Thứ Hai, 3 tháng 2, 2025

THỐNG NHẤT "Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN" ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO KỶ NGUYÊN MỚI

Thực tiễn 95 năm qua đã chứng minh "ý Đảng, lòng dân" hòa quyện, thống nhất tạo nên sức mạnh vô địch, đưa đất nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Nói “ý Đảng, lòng dân” là nói đến hai yếu tố cội nguồn, sâu xa, then chốt và cũng là trực tiếp nhất quyết định mọi quá trình cách mạng. Vai trò của Đảng - Đảng lãnh đạo và nhân dân - trên dưới một lòng là những nhân tố quan trọng hàng đầu.

 

“Ý Đảng, lòng dân” - từ những lời dạy của Bác

 

Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, việc xây dựng và phát huy “lòng dân” luôn được ông cha ta đặt lên vị trí hàng đầu và có nhiều tư tưởng, giải pháp bồi dưỡng sức dân, tiêu biểu như “khoan thư sức dân”, “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”... Đó là cơ sở, tiền đề tạo “rễ sâu, gốc bền” để quốc gia, dân tộc trường tồn.

 

Truyền thống lớn đó là mạch nguồn tiếp nối để dân tộc ta vượt muôn thác ghềnh, lập nên những kỳ tích văn trị, võ đức rực rỡ sử xanh. Đây chính là chân lý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát lại một cách hết sức dung dị: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân.

 

Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân... Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”; “Cách mệnh là việc chung của cả dân chúng chứ không phải việc của một hai người”; “lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết”...; nhưng nhân dân cần phải được tổ chức chặt chẽ, đặt dưới sự lãnh đạo của một Đảng với nền tảng là chủ nghĩa Marx-Lenin, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam.

 

Người khẳng định: “Nước lấy dân làm gốc… Gốc có vững cây mới bền”; “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân..., chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương đều do dân cử ra. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

 

Có thể khẳng định, Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu hiện rõ nhất, điển hình nhất của sự hội tụ giữa "ý Đảng" và "lòng dân". Người để lại “chìa khóa” cho việc hiện thực hóa khát vọng dân tộc và mục tiêu của Đảng, đó là ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, “mọi việc thành công bởi chữ đồng”, là “xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân.”

 

"Ý Đảng, lòng dân" - sức mạnh và bài học lịch sử

 

Từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại. Có được những thắng lợi ấy, do nhiều nguyên nhân.

 

Trong đó, hai nhân tố quan trọng nhất, là cội nguồn, then chốt và cũng là trực tiếp nhất quyết định mọi thắng lợi của cách mạng đó là “ý Đảng” và “lòng dân.”

 

“Ý Đảng” là sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh; được kết tinh trong quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng.

 

“Lòng dân” là tinh thần yêu nước, tình đoàn kết toàn dân tộc trên dưới một lòng, quyết tâm đem sức người, sức của phục vụ sự nghiệp cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

 

Trong bất cứ hoàn cảnh nào, nhân dân ta luôn một lòng trung thành với Đảng, đi theo con đường của Đảng, ủng hộ, chở che, bao bọc để Đảng hoàn thành sứ mệnh của mình trước nhân dân.

 

Thực tiễn cách mạng Việt Nam 95 năm qua đã chứng minh "ý Đảng, lòng dân" luôn hòa quyện, thống nhất tạo nên sức mạnh vô địch để chiến thắng mọi kẻ thù.

 

“Ý Đảng, lòng dân” đã tạo nên sức mạnh để dân tộc Việt Nam làm nên những thắng lợi lẫy lừng: Cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám 1945 long trời lở đất, đánh đổ ách thống trị của chế độ thực dân-phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân, lập nên nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - nhà nước của dân, do dân, vì dân; trải qua 30 năm kháng chiến trường kỳ đầy gian khổ, hy sinh, đánh thắng hai đế quốc lớn là Pháp và Mỹ, thu non sông về một mối (1945-1975), đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội; tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

 

Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã vươn lên trở thành biểu tượng hòa bình, ổn định, hiếu khách, điểm đến của các nhà đầu tư và du khách quốc tế. Từ một nước nghèo, lạc hậu, bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế toàn cầu.

 

Quy mô nền kinh tế năm 2023 tăng gấp 96 lần so với năm 1986. Việt Nam trong nhóm 40 nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 nước, vùng lãnh thổ trên khắp năm châu; xây dựng các mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với tất cả các cường quốc trên thế giới.

 

Lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân là mục tiêu phấn đấu, Việt Nam được Liên hợp quốc và bạn bè quốc tế xem như một câu chuyện thành công, một điểm sáng về xóa đói giảm nghèo, không ngừng nâng cao đời sống vật chất

 

Đồng tâm hiệp lực, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới

 

Trải qua 95 năm ra đời và lãnh đạo đất nước, Đảng ta đã trải qua 13 kỳ đại hội và mỗi kỳ Đại hội Đảng “ý Đảng, lòng dân” lại được hội tụ và nâng lên một tầm cao mới; trong đó tư tưởng cốt lõi là: Đảng vững mạnh, dân tộc lớn mạnh, nhân dân ấm no, hạnh phúc.

 

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng rút ra bài học: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng.”

 

Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu.

 

Văn kiện Đại hội XIII cũng khẳng định tinh thần xuyên suốt: sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của sự nghiệp đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; “Đảng lấy sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và cán bộ, đảng viên”; “niềm tin của nhân dân là thước đo cho sự vững mạnh của Đảng.”

 

Cùng với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, lòng dân được củng cố là điểm tựa vững chắc để xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước cường thịnh, hạnh phúc.

 

Tổng Bí thư Tô Lâm thì quán triệt: ý Đảng lòng dân hòa quyện làm một để bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

 

Thời điểm bắt đầu kỷ nguyên mới là Đại hội XIV của Đảng, từ đây, mọi người dân Việt Nam, hàng trăm triệu người như một, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng tâm hiệp lực, chung sức đồng lòng, tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi, đẩy lùi nguy cơ, thách thức, đưa đất nước phát triển toàn diện, mạnh mẽ, bứt phá và cất cánh.

 

“Ý Đảng, lòng dân” không chỉ là những mốc son trên những chặng đường vinh quang của Đảng, mà chính là những dấu mốc quan trọng của đất nước, của dân tộc qua từng giai đoạn cách mạng do Đảng lãnh đạo.

 

“Ý Đảng, lòng dân” đã, đang và sẽ mãi mãi là nguồn lực, sức mạnh vô tận để đưa nước ta phát triển nhanh, mạnh, bền vững, sớm “sánh vai với các các cường quốc năm châu” như Bác Hồ kính yêu hằng mong.

 

Cả dân tộc Việt Nam đang bước qua những ngày đầu tiên của năm mới Ất Tỵ, trong không khí rạo rực của đất trời, của mùa Xuân, của chồi non, lộc biếc, lòng người vui phơi phới với tâm thế sẵn sàng bước vào kỷ nguyên mới với khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, giàu mạnh./.

VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CẦM QUYỀN NGÀY CÀNG TĂNG ĐỐI VỚI ĐẤT NƯỚC ĐANG BƯỚC VÀO KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC

 Trên thế giới đảng cầm quyền được dùng ở cả các nước tư bản chủ nghĩa và các nước xã hội chủ nghĩa. Đảng cầm quyền là chính đảng thông qua phương thức hoạt động nào đó (bầu cử dân chủ, đảo chính, đấu tranh cách mạng...), giành được quyền thiết lập và điều hành bộ máy chính quyền để thực hiện cương lĩnh, mục tiêu của đảng theo quy định của pháp luật.

 

Ở phần lớn các nước tư bản chủ nghĩa đảng cầm quyền dùng để chỉ đảng chính trị thắng cử thông qua bầu cử dân chủ cạnh tranh, tuân theo pháp luật quốc gia. Ở các nước xã hội chủ nghĩa đảng cầm quyền được dùng để chỉ thời kỳ đảng cộng sản, thường thông qua cuộc đấu tranh cách mạng vô sản hoặc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, lật đổ bộ máy chính quyền của giai cấp bóc lột, thiết lập nhà nước kiểu mới - nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, để thực hiện mục đích của đảng là xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

 

Ở Việt Nam, từ sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành Đảng cầm quyền và là Đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo Nhân dân hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, thực hiện xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”[1]. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội”[2]. Như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền là sự phản ánh thời kỳ cách mạng đã giành được chính quyền, Đảng được Nhân dân ủy quyền lãnh đạo thiết lập và sử dụng bộ máy nhà nước và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân và dân tộc.

 

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra những nguy cơ chung của đảng cộng sản cầm quyền, đó là nguy cơ sai lầm về đường lối và quan liêu, xa dân. Trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhận thức và từng bước ngăn chặn, đẩy lùi các nguy cơ đó, đồng thời nhận thức thêm các nguy cơ mới. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ 4 nguy cơ nổi bật của nước ta: “Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế thế giới do điểm xuất phát thấp, nhịp độ tăng trưởng chưa cao và vững chắc, lại phải đi lên trong môi trường cạnh tranh gay gắt; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa nếu không khắc phục được những lệch lạc trong chủ trương, chính sách và chỉ đạo thực hiện; nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ quan liêu; nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch”[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, chịu trách nhiệm và quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, bởi vậy, 4 nguy cơ nêu trên của đất nước cũng là 4 nguy cơ của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền.

 

Tại Đại hội X, Đảng nhấn mạnh: “Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại. Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí là nghiêm trọng. Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội chưa được khắc phục. Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta”[4].

 

Đại hội XII của Đảng khẳng định 4 nguy cơ, thách thức nêu trên vẫn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp, nghiêm trọng hơn, như tình trạng tham nhũng, lãng phí, nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với những thủ đoạn mới nhất là triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông trên mạng Internet để chống phá; những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; vấn đề “lợi ích nhóm”; niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, chế độ có mặt bị giảm sút. Nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Đây là nguy cơ liên quan đến vận mệnh của Đảng, của chế độ ta trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.

 

Đại hội XIII của Đảng nhận định: 4 nguy cơ vẫn còn tồn tại, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, có mặt gay gắt hơn. “Nguy cơ tụt hậu, rơi vào bẫy thu nhập trung bình còn lớn. Có biểu hiện chưa quan tâm đúng mức bảo đảm phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển văn hóa, bảo đảm phúc lợi xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong phát triển kinh tế thị trường; chưa bảo đảm phát triển tổng thể, đồng bộ các vùng, miền, địa phương theo lợi thế so sánh và phát huy điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù. Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta. Bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và thích ứng với biến đổi khí hậu là yêu cầu cấp thiết, đồng thời là những thách thức rất lớn đối với nước ta trong thời gian tới”[5].

 

Từ những vấn đề chung về Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền trên, đòi hỏi vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền ngày càng tăng đối với đất nước đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc:

 

Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền lãnh đạo lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

 

Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ rõ: Đảng Cộng sản ra đời, tồn tại và phát triển là để lãnh đạo giai cấp công nhân, nhân dân lao động lật đổ xã hội áp bức, bóc lột, xây dựng chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội; lật đổ chế độ cũ, đập tan nhà nước áp bức, bóc lột Đảng Cộng sản mới hoàn thành được một nhiệm vụ đầu tiên; nhiệm vụ tiếp theo rất nặng nề, phức tạp của Đảng là lãnh đạo giai cấp công nhân, nhân dân lao động xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ thành quả cách mạng. Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 ghi rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tường Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

 

Đảng Cộng sản cầm quyền lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy và lãnh đạo hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở để thực hiện đường lối chính trị của Đảng. Hệ thống chính trị do giai cấp cầm quyền lập ra và chỉ đạo hoạt động nên hệ thống chính trị ở các nước đều mang bản chất của giai cấp cầm quyền. Hệ thống chính trị ở Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân, thể hiện tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) chỉ rõ: Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định việc xây dựng và hoạt động đúng hướng của hệ thống chính trị, quyết định để hệ thống chính trị mang bản chất giai cấp công nhân. Hệ thống chính trị là một chỉnh thể bao gồm các tổ chức như đảng chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, với những quan hệ tác động qua lại giữa các nhân tố đó trong việc tham gia vào các quá trình hoạch định và thực thi các quyết sách chính trị nhằm bảo đảm quyền lực chính trị đáp ứng nhu cầu ổn định và phát triển xã hội. Hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay là một chỉnh thể thống nhất, bao gồm các tổ chức: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

 

Hai là, Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

 

Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc. Thưc tiễn khẳng định Đảng là lực lượng chính trị duy nhất có đầy đủ năng lực, điều kiện cầm quyền xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đem lại độc lập, tự do, ấm no hạnh phúc thực sự cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cho dân tộc. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

 

Trong điều kiện đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Đảng ta cần có những giải pháp đột phá: “Tập trung hoàn thiện thể chế, tiếp tục nâng cao năng lực hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng; tăng cường năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng thông qua đổi mới việc xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, nhất là việc ban hành nghị quyết; đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng, ứng dụng công nghệ thông tin, ch.uyển đ.ổi s.ố trong hoạt động của Đảng, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tăng cường củng cố niềm tin của Nhân dân, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng. Tiếp tục nghiên cứu sắp xếp, tinh gọn đơn vị hành chính các cấp theo hướng giảm đầu mối trực thuộc Trung ương, giảm cấp hành chính trung gian, chú trọng xây dựng cấp cơ sở vững mạnh, phù hợp với thực tiễn, bảo đảm vận hành thông suốt, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, nhất là công tác thẩm định, đánh giá cán bộ; tập trụng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược, cán bộ cấp cơ sở; tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài, khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung làm động lực cho sự phát triển nhanh, bền vững đất nước. Tăng cường siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, kiểm soát quyền lực chặt chẽ, hiệu quả. Đặc biệt chú trọng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng; kiên quyết, kiên trì đây mạnh công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực” [6].

