Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2025

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc về lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam

Với chủ đích phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị phát tán nhiều tài liệu xuyên tạc, cho rằng Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội là “lạc đường”, đi ngược lại sự phát triển của nhân loại, v.v. Đó là luận điểm phi lý, không có cơ sở khoa học và thực tiễn, cần đẩy mạnh đấu tranh, bác bỏ.

Có thể khẳng định rằng, Đảng ta lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là hoàn toàn khách quan, khoa học, trên cơ sở “ý Đảng” - “lòng dân”, phù hợp với thực tế đất nước và xu thế của thời đại. Song, với các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lại coi đó là nguy cơ đe dọa sự tồn tại của ý tưởng tôn sùng chủ nghĩa tư bản. Họ tập trung công kích, bài xích, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng đó chỉ là một lý thuyết về chủ nghĩa xã hội không tưởng, không bao giờ thực hiện được; rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn con đường sai, không thể có chủ nghĩa xã hội! Chủ nghĩa xã hội là học thuyết “lạc đường”, đi ngược lại sự phát triển của nhân loại!, v.v. Tuy nhiên, thực tiễn đã minh chứng, dù chúng có dùng trăm phương ngàn kế chống phá, song con đường phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là khát vọng và tương lai của xã hội loài người, của dân tộc ta, bởi đó là quy luật tiến hóa của lịch sử; việc lựa chọn con đường phát triển đất nước của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn, khoa học.

Về mặt lý luận

Chủ nghĩa Mác - Lênin là sự kế thừa có chọn lọc tư tưởng tiến bộ nhân loại về sự phát triển của tự nhiên và xã hội loài người; sự tổng kết thực tiễn phong trào công nhân; nó chỉ rõ quy luật phát triển của xã hội loài người; vạch ra con đường, biện pháp đập tan sự thống trị của giai cấp tư sản; chỉ đường cho giai cấp vô sản đấu tranh tự giải phóng mình, xây dựng chế độ xã hội mới tốt đẹp - xã hội xã hội chủ nghĩa; trở thành kim chỉ nam chỉ đạo nhận thức và hành động của các đảng cộng sản, phong trào công nhân quốc tế.

Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, sự phát triển của xã hội loài người là sự phát triển có quy luật, quá trình lịch sử - tự nhiên, sự thay thế, tiếp nối các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp tới cao, mà nguyên nhân sâu xa quy định tiến trình phát triển ấy là mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, mà đỉnh điểm của nó là mâu thuẫn nội tại không thể điều hòa giữa hai nhân tố này, dẫn đến cuộc cách mạng xã hội thay thế hình thái kinh tế - xã hội cũ bằng hình thái kinh tế - xã hội mới cao hơn. Theo đó, sự vận động, phát triển tất yếu từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội cũng không nằm ngoài quy luật đó. Đây là quy luật khách quan trong quá trình tiến hóa của xã hội loài người mà Mác và các cộng sự của ông đã phát kiến ra, chứ không phải là sự áp đặt chủ quan, phiến diện, một chiều. Cùng với quá trình đó, nhà nước phục vụ cho giai cấp thống trị trong chế độ tư bản chủ nghĩa được thay thế bằng nhà nước chuyên chính vô sản của giai cấp công nhân, quản lý xã hội và phục vụ cho quyền lợi của mọi công dân theo mục tiêu tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội; con người được giải phóng một cách toàn diện, thủ tiêu mọi áp bức bóc lột.

Cần nói thêm rằng, về cơ bản, sự phát triển xã hội loài người là tiến trình lịch sử tự nhiên, tuần tự từ thấp lên cao. Song, tùy theo điều kiện lịch sử, hoàn cảnh của mỗi nước mà có thể bỏ qua hình thái kinh tế - xã hội nào đó nếu điều kiện cho phép. Ví như, từ chế độ phong kiến bỏ qua chế độ tư bản tiến thẳng lên chế độ xã hội chủ nghĩa thông qua thời kỳ quá độ lâu dài (như ở Việt Nam). Đó là cả một sự nghiệp vĩ đại, đòi hỏi có thời gian, với một quá trình lao động sáng tạo để làm ra cơ sở vật chất cho đời sống xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, phải có chính đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, có bản lĩnh, quyết tâm chính trị cao, đường lối, chiến lược phát triển đúng đắn, dựa trên nền tảng tư tưởng vững chắc, sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước mình, được nhân dân đồng tình, ủng hộ.

Về thực tiễn, chủ nghĩa xã hội là tương lai của nhân loại

Mặc dù đang trong giai đoạn hết sức khó khăn, song, chủ nghĩa xã hội vẫn là khát vọng, lý tưởng, mục tiêu tốt đẹp mà loài người đang hướng tới. Bản chất ưu việt của chủ nghĩa xã hội đã được thực tiễn kiểm nghiệm là giải quyết hài hòa giữa phát triển kinh tế với thực hiện công bằng, an sinh, bình đẳng xã hội, hạn chế đến mức thấp nhất, tiến tới không có người bóc lột người, tạo điều kiện tốt nhất cho người dân được thụ hưởng thành tựu của quá trình xây dựng, phát triển.

Hiện nay, do tự điều chỉnh chủ nghĩa tư bản có sự phát triển nhất định, được các thế lực thù địch khuyếch trương, ra sức ca ngợi chế độ này là văn minh, “đỉnh cao” của xã hội loài người; giai cấp tư sản là giai cấp trung tâm của thời đại, có vai trò lịch sử trong tiến trình phát triển của nhân loại! Một số người nhìn vào điều kiện vật chất, trình độ phát triển của các nước tư bản nhờ thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và hàng chục năm hòa bình xây dựng, không bị tàn phá bởi chiến tranh mà đã vội vàng công kích chủ nghĩa xã hội, tung hô chủ nghĩa tư bản! Bề nổi thì vậy, song, xét về bản chất, thuộc tính cố hữu của chủ nghĩa tư bản là: bóc lột giá trị thặng dư, lợi nhuận, bất bình đẳng, phân biệt giàu nghèo, chiến tranh,… là những thứ cần kiên quyết đấu tranh, xóa bỏ.

Bên cạnh đó, sự tồn tại, phát triển mạnh mẽ của các nước xã hội chủ nghĩa, các nước có xu hướng, nguyện vọng phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa là thực tiễn sinh động minh chứng chủ nghĩa xã hội sẽ là tương lai của nhân loại. Với Trung Quốc, nhờ vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng của các nhà lãnh đạo tiền bối, kiên trì và phát triển chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc, với mục tiêu xây dựng thành công cường quốc hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, dân chủ, văn minh, hài hòa, tươi đẹp; lấy nhân dân làm trung tâm, coi mong muốn có cuộc sống tốt đẹp hơn của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”, Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo đưa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc đạt những thành tựu to lớn, trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới. Đối với Cuba, luôn là tâm điểm chống phá, bao vây, cấm vận hết sức khốc liệt của các thế lực thù địch, đời sống kinh tế vô cùng khó khăn, thiếu thốn. Song, với bản lĩnh của những người chiến sĩ cộng sản và một tinh thần, quyết tâm đi theo con đường chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Cuba, nhân dân Cuba đã đứng lên làm cuộc cách mạng, thực hiện công cuộc đổi mới, thực thi chính sách đối ngoại năng động để phát triển kinh tế, xây dựng đất nước nhằm “thỏa mãn nhu cầu, ngày càng nâng cao về vật chất và tinh thần của nhân dân lao động”, nhất là về giáo dục và y tế. Theo đó, Cuba luôn dành ưu tiên cho chính sách an sinh xã hội thông qua việc phát triển các ngành y tế, giáo dục, thể thao, trở thành điểm sáng trong khu vực và trên thế giới. Trên con đường phát triển theo định hướng đã lựa chọn còn nhiều khó khăn phía trước, nhất là sự công kích, chống phá của các thế lực thù địch, nhưng đặc trưng ưu việt của chủ nghĩa xã hội đã và đang hiện hữu trên hòn đảo tự do, tươi đẹp. Điều đó cho thấy, sức sống của chủ nghĩa xã hội mãi mãi trường tồn cùng thời gian, không có thế lực nào có thể ngăn cản được.

Chủ nghĩa xã hội hiện thực trên đất nước Việt Nam

Chúng ta biết, những năm đầu thế kỷ XX, Đảng ta và Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể, tìm ra con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối. Vì thế, ngay khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930), trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định đường lối chiến lược cơ bản của cách mạng Việt Nam là, làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Đây là một định hướng chính trị hết sức quan trọng, phương châm hành động để Đảng ta lãnh đạo nhân dân trong tiến trình cách mạng. Để đường lối đó trở thành hiện thực, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã không quản gian khổ, hy sinh đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, thu giang sơn về một mối, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới. Như vậy, dù trong điều kiện, hoàn cảnh nào, Đảng và Nhân dân ta dứt khoát lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là sự nghiên cứu, vận dụng trung thành, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội vào điều kiện cụ thể cách mạng Việt Nam.

Từ ngày ra đời đến nay, nhất là qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mặc dù các thế lực thù địch ra sức công kích chủ nghĩa xã hội, khuyếch trương cho cái gọi là “lối sống tốt đẹp của phương Tây”, đòi “đa nguyên, đa đảng”, song Đảng và Nhân dân ta vẫn kiên định con đường, mục tiêu đã lựa chọn với quyết tâm chính trị cao; lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Sự nghiệp đổi mới được tiến hành toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, với những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp. Quan điểm lấy “dân làm gốc” và phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” luôn được quán triệt sâu sắc; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được chú trọng; công tác cán bộ thực sự là “then chốt của then chốt”. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chuyển biến mạnh mẽ, đạt kết quả nổi bật, ngày càng đi vào chiều sâu, “xây” đi liền “chống”. Thể chế phát triển được ưu tiên xây dựng đồng bộ, bảo đảm hài hòa giữa kiên định và đổi mới, kế thừa và phát triển; giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, văn hóa, xã hội; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, con người, giải quyết hài hòa các vấn đề xã hội; quốc phòng - an ninh luôn được củng cố, tăng cường; quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và hiệu quả, v.v. Đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện; chế độ an sinh, công bằng xã hội được thực hiện hài hòa với quá trình phát triển; thế và lực của đất nước, sức mạnh tổng hợp, uy tín của quốc gia không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế.

Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đã tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; bản chất ưu việt của chủ nghĩa xã hội ngày càng được thể hiện sinh động, rõ nét trên đất nước Việt Nam. Cả về lý luận và thực tiễn đã minh chứng sự lựa chọn đó là hoàn toàn đúng đắn chứ đâu phải theo một học thuyết “lạc đường” như các thế lực thù địch đang công kích. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng trong chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vững bước trên con đường đi lên xã hội chủ nghĩa./.

ST.

