Thứ Ba, 4 tháng 2, 2025

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA VỀ ĐỐI NGOẠI

 Trước xu thế mở cửa và hội nhập quốc tế hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã sáng suốt, kịp thời có những thay đổi tư duy về đường lối đối ngoại. Song, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị vẫn thường xuyên đưa ra những luận điệu sai trái nhằm xuyên tạc, phủ nhận quan điểm của Đảng ta về đối ngoại. Việc nhận diện, đấu tranh phản bác những luận điệu đó là vấn đề có ý nghĩa quan trọng hiện nay.

Thời gian gần đây, với động cơ chính trị đen tối, các thế lực thù địch đã không ngừng chống phá, đưa ra các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối đối ngoại của Đảng ta. Cụ thể, chúng cho rằng, đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam là “bảo thủ” “lạc hậu”, “không còn phù hợp” và đã trở thành “lực cản” đối sự phát triển của đất nước. Bên cạnh đó, chúng ra sức phủ nhận đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cố tình phủ nhận đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, cân bằng quan hệ với các nước lớn của Việt Nam, cho rằng đó là “đường lối trung dung”, là “đi dây” trong quan hệ với các nước lớn, như thế là “tự cô lập” mình và “tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Đặc biệt, chúng ra sức xuyên tạc trường phái đối ngoại, ngoại giao “cây tre Việt Nam” của Đảng ta. Các thế lực thù địch cho rằng, “Ngoại giao cây tre dẫn Việt Nam vào ngõ cụt”; “Đảng Cộng sản Việt Nam nghĩ ra từ “ngoại giao cây tre” thực chất chỉ là để lòe dân. Từ đó, chúng ra sức kêu gọi “thay đổi” thể chế chính trị, xóa bỏ sự “độc đảng” ở Việt Nam để có đường lối đối ngoại đúng đắn. Kích động tâm lý phản kháng, cổ súy cho các hành động chống đối, gây chia rẽ, kỳ thị trong ngoại giao, làm cho các quốc gia hiểu sai về đất nước, con người Việt Nam; nhằm hạ bệ vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam; xuyên tạc nhằm làm cho các đối tác thiếu niềm tin, e ngại trong xúc tiến hợp tác kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội với Việt Nam; từ đó cô lập Việt Nam với thế giới.

Không khó để nhận thấy sự phi lý, thiếu căn cứ ở những luận điệu nói trên của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Phía sau các luận điệu đó chính là âm mưu xuyên tạc, phủ nhận đường lối đối ngoại của Đảng ta. Bởi trong mọi giai đoạn lịch sử, dân tộc ta luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, đem sức ta để giải phóng cho ta và bảo vệ Tổ quốc. Xuyên suốt chiều dài lịch sử của dân tộc: “Bên cạnh các cuộc chiến đấu ngoan cường bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nước, ông cha ta luôn chú trọng bang giao hòa hiếu với các quốc gia láng giềng, tạo dựng nên những truyền thống và bản sắc riêng, rất độc đáo của ngoại giao Việt Nam: Đầy hào khí, giàu tính nhân văn, hoà hiếu, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa”. Đồng thời, luôn nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, lấy lợi ích quốc gia - dân tộc là nguyên tắc bất biến, sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quan hệ đối ngoại của mình.

Một điểm nhấn quan trọng mà dù muốn, các thế lực thù địch, phản động cũng không thể phủ nhận được đó là hoạt động đối ngoại trong thời kỳ đổi mới đã “đạt được nhiều kết quả, thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử, trở thành một điểm sáng đầy ấn tượng trong toàn bộ những kết quả, thành tựu chung của đất nước”. Đến nay, Việt Nam đã mở rộng và nâng tầm quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia, trong đó 3 nước quan hệ đối tác hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện (Cuba, Lào, Campuchia); 8 nước quan hệ đối tác chiến lược toàn diện (Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Australia, Pháp); 12 nước quan hệ đối tác chiến lược; 12 nước quan hệ đối tác hợp tác toàn diện. Việt Nam là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, như Liên hợp quốc, ASEAN, APEC, ASEM, WTO…

Mới đây, phát biểu tại Lễ kỷ niệm 75 năm Ngày truyền thống Ban Đối ngoại Trung ương (1/11/1949 - 1/11/2024), Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh, công tác đối ngoại phải gắn kết đất nước với thế giới, dân tộc với thời đại; đưa đất nước chủ động tham gia giải quyết các vấn đề chung của thế giới; gìn giữ và không ngừng vun đắp tình cảm tốt đẹp của nhân dân thế giới với nhân dân, đất nước Việt Nam; tạo thế và lực mới, tạo dựng môi trường quốc tế có lợi cho cách mạng Việt Nam. Đặc biệt, "trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, đối ngoại phải phát huy cao độ truyền thống vẻ vang, vươn lên những tầm cao mới để hoàn thành những trọng trách vinh quang mới, đóng góp quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa".

Rõ ràng, cả lịch sử và hiện tại, cả lý luận và thực tiễn đều chứng minh, đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và quan điểm nhất quán “chọn chính nghĩa, lẽ phải; không chọn bên, chọn phe” của Đảng ta đã phát huy vai trò của đối ngoại trong việc “tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”. Đồng thời, là minh chứng khách quan, thuyết phục nhất đập tan mọi âm mưu xuyên tạc, phủ định quan điểm của Đảng ta về đối ngoại trong thời gian qua./.

 

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: SỨC MẠNH KẾ THỪA VÀ SÁNG TẠO CỦA ĐẢNG!

     Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng kiến sự lãnh đạo vĩ đại của Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt quá trình giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia và xây dựng đất nước phồn thịnh.

Đảng đã sáng suốt trong việc hoạch định chiến lược phát triển đất nước và những quyết sách quan trọng trong từng giai đoạn lịch sử, được thể hiện rõ nét ở sự kế thừa và sáng tạo qua các kỳ đại hội.

Mỗi kỳ Đại hội Đảng là một cột mốc khẳng định sự kế thừa và phát triển của đường lối cách mạng, với những thành tựu lớn lao mà Đảng đã đạt được, đồng thời mở ra những hướng đi mới, sáng tạo hơn cho sự nghiệp cách mạng.

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập cho đến nay, mỗi kỳ đại hội không chỉ là dịp để tổng kết, đánh giá lại những thành tựu của đất nước, mà còn là thời điểm để Đảng xác định những nhiệm vụ trọng tâm, mục tiêu mới trong từng giai đoạn.

Đảng luôn thể hiện rõ sự kế thừa và phát huy những thành quả của các kỳ đại hội trước, đồng thời có những điều chỉnh sáng tạo để phù hợp với bối cảnh quốc tế và tình hình trong nước. Đảng đã không ngừng đổi mới tư duy lãnh đạo, cải cách các phương thức tổ chức và điều hành để phù hợp với xu thế của thời đại.

Mỗi kỳ Đại hội Đảng đều mang dấu ấn của sự kế thừa những thành quả cách mạng của các kỳ đại hội trước. Những thắng lợi của cách mạng Việt Nam từ khi có sự lãnh đạo của Đảng đã liên tục được củng cố và phát triển qua các kỳ đại hội. Đại hội của Đảng không chỉ là một cột mốc để tổng kết, mà là dịp để Đảng mở rộng tầm nhìn, sáng tạo ra những phương hướng phát triển mới, nhằm đảm bảo cho đất nước phát triển mạnh mẽ hơn trong bối cảnh mới.

Điển hình là tại Đại hội VI (năm 1986), khi Đảng quyết định chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là một bước đi quan trọng, táo bạo và sáng suốt, mở ra một thời kỳ phát triển mới cho đất nước.

Dù tình hình đất nước còn rất khó khăn sau chiến tranh, nhưng với quyết sách đúng đắn của Đảng, Việt Nam đã vượt qua những khó khăn, thử thách, bắt đầu xây dựng nền kinh tế vững mạnh, hội nhập nền kinh tế thế giới, thực hiện các cải cách quan trọng để phát triển đất nước.
 
Đại hội VI cũng đánh dấu một giai đoạn quan trọng khi Đảng quyết tâm đổi mới tư duy kinh tế, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đây là một sự thay đổi lớn trong tư duy của Đảng, thể hiện sự nhạy bén trong việc phát hiện và xử lý những vấn đề mới của đất nước. Bằng cách này, Đảng không chỉ giúp nền kinh tế Việt Nam phát triển mạnh mẽ, mà còn đưa đất nước thoát khỏi tình trạng đói nghèo, lạc hậu để bước vào một thời kỳ phát triển mạnh mẽ hơn.

Sự kế thừa và sáng tạo của Đảng cũng được thể hiện rõ ràng trong các đại hội sau.

Các đại hội này đều ghi nhận những bước tiến quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế thị trường, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Các chính sách phát triển cũng được điều chỉnh và hoàn thiện, để phù hợp hơn với điều kiện thực tế của đất nước.

Mỗi kỳ Đại hội Đảng đều hướng tới việc giải quyết những vấn đề cơ bản của dân tộc, như xóa đói giảm nghèo, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, bảo vệ an ninh quốc gia và phát triển giáo dục, y tế, nâng cao đời sống nhân dân... Điều này thể hiện sự sáng suốt và tầm nhìn chiến lược của Đảng trong từng giai đoạn phát triển của đất nước.

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu lớn, nhưng Đảng không bao giờ tự mãn.

Mỗi kỳ đại hội đem lại những thay đổi mang tính đột phá, từ phương thức lãnh đạo cho đến các chính sách phát triển kinh tế, xã hội. Đặc biệt, Đảng luôn giữ vững lập trường của mình: Mọi chính sách, dù có thay đổi, dù có hiện đại đến đâu, đều phải xuất phát từ mục tiêu cao nhất là vì lợi ích của nhân dân, vì lợi ích quốc gia, dân tộc.

Không chỉ là những chính sách và chiến lược phát triển, mà trong mỗi kỳ đại hội, Đảng luôn đặc biệt chú trọng đến việc đổi mới phương thức lãnh đạo, củng cố bộ máy tổ chức Đảng, xây dựng đội ngũ lãnh đạo có phẩm chất đạo đức và năng lực.

Sự đổi mới không chỉ ở mặt hình thức, mà còn thể hiện trong chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đảng luôn yêu cầu cán bộ, đảng viên, đặc biệt là đội ngũ lãnh đạo, phải có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì sự nghiệp chung của Đảng, của đất nước.

Đảng đã đưa ra những giải pháp mạnh mẽ nhằm làm trong sạch bộ máy chính trị, cải cách hành chính, cải cách tư pháp và làm tốt công tác kiểm tra, giám sát.

Đảng luôn kiên quyết đấu tranh với tham nhũng, lãng phí và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Cùng với đó, Đảng cũng chú trọng nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, đảm bảo các quyền lợi cơ bản của nhân dân trong một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Mỗi quyết sách của Đảng đều có sự nghiên cứu, xem xét kỹ lưỡng, được đưa ra trong sự đồng thuận cao của toàn Đảng và được nhân dân đón nhận, thực hiện. 

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn duy trì và củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, thể hiện qua việc thực hiện các chính sách phát triển toàn diện. Các chương trình xóa đói giảm nghèo, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển giáo dục và y tế, cải cách hành chính... đều là những minh chứng rõ ràng cho nỗ lực không ngừng của Đảng trong việc cải thiện đời sống nhân dân.

Lòng tin của nhân dân vào Đảng là yếu tố quyết định sự thành công của cách mạng Việt Nam.

Trong suốt các kỳ đại hội, Đảng luôn nhấn mạnh vai trò của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng đất nước. Nhân dân luôn là động lực chính để Đảng phát triển các chính sách, quyết định những chiến lược quan trọng và là lực lượng chủ yếu trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển. Nhân dân là người thực thi chính sách của Đảng, đồng thời cũng là người thụ hưởng thành quả của những chính sách đó.