 

Ba là, Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền lãnh đạo đất nước phát triển về mọi mặt đồng thời thiết lập mối quan hệ hòa bình, hữu nghị với các quốc gia dân tộc khác trong cộng đồng quốc tế

 

Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền có sứ mệnh làm cho đất nước phát triển về mọi mặt và chịu trách nhiệm về sự phát triển của đất nước trước Nhân dân, trước dân tộc. Đảng đã lãnh đạo Nhân dân Việt Nam đánh đuổi thực dân, đế quốc xâm lược, thống nhất đất nước, đưa cả nước lên chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình đổi mới vừa qua, Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền đã lãnh đạo đất nước vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ Tổ quốc, hội nhập sâu rộng với các nước trên thế giới, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

 

Là Đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam chịu trách nhiệm trước Nhân dân, dân tộc về sự phát triển của đất nước, luôn nỗ lực phấn đấu làm tròn trách nhiệm của đảng cầm quyền. Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, là chủ thể xác định đường lối đối ngoại của đất nước, quyết định những vấn đề chiến lược, sách lược trong quan hệ đối ngoại. Trên cơ sở đường lối đối ngoại của Đảng đã xác định, Nhà nước cụ thể hóa thành chính sách đối ngoại, thiết lập mối quan hệ hòa bình, hữu nghị với các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị giải quyết mọi vấn đề nảy sinh trong quan hệ đối ngoại đều dựa trên đường lối, quan điểm đối ngoại của Đảng.

 

Bốn là, Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền là chủ thể gìn giữ, phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc

 

Đảng Cộng sản cầm quyền là người tập hợp, đoàn kết toàn thể Nhân dân lao động trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc tạo thành sức mạnh to lớn thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng. Sở dĩ, Đảng tập hợp, đoàn kết được toàn dân tộc là nhờ đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo của Đảng phù hợp với quy luật phát triển của xã hội, phù hợp với lợi ích Nhân dân, dân tộc. Đảng không có lợi ích nào ngoài lợi ích của Nhân dân, của đất nước, của dân tộc.

 

Gắn bó mật thiết giữa Đảng với Nhân dân là một nguyên lý trong học thuyết Mác-Lênin về chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân. Ngay từ khi ra đời, Đảng phải dựa vào Nhân dân, liên hệ mật thiết với dân để tuyên truyền vận động Nhân dân, tập hợp Nhân dân, lãnh đạo Nhân dân đứng lên làm cách mạng. Thắt chặt mối quan hệ gắn bó mật thiết với Nhân dân thì Đảng mới có sức mạnh, Nhân dân là động lực của cách mạng, bổ sung nguồn sinh lực cho Đảng. Nhờ gắn bó mật thiết với Nhân dân, phát huy sức mạnh vô địch của Nhân dân mà Đảng đã lãnh đạo Nhân dân giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám; trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược; trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

 

Hiện nay, trong điều kiện nước ta phát triển nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, tham gia vào quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, những căn bệnh của đảng cầm quyền như quan liêu, tham nhũng, hách dịch cửa quyền, xa dân có cơ hội phát triển... làm giảm lòng tin của Nhân dân với Đảng. Vì thế, hơn lúc nào hết Đảng phải tăng cường củng cổ mối quan hệ mật thiết với Nhân dân, đấu tranh, khắc phục mọi biểu hiện quan liêu, tham nhũng và các tiêu cực của đội ngũ cán bộ, đảng viên góp phần nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng trong điều kiện đất nước đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam./.

KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG XÂY DỰNG VÀ THI HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

 Dự kiến tại Kỳ họp bất thường vào tháng 2/2025, Quốc hội sẽ thảo luận về dự án Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi); đáng chú ý là việc đổi mới tư duy xây dựng pháp luật...

 Dự kiến tại Kỳ họp bất thường vào tháng 2/2025, Quốc hội sẽ thảo luận về dự án Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi).

 

Theo Tờ trình của Chính phủ, dự thảo Luật có nhiều quy định mới quan trọng, mang tính đột phá về quy trình xây dựng pháp luật như tiếp tục đơn giản hóa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; bổ sung hình thức nghị quyết quy phạm pháp luật của Chính phủ; đổi mới việc xây dựng Chương trình lập pháp của Quốc hội; quy định việc chịu trách nhiệm đến cùng của các cơ quan trình dự án luật... Đáng chú ý là việc đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, tăng cường kiểm soát quyền lực trong xây dựng và thi hành pháp luật.

 

Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm

 

Báo cáo đánh giá tác động chính sách trong đề nghị xây dựng Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi) của Bộ Tư pháp chỉ rõ, Điều 5 Luật hiện hành quy định các nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, thực tế thời gian qua cho thấy, việc thực hiện các quy định này đã phát sinh một số khó khăn, vướng mắc.

 

Về bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong quá trình thực hiện, các bộ, ngành và địa phương còn lúng túng, không xác định được trình tự, thủ tục xin ý kiến các cấp ủy đảng về chính sách, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do Luật chưa quy định về cơ chế xin ý kiến cấp ủy đảng, cũng như thời điểm, trách nhiệm xin ý kiến.

 

Về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm trong xây dựng pháp luật, Báo cáo đánh giá tác động nhận định, tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm có thể xảy ra ở bất kỳ giai đoạn nào trong quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật từ khâu lập đề nghị, soạn thảo đến xem xét, thông qua hoặc ký ban hành, thậm chí là trong quá trình tổ chức thi hành văn bản.

 

Tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm có thể được thực hiện bằng các cách thức tác động vào các khâu quy trình, với nguy cơ có thể không lấy ý kiến của những cơ quan, tổ chức mà theo quy định bắt buộc phải lấy ý kiến; không đánh giá tác động thủ tục hành chính hoặc đánh giá không đầy đủ; không quy định rõ thủ tục hành chính hoặc quy định thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp, không cần thiết; quy định điều kiện kinh doanh không dựa trên yêu cầu quản lý nhà nước, nguyên tắc bình đẳng trong kinh doanh. Do đó, Bộ Tư pháp cho rằng cần thiết phải quy định cụ thể nguyên tắc và cơ chế kiểm soát trong Luật.

 

Qua thống kê, Bộ Tư pháp cũng nhận định thời gian qua, nhiều văn bản chỉ đạo của các cấp có thẩm quyền về công tác xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật được ban hành, trong đó đặt ra các mục tiêu, yêu cầu cụ thể cần phải được thể chế hóa vào Luật.

 

Việc bổ sung một số nguyên tắc về kiểm soát quyền lực trong xây dựng và thi hành văn bản quy phạm pháp luật sẽ thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng và tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác xây dựng và thi hành pháp luật; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm trong xây dựng và thi hành văn bản quy phạm pháp luật. Đây cũng là giải pháp nhằm thu hút rộng rãi sự tham gia của các cơ quan, tổ chức, cá nhân vào quá trình xây dựng pháp luật gắn với hoàn thiện cơ chế phản biện xã hội, giải trình và tiếp thu ý kiến của nhân dân đối với dự thảo Luật.

 

Dự thảo Luật quy định về nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Điều 4) trên cơ sở kế thừa, có sửa đổi, bổ sung nội dung Điều 5 của Luật hiện hành. Theo đó, bổ sung một số nguyên tắc quan trọng, gồm: kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ, lãng phí trong công tác xây dựng pháp luật; xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; bảo đảm chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc; kịp thời giải quyết vấn đề bất cập, yêu cầu phát sinh từ thực tiễn; bảo đảm quản lý Nhà nước và khuyến khích sáng tạo, khơi thông mọi nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội.