Thủ đoạn bôi nhọ cán bộ - chiêu trò “rượu cũ” nhưng “bình mới” của các thế lực thù địch

Xưa nay, nói xấu, bôi nhọ người khác bị coi là hành động của “kẻ tiểu nhân”, nhưng lại là thủ đoạn được các thế lực chống phá Việt Nam rất ưa chuộng. Mục đích của họ nhằm hạ uy tín cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, gây chia rẽ nội bộ, tạo thị phi trong xã hội, làm giảm lòng tin của nhân dân. Đây là chiêu trò “rượu cũ” nhưng “bình mới” rất nguy hiểm, cần sớm nhận diện và đấu tranh loại bỏ.

“Rượu cũ”

Tung ra những thông tin bịa đặt, xuyên tạc nhằm nói xấu, bôi nhọ quan chức, “đối thủ” để chống phá, ly gián, làm cho nội bộ đối phương suy yếu, nghi kỵ lẫn nhau là một trong những thủ đoạn chống phá hết sức thâm độc, được sử dụng trên thế giới từ rất lâu. Hiện nay, những người thực hiện thủ đoạn này được đào tạo khá bài bản, cộng thêm sự hỗ trợ của khoa học kỹ thuật nên việc thực hiện nó ngày càng phổ biến và tinh vi hơn. Không thể khuất phục cách mạng Việt Nam bằng vũ lực, các thế lực thù địch chuyển sang chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá trên tất cả các mặt của đời sống xã hội nước ta. Ở lĩnh vực chính trị tư tưởng, việc nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín của cán bộ, đảng viên đã và đang được các thế lực thù địch coi là trọng điểm chống phá, tiến hành chủ động, liên tục, vừa tinh vi, vừa trắng trợn, xảo quyệt; từ bôi đen lịch sử, phủ nhận sự đóng góp của các lão thành cách mạng, những người có công với cách mạng đến bôi nhọ, nói xấu cán bộ đương chức. Dạng thức phổ biến là: xuyên tạc, bịa đặt về thành phần xuất thân, những việc làm trong quá khứ; xúc phạm đời tư, cuộc sống gia đình, gán ghép các mối quan hệ của cán bộ trong xã hội, thậm chí lấy vấn đề sức khỏe của những cán bộ cấp cao để đơm đặt, suy diễn tình hình chính trị đất nước, v.v. Để tăng hiệu quả, các thế lực thù địch thườngtung thông tin bội nhọ cán bộ vào những thời điểm nhạy cảm về chính trị, như: những sự kiện chính trị trọng đại của đất nước; trước, trong và sau dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn; đại hội Đảng, bầu cử Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, v.v. Bản chất vẫn là những thông tin bịa đặt, xuyên tạc, bóp méo sự thật nhằm hạ uy tín của cá nhân, gây mất đoàn kết, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, gây hoang mang dư luận, nghi ngờ trong xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để chúng thực hiện các mưu đồ chống phá. Hiện tượng một cá nhân xấu, sự thoái hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, công chức được chúng đánh đồng thành bản chất chế độ xã hội, bản chất của Đảng và Nhà nước ta, làm giảm sút niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và lý tưởng xã hội chủ nghĩa.

“Bình mới”

Thủ đoạn nói xấu, bôi nhọ cán bộ, đảng viên đã được các thế lực thù địch thực hiện để chống phá cách mạng nước ta từ lâu. Tuy nhiên, lợi dụng sự phát triển của khoa học công nghệ, internet, mạng xã hội, thủ đoạn này đã được bao phủ rộng hơn; cách thức tiến hành được che đậy bởi chiếc “bình mới” tinh vi hơn. Nếu như trước đây, nội dung nói xấu, bôi nhọ cán bộ thường chủ yếu được thêu dệt từ những câu chuyện, sự việc, hành động của cán bộ ở hiện tại, thì hiện nay, trong thế giới vạn vật kết nối này, việc tìm chủ đề để đặt điều, thêu dệt nên những câu chuyện nói xấu, bôi nhọ cán bộ dường như là công việc quá dễ dàng cho những kẻ có “chuyên môn” tọc mạch. Họ bới móc tất tần tật, từ quá khứ đến hiện tại chuyện đời tư, quan hệ xã hội, tác phong, năng lực công tác,… của cán bộ, đảng viên; thậm chí, chỉ một hành động, một câu nói nào đó của cán bộ cũng bị chúng phân tích, mổ xẻ, xuyên tạc ở nhiều góc độ để thêu dệt thành những câu chuyện thị phi rùm beng. Trước đây, đối tượng được họ hướng đến để tấn công thường là cán bộ cao cấp hoặc cán bộ thường xuyên trực tiếp tiếp xúc với nhân dân; nhưng hiện nay mọi cán bộ, đảng viên đều không loại trừ một ai.

Chúng tận dụng tối đa internet, không gian mạng để việc nói xấu càng tăng thêm hiệu ứng xã hội. Không những lan truyền nhanh, len lỏi vào từng ngõ ngách, xóa nhòa mọi khoảng cách, mà còn gây nên sự nghi kỵ không giới hạn. Cách thức bôi nhọ và tung ra những thông tin bịa đặt cũng được các thế lực chống phá tiến hành rất đa dạng, tinh vi. Họ thường đào bới, cắt ghép, xâu chuỗi, thêu dệt, tạo dựng những câu chuyện xuyên tạc các vấn đề thuộc về lý lịch, quá khứ xuất thân, trình độ học vấn,… của cán bộ. Để đạt mục đích, các thế lực chống phá không từ một thủ đoạn nào; trong đó, có sử dụng công nghệ “trí tuệ nhân tạo” để giả tạo hình ảnh, video, clip bôi nhọ cán bộ rồi tung lên các nền tảng mạng xã hội. Thậm chí, họ còn dàn dựng những “cạm bẫy” nhằm kích động, làm cho nhiều cán bộ mất kiềm chế trong những tình huống cụ thể để tổ chức quay phim, chụp hình rồi cắt ghép, chỉnh sửa, thêu dệt thành những câu chuyện gây bức xúc cho dư luận.

Trong xã hội, chuyện thị phi vốn luôn thu hút sự tò mò, hiếu kỳ. Nhưng khi được đưa vào không gian mạng, xã hội ảo, sự tò mò, hiếu kỳ tăng lên gấp bội bởi những thủ thuật thêm thắt, bóp méo, xuyên tạc sự thật của các thế lực thù địch. Hơn thế nữa, họ còn rất thạo các cách thức để thổi phồng sự việc để thu hút người theo dõi, tạo điểm nóng trong dư luận. Từ một hành động nhỏ chưa phù hợp của một cán bộ, họ có thể vẽ nên một bức tranh toàn cảnh về đạo đức, lối sống, về nghệ thuật xã giao, văn hóa công vụ,… của cả một cơ quan, đơn vị, của Đảng, thậm chí của xã hội rồi đem so sánh với các nước khác, bất chấp tính khập khiễng của phép so sánh ấy. Nguy hiểm hơn, để hướng dư luận theo mưu đồ của mình, họ chặn hoặc loại bỏ những bình luận trái chiều, gây tâm lý hoang mang cho cả những người có chính kiến.

Tỉnh táo để nhận biết phải - trái, đúng - sai

Phải khẳng định rằng, các thế lực dù có tinh vi đến đâu, thủ đoạn thế nào, thì bản chất vẫn không thay đổi, cũng chỉ là “bình mới, rượu cũ”. Mục đích của họ là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Vì vậy, cán bộ, đảng viên cần tỉnh táo, nhận rõ phải – trái, đúng - sai. Cổ nhân có câu: “Nhân vô thập toàn”, nghĩa là chẳng ai mười phần toàn vẹn cả mười. Công cuộc xây dựng đất nước thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội không thể tránh khỏi những thiếu sót, vấp váp, nhất là trong công tác lãnh đạo, quản lý. Trong đội ngũ đông đảo cán bộ, đảng viên cũng sẽ không tránh khỏi việc có những người mắc phải những khuyết điểm, thiết sót, sai lầm. Để hạn chế điều đó, Đảng, Nhà nước ta đã có những “hàng rào” quy định, luật pháp với những chế tài mạnh mẽ để quản lý, giáo dục, răn đe, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm. Mỗi cán bộ, đảng viên ai cũng đều phải trải qua quá trình phấn đấu rèn luyện để đạt được những tiêu chí, tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực nhất định. Mỗi cơ quan, đơn vị đều có những nội quy, quy định, tiêu chuẩn văn hóa cơ quan, công sở để cán bộ, đảng viên chấp hành. Những biểu hiện cụ thể của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được Đảng ta thẳng thắn chỉ ra ở Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII); các quy định cụ thể về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) về những điều đảng viên không được làm; cả hệ thống chính trị và nhân dân ta đang đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh,… là những nỗ lực của Đảng, Nhà nước nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất. Trong thực tiễn đã có hàng nghìn cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật, rơi vào vòng lao lý; trong đó, có cả cán bộ cao cấp. Nhưng đó chỉ là những “con sâu làm rầu nồi canh”; không thể đánh đồng những hiện tượng đó với bản chất của Đảng, của chế độ. Sự trong sạch, tinh thần làm việc hết mình vì dân, vì nước của đại bộ phận cán bộ, đảng viên, của lãnh đạo Đảng, Nhà nước được nhân dân ghi nhận, là minh chứng bác bỏ mọi xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Đảng, Nhà nước ta cần lắm những ý kiến phản biện chân thành, góp ý xây dựng, đúng pháp luật để phê bình, lên án, tố cáo những thói hư, tật xấu của cán bộ, đảng viên, làm cơ sở để làm trong sạch nội bộ Đảng, bộ máy Nhà nước. Nhưng cũng kiên quyết xử lý nghiêm những kẻ lợi dụng phản biện xã hội, nhân danh “người dân” để đặt điều, vu khống, xuyên tạc, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm người khác. Ở nước ta, Hiến pháp và pháp luật có nhiều điều khoản bảo vệ quyền con người, bảo vệ danh dự, uy tín, bí mật cá nhân, gia đình, nghiêm cấm các hành vi bịa đặt, xuyên tạc, vu cáo, bôi nhọ, xâm phạm các quyền này của con người. Tại Điều 21, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 2013) quy định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình”. Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Luật Tố tụng hình sự (năm 2015) đã quy định việc áp dụng những chế tài xử phạt cụ thể đối với tội vu khống, bịa đặt hoặc loan truyền những điều sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Khi phạm vào tội này, tùy theo mức độ, tính chất của việc vu khống mà cá nhân hoặc tổ chức phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng hoặc bị phạt tù lên đến 07 năm, nhất là đối với việc phạm tội “vì động cơ đê hèn”. Điều 117 của Luật này còn quy định rõ hơn: “Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ 05 đến 12 năm: làm, tàng trữ, phát tán, hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền; làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu vật phẩm có nội dung bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng có thể bị phạt tù từ 10 đến 20 năm”. Không chỉ pháp luật của Việt Nam, mà quốc tế cũng có luật, điều luật bảo vệ quyền riêng tư, cá nhân của mỗi người. Điều 17, Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) quy định về quyền được bảo vệ đời tư, khẳng định: không ai bị can thiệp một cách tùy tiện hoặc bất hợp pháp vào đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hoặc bị xâm phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín. Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những can thiệp hoặc xâm phạm đến đời tư.

