Thứ Hai, 3 tháng 2, 2025
VỮNG TIN THEO ĐẢNG!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: MÙA XUÂN CỦA ĐẢNG HOÀ TRONG LÒNG DÂN TỘC!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 40 NĂM ĐỔI MỚI VÀ KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH!
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM - PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: “THẾ TRẬN LÒNG DÂN”!
Đảng viên, quân nhân - tuy hai nhưng là một
Nhìn vào nhiệm vụ của đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam và tiêu chuẩn, nghĩa vụ của sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng, hạ sĩ quan, binh sĩ (gọi chung là quân nhân) công tác trong Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, chúng ta thấy rất nhiều điểm trùng hợp.
Đối với đảng viên, Điều 2 Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định: Thứ nhất, tuyệt đối trung thành với mục đích, lý tưởng cách mạng của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước; hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; phục tùng tuyệt đối sự phân công và điều động của Đảng.
Thứ hai, không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ, kiến thức, năng lực công tác, phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, có lối sống lành mạnh; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, cục bộ, quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác. Chấp hành quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm.
Thứ ba, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân; tích cực tham gia công tác quần chúng, công tác xã hội nơi làm việc và nơi ở; tuyên truyền, vận động gia đình và nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Thứ tư, tham gia xây dựng, bảo vệ đường lối, chính sách và tổ chức của Đảng; phục tùng kỷ luật, giữ gìn đoàn kết, thống nhất trong Đảng; thường xuyên tự phê bình và phê bình, trung thực với Đảng; làm công tác phát triển đảng viên; sinh hoạt đảng và đóng đảng phí đúng quy định.
Đối chiếu với những nhiệm vụ trên thì ngoài yêu cầu về phẩm chất đạo đức cách mạng như đảng viên, tiêu chuẩn, nghĩa vụ hàng đầu đối với quân nhân trong QĐND Việt Nam còn là: Có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và nhân dân, với Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; có tinh thần cảnh giác cách mạng cao, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia xây dựng đất nước, bảo vệ tài sản và lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức; bảo vệ tính mạng, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân... Sĩ quan còn có nghĩa vụ thường xuyên chăm lo lợi ích vật chất và tinh thần của bộ đội (giống như đảng viên là chăm lo cho nhân dân); gương mẫu chấp hành và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tôn trọng và gắn bó mật thiết với nhân dân.
Hội tụ những phẩm chất cao quý ấy và dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng cùng tinh thần “vì nhân dân phục vụ”, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, viết tiếp những trang sử vẻ vang mới của QĐND Việt Nam anh hùng.
BỔ NHIỆM
Sáng 3/2/2025, Bộ Chính trị đã công bố và trao quyết định về việc thành lập, chỉ định nhân sự cho các Đảng bộ và cơ quan Trung ương.
Theo đó, đồng chí Trần Cẩm Tú, Thường trực Ban Bí thư được chỉ định làm Bí thư các cơ quan đảng Trung ương. Thủ tướng Phạm Minh Chính được chỉ định làm Bí thư Đảng ủy Chính phủ. Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn được chỉ định làm Bí thư Đảng ủy Quốc hội. Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Đỗ Văn Chiến được chỉ định làm Bí thư Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể Trung ương.
Bộ Chính trị cũng quyết định hợp nhất Ban Tuyên giáo Trung ương và Ban Dân vận Trung ương, bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Bộ Chính trị làm Trưởng Ban. Ban Kinh tế Trung ương được đổi tên thành Ban Chính sách, chiến lược Trung ương do đồng chí Trần Lưu Quang làm Trưởng Ban.
Đồng chí Lê Hoài Trung, Bí thư Trung ương Đảng được bổ nhiệm giữ chức Chánh Văn phòng Trung ương Đảng.
Một điểm đáng chú ý trong đợt bổ nhiệm này là xu hướng mới trong việc đưa những người có kinh nghiệm quốc tế vào vị trí then chốt của bộ máy lãnh đạo. Điều này cho thấy định hướng chuyển dịch từ tư duy địa phương sang tầm nhìn quốc tế, góp phần giúp Việt Nam tiếp cận sâu rộng hơn với những biến động về kinh tế, chính trị của thế giới.
Xu hướng này sẽ giúp bộ máy kết nối và phản ứng nhanh nhạy hơn với các vấn đề quốc tế, rút ngắn thời gian xử lý thông tin và ra quyết định.
TINH THẦN ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ, SÁNG TẠO - MỘT PHẨM CHẤT CAO QUÝ CỦA ĐẢNG TA
TINH THẦN ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ, SÁNG TẠO - MỘT PHẨM CHẤT CAO QUÝ CỦA ĐẢNG TA
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng nước ta đã giành được nhiều thắng lợi vĩ đại, vượt qua những khó khăn, thử thách để đứng vững và tiến lên phía trước bằng tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo. Trước hết, đó là kết quả việc nắm vững chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trung thành tuyệt đối và vận dụng sáng tạo vào điều kiện thực tiễn Việt Nam, đề ra đường lối, phương pháp cách mạng đúng đắn. Đồng thời, Đảng ta có nghệ thuật tổ chức thực tiễn giỏi để biến đường lối thành hiện thực.
Từ lúc mới ra đời (ngày 03-02-1930), với tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo, Đảng ta đã xác định được Chính cương, Sách lược vắn tắt - cương lĩnh đầu tiên của Đảng - một cách đúng đắn. Cương lĩnh chỉ rõ con đường cách mạng Việt Nam: “Tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng, để đi tới xã hội Cộng sản”. Cương lĩnh còn chỉ rõ nhiệm vụ, mục tiêu, lực lượng, phương pháp cách mạng, công tác xây dựng Đảng... Với tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo, Đảng ta đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc; giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Những nội dung cơ bản đó đã giải đáp đúng và trúng những vấn đề quan trọng, bức thiết do lịch sử đặt ra, phản ánh đúng thực tiễn cách mạng Việt Nam, phù hợp với xu thế chung của thời đại.
Đường lối đúng cho phép huy động mọi lực lượng yêu nước trong dân tộc; tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của quốc tế; tạo cơ sở vững chắc để sử dụng mọi phương pháp, hình thức đấu tranh, phát huy sức mạnh tổng hợp, đưa cách mạng tiến lên. Cũng nhờ đường lối đúng, ngay từ đầu, Đảng ta đã đánh bại mọi xu hướng dân tộc cải lương tư sản và chủ nghĩa dân tộc phiêu lưu tiểu tư sản. Do đó, đường lối vừa được vạch ra đã có sự hấp dẫn, lôi kéo hàng triệu quần chúng nhân dân đứng lên làm cách mạng. Trước sự xuất hiện của tình thế cách mạng khi quân Nhật đầu hàng đồng minh, với tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, Đảng đã phát động toàn dân đứng lên, từ khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào đúng thời điểm chín muồi nhất. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 được coi là một trong những điển hình sáng tạo về khoa học và nghệ thuật khởi nghĩa của Đảng ta. Thực tế đã chứng minh, không một đảng nào, một nước nào ở khu vực làm được như Đảng ta trong hoàn cảnh lịch sử đó, đồng thời bác bỏ những quan điểm sai trái cho rằng, Việt Nam giành chính quyền trong điều kiện có “khoảng trống quyền lực” hòng phủ định tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng ta.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chính quyền dân chủ nhân dân vừa được thành lập, cách mạng nước ta gặp nhiều khó khăn, thử thách, tình hình đất nước như “ngàn cân treo trên sợi tóc”. Nhưng, với bản lĩnh độc lập, tự chủ, sáng tạo, Đảng ta đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh đã bình tĩnh, sáng suốt chèo lái, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua thác ghềnh tới bờ bến vinh quang. Những chủ trương của Đảng vừa cứng rắn về nguyên tắc, vừa mềm dẻo về sách lược ở thời kỳ đó đã lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là giữ vững chính quyền cách mạng, chuẩn bị lực lượng mọi mặt để đối phó với chiến tranh xâm lược. Trong hai cuộc kháng chiến, bản lĩnh độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng ta lại tỏa sáng. Trước kẻ thù có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn ta gấp bội, Đảng ta vẫn chấp nhận cuộc đụng đầu lịch sử, đánh địch và thắng địch bằng sức mạnh tổng hợp, đồng thời đảm bảo cho miền Bắc có hòa bình tương đối để xây dựng chủ nghĩa xã hội, hậu phương lớn của cách mạng cả nước. Chúng ta quán triệt và thực hành tư tưởng chiến lược tiến công, nhưng biết kéo địch xuống thang, đánh thắng từng bước để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn vào mùa Xuân năm 1975.
