Thứ Ba, 4 tháng 2, 2025

Phát huy vai trò của công tác cán bộ để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng

 TCCS - Năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, vì họ là người quán triệt, tổ chức thực hiện, tiến hành kiểm tra, giám sát, tổng kết thực tiễn. Do vậy, để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, Đảng phải lựa chọn được đội ngũ cán bộ, đảng viên “vừa hồng”, “vừa chuyên”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, góp phần phát triển đất nước nhanh, bền vững.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu tại Lễ khai giảng Lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng đối với cán bộ quy hoạch Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, ngày 14-10-2024_Ảnh: Tư liệu

Vai trò của công tác cán bộ đối với năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(1), “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”(2); “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật sự trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(3),... Với tư cách là Đảng duy nhất cầm quyền, được nhân dân giao phó trọng trách lãnh đạo, để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, yêu cầu đặt ra đối với Đảng là xây dựng bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả và đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực để đảm nhận nhiệm vụ được giao.

Nhận thức rõ vị trí và tầm quan trọng của công tác cán bộ đối với việc nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương đi đôi với cải cách tiền lương, chế độ, chính sách đãi ngộ, tạo môi trường, điều kiện làm việc để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phục vụ phát triển; có cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài, khuyến khích bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. Đồng thời, có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân”(4).

Để thực hiện được mục tiêu này, Đại hội XIII của Đảng xác định các nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp đột phá, đặc biệt là: “Đổi mới mạnh mẽ và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu các cấp đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ...”(5); “Tiếp tục hoàn thiện thể chế về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, nhất là công tác tổ chức, cán bộ”(6); qua đó, khẳng định việc đổi mới mạnh mẽ trong công tác cán bộ và hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ là nhiệm vụ hệ trọng, được Đảng tập trung chỉ đạo thực hiện trong thời gian qua.

Công tác cán bộ luôn là khâu then chốt của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Trong những năm qua, công tác cán bộ của Đảng đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi mới đất nước. Tuy nhiên, Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 17-11-2022, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong tình hình mới” cũng chỉ ra hạn chế trong việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị; trong đó, nhấn mạnh năng lực cụ thể hóa và lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng còn hạn chế, hiệu quả chưa cao. Chính sách cán bộ chưa thực sự tạo động lực để đội ngũ cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc. Một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu, năng lực hạn chế, phẩm chất, uy tín thấp, vi phạm kỷ luật của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Theo Ban Nội chính Trung ương, “trong năm 2023, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 606 tổ chức đảng, hơn 24.160 đảng viên (tăng 12% về số đảng viên bị kỷ luật so với năm 2022). Trong đó, thi hành kỷ luật 459 đảng viên do tham nhũng, 8.863 đảng viên do suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm những điều đảng viên không được làm. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 19 cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Trong đó, lần đầu tiên có 6 cán bộ bị xử lý kỷ luật do vi phạm trong kê khai tài sản, thu nhập. Cũng trong năm 2023, các cơ quan chức năng đã cho thôi giữ chức vụ, nghỉ công tác, bố trí công tác khác đối với 9 cán bộ diện Trung ương quản lý. Các địa phương đã cho từ chức, miễn nhiệm, bố trí công tác khác hơn 360 trường hợp sau khi bị kỷ luật, trong đó có 92 cán bộ thuộc diện tỉnh ủy, thành ủy quản lý. Tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, đã thi hành kỷ luật 105 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 22 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng”(7). Cách xử lý kiên quyết, nghiêm khắc đó góp phần quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường, củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và chế độ.

Công tác cán bộ là công việc, nhiệm vụ quan trọng trong việc tổ chức và thực thi quyền lực của Đảng. Vi phạm của một số cán bộ, đảng viên đã gây ảnh hưởng tới uy tín, thanh danh của Đảng, mà nguyên nhân chủ yếu là do cơ chế kiểm soát quyền lực đối với công tác cán bộ chưa hiệu quả. Đây là lĩnh vực khó và dù Đảng ta đã có nhiều văn bản quy định về vấn đề này, nhưng chưa phát huy hết hiệu quả để ngăn ngừa tình trạng chạy chức, chạy quyền, sự tha hóa, biến chất trong công tác cán bộ.

