt rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin

Cắt rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác  Lênin là thủ đoạn chống phá tinh vi, rất thâm hiểm của các thế lực thù địch, nhằm phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Vì vậy, chúng ta phải luôn nêu cao cảnh giác, tích cực đấu tranh vạch trần sự sai trái của thủ đoạn này.

Xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là mục tiêu xuyên suốt mà các thế lực thù địch ra sức thực hiện đối với cách mạng nước ta, nhằm làm biến chất Đảng ta, tiến tới xóa bỏ sự hiện diện và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.

Để đạt được mục tiêu đó, một trong những thủ đoạn thâm độc mà họ thực hiện là cắt rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác  Lênin, bằng nhiều lý lẽ ngụy biện rất tinh vi, xảo quyệt. Một mặt, họ viện dẫn thực tiễn sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới vào cuối thế kỷ trước để tuyên bố: “Chủ nghĩa Mác  Lênin đã hết thời, cho nên không cần nhắc đến chủ nghĩa Mác  Lênin khi nói đến nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam”(!). Mặt khác, họ đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác  Lênin, khi cho rằng: “Hồ Chí Minh theo chủ nghĩa dân tộc, nên tư tưởng Hồ Chí Minh không có mối liên hệ gì với chủ nghĩa Mác  Lênin”(!). Tinh vi, khôn khéo hơn, họ không ra mặt bác bỏ chủ nghĩa Mác  Lênin, nhưng ngụy biện rằng: “Trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã có tinh thần chủ nghĩa Mác  Lênin, nên trong nội hàm nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ cần nêu tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ”(!).

Cần khẳng định ngay rằng, các quan điểm nói trên rất nguy hiểm, dễ làm cho những người ít nghiên cứu lý luận chính trị ngộ nhận, cả tin, không hiểu thực chất đằng sau sự “tán dương tư tưởng Hồ Chí Minh” lại là âm mưu phủ nhận cả chủ nghĩa Mác  Lênin và cả tư tưởng Hồ Chí Minh, tiến tới phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh có thể thấy rõ những quan điểm nói trên là hoàn toàn sai trái, cần vạch trần, bác bỏ.

Trước hết, tư tưởng Hồ Chí Minh có nguồn gốc lý luận chủ yếu từ chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa Mác – Lênin là nền tảng lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh. Chính chủ nghĩa Mác  Lênin đã cung cấp cho Hồ Chí Minh thế giới quan, phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để hình thành hệ thống quan điểm phong phú, toàn diện của Người về cách mạng Việt Nam. Nhìn lại quá trình đi tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh có thể thấy, khởi đầu với hành trang là lòng yêu nước và khát vọng giành độc lập cho dân tộc, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh vừa lao động, học tập và nghiên cứu lý luận, vừa trực tiếp tham gia các phong trào đấu tranh chính trị của giai cấp công nhân và lao động ở nhiều nước để trau dồi kiến thức và xác lập tư tưởng chính trị. Trong quá trình đó, Người đã gặp chủ nghĩa Mác  Lênin và tìm thấy ở đây cái “cẩm nang thần kỳ” soi sáng con đường cách mạng Việt Nam. Từ đó, Người đứng hẳn về Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản) và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp vào cuối năm 1920, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, đánh dấu bước ngoặt quyết định trong hình thành tư tưởng chính trị của mình. Để chuẩn bị cho quá trình vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, năm 1927, Người viết tác phẩm “Đường kách mệnh”, trong đó khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Trong bài: “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin”, Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến nguồn gốc lý luận tư tưởng của mình là chủ nghĩa Mác  Lênin. Người khẳng định: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác  Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Những dữ liệu đó cho thấy, không thể nói tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là tư tưởng dân tộc, không thể đặt tư tưởng Hồ Chí Minh ra ngoài hệ tư tưởng Mác  Lênin. Nói cách khác, không thể tách tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi nguồn gốc, nền tảng lý luận của nó là chủ nghĩa Mác  Lênin.

Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Tại Đại hội XI, Đảng ta đã khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác  Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta”. Có thể thấy rất rõ, toàn bộ hệ thống quan điểm phong phú, toàn diện của Người về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, đều là kết quả sự vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác  Lênin vào điều kiện thực tiễn nước ta. Chính trên cơ sở nắm vững và quán triệt sâu sắc bản chất cốt lõi những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác  Lênin, Hồ Chí Minh đã vận dụng phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để tự tìm ra những chủ trương, giải pháp, đối sách phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, từng thời kỳ cụ thể của cách mạng Việt Nam; để hình thành nên hệ thống quan điểm phong phú, toàn diện về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Người không đi tìm những kết luận có sẵn trong sách vở kinh điển của chủ nghĩa Mác  Lênin, mà tiếp thu lý luận Mác  Lênin theo phương pháp nhận thức mác xít; đồng thời, theo lối “đắc ý, vong ngôn”, tức là cốt nắm lấy cái tinh thần, cái bản chất của chủ nghĩa Mác  Lênin, chứ không tự trói buộc trong cái vỏ ngôn từ; trên cơ sở đó vận dụng vào hoàn cảnh thực tế của Việt Nam, hình thành nên những quan điểm cơ bản về mục tiêu, lực lượng, động lực, phương pháp cách mạng,… của cách mạng Việt Nam. Điều đó hoàn toàn đúng với bản chất của chủ nghĩa Mác  Lênin và lời căn dặn hậu thế của các nhà sáng lập học thuyết này rằng: học thuyết của họ không phải là một cái gì đã “xong xuôi hẳn” và “nhất thành bất biến”, mà là một “hệ thống mở”. Hiểu rõ tinh thần đó, Hồ Chí Minh luôn tự mình quán triệt, thực hiện và yêu cầu: “Học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác  Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta”; là “học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác  Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta”. Chính trên tinh thần đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam dần được hoàn bị, phản ánh sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác  Lênin vào điều kiện thực tiễn Việt Nam. Do vậy, không thể tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác  Lênin.

Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần bổ sung, làm phong phú và tăng thêm sức sống cho chủ nghĩa Mác – Lênin; do vậy, là dòng chảy tiếp nối chủ nghĩa Mác – Lênin. Nghiên cứu nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam có thể thấy rất rõ Hồ Chí Minh không giáo điều khi tiếp thu lý luận Mác  Lênin, bởi theo Người: “Chủ nghĩa Mác  Lênin là kim chỉ nam cho hành động, chứ không phải là kinh thánh”. Đứng vững trên lập trường, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác  Lênin, phân tích đặc điểm của thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh đã sớm phát hiện ở xã hội Việt Nam và các nước phương Đông có những đặc điểm khác với các nước phương Tây mà thời C. Mác chưa có điều kiện nghiên cứu. Từ đó, Người đã nêu nhiều luận điểm sáng tạo về con đường cách mạng Việt Nam, như: luận điểm về mục tiêu của cách mạng Việt Nam phải là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; luận điểm về quy luật ra đời và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là sự kết hợp chủ nghĩa Mác  Lênin với phong trào công nhân, mà còn kết hợp với phong trào yêu nước. Theo đó, cơ sở xã hội của Đảng không chỉ là giai cấp công nhân, mà còn là toàn thể nhân dân lao động; Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là Đảng của giai cấp công nhân, mà đồng thời còn là của nhân dân lao động và toàn dân tộc. Đó còn là luận điểm về giải quyết vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến, mà theo đó, trong hoàn cảnh mất nước thì quyền lợi dân tộc được đặt lên trên quyền lợi giai cấp; giải phóng dân tộc đã bao hàm một phần giải phóng giai cấp, tạo điều kiện thuận lợi để giải phóng giai cấp. Vấn đề dân tộc và thuộc địa cũng là phần đóng góp rất quan trọng của Hồ Chí Minh vào chủ nghĩa Mác  Lênin. Người đã nêu luận điểm về vai trò chủ động của cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa, theo đó cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có thể thành công trước cách mạng vô sản ở “chính quốc”, góp phần thúc đẩy cách mạng vô sản ở “chính quốc”. Những đóng góp quan trọng nói trên của Hồ Chí Minh, một mặt, thể hiện sự trung thành với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác  Lênin; mặt khác, góp phần làm phong phú, giàu thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác  Lênin; qua đó, tăng thêm sức sống cho học thuyết này. Chính vì thế, tư tưởng Hồ Chí Minh là dòng chảy tiếp nối chủ nghĩa Mác  Lênin trong dòng chảy văn hóa của nhân loại; không tách rời và không đối lập với chủ nghĩa Mác  Lênin như một số người xuyên tạc.

Từ những phân tích trên, khẳng định rằng: cả tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác  Lênin đều nằm trong nội hàm nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đòi hỏi vừa phải: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác  Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”, vừa phải kiên quyết đấu tranh chống lại mọi mưu toan cô lập, tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác  Lênin. Đó là nhiệm vụ vừa cơ bản, lâu dài, vừa cấp thiết trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay./.

ST.