Trong hai cuộc kháng chiến, nhân dân ta được sự giúp đỡ to lớn, có hiệu quả của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, của bầu bạn quốc tế. Đảng và nhân dân ta coi đó là một trong những nhân tố cơ bản bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Nhưng thời kỳ đó cũng xảy ra sự bất đồng giữa các nước anh em, Một số nước có những toan tính đen tối đối với cách mạng Việt Nam, gây cho cách mạng nước ta nhiều khó khăn, phức tạp, cản trở lớn. Với bản lĩnh độc lập, tự chủ, sáng tạo, đứng vững trên lập trường mác-xít lê-nin-nít, kết hợp sự khôn ngoan về chính trị với sự dày dạn trong kinh nghiệm, Đảng ta đã sáng suốt, có tầm nhìn xa, trông rộng, khả năng ứng phó nhạy bén, kịp thời, khắc phục có hiệu quả mọi chướng ngại để giành thắng lợi cho cách mạng Việt Nam, góp phần củng cố sự đoàn kết trong phong trào cộng sản quốc tế. Nếu không độc lập, tự chủ và sáng tạo thì chúng ta không thể đi đến thắng lợi hoàn toàn.
Công cuộc đổi mới vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay là thời kỳ tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng được phát triển lên một tầm cao mới. Xuất phát từ thực tiễn xã hội Việt Nam, Đảng ta không sao chép, rập khuôn bất cứ mô hình có sẵn nào trên thế giới. Đường lối đổi mới của Đảng được hình thành do đòi hỏi bức thiết của quần chúng ở cơ sở, song luôn có sự lãnh đạo chặt chẽ, sáng tạo của Đảng. Từ khó khăn trong sản xuất và đời sống, quần chúng nhân dân đã sáng tạo ra nhiều cách nghĩ, cách làm hay, tuy cũng chứa đựng cả khả năng chệch hướng. Do kịp thời nắm bắt thực tiễn, tổng kết thực tiễn, Đảng ta đã từng bước khái quát thành quan điểm, đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Đường lối đó là sản phẩm của sự hòa quyện giữa ý Đảng với lòng dân, tuân theo đúng quy luật khách quan, phù hợp với thực tiễn và lợi ích, nguyện vọng, khả năng của quần chúng nhân dân.
Quá trình thực hiện đường lối đổi mới là quá trình Đảng ta, nhân dân ta sửa chữa những khuyết điểm, sai lầm đã mắc phải trong xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta trong thời kỳ bao cấp, đồng thời qua đó từng bước hình thành, phát triển tư duy mới, quan niệm mới về chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Đảng ta, nhân dân ta đã phải trải qua nhiều khó khăn thử thách, có những khó khăn tưởng chừng như không thể vượt qua. Trong những thời khắc lịch sử ấy, với bản lĩnh độc lập, tự chủ, sáng tạo, Đảng kịp thời đề xuất những nguyên tắc đổi mới, kết hợp chặt chẽ lập trường kiên định với tính sáng tạo, mềm dẻo, thông thoáng trong sách lược, đảm bảo đường lối đổi mới được thực hiện và phát triển đúng hướng, giành nhiều thành tựu, rất quan trọng. Cũng từ những thành tựu ấy, Đảng ta củng cố thêm niềm tin vững chắc rằng: nếu biết phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, chúng ta có thể vượt qua mọi thử thách, dù là những thử thách nghiêm trọng nhất.
Hiện nay, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã được xác định rõ hơn, đầy đủ hơn, nhưng cũng còn nhiều vấn đề đặt ra đòi hỏi Đảng phải tiếp tục nghiên cứu, đưa ra những quyết định đầy đủ, chính xác như: kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển các doanh nghiệp nhà nước, kết hợp khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển với việc hạn chế phân hóa giàu nghèo, bảo đảm công bằng xã hội; mở rộng kinh tế đối ngoại; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền… Đảng sẽ tiếp tục phát huy truyền thống độc lập, tự chủ, sáng tạo, đưa ra những chủ trương, chính sách quyết đoán, nhanh nhạy, kịp thời để không bỏ lỡ vận hội, đẩy lùi nguy cơ, tiếp tục đưa cách mạng nước ta tiến lên ngang hàng với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Trong 95 năm qua, bản lĩnh độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng luôn được thể hiện; đặc biệt, trước những bước ngoặt của lịch sử, bản lĩnh ấy càng tỏa sáng. Bản lĩnh độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng ta là kết tinh của nhiều nhân tố, nhưng trước hết là các nhân tố sau:
Thứ nhất, Đảng ta là Đảng Mác - Lênin - Hồ Chí Minh, luôn lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của mình. Đảng luôn trung thành, vận dụng, phát triển sáng tạo học thuyết đó trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đảng không ngừng nâng cao trình độ lý luận, khả năng tư duy lý luận và tổng kết thực tiễn, làm giàu trí tuệ cho Đảng. Đồng thời, Đảng luôn chủ động đấu tranh với những quan điểm sai trái, góp phần bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng.
Hai là, Đảng ta luôn trung thành vô hạn với lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của toàn dân tộc; một lòng một dạ vì nước, vì dân. Nhân dân luôn ủng hộ và đi theo Đảng. Đảng ta là văn minh, trí tuệ và đạo đức; nếu không có những phẩm chất cao quý ấy, Đảng không thể có bản lĩnh độc lập, tự chủ và sáng tạo.
Ba là, độc lập, tự chủ, sáng tạo phản ánh kinh nghiệm lãnh đạo chính trị của Đảng; một Đảng dày dạn, từng trải trong đấu tranh cách mạng mới có được những phẩm chất này. Lãnh đạo chính trị là một khoa học, đồng thời là một nghệ thuật mà bản lĩnh độc lập, tự chủ, sáng tạo là biểu hiện của khoa học và nghệ thuật đó./.
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH NÓI VỀ ĐẢNG VÀ ĐẢNG VIÊN
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH NÓI VỀ ĐẢNG VÀ ĐẢNG VIÊN
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều bài nói và viết về Đảng, vai trò, nhiệm vụ của Đảng và mỗi đảng viên trước nhân dân, Tổ quốc, dân tộc. Dưới đây là những lời trích của Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về Đảng và đảng viên:
"Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân".
(Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, H.1995, tập 12, tr 510).
"Đảng không phải là nơi để thăng quan, tiến chức, để phát tài. Vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, đảng viên phải trở thành người con hiếu thảo của Tổ quốc, của giai cấp".
(Sđd, tập 8, tr.34).
"NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ.
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.
Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.
Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra.
Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân".
(Sđd, tập 5, tr.698)
"Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật là vĩ đại!"
(Sđd, tập 10, tr 2)
"Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình".
(Sđd, tập 12, tr 510)
"Đảng ta tuy nhiều người nhưng khi tiến đánh chỉ như một người".
(Sđd, tập 5, tr.553)
"Sức mạnh của Đảng là ở sự đoàn kết nhất trí. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao ý thức tổ chức và kỷ luật, nghiêm chỉnh chấp hành đường lối và chính sách của Đảng, tôn trọng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng".