Để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, năng lực hoạch định, năng lực tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, cương lĩnh; năng lực lãnh đạo các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị và các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội..., Đảng phải lựa chọn, xây dựng được đội ngũ cán bộ “vừa hồng”, “vừa chuyên”, đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn. Muốn vậy, Đảng phải tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền, vì đây là vấn đề then chốt để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong bối cảnh hiện nay.

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Lê Minh Hưng thăm, tặng quà động viên cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Phúc Sơn (xã Phúc Sơn, huyện Anh Sơn), Bộ đội Biên phòng tỉnh Nghệ An_Ảnh: TTXVN

Giải pháp nâng cao chất lượng công tác cán bộ, để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng

Một là, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ.

Công khai, minh bạch tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và hồ sơ nhân sự; cung cấp, trao đổi thông tin và giải trình khi có yêu cầu; đổi mới công tác đánh giá cán bộ theo hướng: Xuyên suốt, liên tục, đa chiều, theo tiêu chí, bằng sản phẩm, thông qua khảo sát, công khai kết quả và so sánh với chức danh tương đương. Điều này sẽ tạo được sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, mà trước hết là trong tập thể cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy các cấp. Đoàn kết chính là sức mạnh của Đảng, là vũ khí sắc bén nhất của Đảng ta; trong Đảng có sự đoàn kết thì xã hội sẽ có sự đồng thuận, uy tín của Đảng, của hệ thống chính trị ngày càng được nâng cao, niềm tin của nhân dân dành cho Đảng ngày càng vững chắc. Xử lý nghiêm mâu thuẫn, bất đồng trong nội bộ cấp ủy; nếu không sẽ dẫn đến sự chia rẽ nội bộ, kéo bè kéo cánh, “lợi ích nhóm”. Nghiêm túc, quyết liệt chống chủ nghĩa cá nhân, với các biểu hiện, như vấn đề “lợi ích” trong công tác cán bộ, “lợi ích” từ các dự án đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng và vấn đề cơ cấu, quy hoạch nhân sự của đại hội đảng bộ các cấp.

Hai là, kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đào tạo, bồi dưỡng về chính trị với rèn luyện, thử thách đội ngũ cán bộ trong các hoạt động, các phong trào thực tiễn.

Cấp ủy, lãnh đạo các cấp cần thường xuyên chăm lo thực hiện công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, thông qua các hình thức, như học tập các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; mở các lớp bồi dưỡng, nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên về các nghị quyết của Đảng; tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ cán bộ, được đi học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

Bên cạnh đào tạo, bồi dưỡng về chính trị thì khâu rèn luyện, thử thách cho đội ngũ cán bộ trong các hoạt động, các phong trào thực tiễn cũng rất cần được quan tâm sâu sát, tạo sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa “học đi đôi với hành”, giữa lý luận với thực tiễn. Cấp ủy cơ sở cần tổ chức các phong trào thi đua yêu nước để phát triển, bồi dưỡng, tạo nguồn cán bộ ưu tú “vừa hồng”, “vừa chuyên” cho Đảng; chủ động, tích cực lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền, các tổ chức đoàn thể, thông qua các phong trào thi đua yêu nước, thúc đẩy việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh có hiệu quả. Mạnh dạn giao cho cán bộ thực hiện công việc khó, đòi hỏi sự nhiệt tình, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị.

Ba là, xây dựng cơ chế cạnh tranh lành mạnh trong công tác cán bộ.

Hiện nay, tình trạng tư duy “cục bộ địa phương” trong công tác cán bộ còn diễn ra, chưa được ngăn chặn triệt để. Nguyên nhân là do chưa xây dựng được cơ chế cạnh tranh lành mạnh trong tất cả các khâu của công tác cán bộ; đặc biệt, hiện nay khâu đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu nhất, khó khăn nhất. Trên thực tế, đánh giá cán bộ trước khi quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển dễ rơi vào hình thức, cảm tính, thậm chí ở một số nơi còn liên quan đến “nhóm lợi ích”, dẫn đến tình trạng bổ nhiệm cán bộ thì đúng quy trình, nhưng người được bổ nhiệm không “đúng người, đúng việc”.  