Một trong những lý do khiến Đảng luôn duy trì được sự tin tưởng của nhân dân chính là việc Đảng luôn thể hiện sự minh bạch trong công tác lãnh đạo, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực và các hiện tượng làm suy yếu nội bộ Đảng. Đảng luôn nỗ lực làm trong sạch bộ máy, giữ vững đạo đức cách mạng, đồng thời phát huy sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc.

Lòng tin của nhân dân đối với Đảng không chỉ được xây dựng qua các chính sách phát triển, mà còn qua việc Đảng luôn lắng nghe, hiểu rõ những nhu cầu và nguyện vọng của người dân. Đảng đã nỗ lực xây dựng một hệ thống chính trị gần gũi, phản ánh đúng đắn những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân.

Mỗi kỳ đại hội không chỉ là dịp để Đảng đưa ra các chính sách mới, mà còn là dịp để Đảng tự kiểm điểm, rút ra bài học, nhìn nhận lại những vấn đề còn tồn đọng, từ đó cải tiến, điều chỉnh kịp thời.

Những thành tựu đạt được trong mỗi kỳ đại hội không chỉ là kết quả sự lãnh đạo của Đảng, mà còn là minh chứng cho sự đoàn kết, nhất trí của toàn thể nhân dân. Mỗi giai đoạn, mỗi kỳ đại hội lại mang đến những đổi mới căn bản, từ đó tạo ra những bước ngoặt quan trọng cho sự phát triển của đất nước.

Kể từ khi Đảng lãnh đạo công cuộc đổi mới, Việt Nam đã trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất trong khu vực.

Chính sách hội nhập quốc tế, mở rộng quan hệ ngoại giao, tạo ra các cơ hội hợp tác quốc tế đã giúp Việt Nam không chỉ phát triển mạnh mẽ về kinh tế, mà còn khẳng định được vị thế của mình trên trường quốc tế. Chính từ những thành tựu này, Việt Nam ngày càng tự tin và vững vàng hơn trong việc xây dựng và phát triển đất nước, làm cho dân tộc Việt Nam có thể tự hào về những gì đã đạt được.

Đảng cũng đặc biệt chú trọng đến công tác bảo vệ an ninh quốc gia, ổn định chính trị và phát triển bền vững. Đảng đã đưa ra các chiến lược lâu dài để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, quyền tự do, dân chủ của nhân dân, đồng thời thúc đẩy các hoạt động ngoại giao để nâng cao vị thế của đất nước.

Qua mỗi kỳ đại hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng tỏ được vai trò lãnh đạo của mình trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong thực hiện mục tiêu xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng. Sự sáng tạo trong tư duy cách mạng, trong lãnh đạo và trong các chính sách phát triển đã giúp đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách.

Những thành tựu mà Đảng đạt được trong suốt hành trình lãnh đạo là minh chứng rõ ràng cho sự đúng đắn của đường lối, chính sách và chiến lược mà Đảng đã đề ra. Đảng luôn vững bước trên con đường cách mạng, hướng tới mục tiêu cao cả là xây dựng một đất nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Mỗi kỳ đại hội không chỉ là dịp để nhìn lại quá khứ, mà còn là thời điểm để Đảng tiếp tục sáng tạo, đổi mới và đưa đất nước tiến lên mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới./.
Yêu nước ST.

TIẾP TỤC HOÀN THIỆN ĐỂ BỘ MÁY MỚI ỔN ĐỊNH, HIỆU QUẢ

 Ngày 21.1, tại trụ sở T.Ư Đảng, Ban Chỉ đạo T.Ư về tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18 năm 2017 của T.Ư Đảng khóa XII về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị (Ban Chỉ đạo) đã họp phiên thứ 2, dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng ban Chỉ đạo.

Đã giảm 119 đầu mối cấp vụ

Theo báo cáo tại phiên họp, đến nay, sau hơn 2 tháng tổ chức triển khai nhiệm vụ do T.Ư Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao, Ban Chỉ đạo đã lãnh đạo, chỉ đạo Ban Tổ chức T.Ư (Cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo) và các cơ quan, đơn vị, địa phương tổ chức triển khai việc tổng kết Nghị quyết 18 và đã đạt những kết quả rất tích cực.

Sau 2 tháng triển khai, T.Ư đã giảm 119 đầu mối cấp vụ của cơ quan, ban đảng, đơn vị sự nghiệp của Đảng, cơ quan T.Ư MTTQ VN và các đoàn thể chính trị - xã hội.

Cùng đó, dự kiến giảm 4 cơ quan Đảng T.Ư; 25 ban cán sự đảng, 16 đảng đoàn ở T.Ư; 5 cơ quan của Quốc hội, 13 đầu mối cấp vụ, đơn vị; 5 bộ, cơ quan ngang bộ; 3 cơ quan thuộc Chính phủ, 13/13 tổng cục và tổ chức tương đương (100%); 519 cục và tổ chức tương đương; 219 vụ và tổ chức tương đương; 3.303 chi cục và tương đương; 203 đơn vị sự nghiệp công lập; 227 đầu mối thuộc TAND các cấp; 108 đầu mối thuộc ngành KSND…

Địa phương dự kiến giảm 66 đảng ủy trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy và 264 cơ quan tham mưu, giúp việc của đảng ủy; 63 cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy cấp tỉnh; 644 đảng đoàn, ban cán sự đảng cấp tỉnh; 694 cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy cấp huyện; 340 cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh; 1.438 cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện.

Đến nay, cơ bản đã tham mưu, hoàn thiện dự thảo báo cáo tổng kết kèm theo dự thảo tờ trình của Bộ Chính trị về tổng kết Nghị quyết 18, trình hội nghị T.Ư Đảng tới đây.

Tiếp tục hoàn thiện mô hình hệ thống chính trị

Kết thúc phiên họp, Tổng Bí thư Tô Lâm đánh giá cao Ban Tổ chức T.Ư, Ban Cán sự Đảng Chính phủ, Đảng đoàn Quốc hội, Đảng đoàn MTTQ VN, Bộ Nội vụ và các cơ quan, đơn vị liên quan trong việc nỗ lực, cố gắng vượt bậc để hoàn thành khối lượng công việc rất lớn, rất hiệu quả với cách làm mới, quyết liệt, đúng định hướng và kế thừa được những kết quả triển khai Nghị quyết 18 từ năm 2018.

Các cơ quan, ban đảng T.Ư, Chính phủ, Quốc hội và các tổ chức chính trị - xã hội ở T.Ư đã đi đầu nêu gương, khẩn trương triển khai rà soát, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, sắp xếp đầu mối bên trong, hoàn thành các nhiệm vụ vượt tiến độ yêu cầu và theo đúng định hướng chỉ đạo của T.Ư Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo. Chính phủ đã khẩn trương ban hành các chính sách bảo đảm quyền, lợi ích của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động, góp phần giải tỏa tâm tư, tạo thuận lợi trong quá trình sắp xếp.

Các địa phương đã tích cực, chủ động triển khai thực hiện việc tổng kết; rà soát, sắp xếp tổ chức bên trong; nghiên cứu, đề xuất phương án tinh gọn, kết thúc hoạt động, sáp nhập, hợp nhất các cơ quan đồng bộ theo chỉ đạo của T.Ư.

Tổng Bí thư lưu ý Ban Chỉ đạo xác định việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy không chỉ làm một lần, kết quả đạt được vừa qua rất quan trọng nhưng mới chỉ bước đầu, cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện để bộ máy mới ổn định, vận hành hiệu quả, nâng cao hiệu lực hoạt động.

Tổng Bí thư yêu cầu Ban Chỉ đạo tiếp tục nghiên cứu, đề xuất các nội dung mới để bổ sung, hoàn thiện các dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng, làm cơ sở tham mưu xây dựng dự thảo Nghị quyết Đại hội XIV về tiếp tục hoàn thiện mô hình của hệ thống chính trị, tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động.

THỦ TƯỚNG NÊU CÁCH "NẮM BẮT KỶ NGUYÊN THÔNG MINH"

Trong khuôn khổ Hội nghị WEF, chiều 21.1, giờ địa phương, tại Davos (Thụy Sĩ), Thủ tướng Phạm Minh Chính đã dự và phát biểu tại Tọa đàm "Hướng tới Hội nghị Bộ trưởng UNCTAD 16: Tương lai của Thương mại và Phát triển toàn cầu trong kỷ nguyên thông minh".

Tọa đàm được WEF thiết kế riêng cho Việt Nam nhằm thảo luận về xu hướng của thương mại và đầu tư toàn cầu, đồng thời xây dựng chương trình nghị sự cho Hội nghị Bộ trưởng UNCTAD 16 do Việt Nam đăng cai, dự kiến vào cuối năm 2025.

Tổng Thư ký UNCTAD Rebeca Grynspan điều phối tọa đàm cùng sự tham dự của lãnh đạo và đại diện cấp cao của nhiều tổ chức quốc tế. Phát biểu dẫn đề, bà Rebeca Grynspan bày tỏ ấn tượng về thành tích tăng trưởng của Việt Nam, đạt 7% trong vòng 30 năm qua. Theo bà, việc Hội nghị UNCTAD 16 được tổ chức tại một quốc gia phát triển năng động nhờ mở cửa, hội nhập thành công như Việt Nam đánh dấu bước ngoặt có ý nghĩa trong trong giai đoạn mới của UNCTAD.

Chung góc nhìn, lãnh đạo các tổ chức quốc tế và các chuyên gia, học giả đánh giá cao những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam thời gian qua, nhất là tham gia hiệu quả vào chuỗi cung ứng toàn cầu, thực thi hiệu quả chính sách "không bỏ ai lại phía sau".

Các tổ chức quốc tế cũng đưa ra nhiều ý kiến tư vấn cho chiến lược phát triển của Việt Nam, như khai thác hiệu quả sự năng động, sáng tạo của thế hệ trẻ Việt Nam; chuyển hóa đầu tư nước ngoài thành lợi ích thiết thực cho phát triển; thúc đẩy đổi mới sáng tạo thành động lực vượt thoát bẫy thu nhập trung bình.

Khẳng định thương mại là yếu tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, bà Rebeca Grynspan nhận định các nước phương nam sẽ đóng vai trò quan trọng trong thương mại toàn cầu khi chiếm đến 70% tổng giá trị thương mại trong 5 năm tới.

Tuy nhiên, thương mại toàn cầu sẽ đối mặt với nhiều rủi ro, đặc biệt là chủ nghĩa bảo hộ, cạnh tranh và nguy cơ chiến tranh thương mại, do đó, các nước cần tăng cường hợp tác, mở cửa, hội nhập, củng cố thương mại đa phương để cùng phát triển, giảm thiểu bất bình đẳng, không bỏ lại ai phía sau.

Chia sẻ quan điểm, Thủ tướng cho rằng các thách thức hiện nay đối với thương mại và phát triển diễn ra trên phạm vi toàn cầu, ảnh hưởng toàn diện đến tất cả mọi người nên cần cách tiếp cận toàn dân, toàn diện và toàn cầu nên các nước cần tăng cường hợp tác, chung tay, chống chủ nghĩa bảo hộ và thúc đẩy thương mại đa phương cho phát triển.

Đặc biệt, để đối mặt với các thách thức đó trong kỷ nguyên thông minh, theo Thủ tướng, phải nắm bắt "kỷ nguyên thông minh" một cách tổng thể từ bốn khía cạnh khác nhau: từ khía cạnh địa chính trị, an ninh là hòa bình, hợp tác; từ khía cạnh kinh tế là phát triển nhanh và bền vững; từ khía cạnh môi trường là khai thác sử dụng bền vững; từ khía cạnh xã hội là tiến bộ, công bằng xã hội, không để lại ai phía sau.

