Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2025

Trò lố xuyên tạc phiên tòa xét xử bị cáo Lưu Bình Nhưỡng và Lê Thanh Vân

Ngay sau khi TAND tỉnh Thái Bình mở phiên tòa sơ thẩm xét xử bị cáo Lưu Bình Nhưỡng - cựu đại biểu Quốc hội, cựu Phó trưởng Ban Dân nguyện thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội; bị cáo Lê Thanh Vân - cựu đại biểu Quốc hội, cựu Ủy viên thường trực Ủy ban Ngân sách Quốc hội cùng 3 bị cáo, các thế lực thù địch, phản động đã lợi dụng vụ án trên để tung ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, chỉ trích cơ quan tiến hành tố tụng.

Tái diễn trò lố

Căn cứ hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, căn cứ tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các quy định của pháp luật, HĐXX tuyên phạt bị cáo Lưu Bình Nhuỡng 3 năm tù về tội "Cưỡng đoạt tài sản", 10 năm tù về tội "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi", tổng hợp hình phạt 13 năm tù giam; tuyên phạt bị cáo Lê Thanh Vân 7 năm tù về tội "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi".

image001.jpg -0
Các bị cáo tại phiên toà xét xử sơ thẩm.

Theo đánh giá của HĐXX, trong quá trình xét xử, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, thể hiện sự ăn năn, hối lỗi; đồng thời mong được hưởng sự khoan hồng của pháp luật. Tại phiên tòa, các cơ quan báo chí trong nước cũng đã đưa tin kịp thời, khách quan. Thế nhưng các thế lực thù địch, số đối tượng phản động ở hải ngoại lại ra sức lu loa, kêu thuê, khóc mướn, tìm cách “tung hoả mù” nhằm chính trị hóa bản án hình sự.

Chúng cố tình đánh tráo khái niệm, đánh tráo bản chất vụ án, chèo lái dư luận theo hướng tiêu cực. Các thế lực xấu đưa ra những bài viết tôn vinh ông Lưu Bình Nhưỡng, Lê Thanh Vân là “những đại biểu cuối cùng vì dân”, cổ xuý ông Nhưỡng, ông Vân là những “vị anh hùng”, “người đấu tranh cho công lý”, “những nhà bất đồng chính kiến tiêu biểu”…

Các đối tượng trích lại những phát biểu, ý kiến của các bị cáo khi đang làm đại biểu Quốc hội với lời lẽ ca ngợi, tôn sùng, cho rằng vì trách nhiệm trước dân, phát biểu thẳng thắn, đụng chạm nên nay phải vào tù! Có đối tượng khóc mướn rằng, sau khi hai ông này bị bắt, “giờ đây Việt Nam không còn đại biểu của nhân dân đấu tranh cho lẽ phải”. Từ đó vu cáo rằng việc phạt tù đối với các bị cáo “là việc làm sai trái xảy ra trong môi trường tư pháp không độc lập”!

Trước đó, vào thời điểm CQĐT khởi tố ông Lưu Bình Nhưỡng, ông Lê Thanh Vân, các đối tượng thù địch, phản động còn cố tình vẽ ra đủ thứ lý do để nguỵ biện việc ông Nhưỡng, ông Vân bị bắt, kiểu như“có ân oán với lực lượng thực thi pháp luật”, “dám phát biểu vượt qua lằn ranh đỏ”... Có đối tượng đưa ra thuyết âm mưu rằng “phải là một mưu đồ chính trị đằng sau vụ án”, cố tình bẻ lái dư luận theo hướng mị dân “các ông bị bắt đồng nghĩa với việc người dân yếu thế mất đi một chỗ dựa, mất đi một nơi gửi đơn kêu oan”…

Các thế lực thù địch, phản động suy diễn, biến một vụ án hình sự thành vụ “tấn công người bảo vệ công lý”; vu khống “Việt Nam lợi dụng pháp luật để áp tội tùy tiện, trù dập những đại biểu của dân”; rằng “xứ cộng sản không cho phép phản biện, tất cả những người phản biện đều bị xem là phản động”; “sống dưới chế độ độc tài thì người dân bị tước quyền tự do ngôn luận, không được hưởng dân chủ, nhân quyền”. Một số bài viết bẻ lái, áp đặt cho đó là “vi phạm nhân quyền”, “vi phạm dân chủ”, xuyên tạc “tranh giành quyền lực”, “thanh trừng phe nhóm”, “mâu thuẫn lợi ích”… Thậm chí, chúng giả vẻ lo lắng cho tương lai của đất nước, đưa ra những dấu hỏi “không biết Việt Nam rồi sẽ đi về đâu”!

Thực chất, các luận điệu trên vốn dĩ không phải là chiêu trò mới mà được biến tấu, nhào nặn, diễn đi diễn lại nhiều lần. Từ trước đến nay, lợi dụng các đối tượng phạm tội bị bắt, phải chấp hành án hình sự mà những người này trước đó có ảnh hưởng nhất định tới cộng đồng xã hội thì các tổ chức, hội nhóm phản động tận dụng khai thác, thổi phồng tạo điểm nóng, bóp méo sự thật, đưa ra nhiều bài viết, video, hình ảnh xuyên tạc, cố tình công kích Đảng, Nhà nước, chế độ. Thậm chí các thế lực thù địch, phản động còn tổ chức hội luận, livestream để thu hút dư luận, phục vụ cho mưu đồ chống phá.

Một số vụ án đơn lẻ bị chúng thổi phồng, suy diễn, lái vụ việc sang hướng khác rồi quy kết thành những vấn đề chính trị của đất nước. Qua sự nhào nặn của các thế lực thù địch, những tồn tại, hạn chế trong đời sống xã hội luôn bị khuếch đại, thổi phồng, còn những ưu việt thì bị ngó lơ. Trong đó nhiều vụ án hình sự bị các thế lực thù địch “chính trị hóa”, triệt để lợi dụng để chống phá Đảng, Nhà nước.

Đối với các vụ án liên quan cán bộ trong bộ máy Đảng, Nhà nước thì chúng thường quy chụp, đồng nhất sai phạm của bị can, bị cáo thành bản chất của Đảng, biến sự suy thoái của cá nhân thành lỗi của cả hệ thống chính trị rồi cho rằng nước ta mất ổn định chính trị, bôi nhọ Việt Nam trên trường quốc tế, kêu gọi sự can thiệp bên ngoài vào công việc nội bộ. Mục đích của các thế lực thù địch là hạ bệ, bôi lem nền tư pháp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam.

Bản án khách quan, hợp lý

Dư luận trong nước không xa lạ đối với ông Lưu Bình Nhưỡng, ông Lê Thanh Vân bởi trước khi bị truy tố, xét xử, hai ông được biết đến là đại biểu Quốc hội có nhiều phát biểu tranh luận tại nghị trường liên quan đến các vấn đề “nóng” của xã hội. Tuy nhiên, các ông thường có những phát ngôn gây sự chú ý, quan tâm theo dõi của mọi người không chỉ ở nội dung chất vấn mà cả thái độ chất vấn, thậm chí có những phát ngôn mang tính chỉ trích thiếu căn cứ, làm dư luận hiểu sai lệch nội dung sự việc và những phát ngôn đó bị các thế lực thù địch, phần tử cơ hội lợi dụng bình luận xuyên tạc, tạo cớ để để chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Về phiên toà xét xử đối với hai bị cáo Lưu Bình Nhưỡng, Lưu Thanh Vân, cáo trạng cho thấy, bị cáo Lưu Bình Nhưỡng đã 4 lần thực hiện hành vi phạm tội và nhiều lần nhận tiền, quà cảm ơn. Cụ thể, ông Nhưỡng đã nhận 210 triệu đồng và 300.000 USD, một lô đất ở huyện Đông Anh, Hà Nội; được hứa tặng một lô đất hơn 1.000m2 ở Quảng Ninh. Bị cáo Lê Thanh Vân đã 2 lần thực hiện hành vi phạm tội; nhận 60 triệu đồng, một lô đất ở huyện Đông Anh, Hà Nội và được hứa tặng một lô đất ở Quảng Ninh. Lấy danh nghĩa đại biểu Quốc hội, hai bị cáo đã nhiều lần gọi điện, tác động cơ quan chức năng theo hướng có lợi cho người quen, từ đó nhận nhiều vật chất bất hợp pháp, phục vụ cho lợi ích của bản thân.

Trong phần tự bào chữa tại tòa, bị cáo Lưu Bình Nhưỡng và Lê Thanh Vân bày tỏ sự ăn năn hối lỗi trước HĐXX về hành vi của mình. Bị cáo Lưu Bình Nhưỡng cho biết, trong hơn 1 năm bị tạm giam, ông đã nỗ lực cải tạo một cách quyết liệt để “gột rửa những việc mình đã phạm phải”. Ông Lưu Bình Nhưỡng cũng mong được “nhân dân cả nước lượng thứ” về những lỗi lầm của mình. Cả hai bị cáo đều mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật.

Đại diện Viện Kiểm sát đánh giá, là đại biểu Quốc hội được cử tri bầu ra, đáng lẽ phải thượng tôn, gương mẫu trong chấp hành quy định pháp luật, có đạo đức liêm chính, lối sống lành mạnh song hai ông Nhưỡng, ông Vân đã không đại diện cho tiếng nói nhân dân một cách công tâm, khách quan, phản bội lại niềm tin mà nhân dân và cử tri cả nước gửi gắm. Xét thấy các bị cáo có trình độ học vấn, am hiểu pháp luật nhưng vì lợi ích vật chất đã thực hiện hành vi phạm tội để trục lợi, cần xử lý nghiêm. Song khi luận tội, đại diện Viện Kiểm sát cho hay đã xem xét các yếu tố giảm nhẹ, việc khắc phục hậu quả, những cống hiến, đóng góp của ông Nhưỡng, ông Vân trong các khóa làm đại biểu Quốc hội để đề nghị mức án phù hợp.

Như vậy, hành vi phạm tội của hai bị cáo đã được cáo trạng nêu rõ và thể hiện đầy đủ qua quá trình xét xử, không hề liên quan gì đến dân chủ, nhân quyền, không liên quan “phát ngôn nghị trường” như luận điệu của các thế lực xấu. Sự thật, mọi luận điệu cổ xúy, tán dương cho những người vi phạm pháp luật, phạm tội là những vở kịch gượng gạo, lố bịch. Do vậy, mọi người cần hết sức cẩn trọng với các thông tin sai lệch trên Internet, mạng xã hội, không để rơi vào cái bẫy do các thế lực giăng ra, không chia sẻ thông tin sai trái, độc hại./.

ST.

Cần thống nhất nhận thức về kỷ nguyên mới, phản bác các quan điểm sai lệch

Vừa qua, trong nhiều bài phát biểu, bài viết quan trọng, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ việc xác lập tư duy, lý luận mới về kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị lập tức tung ra các quan điểm sai trái, xuyên tạc chống phá.

Do đó, cần nhận diện, đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái, thù địch nhằm nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

kn.jpg -0
Hội nghị Trung ương 10, khóa XIII khẳng định, với tiềm lực đạt được, đất nước ta đã hội tụ đủ những điều kiện cần thiết để bước vào kỷ nguyên mới.

Nhận thức rõ nội hàm về kỷ nguyên mới

Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 10, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Với thế và lực đã tích luỹ được sau 40 năm đổi mới, với sự đồng lòng, chung sức của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, với những thời cơ, thuận lợi mới, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, chúng ta đã hội tụ đủ những điều kiện cần thiết và văn kiện Đại hội XIV phải đề ra được định hướng chiến lược, nhiệm vụ, giải pháp quan trọng để giải phóng toàn bộ sức sản xuất, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, lấy nguồn lực nội sinh, nguồn lực con người là nền tảng, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là đột phá để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam”. Cùng với đó, trong nhiều bài viết, bài phát biểu quan trọng, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định sự thống nhất của Trung ương khi đánh giá về thế và lực của đất nước sau 40 năm đổi mới; xác lập tư duy, lý luận mới về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

Thời gian qua, nhân cơ hội này, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị lập tức tung ra các quan điểm sai trái, thù địch nhằm bôi nhọ, xuyên tạc các khái niệm, nội hàm cũng như mục đích, ý nghĩa vấn đề trên. Tinh vi hơn, dưới chiêu bài “hội luận”, đóng góp ý kiến, chúng tung ra quan điểm khác biệt, trái chiều, giả danh “dân chủ”, “khoa học” để gây nhiễu… Từ đó, các thế lực xấu nhằm hướng lái, tạo ra nhận thức sai trái, lệch lạc về kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam cũng như xuyên tạc, đả phá những định hướng chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương và của đồng chí Tổng Bí thư.