Như vậy, luật pháp quốc tế và Việt Nam đã đưa ra những quy định, chế tài để xử lý đích đáng những tổ chức, cá nhân có hành vi xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu, bôi nhọ người khác vì những mục đích xấu xa, đê hèn. Tuy nhiên, đằng sau những hành vi “tiểu nhân” ấy luôn là những mưu đồ chính trị thâm độc của các thế lực chống phá cách mạng nước ta, khiến chúng bất chấp tất cả. Điều đó, đòi hỏi mỗi người phải tỉnh táo, nhận diện đúng bản chất, không tiếp tay và tích cực đấu tranh để loại bỏ chúng ra khỏi đời sống xã hội./.

ST.

“Sa vào chủ nghĩa cá nhân” - sự suy thoái rất nguy hại đối với cán bộ, đảng viên

Trong quá trình giáo dục, rèn luyện và xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm cảnh báo: “chủ nghĩa cá nhân” là một trong những căn bệnh nguy hại, nhất là khi Đảng ta trở thành đảng cầm quyền. Theo Người, do cá nhân chủ nghĩa mà cán bộ, đảng viên phạm nhiều sai lầm, làm hại đến Đảng, Nhà nước, dân tộc, nhân dân và cách mạng. Do đó, “Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật”.

Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng về tư tưởng, chính trị, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa “hồng” vừa “chuyên”, suốt đời cống hiến, hy sinh vì lý tưởng cao đẹp, vì sự nghiệp cách mạng vẻ vang của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Thực tiễn cho thấy, thắng lợi của cách mạng Việt Nam có sự đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên ưu tú của Đảng. Song, nhìn thẳng vào sự thật, Đảng ta đã thẳng thắn chỉ rõ một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ cao cấp của Đảng bị suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng, thoái hóa, biến chất, vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật của Đảng. Trong đó, “sa vào chủ nghĩa cá nhân” - một trong các biểu hiện, căn nguyên làm “hư hỏng” đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm suy yếu bản chất cách mạng, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.

Sa vào chủ nghĩa cá nhân là sa vào lối sống thực dụng, tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, khi suy nghĩ, hành động hoặc làm việc gì cũng chỉ nghĩ đến lợi ích của cá nhân mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể; đối lập với chủ nghĩa tập thể và đạo đức cách mạng. “Sa vào chủ nghĩa cá nhân” là quá trình người cán bộ, đảng viên từng bước suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; có những suy nghĩ, hành vi trái với đạo đức cách mạng, xa rời mục tiêu lý tưởng cách mạng, không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, dẫn đến không hoàn thành nhiệm vụ của người cán bộ, đảng viên; thậm chí phản bội lại lợi ích quốc gia - dân tộc. Hay nói cách khác, “sa vào chủ nghĩa cá nhân” là hiện tượng “tha hóa” về phẩm chất đạo đức và nhân cách của người cán bộ, đảng viên; nó không chỉ có hại đến từng cá nhân mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác xây dựng Đảng hiện nay. Tính chất nguy hại của hiện tượng “sa vào chủ nghĩa cá nhân” có thể nhìn nhận ở một số giác độ, như:

Chủ nghĩa cá nhân là “giặc nội xâm” - kẻ thù trong lòng mỗi người cán bộ, đảng viên. Chúng ta biết, để trở thành người cán bộ, đảng viên và phát huy vai trò lãnh đạo của mình trước quần chúng, thì mỗi người phải trải qua quá trình phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện công phu về mọi mặt cả về phẩm chất, năng lực và để giữ vững bản chất người cách mạng, cán bộ, đảng viên phải tu dưỡng, rèn luyện suốt cuộc đời “cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Tuy nhiên, nếu không giữ được đạo đức cách mạng, sẽ dễ “sa vào chủ nghĩa cá nhân” và nếu điều đó xảy ra, thì người cán bộ, đảng viên ấy đã nhiễm một loại “vi rút rất độc”; từ đó đẻ ra hàng trăm thứ bệnh từ tham lam, lười biếng đến bè phái, cục bộ, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, phai nhạt lý tưởng, v.v. Như thế, người cán bộ, đảng viên ấy không còn đủ tư cách “người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Trên thực tế, đã có “Một bộ phận cán bộ, đảng viên,… chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói chưa đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật”.

“Sa vào chủ nghĩa cá nhân” làm cho Đảng suy yếu từ bên trong cả về tư tưởng chính trị, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Điều này diễn ra như một tất yếu, bởi lẽ, Đảng ta được ví như cơ thể sống, trong đó mỗi đảng viên là một tế bào của cơ thể ấy, mỗi tế bào khỏe mạnh thì Đảng sẽ khỏe mạnh, ngược lại, mỗi tế bào mà mang mầm bệnh - “chủ nghĩa cá nhân”, thì cơ thể Đảng sẽ yếu, kém. Nếu trong cơ thể của Đảng mà có nhiều “tế bào hư hỏng”, thì sớm hay muộn Đảng sẽ mục ruỗng từ bên trong, thoái hóa, biến chất, mất vai trò lãnh đạo.

“Sa vào chủ nghĩa cá nhân”, tạo lực cản lớn của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Đảng lãnh đạo cách mạng bằng đường lối, chủ trương và thông qua vai trò tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng; niềm tin của nhân dân đối với Đảng đều xuất phát từ niềm tin của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên. Do đó, khi “sa vào chủ nghĩa cá nhân”, người cán bộ, đảng viên sẽ không còn được nhân dân tin tưởng, ủng hộ; uy tín và hiệu quả lãnh đạo giảm sút; đồng thời, trở thành “cái cớ” để các thế lực thù địch, phản động móc nối, lợi dụng chống phá.

Có thể khẳng định rằng, “sa vào chủ nghĩa cá nhân” là một trong những biểu hiện suy thoái rất nguy hại đối với cán bộ, đảng viên và ảnh hưởng sâu sắc đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Để đấu tranh, loại bỏ, quét sạch nó trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, cần chú trọng thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, thường xuyên giáo dục, quán triệt nâng cao nhận thức tư tưởng, bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Sa vào chủ nghĩa cá nhân là quá trình suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, mà quá trình đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân, song chủ yếu là do nhận thức không đúng đắn, đầy đủ về đạo đức cách mạng, về tính chất nguy hại của chủ nghĩa cá nhân; bản lĩnh chính trị không kiên định, vững vàng. Trên thực tế, đã có những cán bộ, đảng viên quá trình phấn đấu rất tốt, được bổ nhiệm giữ những cương vị, trọng trách cao trong Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị; nhưng do “sa vào chủ nghĩa cá nhân” dẫn đến suy thoái, vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước, phải xử lý kỷ luật. Do vậy, thường xuyên giáo dục, quán triệt nâng cao nhận thức tư tưởng, bản lĩnh chính trị là giải pháp hàng đầu, giúp cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc hơn về vai trò là gốc của đạo đức cách mạng đối với quá trình tu dưỡng, rèn luyện và thực hiện nhiệm vụ của mình. Theo đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải tăng cường tự học tập, nghiên cứu nâng cao nhận thức về lý luận chính trị, đạo đức cách mạng; thấy rõ những biểu hiện và tính chất nguy hại của chủ nghĩa cá nhân đối với quá trình tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên và công tác xây dựng Đảng. Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục, rèn luyện của tổ chức với tự giáo dục, rèn luyện của từng cán bộ, đảng viên. Đồng thời, tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, hằng ngày, từ đó giữ vững bản lĩnh chính trị, mục tiêu lý tưởng cách mạng, không “sa vào chủ nghĩa nghĩa cá nhân”.

Hai lànêu cao tự phê bình và phê bình, kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là “kẻ thù bên trong”, “thứ vi trùng rất độc” nằm trong tư tưởng của mỗi cán bộ, đảng viên, nên phải có thái độ kiên quyết đấu tranh, loại bỏ mới có thể quét sạch nó trong mỗi con người. Trong khi đó, tự phê bình và phê bình là vũ khí sắc bén nhằm gột rửa chủ nghĩa cá nhân và là vấn đề có tính quy luật trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong đó, lấy tự phê bình làm chính để rửa sạch những “vết bẩn, căn bệnh” nằm ở chính trong bản thân mỗi cán bộ, đảng viên. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải đề cao tự phê bình và phê bình; phải tự phê bình thường xuyên như “rửa mặt hàng ngày”, “tự soi”, “tự sửa” từ suy nghĩ, hành động, lời nói, việc làm; phải kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân trong chính bản thân mình, trong tổ chức và đồng chí, đồng đội. Muốn vậy, phải nêu cao tính chiến đấu trong sinh hoạt tự phê bình và phê bình; khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, “dĩ hòa vi quý”, “mũ ni che tai”; kiên quyết phê bình, đấu tranh loại bỏ những biểu hiện “sa vào chủ nghĩa cá nhân”, nâng cao đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của các tổ chức đảng, thực hiện nghiêm kỷ luật Đảng; kiên quyết đấu tranh làm vô hiệu hóa thủ đoạn lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm của đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm chống phá Đảng của các thế lực thù địch.

Ba làđề cao trách nhiệm nêu gương, ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Đây là giải pháp rất quan trọng, có ý nghĩa trực tiếp khắc phục những biểu hiện “sa vào chủ nghĩa cá nhân” của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bởi lẽ, nêu gương là một trong những phương pháp rất quan trọng trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn đội ngũ cán bộ, đảng viên: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”3. Muốn nêu gương về đạo đức, người cán bộ, đảng viên phải tạo được động lực bên trong, không “sa vào chủ nghĩa cá nhân”, phải gương mẫu về đạo đức, lối sống, chất lượng công việc. Để làm được việc đó, thì người cán bộ, đảng viên phải đề cao ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng mọi lúc, mọi nơi, bền bỉ suốt cuộc đời. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các cấp phải gương mẫu, đi đầu trong thực hiện các quy định nêu gương của Đảng, nhất là Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Thực hiện tốt Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về những điều đảng viên không được làm. Đối với cán bộ, đảng viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam, cần quán triệt và thực hiện tốt Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”. Trong đó, cần quán triệt, thực hiện tốt phương châm “trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo” và cán bộ giữ cương vị càng cao, càng phải tiên phong, gương mẫu.

“Sa vào chủ nghĩa cá nhân” là biểu hiện suy thoái đã và đang diễn ra ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và gây nguy hại rất lớn đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Những biểu hiện của “chủ nghĩa cá nhân” rất dễ nhận biết, nhưng để đấu tranh, khắc phục triệt để là vấn đề rất khó khăn, phức tạp, bởi nó nằm sâu, bên trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Để đấu tranh chống biểu hiện này hiệu quả, cần tiến hành quyết liệt, đồng bộ các giải pháp, cả tư tưởng, tổ chức, cán bộ; trong đó, nêu cao tự phê bình và phê bình, phát huy vai trò nêu gương và tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của từng cán bộ, đảng viên là vấn đề căn cơ, cốt lõi, lâu dài, góp phần xây dựng Đảng ta thật trong sạch vững mạnh, thực hiện sứ mệnh lãnh đạo thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới./.

ST.