Việt Nam phải chuẩn bị nguồn lực sẵn sàng cho kỷ nguyên mới với cách tiếp cận nguồn lực bắt nguồn từ tư duy, tầm nhìn, động lực bắt nguồn từ sự đổi mới và sáng tạo, sức mạnh bắt nguồn từ nhân dân, doanh nghiệp.

Nhấn mạnh tinh thần Việt Nam "đã nói là làm, đã cam kết là thực hiện", Thủ tướng Chính phủ khẳng định Việt Nam coi trọng việc đăng cai Hội nghị UNCTAD 16 để chào đón đại biểu từ khắp năm châu.

Các đại biểu tham dự tin tưởng, với vị thế và kinh nghiệm tổ chức hội nghị đa phương của Việt Nam, Hội nghị Bộ trưởng UNCTAD 16 sẽ là hội tụ những động lực phát triển mới, tạo ra tác động lan tỏa và tạo đà cho sự phát triển của thương mại và phát triển toàn cầu trong kỷ nguyên mới. 

95 NĂM THÀNH LẬP ĐẢNG VỚI BÀI HỌC ĐOÀN KẾT LÀM NÊN SỨC MẠNH

 Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khái quát một luận điểm mang tính chân lý về sức mạnh của đoàn kết: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. 95 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng thực hiện và giữ vững sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, phát huy nguồn sức mạnh vô địch của Đảng như “giữ gìn con ngươi của mắt mình”.

Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại đoàn kết không chỉ là khẩu hiệu chiến lược, mà còn là mục tiêu lâu dài của cách mạng.

Đảng là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nên tất yếu, đại đoàn kết toàn dân tộc phải được xác định là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng và nhiệm vụ này phải được quán triệt trong tất cả mọi lĩnh vực, từ đường lối, chủ trương, chính sách, tới hoạt động thực tiễn.

Trên hành trình đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, mà còn đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng Đảng, đảm bảo sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

Mốc khởi đầu của Đảng khi thành lập vào tháng 2-1930 chính là biểu hiện rõ nét sự chăm lo của Người đối với đoàn kết trong Đảng. Trước nguy cơ phân liệt của 3 tổ chức cộng sản, đe dọa bước tiến của phong trào cách mạng, làm rạn nứt khối đoàn kết của những người Việt Nam yêu nước, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã nhạy bén và kịp thời hành động.

Với tư tưởng đoàn kết của Hồ Chí Minh là đồng tâm nhất trí: “Bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các nhóm cộng sản Đông Dương”, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã thành công tốt đẹp.

Hội nghị đã thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo. Chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc thấm trong từng câu chữ của bản Cương lĩnh, thể hiện rõ sự vận dụng sáng tạo và phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin trong việc giải quyết mối quan hệ giai cấp - dân tộc - quốc tế trong đường lối cách mạng Việt Nam.

Từ khi ra đời, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã trải qua nhiều thời kỳ cách mạng, trong đó đều thể hiện sự đoàn kết đúng như lời nhận định của Người: “Đảng ta tuy đông người nhưng khi tiến đánh chỉ như một người”.

Trong từng thời kỳ, giai đoạn cách mạng, có thể là cần thiết phải điều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp cho phù hợp với những đối tượng khác nhau, song tư tưởng đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn là tư tưởng cơ bản, nhất quán, là một mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu, là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt trong đường lối cách mạng Việt Nam.

Trong lễ ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam ngày 3-3-1951, thay mặt Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào: Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm tám chữ là: “Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”. Đây không chỉ là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, mà cũng là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc, vì nó là đòi hỏi khách quan của quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh tự giải phóng.

Đảng có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn, chuyển hoá những đòi hỏi khách quan, tự phát của quần chúng thành những đòi hỏi tự giác, thành hiện thực có tổ chức, thành sức mạnh vô địch, trong cuộc đấu tranh vì độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

Là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, đồng thời cũng là trung tâm đoàn kết của Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bằng tâm, trí và tấm gương sáng ngời về đạo đức để quy tụ, xây dựng và củng cố sự đoàn kết, thống nhất toàn Đảng, trước hết là đoàn kết trong Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, trở thành linh hồn của khối đại đoàn kết toàn dân.

Sức hấp dẫn, quy tụ của Người tỏa ra từ phẩm cách cao quý, từ lòng nhân ái, bao dung và phong cách một vị lãnh tụ giản dị, gắn bó với nhân dân, hết lòng thương yêu nhân dân, vì nhân dân tận tâm, tận lực phụng sự. Người thường xuyên đọc báo địa phương, dành thời gian đi cơ sở, không phải để huấn thị, mà để chuyện trò, lắng nghe ý kiến của đảng viên, của nhân dân, thu thập thông tin, học hỏi kinh nghiệm và trí tuệ của nhân dân; từ đó suy nghĩ, rút ra những điều cần thiết, để xác định những chủ trương phù hợp, đầy sức thuyết phục.

95 năm sau, nhìn lại bối cảnh lịch sử ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, càng thấy thấm thía hơn ý nghĩa của bài học đầu tiên về sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Cùng với thời gian, bài học đoàn kết đã trở thành một trong những nhân tố quan trọng bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp cách mạng vẫn luôn sâu sắc, còn nguyên giá trị.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ X nhiệm kỳ 2024-2029 khai mạc ngày 17-10-2024, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh: “Cần thống nhất nhận thức về vị trí, tầm quan trọng đặc biệt của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và yêu cầu cấp bách, hơn bao giờ hết, ưu tiên hàng đầu củng cố, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, đây là một trong những giải pháp then chốt đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới”.

Đảng ta là đạo đức, là văn minh. Mỗi đảng viên chính là biểu tượng của niềm tin, trí tuệ và ý chí đoàn kết của cả dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam, dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, sẽ tiếp tục hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của mình.

“Vững tin vào sức mạnh của Đảng và sự đoàn kết của toàn dân tộc, chúng ta khẳng định: Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta sẽ đồng lòng vượt qua mọi khó khăn, thách thức, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới”./.

 

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẢNG VÀ DÂN TRONG KỶ NGUYÊN MỚI CỦA DÂN TỘC!

     Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, ý thức “dân là gốc” được hình thành và phát triển nhưng phải sau ngày thành lập Đảng (3/2/1930), Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu mới đánh giá sâu sắc vai trò to lớn của nhân dân, thường xuyên chăm lo xây dựng, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân!

Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, ý thức “dân là gốc” được hình thành và phát triển nhưng phải sau ngày thành lập Đảng (3/2/1930), Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu mới đánh giá sâu sắc vai trò to lớn của nhân dân, thường xuyên chăm lo xây dựng, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Người nói: “Nước lấy dân làm gốc”; “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ” và Bác khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Đó là một tư tưởng bất hủ của Bác Hồ về nhân dân và niềm tin vào sức mạnh của nhân dân.

Quan hệ giữa Đảng và nhân dân được hình thành và phát triển do đòi hỏi khách quan của sự nghiệp cách mạng. Đây là mối quan hệ rất đặc biệt: Đảng vừa là người lãnh đạo, cầm quyền, vừa là người phục vụ nhân dân, còn nhân dân tự giác đồng tình với sự lãnh đạo của Đảng lại là chủ nhân đất nước. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó giữa Đảng với nhân dân.

Phát huy truyền thống của dân tộc, tiếp thu lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra quan điểm hết sức đúng đắn: “Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ”. Chính nhờ quán triệt sâu sắc quan điểm đó, nên Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược và đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử 95 năm qua.

Bước vào mùa Xuân mới, kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam; kỷ nguyên được phát triển trên cơ sở những thành tựu của khoa học, công nghệ tiên tiến, hiện đại của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhằm phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, hội nhập vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; kỷ nguyên tiếp tục thực hiện nhất quán quan điểm “Dân là gốc”, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng nền ngoại giao mở rộng, nền quốc phòng, an ninh hiện đại, xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, thống nhất, đồng bộ, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Năm 2025, Đảng ta, nhân dân ta kỷ niệm trọng thể 95 năm ngày thành lập Đảng (3/2/1930 - 3/2/2025) và 80 năm ngày Quốc khánh (2/9/1945 - 2/9/2025) hướng đến những cột mốc quan trọng: 100 năm thành lập Đảng (2030), 100 năm thành lập nước (2045), Đảng ta phát huy cao độ mọi nguồn lực, lãnh đạo nhân dân vượt qua khó khăn, thử thách, tiếp tục đạt nhiều thành tựu to lớn trong thời gian tới.

Bước vào kỷ nguyên mới, đòi hỏi mỗi chúng ta phải khắc sâu lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”; “Ta được lòng dân thì ta không sợ gì cả”; “Làm đúng ý nguyện của dân thì ắt thành. Làm trái ý nguyện của dân thì ắt bại”; “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”. Kế thừa bài học của ông cha, Chủ tịch Hồ Chí Minh là điển hình mẫu mực về nhận thức và chủ trương trọng dụng nhân tài. Bác khẳng định, “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” và quan tâm nhắc nhở: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”.

Thực hiện tốt những điều Bác Hồ dạy, nhất là trọng dụng nhân tài, trọng dụng cán bộ thực sự có đức, có tài chính là phát huy cội nguồn sức mạnh, sức mạnh của lòng dân - ý Đảng, sức mạnh của nhân dân anh hùng, sức mạnh được kết tinh từ lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần đoàn kết, gắn bó để đất nước ta vững bước vào kỷ nguyên mới và những mùa Xuân mới tươi đẹp./.



Môi trường ST.

BẮC NAM SUM HỌP XUÂN NÀO CŨNG VUI, ĐỪNG ĐỂ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHIA RẼ DÂN TỘC CỦA ĐÁM ĂN MÀY DĨ VÃNG "SÀI GÒN XƯA"

 BẮC NAM SUM HỌP XUÂN NÀO CŨNG VUI, ĐỪNG ĐỂ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHIA RẼ DÂN TỘC CỦA ĐÁM ĂN MÀY DĨ VÃNG "SÀI GÒN XƯA"!


Dạo này, các trang mạng phản động lại rộ lên câu hỏi ngớ ngẩn: *“Sao miền Nam không ra Bắc giải phóng?”* – nghe cứ như trò đố vui của mấy đứa trẻ chưa học xong lớp Lịch sử! Tôi nghĩ rằng, chỉ có những kẻ cố tình bịt mắt trước sự thật mới dám đặt vấn đề này. Chúng muốn biến cuộc chiến chống Mỹ cứu nước thành trò “nội chiến” Bắc – Nam, nhưng sự thật thì cả dân tộc khi ấy chỉ có một kẻ thù: đế quốc xâm lược và bè lũ tay sai. Không ai muốn chia cắt non sông, nhưng chính ngoại bang đã dùng vĩ tuyến 17 để khoét sâu hận thù!  


Tôi đánh giá rằng, câu hỏi này chẳng khác gì việc hỏi *“Sao không để giặc tự rút về nước?”* – đúng là ngây ngô đến tội nghiệp! Lịch sử đã ghi rõ: Đảng và Bác Hồ lãnh đạo toàn dân đứng lên giành độc lập, thống nhất Tổ quốc. Hàng triệu thanh niên miền Bắc vượt Trường Sơn vào Nam không phải để “xâm lược”, mà để cứu đồng bào mình khỏi gót giày ngoại xâm. Còn người dân miền Nam khi ấy, liệu có ai muốn làm “bàn đạp” cho Mỹ - Ngụy? Đất nước thống nhất là khát vọng ngàn đời, sao cứ gọi đó là “Bắc thôn tính Nam”? Não mấy anh “rân chủ” chắc chỉ bằng hạt đậu!  