(Sđd, tập 11, tr.23)
"Đảng ta thành tích khá nhiều, nhưng khuyết điểm cũng không ít. Chúng ta cần phải thật thà tự phê bình để sửa chữa. Phải cố sửa chữa để tiến bộ".
(Sđd, tập 6, tr.166)
Phải thường xuyên nghiêm chỉnh phê bình và thật thà tự phê bình để giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, để cùng nhau tiến bộ. Làm cách mạng thì có đúng có sai. Cố nhiên đúng phải là chính, sai là phụ. Có sai thì chúng ta giúp nhau kiên quyết sửa chữa và cùng nhau hăng hái tiến lên".
(Sđd, tập 11, tr. 154)
"Chi bộ là gốc rễ của Đảng ở trong quần chúng. Chi bộ tốt thì mọi chính sách của Đảng đều được thi hành tốt, mọi công việc đều tiến bộ không ngừng. Trái lại, nếu chi bộ kém thì công việc không trôi chảy".
(Sđd, tập 11, tr.161)
"...cán bộ là cái gốc của mọi công việc".
( Sđd, tập 5, tr 269)
"Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém".
(Sđd, tập 5, tr.273)
"Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ "cộng sản" mà ta được họ yêu mến.
Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước. Đồng chí ta nhiều người đã làm được nhưng vẫn còn những người hủ hóa. Đảng có trách nhiệm gột rửa cho các đồng chí đó".
(Sđd, tập 5, tr.552)
"Đạo đức cách mạng là hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng".
(Sđd, tập 9, tr290)
"Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích gì khác. Cho nên Đảng phải ra sức tổ chức nhân dân, lãnh đạo nhân dân để giải phóng nhân dân và để nâng cao sinh hoạt, văn hóa, chính trị của nhân dân".
(Sđd, tập 5, tr.250)
"Đảng là đội tiên phong của giai cấp và dân tộc. Để làm tròn nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc, Đảng phải mạnh, toàn Đảng tư tưởng phải nhất trí, hành động phải nhất trí. Cho nên chỉnh Đảng là việc chính, phải đặc biệt chú trọng"…
Cảnh báo lừa đảo mua bán tiền giả trên mạng xã hội
Cảnh báo lừa đảo mua bán tiền giả trên mạng xã hội:
Theo Cục An toàn thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT), thời gian gần đây, hiện tượng mua bán tiền giả trên các mạng xã hội như Facebook, TikTok đang phổ biến và gây lo ngại.
Chỉ cần tìm kiếm cụm từ "tiền giả", hàng loạt các tài khoản cá nhân và hội nhóm liên quan sẽ xuất hiện. Các thông tin bình luận phía dưới phần lớn là người bán nhắn nhủ sẽ báo giá riêng vào tài khoản cá nhân của khách hàng.
Người bán thường để lại thông tin mập mờ trên bài đăng và khuyến khích khách hàng nhắn tin trực tiếp để được báo giá. Ngoài ra, ngay khi người mua truy cập vào trang cá nhân của người bán, họ sẽ lập tức nhận được tin nhắn riêng giới thiệu về dịch vụ bán tiền giả.
Các bài viết và clip quảng cáo rao bán tiền giả với nhiều mệnh giá khác nhau, ví dụ như 1 triệu đồng mua được 10 triệu đồng, có tài khoản rao bán 1 triệu đồng được 14 triệu đồng không phải đặt cọc trước và được kiểm tra hàng.
Người mua càng đặt số lượng lớn, tỷ lệ quy đổi sẽ càng ưu đãi. Việc thanh toán không yêu cầu đặt cọc trước, khách hàng nhận hàng qua bưu điện, kiểm tra thanh toán trực tiếp cho nhân viên bưu điện hoặc người giao tới và được kiểm tra trước khi nhận hàng. Đáng chú ý, các tin nhắn từ các tài khoản là học sinh, sinh viên và người trẻ tuổi chiếm phần nhiều.
Để phòng tránh thủ đoạn lừa đảo tinh vi này, Cục An toàn thông tin khuyến cáo người dân nên lựa chọn các cơ sở uy tín để thực hiện giao dịch đổi tiền. Không tham gia vào giao dịch tiền tệ không rõ nguồn gốc trên mạng xã hội hoặc qua các nền tảng không chính thức.
Trước khi thực hiện bất kỳ giao dịch nào, hãy xác minh kỹ danh tính đối tác, nguồn gốc giao dịch cũng như các thông tin liên quan. Sử dụng các kênh giao dịch chính thức và có giấy tờ hợp pháp; cảnh giác với các yêu cầu chuyển tiền trước./.
Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền ngày càng tăng đối với đất nước đang bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền ngày càng tăng đối với đất nước đang bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc:
Trên thế giới đảng cầm quyền được dùng ở cả các nước tư bản chủ nghĩa và các nước xã hội chủ nghĩa. Đảng cầm quyền là chính đảng thông qua phương thức hoạt động nào đó (bầu cử dân chủ, đảo chính, đấu tranh cách mạng...), giành được quyền thiết lập và điều hành bộ máy chính quyền để thực hiện cương lĩnh, mục tiêu của đảng theo quy định của pháp luật.
Ở phần lớn các nước tư bản chủ nghĩa đảng cầm quyền dùng để chỉ đảng chính trị thắng cử thông qua bầu cử dân chủ cạnh tranh, tuân theo pháp luật quốc gia. Ở các nước xã hội chủ nghĩa đảng cầm quyền được dùng để chỉ thời kỳ đảng cộng sản, thường thông qua cuộc đấu tranh cách mạng vô sản hoặc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, lật đổ bộ máy chính quyền của giai cấp bóc lột, thiết lập nhà nước kiểu mới - nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, để thực hiện mục đích của đảng là xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Ở Việt Nam, từ sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành Đảng cầm quyền và là Đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo Nhân dân hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, thực hiện xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền là sự phản ánh thời kỳ cách mạng đã giành được chính quyền, Đảng được Nhân dân ủy quyền lãnh đạo thiết lập và sử dụng bộ máy nhà nước và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân và dân tộc.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra những nguy cơ chung của đảng cộng sản cầm quyền, đó là nguy cơ sai lầm về đường lối và quan liêu, xa dân. Trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhận thức và từng bước ngăn chặn, đẩy lùi các nguy cơ đó, đồng thời nhận thức thêm các nguy cơ mới. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ 4 nguy cơ nổi bật của nước ta: “Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế thế giới do điểm xuất phát thấp, nhịp độ tăng trưởng chưa cao và vững chắc, lại phải đi lên trong môi trường cạnh tranh gay gắt; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa nếu không khắc phục được những lệch lạc trong chủ trương, chính sách và chỉ đạo thực hiện; nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ quan liêu; nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch”[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, chịu trách nhiệm và quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, bởi vậy, 4 nguy cơ nêu trên của đất nước cũng là 4 nguy cơ của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền.
Tại Đại hội X, Đảng nhấn mạnh: “Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại. Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí là nghiêm trọng. Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội chưa được khắc phục. Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta”.
Đại hội XII của Đảng khẳng định 4 nguy cơ, thách thức nêu trên vẫn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp, nghiêm trọng hơn, như tình trạng tham nhũng, lãng phí, nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với những thủ đoạn mới nhất là triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông trên mạng Internet để chống phá; những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; vấn đề “lợi ích nhóm”; niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, chế độ có mặt bị giảm sút. Nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Đây là nguy cơ liên quan đến vận mệnh của Đảng, của chế độ ta trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đại hội XIII của Đảng nhận định: 4 nguy cơ vẫn còn tồn tại, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, có mặt gay gắt hơn. “Nguy cơ tụt hậu, rơi vào bẫy thu nhập trung bình còn lớn. Có biểu hiện chưa quan tâm đúng mức bảo đảm phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển văn hóa, bảo đảm phúc lợi xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong phát triển kinh tế thị trường; chưa bảo đảm phát triển tổng thể, đồng bộ các vùng, miền, địa phương theo lợi thế so sánh và phát huy điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù. Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta. Bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và thích ứng với biến đổi khí hậu là yêu cầu cấp thiết, đồng thời là những thách thức rất lớn đối với nước ta trong thời gian tới”.
Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền lãnh đạo lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ rõ: Đảng Cộng sản ra đời, tồn tại và phát triển là để lãnh đạo giai cấp công nhân, nhân dân lao động lật đổ xã hội áp bức, bóc lột, xây dựng chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội; lật đổ chế độ cũ, đập tan nhà nước áp bức, bóc lột Đảng Cộng sản mới hoàn thành được một nhiệm vụ đầu tiên; nhiệm vụ tiếp theo rất nặng nề, phức tạp của Đảng là lãnh đạo giai cấp công nhân, nhân dân lao động xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ thành quả cách mạng. Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 ghi rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tường Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Đảng Cộng sản cầm quyền lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy và lãnh đạo hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở để thực hiện đường lối chính trị của Đảng. Hệ thống chính trị do giai cấp cầm quyền lập ra và chỉ đạo hoạt động nên hệ thống chính trị ở các nước đều mang bản chất của giai cấp cầm quyền. Hệ thống chính trị ở Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân, thể hiện tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) chỉ rõ: Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định việc xây dựng và hoạt động đúng hướng của hệ thống chính trị, quyết định để hệ thống chính trị mang bản chất giai cấp công nhân. Hệ thống chính trị là một chỉnh thể bao gồm các tổ chức như đảng chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, với những quan hệ tác động qua lại giữa các nhân tố đó trong việc tham gia vào các quá trình hoạch định và thực thi các quyết sách chính trị nhằm bảo đảm quyền lực chính trị đáp ứng nhu cầu ổn định và phát triển xã hội. Hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay là một chỉnh thể thống nhất, bao gồm các tổ chức: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Hai là, Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc. Thưc tiễnkhẳng định Đảng là lực lượng chính trị duy nhất có đầy đủ năng lực, điều kiện cầm quyền xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đem lại độc lập, tự do, ấm no hạnh phúc thực sự cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cho dân tộc. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Trong điều kiện đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Đảng ta cần có những giải pháp đột phá: “Tập trung hoàn thiện thể chế, tiếp tục nâng cao năng lực hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng; tăng cường năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng thông qua đổi mới việc xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, nhất là việc ban hành nghị quyết; đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động của Đảng, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tăng cường củng cố niềm tin của Nhân dân, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng. Tiếp tục nghiên cứu sắp xếp, tinh gọn đơn vị hành chính các cấp theo hướng giảm đầu mối trực thuộc Trung ương, giảm cấp hành chính trung gian, chú trọng xây dựng cấp cơ sở vững mạnh, phù hợp với thực tiễn, bảo đảm vận hành thông suốt, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, nhất là công tác thẩm định, đánh giá cán bộ; tập trụng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược, cán bộ cấp cơ sở; tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài, khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung làm động lực cho sự phát triển nhanh, bền vững đất nước. Tăng cường siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, kiểm soát quyền lực chặt chẽ, hiệu quả. Đặc biệt chú trọng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng; kiên quyết, kiên trì đây mạnh công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực”.
Ba là, Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền lãnh đạo đất nước phát triển về mọi mặt đồng thời thiết lập mối quan hệ hòa bình, hữu nghị với các quốc gia dân tộc khác trong cộng đồng quốc tế
Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền có sứ mệnh làm cho đất nước phát triển về mọi mặt và chịu trách nhiệm về sự phát triển của đất nước trước Nhân dân, trước dân tộc. Đảng đã lãnh đạo Nhân dân Việt Nam đánh đuổi thực dân, đế quốc xâm lược, thống nhất đất nước, đưa cả nước lên chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình đổi mới vừa qua, Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền đã lãnh đạo đất nước vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ Tổ quốc, hội nhập sâu rộng với các nước trên thế giới, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.
Là Đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam chịu trách nhiệm trước Nhân dân, dân tộc về sự phát triển của đất nước, luôn nỗ lực phấn đấu làm tròn trách nhiệm của đảng cầm quyền. Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, là chủ thể xác định đường lối đối ngoại của đất nước, quyết định những vấn đề chiến lược, sách lược trong quan hệ đối ngoại. Trên cơ sở đường lối đối ngoại của Đảng đã xác định, Nhà nước cụ thể hóa thành chính sách đối ngoại, thiết lập mối quan hệ hòa bình, hữu nghị với các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị giải quyết mọi vấn đề nảy sinh trong quan hệ đối ngoại đều dựa trên đường lối, quan điểm đối ngoại của Đảng.
Bốn là, Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền là chủ thể gìn giữ, phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Đảng Cộng sản cầm quyền là người tập hợp, đoàn kết toàn thể Nhân dân lao động trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc tạo thành sức mạnh to lớn thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng. Sở dĩ, Đảng tập hợp, đoàn kết được toàn dân tộc là nhờ đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo của Đảng phù hợp với quy luật phát triển của xã hội, phù hợp với lợi ích Nhân dân, dân tộc. Đảng không có lợi ích nào ngoài lợi ích của Nhân dân, của đất nước, của dân tộc.
Gắn bó mật thiết giữa Đảng với Nhân dân là một nguyên lý trong học thuyết Mác-Lênin về chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân. Ngay từ khi ra đời, Đảng phải dựa vào Nhân dân, liên hệ mật thiết với dân để tuyên truyền vận động Nhân dân, tập hợp Nhân dân, lãnh đạo Nhân dân đứng lên làm cách mạng. Thắt chặt mối quan hệ gắn bó mật thiết với Nhân dân thì Đảng mới có sức mạnh, Nhân dân là động lực của cách mạng, bổ sung nguồn sinh lực cho Đảng. Nhờ gắn bó mật thiết với Nhân dân, phát huy sức mạnh vô địch của Nhân dân mà Đảng đã lãnh đạo Nhân dân giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám; trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược; trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Hiện nay, trong điều kiện nước ta phát triển nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, tham gia vào quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, những căn bệnh của đảng cầm quyền như quan liêu, tham nhũng, hách dịch cửa quyền, xa dân có cơ hội phát triển... làm giảm lòng tin của Nhân dân với Đảng. Vì thế, hơn lúc nào hết Đảng phải tăng cường củng cổ mối quan hệ mật thiết với Nhân dân, đấu tranh, khắc phục mọi biểu hiện quan liêu, tham nhũng và các tiêu cực của đội ngũ cán bộ, đảng viên góp phần nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng trong điều kiện đất nước đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam./.
95 MÙA XUÂN CÓ ĐẢNG
95 MÙA XUÂN CÓ ĐẢNG
Hôm nay (3-2-2025) kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam khi sắc xuân đang căng tràn.
Chúng ta càng thêm tự hào 95 mùa xuân có Đảng. Thời gian là thuốc thử kỳ diệu, minh chứng sức mạnh phi thường của đội tiên phong của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam.
Đảng ta đã kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam với đầy ắp niềm tin yêu của tình dân, nghĩa Đảng vượt qua ghềnh thác, tiến mạnh mẽ và vững chắc trên con đường độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, khẳng định vị thế của Việt Nam ngày càng nâng cao trong khu vực và trên thế giới.
Lịch sử ghi đậm dấu ấn, dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã làm nên thắng lợi vĩ đại Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mà đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, kết thúc vẻ vang là Đại thắng mùa Xuân năm 1975; thắng lợi của công cuộc đổi mới, tạo ra thế và lực mạnh mẽ cho đất nước đi tới tương lai rực rỡ, vững tin bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Năm 2024, dù chịu nhiều tác động từ những bất ổn của tình hình chính trị, kinh tế thế giới, trong nước thiên tai, bão, lũ gây hậu quả nặng nề nhưng đất nước luôn ổn định chính trị, độc lập, chủ quyền quốc gia được giữ vững, kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực và thế giới; công tác xây dựng Đảng đạt kết quả tích cực và toàn diện. Việc sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được triển khai quyết liệt, khẩn trương.