Phản bác các quan điểm sai trái về nguyên tắc tập trung dân chủ

Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản để phân biệt chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân với các đảng chính trị khác. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản”. Tuy nhiên, lợi dụng những hạn chế trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị,... tìm cách đả phá, kêu gọi Đảng ta từ bỏ nguyên tắc này, cổ súy tư tưởng đa nguyên, đa đảng.

Từ khi mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, phong trào cộng sản rơi vào thời kỳ khủng hoảng, suy thoái, đã xuất hiện nhiều ý kiến nghi ngờ, đòi xét lại về nguồn gốc, bản chất, nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ. Thậm chí họ còn quy kết rằng, nguyên tắc này là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của Đảng Cộng sản Liên Xô và các đảng cộng sản cầm quyền khác. Lợi dụng vấn đề đó, cùng những hạn chế, thiếu sót trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị,... đã công khai đưa ra những quan điểm sai trái và kêu gọi Đảng ta từ bỏ nguyên tắc này. Vì vậy, nhận diện và đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái đó để bảo vệ nền tảng tư tưởng, nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng vừa là yêu cầu khách quan, vừa là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên; trong đó, tập trung vào các nhóm vấn đề sau: 

Một lànhóm quan điểm sai trái về sự ra đời và giá trị thời đại của nguyên tắc tập trung dân chủ. Với lý do thời C.Mác (1818 - 1883) và Ph.Ăngghen (1820 - 1895) chưa có tên gọi nguyên tắc tập trung dân chủ, nên theo họ nguyên tắc tập trung dân chủ không phải của chủ nghĩa Mác, mà do V.I.Lênin đặt ra (năm 1905) chỉ phù hợp ở thời kỳ Đảng hoạt động bí mật, khi chưa giành được chính quyền hoặc khi lãnh đạo chiến tranh cần có kỷ luật chặt chẽ, tập trung, thống nhất cao độ. Còn trong điều kiện hòa bình, khi Đảng cầm quyền, lãnh đạo xây dựng đất nước, đòi hỏi phải mở rộng dân chủ, phát huy tối đa sáng tạo của cá nhân thì nguyên tắc tập trung dân chủ đã lỗi thời, không còn phù hợp nữa.

Đây là sự suy luận hết sức lố bịch! Bởi, họ đã cố tình bỏ qua cơ sở lịch sử của nguyên tắc và thực chất chỉ là phụ họa cho luận điệu phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ, chia tách, đối lập chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Lênin, gây nghi ngờ giá trị, hiệu quả của nguyên tắc tập trung dân chủ. Đúng là C.Mác và Ph.Ăngghen chưa gọi nguyên tắc tổ chức của Đảng Cộng sản là tập trung dân chủ. Song, các tư liệu lịch sử cho thấy, mặc dù chưa gọi tên cụ thể nhưng tư tưởng xây dựng một đảng vô sản trên cơ sở những nội dung cốt lõi của nguyên tắc tập trung dân chủ đã được các ông thể hiện rõ trong Điều lệ Liên đoàn những người cộng sản từ năm 1847. Và được tiếp tục khẳng định trong tổ chức “Liên minh Công nhân quốc tế” (Quốc tế I) do chính C.Mác sáng lập vào năm 1864. Cụ thể, Điều lệ Liên đoàn quy định: tất cả hội viên của Liên đoàn đều bình đẳng; cơ quan lãnh đạo các cấp của Liên đoàn từ chi bộ đến Đại hội Liên đoàn do bầu cử lập ra. “Các ủy viên ban chấp hành khu bộ và Ban chấp hành trung ương được bầu hằng năm, có quyền được bầu lại và có thể bị những người bầu ra mình bãi miễn bất cứ lúc nào”. Điều lệ cũng quy định, Liên đoàn là một tổ chức theo chế độ tập trung rất chặt chẽ, như: Liên đoàn chỉ có một hệ thống tổ chức thống nhất; Đại hội Liên đoàn hằng năm là cơ cấu tổ chức có vị trí, quyền lực cao nhất của Liên đoàn. Điều 5 của Điều lệ Liên đoàn do chính C.Mác và Ph.Ăngghen trực tiếp tham gia soạn thảo quy định: “Về cơ cấu, Liên đoàn gồm chi bộ, khu bộ, tổng khu bộ, Ban Chấp hành trung ương và Đại hội”. Đại hội có quyền lực lập pháp đối với toàn Liên đoàn; các khu bộ của một nước hoặc một tỉnh phải phục tùng một tổng khu bộ; các tổng khu bộ phải báo cáo công tác với cơ quan quyền lực tối cao là Đại hội, còn giữa các kỳ đại hội thì báo cáo với Ban Chấp hành trung ương. Hội viên của Liên đoàn phải phục tùng các nghị quyết của Liên đoàn; “không tham gia vào mọi tổ chức - tổ chức chính trị hoặc tổ chức dân tộc - chống cộng sản”. Đến năm 1885, khi nói về cách tổ chức của Liên đoàn, Ph.Ăngghen khẳng định: “Bản thân tổ chức cũng hoàn toàn dân chủ, với những người lãnh đạo được bầu ra và luôn luôn có thể bị bãi miễn”. Như vậy, với những quy định nêu trên cho thấy, cách tổ chức “hoàn toàn dân chủ” mà Ph.Ăngghen nói tới chính là nguyên tắc tập trung dân chủ. Thực tế đó còn chứng tỏ: đối với C.Mác và Ph.Ăngghen, nguyên tắc tập trung dân chủ không chỉ là tư tưởng mà đã được vận dụng vào thực tiễn tổ chức, hoạt động của chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân.

V.I.Lênin không chỉ kế thừa, phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về nguyên tắc tập trung dân chủ, đặt tên cho nguyên tắc này mà còn vận dụng mẫu mực, sáng tạo về cách thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực tiễn cách mạng. Theo V.I.Lênin: “chế độ tập trung dân chủ, một mặt, thật khác xa chế độ tập trung quan liêu chủ nghĩa, và mặt khác, thật khác xa chủ nghĩa vô chính phủ và “không có gì sai lầm bằng việc lẫn lộn chế độ tập trung dân chủ với chủ nghĩa quan liêu và với lối rập khuôn máy móc”. Từ thực tiễn phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và xây dựng Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga, tại Đại hội Đảng năm 1906, V.I.Lênin đề xuất và được Đại hội nhất trí đưa vào Điều lệ nguyên tắc “tập trung dân chủ”. Sự thực trên là cơ sở khoa học khẳng định: chính C.Mác và Ph.Ăngghen là những người đặt nền móng cho nguyên tắc tập trung dân chủ từ năm 1847 và V.I.Lênin là người kế thừa, bổ sung và phát triển.

Là đội tiền phong của giai cấp công nhân, Đảng Cộng sản phải có tổ chức chặt chẽ, tập trung, thống nhất, không thể là một tổ chức lỏng lẻo, vô chính phủ; là liên minh tự nguyện của những người cùng chung chí hướng đấu tranh để xây dựng chủ nghĩa xã hội - một xã hội giương cao ngọn cờ độc lập, tự do, dân chủ, công bằng và bảo vệ phẩm giá con người; Đảng Cộng sản phải có tổ chức dân chủ mới phù hợp với bản chất và mục đích đó. Bởi vậy, nguyên tắc tập trung dân chủ nằm ngay trong bản chất của Đảng Cộng sản, nên dù trong điều kiện, hoàn cảnh nào, lúc đấu tranh giành chính quyền hay khi xây dựng đất nước, Đảng Cộng sản cũng phải được tổ chức và hoạt động theo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, chỉ khác ở phương pháp thực hiện nội dung và phạm vi áp dụng do tình hình, nhiệm vụ cụ thể của Đảng trong mỗi thời kỳ, xa rời nguyên tắc này là xa rời bản chất của Đảng dẫn đến tan rã Đảng. Do đó, không thể nói nguyên tắc tập trung dân chủ đã “lỗi thời”, không còn giá trị. 

Hai là, nhóm quan điểm sai trái về bản chất, nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ. Họ cho rằng tập trung và dân chủ là hai mặt đối lập, giống như lửa với nước, là hai khái niệm “không thể dung hòa”, không thể kết hợp, do đó không thể có nguyên tắc tập trung dân chủ. Cũng theo họ, nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến sự sụp đổ của mô hình xã hội chủ nghĩa và Đảng Cộng sản ở Liên Xô và các nước Đông Âu bị mất quyền lãnh đạo xã hội là do thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ quá lâu và họ “khuyên” Đảng ta từ bỏ nguyên tắc này “càng sớm, càng tốt”; đồng thời, họ kêu gọi bỏ “chế độ thiểu số phục tùng đa số” thì mới thực sự có “dân chủ”, “sáng tạo”, v.v.

Cần khẳng định rõ: đây là luận điệu nhằm tầm thường hóa nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng với mưu đồ phá hoại hòng làm cho Đảng ta từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ. Việc chia cắt nguyên tắc vốn thống nhất, hoặc đem dân chủ đối lập với tập trung là không hiểu đúng nguyên tắc tập trung dân chủ. Với cách lập luận sai trái này, họ đã không hiểu bản chất, hoặc cố tình lừa dối người khác để hạ bệ nguyên tắc tập trung dân chủ. Nguyên tắc tập trung dân chủ là sự thống nhất biện chứng giữa hai thành tố tập trung và dân chủ. Tập trung trên cơ sở dân chủ, dân chủ có sự lãnh đạo được sự bảo đảm của tập trung. Có giữ vững tập trung mới có thể phát huy, mở rộng được dân chủ và bảo đảm dân chủ thực chất. Phát triển dân chủ luôn gắn liền với giữ vững và tăng cường tập trung, trên cơ sở đó, dân chủ càng phát triển thì tập trung càng vững chắc. Dân chủ chỉ đối lập với tình trạng độc đoán, chuyên quyền chứ không đối lập với tập trung; tập trung chỉ đối lập với tình trạng tản mạn, tự do, tùy tiện, vô tổ chức, vô kỷ luật chứ không đối lập với dân chủ. Tập trung trên cơ sở dân chủ hoàn toàn khác với tập trung quan liêu. Dân chủ có sự bảo đảm của tập trung cũng hoàn toàn khác về bản chất với dân chủ hình thức, dân chủ vô chính phủ.

Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc nền tảng để xây dựng Đảng thành một tổ chức chiến đấu chặt chẽ, vừa phát huy sức mạnh của mỗi cá nhân, vừa tạo nên sức mạnh tổng hợp của tổ chức. Đây là nguyên tắc chỉ đạo toàn bộ, xuyên suốt quá trình xây dựng tổ chức, sinh hoạt và hoạt động lãnh đạo của Đảng; quy định cơ cấu, hình thức tổ chức, phương thức, chế độ thiết lập các cơ quan lãnh đạo của Đảng; xác lập các quy tắc giải quyết các mối quan hệ trong nội bộ Đảng và cũng là nguyên tắc giữ vai trò chi phối các nguyên tắc khác của Đảng. Nó làm cho Đảng được xây dựng thành một đội ngũ có kỷ luật chặt chẽ, có sức chiến đấu cao, phát huy được tính chủ động, năng động và sáng tạo của cán bộ, đảng viên; bảo đảm cho Đảng luôn là một tổ chức lãnh đạo, một tổ chức chiến đấu mà không phải là một câu lạc bộ.