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc về chính sách đối với đồng bào các dân tộc thiểu số

Thời gian qua, bất chấp những thành quả vượt bậc trong thực hiện chính sách dân tộc nói chung, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng của Đảng và Nhà nước ta, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, chống phá bằng nhiều thủ đoạn công khai, trực diện, hòng hạ thấp uy tín của Đảng. Đây là thủ đoạn không mới, nhưng rất nguy hiểm, làm xói mòn lòng tin của nhân dân, nhất là của đồng bào các dân tộc thiểu số vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, chúng ta cần nêu cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc là một trong những thủ đoạn cơ bản, xuyên suốt mà các thế lực thù địch ra sức chống phá đối với cách mạng nước ta. Đây là vấn đề không mới, nhưng hết sức nguy hiểm, bởi nó đánh vào nền tảng sức mạnh tổng hợp của toàn dân và đất nước, làm suy yếu nước ta từ bên trong, tạo sự ly khai, cát cứ trên từng khu vực, địa bàn, nhất là trên các địa bàn chiến lược, gây sự bất ổn định về chính trị,... để dễ bề kêu gọi can thiệp từ bên ngoài.

Để thực hiện mưu đồ đó, chúng ra sức lợi dụng những khó khăn, bức xúc của đồng bào các dân tộc trong cuộc sống; lợi dụng những yếu kém trong quản lý, điều hành của chính quyền cơ sở; đặc biệt, chúng triệt để lợi dụng các phần tử cực đoan, bất mãn, cơ hội chính trị,... để xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận thành tựu công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước nói chung, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng, bằng nhiều thủ đoạn ngày càng công khai và trực diện hơn. Gần đây, lợi dụng những khó khăn của đồng bào, nhất là ở những nơi bị ảnh hưởng nặng nề của thiên tai, dịch bệnh,... chúng đẩy mạnh các luận điệu vu khống xuyên tạc, rằng: “Đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam bị ngược đãi, phân biệt đối xử”(!). Đây là sự vu khống, bịa đặt một cách trắng trợn, lố bịch, không thể chấp nhận được, cần được vạch trần và đấu tranh bác bỏ.

Trước hết, cần khẳng định rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra các chủ trương, chính sách dân tộc, với những nội dung cơ bản là: “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển”. Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, trên cơ sở tiếp thu quan điểm về vai trò quần chúng nhân dân của chủ nghĩa Mác - Lênin, từ truyền thống của dân tộc Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề dân tộc và đại đoàn kết toàn dân tộc; coi đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định sự thành công của cách mạng. Người cho rằng, các dân tộc đều bình đẳng, tôn trọng, cùng nhau phát triển: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”. Kế thừa tư tưởng đó, trong tất cả các văn kiện Đại hội Đảng, nhất là thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn xác định, “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”. Quan điểm về sự bình đẳng giữa các dân tộc còn được thể hiện nhất quán trong Hiến pháp của Nhà nước ta. Điều 5, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 khẳng định rõ: “1. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. 2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. 3. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. 4. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”.

Nhằm làm cơ sở cho thực hiện tốt chính sách dân tộc, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) đã ban hành nghị quyết riêng (Nghị quyết số 24 ngày 12/3/2003) về Công tác dân tộc. Cùng với đó, Quốc hội đã ban hành các luật khung và luật chuyên ngành nhằm góp phần hoàn thiện khung pháp lý cho việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền cũng như chính sách hỗ trợ phát triển cho đồng bào dân tộc thiểu số. Riêng từ năm 2010 đến nay, Chính phủ đã xây dựng, ban hành 118 văn bản chính sách; 54 đề án, chính sách dân tộc trực tiếp hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Trong đó có các nhóm chính sách: về giảm nghèo bền vững; giáo dục, đào tạo; y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân; bồi dưỡng, đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số, miền núi và nhóm chính sách, cơ chế đặc thù về truyền thông và tuyên truyền vận động, phổ biến giáo dục pháp luật, v.v. Đặc biệt, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Nghị quyết số 88/2019/QH14, ngày 18/11/2019 phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030. Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, ngày 14/10/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1719/QĐ-TTg về phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030. Điều đó thể hiện sự nhất quán, quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với đồng bào dân tộc thiểu số, không có sự phân biệt đối xử như các thế lực thù địch rêu rao, xuyên tạc.

Thành tựu về thực hiện chính sách dân tộc của Việt Nam là không thể phủ nhận. Theo đó, công tác phát triển giáo dục, đào tạo vùng dân tộc thiểu số và miền núi đã có những tiến bộ; chất lượng và hiệu quả ngày càng được nâng cao. Với chủ trương, đường lối đúng đắn, phù hợp và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, những năm qua, quy mô, mạng lưới trường, lớp ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi được củng cố, phát triển từ mầm non, phổ thông đến cao đẳng, đại học. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú được phát triển mạnh mẽ ở các tỉnh, thành phố, tạo điều kiện cho con em dân tộc thiểu số được học tập, ăn ở tại trường. Triển khai Đề án củng cố phát triển các trường phổ thông dân tộc nội trú, đã có nhiều lớp học, phòng phục vụ học tập được nâng cấp và đầu tư xây dựng mới. Hiện nay, đã có 316 trường phổ thông dân tộc nội trú ở 49 tỉnh, thành phố, với 109.245 học sinh, trong đó, có khoảng 40% số trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia. Chất lượng giáo dục của các trường phổ thông dân tộc nội trú ngày càng được nâng lên qua từng năm học. Trường phổ thông dân tộc bán trú đã được thành lập ở 28 tỉnh, với quy mô 1.097 trường và 185.671 học sinh. Tỷ lệ học sinh bán trú hoàn thành cấp tiểu học đạt 98,9%; cấp trung học cơ sở đạt 92%. Có 15,2% số trường phổ thông dân tộc bán trú được công nhận đạt chuẩn quốc gia.

Cùng với đó, Chính phủ đã tập trung chỉ đạo phát triển sản xuất, đẩy nhanh công tác xóa đói, giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới suy thoái, tình hình kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, nhưng trong giai đoạn 2011 - 2015, Nhà nước đã đầu tư khoảng 135.000 tỉ đồng (tăng gấp 3 lần so với 5 năm trước3) giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số. Nhờ đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế của vùng dân tộc thiểu số và miền núi khá cao, giai đoạn 2016 - 2018 đạt bình quân 07% và tăng dần hằng năm. Đời sống vật chất của đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh hằng năm, bình quân toàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi giảm 04%/năm; riêng các xã đặc biệt khó khăn, giảm trên 04%/năm trở lên; các huyện nghèo giảm 05% - 06%/năm trở lên. Giai đoạn 2015 - 2019, đã có 08/64 huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP, ngày 27/12/2008 của chính phủ thoát nghèo; 14/30 huyện nghèo hưởng cơ chế theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP, ngày 27/12/2008 của chính phủ thoát khỏi tình trạng khó khăn; 124/2.139 xã, 1.322/20.176 thôn đặc biệt khó khăn ra khỏi diện đầu tư của Chương trình 135. Từ năm 2013 - 2020, bộ mặt nông thôn cả nước nói chung và vùng dân tộc thiểu số nói riêng được đổi thay rõ rệt; thu nhập và điều kiện sống của người dân được cải thiện và nâng cao. Đồng thời, Chính phủ tập trung xây dựng hàng vạn công trình hạ tầng cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, chủ yếu là đường giao thông, nhất là đường giao thông đến trung tâm các xã hầu hết được đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp, mở rộng; hệ thống điện, thủy lợi, cầu dân sinh, cầu treo, các công trình nước sạch, trường, lớp học, trạm y tế, nhà văn hóa, mạng lưới chợ, tạo thuận lợi có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Nhiều trường, lớp học, trạm y tế xã được xây dựng mới, kiên cố hóa; trang thiết bị thiết yếu phục vụ dạy và học, khám chữa bệnh được đầu tư mới. Đến nay, 100% huyện có đường đến trung tâm huyện; 98,4% xã có đường ô tô đến trung tâm xã; 100% xã và 97,2% thôn, bản có điện lưới quốc gia; tỷ lệ hộ gia đình được sử dụng điện đạt 93,9%; 100% xã có trường tiểu học và trung học cơ sở, 99,7% xã có trường mầm non, mẫu giáo; 99,3 % xã có trạm y tế; 65,8% số xã và 76,7% số thôn có nhà văn hóa hoặc nhà sinh hoạt cộng đồng.

Trái với luận điệu của các thế lực thù địch là “các dân tộc thiểu số đang bị đồng hóa, phân biệt đối xử vì khác biệt văn hóa,...”, trên thực tế, Nhà nước Việt Nam luôn chú trọng đến công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc. Để thực hiện chủ trương này, ngày 27/7/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1270/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020” với nội dung tập trung ưu tiên bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số rất ít người. Nhờ đó, văn hóa truyền thống của các dân tộc được tôn vinh, từng bước được bảo tồn, đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số được cải thiện, mức hưởng thụ văn hóa được nâng cao. Các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số, như: không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Thánh địa Mỹ Sơn, Cao nguyên đá Đồng Văn,... được bảo tồn, tôn vinh, được công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Hiện nay, hầu hết các xã được phủ sóng phát thanh, truyền hình; Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và các đài phát thanh, truyền hình địa phương đều có các chương trình bằng tiếng dân tộc, phù hợp với từng vùng, miền. Cùng với đó, tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số được tôn trọng. Nhà nước có nhiều chính sách bảo tồn, sử dụng và phát triển ngôn ngữ các dân tộc thiểu số, như: quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên. Đến nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã biên soạn giáo trình dạy 12 thứ tiếng dân tộc thiểu số; cả nước có hơn 30 tỉnh, hơn 600 trường tổ chức dạy, với hàng trăm nghìn học sinh theo học tiếng dân tộc. Đặc biệt, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhìn chung ổn định, đúng pháp luật; quyền tự do tín ngưỡng được đảm bảo; đa số người dân theo các tôn giáo sống tốt đời đẹp đạo, tuân thủ pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Có thể khẳng định rằng, với hệ thống chính sách dân tộc được hoàn thiện, trên thực tế các dân tộc thiểu số ở nước ta đã được bình đẳng về chính trị, văn hóa truyền thống được bảo tồn; chữ viết, tôn giáo, tín ngưỡng của đồng bào được tôn trọng, các quyền của công dân được bảo đảm, đã làm thay đổi cơ bản diện mạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn được cải thiện. Đồng bào tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, là những minh chứng hùng hồn phản bác lại luận điệu xuyên tạc, vu khống về cái gọi là “đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam bị ngược đãi, phân biệt đối xử”(!) của các thế lực thù địch./.