Mừng Đảng ta tròn 95 tuổi, từng cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên với quyết tâm cao nhất phấn đấu hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ của nhiệm kỳ Đại hội XIII, lập nhiều thành tích chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước; tổ chức thành công đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng.
Quân đội nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh qua hơn 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành đã không ngừng lớn mạnh, cùng nhân dân làm nên những chiến công chói lọi. Dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, Quân đội quyết tâm phấn đấu vươn lên mạnh mẽ, thực hiện thắng lợi mục tiêu năm 2025 cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại; tạo tiền đề, động lực vững chắc xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
Đảng soi đường, mở lối, dẫn dắt dân tộc ta đi tới bến bờ hạnh phúc, vinh quang. Hướng về Đảng, vững tin theo Đảng, mọi người dân Việt Nam tự hào phát huy truyền thống đoàn kết, anh dũng, tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi, đẩy lùi nguy cơ, thách thức, đưa đất nước bứt phá, tiến lên.
RẠNG RỠ VIỆT NAM
RẠNG RỠ VIỆT NAM
Nhân dịp kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2025), Tổng Bí thư Tô Lâm có bài viết với tiêu đề: "Rạng rỡ Việt Nam". Trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết của đồng chí Tổng Bí thư.
Một mùa Xuân mới đang về, mang theo niềm hân hoan, sức sống mới trên khắp mọi miền của Tổ quốc. Mùa xuân này càng trở nên ý nghĩa hơn khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 – 3/2/2025) như một mốc son chói lọi để cả nước bước vào một chặng đường phát triển mới, hướng tới một tương lai rạng ngời.
Trong suốt 95 Xuân qua, Đảng ta – đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam – đã lãnh đạo đất nước vượt qua muôn vàn gian nan, thử thách, làm nên những thắng lợi, thành tựu vĩ đại, ghi dấu ấn đậm nét trong lịch sử vẻ vang của dân tộc.
Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trong một bối cảnh lịch sử đặc biệt và với một sứ mệnh đặc biệt. Từ giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược nước ta và áp đặt ách thống trị tàn bạo, khiến dân tộc ta chịu cảnh nô lệ, lầm than. Với truyền thống yêu nước và tinh thần không chịu khuất phục, nhân dân ta đã vùng lên đấu tranh liên tục và mạnh mẽ bằng nhiều con đường với nhiều khuynh hướng khác nhau, từ phong trào Cần Vương đến khởi nghĩa Yên Thế, từ các phong trào Đông Du, Đông kinh Nghĩa Thục, Duy Tân đến khởi nghĩa Yên Bái... Nhân dân ta đã đấu tranh vô cùng anh dũng và chịu nhiều hy sinh, nhưng đều không thành công vì thiếu một đường lối đúng đắn, chưa tập hợp và phát huy được sức mạnh của toàn dân tộc, thiếu một phương pháp đấu tranh thích hợp và nhất là chưa có được một tổ chức lãnh đạo, một chính đảng đáp ứng được yêu cầu của dân tộc và của thời đại.
Cùng lúc đó, trên thế giới, sự phát triển của phong trào công nhân cùng thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra một chân trời mới, thắp sáng hy vọng cho các dân tộc bị áp bức, bóc lột, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giành độc lập trên khắp các châu lục.
Trước yêu cầu của lịch sử và với một khát vọng cháy bỏng về giải phóng dân tộc, người thanh niên yêu nước nồng nàn Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước. Người đã đi khắp các châu lục, qua gần 30 quốc gia, hàng trăm thành phố, vượt qua muôn vàn gian khổ, chông gai và làm rất nhiều nghề để kiếm sống, để học những “sàng khôn” của nhân loại. Chính hành trình này đã giúp Người thanh niên Việt Nam hiểu rõ cội nguồn những khổ đau của các tầng lớp nhân dân lao động là ở sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản đế quốc và hình thành nên ý thức giai cấp rõ rệt. Với quyết tâm hướng tới: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi”, Nguyễn Tất Thành đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin một cách tự nhiên, như một tất yếu lịch sử và đã tìm thấy ở đó những vấn đề cơ bản của đường lối giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Trước yêu cầu lịch sử và dưới ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác-Lênin, người thanh niên Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc đã tiến hành nhiều hoạt động, dày công chuẩn bị cả về tư tưởng, lý luận và con người cho sự ra đời của một tổ chức chính trị tiên phong lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người đã truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam thông qua các tác phẩm như Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Đường Kách Mệnh (1927), đào tạo cán bộ cách mạng và thúc đẩy phong trào đấu tranh trong nước.
Ngày 3/2/1930, tại Cửu Long (Hồng Kông, Trung Quốc), dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam đã diễn ra, thống nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là một quyết định có ý nghĩa lịch sử trọng đại, quy tụ các tổ chức cộng sản Việt Nam thành một lực lượng duy nhất, có đường lối cách mạng rõ ràng, thống nhất. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng đã xác định con đường cơ bản của cách mạng Việt Nam, đáp ứng yêu cầu bức thiết của lịch sử và trở thành ngọn cờ tập hợp, đoàn kết thống nhất các tổ chức cộng sản, các lực lượng cách mạng và toàn thể dân tộc. Sự kiện lịch sử này đã chấm dứt cuộc khủng hoảng đường lối và tổ chức của cách mạng Việt Nam, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử nước ta - kỷ nguyên đấu tranh giành độc lập dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Từ khi thành lập, với đường lối đúng đắn, với phương pháp thích hợp và sáng tạo, với năng lực tổ chức thực tiễn và sự chiến đấu ngoan cường, hy sinh anh dũng của nhiều thế hệ cán bộ, đảng viên, và sự tin yêu, đùm bọc, hết lòng che chở, bảo vệ của nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo đất nước giành được những thắng lợi to lớn có ý nghĩa lịch sử và thời đại.
Chỉ trong vòng 15 năm sau khi ra đời, Đảng ta đã không ngừng phát triển và lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám, thành lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vào ngày 2/9/1945, xoá bỏ chế độ thuộc địa nửa phong kiến ở Việt Nam, mở ra chương mới của lịch sử dân tộc. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội và cuộc sống của chính mình.
Ngay sau thành công của Cách mạng Tháng Tám, đất nước ta phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách; cùng một lúc phải đương đầu với "giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm". Trong hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta kiên cường bảo vệ và xây dựng chính quyền non trẻ, đồng thời tích cực chuẩn bị về mọi mặt cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Với đường lối đúng đắn, phát huy được sức mạnh của toàn dân tộc, Đảng ta đã lãnh đạo Nhân dân ta lần lượt đánh bại mọi âm mưu, kế hoạch xâm lược của kẻ thù trong chín năm kháng chiến gian khổ và anh dũng, đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ (năm 1954) về hòa bình ở Đông Dương.
Trong suốt hơn hai mươi năm sau đó, đất nước ta bị chia cắt và chưa có hoà bình. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, với một ý chí sắt đá và quyết tâm không gì có thể lay chuyển, nhân dân ta đã vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, thực hiện cuộc kháng chiến vĩ đại, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, viết nên một trong những trang sử hào hùng nhất của dân tộc, một sự kiện có tầm vóc quốc tế và có tính thời đại sâu sắc. Đây là sự hiện thực hóa của tầm nhìn và quyết tâm mà Đảng ta đã đưa ra từ Đại hội III (tháng 9/1960): “Nước Việt Nam ta là một, dân tộc Việt Nam ta là một. Nhất định nước ta sẽ được thống nhất trên cơ sở độc lập và dân chủ, nhất định dân tộc sẽ được đoàn tụ trong hòa bình, tự do và hạnh phúc. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng ý chí thống nhất Tổ quốc của nhân dân cả nước ta quyết không bao giờ lay chuyển và cuối cùng chúng ta nhất định sẽ giành được thắng lợi”.