Sức mạnh của Đảng là sự thống nhất về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; sự thống nhất đó chỉ có thể giữ vững và biến thành sức mạnh vật chất khi được bảo đảm bằng sự thống nhất về mặt tổ chức thông qua thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Tập trung dân chủ là cơ sở bảo đảm cho Đảng thực sự là một tổ chức chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất từ Trung ương tới cơ sở. Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ vừa phát huy được tính chủ động, sáng tạo, trách nhiệm cao của mỗi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng, vừa tập trung được trí tuệ và sức mạnh vật chất của toàn Đảng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người.

Ba lànhóm quy kết tình trạng vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ là “lỗi từ gốc” do độc đảng; Việt Nam muốn dân chủ, tiến bộ thì “phải chấm dứt sự độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản”, từ đó cổ súy tư tưởng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Đây là âm mưu hết sức thâm độc nằm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa; kêu gọi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Thực tiễn cho thấy: dân chủ ở một quốc gia không phụ thuộc vào việc ở đó có một hay nhiều đảng mà phụ thuộc vào bản chất chính của đảng cầm quyền và mức độ dân chủ không tỷ lệ thuận với sự gia tăng của số lượng các đảng chính trị. Chẳng hạn, Ácmênia có khoảng 40 đảng, Hà Lan có 25 đảng, Na Uy có 23 đảng,... nhưng không thể kết luận Ácmênia dân chủ hơn Hà Lan, Na Uy. Hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn 30 quốc gia theo chế độ một đảng, như: Ăngtigoa, Ảrập Xêút, Baren, Bênanh, Bôxnia, Cuba, Cômô, Gana, Bờ Biển Ngà, Lào, Libi, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, Mông Cổ, Namibia, Ruanđa, Xômali, Tôgô, Tôbagô,... và Việt Nam. Hơn nữa, ngay trong chủ nghĩa tư bản, có thời kỳ một số quốc gia và vùng lãnh thổ theo chế độ một đảng duy nhất cầm quyền vẫn bảo đảm dân chủ và phát triển mạnh mẽ. Ví dụ: cho đến cuối những năm 1980, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan,... vẫn theo chế độ một đảng duy nhất cầm quyền, nhưng vẫn vươn lên phát triển mạnh mẽ. Điều này cho thấy hai vấn đề: (1). Chế độ chính trị do một đảng cầm quyền không phải là đặc điểm chỉ có ở các nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo; (2). Không phải các nước theo chế độ một đảng không bảo đảm dân chủ.

Trong điều kiện ở Việt Nam, một đảng lãnh đạo, đó là đảng của giai cấp công nhân, lấy lợi ích giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc làm mục tiêu xuyên suốt và luôn xây dựng, chỉnh đốn để đảng thực sự trong sạch, vững mạnh thì tính chất dân chủ, tiến bộ phụ thuộc vào bản chất, mục đích phục vụ chứ không phụ thuộc số lượng bao nhiêu đảng. Năm 2010, đồng chí Nguyễn Phú Trọng (khi đó là Chủ tịch Quốc hội) đã trả lời phỏng vấn báo chí quốc tế rằng: “Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn, mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, điều quan trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển đi lên hay không? Đó là tiêu chí quan trọng nhất”.

Từ những luận giải trên, có thể khẳng định: nguyên tắc tập trung dân chủ đến nay vẫn còn nguyên giá trị, không “lỗi thời”, các đảng cộng sản và mỗi đảng viên cộng sản không được phép xa rời, từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ. Đây là vấn đề sống còn của Đảng. Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu, quán triệt, cụ thể hóa thực hiện nghiêm nguyên tắc này trong tổ chức và hoạt động của Đảng, làm cơ sở để đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch./.

ST.

“Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên hiến pháp và pháp luật” - luận điệu vô căn cứ cần đấu tranh bác bỏ

Xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là một trong những thủ đoạn mà các thế lực phản động, thù địch thường xuyên tiến hành. Trong đó, luận điệu cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật” là hoàn toàn vô căn cứ và hết sức nguy hiểm, cần được nhận diện, đấu tranh bác bỏ.

Thời gian qua, trên một số trang mạng xã hội, các thế lực thù địch đã đăng tải, phát tán nhiều tin, bài, xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam. Đáng chú ý trong đó có luận điệu cho rằng, “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật”. Đây là luận điệu xuyên tạc, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi Đảng ta phải thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, trực tiếp phá hoại, vô hiệu hóa cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước ta: “Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý, điều hành - Nhân dân làm chủ”. Từ đó, gây tâm lý hoài nghi, dao động, làm tổn hại đến mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Ðảng với  Nhà nước và Nhân dân; giảm sút niềm tin của nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Có thể khẳng định rằng, luận điệu “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật” của các thế lực thù địch là vô căn cứ, phản khoa học, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực chất, họ đã cố tình đánh tráo khái niệm một cách thô thiển giữa “nhà nước pháp quyền” nói chung với “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” và “nhà nước pháp quyền tư sản”. Chúng ta đều biết, trong lịch sử xã hội, nhà nước nào cũng mang bản chất của giai cấp nhất định, do giai cấp cầm quyền lãnh đạo, chi phối. Đơn cử như, nhà nước ở các nước tư bản hiện nay đều do một đảng, hay liên minh đảng cầm quyền, lãnh đạo, nhưng dù có liên minh nhiều đảng lãnh đạo thì bản chất của nhà nước vẫn do giai cấp cầm quyền chi phối là chủ yếu. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tất yếu mang bản chất giai cấp công nhân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo, là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, quyền lực nhà nước và xã hội thuộc về nhân dân. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhà nước khác hẳn về chất so với nhà nước tư sản và các hình thức nhà nước của giai cấp thống trị, bóc lột đã có trong lịch sử - nhà nước mà quyền lực thuộc về thiểu số giai cấp thống trị, bóc lột (chủ nô, phong kiến, tư sản). Như vậy, họ đã cố tình cắt xén vấn đề cốt lõi nhất của nhà nước là quyền lực thuộc về nhân dân trong bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Đảng Cộng sản lãnh đạo nhà nước xã hội chủ nghĩa là đặc trưng bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Chỉ có đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, trên lập trường giai cấp công nhân, với đường lối đúng đắn thì nhà nước xã hội chủ nghĩa mới thực sự là nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đây không chỉ là vấn đề có tính nguyên tắc, mà còn bảo đảm cho nhà nước xã hội chủ nghĩa thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ, trong đó có cả nhiệm vụ xây dựng hiến pháp và pháp luật.

Trên thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền sau khi lãnh đạo nhân dân Việt Nam làm nên thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Theo đó, nội dung cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội như một tất yếu lịch sử; là sự lựa chọn của lịch sử. Phương thức cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách lớn, định hướng cho sự phát triển của đất nước và toàn xã hội trên tất cả các lĩnh vực trong từng thời kỳ nhất định. Đồng thời, đề ra phương hướng, nhiệm vụ và những nguyên tắc cơ bản nhằm xây dựng Nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội thông qua hệ thống tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các cơ quan Nhà nước và các tổ chức của hệ thống chính trị. Điều đó đã được Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Các tổ chức Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong đó có đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước; phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên, thường xuyên tuyên truyền, giáo dục, vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, ủng hộ và tích cực thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Luận điệu cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật”, về thực chất, các thế lực thù địch đã cố ý xuyên tạc mối quan hệ giữa Đảng và hệ thống chính trị, phủ nhận cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chúng cho rằng “Đảng lãnh đạo nhà nước và toàn xã hội là chuyên quyền, độc đoán, vi phạm dân chủ”. Đó là sự bịa đặt vô căn cứ, bởi trong mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Đảng giữ vai trò lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là hạt nhân và là một bộ phận của hệ thống ấy. Về cơ chế vận hành, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân lao động làm chủ”. Cơ chế này xác định rõ vị trí, vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, thành tố của hệ thống chính trị và giải quyết các mối quan hệ giữa các thành tố với nhau đảm bảo cho sự vận hành thông suốt của hệ thống chính trị, thực hiện quyền lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước và quyền làm chủ thực sự thuộc về Nhân dân. Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội đều hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; các tổ chức đảng, đảng viên không đứng ngoài, đứng trên pháp luật. Đảng kiểm tra các tổ chức của Đảng và đảng viên trong các cơ quan, tổ chức Nhà nước về việc chấp hành và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương và các nghị quyết của Đảng trên thực tế. Hoạt động lãnh đạo của Đảng đều được thực hiện theo Hiến pháp và pháp luật, chứ không có cái gọi là “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật”.

Ở một góc nhìn khác, luận điệu cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật” của các thế lực thù địch đã công khai phủ nhận sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực chất, họ tạo cớ gây mâu thuẫn, chia rẽ quan hệ máu thịt giữa Đảng với Nhân dân, giữa Nhà nước với Nhân dân. Từ khi ra đời đến nay, nhất là khi trở thành đảng cầm quyền, Đảng ta luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân. Điều đó đã được chứng minh bằng thực tiễn quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng đã đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ, bị áp bức, bóc lột nặng nề của chế độ phong kiến, chủ nghĩa thực dân kiểu cũ và chủ nghĩa thực dân kiểu mới lên địa vị làm chủ nhà nước và làm chủ xã hội. Vai trò, trách nhiệm của Đảng cầm quyền, nhất là đối với nhân dân đã được hiến định một cách rõ ràng: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”. Điều đó thể hiện bản chất tiên phong, trách nhiệm chính trị - pháp lý của Đảng đối với Nhân dân về vận mệnh của dân tộc và sự phát triển của đất nước.

Thực tiễn gần 95 năm lãnh đạo cách mạng và 80 năm cầm quyền đã khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội là nhân tố quyết định bản chất Nhà nước, nền pháp chế xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, đưa đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị tiếp tục được tăng cường, nhất là với Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Ban hành nhiều quy định bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, đề cao nguyên tắc pháp quyền, phát huy dân chủ, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và quyền làm chủ của nhân dân.

Có thể khẳng định rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội không hề “đứng trên Hiến pháp và pháp luật” như luận điệu của các thế lực thù địch đã bịa đặt, rêu rao. Ngược lại, Đảng lãnh đạo Nhà nước được Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 2013) quy định rõ trong điều 4: “Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.

Như vậy, cả lý luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam luôn chứng minh tính đúng đắn về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và toàn xã hội. Không ai có thể phủ nhận được sự thật hiển nhiên đó. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân phải hết sức cảnh giác, tỉnh táo nhận diện rõ ý đồ dã tâm của các thế lực thù địch, thường xuyên tu dưỡng, nâng cao bản lĩnh chính trị, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

ST.

Phản bác luận điệu chống phá về bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam

Xuyên tạc quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về bảo vệ chủ quyền biển, đảo là thủ đoạn không mới, nhưng rất nguy hiểm, bởi đây là vấn đề được dư luận trong và ngoài nước hết sức quan tâm. Vì vậy, nhận diện, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc đó một cách kịp thời; đồng thời, khẳng định tính đúng đắn trong đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta về bảo vệ chủ quyền biển, đảo là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết hiện nay.