ST.

Phải chăng “không liên kết với nước này để chống nước kia” là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi?

“Không liên kết với nước này để chống nước kia” là chủ trương nhất quán trong chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam. Đây cũng là vấn đề mà thời gian qua, các thế lực thù địch tập trung xuyên tạc, chống phá. Vì thế, cùng với luận giải một cách khoa học, cần kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu phi lý đó, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

Hòa bình và tự vệ là những thành tố cốt lõi trong bản chất chính sách quốc phòng của nước ta. Để thực hiện chính sách quốc phòng đó, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân theo hướng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự cường, ngày càng hiện đại để bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống; trong đó, “không liên kết với nước này để chống nước kia” là quan điểm nhất quán, xuyên suốt. Song, các thế lực thù địch và một số người cố tình lại không thấy điều đó. Họ cho rằng, với chủ trương như vậy “là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi”; “một khi đã tuyên bố rõ ràng như vậy, chúng ta sẽ khó kiếm được đồng minh” và “làm mất đi con bài mặc cả quan trọng của Việt Nam với cả Mỹ và Trung Quốc”. Theo họ, không liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia “là không phù hợp với xu thế của thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cần phải thay đổi”. Họ còn khuyến nghị Đảng, Nhà nước ta nên liên minh quân sự, phải liên kết với nước này thì mới kiềm chế, đối phó được với nước kia để bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Vậy, thực chất của những luận điệu này là như thế nào? Những phân tích dưới đây sẽ góp phần làm rõ vấn đề trên.

Có phải xu thế thời đại hiện nay là liên kết với nước này để chống nước khác?

Thời đại hiện nay được hiểu là giai đoạn quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917; là “thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế”. Xét về bản chất, toàn cầu hóa là: quá trình tăng lên mạnh mẽ các mối liên hệ, sự ảnh hưởng lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các quốc gia, các khu vực trên thế giới. Toàn cầu hóa từ một xu thế, trong vài năm gần đây đã trở thành một quá trình hiện thực trong sự vận động và phát triển của xã hội loài người. Song hành và đối ngược với xu thế toàn cầu hóa là phong trào chống toàn cầu hóa (nội dung cốt lõi là chống lại mặt trái của toàn cầu hóa). Hai nhóm người ủng hộ và không ủng hộ toàn cầu hóa này đấu tranh với nhau, mà căn nguyên chính là những bất đồng về lợi ích của quá trình toàn cầu hóa đem lại cho mỗi nhóm. Cuộc đấu tranh này chính là nhằm phân chia lại lợi ích của các lực lượng trong quá trình toàn cầu hóa. Trong cuộc đấu tranh đó, tất yếu có sự liên kết tự nhiên của những lực lượng, những nhóm người có cùng lợi ích, chủ yếu ở góc độ kinh tế. Nó không phải là liên minh, liên kết quân sự giữa các quốc gia với nhau hay giữa quân đội của các quốc gia với nhau, càng không phải là liên minh với nước này để chống lại nước kia và ngược lại. Sự liên kết (tập hợp) lực lượng ở đây rất đa dạng, thậm chí ngay trong nội bộ mỗi nước, dù là nước nhỏ hay siêu cường, cũng đều vấp phải cuộc đấu tranh giữa hai lực lượng này khi phải quyết định lựa chọn xu hướng phát triển cho đất nước mình. Cuộc đấu tranh này chi phối từ dân thường đến các cấp lãnh đạo của mỗi quốc gia. Cho nên, nói rằng không liên kết với nước này để chống nước kia “là đi ngược lại xu thế của thời đại” là cách hiểu phiến diện, không đầy đủ, không đúng về bản chất của toàn cầu hóa và chống toàn cầu hóa, không nắm được bản chất, xu thế và quy luật vận động, phát triển của xã hội loài người trong giai đoạn hiện nay là hợp tác cùng phát triển trên phạm vi khu vực và toàn cầu.

Ở một góc nhìn khác có thể thấy, hiện nay, thế giới bước vào một giai đoạn phát triển mới mà ở đó: “Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế”. Chính trong bối cảnh ấy, nếu như Việt Nam liên minh quân sự, liên kết với nước nào, nhất là liên kết với nước lớn, để chống nước khác mới là không thực tế và rất nguy hiểm (!).

Có phải không liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia “là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi?”

Trước hết, cần phải thống nhất rằng: liên minh quân sự không đồng nhất với quan hệ hợp tác quốc tế về quân sự, quốc phòng. Khi tham gia liên minh, các nước sẽ nằm trong một khối quân sự chung, với những mục tiêu cụ thể, dùng các biện pháp quân sự để tranh giành lợi ích, chống đối thủ chung. Các nước trong liên minh sẽ phải đặt dưới sự chỉ huy, lãnh đạo của một quốc gia, thường là nước lớn và tuân thủ các nguyên tắc của liên minh, cho dù không hoàn toàn phù hợp với mình. Chính điều này đã tạo ra sự ràng buộc giữa các nước, làm cho mỗi nước không còn độc lập, tự chủ về những vấn đề của đất nước mình.

Thực hiện chính sách quốc phòng độc lập, tự chủ, Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự, nhưng chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện cả kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và quốc phòng, an ninh. Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng theo phương châm “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả” nhằm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế; tăng cường lòng tin chiến lược, duy trì môi trường hòa bình, hợp tác cùng phát triển, củng cố thế trận quốc phòng, an ninh, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác quốc phòng, an ninh với tất cả các nước trong khu vực, trao đổi thông tin tình hình, hợp tác tuần tra chung biên giới trên bộ, trên biển (Việt Nam - Campuchia, Việt Nam - Thái Lan, Việt Nam - Trung Quốc,…); hợp tác phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, mua bán người và ma túy, v.v. Việt Nam đang tham gia vào các sáng kiến nhằm thúc đẩy hợp tác quốc phòng, an ninh trong Cộng đồng ASEAN, như: hợp tác công nghiệp quốc phòng; sử dụng nguồn lực và khả năng quân đội các nước khu vực trong hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa; xác định các biện pháp khả thi cũng như cơ chế tăng cường hợp tác giữa các tổ chức quốc phòng ASEAN. Trong khuôn khổ hợp tác, hằng năm, Việt Nam tham gia đầy đủ các hội nghị, như: Người đứng đầu Quân đội ASEAN (ACDFIM), Tư lệnh Lục quân ASEAN (ACAMM), Tư lệnh Hải quân ASEAN (ANCM), Tư lệnh Không quân ASEAN (AACC) và Hội nghị không chính thức những người đứng đầu tình báo quốc phòng các nước ASEAN (AMIIM). Hoạt động đối ngoại quốc phòng đa phương của Việt Nam đã góp phần tích cực vào giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, bảo vệ các lợi ích quốc gia của Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực; củng cố và duy trì hòa bình, ổn định, tạo môi trường thuận lợi cho thực hiện nhiệm vụ trung tâm phát triển kinh tế đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia, bảo vệ các lợi ích quốc gia của Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực; góp phần nâng cao vị thế và uy tín của đất nước, Quân đội.

Mặt khác, trên bình diện quan hệ quốc tế, Việt Nam hiện là thành viên của Phong trào Không liên kết, cho nên chủ trương không liên kết với nước này để chống nước kia là phù hợp với mục tiêu và nguyên tắc của tổ chức quốc tế này. Phong trào Không liên kết được thành lập năm 1961, đến nay có 120 nước thành viên, 17 nước quan sát viên, là tổ chức có số lượng thành viên lớn thứ hai thế giới sau Liên hợp quốc. Không liên kết là một tập hợp lực lượng của các nước đang phát triển, với mục tiêu chính là thúc đẩy lợi ích của các nước đang phát triển; đóng góp vào duy trì hòa bình, độc lập dân tộc; chung sống hòa bình giữa các quốc gia và chung tay xây dựng một thế giới tốt đẹp, công bằng cho mọi người dân. Việt Nam chính thức tham gia Phong trào Không liên kết năm 1976, từ đó đến nay luôn hoạt động tích cực, có nhiều đóng góp đối với Phong trào vì các mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội và phát triển. Những năm qua, Việt Nam luôn coi việc tham gia Phong trào là chủ trương nhất quán, một bộ phận của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa, bổ sung cho quan hệ song phương, khu vực và quốc tế của mình; sẵn sàng là bạn, đối tác tin cậy, thành viên tích cực, chủ động và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Việt Nam luôn đóng góp vào việc giữ vững các nguyên tắc của Phong trào, tăng cường đoàn kết để cùng nhau phấn đấu vì những mục tiêu cao cả của Phong trào, đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng bình đẳng chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ giữa các quốc gia và giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình.