Tôi cho rằng, đã đến lúc phải thẳng tay dập tan những luận điệu xảo trá này! Mấy kẻ xuyên tạc cố tình khơi lại vết thương lòng dân, chia rẽ khối đại đoàn kết Bắc – Nam chỉ để phục vụ âm mưu “diễn biến hòa bình”. Đồng bào ơi, đừng để bị dụ dỗ bởi mấy bài viết “giật title” câu view! Hãy nhớ: Sau 1975, chúng ta chỉ còn hai từ duy nhất – VIỆT NAM. Dòng máu Lạc Hồng chảy trong huyết quản mỗi người, sao lại tự chia thành “bên thắng – bên thua”? Thôi ngay trò so đo vặt vãnh, hãy cùng hướng về tương lai! Cứ để lũ phản động ngậm tăm – lịch sử đã lên tiếng, sự thật không thể bẻ cong! 🇻🇳

KIÊN ĐỊNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG!

     Gần 95 năm về trước, ngay từ khi mới ra đời, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên (2/1930), Đảng ta đã khẳng định rõ nhiệm vụ giải phóng dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội (CNXH). Theo đó cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn: Cách mạng tư sản dân quyền (giành độc lập dân tộc; mang lại ruộng đất cho dân cày) và cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) (xây dựng CNXH, chủ nghĩa cộng sản). Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH - Ý Đảng và khát vọng của lòng Dân gặp nhau đã bồi tụ nên nguồn sức mạnh vô song của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, góp phần làm nên thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc, khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2/9/1945)!
Thực tế cho thấy, dù phải trải qua các cuộc chiến tranh nhân dân để bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc, song một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ, ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc đã và đang hiển hiện trên thực tế. Một Việt Nam kiên định độc lập dân tộc và CNXH “đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt cả về vật chất và tinh thần. Đất nước ta chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(1) là minh chứng sinh động cho thấy rằng: 1) Lý tưởng cộng sản, con đường cách mạng vô sản do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam lựa chọn và được triển khai ở Việt Nam dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là đúng đắn, phù hợp điều kiện cụ thể của Việt Nam; phù hợp xu thế phát triển tất yếu của nhân loại. 2) CNXH không “mất đi”, không bị “xóa bỏ”, dù mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu sụp đổ mà vẫn hiện diện trong đời sống đương đại. 3) Bài học kinh nghiệm về những sai lầm trong đường lối cải tổ (xóa bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ; xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản; phi chính trị hóa lực lượng vũ trang; sự thoái hóa, biến chất trong nội bộ; sai lầm trong công tác cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt cấp chiến lược…) của Liên Xô đã được Đảng Cộng sản Việt Nam rút kinh nghiệm để tiến hành thành công sự nghiệp đổi mới từ Đại hội VI (12/1986)...
Thực tế là, từ năm 1930 đến nay, ngoài Đảng Cộng sản - đội tiền phong của giai cấp và dân tộc thì không có đảng phái, tổ chức chính trị của các nhân sĩ, trí thức yêu nước hay của giai cấp tư sản dân tộc nào đủ năng lực, uy tín chính trị để lãnh đạo thành công sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Vị thế, vai trò lãnh đạo của Đảng không chỉ được ghi rõ trong các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định, chuyên đề của Đảng; không chỉ được khẳng định trong các công trình nghiên cứu, đánh giá, tổng kết về lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, mà còn được các tầng lớp nhân dân tin tưởng và các chính đảng khác (Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội, Việt Nam Quốc dân Đảng, Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội…) ghi nhận. Vì thế, những luận điệu bẻ cong sự thật, rằng: “Đảng độc tài tự phong mình là lực lượng lãnh đạo” và “tự quyết định” xây dựng CNXH mà không hỏi “xem người dân Việt Nam có muốn hay không” là xuyên tạc và phản động.
Thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội không phải bằng mệnh lệnh hành chính mà bằng Cương lĩnh, quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; bằng công tác cán bộ và hoạt động của các tổ chức Đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên theo đúng tinh thần “các tổ chức Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” như Hiến pháp năm 2013 quy định. Cho nên, cũng không có cái gọi là Đảng “tự đặt mình lên trên Hiến pháp” như các thế lực thù địch xuyên tạc để chống phá Đảng và chế độ.
Hơn nữa, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam có Hiến pháp và một hệ thống pháp luật được xây dựng, điều chỉnh, bổ sung, ngày càng hoàn thiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã hội… để không chỉ thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý đời sống xã hội hướng đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mà còn bảo đảm, bảo vệ, thực thi, thúc đẩy quyền con người, quyền công dân và chủ động hội nhập quốc tế khi tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022.
Thực tế là, kiên định con đường đi lên CNXH, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam thực sự là người chủ và đã, đang, tiếp tục làm chủ vận mệnh của mình, của dân tộc mình trên hành trình hướng đến tương lai. Nền dân chủ XHCN mà Việt Nam xây dựng và thực hiện là yêu cầu nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam; là mục tiêu, là động lực cho sự phát triển của đất nước, không chỉ thể hiện sinh động tư tưởng Hồ Chí Minh: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ./ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân./ Bao nhiêu quyền hạn đều của dân./ Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân./ Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân./ Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra./ Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên./ Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(2), mà còn tạo điều kiện để bảo đảm và phát huy quyền dân chủ của người dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Cần khẳng định rằng, một Việt Nam bứt phá, phát triển với diện mạo mới, tầm vóc và vị thế mới đã khác xa những ngày Đảng chưa ra đời; khác nhiều hơn so với trước khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công và đã “thay da đổi thịt” từ khi cả nước thống nhất cùng đi lên CNXH sau thắng lợi của cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Do đó, dù các phần tử bất mãn, cơ hội, phản động có “lập luận” và “lập lờ đánh lận con đen” dưới bất cứ hình thức cũng đều là sự xuyên tạc, cố tình bẻ cong sự thật hòng phủ nhận và đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: VƯƠN MÌNH TRONG KỶ NGUYÊN MỚI ĐỂ GIỮ VỮNG MỤC TIÊU ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI!

     Đảng ta vừa khẳng định đi lên CNXH là xu thế không thể đảo ngược (mặc dù tình hình khu vực, thế giới có nhiều thay đổi, diễn biến hết sức phức tạp) và cơ chế hoạt động chính trị luôn được củng cố, giữ vững là “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”, vừa tiến hành đổi mới tư duy trên cơ sở nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật từ Đại hội VI (12/1986). Việc đổi mới mạnh mẽ sự lãnh đạo của Đảng; sự quản lý của nhà nước; cơ chế nhân dân làm chủ không chỉ giữ vững sự ổn định về chính trị, mà còn góp phần để đất nước đạt được nhiều thành tựu về kinh tế, xã hội và tiếp tục tiến những bước hết sức ngoạn mục!
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, với việc đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế, từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Việt Nam đã chuyển sang cơ chế thị trường, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Với việc lựa chọn con đường phát triển đúng trọng tâm, phù hợp quy luật, từ một nước nông nghiệp, lạc hậu, nghèo nàn, quy mô nền kinh tế nhỏ bé, Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ một nền kinh tế đóng cửa, khép kín, Việt Nam trở thành đối tác thương mại lớn thứ 22 toàn cầu…
Sau gần 40 năm tiến hành đổi mới, sự thay đổi trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đã mang đến cho Việt Nam cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín mới trong khu vực và cộng đồng quốc tế. Chính những thành tựu vĩ đại dưới sự lãnh đạo của Đảng đã “giúp Việt Nam tích lũy thế và lực cho sự phát triển bứt phá trong giai đoạn tiếp theo (...). Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; lợi ích quốc gia, dân tộc được bảo đảm. Quy mô nền kinh tế năm 2023 tăng gấp 96 lần so với năm 1986. Việt Nam trong nhóm 40 nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới và 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài; có quan hệ ngoại giao với 193 nước là thành viên Liên hợp quốc; xây dựng các mối quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với tất cả các cường quốc trên thế giới và khu vực...” như Tổng Bí thư Tô Lâm đã trao đổi với các học viên Lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng đối với cán bộ quy hoạch Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIV, ngày 31/10/2024.
Trước thềm Đại hội XIV của Đảng, Việt Nam đang đứng trước một ngã rẽ quan trọng trong lịch sử phát triển quốc gia, nhưng chắc chắn “mô hình chính trị hiện tại”- một Đảng Cộng sản lãnh đạo - không hề làm “cản trở sự phát triển bền vững và hội nhập sâu rộng với cộng đồng quốc tế” của Việt Nam. Mà trái lại, việc kiên định con đường đi lên CNXH dưới sự lãnh đạo của Đảng; kiên định thể chế chính trị nhất nguyên chứ không thực hiện dân chủ đa nguyên; kiên định xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng… đã mang đến cho Việt Nam độc lập, tự do, thống nhất, hòa bình và phát triển ổn định gần nửa thế kỷ qua. Đó chính là sự thật, chứ không phải mô hình một Đảng Cộng sản lãnh đạo và việc lựa chọn xây dựng CNXH dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là “giới hạn tiềm năng phát triển quốc gia và làm suy yếu vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế” như các thế lực chống phá vẫn thường rêu rao bịa đặt.
Sự thật là, việc “tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam” và “bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, trên cơ sở nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi” của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đã không chỉ mang lại sự tăng cường hợp tác chiến lược và sự tin tưởng lẫn nhau, mà còn gia tăng hiệu quả trong hợp tác quốc phòng và an ninh và tăng cường hợp tác kinh tế và hội nhập toàn cầu…
Những sự thật khách quan nêu trên đã chứng minh con đường mà Việt Nam đang đi là đúng đắn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, những thành tựu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đã đạt được là không thể phủ nhận. Những sự thật đó là bằng chứng phủ nhận hoàn toàn những giọng điệu “ngụy phản biện”, rằng: Việt Nam muốn vươn mình trong kỷ nguyên mới thì phải từ bỏ “chế độ chính trị độc đảng lãnh đạo” và lựa chọn chế độ “dân chủ đa nguyên”.
Đổi mới là bản chất của cách mạng, của phát triển, vì thế Việt Nam sẽ tiếp tục đổi mới để hướng đến tương lai tươi sáng, nhưng chắc chắn không “đổi màu”. Việc kiên định độc lập dân tộc và CNXH chính là để làm cho quá trình thực hiện đổi mới tiến bộ được thực hiện hiệu quả; để CNXH phát huy được bản chất ưu việt, tránh sự giáo điều, trì trệ, xơ cứng trong tư duy và tư tưởng; để làm sinh động những giá trị bền vững của một Việt Nam hòa bình, độc lập, tự do, tự chủ, giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH.
Cho nên, một điều chắc chắn là, Việt Nam sẽ vươn mình trong kỷ nguyên mới nhưng không thay đổi chế độ chính trị; không từ bỏ con đường và mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH - sợi chỉ đỏ, xuyên suốt, nhất quán của con đường cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng; không khi nào từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng.
Đúng như Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định, Việt Nam tiếp tục đổi mới trong bối cảnh thế giới đang nhiều thay đổi có tính thời đại và đất nước cũng đang bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng để xây dựng một nước Việt Nam XHCN phồn vinh, hạnh phúc, song đó không phải là “con đường toàn trị”, “tiếp tục chính sách đàn áp các tiếng nói bất đồng” như các thế lực thù địch bôi đen. Mà đó là nhân nguồn sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và đảm bảo, bảo vệ, thực thi, thúc đẩy quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam... chứ không chấp nhận dân chủ đa nguyên, đa đảng đối lập, tổ chức xã hội dân sự và càng không đi theo con đường tư bản chủ nghĩa./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: KỶ NGUYÊN MỚI- MỘT CÁI NHÌN LỊCH SỬ!