Những quan điểm của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị luôn có tư tưởng chống phá, chúng đưa ra những quan điểm trái ngược, có tính ngụy biện nhằm tạo sự mơ hồ, dao động về lập trường tư tưởng, nhận thức của người dân về kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Đồng thời, chúng hướng lái, tác động hòng làm suy giảm niềm tin, ý chí của cán bộ, đảng viên và nhân dân về những định hướng chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, của người đứng đầu Đảng ta. Đây là âm mưu nguy hiểm trong bối cảnh đất nước ta bước sang năm 2025 - năm cuối cùng trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, giai đoạn “tăng tốc về đích” cần tập trung mọi nguồn lực, phát huy mọi động lực để hoàn thành những mục tiêu đề ra. Những quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch nếu không được ngăn ngừa sẽ tác động đến nhận thức, tư tưởng, ý chí, niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân nên cần phải nhận diện và có những luận cứ đấu tranh xác đáng, thuyết phục.

Hội tụ đủ điều kiện để bước vào kỷ nguyên mới

Kỷ nguyên là một khái niệm mang tính phân kỳ lịch sử, dựa trên những sự kiện, dấu mốc có tính bước ngoặt. Đây là một thời kỳ phát triển mới, khác biệt về chất so với thời kỳ trước đó; tạo ra những thay đổi căn bản, toàn diện mọi mặt của đời sống xã hội. Kỷ nguyên mới của dân tộc là thời kỳ phát triển mới trong tiến trình lịch sử mà ở đó, những mục tiêu, nhiệm vụ đã được thực hiện, đã hoàn thành, tạo ra bước ngoặt cho tiến trình phát triển để dân tộc bước vào một thời kỳ phát triển mới. Nội hàm của “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” mà Tổng Bí thư Tô Lâm và Đảng ta đã xác lập không phải là nhận định mang tính chủ quan, nóng vội mà dựa trên cơ sở nhận định, đánh giá những điều kiện, tiền đề khách quan, chủ quan, đảm bảo tính khoa học để định vị mục tiêu đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Về điều kiện khách quan, mặc dù thế giới vẫn xảy ra các cuộc xung đột, tranh chấp căng thẳng, kéo dài nhưng về cơ bản, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn. Các cường quốc tiếp tục đóng vai trò chính trong việc thiết lập các mối quan hệ quốc tế. Việt Nam có nhiều cơ hội hơn để tham gia vào các diễn đàn khu vực, quốc tế và tham gia vào giải quyết các vấn đề toàn cầu, là thời cơ để Việt Nam khẳng định và chứng tỏ tiềm lực, vị thế, uy tín của mình. Xu hướng liên kết quốc tế, nhất là liên kết về kinh tế tiếp tục được thúc đẩy, hình thành nên các chu trình sản xuất, cung ứng, mở ra cơ hội để Việt Nam tham gia vào các chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng toàn cầu. Việt Nam có  nhiều cơ hội mở rộng thị trường, gia tăng vốn đầu tư, đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ để phục vụ mục tiêu phát triển bền vững. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư với tốc độ phát triển nhanh chóng dựa trên nền tảng của trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), cơ sở dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây (Cloud computing)… sẽ tạo động lực và sức bật cho nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới vào phát triển sản xuất cũng như hiện đại hóa xã hội…Những điều đó cho thấy, thế giới đang trong thời kỳ thay đổi có tính thời đại. Từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng nhất để định hình trật tự thế giới mới. Đây là giai đoạn quan trọng nhất để Việt Nam xác lập vị thế của mình và hoàn thành mục tiêu chiến lược nhân 100 năm thành lập Đảng. Sự biến chuyển có tính thời đại này là cơ hội to lớn đối với Việt Nam.

Về điều kiện chủ quan, sau 40 năm tiến hành đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự đồng lòng, đồng thuận và nỗ lực của nhân dân, Việt Nam đã khai thác được tiềm năng, khơi thông được các nguồn lực, tích lũy được thế và lực cho sự phát triển bứt phá trong giai đoạn tiếp theo. Những thành tựu to lớn đó được thể hiện trên tất cả các phương diện: (1).Về kinh tế, sau 40 năm đổi mới, quy mô nền kinh tế năm 2023 tăng gấp 96 lần so với năm 1986. Việt Nam trong nhóm 40 nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới và 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. (2) Về chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định được vai trò to lớn cũng như uy tín của mình trong việc lãnh đạo trực tiếp, toàn diện mọi mặt của đời sống xã hội. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị tiếp tục đã mang lại những kết quả to lớn, đặc biệt là công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí đã góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh.

(3) Về xã hội, cùng với việc đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, các lĩnh vực của đời sống xã hội tiếp tục được coi trọng, tạo điều kiện cho con người Việt Nam phát triển toàn diện, quyền con người ngày càng được đảm bảo. (4).Về an ninh, quốc phòng và đối ngoại, mặc dù cục diện thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, nhiều quốc gia vừa và nhỏ phải gia tăng sự phục thuộc vào các cường quốc trên thế giới nhưng Việt Nam vẫn kiên trì và giữ vững phương châm: Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên hàng đầu. Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 194 nước là thành viên Liên hợp quốc, đồng thời xây dựng các mối quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với tất cả các cường quốc trên thế giới và khu vực.

Với những thời cơ mà bối cảnh quốc tế, khu vực mang lại cùng những kết quả to lớn, có ý nghĩa lịch sử đã tích lũy được qua 40 đổi mới, hoàn toàn có cơ sở để khẳng định Việt Nam đã và đang hội tụ những điều kiện, tiền đề để chuẩn bị bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc - một kỷ nguyên phát triển bứt phá với những mục tiêu mới lớn hơn. Quan điểm về kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam không phải là nhận định mang tính chủ quan, ảo tưởng, thể hiện ý chí cá nhân của người đứng đầu Đảng ta mà nó là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn, phát triển tư duy, nhận thức lý luận. Đây cũng không phải là “thông điệp mang tính cá nhân” hay “ý chí cá nhân hóa” của người đứng đầu Đảng ta mà là sự hội tụ giữa ý Đảng và lòng dân, giữa mục tiêu, quyết tâm của toàn Đảng và ý nguyện, khát vọng của cả trăm triệu người dân Việt Nam bởi với những kết quả đã đạt được cùng những thời cơ mà cục diện thế giới, khu vực mang lại, đã đến lúc nhân dân Việt Nam hiện thực hóa khát vọng về một Việt Nam hùng cường, phồn thịnh.

Chuẩn bị bước vào kỷ nguyên mới với niềm tin và khát vọng, quết tâm lớn lao nhưng đồng chí Tổng Bí thư cũng luôn nhắc nhở, bên cạnh thời cơ, thuận lợi cũng có nhiều khó khăn, thách thức đan xen. Một trong những khó khăn, thách thức phải kể đến là các nguồn lực trong và ngoài nước không được khơi thông và phát huy một cách tối đa. Sự mơ hồ về nhận thức, không vững vàng về lập trường tư tưởng, dao động về niềm tin và ý chí của một bộ phận cán bộ, đảng viên cũng là một lực cản lớn để Việt Nam tiến vào kỷ nguyên vươn mình dân tộc; sự chống phá ngày càng tinh vi, quyết liệt của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước. Do đó, một mặt cần phải đẩy mạnh tuyên truyền, lan tỏa cho cán bộ, đảng viên, nhân dân về nội hàm cũng như mục tiêu, nhiệm vụ của kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; song mặt khác cũng cần kiên trì, kiên quyết đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch. Điều này góp phần tạo ra sự thống nhất về nhận thức, đồng thuận về tư tưởng, tập trung về hành động để phát huy tối đa sức mạnh vật chất, tinh thần của cả dân tộc; đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên vươn mình.

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam chính là góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo ra sự thống nhất về nhận thức, đồng thuận, đồng sức, đồng lòng vượt qua những khó khăn, thách thức, đưa đất nước vững bước tiến vào một giai đoạn phát triển mới, bứt phá của dân tộc Việt Nam./.

ST.

 NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO, SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG TRONG QUÂN ĐỘI

Tổ chức cơ sở đảng trong Quân đội là các tổ chức cơ sở đảng được thành lập tại các đơn vị cơ sở trong toàn quân, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, lãnh đạo mọi mặt công tác, mọi hoạt động của các đơn vị; lãnh đạo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và các tổ chức trong đơn vị trong sạch, vững mạnh gắn với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng trong Quân đội là vấn đề cấp thiết, nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên góp phần xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.…

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” [1]. Để thực hiện được điều đó, việc phát huy tốt vai trò lãnh đạo, nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng trong xây dựng quân đội là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tổ chức cơ sở đảng là gốc rễ, nền tảng của Đảng; là hạt nhân lãnh đạo ở cơ sở; nơi trực tiếp quán triệt và tổ chức thực hiện thắng lợi mọi đường lối, chủ trương, của Đảng và chính sách của Nhà nước ở cơ sở. Đồng thời, tổ chức cơ sở đảng còn là nơi nắm bắt và phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân với Đảng để có đường lối lãnh đạo đúng đắn, phù hợp. Việc phát huy vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng là nhân tố có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi của các đơn vị quân đội.

Thấm nhuần lời dạy của Người, trong nhiệm vụ, giải pháp về công tác xây dựng, chính đốn Đảng, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng” [2]; quan điểm Nghị quyết số 21-NQ/TW nêu rõ: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng phải gắn với xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ” [3]; Nghị quyết đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 – 2025 xác định: “chăm lo xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, phát huy vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở” [4].

Quán triệt sâu sắc quan điểm, giải pháp trên, thời gian qua, cấp ủy, tổ chức đảng ở các đơn vị cơ sở trong toàn quân luôn coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng. Các tổ chức cơ sở đảng đã bám sát chức năng, nhiệm vụ, lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Công tác lãnh đạo nghiên cứu, tham mưu đề xuất, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra đơn vị của cơ quan cấp chiến dịch, chiến lược có nhiều tiến bộ; chất lượng huấn luyện, trình độ sẵn sàng chiến đấu, thực hiện nền nếp chính quy, rèn luyện kỷ luật của các đơn vị cơ sở có sự chuyển biến tích cực; công tác tham mưu, đề xuất, quản lý, sử dụng nguồn vật chất hậu cần, kỹ thuật, tài chính của các cơ quan đã đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ, góp phần phòng ngừa hiệu quả tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; công tác tham mưu, đề xuất của cơ quan quân sự địa phương với cấp ủy, chính quyền về thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, xây dựng cơ sở chính trị, phòng, chống thiên tai, thảm họa, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, giúp người dân xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh đạt kết quả tốt; đội ngũ cấp ủy viên, trước hết là bí thư, phó bí thư cấp ủy, chi bộ phát huy tốt vai trò, trách nhiệm nêu gương, nói đi đôi với làm…

Tuy nhiên, hoạt động của các tổ chức cơ sở đảng còn bộc lộ những hạn chế như: Khả năng nhận thức, vận dụng, cụ thể hóa nghị quyết, chỉ thị của cấp trên để đề ra nghị quyết lãnh đạo ở cấp mình có mặt còn hạn chế; chưa có nhiều giải pháp đột phá khắc phục khâu yếu, mặt yếu tạo sự chuyển biến vững chắc trong đảng bộ, chi bộ cơ sở và đơn vị; chất lượng sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt tự phê bình và phê bình có nơi chưa được chú trọng; công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên có nơi chưa chặt chẽ, vẫn còn đảng viên vi phạm kỷ luật phải xử lý.

Hiện nay, nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đặt ra yêu cầu cao hơn và toàn diện hơn; toàn quân đang đẩy mạnh quán triệt, thực hiện kế hoạch điều chỉnh tổ chức lực lượng theo Nghị quyết số 230-NQ/QUTW, ngày 2-4-2022 của Quân ủy Trung ương về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo, đặt ra nhiều vấn đề về tư tưởng, tổ chức, cán bộ và chính sách,... cần được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt.