Như vậy, trong điều kiện hòa bình hiện nay, không liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước khác không phải là “tự trói buộc mình”. Trái lại, nó có tác dụng “cởi trói” cho chúng ta cả trong tư duy và hành động để chúng ta có thể suy nghĩ và hành động một cách độc lập, sáng tạo và không bị chi phối, áp đặt bởi yếu tố bên ngoài, tức không bị “người khác trói mình”. Đồng thời, nó cũng không gây ra những nguy cơ tiềm ẩn, nhất là trong chính sách bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc như một số người lầm tưởng, mà ngược lại, còn giúp cho Việt Nam bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc của mình một cách vững chắc hơn. Và dĩ nhiên, một chủ trương đúng đắn và đang phát huy hiệu quả như thế thì hà cớ gì chúng ta phải thay đổi.

Có phải chủ trương không liên kết với nước này để chống nước kia khiến “chúng ta sẽ khó kiếm được đồng minh” và “làm mất đi con bài mặc cả quan trọng của Việt Nam với nước lớn”?

Nếu chúng ta chủ trương liên kết với nước này để chống nước kia sẽ đưa đến một tình huống nguy hiểm là “phải chọn bên”. Chúng ta sẽ buộc phải chọn đồng minh, để liên minh, liên kết nhằm chống lại nước khác và việc dẫn đến những tình huống cực kỳ nguy hiểm là khó tránh khỏi. Ở đây không có sự ảo tưởng dành cho nước nhỏ có quyền “mặc cả” với các nước lớn trong vấn đề này. Thực tế tình hình thế giới những năm vừa qua cũng như gần đây, đặc biệt là diễn biến các cuộc xung đột quân sự hiện nay đã cho thấy rõ điều này. Cái giá phải trả là vô cùng đắt như chúng ta đã thấy. Vận mệnh của đất nước, tương lai của dân tộc, cuộc sống của nhân dân không thể và không bao giờ có thể là “con bài” trong canh bạc chính trị của kẻ khác! Lối tư duy “đỏ đen” đầy may rủi không thể là tư duy chính trị mà Việt Nam theo đuổi. Việc thực hiện nguyên tắc “không liên kết với nước này để chống nước khác” trở nên đặc biệt quan trọng trong bối cảnh khu vực hiện nay. Nếu Việt Nam liên minh với bên ngoài, ưu tiên dùng biện pháp quân sự để giải quyết các tranh chấp, bất đồng thì sẽ khó được các nước khác ủng hộ.

Mới đây (ngày 11/5/2022), phát biểu tại Trung tâm nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế Hoa Kỳ (CSIS), Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định: “Trong một thế giới đầy biến động, cạnh tranh chiến lược và nhiều sự lựa chọn, Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, sự công bằng, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc; bình đẳng, tất cả cùng có lợi, cùng thắng”.

Với trường phái “Ngoại giao cây tre”, kết hợp hài hòa giữa gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nói đến, và với sự: biết nhu, biết cương; biết thời, biết thế; biết mình, biết người; biết tiến, biết thoái, “tùy cơ ứng biến”, “lạt mềm buộc chặt”, chúng ta sẽ có đủ trí tuệ và bản lĩnh để xử lý đúng đắn và hiệu quả mọi thử thách, khó khăn, vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân, mà không nhất thiết phải liên kết với nước này để chống nước kia. Chúng ta có thể chọn bạn, nhưng dứt khoát “không chọn bên” một cách cực đoan. Trong quan hệ với các nước, quan điểm của chúng ta là rất rõ ràng: “Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác”, vì lợi ích của người dân, vì hòa bình và phát triển của khu vực cũng như trên toàn thế giới.

Như vậy có thể thấy, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam là rất rõ ràng, phù hợp với xu thế chung của thế giới. Những luận điệu công kích của các thế lực thù địch, thực chất nhằm chống phá đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước ta, cần kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Với việc không liên kết với nước này để chống nước kia, Việt Nam luôn thể hiện là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, hợp tác và phát triển. Và đây cũng là thành tựu đóng góp để “đối ngoại tiếp tục là một điểm sáng trong những thành tựu chung của cả nước”, góp phần tạo dựng môi trường thuận lợi cho xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế./.

ST.

Tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng. Đây là điều đã được khẳng định và minh chứng trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Song, nền tảng đó muốn lâu bền, vững chắc thì không chỉ thể hiện trên văn bản, giấy tờ, nghị quyết,… của từng tổ chức, mà điều quan trọng nhất là sự tồn tại, thấm sâu trong chính nhận thức, suy nghĩ, tư tưởng, tình cảm và hành động thực tiễn – những biểu hiện cụ thể từ đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên. Điều đó được biểu hiện sinh động ở quan hệ biện chứng tác động lẫn nhau giữa hai nhân tố này trong quá trình vận động, phát triển của cách mạng.

Theo đó, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở phương pháp luận, thế giới quan, nội dung, tiêu chí để xây đắp, bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Ngược lại, đạo đức cách mạng là cơ sở tiếp thu, “nuôi dưỡng” và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng. Do vậy, đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên có vai trò quan trọng, trực tiếp góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, đạo đức là gốc, nền tảng của người cách mạng, Người cho rằng “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Đặc biệt, làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ, đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới “gánh được nặng và đi được xa”; trước những khó khăn, gian khổ, phức tạp không dao động, luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng đã lựa chọn. Vì vậy, tiêu chuẩn đầu tiên của người cán bộ là phẩm chất đạo đức, “đạo đức là gốc”, người cán bộ phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức mới có thể trở thành người cán bộ chân chính, “mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không”.

Đạo đức cách mạng, theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, gồm nhiều yếu tố, tựu trung là: trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân; yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng. Trong đó, điều mấu chốt nhất là: quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Thấm nhuần điều đó, từ khi thành lập Đảng cho tới nay, tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên luôn thể hiện rõ phẩm chất đạo đức cách mạng; tích cực, chủ động học tập, thấm nhuần và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; nêu cao bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì sự phát triển phồn vinh của đất nước.

Tuy nhiên, trước những tác động tiêu cực đa chiều, nhất là mặt trái của kinh tế thị trường và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch,... một số cán bộ, đảng viên đã không giữ được phẩm chất đạo đức, lối sống, sa vào chủ nghĩa cá nhân. Tình trạng tham nhũng, tiêu cực trên một số lĩnh vực, địa bàn, cơ quan, đơn vị của một số cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ cấp cao diễn ra nghiêm trọng, phức tạp, với nhiều biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội. Đặc biệt, một bộ phận cán bộ, đảng viên do thiếu tu dưỡng rèn luyện dẫn tới phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính tri, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thậm chí vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước buộc phải xử lý, v.v. Đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến một số cán bộ, đảng viên hư hỏng, biến chất đòi phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Triệt để lợi dụng thực trạng này, các thế lực thù địch đẩy mạnh xuyên tạc, kích động chống phá, gieo rắc hoài nghi,... làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, v.v.

Đại hội XII của Đảng đã đặt nhiệm vụ xây dựng Đảng về đạo đức ngang với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng cũng đã chỉ rõ sự suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên “là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”2. Đến Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh vấn đề xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; trong đó, xây dựng Đảng về đạo đức được đặt ở một vị trí cao hơn.

Như vậy, đạo đức cách mạng là phẩm chất quan trọng hàng đầu của mỗi cán bộ, đảng viên và có ý nghĩa quyết định tới sự tồn vong của Đảng, của chế độ nói chung và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nói riêng; đòi hỏi, cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần tự tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức cách mạng là giải pháp quan trọng để góp phần giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng. Để thực hiện tốt điều đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:

Một là, nhận thức đúng đắn vai trò quan trọng của tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng. Thực tế cho thấy, những cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật có nguyên nhân căn bản từ việc thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức. Mặc dù được công tác, học tập trong môi trường có tính kỷ luật cao, tổ chức chặt chẽ; vẫn được giáo dục, tuyên truyền; vẫn tham gia đầy đủ các lớp học, các hội nghị; được quán triệt, học tập đầy đủ các nghị quyết, chỉ thị,… nhưng do chưa nhận thức đúng vai trò của tự tu dưỡng nên một số cán bộ, đảng viên buông lỏng bản thân, không có, hoặc chưa có hoạt động tự tu dưỡng, rèn luyện đủ mạnh, khiến đạo đức người đảng viên, cán bộ không được bồi đắp, đi chệch hướng.