     Năm 1945, Việt Nam mở ra kỷ nguyên mới độc lập dân tộc. Năm 1975 thống nhất đất nước. Năm 1995, hội nhập với thế giới và năm 2025 mong như một cuộc “lột xác” tạo ra sức sống mới, trước hết thể hiện qua nguồn nhân lực lãnh đạo gương mẫu và sáng tạo cùng cỗ máy tinh giản nhưng hiệu quả, cùng một xã hội kỷ cương sẽ làm cho kỷ nguyên của độc lập - tự do - hạnh phúc trở thành hiện thực đối với mọi người!

Ý niệm về “kỷ nguyên” luôn hướng đến sự thay đổi tiến bộ và mang ý nghĩa của một giai đoạn phát triển khá dài và bền vững. Trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước mấy ngàn năm của dân tộc ta, ý niệm về “kỷ nguyên mới” - kỷ nguyên đương đại, khởi đầu từ cái mốc mà chúng ta đang hướng tới kỷ niệm 80 năm cuộc Cách mạng Tháng Tám và Ngày Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945 đó là kỷ nguyên được định danh là “Kỷ nguyên độc lập” mang quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Kỷ nguyên độc lập mở ra bằng biết bao xương máu của nhiều thế hệ đã đánh đổ thực dân xâm lược và chấm dứt chế độ phong kiến. Vị chủ tịch của nước độc lập non trẻ Việt Nam ngay từ khi Liên Hiệp Quốc còn đang trong quá trình vận động thành lập đã gửi thông điệp bày tỏ mong muốn được gia nhập để cùng cả thế giới chung bước giữ gìn hòa bình. Nhưng chính chủ nghĩa thực dân cũ trước, mới sau cùng với sự đối đầu của thời chiến tranh lạnh đã ngáng trở triển vọng sáng sủa đó, buộc nhân dân Việt Nam phải cầm súng bảo vệ nền độc lập và thống nhất đất nước.

Trong kỷ nguyên độc lập ấy, bắt đầu từ súng kíp, tầm vông, nhân dân ta đã phải đương đầu lần lượt với “hai đế quốc to” ròng rã ba thập niên (1945-1975). Đạt được mục tiêu thống nhất đất nước bằng một cuộc chiến tranh 30 năm giải phóng đầy gian khổ và hy sinh, chưa kịp tận hưởng hòa bình, tiếng súng đã rền vang ở hai đầu biên giới và giữa Biển Đông trong khi địa - chính trị thế giới bị xáo trộn. Trong bối cảnh ấy, dân ta vừa phải cầm súng đánh giặc xâm chiến biên giới vừa “thắt lưng buộc bụng” dựng xây đất nước. Rồi những khó khăn kinh tế càng trầm trọng khi nguồn viện trợ cạn dần, cùng với đó là sự tan rã của khối xã hội chủ nghĩa Đông Âu.

Chính thời cuộc đảo lộn ấy đã làm cho chúng ta nhận thức sâu sắc hơn về giá trị của độc lập, tự do, đồng thời phải tự mình thay đổi để tìm con đường đi tiếp bằng chính sự đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy (1986). Những cuộc tập dượt “đổi mới”, “cải cách”, “phá rào” ấy song hành với những thay đổi lớn lao trong trật tự thế giới khiến chỉ chưa đầy một thập niên sau (1995), vận hội đã đến khi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc rồi bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ (1995)…

Từ thời điểm ấy đến nay đã tròn bốn thập niên (1995-2025) nước ta đã tự chủ lựa chọn con đường hội nhâp với thế giới, thuận theo sự phát triển của quy luật khách quan trong đó có kinh tế thị trường và giương cao ngọn cờ dân tộc để hội nhập một cách có trách nhiệm, tạo ra môi trường hòa bình và hợp tác với cả thế giới. Dù còn không ít những yếu kém tạo ra lực cản trên con đường phát triển, không ai có thể phủ nhận những thay đổi lớn lao của Việt Nam trong thế giới đương đại.

Trong suốt 80 năm từ 1945 đến nay, đã có nhiều năm buộc nước ta phải tiến hành chiến tranh vệ quốc và không thể không “chọn phe” để đánh giặc ngoại xâm và xây dựng đất nước, khi có được hòa bình, chúng ta phải lựa chọn mô hình phát triển kinh tế - xã hội và do di sản lịch sử, không thoát khỏi giáo điều nên có lúc cận kề khùng hoảng. Để rồi, không phải cái gì xa lạ mà chính những nguyên lý cơ bản nhất của “kỷ nguyên mới” kinh qua chặng đương 80 năm kiên trì phấn đấu đã giúp ta vượt qua trên mọi phương diện, kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại theo đúng cái nguyên lý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng như một cẩm nang “Dĩ bất biến ứng vạn biến”.

Cái “bất biến” ấy chính là mục tiêu của kỷ nguyên mới, lấy nhân dân làm gốc, lấy độc lập, tự do làm đích, đã thúc đẩy chúng ta vươn lên trở thành một nước đang phát triển nhanh.

Vài năm gần đây, sau rất nhiều thử thách mang tính thời đại của thế giới, của công nghệ và thêm một thảm họa toàn cầu là đại dịch Covid-19, chúng ta càng nhận thức được vấn đề trung tâm của thời đại vẫn chính là con người, và hệ sinh thái không kém quan trọng so với môi trường thiên nhiên chính là văn hóa. Từ năm 2018, tức là trước khi đại dịch hoành hành, Bộ Nội vụ đã có một cuộc hội thảo tiếp cận từ góc nhìn lịch sử để nhận thức được ông cha ta, trong lịch sử dựng nước đã có bao nhiêu lần cải cách, duy tân hay đổi mới. Là người làm sử, tôi rất chú ý đến cách tiếp cận và những kết luận của cuộc hội thảo ấy. Và chúng ta cũng được biết đã có một chương trình cải cách bộ máy hành chính tinh giản và hiệu quả từ năm 2021-2030 được triển khai. Như vậy tức là chính nhu cầu thực tiễn, đôi khi phải hiểu mang tính sống còn của chế độ là phải tập trung vào con người mà trước hết là đội ngũ cán bộ. Đó có thể là nguồn lực phát triển mạnh mẽ nhưng cũng có thể là nguồn gốc của sự suy thoái không cứu vãn nổi.

Nhưng chính những gì mới và đang diễn ra thật dồn dập, với một cường độ khác thường và thâm chí có thể nói là chưa từng thấy trong lịch sử, làm cả thế giới sửng sốt, khởi đầu bằng một cuộc đấu tranh chống thám nhũng không khoan nhượng. Công cuộc “đốt lò” - một thuật ngữ nay đã đi vào lịch sử đã trở thành sự phát hiện cái điểm nghẽn quan trọng nhất là con người, mà trước hết là những người đang gánh vác vai trò lãnh đạo đất nước. Con số và gương mặt cán bộ bị loại bỏ trong cuộc đấu tranh quyết liệt này cho thấy quyết tâm, cao vọng cũng chưa từng có. Một xã hội trên gương mẫu, dưới kỷ cương được coi là mặt bằng của bệ phóng lý tưởng nhất cho kỷ nguyên mới thành tựu.

Nếu soi lại lịch sử, chúng ta thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh từ rất sớm đã đưa ra những nguyên lý cơ bản của bộ máy quản lý đất nước và cả những công cụ để giám sát nó. Tư tưởng của thời đại về “Nhà nước của dân, do dân, vì dân” được thể hiện trong đời sống ngay từ buổi đầu xây dựng chế độ mới. Nhưng chính chiến tranh, sự xa rời những nguyên lý ban đầu, sự quan liêu đã làm biến dạng và tha hóa bộ máy ấy và một phần đội ngũ ấy. Để tăng tốc cho kịp với thời đại, một “kỷ nguyên vươn mình” thể hiện trong ngôn ngữ biểu tượng đang là một sự khích lệ, một hiệu lệnh để chúng ta hy vọng vào kỷ nguyên mới đã được khởi đầu từ 80 năm trước đang hướng tới cái mốc mang nhiều ý nghĩa biểu tượng và hiện thực, đó là 100 năm của kỷ nguyên độc lập (2045) như mọi người mong đợi.

Năm nay là năm Ất Tỵ. Nhắc đến can “Ất” là hiện lên con số “5”. Năm 1925 ra đời những tổ chức tiền thân cho sự lãnh đạo của đất nước như một nhân tố lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử dân tộc. Năm 1945, Việt Nam mở ra kỷ nguyên mới độc lập dân tộc. Năm 1975 thống nhất đất nước. Năm 1995, hội nhập với thế giới và năm 2025 mong như một cuộc “lột xác” tạo ra sức sống mới, trước hết thể hiện qua nguồn nhân lực lãnh đạo gương mẫu và sáng tạo cùng cỗ máy tinh giản nhưng hiệu quả, cùng một xã hội kỷ cương sẽ làm cho kỷ nguyên của độc lập - tự do - hạnh phúc trở thành hiện thực đối với mọi người.

Đón năm mới xin nhắc lại câu chúc không khi nào cũ: “Nhật tân, nhật tân, hựu nhật tân” (Mỗi ngày một mới)./.


Yêu nước ST.

Đại tướng Phan Văn Giang chủ trì Hội nghị giao ban Bộ Quốc phòng đầu Xuân Ất Tỵ 2025

 Đại tướng Phan Văn Giang chủ trì Hội nghị giao ban Bộ Quốc phòng đầu Xuân Ất Tỵ 2025

Sáng 3-2, Bộ Quốc phòng tổ chức Hội nghị giao ban đầu Xuân Ất Tỵ 2025. Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì hội nghị.


Dự hội nghị có Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.


Cùng dự có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng: Đại tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam; Thượng tướng Võ Minh Lương, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương; Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương; Thượng tướng Lê Huy Vịnh; Thượng tướng Vũ Hải Sản; Thượng tướng Phạm Hoài Nam.


Tham dự hội nghị còn có Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam; Trung tướng Đỗ Xuân Tụng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, cùng đại diện lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan chức năng thuộc Bộ Quốc phòng.

ĐỒNG CHÍ NGUYỄN TRỌNG NGHĨA ĐƯỢC PHÂN CÔNG GIỮ CHỨC TRƯỞNG BAN TUYÊN GIÁO VÀ DÂN VẬN TRUNG ƯƠNG

 ĐỒNG CHÍ NGUYỄN TRỌNG NGHĨA ĐƯỢC PHÂN CÔNG GIỮ CHỨC TRƯỞNG BAN TUYÊN GIÁO VÀ DÂN VẬN TRUNG ƯƠNG


 Ngày 3/2/2025, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Thường trực Ban Bí thư đã tổ chức Hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về việc thành lập, chỉ định nhân sự của 4 Đảng bộ trực thuộc Trung ương (Đảng bộ các cơ quan Đảng ở Trung ương, Đảng bộ Chính phủ, Đảng bộ Quốc hội và Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương). Bộ Chính trị chỉ định đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư giữ chức Bí thư Đảng ủy các cơ quan đảng Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025; đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ giữ chức Bí thư Đảng ủy Chính phủ nhiệm kỳ 2020-2025; đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội giữ chức Bí thư Đảng ủy Quốc hội nhiệm kỳ 2020-2025; đồng chí Đỗ Văn Chiến, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ chức Bí thư Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025. Hội nghị cũng công bố Quyết định của Bộ Chính trị về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, mối quan hệ công tác của 3 cơ quan Đảng ở Trung ương (Văn phòng Trung ương Đảng, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương). Bộ Chính trị quyết định đồng chí Lê Hoài Trung, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương thôi giữ chức Trưởng ban Đối ngoại Trung ương, điều động, bổ nhiệm giữ chức Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; Quyết định phân công đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương giữ chức Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương và đồng chí Trần Lưu Quang, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, giữ chức Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 04 THÁNG 02 NĂM 1963!