Trong lúc phải khẩn trương khắc phục những hậu quả vô cùng nặng nề do chiến tranh để lại, đất nước ta lại tiếp tục phải đương đầu với những thử thách mới. Đảng tiếp tục lãnh đạo toàn quân và toàn dân ta vừa ra sức khôi phục kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của người dân, vừa kiên cường chiến đấu giữ vững từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và không gian sinh tồn của dân tộc. Đồng thời làm nghĩa vụ quốc tế cao cả đối với nhân dân Campuchia.
Trước những yêu cầu mới trong phát triển đất nước, để khắc phục những bất cập của cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp dẫn tới khủng hoảng kinh tế-xã hội những năm sau chiến tranh, trên cơ sở tổng kết sáng kiến, sáng tạo trong thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và sự thực thi của cả hệ thống chính trị và nhân dân, Đảng ta đã đề ra và thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đường lối đổi mới ra đời đã đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn quá trình xây dựng nền kinh tế, nền quốc phòng, an ninh, công tác đối ngoại của đất nước, thể hiện bản lĩnh vững vàng, tư duy sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển của đất nước.
Sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã vượt qua mọi khó khăn, vươn tới những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Từ một nước nghèo nàn, bị chiến tranh tàn phá, bị bao vây, cô lập, đến nay Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, hội nhập sâu, rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, phát huy vai trò tích cực tại nhiều tổ chức quốc tế, diễn đàn đa phương quan trọng. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; lợi ích quốc gia, dân tộc được bảo đảm. Quy mô nền kinh tế năm 2024 đã đạt trên 470 tỉ USD, đứng thứ 32 thế giới và nằm trong nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, hiện chỉ còn 1,93 % (theo chuẩn đa chiều) so với mức 60% năm 1986. Tiềm lực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học - công nghệ, quốc phòng, an ninh không ngừng nâng cao. Cục diện đối ngoại không ngừng được mở rộng; vị thế, uy tín của đất nước không ngừng được lan tỏa, có những đóng góp tích cực vào giải quyết các vấn đề khu vực và toàn cầu, đã thực hiện nhiều nhiệm vụ trong vai trò thành viên ASEAN, Liên hợp quốc và các tổ chức, thể chế quốc tế khác được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.
Những thành tựu to lớn của cách mạng Việt Nam suốt 95 năm qua bắt nguồn từ nhiều nhân tố, trong đó sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố quyết định hàng đầu, cùng sự hy sinh, chiến đấu, lao động sáng tạo của toàn dân, toàn quân dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, sự hỗ trợ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế. Trong những thời điểm khó khăn, thử thách, Đảng ta đã thể hiện rõ bản lĩnh, tinh thần đoàn kết, là một khối thống nhất về ý chí và hành động, từ đó lãnh đạo, chỉ đạo cả hệ thống chính trị nỗ lực cố gắng đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện trên các lĩnh vực. Đồng thời, thông qua quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta được tôi luyện và ngày càng trưởng thành, vững mạnh, xứng đáng với vai trò và sứ mệnh lãnh đạo cách mạng và sự tin cậy, kỳ vọng của nhân dân. Thực tiễn đó đã khẳng định: ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ năng lực, bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm và uy tín để lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Nhìn lại chặng đường 95 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta bày tỏ lòng biết ơn vô hạn và thành kính tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại - vị lãnh tụ thiên tài, người Anh hùng giải phóng dân tộc, người đã khai sáng con đường cách mạng, làm rạng danh non sông ta, đất nước ta. Chúng ta cũng thành kính tưởng nhớ các đồng chí lãnh đạo tiền bối của Đảng, các anh hùng liệt sĩ, đồng bào, đồng chí đã chiến đấu kiên cường và hy sinh quên mình trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc và ấm no của nhân dân.
Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam mãi mãi ghi nhớ công lao của những người có công với nước, các gia đình liệt sĩ, các Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động, các thương binh, bệnh binh, các đồng chí từng bị giam cầm trong nhà tù của thực dân, đế quốc, các chiến sĩ đã chiến đấu trên mọi mặt trận và thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả, các cựu chiến bình và những người miệt mài lao động, sáng tạo làm ra của cải vật chất cho xã hội. Chúng ta cũng luôn biết ơn các đồng chí, bạn bè quốc tế đã luôn đồng hành, ủng hộ và giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây, cũng như tiếp tục hợp tác, hỗ trợ trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ngày nay.
Nhìn lại lịch sử, truyền thống vẻ vang và đầy tự hào của Đảng trong 95 năm qua, chúng ta càng thấy rõ hơn trách nhiệm của thế hệ lãnh đạo và đảng viên hôm nay trong tiến trình lịch sử của dân tộc. Sứ mệnh của Đảng hiện nay là phải lãnh đạo, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu; bảo đảm mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực và thế giới, vì hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu. Ưu tiên hàng đầu là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao.
Để tiếp tục gánh vác trọng trách đó của lịch sử, Đảng phải không ngừng lớn mạnh, giữ vững bản chất cách mạng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu và sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Đảng phải luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn, phát huy dân chủ trong nội bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh, trong sạch, kiên định với mục tiêu, lý tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, Đảng phải không ngừng hoàn thiện lý luận, nâng cao chất lượng công tác tư tưởng, tạo nền tảng vững chắc để lãnh đạo đất nước phát triển nhanh và bền vững. Trước những yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và những thách thức từ tình hình thế giới, công tác xây dựng Đảng càng cần được quan tâm, đổi mới và thực hiện quyết liệt hơn nữa, tập trung vào các nhóm vấn đề trọng tâm sau đây:
Một là, tiếp tục kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Đảng ta ra đời với sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam. Ngay từ những ngày đầu đấu tranh giành độc lập, đến khi trở thành Đảng cầm quyền, Đảng luôn kiên định mục tiêu giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội, đem lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Đảng không tồn tại vì lợi ích riêng mà hoạt động vì quyền lợi của toàn dân. Quyền lực lãnh đạo của Đảng không phải tự thân mà có, mà do nhân dân trao quyền, là sự ủy thác của nhân dân. Đảng không có mục đích nào khác là đấu tranh vì lợi ích của nhân dân, quốc gia và dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”. Chính vì vậy, Đảng phải luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm mục tiêu cao nhất, giữ vững bản chất cách mạng và vai trò tiên phong của mình. Trong bối cảnh hiện nay, Đảng càng phải kiên định nền tảng tư tưởng của mình, tiếp tục vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn, bảo vệ vững chắc con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, Đảng phải không ngừng đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh để tiếp tục dẫn dắt dân tộc trên con đường phát triển trong kỷ nguyên mới, hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Hai là, không ngừng hoàn thiện hệ thống lý luận của Đảng. Nền tảng lý luận vững chắc là kim chỉ nam cho hành động của Đảng, quyết định sự đúng đắn trong đường lối lãnh đạo và chiến lược phát triển đất nước. Trải qua hơn 95 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng đã đúc kết nhiều bài học kinh nghiệm, từng bước phát triển tư duy lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về mô hình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về quốc phòng, an ninh và đối ngoại cùng nhiều lĩnh vực quan trọng khác. Việc hoàn thiện nền tảng lý luận là yêu cầu cấp thiết để Đảng tiếp tục lãnh đạo đất nước trong bối cảnh thế giới hôm nay đang diễn ra những biến chuyển sâu sắc trên tất cả các mặt của đời sống. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, thực tiễn luôn đặt ra những vấn đề mới, đòi hỏi Đảng phải không ngừng tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận.