Việc rèn luyện đạo đức cách mạng không phải dễ dàng, bởi ai cũng muốn, thậm chí ham muốn được phát triển, có quyền lực, có điều kiện kinh tế, có cuộc sống sung túc, muốn được hưởng thụ, thậm chí còn muốn được xa hoa,… do vậy, đấu tranh để thắng những ham muốn của bản thân mình là một cuộc đấu tranh gay go, phức tạp và phải do tự mình “chiến đấu”. Khó, nhưng không phải không làm được. Tấm gương tự tu dưỡng, tự rèn luyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và biết bao đảng viên khác để đưa đất nước đến ngày hôm nay là minh chứng rõ nét. Sinh thời, Chủ tịch  Hồ Chí Minh chỉ rõ, kẻ địch cần chống trước hết là chống thói quen và truyền thống lạc hậu; đặc biệt là chống chủ nghĩa cá nhân đang ẩn chứa trong mỗi con người, khi có điều kiện tác động nó sẽ phát triển. Cho nên, mỗi cán bộ, đảng viên “trước hết phải đánh thắng lòng tà là kẻ thù trong mình”. Và, phải chủ động đấu tranh loại bỏ hàng trăm thứ bệnh do chủ nghĩa cá nhân gây ra vì nó là vật cản nguy hiểm cho việc xây dựng đạo đức cách mạng của quân nhân.

Hai là, tích cực nghiên cứu, học tập. Trước hết, phải thường xuyên học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Không nắm vững, không thấm nhuần nền tảng tư tưởng của Đảng thì không thể tu dưỡng được đạo đức cách mạng, đồng thời cũng không thể bảo vệ, phát triển, thậm chí còn làm tổn hại tới nền tảng tư tưởng của Đảng. Việc tự học tập là rất quan trọng, hiện nay, hoạt động này đang bị tác động tiêu cực từ nhiều mặt. Cản trở lớn nhất là sự phát triển của công nghệ giải trí, của mạng xã hội với vô vàn các nội dung khiến một số cán bộ, đảng viên thiên về “thỏa mãn” nhu cầu giải trí, sao nhãng việc nghiên cứu, học tập. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên cần xây dựng cho mình kế hoạch tự học tập phù hợp, hiệu quả, khả thi và thực hiện nghiêm túc. Giải quyết hài hòa giữa nhu cầu thư giãn, giải trí, tái tạo sức lao động với nhu cầu trau dồi kiến thức nền tảng của người cán bộ, đảng viên. Để việc tự học tập đạt hiệu quả, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần cụ thể hóa những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, đề ra phương hướng, mục tiêu, nội dung, giải pháp để tuyên truyền, giáo dục cho phù hợp với đặc điểm, tình hình nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, địa phương, đối tượng. Kết hợp tuyên truyền, giáo dục với tạo điều kiện cho đảng viên tự học, tự rèn, tự soi, tự sửa để hoàn thiện bản thân; nâng cao nhận thức về mục tiêu, lý tưởng cộng sản, lòng trung thành đối với mục tiêu, lý tưởng của Đảng; rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, tình yêu thương con người; gương mẫu trong công tác, lối sống, khiêm tốn giản dị, dân chủ, đoàn kết và kỷ luật, nói đi đôi với làm; thương yêu đồng chí, đồng đội, không quan liêu, độc đoán chuyên quyền, gia trưởng.v,v. Cán bộ, đảng viên phải có trình độ chuyên môn và tác phong, phương pháp công tác tốt; luôn đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc và của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân; luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, không dao động trước khó khăn, thử thách.

Ba là, thực hiện hiệu quả các nguyên tắc trong tự tu dưỡng đạo đức cách mạng. Đầu tiên là phải luôn nói đi đôi với làm, nêu gương tốt, làm việc tốt. Đây không chỉ là nguyên tắc rèn luyện mà còn là sự phân biệt giữa đạo đức cách mạng và phi đạo đức cách mạng. Vì vậy, lời nói của cán bộ, đảng viên phải đi đôi với việc làm và phải thực hiện tốt việc làm gương. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn 100 bài diễn văn tuyên truyền”, “trước mắt quần chúng, không phải cứ viết lên trán hai chữ cộng sản mà ta được họ yêu quý. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức”. Đạo đức ở đây không phải là đạo đức “tu thân” mà là đạo đức “dấn thân”, đạo đức trong hành động. Đã là hành động, nhất là hành động cách mạng, phải chú trọng đến hiệu quả. Nếu làm việc gì cũng không có hiệu quả thì không thể coi là một người có đạo đức. Muốn hướng dẫn cho quần chúng thì cán bộ, đảng viên phải làm mực thước. Muốn cho cơ quan, đơn vị đoàn kết, thì tập thể lãnh đạo phải thực sự dân chủ, đoàn kết, công tác cán bộ phải công tâm, khách quan, v.v. Cán bộ, đảng viên phải làm gương mọi mặt cho quần chúng noi theo.

Thực hiện lời dạy của Bác: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, việc làm gương phải thực hiện ở mọi nơi, mọi việc, từ cán bộ cấp cao tới cơ sở;tu dưỡng đạo đức cách mạng phải trên tinh thần tự giác, tự nguyện, dựa vào lương tâm, trách nhiệm, chức trách, nhiệm vụ của mỗi người và sự đóng góp xây dựng của tập thể. Trong cuộc sống thường nhật, ai cũng có mặt mạnh, mặt hạn chế, không ai có thể đạt tới sự hoàn mỹ một cách tuyệt đối. Cho nên, mỗi đảng viên phải biết và dám dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật bản thân con người mình và dựa vào tập thể để thấy cái tốt, cái hay để phát huy, cái xấu, cái ác để khắc phục. Việc tu dưỡng đạo đức cách mạng phải gắn liền với thực tiễn hoạt động công tác; phải bền bỉ, ở mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh.

Bốn là, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ. Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới những vi phạm của một số tổ chức, cá nhân thời gian qua, đó cũng là căn nguyên làm xói mòn đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Vì vậy, để tự tu dưỡng đạo đức cách mạng, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì cần nhận thức đúng đắn và thống nhất về nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Nắm chắc nội dung, yêu cầu của nguyên tắc trong tình hình mới; đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận nguyên tắc này. Quá trình thực hiện dân chủ phải đi đôi với tập trung; phát huy dân chủ phải đồng thời gắn liền với chống dân chủ cực đoan, dân chủ không tuân theo kỷ cương, phép nước. Nguyên tắc tập trung dân chủ phải được thực hiện theo đúng Điều lệ Đảng và trong mối quan hệ đồng bộ với các nguyên tắc khác, như tự phê bình và phê bình, đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Theo đó, những vấn đề trọng yếu, nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng nhất thiết phải được tập thể cấp ủy (ban thường vụ), chi bộ thông qua trước khi thực hiện. Từng đảng viên phải đề cao trách nhiệm tự phê bình và phê bình, phát biểu thẳng thắn, trung thực, khách quan; thấy đúng phải kiên quyết bảo vệ, thấy sai dám đấu tranh bác bỏ. Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, trên nguyên tắc luôn luôn đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân và tập thể cơ quan, đơn vị lên trên hết, trước hết. Không cơ hội, vụ lợi; chạy theo mục tiêu trước mắt, ngắn hạn để thu vén lợi ích cho bản thân, gia đình mà bỏ qua lợi ích tập thể. Chỉ khi nào cán bộ, đảng viên hết lòng, hết sức xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh thì khi đó chủ nghĩa cá nhân mới được đẩy lùi và đạo đức cách mạng mới được bồi đắp, phát huy.

Thực hiện hiệu quả việc tự tu dưỡng, rèn luyện là cơ sở, nền tảng để xây dựng và phát huy phẩm chất, đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Đó cũng là yếu tố gốc rễ để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới./.

ST.

 KỶ NIỆM 95 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (3/2/1930 - 3/2/2025): GỬI TRỌN NIỀM TIN, ĐONG ĐẦY KHÁT VỌNG

95 năm qua, từ ánh sáng dẫn lối của Đảng và Bác Hồ vĩ đại, dân tộc Việt Nam vững bước vượt qua mọi khó khăn, lập nên những thành tựu lịch sử. Trong sắc xuân căng tràn sức sống, lòng người thêm rạo rực với niềm tin yêu trọn vẹn dành cho Đảng hòa cùng khát vọng về tương lai tươi sáng của đất nước. Đó sẽ là động lực để mỗi trái tim thêm gắn bó, trách nhiệm, mỗi bàn tay thêm bền bỉ dựng xây.

1. Nhìn lại 95 năm lịch sử dân tộc ta có Đảng, chúng ta tự hào về hành trình đã qua. Việt Nam không chỉ có tên trên bản đồ thế giới mà cơ đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế quốc tế chưa bao giờ có được như ngày nay. Những giá trị dân tộc vun bồi hàng nghìn năm lịch sử, đã được tiếp nối vẻ vang bằng những trang sử bằng vàng của thời đại Hồ Chí Minh, của 40 năm đổi mới và hội nhập quốc tế.

Trước sứ mệnh phát triển đất nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định rõ những mục tiêu chiến lược xây dựng và phát triển đất nước tới hai mốc thời gian có ý nghĩa trọng đại. Đó là đến năm 2030 - kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng - đưa Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao, công nghiệp hiện đại. Đến năm 2045 - kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mục tiêu lớn hơn là trở thành nước phát triển, thu nhập cao, khẳng định vị thế toàn cầu.