Để hoàn thành nhiệm vụ trong điều kiện mới, các đơn vị cần triển khai thực hiện đồng bộ các chủ trương, giải pháp, thường xuyên tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, bảo đảm lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao; trong đó, tập trung thực hiện tốt các nội dung, giải pháp chủ yếu như: Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của đảng bộ, chi bộ, đội ngũ cán bộ, đảng viên về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng và sự cần thiết phải nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng ở các đơn vị cơ sở trong toàn quân. Thường xuyên giáo dục, quán triệt đảng bộ, chi bộ, đội ngũ cán bộ, đảng viên về quan điểm, chủ trương của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Quân ủy Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng kết hợp giáo dục nâng cao nhận thức về yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng đơn vị. Thông qua các hình thức sinh hoạt của tổ chức đảng các cấp, tổ chức chỉ huy, sinh hoạt các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân, các tổ chức cơ sở đảng tiến hành các hình thức sinh hoạt phải khai thác các nội dung liên quan đến nhận thức, biết định hướng nhận thức, có kết luận rõ ràng để các hình thức sinh hoạt được tổ chức một cách tốt nhất. Từ đó giúp cho cán bộ, đảng viên nhận thức tốt, đề cao trách nhiệm trong nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng trong quân đội hiện nay.

Bên cạnh đó, thường xuyên củng cố, kiện toàn cấp ủy và bồi dưỡng nâng cao phẩm chất, năng lực toàn diện cho đội ngũ cấp ủy viên, bí thư cấp ủy ở các tổ chức cơ sở đảng trong Quân đội. Trong tình hình hiện nay, lựa chọn các cấp ủy viên ở tổ chức cơ sở đảng trong Quân đội cần phải chú ý các tiêu chuẩn về nhận thức, tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật, năng lực trí tuệ, trình độ chuyên môn, uy tín với quần chúng, kiến thức và năng lực tham gia lãnh đạo tập thể.

Đặc biệt, cần đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng trong Quân đội, bảo đảm vai trò hạt nhân chính trị lãnh đạo mọi hoạt động ở các cơ quan, đơn vị. Chấp hành nghiêm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình. Thường xuyên cải tiến phương pháp lãnh đạo, nâng cao chất lượng các cuộc họp và quy trình xây dựng, ban hành nghị quyết, đặc biệt là nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của cấp ủy; phân công nhiệm vụ cụ thể cho các đồng chí đảng ủy viên theo dõi các chi bộ trực thuộc và lĩnh vực công tác trọng tâm, định kỳ đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ được phân công; cụ thể hóa vai trò trách nhiệm của tổ chức cơ sở đảng và đảng viên, quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, đơn vị; trách nhiệm của từng cán bộ, đảng viên, khắc phục tình trạng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng.

Cùng với đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp làm tốt công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng viên. Cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng cần phải thường xuyên làm tốt công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ đảng viên. Chú trọng nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ đảng viên, thực hiện nghiêm Kết luận số 01 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05 “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Trên cơ sở năng lực, sở trường, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, để cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng phân công công tác cho đội ngũ đảng viên, giao các nhiệm vụ khác nhau để thử thách; thông qua đó đánh giá phẩm chất, năng lực của đảng viên để làm tốt công tác cán bộ, đồng thời phân công cấp ủy viên theo dõi, kiểm tra, giám sát việc thực hiện của cán bộ, đảng viên, làm cơ sở để kiểm điểm, đánh giá, xếp loại cuối năm.

Phát huy sức mạnh tổng hợp trong nâng cao năng lực lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng trong toàn quân. Thường xuyên quan tâm củng cố kiện toàn cấp ủy, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì, xây dựng và củng cố sự đoàn kết trong cấp ủy, giữa lãnh đạo và chỉ huy tạo sự đoàn kết nhất trí trong các tổ chức cơ sở đảng. Cơ quan chức năng có trách nhiệm tham mưu về nội dung, giải pháp xây dựng các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng, bồi dưỡng cấp ủy viên và cán bộ, đảng viên. Phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân trong tham gia xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh. Làm tốt công tác giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của quân nhân, đoàn viên, hội viên trong tham gia đóng góp cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, cấp ủy viên. Chăm lo xây dựng các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân vững mạnh, trực tiếp bồi dưỡng, lựa chọn những đoàn viên, hội viên ưu tú để giới thiệu kết nạp vào Đảng góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở cơ sở. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, nắm chắc tình hình, phân tích đánh giá đúng thực trạng năng lực lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng; kịp thời phát hiện những biểu hiện lệch lạc, yếu kém về năng lực, trách nhiệm, phương pháp, tác phong lãnh đạo để có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo khắc phục kịp thời.

Nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong Quân đội là quá trình kiên trì, bền bỉ với quyết tâm chính trị cao, đồng thời kết hợp đồng bộ các giải pháp gắn với xây dựng, chỉnh đốn Đảng với sự phát triển của tình hình nhiệm vụ, cần sự tham gia tích cực, chủ động, sáng tạo của các tổ chức, các lực lượng, sự gương mẫu, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên để góp phần xây dựng tổ chức cơ sở đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, đủ sức lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao./.


QĐND

 Kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2025)

ĐẢNG TIÊN PHONG, DÂN TỘC ANH HÙNG VÀ KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN VƯƠN TẦM 

95 năm “pho lịch sử bằng vàng của Đảng” để lại một trong những bài học quý giá nhất là Tinh thần Việt dưới sự lãnh đạo của Đảng tiên phong làm nên tất cả.  

Đảng chân chính, cách mạng nâng cao Tinh thần Việt

Dân tộc Việt Nam hàng ngàn năm tỏ rõ khí phách “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” và “trước sóng cả, không ngã tay chèo”. Thế kỷ XV, ngay khi chiến tranh vừa kết thúc, đã vang lên khúc khải hoàn như một tuyên ngôn độc lập cho thấy khát vọng đổi mới, vươn mình của dân tộc với niềm tin: “Xã tắc từ đây vững bền/ Giang sơn từ đây đổi mới/ Càn khôn bĩ rồi lại thái/ Nhật nguyệt hối rồi lại minh/ Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu/ Muôn thuở nền thái bình vững chắc...".

Niềm tin - Khát vọng - Tinh thần đó đã được nhân lên gấp bội khi Đảng ta ra đời, thổi luồng sinh khí mới, nâng cao giá trị truyền thống bằng chất lượng khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Ánh sáng xua tan bóng tối. Cả dân tộc vùng lên với Tinh thần Việt - dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập. Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động, trở thành chính đảng của dân tộc, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đi đầu hàng ngũ dân tộc, không biệt phái, không đứng trên mà đứng trong đội ngũ ấy, tạo nên sức mạnh vô biên lãnh đạo toàn dân “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, “biến người nô lệ thành người tự do”.

95 năm qua, những con Lạc cháu Hồng anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Cũng từng ấy năm, Đảng tỏ rõ bản chất công nhân tiên phong, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng cầm quyền, sự thống nhất lên đến mức cao giữa giai cấp, nhân dân, dân tộc, quốc gia và Đảng mà lợi ích bao trùm là lợi ích quốc gia - dân tộc. Đó là cội nguồn sâu xa tạo nên sự gắn bó mật thiết, máu thịt giữa ý Đảng với lòng dân và lòng dân với ý Đảng. Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại đã làm khỏe khoắn, mạnh mẽ “Dáng đứng Việt Nam”, mang đậm dấu ấn thiên tài, bản lĩnh và cốt cách của một dân tộc văn hiến và anh hùng.

Mỗi một người Việt Nam yêu nước luôn vô cùng tự hào về Đảng ta. Từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tính tiên phong, sức mạnh, sự vĩ đại và thành công của một Đảng “đạo đức và văn minh” không phải chỉ ở ưu điểm mà còn ở chỗ nhận rõ và sửa chữa bằng được những vấn đề tồn tại, những sai lầm, khuyết điểm và tự vượt lên chính mình.

Là một Đảng chân chính cách mạng, Đảng ta có thái độ nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật. Cùng với những thắng lợi đã giành được, Đảng nhận thấy trong lãnh đạo, Đảng có lúc cũng phạm sai lầm, khuyết điểm, có những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng do giáo điều, chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan. Đảng đã nghiêm túc tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, chỉnh đốn để tiếp tục lãnh đạo đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên.

Trong đổi mới, Đảng ta thấm nhuần, quán triệt sâu sắc lời dạy của Bác Hồ về một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ nguyên nhân, hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó, như thế mới là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính. Đảng ta ý thức rất rõ toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Đảng phải chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Đảng hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật.

Những năm qua, Đảng nhận diện rõ các nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. Đó là bệnh quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sự biến chất, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên. Từ đó, Đảng đã tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Nhờ đó, đất nước ta đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Đảng tiên phong với khát vọng vươn mình của dân tộc

Tám mươi năm trước, Bác Hồ mong muốn xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên để lại, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước tiên tiến; làm cho non sông Việt Nam trở nên tươi đẹp, dân tộc Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu. Từ đó, suốt những năm tháng ác liệt của chiến tranh và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Người luôn luôn nung nấu khát vọng xây dựng lại đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Đảng ta ý thức rõ xây dựng lại thành phố, làng mạc đẹp đẽ, đàng hoàng hơn trước chiến tranh là một công việc rất to lớn, nặng nề, phức tạp, khó khăn, mà cũng rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi.

Thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, bước vào kỷ nguyên phát triển mới với định hướng thúc đẩy hòa bình, thịnh vượng, phát triển bền vững vì phẩm giá con người cho thế hệ hôm nay và tương lai. Xuân Ất Tỵ 2025 mang đến khí thế mới, niềm tin mới, quyết tâm mới. 95 năm thành lập Đảng, 135 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chúng ta có một hành trang to lớn, vững chắc là cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế để bước vào giai đoạn mới, giai đoạn một trăm năm thứ hai dưới sự lãnh đạo của Đảng và một thế kỷ thành lập nước. Đó là giai đoạn phát triển mạnh mẽ, vươn mình, vươn tầm của dân tộc, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, hùng cường, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, cùng tiến bước, sánh vai với các cường quốc năm châu, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Muốn khát vọng thành hiện thực, phải giải quyết được bài toán thể chế và con người, bởi thể chế là “điểm nghẽn của điểm nghẽn” và con người là “điểm nghẽn của thể chế”. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng. Đường lối của Đảng phải xuất phát từ thực tiễn, thuận lòng dân, ý dân, hợp xu thế của thời đại. Đảng phải mạnh hơn bao giờ hết, quyết tâm xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tinh gọn bộ máy; chống “tha hóa quyền lực”; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, quan liêu; bịt kín những “khoảng trống”, “kẽ hở”. Đảng phải khẳng định được trí tuệ, năng lực, bản lĩnh, phương thức cầm quyền.

Mấu chốt là con người vì mọi việc đều do người làm ra, trong đó vấn đề cán bộ quyết định mọi việc. Cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Mọi sự thành hay bại đều do cán bộ tốt hay kém. Vấn đề có ý nghĩa quyết định hiện nay là phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, có tố chất “bảy dám”: Dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao, thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết. Mỗi cán bộ - “công bộc” của dân - phải thường xuyên “tu thân chính tâm”, đánh thắng giặc trong lòng. Muốn cải tạo xã hội trước hết phải tự cải tạo mình.

St

 NHỮNG TƯ TƯỞNG SỐNG MÃI VỚI MÙA XUÂN 

Một năm khởi đầu từ mùa Xuân!

Những ngày nắng cháy mưa giông, hoa tàn, lá úa đã qua đi. Thời gian chắt gạn những hạt vàng, hạt ngọc của Đời, ươm trồng, ấp ủ để đợi đến mùa Xuân mới tái tạo, sinh sôi. 

Mùa Xuân là mùa của đất trời giao hòa, mùa của hy vọng và ước mơ. Mùa Xuân là mùa của sức sống mãnh liệt, mùa cây lá đâm chồi, nảy lộc, mùa của những mầm non xanh mơn mởn thoát khỏi lớp vỏ bọc xù xì vươn vai đón chào những tia nắng ấm áp diệu kì. Mùa Xuân là sự mở đầu cho một năm mới, kế hoạch mới, dự định mới, tương lai mới. 

Khi tiết xuân về, khí trời ấm áp, từ lòng đất trồi lên những mầm biếc, cây xanh, hoa phô sắc thắm, trăm hồng, ngàn tía đua chen...  Đó là thời khắc thiêng liêng: Trời - Đất - Con người giao hòa, tương hợp. Người dân Việt Nam thắp nén nhang thơm, thành kính nghĩ về tiên tổ, nhớ tới cội nguồn và mang nặng ân tình nhắc mãi tên Người: Hồ Chí Minh.