Công tác tổng kết thực tiễn cần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá chính xác kết quả đạt được, thẳng thắn, khách quan chỉ ra những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm và nguyên nhân; nhận diện rõ những điểm nghẽn, nút thắt đang kìm hãm sự phát triển của đất nước, từ đó đề xuất các giải pháp đột phá, tạo động lực mạnh mẽ cho quá trình phát triển trong thời gian tới. Công tác nghiên cứu cũng cần chỉ rõ hơn đâu là cơ hội lớn cần tận dụng, đâu là thách thức lớn cần vượt qua, những yếu tố mới của thực tiễn cần bổ sung là gì. Sự thẳng thắn, khách quan, khoa học, trung thực, kiên định và thận trọng là cần thiết để tránh sai lầm, duy ý chí. Các vấn đề này cần được làm rõ trong quá trình xây dựng các văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV. Đây không chỉ là công việc của cơ quan chuyên môn của Đảng mà còn đòi hỏi sự tham gia của toàn hệ thống chính trị, đội ngũ trí thức, các cơ quan nghiên cứu lý luận và từng cán bộ, đảng viên và nhân dân cả nước.
Ba là, tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại, phát triển của Đảng. Cần không ngừng củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của từng tổ chức Đảng; xây dựng tổ chức cơ sở Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, làm nòng cốt trong hệ thống chính trị và gắn bó mật thiết với nhân dân. Đồng thời, cần tiếp tục tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng; đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, kiên quyết xử lý những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát để giữ vững kỷ luật, kỷ cương trong Đảng. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí cần được tiếp tục triển khai quyết liệt, đồng bộ, toàn diện, bài bản, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, tạo sức răn đe, cảnh tỉnh, góp phần làm trong sạch bộ máy, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng. Cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu các cấp ủy đảng cần đề cao trách nhiệm nêu gương, luôn lắng nghe ý kiến của nhân dân, kịp thời giải quyết những nguyện vọng chính đáng của nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội. Đồng thời, cần phát huy vai trò giám sát của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên, bảo đảm Đảng luôn là lực lượng lãnh đạo trung thành với lợi ích của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân.
Bốn là, quyết tâm củng cố tổ chức bộ máy hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, khắc phục tình trạng cồng kềnh, chồng chéo. Trong nhiều kỳ đại hội gần đây, các văn kiện đại hội đều nhấn mạnh các nhiệm vụ cụ thể về tinh gọn tổ chức bộ máy hoặc nghiên cứu xây dựng mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Đảng cũng đã liên tục ban hành nhiều Nghị quyết, Kết luận để lãnh đạo thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Tuy nhiên, nhận thức và hành động của một số cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu ở một số cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương chưa đầy đủ, chưa sâu sắc, quyết tâm chưa cao, hành động chưa quyết liệt, việc sắp xếp tổ chức bộ máy chưa đồng bộ, tổng thể, chưa gắn tinh giản biên chế với cơ cấu lại... Chính vì vậy, cho đến nay tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, quan hệ công tác giữa nhiều cơ quan, bộ phận chưa thật rõ ràng, còn trùng lắp, chồng chéo; phân định trách nhiệm, phân cấp, phân quyền chưa đồng bộ, hợp lý, có chỗ bao biện làm thay, có nơi bỏ sót hoặc không đầu tư thích đáng. So với những thay đổi to lớn của đất nước sau 40 năm đổi mới, sự phát triển của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và những thành tựu khoa học công nghệ, tổ chức bộ máy hệ thống chính trị nước ta cơ bản vẫn theo mô hình được thiết kế từ hàng chục năm trước, nhiều vấn đề không còn phù hợp với điều kiện mới là trái với quy luật phát triển; tạo ra tình trạng “Nói không đi đôi với làm”. Vì vậy, công tác trọng tâm trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới là xây dựng và tổ chức thực hiện mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị Việt Nam đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới.
Năm là, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp. Trước yêu cầu phát triển và hội nhập ngày càng cao, đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp, phải đáp ứng những tiêu chuẩn quan trọng: có bản lĩnh chính trị vững vàng; có đạo đức trong sáng, tinh thần trách nhiệm cao, thực sự gương mẫu, liêm chính, tận tụy phục vụ nhân dân, không vụ lợi cá nhân, không tham nhũng, tiêu cực; có tư duy đổi mới, sáng tạo; biết nắm bắt cơ hội, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, không né tránh, trì trệ, thụ động trước những vấn đề mới phát sinh; có năng lực thực tiễn, khả năng lãnh đạo, quản lý. Để làm được điều này, cần đổi mới mạnh mẽ tư duy trong công tác cán bộ. Các quy trình về công tác cán bộ phải trở thành cơ chế để lựa chọn người tốt nhất, người xứng đáng nhất, chứ không phải là cơ chế để hợp thức hóa việc tuyển chọn, bổ nhiệm, đề bạt người không đảm bảo tiêu chuẩn, không thực sự tiêu biểu, không thực sự vì dân. Ngoài việc minh bạch hóa quy trình bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ và tăng cường kiểm tra, giám sát, cần xây dựng cơ chế phát hiện, bảo vệ và trọng dụng người tài, đồng thời có cơ chế xử lý trách nhiệm rõ ràng, trong đó ai giới thiệu, bổ nhiệm cán bộ sai tiêu chuẩn, thiếu phẩm chất, yếu năng lực thì phải chịu trách nhiệm. Đồng thời, cần kiên quyết chống chạy chức, chạy quyền, lợi ích nhóm trong công tác quy hoạch, bổ nhiệm, sử dụng cán bộ.
Sáu là, tăng cường công tác ứng dụng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số trong công tác xây dựng Đảng. Các tiến bộ về công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và chuyển đổi số đang tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội. Việc ứng dụng các thành tựu khoa học – công nghệ vào công tác xây dựng Đảng không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là một bước đột phá nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng trong tình hình mới. Công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo sẽ góp phần hiện đại hóa công tác quản lý đảng viên, điều hành tổ chức Đảng. Việc xây dựng hệ thống quản lý đảng viên trên nền tảng số giúp tăng cường tính minh bạch, chính xác và hiệu quả trong quản lý hồ sơ, quá trình công tác, đánh giá, phân loại đảng viên. Điều này giúp các cấp ủy nắm bắt chính xác tình hình đội ngũ, từ đó có cơ chế đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển hợp lý, khắc phục tình trạng quan liêu, thiếu thực tiễn. Công nghệ số cũng giúp nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng. Các nền tảng số, mạng xã hội có thể được sử dụng để tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng đến đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân một cách nhanh chóng, sinh động, hiệu quả. Các công nghệ mới cũng giúp nâng cao năng lực phát hiện sớm các vấn đề nổi cộm, phân tích, dự báo, đề xuất giải pháp phù hợp. Công nghệ số cung cấp dữ liệu chính xác, khách quan, giúp các cấp ủy đưa ra quyết định đúng đắn, dựa trên những phân tích khoa học thay vì cảm tính.
Bảy là, nhiệm vụ trọng tâm cấp bách trong năm 2025 của các cấp ủy đảng, từng chi bộ, mỗi đảng viên tập trung sức lực, trí tuệ cùng nhân dân phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu đã được nêu trong các Nghị quyết của các cấp ủy Đảng, đặc biệt chú trọng các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội; tổ chức tiến hành đại hội đại biểu Đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, trong đó chú trọng đóng góp ý kiến vào nội dung văn kiện của Đảng; giới thiệu và lựa chọn những người thật tiêu biểu, vì nước, vì dân tham gia vào hệ thống chính trị các cấp; tạo không khí thật sự dân chủ, đoàn kết, hăng say lao động sản xuất, xây dựng, phát triển quê hương đất nước trong mọi tầng lớp nhân dân.