Mục tiêu đã có, vậy phải làm gì để thực hiện thành công? Đó là câu hỏi lịch sử đặt ra cho mỗi người mang dòng máu Việt; là thách thức đối với bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam. Chúng ta có lúc băn khoăn, trăn trở và có cả những lo lắng, bởi tình hình thế giới diễn biến rất phức tạp, khó lường, đại dịch Covid-19 hoành hành... Tất cả khiến cho tốc độ phát triển đất nước không đạt kế hoạch đề ra. Nếu không có giải pháp đột phá, thậm chí đột phá mạnh mẽ, để thoát ra khỏi tình trạng “bình bình” thì nguy cơ tụt hậu, rơi vào bẫy thu nhập trung bình sẽ không còn là nguy cơ nữa.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 10 (khóa XIII) ngày 20-10-2024, Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ: “Với những thành tựu vĩ đại sau gần 80 năm lập nước, với thế và lực đã tích lũy được, với thời cơ, vận hội mới, chúng ta đã hội tụ đủ điều kiện và đang đứng trước cơ hội lịch sử để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ước vọng của toàn dân tộc, xây dựng thành công nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu”.

Quyết tâm đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc chính là động lực thúc đẩy việc thực hiện và hoàn thành mục tiêu chiến lược mà Đại hội XIII của Đảng đã thông qua, đồng thời xóa đi những băn khoăn, trăn trở bấy lâu.

2. Trực tiếp Tổng Bí thư Tô Lâm đã bày tỏ quan điểm về kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, để ai cũng có thể nhận thức rõ và thực hiện.

Theo Tổng Bí thư, kỷ nguyên vươn mình hàm ý tạo sự chuyển động mạnh mẽ, dứt khoát, quyết liệt, tích cực, nỗ lực, nội lực, tự tin để vượt qua thách thức, vượt qua chính mình, thực hiện khát vọng, vươn tới mục tiêu, đạt được những thành tựu vĩ đại. Kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, đó là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của thế giới, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu.


Đích đến của kỷ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu. Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao; khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân tộc, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại...


3. Kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc được đánh dấu bắt đầu là Đại hội XIV của Đảng. Song, cùng với quá trình chuẩn bị văn kiện Đại hội XIV, Trung ương đã tập trung triển khai ngay một số đột phá chiến lược mang tinh thần kỷ nguyên mới đã được thống nhất.


Đối với đột phá về thể chế phát triển, tháo gỡ điểm nghẽn, rào cản, ngay sau Hội nghị Trung ương 10 (khóa XIII), Quốc hội, Chính phủ đã gương mẫu, đi đầu, làm ngay, làm rất quyết liệt với tinh thần đổi mới, cải cách, hết lòng vì sự nghiệp chung. Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội đã chủ trì nhiều phiên họp rà soát nội dung các luật trình Quốc hội xem xét cho ý kiến, thông qua tại kỳ họp thứ tám, Quốc hội khóa XV. Tại kỳ họp này, đã thực hiện ngay cơ chế “Sửa một luật, điều chỉnh nhiều luật” trong đó 1 luật sửa 3 luật trong lĩnh vực đầu tư; 1 luật sửa 7 luật trong lĩnh vực tài chính, quản lý tài sản nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về thể chế, khắc phục điểm nghẽn, tạo không gian cho phát triển...


Ngày 22-12-2024, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TƯ của Bộ Chính trị về “Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và ch.uyển đ.ổi s.ố quốc gia”. Đây được xem là “Nghị quyết giải phóng tư duy khoa học”, đổi mới cách nghĩ, cách làm, nhằm hiện thực hóa các chủ trương, xóa bỏ rào cản, giải phóng năng lực để tạo đột phá trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và ch.uyển đ.ổi s.ố, là một xung lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.


Đồng thời, Trung ương đã, đang và sẽ tập trung chỉ đạo nhằm hoàn thành mục tiêu xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, trước mắt là hạ tầng chiến lược về giao thông, hạ tầng năng lượng, hạ tầng số… Trong đó, thực hiện ngay các công việc để triển khai chủ trương đầu tư Dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam sớm nhất.


Đặc biệt, Trung ương đã chỉ đạo quyết liệt việc sơ kết đánh giá việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TƯ Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII "một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả" trong toàn hệ thống chính trị làm cơ sở có những quyết sách mới đổi mới mạnh mẽ công tác tổ chức bộ máy, cán bộ theo định hướng “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”.


Đó là chưa kể hàng loạt chủ trương mới, đúng, trúng, hợp lòng dân mang tinh thần cách mạng đã được Trung ương, Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ đạo triển khai, tiêu biểu là bổ sung nhiệm vụ phòng, chống lãng phí vào chức năng, nhiệm vụ của các ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực từ Trung ương xuống địa phương; đặt công tác phòng, chống lãng phí vào đúng vị trí một cách tương xứng.


Có thể nói, tinh thần cách mạng, quyết tâm hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới đã được Trung ương gương mẫu, đi đầu, gắn kết chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, chuyển hóa nhanh chóng thành công việc cụ thể, lan tỏa sâu rộng trong đời sống xã hội, được nhân dân đồng tình, hưởng ứng mạnh mẽ.


4. Mặc dù vậy, nhiệm vụ phía trước còn rất khó khăn, to lớn đòi hỏi từng cán bộ, đảng viên, mỗi người dân Việt Nam, trăm triệu người như một, đồng tâm hiệp lực, chung sức đồng lòng, tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi, đẩy lùi nguy cơ, thách thức, đưa đất nước phát triển. Tất cả phải củng cố vững vàng niềm tin vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, tràn đầy khát vọng vươn lên, cùng cống hiến vì tương lai đất nước.


Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới và sự tin tưởng của nhân dân, Đảng phải tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang, từng cấp ủy, tổ chức Đảng phát huy hơn nữa vai trò, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và chất lượng cán bộ, đảng viên. Đảng cần đổi mới mạnh mẽ tư duy lãnh đạo; thích nghi với sự thay đổi nhanh chóng của thế giới, bảo đảm sự linh hoạt, hiệu quả trong mọi quyết sách. Đồng thời tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhằm tạo động lực cho tăng trưởng ở mức 2 con số trong nhiều năm tới. Đặc biệt, cần phát huy hơn nữa sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp tham gia sâu rộng vào quá trình phát triển; khơi dậy khát vọng vươn lên của toàn dân tộc, quyết tâm xây dựng đất nước hùng cường sánh vai với các cường quốc năm châu./.


Hà Nội mới

 TRỌN MỘT LỜI THỀ

Phong trào thi đua “Thanh xuân dâng Đảng” được phát động lần đầu tiên vào tháng 3/2024 tại Quảng Ninh, không chỉ nhằm đạt mục tiêu phát triển đảng viên trẻ, mà còn hướng tới xây dựng, bồi đắp lý tưởng cách mạng và lòng trung thành với Đảng và Tổ quốc cho thế hệ trẻ hôm nay. 

Dưới ngọn cờ của Đảng, lớp lớp thanh niên Vùng mỏ đã và đang nỗ lực thi đua học tập, rèn luyện, lao động, “thổi bùng” lên khát vọng cống hiến, xây dựng và phát triển quê hương, đất nước đẹp giàu, quyết tâm giữ trọn lời thề thiêng liêng khi trở thành đảng viên.

Đã gần nửa năm trôi qua, song đảng viên trẻ Lê Quang Minh vẫn chưa quên giây phút ngập tràn cảm xúc vinh dự và tự hào khi được kết nạp Đảng. 

Với Minh đó sẽ mãi là kỷ niệm, dấu ấn đẹp nhất trong cuộc đời học sinh của mình. 

Lời thề trước Quốc kỳ, Đảng kỳ và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sẽ mãi là động lực thiêng liêng cao quý để những thanh niên Vùng mỏ như Minh viết tiếp câu chuyện đẹp đẽ của tuổi trẻ sống có lý tưởng, có trách nhiệm và tràn đầy lòng yêu nước.

Minh hiện là sinh viên năm thứ nhất Học viện An ninh nhân dân. 

Minh vinh dự được kết nạp Đảng khi vừa tròn 18 tuổi, đang là học sinh lớp 12 chuyên Văn, Trường THPT Chuyên Hạ Long. 

Không chỉ là một học sinh giỏi toàn diện, đoạt HCĐ Kỳ thi Quốc tế về khoa học đời sống - Global Competition for Life Sciences (GLOCOLIS 2021), Minh còn là cán bộ đoàn nhiệt huyết, đa tài. 


Đảm nhận cương vị Chủ tịch Hội đồng Trẻ em tỉnh giai đoạn 2018-2022, Minh đã tham gia nhiều hoạt động xã hội, đóng góp tiếng nói thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em, gửi gắm những nguyện vọng, kiến nghị chính đáng của trẻ em với các cấp, ngành. 


Năm 2023 Minh vinh dự là một trong 7 thanh niên của Quảng Ninh được Trung ương Đoàn tuyên dương “Thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác”. 


Phát huy những kết quả rèn luyện, học tập tốt, bước vào giảng đường đại học, Minh tiếp tục tự tin thể hiện vai trò của mình trong nhiều hoạt động của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên nhà trường.


Quang Minh chia sẻ: Là đảng viên trẻ nhất chi bộ, tôi luôn được các đảng viên đi trước là các thầy, cô quan tâm giúp đỡ, kèm cặp và bồi dưỡng. 