“Tôi nói đồng bào nghe rõ không...”, lời Người truyền đi như tiếng vọng non sông, ấm áp mọi nhà. Ta nghe tiếng Người như tiếng gọi của mùa Xuân, tiếng gọi của ngàn xưa và tiếng gọi của tương lai! “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”(1). Đó là chân lý của muôn đời! “Sửa sang thế đạo kinh dinh nhân quyền”(2). Đó là việc phải làm của mọi quốc gia, của hôm qua, hôm nay và cả mai sau.

Những tư tưởng về “thành lập chính phủ nhân dân, áp dụng những nguyên tắc “tân kinh tế chính sách” được Người viết từ năm 1926 vẫn đang là công việc nóng hổi tính thời sự để phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, dân tộc vươn mình thực hiện mục tiêu cao cả dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. 

Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”(3), “Đảng là gì? Đảng là mỗi chúng ta. Đảng lớn lên do mỗi chúng ta lớn lên”(4). Đó là những tư tưởng không bao giờ cũ, nó đang chỉ dẫn việc đổi mới, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng luôn mãi là mùa Xuân sáng tươi.

“Vô luận việc gì, đều do người làm ra”(5); “Đầu tiên là công việc đối với con người”(6), “Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”(7)... vẫn mãi mãi là những dòng ánh sáng, là “thước đo” trí tuệ, lương tâm, danh dự của mọi nhân cách và chế độ chính trị.

“Có cán bộ tốt, việc gì cũng xong”(8). Cán bộ tốt là người “vững về chính trị, giỏi về chuyên môn, đức là gốc”. Phải thường xuyên chăm lo “đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài” và phải thực sự “sửa đổi cách lãnh đạo”. Đó là sức sống mãnh liệt của Đảng, của mùa xuân, làm cho cây đời mãi mãi xanh tươi. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, Người luôn luôn “tỏa ra một nền văn hóa... của tương lai”(9).


Xuân đã về! Trong trái tim mỗi người Việt Nam ai ai cũng chứa chan một niềm tin và hy vọng. Và, ở khắp mọi miền đất nước thân yêu:

“Đâu chẳng vang lời Bác thiết tha?

Đời vui, tiếng Bác ấm muôn nhà

Như gió xuân về, đất nở hoa”.

(Thơ Tố Hữu).

-----

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, H.2011, tập 1, tr.1. (2) Sđd, tập 2, tr.502. (3), (5, (8) Sđd, tập 5, tr.289; tr.281; tr.280. (4) Sđd, tập 13, tr.272. (6) Sđd, tập 15, tr.616. (7) Sđd, tập 11, tr.528. (9) Lời nhà thơ Xô-viết Ô-xít Man-đen-xtan năm 1925.


PGS. Trần Đình Huỳnh

 CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH NÓI VỀ ĐẢNG VÀ ĐẢNG VIÊN


Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều bài nói và viết về Đảng, vai trò, nhiệm vụ của Đảng và mỗi đảng viên trước nhân dân, Tổ quốc, dân tộc. Dưới đây là những lời trích của Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về Đảng và đảng viên:

"Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân".

(Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, H.1995, tập 12, tr 510).

"Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật là vĩ đại!"

(Sđd, tập 10, tr 2)

"Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình".

(Sđd, tập 12, tr 510)

"Đảng ta tuy nhiều người nhưng khi tiến đánh chỉ như một người".

(Sđd, tập 5, tr.553)

"Sức mạnh của Đảng là ở sự đoàn kết nhất trí. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao ý thức tổ chức và kỷ luật, nghiêm chỉnh chấp hành đường lối và chính sách của Đảng, tôn trọng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng".

(Sđd, tập 11, tr.23)

"Đảng ta thành tích khá nhiều, nhưng khuyết điểm cũng không ít. Chúng ta cần phải thật thà tự phê bình để sửa chữa. Phải cố sửa chữa để tiến bộ".

(Sđd, tập 6, tr.166)

Phải thường xuyên nghiêm chỉnh phê bình và thật thà tự phê bình để giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, để cùng nhau tiến bộ. Làm cách mạng thì có đúng có sai. Cố nhiên đúng phải là chính, sai là phụ. Có sai thì chúng ta giúp nhau kiên quyết sửa chữa và cùng nhau hăng hái tiến lên".

(Sđd, tập 11, tr. 154)

"Chi bộ là gốc rễ của Đảng ở trong quần chúng. Chi bộ tốt thì mọi chính sách của Đảng đều được thi hành tốt, mọi công việc đều tiến bộ không ngừng. Trái lại, nếu chi bộ kém thì công việc không trôi chảy".

(Sđd, tập 11, tr.161)

"...cán bộ là cái gốc của mọi công việc".

( Sđd, tập 5, tr 269)

"Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém".

(Sđd, tập 5, tr.273)

"Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ "cộng sản" mà ta được họ yêu mến.

Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước. Đồng chí ta nhiều người đã làm được nhưng vẫn còn những người hủ hóa. Đảng có trách nhiệm gột rửa cho các đồng chí đó".

(Sđd, tập 5, tr.552)

"Đạo đức cách mạng là hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng".

(Sđd, tập 9, tr290)

Thông tin tư liệu (TTXVN)

 GIỮ GÌN DANH DỰ CỦA NGƯỜI ĐẢNG VIÊN 

Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, “danh dự” luôn là điều cao quý, thiêng liêng nhất. Danh dự không phải tự nhiên có được, cũng không phải “từ trên trời sa xuống” mà được hình thành từ quá trình tu dưỡng đạo đức cách mạng, tôi rèn qua “lửa đỏ và nước lạnh”. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải giữ cho được tư cách, đạo đức, danh dự của người đảng viên, người cán bộ cách mạng, đồng thời yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải giữ vững “liêm sỉ” và “danh dự” của người cách mạng. Với mỗi người cán bộ, đảng viên, hai từ “danh dự” luôn là điều cao quý, thiêng liêng nhất.

Điều thiêng liêng của người đảng viên

Danh dự là một trong những phẩm chất cao quý của mỗi con người. Đó là nền tảng đạo đức của con người chân chính. Danh dự có ý nghĩa rất lớn thúc đẩy con người làm điều thiện, điều tốt, ngừa điều ác, điều xấu. Người xưa trọng danh dự như mạng sống, thậm chí còn hơn cả mạng sống vì danh dự là điều còn mãi. Đối với người đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, liêm sỉ, danh dự lại càng phải được coi trọng hàng đầu.

Theo V.I. Lênin: Lý tưởng đạo đức cao quý nhất của người cộng sản, của đạo đức cộng sản luôn gắn bó với lý tưởng chính trị, là động lực thúc đẩy lý tưởng chính trị trở thành hiện thực cách mạng xã hội chủ nghĩa. Lênin đặc biệt nhấn mạnh: Mỗi cán bộ, đảng viên nếu không tự bôi nhọ đạo đức, thanh danh của mình thì không ai có thể hạ thấp được uy tín của họ.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người lãnh đạo phải biết trọng danh dự, giữ liêm sỉ, không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”. Thấm nhuần tư tưởng của Người, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhấn mạnh: Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý cần khắc cốt, ghi tâm những lời dạy của Bác, phải biết trọng liêm sỉ, giữ danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân có hành vi tham nhũng, tiêu cực.

Nhìn vào thực tiễn cách mạng của dân tộc ta, đã chứng minh rất rõ điều này, để giữ danh dự, uy tín của Đảng, hàng vạn đảng viên dù phải chịu đòn tra tấn cực hình của kẻ thù, nếm mật nằm gai, đói rét, đau đớn về thể xác, đày đọa về tinh thần nhưng vẫn kiên trung, một lòng với Đảng, với Tổ quốc và dân tộc, cho đến hôm nay, mỗi khi nhắc lại, chúng ta vẫn thầm cảm phục.

Đó là các đảng viên kiên trung trên các con tàu không số, khi bị giặc bắt, moi gan, mổ bụng vẫn đinh ninh “lời thề  sắt son với Đảng” không để con đường bị lộ. Là hình ảnh những chiến sĩ tình báo, bị quân thù cưa chân 4 lần, chặt hết 10 đầu ngón tay, lòng vẫn vững vàng như sắt đá, kiên trung với Đảng.

“Danh dự” ấy đã được khẳng định trong lời tuyên thệ của người đảng viên tại buổi lễ kết nạp Đảng thiêng liêng của mình. Đó là giây phút trang trọng, xúc động, tự hào khi được kết nạp vào Đảng, đó là lời thề trước Đảng về lòng trung thành, phấn đấu theo lý tưởng, cương lĩnh, đường lối của Đảng, hoàn thành tốt nhiệm vụ của đảng viên, chấp hành kỷ luật của Đảng, giữ gìn đạo đức, phẩm chất của người cộng sản và góp phần xây dựng Đảng vững mạnh. Đó không chỉ là một câu khẩu hiệu mà chính là lời thề danh dự của người đảng viên.

Khi đã tự nguyện đứng trong hàng ngũ của Đảng, là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam phải thực hiện sứ mệnh, trách nhiệm, lòng trung thành của người đảng viên vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Lời thề thiêng liêng, cao quý ấy chính là sức mạnh, động lực giúp các thế hệ cán bộ, đảng viên tiền bối sẵn sàng chịu đựng, chấp nhận gian khổ, hy sinh vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, vì lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Nhờ đó, nhân dân tin theo Đảng, sẵn sàng đùm bọc, chở che cho cán bộ, đảng viên, hy sinh cho Đảng, gọi Đảng là “Đảng ta” một cách trìu mến, trân trọng.

Đừng để lời thề danh dự của người đảng viên bị phai nhạt

Trong thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới hiện nay, phát huy truyền thống vẻ vang của Đảng ta, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã không ngừng tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất, đạo đức, về trí tuệ, trình độ lý luận, về năng lực lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực tiễn, về bản lĩnh chính trị; tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, giữ trọn niềm tin của nhân dân.

Thế nhưng, có một thực tế không thể phủ nhận rằng, khi đất nước không còn chiến tranh, vậy mà trước những tác động của nền kinh tế thị trường, những níu kéo của danh vọng, quyền lực, hàng loạt quan chức cấp cao đã phải hầu tòa, hàng nghìn đảng viên phải đứng trước vành móng ngựa, họ không còn giữ được phẩm giá của mình, không còn giữ được lời thề thiêng liêng mà họ đã tuyên thệ trong ngày gia nhập Đảng. Cá biệt một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, vi phạm các chuẩn mực đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, lợi ích nhóm, chạy theo lợi ích kinh tế.

Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhiều lần nhấn mạnh: “Ai chả thích của, thích tiền. Nhưng tôi nói, danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất”. Đồng thời khẳng định: “Cuộc đấu tranh chống tham nhũng của Đảng và đất nước ta còn lâu dài, gian khổ, quyết liệt. Chúng ta mới chỉ hạn chế, ngăn ngừa được một bước. Còn tiền, còn chức, còn quyền, nếu không tu dưỡng, rèn luyện thì sẽ khó tránh khỏi cám dỗ… Cán bộ, đảng viên, trước hết là người lãnh đạo phải biết trọng liêm sỉ, giữ danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân có hành vi tham nhũng, tiêu cực’’.

Để khắc phục những hạn chế đó, đòi hỏi công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải tiếp tục được tiến hành một cách mạnh mẽ và quyết liệt hơn nữa; đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên cần không ngừng tự nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống, luôn đề cao việc giữ gìn danh dự, lòng tự trọng của chính bản thân mình, để luôn xứng đáng đứng trong hàng ngũ của Đảng, xứng đáng với truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của Đảng đã được xây đắp bởi biết bao xương máu, công sức của các thế hệ ông cha.

Trong đó, trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải quán triệt và thực hiện thường xuyên, sâu rộng, có hiệu quả Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đặc biệt là Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, với các chỉ thị và kết luận của Đảng về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 16-6-2022 về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới, Quy định số 144-QĐ/TW ngày 9-5-2024 về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới...

Kết hợp giữa giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng với giáo dục, bồi dưỡng nhân cách, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Chú trọng công tác phát hiện, xây dựng, biểu dương, khen thưởng và nhân rộng những mô hình điển hình trên các lĩnh vực đời sống xã hội. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, các biểu hiện xa rời quần chúng nhân dân, bệnh thành tích, tham nhũng, lãng phí.