         “Đoàn kết đã đưa Đảng ta và nhân dân ta từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Cho nên chúng ta quý trọng và ra sức bảo vệ sự đoàn kết nhất trí - trong Đảng và trong nhân dân ta cũng như giữa các đảng và giữa các nước anh em - như giữ gìn con ngươi của mình”!

Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết "Mừng Đảng ta 33 tuổi, vào ngày 4 tháng 2 năm 1963; nhân kỷ niệm 33 năm thành lập Đảng. Trong bài viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá chặng đường phát triển đã đi qua và sự ủng hộ của các đảng anh em, đồng thời khẳng định những công lao, đóng góp của Đảng đối với đất nước suốt hơn 33 năm.

Lời dạy trên thể hiện tầm quan trọng của đoàn kết, đó là nhân tố đã làm nên thắng lợi của Đảng và nhân dân ta trong cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Đặc biệt, trong thời kỳ cách mạng nước ta thực hiện cùng lúc hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc. Sự nghiệp cách mạng đòi hỏi phải phát huy cao độ sức mạnh toàn dân tộc và tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế. Do vậy theo Người, chúng ta cần phải quý trọng và giữ gìn sự đoàn kết nhất trí từ trong Đảng, trong nhân dân, giữa đảng, nhà nước và nhân dân ta với đảng, nhà nước và nhân dân các nước anh em như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Lời dạy của Người không chỉ khẳng định vai trò của đoàn kết đối với thắng lợi của cách mạng, mà còn nêu lên sự cần thiết và tầm quan trọng của việc giữ gìn đoàn kết. Đồng thời, đây cũng là phương châm chỉ đạo cho đường lối đối nội và đối ngoại của Đảng ta, định hướng cho việc hoạch định chính sách đối ngoại của cách mạng ViệtNamqua các thời kỳ.

Với Quân đội nhân dân ViệtNam, thực hiện lợi dạy trên của Người trước hết phải tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ, đặc biệt là trong tổ chức đảng, sau đó là đoàn kết giữa cấp trên với cấp dưới, giữa cán bộ với chiến sĩ và đoàn kết quân dân. Đồng thời, mỗi cán bộ, chiến sĩ phải quán triệt sâu sắc đường lối đối ngoại của Đảng, phát huy vai trò của mình trong việc xây dựng tình đoàn kết quốc tế, thể hiện được truyền thống tốt đẹp của quân đội ta. Để giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong quân đội, đòi hỏi mỗi quân nhân phải thực hiện tốt việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc, của quân đội lên trên lợi ích cá nhân, luôn phấn đấu xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”, gương mẫu trong lời nói và hành động, chấp hành nghiêm kỷ luật dân vận, sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ quốc tế khi được phân công./.
Môi trường ST.

NGƯỜI CON GÁI ĐÃ TẠO CẢM XÚC CHO RA ĐỜI MỘT CA KHÚC

 NGƯỜI CON GÁI ĐÃ TẠO CẢM XÚC CHO RA ĐỜI MỘT CA KHÚC

🍁🍁🍁🍁🍁


Năm 1958, hưởng ứng cuộc thi sáng tác với chủ đề về người con gái miền Nam, nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn (1929-2016) tình cờ đọc được câu chuyện về chị Võ Thị Sáu trong tác phẩm Vượt Côn Đảo của nhà văn Phùng Quán.

Ông ấn tượng với chi tiết "chị Sáu thích chơi hoa lê-ki-ma khi còn nhỏ" nên đã lấy loài hoa này làm hình tượng chính, xuyên suốt bài hát Biết ơn chị Võ Thị Sáu.


Đã bao nhiêu năm trôi qua, bài hát “Biết ơn chị Võ Thị Sáu” vẫn khiến người nghe thuộc bao thế hệ cảm nhận được vẻ đẹp thanh xuân, khí phách kiên cường cùng lòng tự hào và biết ơn người nữ anh hùng Võ Thị Sáu của quê hương Đất Đỏ, Bà Rịa-Vũng Tàu.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: XÂY DỰNG NHÀ MÁY ĐIỆN HẠT NHÂN LÀ VẤN ĐỀ 'QUỐC GIA ĐẠI SỰ!

     Sáng nay, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo xây dựng nhà máy điện hạt nhân chủ trì Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo!

Cùng dự có Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn, Phó Trưởng ban Trường trực Ban Chỉ đạo; Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo; lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương là thành viên Ban Chỉ đạo.Mở đầu phiên họp, Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết, phát triển xanh, bền vững là chủ trương của Đảng, Nhà nước. Biến đổi khí hậu đang diễn biến phức tạp mà Việt Nam là một trong những nước chịu tác động lớn, gây sụt lún, khô hạn, xâm nhập mặn, việc nỗ lực góp phần giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên.

Trong bối cảnh đó, Việt Nam phấn đấu đạt tăng trưởng kinh tế 8% trở lên trong năm 2025 và tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn tới. Do đó nhu cầu điện phải tăng từ 12-16%/năm. Việt Nam thúc đẩy phát triển kinh tế dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là các ngành mới nổi, như trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, internet vạn vật, dữ liệu lớn… nên nhu cầu năng lượng điện là rất lớn.

Khẳng định phát triển năng lượng xanh và bền vững là yêu cầu cấp bách, phát triển điện hạt nhân là một trong những biện pháp để đáp ứng yêu cầu và phù hợp với xu thế thế giới, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tại phiên họp thứ hai này, các thành viên Ban Chỉ đạo rà soát lại các công việc đã được giao sau phiên họp thứ nhất, đồng thời thảo luận, góp ý xây dựng kế hoạch cụ thể triển khai xây dựng nhà máy điện hạt nhân.

Trong đó, xác định rõ mục tiêu, lộ trình; nhiệm vụ của các thành viên Ban Chỉ đạo, từng bộ, ngành, địa phương phải thực hiện trong phát triển hạ tầng; di dân tái định cư; vấn đề chuyển giao công nghệ; đào tạo nguồn nhân lực; chủ đầu tư; xác định nguồn vốn; các cơ chế chính sách; những vấn đề vướng mắc, khó khăn cần tháo gỡ, trên tinh thần vướng ở đâu thì gỡ ở đó, xác định rõ ai giải quyết, bao giờ hoàn thành, kết quả là gì, tránh tình trạng trả lời "lòng vòng".Thủ tướng đánh giá phát triển điện hạt nhân, xây dựng nhà máy điện hạt nhân là vấn đề lớn, đại sự quốc gia, vấn đề khó, nhạy cảm nên cần có sự tập trung, đầu tư công sức, trí tuệ tương xứng, phải huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc và cần thiết thành lập Tổ công tác, tổ giúp việc chuyên trách giúp Ban Chỉ đạo.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu kế hoạch phải xác định rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ kết quả, xây dựng kế hoạch 5 năm, kế hoạch hàng năm, từng mốc thời gian phải hoàn thành những công việc cụ thể, từ đó bám sát lộ trình, hàng tháng họp kiểm điểm từng nhiệm vụ để việc triển khai bảo đảm tiến độ, hiệu quả.

Thông tin Chính phủ sẽ tiếp tục cập nhật thông tin về phiên họp...

Môi trường ST.

95 MÙA XUÂN CÓ ĐẢNG

 95 MÙA XUÂN CÓ ĐẢNG 


Hôm nay (3-2-2025) kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam khi sắc xuân đang căng tràn.


Chúng ta càng thêm tự hào 95 mùa xuân có Đảng. Thời gian là thuốc thử kỳ diệu, minh chứng sức mạnh phi thường của đội tiên phong của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam.


Đảng ta đã kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam với đầy ắp niềm tin yêu của tình dân, nghĩa Đảng vượt qua ghềnh thác, tiến mạnh mẽ và vững chắc trên con đường độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, khẳng định vị thế của Việt Nam ngày càng nâng cao trong khu vực và trên thế giới.


Lịch sử ghi đậm dấu ấn, dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã làm nên thắng lợi vĩ đại Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mà đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, kết thúc vẻ vang là Đại thắng mùa Xuân năm 1975; thắng lợi của công cuộc đổi mới, tạo ra thế và lực mạnh mẽ cho đất nước đi tới tương lai rực rỡ, vững tin bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. 


Năm 2024, dù chịu nhiều tác động từ những bất ổn của tình hình chính trị, kinh tế thế giới, trong nước thiên tai, bão, lũ gây hậu quả nặng nề nhưng đất nước luôn ổn định chính trị, độc lập, chủ quyền quốc gia được giữ vững, kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực và thế giới; công tác xây dựng Đảng đạt kết quả tích cực và toàn diện. Việc sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được triển khai quyết liệt, khẩn trương.


Mừng Đảng ta tròn 95 tuổi, từng cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên với quyết tâm cao nhất phấn đấu hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ của nhiệm kỳ Đại hội XIII, lập nhiều thành tích chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước; tổ chức thành công đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng.


Quân đội nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh qua hơn 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành đã không ngừng lớn mạnh, cùng nhân dân làm nên những chiến công chói lọi. Dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, Quân đội quyết tâm phấn đấu vươn lên mạnh mẽ, thực hiện thắng lợi mục tiêu năm 2025 cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại; tạo tiền đề, động lực vững chắc xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.


Đảng soi đường, mở lối, dẫn dắt dân tộc ta đi tới bến bờ hạnh phúc, vinh quang. Hướng về Đảng, vững tin theo Đảng, mọi người dân Việt Nam tự hào phát huy truyền thống đoàn kết, anh dũng, tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi, đẩy lùi nguy cơ, thách thức, đưa đất nước bứt phá, tiến lên.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: “VUA ĐI CÀY” TRONG LỄ HỘI TỊCH ĐIỀN 2025!

     Sáng 4-2 (tức mồng 7 tháng Giêng), tại xã Tiên Sơn, thị xã Duy Tiên, UBND tỉnh Hà Nam tổ chức Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn Xuân Ất Tỵ 2025.

Theo sử sách, năm 987, vua Lê Đại Hành đã về vùng đất núi Đọi, sông Châu khởi xướng và đích thân cầm cày trong lễ xuống đồng đầu năm. Kể từ đó, Lễ hội Tịch điền được lưu truyền và được coi như một ngày Quốc lễ mang ý nghĩa khuyến khích nhân dân lao động, sản xuất.

Sau thời gian dài bị gián đoạn, từ năm 2009, Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn được phục hồi và duy trì tổ chức cho đến nay, thu hút sự quan tâm của đông đảo nhân dân và du khách thập phương.

Mở đầu Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn Xuân Ất Tỵ 2025, các đoàn rước cờ, kiệu... tiến về khu ruộng trước đây vua Lê Đại Hành đã đi cày đầu năm để khuyến khích người dân trồng lúa, chăm lo nông nghiệp. Sau nghi lễ bái yết Thần Nông, cầu một năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu là màn trống khai hội do đội trống nữ làng Đọi Tam biểu diễn kết hợp với múa rồng.

Buổi lễ đã tái hiện cảnh vua Lê Đại Hành xuống ruộng cày do bô lão trong làng thực hiện, theo sau là các thôn nữ đi gieo hạt giống. Trong trang phục nhà nông, các đại biểu và người dân địa phương thực hiện nghi thức tịch điền, cày những luống đất đầu tiên, khởi đầu cho mùa vụ mới bội thu.