Nhìn lại 95 năm xây dựng và trưởng thành của Đảng, chúng ta có quyền tự hào và hoàn toàn tin tưởng vào tương lai rạng rỡ của Đảng và của dân tộc. Năm 1945, khi lãnh đạo toàn dân thực hiện thành công Cách mạng Tháng Tám, Đảng ta chỉ có gần 5.000 đảng viên, nhưng với đường lối đúng đắn, tinh thần kiên trung, ý chí quật cường và lòng yêu nước, Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi vẻ vang, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đến năm 1960, khi đất nước bước vào giai đoạn kháng chiến trường kỳ chống Mỹ cứu nước, số lượng đảng viên đã tăng lên khoảng 500.000 người, trở thành hạt nhân dẫn dắt toàn dân tộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước. Ngày nay, với hơn 5,4 triệu đảng viên, lực lượng của chúng ta không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, đủ sức gánh vác trọng trách đưa đất nước tiến lên trong thời kỳ mới. Mỗi đảng viên chính là biểu tượng của niềm tin, trí tuệ và ý chí đoàn kết của cả dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, sẽ tiếp tục hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của mình. Vững tin vào sức mạnh của Đảng và sự đoàn kết của toàn dân tộc, chúng ta khẳng định: Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta sẽ đồng lòng vượt qua mọi khó khăn, thách thức, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới, xây dựng một tương lai huy hoàng, rạng rỡ cho dân tộc Việt Nam.
ĐẢNG MÃI LÀ MÙA XUÂN TƯƠI ĐẸP NHẤT
ĐẢNG MÃI LÀ MÙA XUÂN TƯƠI ĐẸP NHẤT
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3/2/1930 là mốc son lịch sử đánh dấu bước ngoặt lớn của cách mạng Việt Nam. Trong 95 năm đồng hành cùng dân tộc, Đảng khẳng định được vai trò sứ mệnh lịch sử của mình đối với cách mạng Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đất nước ta đạt được nhiều thành tựu to lớn, ngày càng phát triển, góp phần khẳng định và nâng tầm vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Ý Đảng, lòng dân hòa quyện, Đảng luôn được nhân dân tin yêu, ủng hộ, xứng đáng là “người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.
Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có cương lĩnh chính trị xác định đúng đắn con đường cách mạng là giải phóng dân tộc theo phương hướng cách mạng vô sản, đây chính là cơ sở để Đảng nắm được ngọn cờ lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam; giải quyết được tình trạng khủng hoảng về đường lối cách mạng, về giai cấp lãnh đạo cách mạng diễn ra đầu thế kỷ XX, mở ra con đường và phương hướng phát triển mới cho đất nước Việt Nam. Lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Khởi đầu là thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 lật đổ ách thống trị gần 100 năm của thực dân Pháp và triều đình phong kiến, lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Tiếp đến là thắng lợi của các cuộc kháng chiến “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” ở Điện Biên Phủ và đại thắng mùa xuân năm 1975 giải phóng đất nước, đánh bại chủ nghĩa thực dân cũ và mới, bảo vệ Tổ quốc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, non sông thu về một mối, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là một trong những trang sử chói lọi nhất của lịch sử dân tộc. Với những thắng lợi đó, Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu, bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thực tiễn đó đã khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Cuối năm 1985, đầu năm 1986, do ảnh hưởng từ những biến động chính trị của thế giới, đặc biệt sự khủng hoảng trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội đòi hỏi Đảng ta phải đánh giá, nhìn nhận và phải đổi mới. Trước bối cảnh đó, Đảng tỏ rõ bản lĩnh của mình, chủ động khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, bao gồm đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức cán bộ, đổi mới phương pháp lãnh đạo và phong cách công tác. Đại hội đánh dấu một bước ngoặt có ý nghĩa cách mạng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, tạo ra bước đột phá lớn, toàn diện, đem lại luồng sinh khí mới trong xã hội, làm xoay chuyển tình hình, đưa đất nước tiến lên. Những thành công to lớn trong công cuộc đổi mới kinh tế đất nước sau gần 40 năm đã chứng minh định hướng, chủ trương và phương thức đổi mới của Đảng là đúng đắn; cho thấy khả năng lãnh đạo đất nước xoay chuyển tình thế, kịp thời thích nghi với bối cảnh chính trị - kinh tế mới của quốc tế nhưng vẫn giữ được những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Nhìn lại lịch sử 95 năm từ khi có Đảng dẫn đường và những thành tựu của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta càng thêm tự hào về những cống hiến vinh quang, vĩ đại của Đảng. Những chủ trương, đường lối, định hướng đúng đắn của Đảng là nguyên nhân thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Khẳng định lòng tin của Đảng vào nhân dân, của nhân dân vào Đảng. Trong trái tim mỗi người dân Việt Nam, Đảng chính là mùa xuân tràn đầy sức sống mãnh liệt, mang lại ấm no, hạnh phúc.
Năm 2024, năm bản lề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của cả nhiệm kỳ theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã khép lại, đây cũng là dấu mốc 55 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1969 - 2024). Trong bản Di chúc, điều đầu tiên mà Người căn dặn: “Trước hết nói về Đảng - nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Thực hiện di huấn của Người, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng, sự vào cuộc đồng bộ, tích cực của cả hệ thống chính trị cùng với sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế, tình hình chính trị - xã hội của đất nước tiếp tục đạt được nhiều kết quả quan trọng trên các lĩnh vực, kinh tế tiếp tục là điểm sáng, tăng trưởng thuộc nhóm cao trong khu vực và thế giới. Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008 và dự kiến sẽ trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 (khoảng 7.500 USD). Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay, Việt Nam không những bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Tăng trưởng kinh tế phục hồi tích cực, cả năm ước đạt khoảng 6,8 - 7%, vượt mục tiêu Quốc hội đề ra, được các tổ chức quốc tế đánh giá tích cực về triển vọng tăng trưởng. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát trong điều kiện tăng lương tối thiểu ở mức cao. Kết cấu hạ tầng giao thông, hạ tầng điện có bước đột phá mới, hoàn thành đưa vào khai thác thêm 109 km đường cao tốc, nâng tổng chiều dài đường bộ cao tốc cả nước lên hơn 2.021 km. Hạ tầng viễn thông, hạ tầng số được thúc đẩy phát triển, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số và chính phủ số... Làm tốt công tác bảo đảm an sinh xã hội, lao động, việc làm, cải thiện đời sống người dân; xây dựng và tổ chức hiệu quả kế hoạch triển khai phong trào thi đua “Chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước trong 2025”. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm, bảo đảm gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng cao…
Một thành tựu không thể không kể đến đó là xây dựng tinh thần quốc tế vô sản chân chính, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nâng cao vị thế đất nước trong hội nhập quốc tế. Thực thi đường lối đối ngoại đúng đắn theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Việt Nam đạt được nhiều thành tựu quan trọng; hiện đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện hoặc đối tác chiến lược với tất cả 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc và mở rộng quan hệ kinh tế - thương mại với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việt Nam đã và đang thể hiện tốt vai trò là bạn, là đối tác tin cậy của cộng đồng quốc tế; có nhiều sáng kiến, đề xuất và chủ động, tích cực tham gia có hiệu quả các hoạt động của ASEAN, tổ chức Liên Hợp Quốc và nhiều tổ chức quốc tế khác.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Một năm bắt đầu từ mùa xuân”. Xuân mới 2025 Ất Tỵ đã về với tâm thế mới, khí thế mới và niềm tin hy vọng về những thành tựu mới. Nhớ về ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam với sự tự hào, niềm tin tưởng tuyệt đối, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và mỗi cán bộ, đảng viên tiếp tục phấn đấu, rèn luyện, thấm nhuần và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, góp phần làm cho Đảng gắn bó mật thiết, máu thịt với nhân dân, làm cho đạo đức, văn minh của Đảng ngày càng tỏa sáng, để một Việt Nam luôn hùng cường, thịnh vượng, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam mãi mãi là mùa xuân tươi đẹp nhất!./.