Các cấp ủy, tổ chức Đảng chủ động đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, nhất là nội dung sinh hoạt tư tưởng trong sinh hoạt Đảng; phát huy tinh thần tự phê bình và phê bình, chú trọng việc bồi dưỡng, nâng cao ý thức, trách nhiệm, giữ vững danh dự, lòng tự trọng và tinh thần nỗ lực, quyết tâm thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao của mỗi cán bộ, đảng viên. Triển khai thực hiện có hiệu quả cơ chế khuyến khích, bảo vệ những cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. Đề cao ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện, gương mẫu trong thực hiện các chuẩn mực đạo đức; giữ vững hình ảnh, danh dự, tác phong, lối sống của mỗi cán bộ, đảng viên.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn rèn luyện, bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức cách mạng, tạo cho mình tấm lá chắn vững chắc trước những sóng gió, dông bão, để họ xứng đáng với niềm tin và kỳ vọng của nhân dân, giữ bằng được cho mình điều thiêng liêng nhất, đó là danh dự. Đúng như lời của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắn gửi tại Hội nghị toàn quốc các cơ quan nội chính triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng vào ngày 15-9-2021: “Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho có ý nghĩa, để không phải xót xa, ân hận vì những việc làm ti tiện, đớn hèn, vô liêm sỉ; tiền bạc lắm làm gì, chết có mang theo được đâu. Danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất”.


Thượng tá, ThS HOÀNG HỒNG TUẤN, Học viện Chính trị (Bộ Quốc phòng)

 CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC MỤC TIÊU CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Cứ đến mỗi dịp kỷ niệm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch lại đẩy mạnh các hoạt động chống phá với những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận bản chất, mục tiêu, lý tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng. Mới đây, Hiếu Chân với bài viết “Chiếc bánh vẽ “kỷ nguyên mới” trên trang Viettan  đã trắng trợn quy chụp rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đẩy người dân ra rìa, thủ tiêu vai trò chủ thể quốc gia của dân, bóp nghẹt tiếng nói của dân, coi dân như “thế lực thù địch”. Đây là những luận điệu rất phi lý, hoàn toàn là sai trái, cố tình phớt lờ không nghe, không thấy mục tiêu phấn đấu cao đẹp của Đảng luôn vì độc lập, tự do, hạnh phúc của Nhân dân. Mục đích thâm hiểm của những luận điệu này nhằm làm giảm sút niềm tin của Nhân dân đối với Đảng.

Cần khẳng định, mục tiêu, động lực phấn đấu xuyên suốt quá trình lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là vì hạnh phúc của Nhân dân. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”. Trong Cương lĩnh đầu tiên khi mới được thành lập, Đảng đã xác định, cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam tất yếu đi tới cách mạng xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc gắn liền với tự do, hạnh phúc của Nhân dân; sự nghiệp cách mạng là của Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đến Cương lĩnh 2011, Đảng ta tiếp tục kiên định khẳng định, tất cả vì lợi ích chân chính của dân tộc và hạnh phúc của Nhân dân. Đặc biệt, mục tiêu, khát vọng vì hạnh phúc của Nhân dân đã được thể hiện ngay dưới quốc hiệu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đó là “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”.

Xuyên suốt các kỳ đại hội trong thời kỳ đổi mới, Đảng đều kiên định với quyết tâm chiến lược giữ vững nền độc lập cho dân tộc và phấn đấu để đất nước phát triển vì tự do, hạnh phúc của Nhân dân. Tiếp nối tinh thần của các kỳ đại hội, Đại hội XIII của Đảng đã đề cao khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, đặc biệt coi trọng bảo đảm hạnh phúc của Nhân dân. Theo đó, Đảng xác định đến năm 2025, GDP bình quân đầu người khoảng 4.700 - 5.000 USD; tỷ lệ lao động qua đào tạo là 70%; tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%; tỷ lệ nghèo đa chiều duy trì mức giảm 1-1,5% hằng năm; có 10 bác sĩ và 30 giường bệnh/vạn dân; tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt 95% dân số; tuổi thọ trung bình đạt khoảng 74,5 tuổi… Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao (GDP bình quân đầu người ước đạt khoảng 7.500 USD/năm). Đến năm 2045, Kỷ niệm 100 năm thành lập nước: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Các chỉ tiêu cụ thể này được Đảng xác định không có mục đích nào khác là nhằm đem lại hạnh phúc cho Nhân dân.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhân dân đã được hưởng tự do, hạnh phúc thực sự trên thực tế. Trong thời kỳ phong kiến và thực dân, đế quốc, Nhân dân ta không có hạnh phúc, bởi không có quyền làm chủ, phải chịu sự áp bức, bóc lột và kiếp sống nô lệ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cách mạng tháng Tám năm 1945 giành được thắng lợi, Nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời và nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhân dân thực sự được làm chủ, trực tiếp xây dựng nên chính quyền các cấp, bầu ra đại biểu đại diện cho quyền và lợi ích của chính mình, nhà nước là nhà nước của dân, do dân và vì dân. 

Đăc biệt, trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, mang lại cuộc sống hạnh phúc cho Nhân dân. Hiện nay, Nhân dân Việt Nam không chỉ có cơm ăn, áo mặc, mà còn ăn ngon, mặc đẹp; từ đô thị đến làng quê, đâu đâu cũng khang trang với cuộc sống hạnh phúc. Thu nhập bình quân đầu người không ngừng được cải thiện và Việt Nam đã được vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình trên thế giới. Việt Nam đã được xếp vào nhóm các quốc gia có chỉ số phát triển con người cao trong suốt ba năm gần đây, đứng thứ 107 trên 193 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việt Nam cũng là quốc gia có chỉ số hạnh phúc được xếp hạng cao trên thế giới. Theo Báo cáo hạnh phúc thế giới 2023 (The World Happiness Report), Việt Nam đứng thứ 4 trong khu vực Đông Nam Á và thứ 65 trên thế giới với điểm số hạnh phúc đạt 5,8. Theo đó, chỉ số hạnh phúc của Việt Nam đã tăng 12 bậc, từ vị trí 77 vào năm 2022, lên vị trí 65 năm 2023. Và trong bảng xếp hạng các quốc gia hạnh phúc của Báo cáo hạnh phúc thế giới 2024, Việt Nam đứng thứ 54, tăng 11 bậc so với năm 2023. 

 Hạnh phúc của Nhân dân luôn là mục tiêu phấn đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi thành lập cho đến ngày hôm nay. Vì vậy, dù Hiếu Chân và các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc như thế nào đi chăng nữa, thì mục tiêu vì hạnh phúc Nhân dân của Đảng tiếp tục là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong tương lai. Theo đó, mỗi người dân cần tỉnh táo, nêu cao cảnh giác và vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.



 ĐẬP TAN LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI ĐÒI XÓA BỎ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO, CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Hằng năm, cứ đến dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại ra sức chống phá, tìm cách nói xấu Đảng. Gần đây Trần Thị Thơm có bài: “Làm thế nào để chuyển từ độc tài sang dân chủ đa đảng ở Việt Nam”, trên trang Anhemdanchu.org. Với những nội dung chống phá, xuyên tạc, bóp méo sự thật về dân chủ ở Việt Nam, về vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013, mà thực chất, là xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi đa nguyên, đa đảng. Những luận điệu đó là vô căn cứ, là suy diễn chủ quan, cần đấu tranh bác bỏ, bởi vì:

1. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng, giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến, hiện đại và cách mạng nhất, song chỉ có thể lãnh đạo cách mạng thắng lợi khi lập ra chính đảng để lãnh đạo, dẫn dắt phong trào cách mạng đấu tranh thoát khỏi áp bức, bóc lột và nô lệ để xây dựng chế độ xã hội mới tốt đẹp hơn. V.I Lênin, tiếp tục khẳng định “chỉ có Đảng Cộng sản mới có thể lãnh đạo được giai cấp vô sản… và lãnh đạo được đất nước. Đó là điều không phải nghi ngờ gì nữa”. Thấm nhuần nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”, sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân do Đảng lãnh đạo.

Bài học của Liên Xô và Đông Âu dẫn đến sụp đổ là do buông lỏng, thỏa hiệp và xóa bỏ vai trò lãnh đạo của một Đảng duy nhất cầm quyền. Từ đó, các thế lực phản động nổi lên chống phá, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, lật đổ chính quyền và thay đổi chế độ xã hội. Tại các nước tư bản chủ nghĩa tuy có nhiều đảng nhưng cũng chỉ đại diện cho một giai cấp đó là giai cấp tư sản. 

2. Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đã chỉ ra, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam duy nhất cầm quyền lãnh đạo là một tất yếu lịch sử. Đầu thế kỷ XX, nhiều tổ chức Hội, Đảng ra đời nhưng không gánh vác được nhiệm vụ lịch sử giao phó, mà chỉ duy nhất Đảng Cộng sản do Hồ Chí Minh sáng lập là thành công. Đưa đất nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, để hôm nay “đất nước ta chưa bao giờ có cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Qua sự “sàng lọc” khắc nghiệt của lịch sử những thập niên đầu thế kỷ XX, nhân dân ta đã lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là người dẫn dắt mình đi đến tương lai hạnh phúc.

95 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách để đạt được những thành quả cách mạng to lớn, trong đó, Đảng đã lãnh đạo giai công công nhân và nhân dân lao động đứng lên tổ chức nhiều cao trào đấu tranh mà đỉnh cao là Cách mạng tháng Tám giành độc lập dân tộc, khai sinh ra Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, là thắng lợi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, bảo vệ nền độc lập và thống nhất đất nước và những thành công to lớn của công cuộc đổi mới,… Những minh chứng đó là cơ sở khách quan nhất để khẳng định: Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. 

 Như vậy, cả lý luận và thực tiễn đều khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó, hơn lúc nào hết việc nhận diện, bác bỏ và đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc về vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta ở Việt Nam là việc làm mang tính cấp thiết hơn bao giờ hết./.



 VIỆT NAM LUÔN TÔN TRỌNG, BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI

Với giọng điệu ra vẻ “chân thành” nhưng vẫn không thể che dấu được sự lợi dụng vấn đề nhân quyền để kích động, chống phá của Vũ Cẩm Ly, trong bài “Vì sao chính quyền CSVN không tôn trọng nhân quyền?”, y đưa ra bốn “cái lý” tự ngộ biện cho rằng Việt Nam không tôn trọng nhân quyền, từ đó đưa ra “năm tưởng tượng” thúc đẩy quyền con người. Đây là những định kiến cá nhân, trái với đường lối, chính sách về nhân quyền của Đảng và Nhà nước ta, cần đấu tranh, khẳng định như sau: 

Thứ nhất, Việt Nam luôn tôn trọng và bảo vệ quyền con người là sự thật không thể phủ nhận. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đều là vì con người và bảo vệ các quyền của con người. Cụ thể như: Chương II của Hiến pháp năm 2013 đã hiến định rõ về Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; các chính sách an sinh xã hội được thực hiện một cách hiệu quả, các chương trình hỗ trợ sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số tại vùng sâu, vùng xa, các chính sách cho trẻ em khuyết tật, hướng tới nhóm yếu thế được triển khai rộng rãi. Các Luật Lao động bảo vệ quyền lợi và nâng cao mức sống cho người lao động. Bên cạnh đó, Việt Nam đã tham gia 7/9 điều ước quốc tế cơ bản về quyền con người, tham gia 25 Công ước quốc tế về quyền lao động của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO). Nổi bật nhất là tại Khóa họp thường kỳ lần thứ 57, Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc ngày 27/9/2024 đã thông qua kết quả rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV đối với Việt Nam. Có khoảng 90 nước, các tổ chức quốc tế và một số tổ chức phi chính phủ tham dự và Việt Nam đã thông báo quyết định chấp thuận 271 trên tổng số 320 khuyến nghị các nước đưa ra, đạt tỉ lệ 84,7%. Đây là tỉ lệ chấp thuận cao nhất của Việt Nam trong 4 chu kỳ. Điều này, khẳng định quyết tâm bảo vệ và thúc đẩy quyền con người của Việt Nam.