Trước đó, vào ngày mồng 5 và mồng 6 tháng Giêng, Ban tổ chức Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn Xuân Ất Tỵ 2025 đã tổ chức các nghi lễ tâm linh như Lễ cáo yết, Lễ rước nước lên Đàn tế, Lễ Sái tịnh, Lễ cầu an trên chùa Đọi Sơn…

Phần hội diễn ra hấp dẫn với hoạt động thi đấu thể thao và trò chơi dân gian; hội thi vẽ, trang trí trâu; thi làm bánh giầy của các dòng họ làng Đọi Tam; hội thi cày giỏi; giới thiệu các sản phẩm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tiêu biểu của thị xã Duy Tiên và tỉnh Hà Nam./.
Ảnh: Lão nông hóa thân thành Vua đi cày trong Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn 2025.
Báo QĐND
Môi trường ST.

[#02] ĐỒNG CHÍ NGUYỄN VĂN LINH, NHÀ LÃNH ĐẠO XUẤT SẮC CỦA ĐẢNG - TỔNG BÍ THƯ THỜI KỲ ĐẦU ĐỔI MỚI

 [#02] ĐỒNG CHÍ NGUYỄN VĂN LINH, NHÀ LÃNH ĐẠO XUẤT SẮC CỦA ĐẢNG - TỔNG BÍ THƯ THỜI KỲ ĐẦU ĐỔI MỚI 


Đồng chí Nguyễn Văn Linh tên thật là Nguyễn Văn Cúc, còn hay được gọi là Mười Cúc. Xuất thân trong một gia đình yêu nước, sớm giác ngộ cách mạng, thấu hiểu cảnh đau khổ của đất nước lầm than, nô lệ do chế độ thực dân cai trị, mới 14 tuổi, đồng chí đã tham gia hoạt động yêu nước trong phong trào học sinh Đoàn, do Hội Việt Nam cách mạng thanh niên lãnh đạo.


Với nhiệt huyết của tuổi trẻ, muốn được cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, lại được tư tưởng Nguyễn Ái Quốc dẫn đường, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã tích cực, hăng hái hoạt động không sợ hy sinh, không nề gian khổ.


1. Quá trình hoạt động cách mạng trước năm 1975 


Đồng chí Nguyễn Văn Linh (1915-1998) tại làng Bần nay là thôn Yên Phú, xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Từ năm 1929, đồng chí đã tham gia Học sinh đoàn tổ chức của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên lãnh đạo. Ngày 1-5-1930, lúc mới 15 tuổi, đồng chí Nguyễn Văn Linh được tổ chức Học sinh Đoàn của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên phái đi rải truyền đơn, mà sau này đồng chí Nguyễn Văn Linh kể lại rằng: Chúng tôi rải truyền đơn dọc theo phố Cát Dài (Hải Phòng)… khi rải tới ngã tư, cảnh binh phát hiện thấy và bắt cả ba chúng tôi… tôi đi tù và bị đày ra Côn Đảo.


Tháng 9-1936, đồng chí Nguyễn Văn Cúc (tức Nguyễn Văn Linh) mới ở Côn Đảo ra, được Trung ương cử về Hải Phòng nắm tình hình, tham gia xây dựng tổ chức Đảng và phong trào cách mạng. Từ đó cho đến đầu năm 1937, hệ thống tổ chức cơ sở Đảng và cơ sở cách mạng tiếp tục được củng cố. Đồng chí đã xây dựng cơ sở đảng, thành lập nhiều chi bộ và Thành ủy lâm thời Hải Phòng.


Khoảng cuối năm 1938, đầu năm 1939, đồng chí Nguyễn Văn Cừ và Trung ương điều động đồng chí Nguyễn Văn Linh vào Sài Gòn hoạt động và tham gia Thành ủy Sài Gòn. Khi ấy đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai đang làm Bí thư Thành ủy Sài Gòn, “tôi (tức Nguyễn Văn Linh) vào làm Phó bí thư Thành ủy”.


Cuối năm 1939, được phân công tham gia lập lại Xứ ủy Trung Kỳ. Đầu năm 1941, đồng chí Nguyễn Văn Linh bị thực dân Pháp bắt ở Vinh, chúng đưa đồng chí về Sài Gòn xử án 5 năm tù và đày ra Côn Đảo lần thứ hai. Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí được đón về Nam Bộ hoạt động ở miền Tây.


Hội nghị Xứ ủy (mở rộng) tháng 11-1946, họp tại kinh Năm Ngàn trong chiến khu Đồng Tháp Mười. Xứ ủy lâm thời Nam Bộ gồm các đồng chí: Phạm Hùng, Hà Huy Giáp, Ung Văn Khiêm, Nguyễn Văn Cúc (Nguyễn Văn Linh), Trần Văn Trà, Nguyễn Đức Thuận, Phan Trọng Tuệ, Nguyễn Văn Kỉnh, Hoàng Dư Khương, Nguyễn Văn Tiếp; do đồng chí Phạm Hùng làm Bí thư. Hội nghị ra Nghị quyết củng cố các Liên Tỉnh ủy miền Đông, miền Trung, miền Tây Nam Bộ. Đồng chí Nguyễn Văn Cúc được phân công về phụ trách thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn, trực tiếp lãnh đạo kháng chiến với các chức vụ Bí thư Thành ủy, Bí thư Đặc khu ủy Sài Gòn - Gia Định vào giữa năm 1947.


Tháng 12-1947, đồng chí Nguyễn Văn Cúc được bầu vào Xứ ủy Nam Bộ, do đồng chí Lê Duẩn làm Bí thư Xứ ủy. Từ năm 1949, đồng chí tham gia Ban Thường vụ Xứ ủy Nam Bộ. Sau khi đồng chí Lê Duẩn ra Bắc (cuối tháng 4 - đầu tháng 5-1957), đồng chí Phạm Hữu Lầu thay làm Quyền Bí thư Xứ ủy. Cuối năm 1957, đồng chí Nguyễn Văn Linh về làm Quyền Bí thư Xứ ủy đến năm 1960.


Ngày 27-3-1960, để chuẩn bị cho Hội nghị thành lập Trung ương Cục miền Nam, Trung ương Đảng quyết định nhân sự của Trung ương Cục miền Nam gồm: Đồng chí Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc) làm Bí thư, Phan Văn Đáng làm Phó bí thư, Võ Chí Công (Toàn), Phó bí thư. Tháng 9-1960, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng.


Ban quân sự Miền được thành lập (1961) để chỉ huy các lực lượng vũ trang miền Nam. Đến tháng 10-1963, Ban quân sự Miền được thay bằng Bộ Chỉ huy Miền, do Trung tướng Trần Văn Trà làm Tư lệnh. Quân ủy Miền do Bí thư Trung ương Cục miền Nam Nguyễn Văn Linh làm Bí thư.


Ngày 4-11-1967, tại Hội nghị toàn thể Trung ương Cục miền Nam theo Quyết nghị của Bộ Chính trị về chuẩn bị Tổng công kích, tổng khởi nghĩa và củng cố các tổ chức lãnh đạo, chỉ huy ở chiến trường B2, đồng chí Phạm Hùng được giao nhiệm vụ Bí thư Trung ương Cục, Bí thư Quân ủy Miền (thay Đại tướng Nguyễn Chí Thanh từ trần tại Hà Nội tháng 6-1967). Các Phó bí thư Trung ương Cục gồm có đồng chí: Nguyễn Văn Linh, Phan Văn Đáng, Hoàng Văn Thái; Bộ Chỉ huy Quân ủy Miền do đồng chí Phạm Hùng làm Bí thư; Phó bí thư là đồng chí Nguyễn Văn Linh, Hoàng Văn Thái.


Ngày 1-8-1969, đồng chí Nguyễn Văn Linh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó bí thư Trung ương Cục miền Nam, vừa từ chiến trường ra báo cáo với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương về các “chiến dịch bình định cấp tốc” mà Mỹ và chính quyền Sài Gòn đang xúc tiến trên toàn chiến trường miền Nam. Dù đang ốm mệt, trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn đồng chí Nguyễn Văn Linh rằng: “Bất cứ trong tình huống nào cũng phải bám chắc lấy dân, dựa vào dân để mà tồn tại. Đó là cái chìa khóa của mọi thắng lợi”.


Sau Hội nghị Bình Giã V (tháng 1-1972), đến tháng 4-1972, tổ chức bộ máy của Thành ủy Sài Gòn - Gia Định được củng cố và bổ sung thêm một số Thành ủy viên và do đồng chí Nguyễn Văn Linh - Phó bí thư Trung ương Cục trực tiếp phụ trách làm Bí thư (đến tháng 10-1972), Phó bí thư Thành ủy là đồng chí Mai Chí Thọ. Trên cương vị Bí thư và Phó bí thư Trung ương Cục, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã cùng Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo quân và dân miền Nam làm cuộc kháng chiến thần thánh chống Mỹ, cứu nước từ những năm tháng đen tối đến ngày toàn thắng trong mùa xuân lịch sử năm 1975.


2. Cống hiến của đồng chí Nguyễn Văn Linh sau năm 1975 


Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng và Tổ quốc Việt Nam được thống nhất (1975), đồng chí Nguyễn Văn Linh được phân công trở lại làm Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh. Tháng 12-1976, tại Đại hội toàn quốc lần thứ IV của Đảng, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Trung ương bầu vào Bộ Chính trị và Ban Bí thư, được phân công giữ các chức vụ: Trưởng ban Cải tạo xã hội chủ nghĩa của Trung ương, Trưởng ban Cải tạo công thương nghiệp tư doanh của Trung ương Đảng, Trưởng ban Dân vận Mặt trận Trung ương, Chủ tịch Tổng công đoàn Việt Nam đến năm 1980. Sau đó, được phân công theo dõi thực hiện Nghị quyết của Đảng và Chính phủ ở các tỉnh miền Nam.


Tháng 12-1981, đồng chí Nguyễn Văn Linh lại được Trung ương quyết định vào làm Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh. Tháng 3-1982, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V của Đảng, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tháng 6-1985, tại Hội nghị Trung ương 8, đồng chí được bầu vào Bộ Chính trị.


Tháng 6-1986, đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu vào Ban Bí thư Trung ương Đảng, và được phân công Thường trực Ban Bí thư. Tháng 12-1986, tại Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng, đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng… Do có nhiều công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta, đồng chí được Đảng và Nhà nước ta tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác.


Suốt cuộc đời đồng chí Nguyễn Văn Linh đã trải qua gần 70 năm hoạt động cách mạng liên tục và đã được Đảng, Nhà nước giao phó nhiều trọng trách. Đồng chí đã tham gia lập lại Xứ ủy Trung Kỳ, giữ các chức vụ Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn, Bí thư Đặc Khu ủy Sài Gòn - Gia Định, Ủy viên Thường vụ rồi quyền Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, Ủy viên Trung ương Đảng, khóa III, Bí thư Trung ương Cục miền Nam. Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đồng chí là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng khóa IV, Ủy viên Bộ Chính trị khóa V, Trưởng ban cải tạo xã hội chủ nghĩa của Trung ương, Trưởng ban Dân vận - Mặt trận Trung ương, Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh, Thường trực Ban Bí thư… Đến Đại hội VI của Đảng, đồng chí được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng và Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương. Tại Đại hội VII và Đại hội VIII của Đảng, đồng chí được Ban Chấp hành Trung ương cử làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.


Đồng chí Nguyễn Văn Linh đã hoạt động trong nhiều vùng, ở nhiều địa phương của đất nước, để lại những kỷ niệm sâu sắc trong lòng đồng chí, đồng bào ta trên mọi miền Tổ quốc: “… hơn một nửa cuộc đời hoạt động cách mạng của mình gắn bó máu thịt với miền Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc”.


Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cương vị là Bí thư Trung ương Cục miền Nam, đồng chí đã lãnh đạo phong trào cách mạng miền Nam vào thời điểm gay go nhất và cũng oanh liệt nhất, ghi lại những dấu ấn không bao giờ phai mờ về cuộc “đồng khởi” và cuộc kháng chiến chống xâm lược từ năm 1960 đến năm 1975. Khi kháng chiến ở trong rừng già, bưng biền cũng như khi ở trong căn cứ nội thành, đồng chí luôn kiên cường “bám trụ”, sát cánh cùng đồng bào, chiến sĩ, tin tưởng tuyệt đối vào dân, vừa lãnh đạo chiến đấu, vừa bền bỉ xây dựng, phát triển phong trào yêu nước và lực lượng cách mạng… Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc thuộc về toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, trong đó có công lao to lớn của đồng chí Nguyễn Văn Linh.


Ở trong lao tù của đế quốc - “nơi địa ngục trần gian”, đồng chí Nguyễn Văn Linh vẫn giữ vững khí tiết người cộng sản, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Đồng chí đã trải qua 2 lần với hơn 10 năm bị gông cùm trong ngục tù của thực dân ở Côn Đảo. Khi mới vào tù tuổi đời còn rất trẻ (15 tuổi), dù bị kẻ thù tra tấn dã man, tàn bạo, đồng chí vẫn một mực kiên trung, tin tưởng vào lý tưởng cao quý của Đảng và tương lai tươi sáng của dân tộc ta.


Đại hội “đổi mới” (Đại hội VI của Đảng năm 1986) mở đầu công cuộc đổi mới, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam. Với cương vị là Tổng Bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã lãnh đạo nhạy bén, chủ động, sáng tạo, khôn khéo chèo lái con thuyền cách mạng, vượt qua những bước hiểm nghèo của thời kỳ xảy ra những biến động to lớn trên thế giới, đẩy mạnh công cuộc đổi mới và thu được những thành tựu rất quan trọng, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, mở rộng quan hệ đối ngoại và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế… Gần tròn bảy thập kỷ, từ buổi đầu tiên tham gia cách mạng (1930), đến khi vĩnh biệt đồng bào cả nước, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã giữ trọn danh hiệu cao quý của người đảng viên cộng sản kiên trung, một lòng, một dạ phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, hy sinh cao cả vì lý tưởng cao đẹp của Đảng.

ĐẢNG VÀ MÙA XUÂN ĐẤT NƯỚC

 ĐẢNG VÀ MÙA XUÂN ĐẤT NƯỚC

________________


Trong suốt chiều dài lịch sử, hình ảnh mùa Xuân không chỉ là sự chuyển mình của đất trời mà còn là biểu tượng của sự đổi mới, của những khát vọng to lớn được khơi lên. Và nếu lịch sử Việt Nam là một bản trường ca, thì Đảng Cộng sản Việt Nam chính là người nhạc trưởng đã dẫn dắt cả dân tộc vươn tới những mùa Xuân rạng ngời, đong đầy ước vọng. Khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào mùa Xuân năm 1930, đất nước ta đang chìm trong bóng tối của ách đô hộ thực dân. Những phong trào yêu nước tuy sục sôi nhưng thiếu sự dẫn dắt thống nhất, khiến cho các cuộc khởi nghĩa dù anh dũng nhưng đều thất bại. Trong bối cảnh đó, sự xuất hiện của Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự sáng lập và lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thắp lên ánh sáng soi đường, dẫn dắt nhân dân ta đến bến bờ độc lập.


Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chính là minh chứng cho tài năng lãnh đạo và tầm nhìn chiến lược của Đảng. Từ một quốc gia thuộc địa, Việt Nam đã tự mình đứng lên, lật đổ chế độ thực dân phong kiến và tuyên bố độc lập. Thắng lợi này không chỉ là sự kiện trọng đại của dân tộc mà còn là nguồn cảm hứng cho các phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Ngày 2/9/1945, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, không chỉ là một thời khắc lịch sử mà còn là mùa Xuân rực rỡ của cả dân tộc.

Không dừng lại ở đó, Đảng tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta vượt qua những thử thách lớn lao của lịch sử. Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 là một dấu son chói lọi, khẳng định sức mạnh của một dân tộc nhỏ bé nhưng kiên cường. Và đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân năm 1975, kết thúc hơn 20 năm chiến tranh khốc liệt, thống nhất đất nước và đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới.


Nếu những năm tháng đấu tranh giành độc lập là mùa Xuân của tinh thần yêu nước và khát vọng tự do, thì công cuộc Đổi mới (bắt đầu từ năm 1986) là mùa Xuân của sự sáng tạo, đổi mới và hội nhập. Sau chiến tranh, đất nước phải đối mặt với vô vàn khó khăn, từ nền kinh tế kiệt quệ đến những thách thức trong việc xây dựng xã hội chủ nghĩa. Chính trong bối cảnh đó, Đảng đã đưa ra quyết sách lịch sử - khởi xướng công cuộc Đổi mới, mở ra một trang mới cho đất nước. Đổi mới không chỉ đơn thuần là cải cách kinh tế mà còn là cuộc cách mạng toàn diện về tư duy và phương pháp lãnh đạo. Dưới ánh sáng của Đổi mới, Việt Nam từ một nước nghèo nàn, lạc hậu đã từng bước vươn lên trở thành một nền kinh tế đang phát triển. Những thành tựu về tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân và mở rộng quan hệ quốc tế là minh chứng rõ nét cho sự thành công của đường lối này.


Trong gần bốn thập kỷ qua, Đổi mới đã giúp Việt Nam đạt được những bước tiến dài trên mọi lĩnh vực. Đặc biệt, sự hội nhập quốc tế sâu rộng đã nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Đảng không chỉ dẫn dắt nhân dân vượt qua nghèo đói mà còn khơi dậy niềm tự hào dân tộc, niềm tin vào một tương lai tốt đẹp hơn. Niềm tin của nhân dân vào Đảng không phải tự nhiên mà có. Đó là kết quả của cả một quá trình đấu tranh gian khổ, hy sinh và cống hiến. Đảng đã chứng minh vai trò lãnh đạo không chỉ trong những thời điểm lịch sử cam go mà còn trong việc xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Trong thời đại ngày nay, khi thế giới đối mặt với nhiều biến động khó lường, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng lại càng thể hiện rõ giá trị. Từ việc ứng phó với đại dịch Covid-19 đến những quyết sách kinh tế, xã hội quan trọng, Đảng luôn đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu. Những thành tựu mà Việt Nam đạt được không chỉ là kết quả của sự nỗ lực chung mà còn là minh chứng cho sự đúng đắn trong đường lối lãnh đạo của Đảng.


Đặc biệt, tinh thần đoàn kết và ý chí vươn lên của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng chính là ngọn lửa thắp sáng những mùa Xuân mới. Đó là mùa Xuân của niềm tin, của khát vọng đưa đất nước ngày càng phát triển, sánh vai với các cường quốc năm châu. Dưới ánh sáng của Đảng, dân tộc Việt Nam đã đi qua nhiều mùa Xuân lịch sử. Nhưng những mùa Xuân ấy không chỉ là đích đến mà còn là nền tảng để chúng ta vươn tới những tầm cao mới. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, Việt Nam đứng trước những cơ hội lớn nhưng cũng không ít thách thức.

Để hiện thực hóa khát vọng phát triển, Đảng đã đề ra những chiến lược dài hạn, từ việc nâng cao chất lượng giáo dục, phát triển khoa học - công nghệ đến xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Những mục tiêu như “không để ai bị bỏ lại phía sau” hay “phát triển bền vững” chính là lời cam kết mạnh mẽ của Đảng đối với nhân dân.


Hơn bao giờ hết, mỗi người dân Việt Nam cần nhận thức rõ vai trò của mình trong việc đóng góp vào sự phát triển chung. Đảng đã trao cho chúng ta niềm tin và hy vọng, trách nhiệm của chúng ta là biến niềm tin ấy thành hành động cụ thể, để mùa Xuân hôm nay mãi mãi rạng ngời. Đảng đã cho ta những mùa Xuân đầy ước vọng - mùa Xuân của độc lập, tự do, của đổi mới và phát triển. Mỗi mùa Xuân đi qua đều để lại những dấu ấn sâu sắc, là minh chứng cho sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Nhìn lại chặng đường đã qua, chúng ta không khỏi tự hào về những thành tựu vĩ đại mà Đảng và nhân dân đã đạt được. Hành trình phía trước còn dài, với nhiều cơ hội và thách thức đang chờ đón. Đảng đã cho ta những mùa Xuân đầy ước vọng, nhưng mùa Xuân ấy sẽ chỉ mãi tươi đẹp nếu chúng ta tiếp tục đoàn kết, nỗ lực và sáng tạo. Hãy cùng nhau biến mùa Xuân hôm nay thành bệ phóng cho những mùa Xuân rực rỡ hơn trong tương lai, để Việt Nam mãi mãi là một quốc gia độc lập, tự cường và phát triển bền vững.

CHƠI GOLF MÀ MANG LẠI LỢI ÍCH QUỐC GIA, DÂN TỘC, TÔI KHÔNG NGẦN NGẠI VÀ TÔI SẴN SÀNG

 CHƠI GOLF MÀ MANG LẠI LỢI ÍCH QUỐC GIA, DÂN TỘC, TÔI KHÔNG NGẦN NGẠI VÀ TÔI SẴN SÀNG


Đó là câu nói của Thủ trướng Phạm Minh Chính tại phiên đối thoại đặc biệt dành riêng cho Việt Nam trong khuôn khổ Hội nghị thường niên Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) Davos năm 2025, khi  trả lời câu hỏi của người dẫn Chương trình: “Liệu ông có kế hoạch tới dinh thự Mar-a-Lago của Tổng thống Trump và chơi golf với nhà lãnh đạo Mỹ hay không”?


Câu trả lời tưởng chừng đơn giản nhưng lại khiến cả hội trường lặng đi. Đó không chỉ như một lời khẳng định của người đứng đầu Chính phủ, mà còn như một cam kết: Việt Nam sẵn sàng làm tất cả để dân tộc vươn mình. Đồng thời thể hiện quả điểm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc là trên hết, là trước tiên.


Đây không phải là lần đầu tiên Thủ tướng Phạm Minh Chính có ứng biến tinh tế, tuyệt vời khiến cho người nghe phải khâm phục.


Điển hình như tại phiên thảo luận WEF Davos 2024 với chủ đề ASEAN, khi người dẫn Chương trình có đặt câu hỏi đối về vấn đề độc lập, tự chủ ki/nh tế của Việt Nam và khối ASEAN rằng:  “Thủ tướng Phạm Minh Chính, mời ông trả lời. Ông có cần gọi điện cho Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình không?" (hàm ý chỉ ra rằng Việt Nam đang phụ thuộc vào TQ và các quyết sách cần tham khảo ý kiến của TQ). Và chỉ cần mất khoảng 6 giây, Thủ tướng Phạm Minh Chính đáp lại rằng: “TÔI GỌI ĐIỆN CHO BÀ THÔI” và nhấn mạnh thêm một lần nữa: “Tôi chỉ muốn gọi điện cho bà thôi”.


Sự thông minh, tài tình của Thủ tướng đã biến một câu hỏi ám thị liên quan đến c.h.í/nh trị thành một câu chuyện đùa. Câu khẳng định lại “chỉ muốn gọi” cho người dẫn chương trình cũng có thể bao hàm ý nghĩa rằng Thủ tướng thì gọi ai thì gọi, không một ai có thể điều khiển được. Điều này cũng thể hiện rằng Việt Nam là một quốc gia độc lập, tự chủ, tự lực.