Khi đánh giá, lựa chọn cán bộ, cấp ủy, tổ chức đảng có thẩm quyền phải chú trọng tới đạo đức của người cán bộ; bởi vì, có đạo đức cách mạng sẽ làm cho họ thể hiện được tinh thần trách nhiệm với công việc được giao, luôn ý thức giữ mình trước cám dỗ; đồng thời, họ phải giữ gìn hình ảnh người đảng viên, xác lập các mối quan hệ công việc và xã hội một cách chuẩn mực, trong sáng. Tạo môi trường, cơ chế để đội ngũ cán bộ được thể hiện năng lực của mình một cách bình đẳng, thông qua công việc, bằng sản phẩm cụ thể. Khi đánh giá cán bộ, cần đánh giá cả một quá trình và đánh giá cả chiều hướng phát triển, thì mới có thể sát, đúng với năng lực và phẩm chất, đạo đức của một người cán bộ. Cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, đặc biệt là người đứng đầu, cần khách quan, minh bạch trong lựa chọn và sử dụng cán bộ; đồng thời, cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, tổ chức đảng có thẩm quyền trong công tác cán bộ phải tự kiểm soát lẫn nhau, phải tiên phong, gương mẫu, thực hiện đúng theo Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016, của Bộ Chính trị, “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”, Quy định số 101-QÐ/TW, ngày 7-6-2012, của Ban Bí thư, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”.

Bốn là, kiểm tra, giám sát và xử lý trách nhiệm trong công tác cán bộ của cấp ủy các cấp.

Đảng ta khẳng định, không kiểm tra, giám sát coi như không lãnh đạo. Vì vậy, để công tác cán bộ được thực hiện đúng với chủ trương, quy định, kết luận của Đảng, cấp ủy phải thực hiện nghiêm công tác kiểm tra, giám sát trong công tác cán bộ. Kiểm tra, giám sát không chỉ thực hiện khi có dấu hiệu vi phạm, mà cần kiểm tra, giám sát toàn bộ quá trình từ khi có dự thảo chủ trương, quy định, quy trình thực hiện về công tác cán bộ thì mới hiệu quả. Cấp ủy cấp trên trực tiếp và ủy ban kiểm tra cấp trên phải thường xuyên kiểm tra, giám sát chặt chẽ, với tinh thần, trách nhiệm, quyết tâm chính trị cao thì công tác kiểm tra, giám sát của Đảng nói chung và trong công tác cán bộ nói riêng mới bảo đảm hiệu lực, hiệu quả. Nếu không kiểm tra, giám sát thì sẽ khó khắc phục được tình trạng hình thức, né tránh, bao che, tồn tại “vùng cấm” trong công tác kiểm tra, giám sát.

Để ngăn ngừa, hạn chế, ngăn chặn hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, chạy chức, chạy quyền trong công tác cán bộ; trước hết, bản thân cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, đặc biệt là người đứng đầu, phải có nhận thức, trách nhiệm đúng về vai trò của cán bộ và công tác cán bộ; đồng thời, phải luôn xử lý hài hòa mâu thuẫn, bất đồng trong tập thể lãnh đạo, kết hợp thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong tập thể cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy. Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cùng cấp; phát huy vai trò làm chủ, giám sát của nhân dân, tăng cường vai trò phản ánh dư luận xã hội của báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đặc biệt là trong công tác cán bộ của Đảng.

Năm là, xử lý nghiêm hành vi chạy chức, chạy quyền, tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ.