Việc tôn trọng, đảm bảo, thúc đẩy quyền con người còn được thể hiện ở sự nỗ lực góp phần quan trọng của Việt Nam tham gia thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trên phạm vi quốc tế và đã để lại nhiều dấu ấn được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao như phản ánh quan điểm, chia sẻ kinh nghiệm của mình về các vấn đề quan trọng liên quan đến quyền con người, như bảo vệ quyền của phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, dân tộc thiểu số, người di cư; thúc đẩy quyền phát triển, quyền tham gia, quyền an sinh xã hội, quyền môi trường; ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, chuyển đổi số. Việc tái ứng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2026 - 2028 là minh chứng rõ ràng nhất về sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những chính sách, nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người ở trong nước cũng như quốc tế. Đồng thời, là minh chứng bác bỏ bốn “cái lý” quy chụp Việt Nam không tôn trọng nhân quyền của Vũ Cẩm Ly là hoàn toàn là định kiến, suy diễn cá nhân của Y.

Thứ hai, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội mới là phương thức đảm bảo tốt nhất về nhân quyền và là điều cần làm để thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam. Lịch sử dân tộc đã chứng minh, quyền con người Việt Nam luôn gắn liền với độc lập tự do của dân tộc. Bởi, dưới ách thống trị của thực dân, phong kiến, con người Việt Nam luôn bị áp bức, nô lệ, chỉ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo giành được độc lập dân tộc, thống nhất đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội thì mọi quyền con người mới trở thành hiện thực. Có thể thấy, hành trình đấu tranh cách mạng giành quyền tự quyết định vận mệnh, quyền lựa chọn con đường độc lập, tự do, hạnh phúc gắn với chủ nghĩa xã hội là phương thức hữu hiệu nhất để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam. Với mục đích bảo vệ độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân và xây dựng, phát triển đất nước phồn thịnh, 94 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo đảm bảo để mọi người dân Việt Nam được thụ hưởng đầy đủ, trọn vẹn quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là phát huy tốt dân chủ thực hiện các quyền quyền ứng cử, bầu cử, bãi nhiệm đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân; quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan Nhà nước; quyền khiếu nại, tố cáo và giám sát đối với cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức. Điều này, là đã khẳng định “năm tưởng tượng lớn” cần làm qua những “cuộc thảo luận ôn hòa”, “hoạt động ôn hòa” để thúc đẩy quyền con người của Vũ Cẩm Ly là thừa thãi và vô giá trị.

Những thành tựu về nhân quyền ở Việt Nam đã bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, thù địch và “thiển ý” cải thiện tình hình nhân quyền của những kẻ “biết tuốt” như Vũ Cẩm Ly! Mọi người dân Việt Nam cần nâng cao cảnh giác và đấu tranh kiên quyết với những bài viết lợi dụng vấn đề nhân quyền để đòi hỏi quyền: “tự do ngôn luận”, “tự do lập hội”, “quyền cá nhân” nhằm kích động đặt quyền cá nhân, quyền tự nhiên của con người vượt lên sự bảo vệ pháp luật, phá hoại công cuộc xây dựng, phát triển đất nước phồn thịnh, giàu mạnh của Việt Nam./.



 CẢNH GIÁC VỚI ÂM MƯU, HOẠT ĐỘNG LỢI DỤNG CÁC VỤ VIỆC ĐỂ CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Vừa qua, trên trang voatiengviet đã đăng tài bài viết với tiêu đề "Nhìn lại 10 sự kiện tin tức nổi bật ở Việt Nam trong năm 2024". Các thế lực thù địch, phản động vừa tung tin, vừa ra sức xuyên tạc và kích động, chống phá Đảng, Nhà nước, hòng gây ra sự bất ổn trong xã hội Việt Nam. 

Các sự kiện gần đây như hành trình đi bộ của ông Thích Minh Tuệ hay các vụ bắt giữ, xử lý các đối tượng phản động đã bị các thế lực thù địch lợi dụng để tấn công chính quyền, xuyên tạc các chính sách của Nhà nước. Các tổ chức phản động, các đối tượng chống đối trong và ngoài nước đã không ngừng lợi dụng các vấn đề này để tuyên truyền thông tin sai lệch về tình hình tự do tôn giáo, quyền con người tại Việt Nam. Họ tuyên bố rằng chính quyền Việt Nam đang đàn áp tôn giáo, làm giảm quyền tự do của người dân. Tuy nhiên, thực tế không phải vậy. Chính quyền đã khẳng định rõ ràng về việc tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của người dân, nhưng những đối tượng phản động đã lợi dụng những sự kiện này để vu khống, khiến một số người hoang mang, mất niềm tin vào hệ thống chính trị. 

Một trong những phương thức chống phá mà các thế lực thù địch sử dụng là tạo ra sự hoài nghi và chia rẽ trong xã hội. Việc kêu gọi chống lại chính quyền, làm suy yếu niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, thường xuyên được thể hiện qua các thông điệp trên mạng xã hội. Những thông tin sai lệch này có thể gây nên sự chia rẽ giữa các tầng lớp xã hội, tạo ra những làn sóng phản đối vô căn cứ. Do đó, chúng ta phải tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vì Đảng luôn đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu, luôn kiên định với các mục tiêu phát triển bền vững và bảo vệ sự ổn định chính trị. Cùng với đó, chúng ta cần định hướng cho người dân luôn tin tưởng vào các phương tiện truyền thông chính thống của Nhà nước, các cơ quan báo chí, để có những thông tin chính xác và đầy đủ về các vấn đề đang diễn ra trong xã hội. Các phương tiện thông tin chính thống luôn phản ánh sự thật khách quan, không bị tác động bởi các thế lực bên ngoài, đảm bảo cung cấp những thông tin chính xác giúp người dân có cái nhìn đúng đắn về các sự kiện và vấn đề trong xã hội.

Cảnh giác với những âm mưu của các thế lực thù địch cũng là một điều hết sức quan trọng. Các thế lực phản động luôn tìm cách kích động sự chia rẽ giữa các thành phần trong xã hội, tạo ra một môi trường bất ổn để dễ dàng thực hiện âm mưu của họ. Các tổ chức phản động này không từ bỏ bất kỳ cơ hội nào để triển khai các chiến dịch "cách mạng màu", kích động bạo loạn, biểu tình, chống đối chính quyền. Những cuộc tẩy chay hay biểu tình bị xúi giục có thể được kích động từ những sự kiện, các vấn đề xã hội đang được dư luận quan tâm. Mục tiêu của họ là phá vỡ sự ổn định chính trị của Việt Nam, gây ra sự mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, làm xói mòn tinh thần đoàn kết dân tộc. Chính vì vậy, người dân cần phải tỉnh táo, không để bị lôi kéo, lợi dụng bởi những luận điệu phản động, không tham gia vào các cuộc biểu tình bất hợp pháp, và đặc biệt phải giữ vững niềm tin vào Đảng, Nhà nước.

Chúng ta cũng cần nâng cao nhận thức về các mối nguy hại từ các thế lực thù địch thông qua các kênh tuyên truyền, giáo dục. Cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giải thích rõ ràng về các chủ trương, chính sách, giải thích về các sự kiện, và công khai thông tin chính thức từ các cơ quan có thẩm quyền để người dân có thể phân biệt được giữa sự thật và các thông tin sai lệch. Những thông tin này phải được cung cấp đầy đủ, kịp thời và dễ hiểu, để người dân có thể tự bảo vệ mình khỏi những luận điệu xuyên tạc, đồng thời nâng cao ý thức cảnh giác trong cộng đồng.

Ngoài ra, chính quyền cũng cần tăng cường quản lý các thông tin trên mạng xã hội, vì đây là kênh dễ bị lợi dụng nhất để phát tán thông tin sai lệch. Các cơ quan chức năng cần có những biện pháp ngăn chặn, xử lý những đối tượng tung tin đồn, thông tin xuyên tạc, gây ảnh hưởng đến tinh thần đoàn kết, ổn định chính trị của xã hội. Người dân cũng cần phải cẩn trọng trong việc chia sẻ thông tin, đặc biệt là trên các nền tảng mạng xã hội, và chỉ tin tưởng vào những nguồn thông tin chính thống từ Nhà nước.

Trong bối cảnh đất nước đang đối mặt với nhiều thách thức và khó khăn, việc bảo vệ sự ổn định chính trị và bảo vệ niềm tin vào Đảnh, Nhà nước là vô cùng quan trọng. Chúng ta cần phải kiên định, đoàn kết và giữ vững niềm tin vào Đảng và Nhà nước, vì chỉ có sự tin tưởng vào Đảng, vào các phương tiện thông tin chính thống và sự tỉnh táo trong việc nhận diện các âm mưu của các thế lực thù địch, chúng ta mới có thể vượt qua mọi thử thách, giữ vững sự ổn định và tiếp tục xây dựng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.



 Đảng đã cho ta những mùa  xuân đầy ước vọng! 

Trong suốt chiều dài lịch sử, hình ảnh mùa Xuân không chỉ là sự chuyển mình của đất trời mà còn là biểu tượng của sự đổi mới, của những khát vọng to lớn được khơi lên. Và nếu lịch sử Việt Nam là một bản trường ca, thì Đảng Cộng sản Việt Nam chính là người nhạc trưởng đã dẫn dắt cả dân tộc vươn tới những mùa Xuân rạng ngời, đong đầy ước vọng.

Khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào mùa Xuân năm 1930, đất nước ta đang chìm trong bóng tối của ách đô hộ thực dân. Những phong trào yêu nước tuy sục sôi nhưng thiếu sự dẫn dắt thống nhất, khiến cho các cuộc khởi nghĩa dù anh dũng nhưng đều thất bại. Trong bối cảnh đó, sự xuất hiện của Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự sáng lập và lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thắp lên ánh sáng soi đường, dẫn dắt nhân dân ta đến bến bờ độc lập.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chính là minh chứng cho tài năng lãnh đạo và tầm nhìn chiến lược của Đảng. Từ một quốc gia thuộc địa, Việt Nam đã tự mình đứng lên, lật đổ chế độ thực dân phong kiến và tuyên bố độc lập. Thắng lợi này không chỉ là sự kiện trọng đại của dân tộc mà còn là nguồn cảm hứng cho các phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Ngày 2-9-1945, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, không chỉ là một thời khắc lịch sử mà còn là mùa Xuân rực rỡ của cả dân tộc.

Không dừng lại ở đó, Đảng tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta vượt qua những thử thách lớn lao của lịch sử. Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 là một dấu son chói lọi, khẳng định sức mạnh của một dân tộc nhỏ bé nhưng kiên cường. Và đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân năm 1975, kết thúc hơn 20 năm chiến tranh khốc liệt, thống nhất đất nước và đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới.

Nếu những năm tháng đấu tranh giành độc lập là mùa Xuân của tinh thần yêu nước và khát vọng tự do, thì công cuộc Đổi mới (bắt đầu từ năm 1986) là mùa Xuân của sự sáng tạo, đổi mới và hội nhập. Sau chiến tranh, đất nước phải đối mặt với vô vàn khó khăn, từ nền kinh tế kiệt quệ đến những thách thức trong việc xây dựng xã hội chủ nghĩa. Chính trong bối cảnh đó, Đảng đã đưa ra quyết sách lịch sử - khởi xướng công cuộc Đổi mới, mở ra một trang mới cho đất nước.

Đổi mới không chỉ đơn thuần là cải cách kinh tế mà còn là cuộc cách mạng toàn diện về tư duy và phương pháp lãnh đạo. Dưới ánh sáng của Đổi mới, Việt Nam từ một nước nghèo nàn, lạc hậu đã từng bước vươn lên trở thành một nền kinh tế đang phát triển. Những thành tựu về tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân và mở rộng quan hệ quốc tế là minh chứng rõ nét cho sự thành công của đường lối này.

Trong gần bốn thập kỷ qua, Đổi mới đã giúp Việt Nam đạt được những bước tiến dài trên mọi lĩnh vực. Đặc biệt, sự hội nhập quốc tế sâu rộng đã nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Đảng không chỉ dẫn dắt nhân dân vượt qua nghèo đói mà còn khơi dậy niềm tự hào dân tộc, niềm tin vào một tương lai tốt đẹp hơn.