 

Ngoài ra, việc tăng cường kiểm soát quyền lực trong xây dựng và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật còn được thể hiện tại nội dung cụ thể của một số điều như việc xin ý kiến của Bộ Chính trị đối với việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong trường hợp đặc biệt (Điều 52), trách nhiệm xin ý kiến các cơ quan có thẩm quyền của Đảng (Điều 67), trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật (Điều 68)…

 

Đề xuất bỏ thẩm quyền ban hành văn bản của cấp xã

 

Với chủ trương tiếp tục tinh gọn hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo Luật quy định bỏ thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền cấp xã để bảo đảm thống nhất với đề xuất nêu tại Đề án đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật mà Đảng đoàn Quốc hội đã trình Bộ Chính trị.

 

Số liệu thống kê cho thấy, số lượng văn bản quy phạm pháp luật do cấp xã ban hành rất khác nhau. Tính từ 1/7/2016 đến 31/12/2023, có 21/63 tỉnh có cấp xã không ban hành nghị quyết; 17/63 tỉnh có cấp xã không ban hành quyết định; một số địa phương, cấp xã không ban hành văn bản quy phạm pháp luật nào trong 8 năm thi hành Luật (Bắc Ninh, Đà Nẵng, Cần Thơ…).

 

Theo Bộ Tư pháp, ở cấp xã, người làm công tác xây dựng pháp luật vừa thiếu về số lượng, vừa thiếu kiến thức và kỹ năng soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật. Bên cạnh đó, cấp xã là cấp hành chính cơ sở, chỉ tập trung nguồn lực vào công tác triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật của cấp trên. Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cấp xã thực tế cho thấy không nhiều. Do đó, Bộ Tư pháp cho rằng cần thiết phải quy định bỏ hình thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cấp xã./.

ĐẢNG VÀ TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC TRONG XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VỮNG MẠNH TRƯỚC NHỮNG THÁCH THỨC MỚI

 Trong hành trình gần một thế kỷ lãnh đạo đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng minh vai trò tiên phong trong việc định hình và phát triển hệ thống chính trị phù hợp với điều kiện lịch sử, yêu cầu phát triển của dân tộc.

 Từ những ngày đầu mới thành lập, Đảng không chỉ đưa ra những đường lối cách mạng đúng đắn mà còn kiên cường vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách, trở thành lực lượng lãnh đạo duy nhất của cách mạng Việt Nam. Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, Đảng càng thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược vững vàng, đặc biệt là trong việc xây dựng và củng cố hệ thống chính trị vững mạnh, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước.

 

 Tuy nhiên, trong thời đại toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, tình hình quốc tế và trong nước biến đổi nhanh chóng, hệ thống chính trị cần được tiếp tục hoàn thiện, đổi mới để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng là phù hợp, hiệu quả và bền vững.

 

 Xây dựng một hệ thống chính trị vững mạnh trong kỷ nguyên mới là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng và khó khăn. Sự ổn định của hệ thống chính trị không chỉ là yếu tố quyết định đến sự phát triển của đất nước, mà còn là nền tảng để bảo vệ và thực hiện các mục tiêu chiến lược của Đảng. Chính vì vậy, Đảng cần có một tầm nhìn xa để hình thành một hệ thống chính trị đủ mạnh mẽ, vừa ổn định, vừa linh hoạt, có khả năng ứng phó với những thay đổi bất ngờ của thế giới.

 

 Trước hết, hệ thống chính trị của Việt Nam cần tiếp tục giữ vững nguyên tắc lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản, nhưng không thể trì trệ trong những phương thức lãnh đạo cũ, mà cần được cải tiến để đáp ứng nhu cầu phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa.

 

 Trong các văn kiện của Đảng, luôn khẳng định rằng Đảng không phải là một thực thể riêng biệt mà là hạt nhân lãnh đạo, liên kết chặt chẽ với Nhà nước và nhân dân. Việc củng cố mối quan hệ này sẽ giúp hệ thống chính trị không chỉ vững mạnh về mặt tổ chức mà còn phản ánh đầy đủ nguyện vọng và lợi ích của nhân dân. Thực tế, trong những năm qua, Đảng đã không ngừng hoàn thiện phương thức lãnh đạo, nhằm tạo sự đồng thuận trong toàn xã hội, đảm bảo mọi tầng lớp nhân dân đều được tham gia vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước.

 

Ngoài ra, một trong những yếu tố cần thiết để xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh là khả năng linh hoạt trong tổ chức bộ máy nhà nước. Trong khi bảo vệ các nguyên tắc cơ bản, Đảng cần điều chỉnh cơ cấu bộ máy chính trị sao cho phù hợp với yêu cầu sự phát triển nhanh chóng của xã hội. Thời đại hiện nay yêu cầu một hệ thống chính trị có khả năng chuyển đổi nhanh chóng, từ cách thức vận hành cho đến các cơ chế quản lý, đảm bảo các quyết sách đưa ra có tính khả thi và đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn.

 

 Ch.uy.ển đ.ổi s.ố, việc ứng dụng các thành tựu công nghệ vào quản lý nhà nước, chính là một trong những yếu tố then chốt để Đảng hiện đại hóa bộ máy của mình. Đảng không chỉ cần có chiến lược dài hạn mà còn phải nắm bắt cơ hội công nghệ để đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế, xã hội. Các bộ, ngành, cơ quan chính phủ cần phát triển mạnh mẽ hơn nữa các hệ thống thông tin, chuyển đổi dữ liệu số để cải cách thủ tục hành chính, giảm thiểu sự can thiệp của con người trong các công việc hành chính, từ đó giảm thiểu tham nhũng, lãng phí.

 

 Hệ thống chính trị vững mạnh không chỉ dựa vào một bộ máy tổ chức hiệu quả mà còn phụ thuộc vào năng lực lãnh đạo của Đảng. Việc nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong thời đại mới là một nhiệm vụ then chốt để bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước. Điều này đòi hỏi Đảng phải có đủ tầm nhìn chiến lược, đồng thời phải đủ mạnh để triển khai các chiến lược và kế hoạch cụ thể, thực hiện những cải cách cần thiết và bảo vệ các giá trị cốt lõi của chế độ.

 

 Trong bối cảnh toàn cầu hóa, Đảng phải đối mặt với những thách thức phức tạp hơn bao giờ hết. Chính vì vậy, việc đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo có năng lực, phẩm chất đạo đức, khả năng đổi mới sáng tạo là rất quan trọng.

 

 Không chỉ cần những người lãnh đạo có tư duy chiến lược và tầm nhìn rộng lớn, mà còn phải có khả năng ứng phó linh hoạt với những tình huống thay đổi nhanh chóng của thế giới. Chính vì vậy, Đảng cần thực hiện các chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, ưu tiên đào tạo và sử dụng cán bộ có khả năng hiểu rõ các xu thế toàn cầu và khả năng ứng dụng công nghệ vào quản lý.