Biển Đông có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trên nhiều lĩnh vực, cũng như tồn tại nhiều phức tạp, tạo sự quan tâm đối với các quốc gia trong khu vực và thế giới, trong đó có hệ thống hàng hải quốc tế cùng những “vấn đề” về chủ quyền, lãnh thổ, nên nơi đây đã, đang là tâm điểm cạnh tranh và gây ảnh hưởng của các quốc gia trong và ngoài khu vực, nhất là các nước lớn. Cũng chính vì lẽ đó, nhiều thập niên gần đây, vùng biển này luôn là “vấn đề nóng” trên bàn cờ chính trị của khu vực. Đối với nước ta, lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phản động đã tung ra không ít thông tin sai sự thật, hòng xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo; trong đó, họ nêu những “đề xuất”, “kiến nghị” đòi thay đổi chính sách ngoại giao của Việt Nam về chủ quyền biển, đảo. Đặc biệt, khi tình hình trên Biển Đông có “điểm nóng”, thì ngay lập tức, trên các tờ báo, đài phát thanh phản động ở nước ngoài, như: BBC, Đài châu Á tự do (RFA), các trang mạng xã hội, như: Facebook, YouTube, Twitter, Zalo,… tăng cường phát tán tài liệu, hình ảnh, video xuyên tạc về vấn đề này.

Luận điệu mà họ thường rêu rao là Đảng, Nhà nước Việt Nam “nhu nhược”, “làm ngơ” trong bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển; rằng, “chỉ có liên minh quân sự với các cường quốc quân sự thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo, bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc”; sức mạnh của Hải quân Việt Nam hiện nay là “quá yếu”, “lạc hậu”, v.v. Do đó, Việt Nam cần liên minh quân sự với các nước lớn có tiềm lực quân sự, quốc phòng mạnh, mới bảo vệ được chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo quốc gia (!).

Cần khẳng định rằng, những luận điệu trên là hoàn toàn sai trái, bịa đặt; mục đích của họ nhằm gây mất ổn định tình hình an ninh, chính trị trong nước và làm tổn hại đến quan hệ của Việt Nam với các nước. Bởi, cả lý luận và thực tiễn đều khẳng định: Đảng, Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc bằng đường lối, quan điểm nhất quán, đúng đắn, hợp quy luật, hiệu quả.

Về bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Ngay sau khi đất nước thống nhất, nắm bắt việc Liên hợp quốc đang trong quá trình thảo luận, xây dựng Công ước về Luật Biển và nội dung liên quan, ngày 12/5/1977, Việt Nam đã ra Tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình. Tiếp đó, ngày 12/11/1982, Chính phủ ra tuyên bố về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam. Đây là những cơ sở pháp lý hết sức quan trọng để Việt Nam tiến hành đàm phán giải quyết vấn đề phân định vùng biển chồng lấn với các quốc gia có liên quan trong giai đoạn sau này. Cụ thể: Việt Nam đã ký Hiệp định về phân định ranh giới biển với Thái Lan vào ngày 09/8/1997 và hiệp định này chính thức có hiệu lực kể từ ngày 26/02/1998. Đây là hiệp định phân định biển đầu tiên mà Việt Nam ký kết với các quốc gia láng giềng và cũng là hiệp định phân định biển đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á sau khi Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 chính thức có hiệu lực vào ngày 16/11/1994. Cùng với hiệp định này, Việt Nam và Thái Lan cũng đã có thỏa thuận về việc tuần tra chung giữa hải quân hai nước vào năm 1998, góp phần quan trọng vào việc duy trì an ninh, trật tự, ổn định vùng biển giáp ranh giữa hai nước. Đối với Vịnh Bắc Bộ, ngày 25/12/2000, Việt Nam và Trung Quốc đã ký kết Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ; theo đó, về diện tích tổng thể: Việt Nam đạt 53,23% diện tích Vịnh, Trung Quốc đạt 46,77% diện tích Vịnh. Ngày 26/6/2003, sau 25 năm đàm phán, Việt Nam và Inđônêxia đã ký Hiệp định phân định thềm lục địa chồng lấn giữa hai nước và hiệp định chính thức có hiệu lực từ ngày 29/5/2007. Những hiệp định trên mang ý nghĩa quan trọng, góp phần khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam; đồng thời, tạo thuận lợi cho việc quản lý, khai thác các vùng biển và thúc đẩy hợp tác với các nước láng giềng. Đây là một minh chứng cho thấy, Đảng, Chính phủ, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm, chủ động, kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Trong thực tế, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta ngay lập tức thể hiện quan điểm kiên quyết phản đối những hành động xâm phạm của nước ngoài, quyết tâm bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Đồng thời, thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao để lên án những hành vi vi phạm chủ quyền trên biển, đảo Việt Nam. Cùng với đó, Việt Nam luôn chủ động, tích cực và kiên trì giải quyết từng bước những bất đồng tồn tại về biên giới lãnh thổ trên biển và đất liền với các nước liên quan, nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, góp phần củng cố hòa bình, an ninh khu vực; tăng cường vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Bằng trải nghiệm xương máu trong lịch sử về hậu quả của chiến tranh, chúng ta cực lực phản đối chiến tranh, xung đột dưới bất cứ hình thức nào. Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng nói chung, liên quan đến biển, đảo nói riêng bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, pháp luật quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Đồng thời, sẵn sàng về lực lượng, phương án, kiên quyết bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Đây là biện pháp thể hiện sự khôn khéo, mềm dẻo về sách lược, nhưng rất kiên quyết về nguyên tắc của Đảng và Nhà nước ta để đạt được mục tiêu đề ra, chứ không phải là “nhu nhược, hèn nhát”, “làm ngơ về Biển Đông” như những rêu rao xuyên tạc của các thế lực phản động, cơ hội chính trị.

Về vấn đề liên minh quân sự, trước hết, cần khẳng định quan điểm “bốn không” trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, đặc biệt là về vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc không hề mâu thuẫn với chủ trương: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam”. Thực tế minh chứng, nhờ nhất quán và thực hiện đúng đường lối đối ngoại này, Việt Nam đã tạo được sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đem lại lòng tin chiến lược - một nền tảng hết sức quan trọng cho các đối tác, các quốc gia trong quan hệ quốc tế. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, mặc dù Việt Nam đã nhận được sự giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa, bạn bè, nhân dân tiến bộ trên thế giới, nhưng chúng ta vẫn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, chính nghĩa, nên đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và thời đại - một nhân tố quan trọng giúp chúng ta giành thắng lợi. Đây là một trong những bài học được rút ra trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân ta. Vì vậy, muốn bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc và lợi ích quốc gia - dân tộc, phải nêu cao tính độc lập, tự chủ, không thể ảo tưởng trông chờ vào liên minh nào. Mặt khác, theo logic của vấn đề, lợi ích của việc liên minh quân sự chắc chắn phải đạt được từ hai phía: nước nhỏ có thể tránh được nguy cơ mất chủ quyền biển, đảo và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc mình trước một mối đe dọa nào đó từ bên ngoài, nhưng cái giá phải trả đó là sự “thế chấp” nào đó để nhận được những “cam kết” bảo vệ từ đồng minh. Đó là “luật chơi” thường thấy trong quan hệ quốc tế hiện nay. Như vậy, cả trên phương diện lý luận và thực tiễn đều khẳng định, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Việt Nam là phải tự lực, tự cường, “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, dựa vào sức mình là chính, song luôn tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè và cộng đồng quốc tế, nhân dân tiến bộ trên thế giới để bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm xây dựng lực lượng vũ trang nói chung, Hải quân nhân dân Việt Nam nói riêng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, làm nòng cốt trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Đây cũng là sự khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta để đập lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động. Theo đó, chúng ta chủ trương bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; trong đó, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại làm nòng cốt. Và từ năm 2010, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã xác định Hải quân nhân dân Việt Nam là lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Vì thế, lực lượng Hải quân được ưu tiên đầu tư cả về vũ khí, trang thiết bị và con người. Với việc tiếp nhận, huấn luyện làm chủ và đưa vào khai thác sử dụng nhiều loại tàu, vũ khí trang thiết bị hiện đại, đến nay Hải quân nhân dân Việt Nam đã có đủ năm thành phần lực lượng: tàu mặt nước; tàu ngầm; không quân Hải quân; pháo binh - tên lửa bờ; hải quân đánh bộ, đặc công Hải quân và lực lượng phòng thủ đảo. Cùng với đó, với truyền thống xây dựng, chiến đấu, trưởng thành gần 70 năm qua và những chiến công oanh liệt trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, Bộ đội Hải quân luôn vững vàng về lập trường, kiên định về lý tưởng, có tư duy sáng tạo, quyết đánh và quyết thắng, chắc chắn sẽ là những quả đấm thép, đủ sức cùng các lực lượng bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo. Điều này, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc về sức mạnh, ý chí chiến đấu của lực lượng Hải quân Việt Nam.

Bảo vệ chủ quyền biển, đảo là nhiệm vụ thiêng liêng; trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, của cả hệ thống chính trị và phải tiến hành đồng bộ các chủ trương, giải pháp. Trong đó, cần nhận rõ, kiên trì, kiên quyết đấu tranh với những chiêu trò xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị; góp phần làm cho cộng đồng quốc tế hiểu rõ, đúng; phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc./.

ST.

Vạch trần sự sai trái của luận điểm “Chủ nghĩa Mác đã cáo chung”

Trước sự thoái trào tạm thời của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới ở cuối thế kỷ XX, các thế lực thù địch, phản động ra sức cổ vũ cho luận điểm “Chủ nghĩa Mác đã cáo chung”(!). Tuy nhiên, thực tiễn sinh động của thế giới và Việt Nam ngày nay lại chứng tỏ chủ nghĩa Mác vẫn tràn đầy sức sống. 

Xuyên tạc, phủ nhận giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác là một thủ đoạn thường trực của các thế lực thù địch, phản động. Ngay từ khi chủ nghĩa Mác xuất hiện trên vũ đài chính trị thế giới với bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (năm 1848), các thế lực trong thế giới tư bản đã tỏ rõ nỗi sợ hãi và sự căm thù đối với phong trào cộng sản đang hình thành và ngày một phát triển sâu rộng trước ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác, coi đó như “Một bóng ma đang ám ảnh châu Âu”. “Bóng ma” ấy đã khiến cho các thế lực trong thế giới tư bản phải “liên hợp lại thành một liên minh thần thánh để trừ khử”, như C. Mác và Ph. Ăngghen chỉ ra khi nói về bối cảnh ra đời Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản.