Trong năm đầu là đảng viên dự bị, tôi hiểu rằng mình càng cần phải nỗ lực học tập, rèn luyện, để xứng đáng trở thành đảng viên chính thức, tiếp tục theo đuổi những mục tiêu, khát vọng của mình. 


Bước vào giảng đường đại học, mỗi sinh viên đều mang theo những định hướng riêng cho bản thân, tôi có thêm niềm tự hào khi là một đảng viên trẻ được khoác trên mình màu áo người chiến sĩ công an nhân dân. 


Đó chính là điểm tựa, hành trang để tôi vững vàng bước trên chặng đường viết tiếp ước muốn cống hiến, phụng sự đất nước, phục vụ nhân dân.


Câu chuyện của Lê Quang Minh là một trong rất nhiều minh chứng đẹp đẽ về khát vọng và lý tưởng cách mạng của thế hệ trẻ hôm nay. 


Khát khao vươn mình ấy được thể hiện trong quá trình phấn đấu không ngừng của Hoàng Thanh Thúy - một trong 2 học sinh THPT dân tộc thiểu số đầu tiên của huyện Bình Liêu được kết nạp Đảng vào tháng 5/2024. 


Ngay từ khi vào lớp 10, Thanh Thúy đã xác định rõ mục tiêu học tập nghiêm túc. Thuý 3 năm đạt danh hiệu học sinh giỏi, giải ba môn Địa lý kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh năm 2023-2024. 


Thúy tích cực tham gia các phong trào thi đua của nhà trường, trở thành hạt nhân trong các hoạt động của Đoàn Thanh niên với vai trò thành viên CLB hát then - đàn tính, nhằm góp phần gìn giữ, bảo tồn và lan tỏa nét văn hóa truyền thống quê hương cho thế hệ trẻ. 


Thúy hiện là sinh viên năm thứ nhất Khoa Địa Lý, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên - Đại học Thái Nguyên.


Với tôi, ước mơ nghề giáo và tình yêu với lý tưởng của Đảng đã được vun đắp, lớn dần trong môi trường học tập và rèn luyện, nơi mà mỗi thầy, cô đều hết lòng tận tụy, chăm lo cho các thế hệ học sinh chúng tôi. 


Mỗi đảng viên Chi bộ Trường THPT Bình Liêu chính là tấm gương sáng, điểm tựa tin cậy để tôi học tập, noi theo, để từng bước chạm đến ước mơ của mình. 


Vinh dự trở thành đảng viên khi mới 18 tuổi là bước ngoặt lớn trong cuộc đời, không chỉ là động lực, mà còn nhắc nhở tôi về trách nhiệm phải nỗ lực phấn đấu để cống hiến và trưởng thành - Thanh Thúy tâm sự.


Với mỗi đảng viên trẻ, khi đứng vào hàng ngũ của Đảng đều mang trong mình những hoài bão, lý tưởng tốt đẹp, mong muốn được đóng góp công sức của mình cho sự phát triển của Đảng, của quê hương, đất nước. 


Chính lý tưởng đó đã và đang thôi thúc biết bao thế hệ trẻ phấn đấu trở thành đảng viên, trở thành đại diện tiêu biểu cho khát vọng, trí tuệ của tuổi trẻ Vùng mỏ hôm nay.


Bước sang năm thứ 4 học tập, rèn luyện tại Trường Đại học Hạ Long, Hoàng Bích Ngọc (sinh viên Khoa Sư phạm) vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng. 


Suốt 3 năm học, Ngọc luôn giữ vững thành tích xuất sắc, nằm trong top sinh viên có kết quả học tập đứng đầu lớp, là Chủ nhiệm CLB Sinh viên tình nguyện năng nổ, hoạt bát. 


Dưới sự dẫn dắt của Ngọc, CLB đã tổ chức nhiều chương trình, sự kiện ý nghĩa, đặc biệt là các hoạt động chung sức xây dựng NTM, dạy tiếng Anh miễn phí cho trẻ em các địa phương vùng sâu, vùng xa khó khăn của tỉnh. 


Qua đó không chỉ tạo ra môi trường, cơ hội để các bạn sinh viên cùng nhau chia sẻ đam mê, nhiệt huyết, cống hiến hết mình cho cộng đồng, mà còn viết nên những năm tháng thanh xuân đầy rực rỡ và ý nghĩa.


Tròn 3 tháng được kết nạp Đảng, Ngọc tự thấy mình đã trưởng thành hơn và xác định trách nhiệm cũng lớn hơn. 


Lời thề thiêng liêng dưới cờ Đảng được Ngọc khắc ghi và thể hiện trong từng hoạt động, công việc cụ thể.


Mỗi đảng viên đều đóng góp vào công cuộc xây dựng quê hương, đất nước bằng tình yêu, trách nhiệm. 


Với đảng viên trẻ, dù ở đâu, cương vị nào, chúng tôi cũng nguyện là lực lượng kế tục sự nghiệp của cha anh bằng nỗ lực học tập, rèn luyện, cống hiến không ngừng - Bích Ngọc xúc động bày tỏ.


Quảng Ninh đang vững vàng trên đà phát triển mạnh mẽ với khát vọng trở thành một tỉnh kiểu mẫu, giàu đẹp, văn minh, hiện đại với các đặc trưng “Thiên nhiên tươi đẹp - Văn hóa đặc sắc - Xã hội văn minh - Hành chính minh bạch - Kinh tế phát triển - Nhân dân hạnh phúc”. 


Đồng hành cùng những bước tiến đột phá ấy, những năm qua, tuổi trẻ trong tỉnh luôn phát huy vai trò xung kích, tiên phong, sáng tạo, chinh phục những đỉnh cao mới trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. 


Kiên định dấn bước trên con đường mình đã chọn, nguyện trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân, mỗi thanh niên Vùng mỏ đang nỗ lực không ngừng để chạm đến khát vọng, để tuổi thanh xuân sẽ luôn là hành trình rực rỡ, tô điểm thêm sắc màu tươi đẹp cho quê hương, Tổ quốc thân yêu.


Xứng đáng là người đảng viên cộng sản


Phong trào thi đua “Thanh xuân dâng Đảng” được Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy phối hợp với Tỉnh Đoàn phát động nhằm mục đích tăng cường, bổ sung “sức trẻ” cho Đảng; đào tạo, bồi dưỡng ĐVTN, đảng viên trẻ, tạo nguồn cán bộ kế cận, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ cán bộ, đảng viên; xây dựng đội ngũ đảng viên đủ phẩm chất, năng lực, uy tín lãnh đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị, đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh giai đoạn 2024-2025 và đến năm 2030.


Đồng chí Đặng Xuân Phương, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh, nhấn mạnh: Phong trào thi đua “Thanh xuân dâng Đảng” không dừng lại ở việc đạt được các mục tiêu về phát triển đảng viên, mà phải hướng tới việc xây dựng, bồi đắp lý tưởng cách mạng, lòng trung thành với Đảng và Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới, trước yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng cũng như xuất phát từ đặc thù của tỉnh Quảng Ninh với truyền thống và sức mạnh “Kỷ luật và Đồng tâm”, nơi mà hệ giá trị của tỉnh đã được khẳng định với các giá trị đặc trưng “Thiên nhiên tươi đẹp - Văn hóa đặc sắc - Xã hội văn minh - Hành chính minh bạch - Kinh tế phát triển - Nhân dân hạnh phúc”.


Thấm nhuần tinh thần ấy, ngay sau lễ phát động cấp tỉnh, các cấp bộ đoàn đã tích cực triển khai phong trào bằng những chương trình, hoạt động thiết thực, ý nghĩa. 


Tỉnh Đoàn đã xác định chỉ tiêu cụ thể thực hiện phong trào: Phối hợp cùng cấp ủy các cấp, trung bình mỗi năm toàn tỉnh kết nạp đảng viên mới đạt tỷ lệ từ 3-4% tổng số đảng viên so với đầu năm; phối hợp với các trường THPT mỗi năm kết nạp từ 0,5-1% số học sinh lớp 12; phấn đấu đạt ít nhất 70% đảng viên mới được kết nạp từ đoàn viên theo Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25/7/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X.


Cụ thể các mục tiêu đó, các cấp bộ đoàn đã quyết liệt triển khai nhiều nhiệm vụ trọng tâm nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục lý tưởng, đạo đức cách mạng cho thanh niên, giúp ĐVTN sống có lý tưởng, hoài bão, ý thức trách nhiệm cao với đất nước và mục tiêu phấn đấu vào Đảng. 


Theo đó, đẩy mạnh tổ chức tốt các cuộc vận động, phong trào thi đua “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, “Đoàn viên, thanh niên phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam”, “Sinh viên 5 tốt”, “Học sinh 3 tốt”, “Thanh niên sống đẹp”, “Xây dựng giá trị hình mẫu thanh niên thời kỳ mới”... 


Đồng thời triển khai sinh hoạt chính trị “Khát vọng cống hiến - Lẽ sống thanh niên” trong toàn Đoàn; tăng cường các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, hình thành thói quen sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật cho ĐVTN.