 

 Một yếu tố quan trọng trong nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng là duy trì sự đoàn kết nội bộ, không để xảy ra sự phân hóa, mất đoàn kết. Đoàn kết luôn là sức mạnh của Đảng trong mọi giai đoạn lịch sử. Đảng cần phát huy sức mạnh đoàn kết này, đồng thời bảo đảm rằng mọi cán bộ, đảng viên đều kiên định lý tưởng, giữ vững niềm tin vào mục tiêu xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

 

 Để xây dựng và củng cố hệ thống chính trị vững mạnh, Đảng cần tiếp tục phát triển một chiến lược toàn diện, bao gồm các chính sách cải cách toàn diện bộ máy của hệ thống chính trị, kinh tế và xã hội. Việc cải cách bộ máy cần được đẩy mạnh để giảm thiểu tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Cần chú trọng hơn nữa việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, tinh gọn, hiệu quả, đồng thời cần bảo vệ sự trong sạch của bộ máy chính trị. Cần có các cơ chế kiểm tra, giám sát thường xuyên để đảm bảo việc thực thi các chính sách của Đảng được thực hiện nghiêm túc và hiệu quả.

 

 Bên cạnh đó, để hệ thống chính trị thực sự vững mạnh, Đảng cần tập trung vào việc xây dựng một nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Điều này không chỉ thể hiện qua việc tăng cường quyền tham gia, mà còn phải có các cơ chế và hình thức hiệu quả hơn nữa để người dân tích cực giám sát, phản biện các quyết sách của Đảng, Nhà nước. Khi đảm bảo được sự dân chủ trong mọi hoạt động, hệ thống chính trị có thể tạo ra sự đồng thuận xã hội mạnh mẽ, từ đó củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

 

 Đảng cần có chiến lược phát triển bền vững, có tầm nhìn chiến lược để Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu mà vẫn bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia. Việc duy trì ổn định chính trị, xây dựng nền tảng kinh tế vững chắc, đồng thời phát triển nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc sẽ giúp Việt Nam không chỉ phát triển mạnh mẽ về kinh tế mà còn khẳng định được vị thế quốc tế của mình.

 

Việc xây dựng một hệ thống chính trị vững mạnh là một nhiệm vụ chiến lược dài lâu đối với Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ mới. Để thành công, Đảng cần tiếp tục đổi mới, phát huy sức mạnh của toàn xã hội, đồng thời phải duy trì một tầm nhìn chiến lược, giữ vững bản sắc và phát huy hiệu quả lãnh đạo.


 Chỉ khi hệ thống chính trị hoạt động hiệu quả, minh bạch và có tính linh hoạt cao, Đảng mới có thể dẫn dắt đất nước vượt qua mọi thử thách, đạt được các mục tiêu phát triển lâu dài, bền vững, đồng thời củng cố vững chắc nền tảng chính trị và xã hội./.

95 MÙA XUÂN CÓ ĐẢNG

3-2-2025 kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam khi sắc xuân đang căng tràn.

Chúng ta càng thêm tự hào 95 mùa xuân có Đảng. Thời gian là thuốc thử kỳ diệu, minh chứng sức mạnh phi thường của đội tiên phong của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam.

 

Đảng ta đã kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam với đầy ắp niềm tin yêu của tình dân, nghĩa Đảng vượt qua ghềnh thác, tiến mạnh mẽ và vững chắc trên con đường độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, khẳng định vị thế của Việt Nam ngày càng nâng cao trong khu vực và trên thế giới.

 

Lịch sử ghi đậm dấu ấn, dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã làm nên thắng lợi vĩ đại Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mà đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, kết thúc vẻ vang là Đại thắng mùa Xuân năm 1975; thắng lợi của công cuộc đổi mới, tạo ra thế và lực mạnh mẽ cho đất nước đi tới tương lai rực rỡ, vững tin bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

 

Năm 2024, dù chịu nhiều tác động từ những bất ổn của tình hình chính trị, kinh tế thế giới, trong nước thiên tai, bão, lũ gây hậu quả nặng nề nhưng đất nước luôn ổn định chính trị, độc lập, chủ quyền quốc gia được giữ vững, kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực và thế giới; công tác xây dựng Đảng đạt kết quả tích cực và toàn diện. Việc sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được triển khai quyết liệt, khẩn trương.

 

Mừng Đảng ta tròn 95 tuổi, từng cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên với quyết tâm cao nhất phấn đấu hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ của nhiệm kỳ Đại hội XIII, lập nhiều thành tích chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước; tổ chức thành công đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng.

 

Quân đội nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh qua hơn 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành đã không ngừng lớn mạnh, cùng nhân dân làm nên những chiến công chói lọi. Dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, Quân đội quyết tâm phấn đấu vươn lên mạnh mẽ, thực hiện thắng lợi mục tiêu năm 2025 cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại; tạo tiền đề, động lực vững chắc xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

 

Đảng soi đường, mở lối, dẫn dắt dân tộc ta đi tới bến bờ hạnh phúc, vinh quang. Hướng về Đảng, vững tin theo Đảng, mọi người dân Việt Nam tự hào phát huy truyền thống đoàn kết, anh dũng, tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi, đẩy lùi nguy cơ, thách thức, đưa đất nước bứt phá, tiến lên./.

ĐẢNG VIÊN, QUÂN NHÂN - TUY HAI NHƯNG LÀ MỘT

 Nhìn vào nhiệm vụ của đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam và tiêu chuẩn, nghĩa vụ của sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng, hạ sĩ quan, binh sĩ (gọi chung là quân nhân) công tác trong Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, chúng ta thấy rất nhiều điểm trùng hợp.

Đối với đảng viên, Điều 2 Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định: Thứ nhất, tuyệt đối trung thành với mục đích, lý tưởng cách mạng của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước; hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; phục tùng tuyệt đối sự phân công và điều động của Đảng.

 

Thứ hai, không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ, kiến thức, năng lực công tác, phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, có lối sống lành mạnh; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, cục bộ, quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác. Chấp hành quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm.

 

Thứ ba, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân; tích cực tham gia công tác quần chúng, công tác xã hội nơi làm việc và nơi ở; tuyên truyền, vận động gia đình và nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Thứ tư, tham gia xây dựng, bảo vệ đường lối, chính sách và tổ chức của Đảng; phục tùng kỷ luật, giữ gìn đoàn kết, thống nhất trong Đảng; thường xuyên tự phê bình và phê bình, trung thực với Đảng; làm công tác phát triển đảng viên; sinh hoạt đảng và đóng đảng phí đúng quy định.

 

Đối chiếu với những nhiệm vụ trên thì ngoài yêu cầu về phẩm chất đạo đức cách mạng như đảng viên, tiêu chuẩn, nghĩa vụ hàng đầu đối với quân nhân trong QĐND Việt Nam còn là: Có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và nhân dân, với Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; có tinh thần cảnh giác cách mạng cao, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia xây dựng đất nước, bảo vệ tài sản và lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức; bảo vệ tính mạng, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân... Sĩ quan còn có nghĩa vụ thường xuyên chăm lo lợi ích vật chất và tinh thần của bộ đội (giống như đảng viên là chăm lo cho nhân dân); gương mẫu chấp hành và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tôn trọng và gắn bó mật thiết với nhân dân.