Sở dĩ chủ nghĩa Mác chịu nhiều sự công kích của các thế lực thù địch, phản động, bởi lý luận của C. Mác đụng chạm đến “cái tín điều” bất khả xâm phạm của chủ nghĩa tư bản là chế độ tư hữu. Đúng như giáo sư Terry Eagleton (Trường Đại học Tổng hợp Lancaste của nước Anh) đã khẳng định: “Chủ nghĩa Mác, từ bao lâu nay vẫn là sự phê phán phong phú nhất về mặt lý luận, không khoan nhượng nhất về mặt chính trị đối với hệ thống tư bản chủ nghĩa”. Trước sự kiện chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ vào cuối thế kỷ XX; cùng với đó là những biểu hiện thích nghi mới của chủ nghĩa tư bản hiện đại, sự công kích của các thế lực thù địch, phản động càng trở nên quyết liệt. Họ hoan hỷ tuyên bố về “sự cáo chung của chủ nghĩa Mác” và cho rằng: “chủ nghĩa Mác giờ đây đã chết, không cần phải nhắc đến nữa”(!).

Ở Việt Nam, hùa theo các thế lực thù địch, phản động ở nước ngoài, các thế lực thù địch, phản động và “trở cờ” ở trong nước cũng lợi dụng mạng xã hội để tung ra các bài viết với mọi lý lẽ xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác. Họ “khuyên” Đảng ta từ bỏ chủ nghĩa Mác, không nên lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng, vì theo họ “chủ nghĩa Mác đã cáo chung, không còn giá trị chỉ đạo thực tiễn”(!), v.v. Mục tiêu nhất quán của các lý lẽ sai trái nói trên đều nhằm mục đích tạo ra khoảng trống ý thức hệ trong cán bộ, đảng viên của Đảng, cũng như trong toàn xã hội, để từ đó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng và trong xã hội, tiến tới làm tan rã Đảng ta, đưa nước ta phát triển theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Trước tác động từ những luận điệu xuyên tạc, sai trái này, ở những mức độ khác nhau, đã có một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân dao động, thậm chí có biểu hiện mất niềm tin vào chủ nghĩa Mác – Lênin. Do vậy, đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác, vạch trần sự sai trái của các luận điểm xuyên tạc, phủ định chủ nghĩa Mác là hết sức cần thiết, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Trước hết, cần khẳng định rằng, cho đến ngày nay, chủ nghĩa Mác vẫn là lý luận khoa học và cách mạng nhất, có giá trị nhất trong việc luận giải các vấn đề cơ bản của thời đại. Ngay cả Brêdinxki, tác giả cuốn sách “Thất bại lớn - sự hưng vong của chủ nghĩa cộng sản thế kỷ XX”, người rất căm ghét chủ nghĩa Mác, cũng phải thừa nhận giá trị của chủ nghĩa Mác, khi viết rằng: “Khái niệm về phép biện chứng lịch sử xem chừng là phương pháp giá trị nhất để xử lý các mâu thuẫn hiện thực”. Đúng như vậy, với hai phát kiến vĩ đại là chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết về giá trị thặng dư, C. Mác đã thực hiện những cuộc cách mạng triệt để trong lĩnh vực triết học và kinh tế chính trị học. Bằng việc sử dụng phép duy vật biện chứng, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, chủ nghĩa Mác đã vạch ra những quy luật cơ bản chi phối sự vận động và phát triển của xã hội loài người. Đó là: quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; cơ sở kinh tế - xã hội quyết định kiến trúc thượng tầng của xã hội; tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên. Cũng lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, C. Mác đã tìm ra quy luật vận động riêng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và của xã hội tư sản do phương thức đó đẻ ra - quy luật giá trị thặng dư. Đồng thời, trên cơ sở phân tích khách quan, khoa học những điều kiện kinh tế của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, cũng như những điều kiện chính trị - xã hội trong xã hội tư bản, C. Mác đã lần đầu tiên phát hiện ra và làm sáng tỏ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân - giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, có đủ năng lực, phẩm chất để thực hiện sứ mệnh giải phóng chính bản thân mình, tiến tới giải phóng toàn thể nhân loại.

Mặc dù thế giới ngày nay đã có nhiều thay đổi, song những quy luật mà chủ nghĩa Mác đã phát hiện và khái quát vẫn còn nguyên giá trị chỉ đạo thực tiễn. Phản bác lại luận điểm cho rằng: “Hệ thống tư bản chủ nghĩa đã thay đổi nhiều đến mức không còn nhận biết được nữa so với thời của Mác, và do đó những tư tưởng của Mác không còn phù hợp nữa”, Terry Eagleton đã nhận định: “bản thân Mác luôn ý thức được bản chất không ngừng vận động của cái hệ thống mà ông phản bác” và rằng: “Chính những cái tưởng như giúp đả phá chủ nghĩa Mác lại cũng làm tăng thêm niềm tin vào những khẳng định của chủ nghĩa Mác. Nó được đẩy đến cực điểm bởi vì trật tự xã hội mà chủ nghĩa Mác đương đầu, thay vì trở nên nhân từ và ôn hòa hơn, thì lại trở thành tàn nhẫn và cực đoan hơn bao giờ hết. Và chính điều này làm cho sự phê phán của Mác đối với toàn bộ hệ thống tư bản chủ nghĩa thành đúng đắn hơn”. Các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu trong những năm 2007 và 2008 xuất phát từ các nước tư bản; phong trào “Chiếm phố Uôn” với biểu ngữ “99% người nghèo chống lại 01% người giàu” lan rộng ở nhiều nước tư bản phát triển trong những năm 2009 và 2011 đã chứng minh cho phát hiện của C. Mác về những mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản vẫn còn nguyên giá trị và nhận định nói trên của Terry Eagleton là hoàn toàn đúng đắn. Trong thời gian này, nhiều người trong thế giới tư bản đã quay lại tìm đọc Mác; nhiều trung tâm nghiên cứu về C. Mác và nhiều cuộc hội thảo về C. Mác đã được tổ chức ở các nước tư bản. “Tư bản luận” đã trở thành sách bán chạy ở Pháp, Đức, Anh, Italia, Nhật Bản, v.v. Giải thích cho hiện tượng đó, nhà sử học người Anh Erích Hoxbon đã nói rằng: “Chính là những người tư bản, chứ không phải ai khác, đã tái phát hiện Mác” và “Việc quay trở lại đọc Mác có nghĩa là thế giới cần phải nghiên cứu học thuyết của ông về chủ nghĩa tư bản, và về vị trí của học thuyết đó trong sự phát triển của xã hội loài người”. Một số học giả tư sản cũng đã tiên đoán về thế kỷ XXI vẫn là thế kỷ của chủ nghĩa Mác và kêu gọi nhân loại hãy “Trở về với Mác”, rằng nhân loại “không có tương lai nếu không có Mác, nếu không có các di sản của Mác”. Những thực tiễn đó là minh chứng sống động bác bỏ luận điểm cho rằng “chủ nghĩa Mác đã cáo chung” và chứng tỏ chủ nghĩa Mác vẫn là lời giải cho thế giới hiện thực.

Thứ hai, thực tiễn sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu những năm cuối thế kỷ XX không đồng nghĩa với “sự cáo chung” của chủ nghĩa Mác. Đây chỉ là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội cụ thể, mà nguyên nhân căn bản lại xuất phát từ chủ nghĩa giáo điều, xét lại và những sai lầm trong đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức của đảng cầm quyền, cùng sự phản bội của một số người lãnh đạo cao nhất ở Liên Xô thời kỳ đó đối với những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Sau gần 20 năm Liên Xô sụp đổ, công trình “Bí ẩn diệt vong của Liên Xô - lịch sử những âm mưu và phản bội 1945 - 1991” của A.P. Sheviakin đã công bố lời thú nhận của M.S. Gorbachev tại Trường Đại học Mỹ ở Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1999 rằng: “Mục tiêu của toàn bộ cuộc đời tôi là tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản… Khi trực tiếp làm quen với phương Tây, tôi đã hiểu rằng tôi không thể từ bỏ mục tiêu chống cộng sản đặt ra”. Điều đó cho thấy, sự thoái trào tạm thời của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới không có nguyên nhân từ bản thân chủ nghĩa Mác; không đánh dấu “sự cáo chung” của chủ nghĩa Mác. Mặt khác, chính sự kiện này lại chứng tỏ: đảng nào xa rời những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, thì đảng đó không còn là đảng mácxít lêninnít chân chính và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nơi đó nhất định thất bại.

Thứ ba, thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh rõ: chủ nghĩa Mác  Lênin là ngọn đèn soi sáng con đường đấu tranh giành độc lập, tự do và đi lên chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta; là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta. Nhìn lại lịch sử cách mạng nước ta từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX có thể thấy, chỉ đến khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tiếp cận được chủ nghĩa Mác – Lênin và truyền bá vào Việt Nam, kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước để lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, thì mới kết thúc được thời kỳ khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước của dân tộc ta, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã làm nên Cách mạng Tháng Tám thành công, giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc; và ngày nay, đang trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội với tư duy đổi mới. Đại hội VII của Đảng ta đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”; đồng thời, nhấn mạnh đến bài học kinh nghiệm rút ra qua thực tiễn cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay là: “Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo và góp phần phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Tại Đại hội XIII, một trong năm bài học kinh nghiệm được Đảng ta rút ra qua nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội XII và cũng là quan điểm chỉ đạo hàng đầu trong thực hiện đường lối đổi mới trong giai đoạn tới là “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Nhờ có sự kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”. Từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến, không có tên trên bản đồ thế giới, ngày nay nước ta đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, có quan hệ ngoại giao với hầu hết các quốc gia thành viên Liên hợp quốc; đã thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược và Đối tác toàn diện với gần 30 nước, bao gồm cả 05 nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; có quan hệ kinh tế - thương mại và đầu tư với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ; là thành viên của nhiều định chế kinh tế quốc tế lớn; 02 lần đảm nhận vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; 02 lần được bầu làm Ủy viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc và còn đảm nhận nhiều trọng trách quan trọng trong các tổ chức quốc tế khác. Nước ta đã ra khỏi tình trạng nước kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình với quy mô và tiềm lực kinh tế không ngừng tăng lên. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta không chỉ luôn kiên định lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, mà còn góp phần làm phong phú thêm lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin; nhất là những vấn đề về con đường cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, về mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước có nền kinh tế chậm phát triển, v.v.

Những thành tựu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở những nước đang đi theo con đường xã hội chủ nghĩa nói chung, ở Việt Nam nói riêng; cùng với những nỗ lực đấu tranh bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin của các đảng cộng sản và công nhân thế giới hiện nay là minh chứng sinh động bác bỏ sự sai trái của luận điểm “chủ nghĩa Mác đã cáo chung”; đồng thời, khẳng định sức sống bất diệt của chủ nghĩa Mác trong thời đại ngày nay./.

ST.

Không thể tách rời kinh tế với quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Kết hợp kinh tế với quốc phòng là nội dung quan trọng trong đường lối phát triển đất nước của Đảng ta, nhằm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, vấn đề này đang chịu những tác động tiêu cực từ âm mưu, hoạt động chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch và từ chính nhận thức, hành động chưa đúng của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân; đòi hỏi phải có nhiều hình thức, biện pháp đấu tranh bác bỏ.