Cùng với đó, các cấp bộ đoàn, hội tập trung đổi mới nội dung, phương thức hoạt động thông qua các phong trào hành động cách mạng tuổi trẻ, như “Thanh niên tình nguyện”, “Tuổi trẻ sáng tạo”, “Tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc” và các chương trình đồng hành với thanh niên trong học tập, khởi nghiệp, lập nghiệp, phát triển kỹ năng trong cuộc sống; tăng cường, phối hợp với các cấp ủy đảng trong công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ trẻ, để cán bộ trẻ phát huy năng lực trong thực tiễn. 

Qua đó tạo môi trường để đoàn viên, học sinh, sinh viên phấn đấu, rèn luyện, trưởng thành, phát hiện và bồi dưỡng những nhân tố tích cực, gương mẫu để giới thiệu cho Đảng xem xét, kết nạp.

Thực hiện cuộc vận động “Đoàn viên phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam”, trong năm 2024 toàn Đoàn giới thiệu 2.514 đoàn viên ưu tú cho Đảng xem xét kết nạp, trong đó có 1.687 đoàn viên được đứng vào hàng ngũ của Đảng (155 học sinh, sinh viên được kết nạp qua triển khai phong trào thi đua “Thanh xuân dâng Đảng”).

Đồng chí Nguyễn Thế Minh, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh Đoàn, khẳng định: Được kết nạp Đảng trong độ tuổi thanh xuân là điều rất đáng tự hào, nhưng đó mới chỉ là bước mở đầu của một chặng đường dài, đầy thử thách, gian khó, chông gai phía trước. 

Mỗi đảng viên trẻ phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, biết sống nghĩa tình, tự bồi đắp cho mình lý tưởng cách mạng và biết cống hiến, hy sinh vô điều kiện cho Đảng, cho Tổ quốc trước khi được Đảng phát hiện, quan tâm và tin tưởng giao phó nhiệm vụ, trọng trách. 

Qua đó xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trẻ xứng đáng là đội hậu bị tin cậy của Đảng, vun đắp giá trị hình mẫu thanh niên Quảng Ninh với khát vọng vươn lên, bản lĩnh vững vàng, sáng tạo không ngừng và tiên phong hành động.

Cùng với tổ chức Đoàn, các cấp, ngành, địa phương đang tiếp tục thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đảng viên trẻ theo hướng bám sát yêu cầu nhiệm vụ, gắn với tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trẻ vừa “hồng” vừa “chuyên”; bố trí, sử dụng cán bộ, đảng viên trẻ có hiệu quả, tạo cơ hội và động lực để đảng viên trẻ phát huy năng lực.

Những đảng viên trẻ hôm nay chính là niềm tin và hy vọng của ngày mai. 

Chắc chắn những điều tốt đẹp, trong ngần vẫn luôn lấp lánh, rực rỡ từ sự tử tế của mỗi người trẻ yêu nước, yêu quê hương, dám dấn thân vì cộng đồng xã hội. 

Mang trong mình lời thề trung thành với lý tưởng của Đảng, không ngừng nuôi dưỡng tình yêu, lý tưởng và khát vọng cống hiến, tuổi trẻ Vùng mỏ hôm nay với nhiệt huyết, bản lĩnh, trí tuệ và trách nhiệm sẽ tiếp tục bước vào hàng ngũ của những người tiên phong, góp phần làm tăng sinh lực, sức mạnh của Đảng, đảm bảo sự phát triển hùng cường, thịnh vượng của đất nước./.

Quảng Ninh

 CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN ĐÓNG GÓP CHO SỨC MẠNH MỀM VIỆT NAM

Là một trong ba trụ cột của nền ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, công tác đối ngoại nhân dân đóng vai trò tiên phong trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển, cũng như nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế. Đóng góp vào thành quả chung của công tác đối ngoại năm 2024, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt, góp phần củng cố quan hệ đoàn kết, hữu nghị, hợp tác với nhân dân các nước, bạn bè và đối tác quốc tế.

Trong bối cảnh thế giới trải qua năm 2024 với nhiều thách thức, cạnh tranh và nguy cơ mới, công tác đối ngoại nhân dân vẫn ghi nhận nhiều bước tiến quan trọng, tiếp tục tạo nền tảng xã hội tích cực cho quan hệ song phương của Việt Nam với các nước, cũng như nâng cao vị thế, vai trò của các tổ chức nhân dân Việt Nam trong các cơ chế hợp tác nhân dân đa phương khu vực và quốc tế. Triển khai định hướng “đổi mới mạnh mẽ tư duy, cách tiếp cận, phương thức tổ chức và nội dung các hoạt động đối ngoại nhân dân”, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam đã góp phần xây dựng nền tảng xã hội tích cực, thuận lợi cho quan hệ của Việt Nam với nhân dân các nước.

Năm 2024, với sự phối hợp của các ban, bộ, ngành, địa phương, cùng sự thống nhất, đoàn kết của toàn bộ hệ thống, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam đã tổ chức thành công hơn 1.000 hoạt động đối ngoại, cùng nhiều hội nghị, hội thảo quốc tế. Trong đó, nổi bật là sự tham gia của Liên hiệp vào các hoạt động đối ngoại cấp cao của lãnh đạo Đảng, Nhà nước; phối hợp và chủ trì tổ chức nhiều hoạt động lãnh đạo Đảng, Nhà nước gặp gỡ bạn bè, nhân dân các nước cũng như lãnh đạo các nước gặp gỡ nhân dân Việt Nam. 

Các hoạt động đối ngoại nhân dân trong khuôn khổ đối ngoại cấp cao không chỉ thể hiện sự coi trọng của lãnh đạo Đảng, Nhà nước đối với công tác đối ngoại nhân dân nói chung, mà còn thể hiện sự trân trọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đối với tình cảm, tình đoàn kết và sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân các nước dành cho Việt Nam.

Nhằm tập trung đa dạng hóa các hoạt động đối ngoại nhân dân để tăng cường giáo dục truyền thống về quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam với các nước, Liên hiệp phối hợp với các Đại sứ quán, các cơ quan đại diện ngoại giao tại Việt Nam, cùng các đối tác nước ngoài tổ chức nhiều hoạt động chia sẻ thông tin về các nước, về quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với các nước, các buổi giới thiệu sách của các tác giả nước ngoài viết về Việt Nam, các hoạt động giao lưu văn hóa, nghệ thuật... Đơn vị đã tranh thủ các hoạt động đối ngoại nhân dân để kết nối hợp tác đầu tư giữa doanh nghiệp Việt Nam với doanh nghiệp các nước, thông qua hoạt động chia sẻ thông tin cho các nhà đầu tư nước ngoài về chính sách của Việt Nam.

Liên hiệp chủ trì và phối hợp đón nhiều đoàn đối ngoại nhân dân do lãnh đạo, nguyên lãnh đạo các nước, lãnh đạo các đảng chính trị, lãnh đạo các bộ, ngành của các nước thăm, làm việc tại Việt Nam, trong đó nổi bật là đón đoàn Ủy ban Hòa bình và Đoàn kết Lào do Phó Chủ tịch Quốc hội Lào làm Trưởng đoàn, Đoàn Hội Giao lưu Quốc tế Trung Quốc do Phó Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Nhân đại toàn quốc Trung Quốc khóa XIII làm Trưởng đoàn…

Trên phương diện đa phương, công tác đối ngoại nhân dân cũng để lại dấu ấn nổi bật, khi Liên hiệp và các tổ chức thành viên đã tham gia tích cực và đóng góp có trách nhiệm vào các hoạt động trong khuôn khổ các cơ chế/diễn đàn đa phương truyền thống như Liên hợp quốc, ASEAN, Hội đồng Hòa bình Thế giới, Phong trào Hòa bình Nhật Bản, Phong trào Quốc tế ngữ toàn cầu, Diễn đàn Xã hội Thế giới...; qua đó, không chỉ góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc, nhất là trong các vấn đề dân chủ-nhân quyền, chủ quyền biển đảo mà còn đóng góp chung cho phong trào nhân dân thế giới vì hòa bình và phát triển bền vững.

Cùng với những hoạt động đối ngoại truyền thống, việc mở rộng mạng lưới đối tác của Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam trong năm 2024 đã đạt được nhiều kết quả tích cực, xây dựng mạng lưới đối tác rộng rãi, uy tín và đa dạng ở các khu vực, tạo nền tảng vững chắc cho sự hợp tác bền vững và hiệu quả. Những kết quả đáng khích lệ của các tổ chức chính trị-xã hội, trong đó có Liên hiệp, không chỉ đóng góp cho các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước mà còn góp phần nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam, khẳng định vai trò quan trọng của đối ngoại nhân dân trong kỷ nguyên hội nhập và phát triển toàn cầu./.

 Báo Nhân dân

Thứ Bảy, 1 tháng 2, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: LÃNH ĐẠO CÁC CHÍNH ĐẢNG CHÚC MỪNG NHÂN KỶ NIỆM 95 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM!

     Nhân dịp kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2025), Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào; Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc; Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia Hun Sen; Bí thư Thứ nhất Đảng Cộng sản Cuba, Chủ tịch nước Cộng hòa Cuba Miguel Díaz-Canel Bermúdez và Đại tướng Raúl Castro Ruz; Tổng Bí thư Đảng Lao động Triều Tiên Kim Jong Un đã gửi thư, điện chúc mừng tới Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam./.
Theo TTXVN
Yêu nước ST.