Niềm tin của nhân dân vào Đảng không phải tự nhiên mà có. Đó là kết quả của cả một quá trình đấu tranh gian khổ, hy sinh và cống hiến. Đảng đã chứng minh vai trò lãnh đạo không chỉ trong những thời điểm lịch sử cam go mà còn trong việc xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Trong thời đại ngày nay, khi thế giới đối mặt với nhiều biến động khó lường, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng lại càng thể hiện rõ giá trị. Từ việc ứng phó với đại dịch Covid-19 đến những quyết sách kinh tế, xã hội quan trọng, Đảng luôn đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu. Những thành tựu mà Việt Nam đạt được không chỉ là kết quả của sự nỗ lực chung mà còn là minh chứng cho sự đúng đắn trong đường lối lãnh đạo của Đảng.

Đặc biệt, tinh thần đoàn kết và ý chí vươn lên của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng chính là ngọn lửa thắp sáng những mùa Xuân mới. Đó là mùa Xuân của niềm tin, của khát vọng đưa đất nước ngày càng phát triển, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Dưới ánh sáng của Đảng, dân tộc Việt Nam đã đi qua nhiều mùa Xuân lịch sử. Nhưng những mùa Xuân ấy không chỉ là đích đến mà còn là nền tảng để chúng ta vươn tới những tầm cao mới. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, Việt Nam đứng trước những cơ hội lớn nhưng cũng không ít thách thức.

Để hiện thực hóa khát vọng phát triển, Đảng đã đề ra những chiến lược dài hạn, từ việc nâng cao chất lượng giáo dục, phát triển khoa học - công nghệ đến xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Những mục tiêu như “không để ai bị bỏ lại phía sau” hay “phát triển bền vững”... chính là lời cam kết mạnh mẽ của Đảng đối với nhân dân.

Hơn bao giờ hết, mỗi người dân Việt Nam cần nhận thức rõ vai trò của mình trong việc đóng góp vào sự phát triển chung. Đảng đã trao cho chúng ta niềm tin và hy vọng, trách nhiệm của chúng ta là biến niềm tin ấy thành hành động cụ thể, để mùa Xuân hôm nay mãi mãi rạng ngời.

Đảng đã cho ta những mùa Xuân đầy ước vọng - mùa Xuân của độc lập, tự do, của đổi mới và phát triển. Mỗi mùa Xuân đi qua đều để lại những dấu ấn sâu sắc, là minh chứng cho sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Nhìn lại chặng đường đã qua, chúng ta không khỏi tự hào về những thành tựu vĩ đại mà Đảng và nhân dân đã đạt được. Hành trình phía trước còn dài, với nhiều cơ hội và thách thức đang chờ đón. Đảng đã cho ta những mùa Xuân đầy ước vọng, nhưng mùa Xuân ấy sẽ chỉ mãi tươi đẹp nếu chúng ta tiếp tục đoàn kết, nỗ lực và sáng tạo. Hãy cùng nhau biến mùa Xuân hôm nay thành bệ phóng cho những mùa Xuân rực rỡ hơn trong tương lai, để Việt Nam mãi mãi là một quốc gia độc lập, tự cường và phát triển bền vững./.




Phải chăng muốn bảo vệ được chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc thì phải liên minh quân sự với một cường quốc

“Không liên minh quân sự” là quan điểm và chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Song, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị luôn dùng mọi thủ đoạn, chiêu trò để hướng lái dư luận, hòng chống phá quan điểm đó, nhất là trong tình hình hiện nay.

Họ cho rằng “Chỉ có liên minh quân sự với một cường quốc thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền, bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc”. Theo họ: Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là nguy cấp, vì sức mạnh quân sự Việt Nam hiện nay là “quá yếu”, “lạc hậu”; vì vậy, Việt Nam cần liên minh quân sự với một nước lớn có thực lực quân sự, quốc phòng mạnh thì sẽ được hỗ trợ tối đa về mọi mặt để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển, đảo quốc gia. Rồi họ kết luận, chính sách “không liên minh quân sự” chẳng những không giữ được đất nước trước xâm lược, mà cũng không giữ nổi chế độ, nó còn làm Đảng ta “mất cả chì lẫn chài” (ám chỉ Đảng ta sẽ mất cả quyền lãnh đạo). Thậm chí, họ không ngại chỉ ra rằng: “Việt Nam liên minh quân sự với Mỹ sớm ngày nào thì nguy cơ tiếp tục mất đảo, mất quyền chủ quyền trên Biển Đông cũng như nguy cơ hứng chịu một cuộc chiến tranh trên biển lẫn đất liền bị đẩy lùi sớm ngày ấy” (!?).

Những lý lẽ trên là hoàn toàn không phù hợp với đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng như thực tiễn cách mạng Việt Nam. Chúng ta có thể phân tích vấn đề này trên những khía cạnh sau đây:

Một là, chủ quyền quốc gia - dân tộc là thiêng liêng và tối cao không thể phó thác cho bên ngoài, dù đó là ai. Trong quan hệ quốc tế hiện nay, các quốc gia đều đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc, nhất là những lợi ích cốt lõi như: độc lập, chủ quyền, chế độ xã hội,… trên nguyên tắc hai bên cùng có lợi, thì việc các nước giúp nhau bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc không hề đơn giản. Cốt vật chất để gắn kết các liên minh chính là lợi ích chung và phần lợi ích của mỗi bên thành viên trong liên minh nhận được. Những liên minh “thần thánh” đều là giả tưởng trong đầu óc của những nhà huyễn tưởng, không có chỗ đứng trong thực tiễn chính trị - quân sự sống động, phức tạp và thực dụng hiện nay. Việc một nước nhỏ muốn liên minh quân sự với một cường quốc (nước lớn) nhằm mục đích bảo vệ được chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc của mình, vậy lợi ích của cường quốc sẽ là gì trong sự liên minh này? Xưa nay không ai cho không ai bao giờ; cái gì cũng có giá của nó. Cái giá ở đây là nước nhỏ có thể tránh được nguy cơ mất chủ quyền và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc mình trước một mối đe dọa nào đó từ bên ngoài, nhưng trước khi có thể tránh được những nguy cơ đó, thì cái giá phải trả hiện hữu và có thật, đó là: nước nhỏ phải chấp nhận nhượng bộ ít nhiều về chủ quyền hoặc lợi ích quốc gia - dân tộc mình với cường quốc liên minh. Đó là vốn liếng, tài sản “thế chấp” để nhận được những “cam kết” bảo vệ an ninh từ đồng minh. Đó cũng là “luật chơi” không thể khác trong quan hệ quốc tế hiện nay. Ở đây nước nhỏ đã đem lợi ích thực tế để đánh đổi lấy khả năng bảo vệ an ninh. Một khả năng mà khi muốn hiện thực hóa nó bao giờ cũng gắn với những điều kiện “đính kèm” cần và đủ từ phía các đồng minh nước lớn. Đối với mọi quốc gia, lãnh thổ đất nước luôn đóng vai trò là cơ sở vật chất cho sự tồn tại của quốc gia, có giá trị thiêng liêng và bất biến. Đối với Việt Nam, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ xã hội chủ nghĩa,… là lợi ích cốt lõi, tối cao và thiêng liêng, đã biết bao thế hệ hy sinh xương máu để giành được. Vì vậy, vấn đề độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc không thể phó thác cho bất cứ ai, mà phải do người Việt Nam tự quyết định. Điều này được Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện nhất quán từ trước đến nay theo nguyên tắc “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”.

Hai là, muốn bảo vệ vững chắc chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc thì phải nêu cao tính độc lập, tự chủ, không thể ảo tưởng trông chờ vào liên minh. Thực tiễn lịch sử thế giới cho thấy, không phải cứ liên minh với một cường quốc quân sự là có thể bảo vệ được chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc của các nước trong liên minh, nhất là đối với các nước nhỏ. Cũng như hầu hết các quốc gia, các cường quốc đều đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc của họ và vì lợi ích “đại cục” mà họ theo đuổi, họ sẽ xử lý quan hệ với các đồng minh theo tiêu chí và triết lý ưu tiên lợi ích “trước hết”, “trên hết”, “cốt lõi” của họ. Trong nhiều trường hợp như vậy, không ít đồng minh của các cường quốc đã phải “lãnh đủ” hậu quả: từ sự “lạnh nhạt”, “ngó lơ”, “làm ngơ” đến “bỏ rơi”, thậm chí “phản bội” đồng minh để bắt tay với kẻ thù của cường quốc đồng minh. Điều này cho thấy một thực tế lịch sử, trên thế giới chưa bao giờ một nước nào có thể hy sinh lợi ích của dân tộc mình chỉ vì lợi ích của một dân tộc khác.

Đối với Việt Nam, ngay trong điều kiện hai cuộc kháng chiến cực kỳ tàn khốc, ác liệt, gian khổ và kéo dài, tuy nhận được sự giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa và bạn bè quốc tế, song Việt Nam vẫn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, không tham gia liên minh quân sự với cường quốc. Đó là bài học lớn được rút ra từ công cuộc kháng chiến, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Việc Việt Nam - Lào - Campuchia cùng thành lập liên minh nhân dân (13/3/1951) nhằm tăng cường khối đại đoàn kết ba nước Đông Dương trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung là thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tay sai, giành độc lập dân tộc, xây dựng đất nước, làm cho nhân dân ba nước được tự do, hạnh phúc và tiến bộ, là đòi hỏi từ thực tiễn, yêu cầu khách quan tình hình cách mạng 03 nước Đông Dương. Đây là liên minh mang tính tự vệ, chính nghĩa với vai trò như một trong những phương thức bảo vệ Tổ quốc vào thời điểm lúc đó. Mặc dù vậy, mỗi nước đều nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ về đường lối, tổ chức thực hiện của mình. Điều đó lần nữa khẳng định, để bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia - dân tộc, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, kể cả thời bình lẫn thời chiến, phải luôn nêu cao tính độc lập, tự chủ, không thể ảo tưởng trông chờ sự trợ giúp của nước ngoài.

Ba là, không phải vì sức mạnh quốc phòng của ta “quá yếu” và “lạc hậu” nên phải liên minh quân sự với nước ngoài. Nếu cho rằng chỉ vì ta yếu và lạc hậu mới cần đến liên minh vậy khi ta mạnh và hiện đại có cần liên minh không? Vì thực tế cho thấy, không ít trường hợp nước lớn vẫn chủ động liên minh với nước nhỏ đấy thôi, và cũng có trường hợp nước nhỏ khước từ liên minh với nước lớn. Vậy phải lý giải thế nào cho thỏa đáng vấn đề này? Như chúng ta biết, mấu chốt của liên minh quân sự không hoàn toàn bắt nguồn từ sức mạnh quân sự yếu hay mạnh mà từ lợi ích và quan điểm của mỗi bên tham gia liên minh. Hơn nữa, cho rằng sức mạnh quân sự của ta yếu và lạc hậu là không hoàn toàn đúng với thực tế. Theo bảng xếp hạng Chỉ số sức mạnh quân sự toàn cầu của trang web Global Firepower (Hỏa lực toàn cầu - GFP), dựa vào 55 chỉ số (ngoại trừ vũ khí hạt nhân), chủ yếu là dân số, diện tích, số lượng vũ khí, ngân sách quốc phòng, nguồn nhân lực, giao thông, việc tiếp cận các tài sản chiến lược, nguồn nhiên liệu, và điều kiện kinh tế hiện tại, thì Việt Nam không phải là nước có sức mạnh quân sự yếu.

Mặt khác, sức mạnh quân sự của một quốc gia không chỉ đánh giá bằng sức mạnh quân sự thuần túy, mà bao giờ cũng được đặt trong mối quan hệ với sức mạnh tổng hợp của quốc gia đó. Đối với Việt Nam, sau hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện; sức mạnh tổng hợp của quốc gia - dân tộc bao gồm: sức mạnh vật chất và tinh thần, sức mạnh của truyền thống và hiện đại, sức mạnh cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại bắt nguồn từ sức mạnh của con người Việt Nam không ngừng được nâng cao, thế và lực của đất nước được nâng lên một tầm cao mới. Chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững và tăng cường, ngày càng phát huy tính ưu việt, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng được giữ vững và phát huy. Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay. Nhờ đó, tạo ra vận hội mới, tạo bệ phóng vững chắc để đưa nước ta vươn lên những đỉnh cao mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, trên bình diện sức mạnh quân sự, cũng như trên bình diện sức mạnh tổng hợp của quốc gia, sức mạnh của Việt Nam không phải là “quá yếu” và “lạc hậu” như những kẻ ác ý, hay yếu bóng vía rêu rao. Trái lại, chúng ta hoàn toàn có đủ cơ sở để khẳng định và tin tưởng vào sức mạnh của đất nước và kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống, mà không nhất thiết phải liên minh quân sự với nước ngoài.