 

Hội tụ những phẩm chất cao quý ấy và dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng cùng tinh thần “vì nhân dân phục vụ”, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, viết tiếp những trang sử vẻ vang mới của QĐND Việt Nam anh hùng./.

VƯƠN MÌNH BƯỚC VÀO KỶ NGUYÊN MỚI DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

 Trong không khí hân hoan phấn khởi của Xuân Ất Tỵ 2025, dân tộc Việt Nam lại có thêm một niềm vui nữa là mừng Đảng ta thêm tuổi mới. Trong suốt 95 năm qua, Mùa Xuân-Đất nước-Dân tộc và Đảng ta luôn hòa quyện với nhau làm một, cùng làm nên những kỳ tích, viết nên những trang sử vẻ vang trong lịch sử nước nhà.

 

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử và thời đại, làm thay đổi cuộc đời mỗi con người và vận mệnh cả dân tộc.

 

Nhìn lại lịch sử từ giữa thế kỷ 19 khi đất nước ta chưa có Đảng lãnh đạo, mặc dù nhân dân ta, dân tộc ta đã dũng cảm vùng lên chiến đấu, không chịu khuất phục trước sự áp bức, xâm lược của chủ nghĩa thực dân nhưng đều không thành công. Điển hình như cuộc khởi nghĩa của Trương Định, Thủ Khoa Huân, Tôn Thất Thuyết, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám… Giai đoạn này, cách mạng Việt Nam bị khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước.

 

Trong bối cảnh đó, ngày 6/5/1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành, với tên Văn Ba đã rời bến Nhà Rồng (Sài Gòn) ra đi tìm đường cứu nước. Qua nhiều năm tháng bôn ba, Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc đã trở thành một chiến sỹ cách mạng giàu kinh nghiệm thực tiễn trong phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa những năm đầu thế kỷ 20. Từ chủ nghĩa yêu nước, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Marx-Lenin và tìm được con đường cách mạng giải phóng cho dân tộc.

 

Ngày 3/2/1930, sau gần 20 năm đi tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là sự kiện trọng đại, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; là bước ngoặt vĩ đại, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ 20 và cũng là điểm mở đầu quyết định cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam và sự phát triển của dân tộc trong các giai đoạn sau này.

 

Với đường lối đúng đắn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã truyền cảm hứng mạnh mẽ, làm sống dậy khát vọng giải phóng dân tộc trong nhân dân Việt Nam.

 

Với đường lối đúng đắn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã truyền cảm hứng mạnh mẽ, làm sống dậy khát vọng giải phóng dân tộc trong nhân dân Việt Nam. Chỉ 15 năm đi theo đường lối cách mạng của Đảng, dân tộc ta đã làm nên kỳ tích vĩ đại - thực hiện thành công cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân-phong kiến, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do.

 

Với thắng lợi vĩ đại ấy, “chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền trong toàn quốc."

 

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đất nước ta bước vào thời đại mới, thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc - Thời đại Hồ Chí Minh.

 

Chỉ hơn 4 tháng sau, cuộc Tổng tuyển cử dân chủ đầu tiên ngày 6/1/1946 đã bầu ra Quốc hội và Chính phủ hợp hiến, hợp lòng dân.

 

Ngay tại Kỳ họp thứ hai (tháng 11/1946), Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trang trọng khẳng định quyền độc lập của dân tộc, quyền tự do dân chủ của nhân dân.

 

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dân tộc ta lại đối mặt với âm mưu xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp. Trước những khó khăn chồng chất "nghìn cân treo sợi tóc," Đảng ta một lần nữa tỏ rõ bản lĩnh của một Đảng Marxist chân chính, chủ động đối phó với thù trong giặc ngoài với phương châm: “Tổ quốc trên hết, Dân tộc trên hết”; không thỏa hiệp để làm mất độc lập, chủ quyền đất nước nhưng sẵn sàng hòa hoãn, nhân nhượng về sách lược để dành thời gian xây dựng thực lực mọi mặt, chuẩn bị kháng chiến lâu dài.

 

Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp (1945-1954), Đảng ta đã sáng suốt định ra đường lối “Toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính.”

 

Theo chiến lược này, Đảng đã tổ chức toàn dân, tập hợp mọi lực lượng đưa vào các đoàn thể kháng chiến, xây dựng lực lượng chính trị hùng hậu và lực lượng vũ trang vững mạnh bao gồm 3 thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Và ngày 7/5/1954, lá cờ "Quyết chiến-Quyết thắng" đã tung bay trên hầm tướng De Castries. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị tiêu diệt.

 

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, quân và dân ta đã làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu," chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, mở ra trang mới cho cách mạng Việt Nam. Ngày 20/7/1954, Hiệp định Geneva được ký, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

 

Vừa ra khỏi cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp, dân tộc ta lại phải bước vào cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ. Trước một đội quân xâm lược nhà nghề chưa từng thất bại, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng với những quyết sách chiến lược vô cùng sáng tạo, một lần nữa truyền đến nhân dân và toàn dân tộc niềm tin chiến thắng của chính nghĩa trước thế lực bạo tàn. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã chiến đấu anh dũng và chiến thắng hết sức vẻ vang.

 

Bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân đội và nhân dân Việt Nam đã kết thúc cuộc trường chinh hơn một thế kỷ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thu non sông về một mối, mở ra kỷ nguyên cả nước độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội.

 

Chiến thắng 30/4/1975 là thành quả vĩ đại nhất của sự nghiệp giải phóng dân tộc, đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam, là Ngày hội thống nhất non sông. Văn kiện Đại hội IV của Đảng năm 1976 khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ 20, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc."

 

Thắng lợi của hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược là thành quả tổng hợp của một loạt nhân tố tạo nên sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam. Nhưng nguồn gốc của mọi nhân tố ấy chính là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng - đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam.

 

Sau ngày thống nhất, cả nước bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải đối diện với những thách thức, khó khăn gay gắt cả trong nước, khu vực và trên trường quốc tế. Trước tình hình đó, Đảng ta một lần nữa khẳng định trách nhiệm trước dân tộc và lịch sử, khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới (tại Đại hội VI của Đảng 1986).

 

Đảng ta quyết định thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần; đồng thời đổi mới chính sách xã hội, hướng vào những giải pháp nhằm cải thiện đời sống mọi mặt của nhân dân.

 

Có thể khẳng định từ khi có Đảng lãnh đạo, dân tộc Việt Nam đã bước sang trang mới huy hoàng. Đất nước ta, từ một dân tộc thuộc địa, nô lệ trở thành một quốc gia độc lập; đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, nâng cao, có nhiều thành tựu về phát triển kinh tế-xã hội được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao; quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế không ngừng rộng mở, hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư được tăng cường. Những thành tựu to lớn trên tạo tiền đề quan trọng để đất nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển, tự tin bước vào kỷ nguyên mới.