Kết hợp kinh tế với quốc phòng là vấn đề có tính quy luật nhằm bảo đảm sự tồn tại và phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc. Nó nảy sinh từ mối quan hệ giữa kinh tế với chiến tranh, kinh tế với quốc phòng, giữa xây dựng và bảo vệ đất nước; là phương thức hiệu quả để vừa nâng cao tiềm lực kinh tế, vừa tăng cường tiềm lực quốc phòng của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, kết hợp kinh tế với quốc phòng còn là sự tiếp nối truyền thống, quy luật đặc thù của lịch sử dân tộc: dựng nước đi đôi với giữ nước; là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Và thực tiễn cũng cho thấy, những năm qua, thực hiện chủ trương của Đảng, việc kết hợp kinh tế với quốc phòng được các cấp, ngành, lực lượng, địa phương thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, góp phần đưa đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách để phát triển nhanh, bền vững.

Tuy nhiên, hiện nay đang tồn tại những vấn đề tác động tiêu cực, cản trở quá trình kết hợp kinh tế với quốc phòng của đất nước. Trước hết là âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Nổi bật là sự xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về kết hợp kinh tế với quốc phòng; kích động, cổ súy tư tưởng phát triển kinh tế bằng mọi giá; lợi dụng quá trình mở cửa, kêu gọi đầu tư nước ngoài của nước ta để tiếp cận những ngành, lĩnh vực, vị trí có ý nghĩa chiến lược về quốc phòng; thông qua giúp đỡ, viện trợ kinh tế, đầu tư vốn, chuyển giao công nghệ cho Việt Nam để đặt ra các điều kiện và gây sức ép về chính trị, từng bước chuyển hóa Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa, v.v. Cùng với đó, vẫn còn hiện tượng một số cán bộ nhận thức mơ hồ cả về lý luận và thực tiễn đối với quan điểm kết hợp kinh tế với quốc phòng; một số địa phương buông lỏng quản lý, mất cảnh giác, kém hiệu quả trong việc gắn kết giữa phát triển kinh tế với củng cố, tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh, nhất là việc thẩm định, cấp phép cho các dự án tại các vùng chiến lược trọng điểm. Nguy hiểm hơn, có những cán bộ cố tình làm sai sự hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan chức năng, thậm chí vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kết hợp kinh tế với quốc phòng để thực hiện các dự án kinh tế nhằm phục vụ lợi ích nhóm, trục lợi cá nhân, v.v. Những nhận thức, hành động đó, dù cố tình hay vô ý đều đi ngược với quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; làm tổn hại lợi ích quốc gia, dân tộc; là lực cản đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cơ sở lý luận và thực tiễn

Cả lý luận và thực tiễn cho thấy, kinh tế, quốc phòng, an ninh tồn tại khách quan trong đời sống xã hội và có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại với nhau; trong đó, sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, các lĩnh vực khác của đời sống xã hội tác động trở lại kinh tế. Vì thế, việc kết hợp kinh tế với quốc phòng trở thành vấn đề có tính quy luật chung của các quốc gia trên thế giới.

Nhìn vào tiến trình phát triển của các quốc gia trên thế giới chúng ta thấy, dù là nước lớn hay nước nhỏ, trình độ phát triển kinh tế, chế độ chính trị có thể khác nhau, nhưng tất cả các quốc gia đều chăm lo thực hiện gắn phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh, kể cả những nước mà hằng trăm năm nay chưa có chiến tranh. Tất nhiên, sự kết hợp đó ở mỗi quốc gia sẽ có những khác biệt về mục đích, nội dung, phương thức, kết quả và ngay trong một nước, ở mỗi giai đoạn phát triển thì sự kết hợp cũng khác nhau. Điều này được thể hiện rõ nét khi hầu hết các nước phát triển đều quy định: chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội, đối ngoại đều phải được thông qua hội đồng quốc phòng, an ninh quốc gia và phải đáp ứng các yêu cầu của chiến lược an ninh quốc gia. Các nước đều rất chú trọng xây dựng khung khổ pháp lý cho việc gắn phát triển kinh tế - xã hội, quan hệ đối ngoại với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh. Nhiều quốc gia đặc biệt coi trọng những yêu cầu về quốc phòng, an ninh trong xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình đô thị, trụ sở, nơi làm việc của các cơ quan đầu não, các cơ sở sản xuất trọng yếu, then chốt; lồng ghép các hoạt động nghiên cứu phát triển cho cả mục đích dân sự, quân sự trong các cơ sở nghiên cứu phát triển của cả dân sự và quân sự; gắn đào tạo nhân lực cho nhu cầu quân sự, quốc phòng trong các nhà trường dân sự. Đặc biệt, các nước luôn coi trọng phát triển công nghiệp cả dân sự và quốc phòng theo hướng lưỡng dụng, điển hình là Mỹ, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc. Hiện nay, ở Nhật có hơn 1.500 xí nghiệp tham gia sản xuất trang bị quân sự, với khoảng 70.000 công nhân, chiếm khoảng 0,1% tổng số công nhân trên toàn quốc1. Tổ hợp công nghiệp quốc phòng ở Mỹ có khả năng chế tạo các sản phẩm đa dạng, phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau, từ trang bị vũ khí đến hàng tiêu dùng hoặc các dịch vụ có công dụng quân sự, như: vận tải, xăng dầu, thiết bị điện tử. Ở Nga, tổ hợp công nghiệp quốc phòng có khả năng vừa chế tạo vũ khí trang bị và các phương tiện quân sự, vừa tạo ra các sản phẩm công nghiệp dân dụng cao, chiếm tới 70% toàn bộ sản phẩm ngành công nghiệp. Điều đó khẳng định, kết hợp kinh tế với quốc phòng là yêu cầu, xu thế chung trên toàn thế giới.

Kết hợp kinh tế với quốc phòng trong lịch sử dân tộc Việt Nam

Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, kể từ khi các Vua Hùng dựng nước đến nay, đất nước ta luôn luôn bị các thế lực ngoại bang nhòm ngó, xâm lăng. Nếu chỉ tính từ năm 214 trước Công nguyên đến năm 1945, trước khi Cách mạng Tháng Tám thành công, dân tộc ta đã trải qua hơn 2.000 năm luôn phải tiến hành các cuộc chiến đấu chống ngoại xâm. Trong điều kiện lịch sử như vậy, một trong những bài học quý báu mà tổ tiên ta đúc rút ra là dựng nước luôn gắn liền với giữ nước, với những tư tưởng: “thực túc, binh cường”, “quốc phú binh cường”,… chú trọng kết hợp xây dựng, phát triển kinh tế, chăm lo đời sống của nhân dân với xây dựng, củng cố quốc phòng, chuẩn bị nguồn lực động viên cho quốc phòng vững mạnh; thực hiện huy động vật lực của toàn dân, của cả nước để đánh giặc. Các triều đại phong kiến Việt Nam đã ban hành và thực hiện một số chính sách lớn (có thế nói là quốc sách), như: “Ngụ binh ư nông”, “tĩnh vi nông, động vi binh”, v.v. Khi hòa bình là nông dân, khi có chiến tranh được huy động để bổ sung cho quân đội. Chính sách “Ngụ binh ư nông” là một cơ chế hoàn thiện về mặt động viên và sử dụng nhân lực trong việc xây dựng lực lượng vũ trang phòng giữ đất nước, xây dựng tiềm lực quốc phòng mạnh trên cơ sở phát triển kinh tế với củng cố lực lượng quân sự. Với việc thực hiện nhiều chủ trương, chính sách, nhất là chính sách “Ngụ binh ư nông”, các triều đại phong kiến Việt Nam đã xây dựng được nguồn nhân lực động viên từ thời bình phù hợp với khả năng của đất nước, để khi có chiến tranh, huy động kịp thời nhằm bảo vệ Tổ quốc. Điều đó khẳng định rằng, tuy còn sơ khai, song việc kết hợp kinh tế với quốc phòng đã được cha ông ta quan tâm thực hiện từ rất sớm; là phương thức cốt yếu để vừa bảo đảm đời sống ấm no cho nhân dân, vừa giữ cho đất nước hòa bình, ổn định và phát triển.

Quan điểm của Đảng về kết hợp kinh tế với quốc phòng

Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh là quan điểm xuyên suốt, chủ trương nhất quán của Đảng, được bổ sung, phát triển phù hợp với điều kiện thực tế qua các kỳ đại hội. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại”2. Thực hiện chủ trương mỗi bước phát triển kinh tế - xã hội là một bước tăng cường quốc phòng, an ninh, những năm qua, việc kết hợp kinh tế với quốc phòng trên phạm vi cả nước đã được thực hiện ngày càng toàn diện, chặt chẽ, đồng bộ, trách nhiệm và hiệu quả hơn. Điều đó được thể hiện ngay từ khâu xây dựng chiến lược, quy hoạch vùng, lãnh thổ, các ngành, lĩnh vực; các kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn; trong từng công trình, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,... đều gắn với quy hoạch tổng thể xây dựng thế trận quân sự trong khu vực phòng thủ. Các địa phương, nhất là ở địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo đã coi trọng quy hoạch phân bố dân cư, phát triển lực lượng dân phòng cùng các tổ, đội liên kết của ngư dân,... bảo đảm mục tiêu vừa phát triển kinh tế - xã hội, vừa tăng cường quốc phòng, an ninh bảo vệ vững chắc địa bàn biên giới, biển, đảo. Các đơn vị Quân đội vừa bảo đảm huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, vừa tham gia phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng đời sống văn hóa trên địa bàn đóng quân, v.v. Các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng, bên cạnh việc sản xuất sản phẩm phục vụ nhu cầu quốc phòng còn tận dụng tiềm năng, thế mạnh tham gia sản xuất các mặt hàng phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội. Điển hình như những doanh nghiệp trong lĩnh vực đóng và sửa chữa tàu, cơ khí, hóa chất, điện - điện tử, quang học với nhiều sản phẩm uy tín, có thương hiệu và hội nhập sâu rộng vào thị trường trong nước, khu vực và thế giới. Tổng Công ty Sông Thu, Công ty đóng tàu Hồng Hà, Nhà máy Z189 đã đóng được nhiều loại tàu, xuồng hiện đại phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu sang thị trường châu Âu, châu Mỹ. Nhiều nhà máy đã bứt phá mạnh mẽ với các sản phẩm quốc phòng mũi nhọn và sản phẩm phục vụ nhu cầu thị trường. Trong đó, Nhà máy Z176 đã và đang là “lá cờ đầu” trong việc sản xuất sản phẩm kinh tế xuất khẩu (hiện xuất khẩu chiếm hơn 80% tổng doanh thu), v.v. Những kết quả từ sự kết hợp đó đã góp phần trực tiếp tăng cường sức mạnh quốc phòng của đất nước; đồng thời, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế đất nước nhanh, bền vững.

Đó là những cơ sở để khẳng định tính tất yếu, khách quan phải kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng trong mọi giai đoạn phát triển, nhằm mục tiêu xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Đó cũng là những minh chứng sống động bác bỏ những nhận thức và hành động đòi tách rời kinh tế với quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

ST.