Bốn là, thành công của Việt Nam trong giữ vững chủ quyền, độc lập, bảo vệ lợi ích của quốc gia - dân tộc những năm qua chính là thành công của xây dựng nền quốc phòng, an ninh độc lập, tự chủ, tự cường; và thực hiện thắng lợi đường lối “đa dạng hóa, đa phương hóa” quan hệ đối ngoại. Lịch sử chiến tranh của Việt Nam đã khẳng định, chính việc phát huy sức mạnh nội lực, tự lực, tự cường mới là yếu tố quyết định tạo ra nguồn sức mạnh to lớn nhất, vững chắc nhất để bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược và tay sai trong thế kỷ XX đã khẳng định: nhân dân ta giành được thắng lợi to lớn chính là nhờ thực hiện đường lối quân sự độc lập, tự chủ, gắn liền với sự lãnh đạo sáng suốt, tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh và lực lượng vũ trang. Ngày nay, việc xây dựng nền quốc phòng, an ninh độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường kết hợp với mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh là bảo đảm vững chắc cho bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc. Từ thực tiễn đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Chúng ta bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Trong đó, sức mạnh bên trong của đất nước, của chế độ chính trị, nền kinh tế và tiềm lực quốc gia là nhân tố quyết định”.

Cùng với đó, thực hiện đường lối dối ngoại “đa phương hóa, đa dạng hóa, đến nay, Việt Nam thiết lập quan hệ đối ngoại quốc phòng với trên 80 quốc gia và vùng lãnh thổ; đặt văn phòng tùy viên quân sự tại Liên hợp quốc và 37 quốc gia khác; có 49 quốc gia đặt văn phòng tùy viên quân sự tại Việt Nam3. Quan hệ hợp tác quốc phòng được nhiều nước đối tác coi là một trong những trụ cột quan trọng trong quan hệ hợp tác với Việt Nam. Qua đó, góp phần tăng cường đoàn kết quốc tế; củng cố và phát triển tiềm lực quốc phòng, an ninh ngày càng vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Như vậy, chủ trương không tham gia liên minh quân sự là đúng đắn và phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay khi hòa bình, hợp tác, phát triển đang là xu thế chủ đạo và chủ trương đối ngoại của Việt Nam là đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn tốt, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Thực hiện chủ trương này là cơ sở để chúng ta tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay./.

ST.

Đấu tranh, bác bỏ luận điệu xuyên tạc, phủ nhận nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng

Tự phê bình và phê bình là đặc trưng của Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, một nguyên tắc trong sinh hoạt, hoạt động của Đảng, là nhu cầu nội tại của tổ chức đảng và đảng viên; đồng thời, là quy luật phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi vậy, đề cao cảnh giác, nhận diện rõ và chủ động đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận nguyên tắc và hoạt động tự phê bình và phê bình trong Đảng của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

1. Viện dẫn vào những hạn chế trong tiến hành tự phê bình và phê bình ở một số cấp ủy, tổ chức đảng; các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ra sức rêu rao rằng: tự phê bình và phê bình trong Đảng thực chất chỉ nhằm “thổi phồng ưu điểm”, “che giấu khuyết điểm”, cốt yếu để “tâng bốc”, “bợ đỡ” và “lấy lòng nhau” mà thôi (!) Thực chất đây là những luận điệu có ý đồ chính trị xấu, hoặc chí ít cũng là không đúng tầm, không đầy đủ, không chính xác, “chỉ thấy cây mà không thấy rừng”, xem xét, đánh giá, nhận định phiến diện, cố tình xuyên tạc, phủ nhận mục đích, bản chất nguyên tắc và hoạt động tự phê bình và phê bình của Đảng ta.

Thời gian qua, trước yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) toàn Đảng tiến hành cuộc tự phê bình và phê bình được triển khai thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, bài bản, từ Trung ương đến cơ sở, từ trong cấp ủy đến mọi cán bộ, đảng viên, đạt được nhiều kết quả tích cực, “…đã góp phần đấu tranh với những suy nghĩ và hành vi sai trái nhằm cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực. Nhiều vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp đã được phát hiện và tập trung chỉ đạo điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, được nhân dân đồng tình, ủng hộ”. Tuy nhiên, ở một số cấp ủy, tổ chức đảng trong phê bình vẫn còn hiện tượng nể nang, né tránh, tâm lý ngại va chạm, nhất là phê bình cấp trên. Cá biệt, còn hiện tượng thiên về phê bình, coi nhẹ tự phê bình hoặc tự phê bình nhưng chỉ tập trung phân tích, luận giải những ưu điểm, kết quả, thành tích, chưa nói thẳng, nói thật, nói hết, còn giấu giếm, không dám nhận khuyết điểm; khi có khuyết điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận. Ở một số nơi còn hiện tượng lợi dụng phê bình để chỉ trích, phê phán với động cơ, cách làm không trong sáng, v.v. Những hiện tượng này chỉ là thiểu số, không phản ánh về bản chất, mục đích, ý nghĩa chính trị và nhân văn của tự phê bình và phê bình, càng không thể là cái cớ, là lý do để các thế lực phủ nhận những kết quả của hoạt động tự phê bình và phê bình của đảng viên, tổ chức đảng các cấp trong thời gian qua.

Trên thực tế, với tinh thần cầu thị và thẳng thắn, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, công tác tự phê bình và phê bình trong Đảng luôn được chuẩn bị và tiến hành công phu, nghiêm túc, chặt chẽ và thận trọng; những ưu điểm, thành tích được phân tích làm rõ; những hạn chế, khuyết điểm, sai phạm của tổ chức đảng, của đảng viên từ Trung ương đến cơ sở, ở các tổ chức đảng trong các ngành, các lĩnh vực đã được chỉ ra. Các trường hợp sai phạm bị kiểm điểm, kết luận rõ ràng, xử lý nghiêm minh, không bao che, không có “vùng cấm”,… được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ. Chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng đến tháng 3/2021, thông qua hoạt động tự phê bình và phê bình, kiểm tra, giám sát, toàn Đảng “đã kiểm tra gần 265.000 tổ chức đảng và trên 1,1 triệu đảng viên. Trong đó, đã thi hành kỷ luật hơn 1.300 tổ chức đảng và gần 70.000 đảng viên. Riêng Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 10 tổ chức đảng, 229 đảng viên”. Đó là minh chứng khẳng định: luận điệu xuyên tạc cho rằng tự phê bình và phê bình trong Đảng hiện nay chỉ nhằm “thổi phồng ưu điểm”, “cốt lấy lòng nhau”, “tung hô”, “bợ đỡ nhau” là hoàn toàn sai trái.

2. Các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị xuyên tạc rằng: hoạt động tự phê bình và phê bình trong Đảng trên thực tế là những cuộc “hạ bệ”, “thanh trừng”, “đấu đá nội bộ” không thương tiếc giữa các cá nhân bất đồng chính kiến, giữa các nhóm lợi ích trong nội bộ Đảng dù đã được thỏa hiệp nhưng không thể dung hòa. Trước hết, cần khẳng định rõ đây là những luận điệu hoàn toàn sai trái, phản động, phản khoa học. Bởi, hoạt động tự phê bình và phê bình luôn diễn ra trong một tổ chức đảng nhất định, được tiến hành chặt chẽ, nghiêm túc, công khai, minh bạch trên cơ sở các nguyên tắc, nhất là nguyên tắc tính đảng, vì mục tiêu lý tưởng, vì sự nghiệp, lợi ích chung, hoàn toàn trong sáng, vô tư, không bè phái, cục bộ, không bản vị cá nhân.

Vấn đề cốt yếu để phân biệt giữa hoạt động tự phê bình và phê bình của đảng viên, tổ chức đảng với hoạt động “hạ bệ”, “triệt tiêu”, “thanh trừng” lẫn nhau giữa các cá nhân, nhóm lợi ích, đảng phái, tổ chức khác trong xã hội chính là mục đích của hoạt động này. Ở đây, cần thấy rõ rằng, tự phê bình và phê bình trong Đảng nhằm chỉ rõ ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm, nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế và hướng khắc phục nhằm hướng đến sự phát triển, tiến bộ, trưởng thành của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức đảng và sự vững mạnh của toàn Đảng, vì mục tiêu chung, lợi ích chung trong sáng. Qua đó, làm cho đội ngũ đảng viên ngày càng tiến bộ trưởng thành, tổ chức đảng thêm đoàn kết, thống nhất, ngày càng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Hơn nữa, hoạt động tự phê bình và phê bình trong Đảng thường diễn ra dưới các hình thức và phương pháp công khai, minh bạch, dân chủ trên tình thương yêu đồng chí, đồng đội. Tự phê bình và phê bình luôn có tình thương yêu của con người với con người; và chính tình yêu thương của đồng chí, đồng đội đã tiếp thêm sức mạnh cho những cán bộ, đảng viên sau những vấp ngã, những sai lầm hay khuyết điểm để vươn lên trong cuộc sống, hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và tổ chức giao phó. Bởi vậy, khi phê bình đồng chí mình không có thái độ công kích, đao to, búa lớn, thiếu tôn trọng nhân cách dẫn đến mặc cảm, xa lánh, tự ti. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “... phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc. Phê bình việc làm, chứ không phải phê bình người”. Do vậy, không ai, không thể và không bao giờ có thể xuyên tạc, vu khống, phủ nhận nguyên tắc và hoạt động tự phê bình và phê bình của Đảng Cộng sản Việt Nam.

3. Các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị ra sức rêu rao: tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi thường được tiến hành theo kế hoạch, theo định hướng, chỉ đạo bị động từ cấp trên, mang tính đối phó “dĩ hòa vi quý”; rằng, về cơ bản khi sinh hoạt, kiểm điểm, biểu quyết, xin ý kiến đều có tình trạng “nhất trí cao”, “đồng thuận xuôi chiều”, v.v.

Những biểu hiện “hình thức”, “dĩ hòa vi quý” trong tự phê bình và phê bình của đảng viên, tổ chức đảng trong thời gian qua là có thật, nhưng chỉ mang tính chất cá biệt, không điển hình và không phải là đa số, phổ biến. Những hiện tượng đó không phản ánh bản chất hoạt động tự phê bình và phê bình của Đảng, mà bản chất tự phê bình và phê bình trong Đảng phải có tính nguyên tắc, tính giáo dục, thuyết phục, khách quan, trung thực, chân thành, công khai, cụ thể, thiết thực và kịp thời. Các quy trình, nhiệm vụ, nội dung của hoạt động tự phê bình và phê bình đều được chuẩn bị và tiến hành công phu, nghiêm túc, chặt chẽ, có nền nếp, bảo đảm các nguyên tắc, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

Với tinh thần tự phê bình và phê bình nghiêm túc, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII), chỉ rõ: “tự phê bình và phê bình nhiều nơi mang tính hình thức; vẫn còn tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm; một số cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình trong công việc được giao”4. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “có nơi còn buông lỏng sinh hoạt đảng, chất lượng sinh hoạt chưa cao, sinh hoạt chi bộ ở nhiều nơi vẫn còn hình thức; tính chiến đấu trong tự phê bình và phê bình còn yếu”5. Đây là những minh chứng cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn thẳng thắn, nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật những hạn chế, tồn tại trong hoạt động tự phê bình và phê bình, trên cơ sở đó đề ra giải pháp thực hiện tốt hơn nguyên tắc, hoạt động tự phê bình và phê bình. Đảng Cộng sản Việt Nam yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc vị trí, ý nghĩa của tự phê bình và phê bình đối với công tác xây dựng Đảng, nó vừa mang tính cách mạng, khoa học, vừa mang tính nhân văn, thúc đẩy con người vươn tới sự hoàn thiện. Đồng thời, xây dựng kế hoạch, duy trì, thực hiện nghiêm nền nếp, chế độ tự phê bình và phê bình để đánh giá, phân loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên; thực hiện đúng phương châm, phương pháp, nêu cao vai trò gương mẫu của người đứng đầu; thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tự phê bình và phê bình, làm cho hoạt động này ngày càng thực chất, góp phần ngăn ngừa, đẩy lùi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, xây dựng Đảng ta thật là đạo đức, văn minh, là cơ sở bác bỏ mọi xuyên tạc, phủ nhận của các thế lực về nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng./.

ST.