 

Theo Tổng Bí thư Tô Lâm, sau gần 95 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích trong lịch sử, trải qua kỷ nguyên đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội (1930-1975); kỷ nguyên thống nhất đất nước, đổi mới (1975-2025). Và giờ đây, chúng ta bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, khởi đầu bằng sự kiện trọng đại - Đại hội XIV của Đảng.

 

Thời điểm bắt đầu kỷ nguyên mới là Đại hội XIV của Đảng, khi chúng ta hoàn thành xuất sắc công cuộc đổi mới sau 40 năm lao động, sáng tạo bền bỉ và đạt được những thành tựu vĩ đại.

 

Kỷ nguyên trước tạo tiền đề cho kỷ nguyên sau, kỷ nguyên sau kế thừa, phát triển thành tựu của kỷ nguyên trước, làm cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ngày càng hòa quyện, phát triển không ngừng. Ý Đảng hòa quyện lòng dân, khát vọng đưa đất nước vươn mình tiến vào kỷ nguyên mới.

 

Từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng nhất để xác lập trật tự thế giới mới, đây cũng là thời kỳ, cơ hội chiến lược, giai đoạn nước rút của cách mạng Việt Nam để đạt mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, tạo tiền đề vững chắc đạt mục tiêu 100 năm thành lập nước. Điều quan trọng là chúng ta phát huy được tối đa sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sự nỗ lực, quyết tâm cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐỒNG CHÍ LÊ HOÀI TRUNG ĐƯỢC ĐIỀU ĐỘNG, BỔ NHIỆM GIỮ CHỨC CHÁNH VĂN PHÒNG TRUNG ƯƠNG ĐẢNG!

     Ngày 3/2/2025, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Thường trực Ban Bí thư đã tổ chức Hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về việc thành lập, chỉ định nhân sự của 4 Đảng bộ trực thuộc Trung ương (Đảng bộ các cơ quan Đảng ở Trung ương, Đảng bộ Chính phủ, Đảng bộ Quốc hội và Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương). Bộ Chính trị chỉ định đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư giữ chức Bí thư Đảng ủy các cơ quan đảng Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025; đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ giữ chức Bí thư Đảng ủy Chính phủ nhiệm kỳ 2020-2025; đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội giữ chức Bí thư Đảng ủy Quốc hội nhiệm kỳ 2020-2025; đồng chí Đỗ Văn Chiến, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ chức Bí thư Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025. Hội nghị cũng công bố Quyết định của Bộ Chính trị về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, mối quan hệ công tác của 3 cơ quan Đảng ở Trung ương (Văn phòng Trung ương Đảng, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương). Bộ Chính trị quyết định đồng chí Lê Hoài Trung, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương thôi giữ chức Trưởng ban Đối ngoại Trung ương, điều động, bổ nhiệm giữ chức Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; Quyết định phân công đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương giữ chức Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương và đồng chí Trần Lưu Quang, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, giữ chức Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương./.
Yêu nước ST.

 

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH NÓI VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG

 

95 năm đã trôi qua từ ngày thành lập Đảng (03/02/1930 - 03/2/2025). Kể từ khi đại hội Đảng lần thứ Nhất từ ngày 27-31/3/1935 với 13 Đại biểu đại diện cho 600 đảng viên đến nay, số lượng đảng viên đã tăng lên gần 5.000.000 đã chứng minh sự lớn mạnh không ngừng của Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Một trong những thành công đó là Đảng ta luôn luôn trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Khi nói về xây dựng Đảng, Chủ Tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhấn mạnh: “Cần phải củng cố và phát triển Đảng, cần phải quyết tâm củng cố Đảng, củng cố chi bộ, tăng cường đoàn kết nội bộ, nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng, văn hóa, nghiệp vụ cho các đảng viên, chi bộ”[1]

[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 12, NXB CTQG, H.2011, tr.231.

Ý nghĩa sự phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học trong giai đoạn từ những năm 90 của thế kỷ XX đến nay.

 


Những nội dung chủ nghĩa xã hội khoa học được bổ sung, phát triển trong giai đoạn từ năm 1991 đến nay tiếp tục khẳng định bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa xã hội khoa học. Chủ nghĩa xã hội khoa học không những đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách. Trước những biến đổi lớn lao của lịch sử, bất chấp mọi công kích, bôi nhọ, phê phán, chủ nghĩa xã hội khoa học không lỗi thời, lạc hậu mà ngược lại càng bộc lộ tính sáng tạo, tính thực tiễn cùng những giá trị tự thân. Những biến đổi của thời đại trong giai đoạn hiện nay không làm mất bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Những nguyên lý, quy luật, tính quy luật của chủ nghĩa xã hội khoa học vẫn còn nguyên giá trị.

Nội dung những nguyên lý chủ nghĩa xã hội khoa học được bổ sung, phát triển, có sức thuyết phục khoa học, khẳng định tính ưu việt, sự hấp dẫn, sức sống, tiếp tục góp phần bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin. Những sự phát triển đó, tiếp tục “cung cấp cho loài người và nhất là giai cấp công nhân những công cụ nhận thức vĩ đại”[1] để cải tạo thế giới. Trong bối cảnh mới, dù tiếp tục có những học thuyết mới, với những cách luận giải mới, dưới nhiều màu sắc, quan điểm, lập trường khác nhau, song chỉ có chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết khoa học và cách mạng vì mục tiêu giải phóng và phát triển con người.

Những phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học trong giai đoạn hiện nay thể hiện sự trung thành, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp với đặc điểm mới trong giai đoạn hiện nay của thời đại. Trên cơ sở những nguyên lý chủ nghĩa xã hội khoa học, các đảng cộng sản và công nhân đã nghiên cứu, vận dụng, phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn, không ngừng giải đáp đuợc những vấn đề của thời đại; đồng thời, phải có sự phê phán chọn lọc, kế thừa những thành quả của lịch sử, tinh hoa văn minh nhân loại, kết hợp những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại và không ngừng đấu tranh chống các tư tưởng thù địch, khắc phục những khuynh hướng sai lầm, nhất là trong nội bộ đội ngũ những người cộng sản. Những phát triển mới này, trực tiếp bổ sung, làm phong phú, tăng tính thuyết phục, hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội khoa học trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế hiện nay.

Những nội dung chủ nghĩa xã hội khoa học được bảo vệ, phát triển từ năm 1991 đến nay đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là nền tảng tư tưởng cho các đảng cộng sản trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Những nước xã hội chủ nghĩa còn lại, vẫn kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học, giữ ổn định để cải cách, đổi mới và đạt được nhiều thành tựu to lớn. Những bổ sung, phát triển mới về chủ nghĩa xã hội khoa học của các đảng cộng sản hiện nay, nhất là của các nước xã hội chủ nghĩa còn lại đều là những kinh nghiệm quý báu để các đảng cộng sản trong phong trào cộng sản, công nhân quốc tế có thể tham khảo và vận dụng vào điều kiện cụ thể của nước mình, đồng thời cũng là nguồn bổ sung, làm phong phú thêm kho tàng lý luận Mác - Lênin, góp phần tăng cường sức sống của chủ nghĩa xã hội, là nguồn động viên, cổ vũ to lớn đối với phong trào cộng sản, công nhân quốc tế hiện nay.

Quá trình bảo vệ, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học trong giai đoạn này trực tiếp đấu tranh phê phán quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của các đảng cộng sản. Hiện nay, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh cuộc tiến công toàn diện vào chủ nghĩa xã hội khoa học. Bởi vậy, đòi hỏi các đảng cộng sản nâng cao cảnh giác, chủ động, đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin.

Chủ nghĩa xã hội khoa học hiện nay chưa phải là đã hoàn thiện, đầy đủ, “xong xuôi hẳn”, cần phải tiếp tục bảo vệ, bổ sung, phát triển, giải đáp những vấn đề mới, do thực tiễn đặt ra. Trước những biến đổi của giai đoạn hiện nay của thời đại, nhiều vấn đề lý luận đã bị vượt qua, có những luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học cần phải được nhận thức lại, có nội dung mới cần được nghiên cứu và phát triển như: Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong điều kiện toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; đặc điểm của chủ nghĩa tư bản hiện đại và triển vọng của chủ nghĩa xã hội hiện thực; vấn đề hợp tác và đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản; vai trò của doanh nhân và kinh tế tư nhân đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa; mối quan hệ giữa bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; vấn đề tính phổ biến và đặc thù của con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội; vấn đề bảo đảm độc lập chủ quyền của quốc gia, dân tộc và việc thực hiện dân chủ, nhân quyền theo luật pháp quốc tế… Điều này, vừa là yêu cầu, nhiệm vụ vừa là những thách thức không nhỏ trong bảo vệ, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học hiện nay.

 Bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và từng quốc gia hiện nay và những năm tiếp theo có diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, đặt ra yêu cầu mới, ngày càng cao đối với việc bảo vệ, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học. Do vậy, các đảng cộng sản, công nhân cần đẩy mạnh quá trình trao đổi, hợp tác lý luận với nhiều cơ chế, hình thức khác nhau đáp ứng đòi hỏi thực tiễn của mỗi nước. Quá trình trao đổi, hợp tác đỏi hỏi các đảng cộng sản phải đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, tập trung vào những nội dung chủ yếu: chia sẻ kinh nghiệm của các đảng trong giải quyết những vấn đề lý luận lớn, như chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường, mô hình chủ nghĩa xã hội, một số vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng đảng cầm quyền; chia sẻ kinh nghiệm trong những vấn đề cụ thể, như những vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh tế (nông nghiệp, nông thôn, nông dân), thực tiễn ứng phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế ở các nước xã hội chủ nghĩa còn lại; văn hóa (đẩy mạnh xây dựng văn hóa trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế); xây dựng đảng trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; quản lý phát triển xã hội.

Trong bảo vệ, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học hiện nay, đòi hỏi các đảng cộng sản phải tích cực, chủ động nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm từ thực tiễn các các nước. Thông qua đó, giúp cho chủ nghĩa xã hội khoa học luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống. Muốn vậy, các đảng cộng sản cần tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng, hiệu quả trong quan hệ với các cơ quan nghiên cứu lý luận của các đảng cộng sản, đảng cầm quyền và đảng chính trị trên thế giới. Cùng với việc tổ chức thực hiện tốt kế hoạch hội thảo, trao đổi, đối thoại lý luận chính trị, cần nghiên cứu triển khai các hình thức hợp tác thiết thực hơn, như trao đổi thông tin, tư liệu, hợp tác nghiên cứu, khảo sát thực tiễn, phối hợp nghiên cứu những vấn đề cùng quan tâm trong hoạt động hợp tác quốc tế. Qua đó, các đảng cộng sản kế thừa, tiếp thu theo quan điểm khoa học và phát triển với những kinh nghiệm, những bài học thành công của các nước; đồng thời, giới thiệu đường lối, chính sách và quảng bá giá trị lý luận của từng đảng cộng sản đối với thế giới.



[1] V.Lênin toàn tập, Tập 23, “Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác” (1913), Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.54

Đấu tranh tư tưởng, lý luận bảo vệ, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học.

 


Đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa xã hội khoa học trong giai đoạn này được các đảng cộng sản rất quan tâm. Trước sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và của Liên Xô, cũng như sự biến đổi của các nhân tố thời đại, các thế lực thù địch đã đẩy mạnh chống phá, xuyên tạc chủ nghĩa xã hội khoa học cũng như toàn bộ chủ nghĩa Mác - Lênin, các đảng cộng sản đã chủ động, tích cực triển khai nhiều hình thức, biện pháp đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch và đạt nhiều kết quả nổi bật. Bất chấp sự chống phá điên cuồng của kẻ thù và những thăng trầm lịch sử, chủ nghĩa Mác - Lênin luôn và ngày càng tỏ rõ sức sống mạnh liệt, sự lan tỏa sâu rộng và ý nghĩa vượt tầm thời đại. Đến nay, các đảng cộng sản, những dân tộc, giai cấp, tầng lớp và các lực lượng yêu chuộng hòa bình vẫn trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng cho mọi hành động.

Các đảng cộng sản khẳng định giá trị khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Cuộc gặp quốc tế các đảng cộng sản và công nhân lần thứ 21 (2021), các đảng tham dự đã nhấn mạnh ý nghĩa, giá trị của Quốc tế Cộng sản đối với lực lượng cộng sản và công nhân giai đoạn những thập niên đầu thế kỷ XX, cũng như những bài học kinh nghiệm cho cuộc đấu tranh của người cộng sản trong giai đoạn hiện nay; cho rằng việc kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin là nhân tố tiên quyết góp phần định hướng cho cuộc đấu tranh của các đảng cộng sản và công nhân ngày nay.

Cuộc gặp quốc tế các đảng cộng sản và công nhân lần thứ 21 (2019) tại Thổ Nhĩ Kỳ, với chủ đề “Kỷ niệm 100 năm thành lập Quốc tế Cộng sản: Cuộc đấu tranh vì hòa bình và chủ nghĩa xã hội tiếp tục diễn ra”, các đảng tham dự đã nhấn mạnh ý nghĩa, giá trị của Quốc tế Cộng sản đối với lực lượng cộng sản và công nhân giai đoạn những thập niên đầu thế kỷ XX, cũng như những bài học kinh nghiệm cho cuộc đấu tranh của người cộng sản trong giai đoạn hiện nay; cho rằng việc kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin là nhân tố tiên quyết góp phần định hướng cho cuộc đấu tranh của các đảng cộng sản và công nhân ngày nay; khẳng định đoàn kết quốc tế là điều kiện quan trọng để tạo nên sức mạnh tập thể, đưa sự nghiệp cách mạng của quần chúng nhân dân đi tới thắng lợi cuối cùng. Các đại biểu cho rằng, chủ nghĩa tư bản chưa thể giải quyết được các mâu thuẫn nội tại ngày càng gay gắt và có thể sẽ sớm bước vào một chu kỳ khủng hoảng mới thời gian tới. Vì vậy, các đảng cộng sản và công nhân cần tiếp tục củng cố lực lượng, tăng cường phối hợp hành động để gia tăng toàn diện cuộc đấu tranh bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân lao động.