Tình trạng chạy chức, chạy quyền, tiêu cực hiện nay vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi triệt để; mặc dù Quy định số
205-QĐ/TW, ngày 23-9-2019, của Bộ Chính trị, “Về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền” và hiện nay là Quy định số 114-QĐ/TW, ngày 11-7-2023, của Bộ Chính trị, “Về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ” chỉ ra rất rõ hành vi chạy chức, chạy quyền, lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn và các hành vi tiêu cực khác; nhưng việc thực hiện quy định này trong thực tiễn vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, yêu cầu đặt ra cấp thiết hiện nay là làm rõ trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân. Nếu phát hiện vi phạm của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên thì phải xử lý đúng quy định để răn đe, ngăn chặn tình trạng chạy chức, chạy quyền, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền, lộng quyền hoặc không thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và những việc phải làm trên cương vị được giao trong công tác cán bộ; qua đó, giữ được kỷ luật của Đảng, đẩy lùi vi phạm, xây dựng được đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất và năng lực để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là “một việc làm cần thiết, tất yếu; một xu thế không thể đảo ngược”(8); tuy nhiên, đây là công việc không thể chỉ làm một lần là xong, mà phải làm rất kiên quyết, kiên trì, bền bỉ; làm thường xuyên, liên tục, làm đi làm lại nhiều lần, đòi hỏi quyết tâm rất lớn, thống nhất rất cao, biện pháp thực hiện quyết liệt. Vì vậy, tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, phòng, chống hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, hành vi chạy chức, chạy quyền là một trong những giải pháp để lựa chọn được đội ngũ cán bộ xứng đáng, có năng lực xây dựng đường lối, cương lĩnh, nghị quyết và cụ thể hóa một cách hiệu quả thông qua hệ thống chính trị. Đây là nhiệm vụ then chốt để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong giai đoạn mới.

Sáu là, khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám làm vì lợi ích chung trong công tác cán bộ.

Bên cạnh thực thi cơ chế phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, trong công tác cán bộ thì việc xây dựng, hoàn thiện cơ chế khuyến khích và bảo vệ cán bộ vì sự nghiệp chung của Đảng và của dân tộc có vai trò quan trọng. Vì vậy, trong công tác cán bộ, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế để tập thể cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy trực tiếp quyết định và chịu trách nhiệm trước quyết định của mình, nhằm lựa chọn đúng người, bố trí đúng việc vì lợi ích chung. Trong lịch sử cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng lựa chọn, bố trí cán bộ là người thực sự có năng lực công tác, có phẩm chất đạo đức tốt, không ngừng nỗ lực phấn đấu, học hỏi, trưởng thành dần trong công việc, nhưng bằng cấp không cao, hoặc chưa có bằng cấp. Đặc biệt là, cán bộ do Bác Hồ lựa chọn đã thể hiện được tài năng của mình để cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

Bảy là, thực hiện kiểm soát tốt việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ.

Thực hiện Nghị định số 130/2020/NĐ-CP, ngày 30-10-2020, của Chính phủ, “Về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị”, trong những năm vừa qua, việc kê khai, xác minh tài sản, thu nhập đã được thực hiện nghiêm túc, góp phần không nhỏ vào việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Tuy nhiên, quá trình kê khai, xác minh tài sản, thu nhập vẫn còn không ít bất cập; theo báo cáo công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực năm 2023 của Chính phủ gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội: “Về thực hiện các quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập, trong kỳ đã có 60.458 người kê khai tài sản, thu nhập lần đầu; 545.535 người đã kê khai tài sản, thu nhập hằng năm; 44.015 người đã kê khai tài sản, thu nhập bổ sung; 161.928 người kê khai tài sản, thu nhập phục vụ công tác cán bộ; 655.299 người đã được công khai bản kê khai tài sản, thu nhập. Kết quả xác minh tài sản, thu nhập năm 2022 là 13.093 người; có 2.664 người có sai sót về kê khai sai mẫu, chưa bảo đảm theo hướng dẫn, không đầy đủ thông tin, chậm thời hạn so với quy định...; có 54 người bị xử lý do không trung thực trong việc kê khai tài sản, thu nhập và giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm(9).

Để tiếp tục thực hiện tốt hơn việc kiểm soát kê khai tài sản, thu nhập, cần lưu ý các vấn đề sau:

Thứ nhất, thực hiện kiểm soát thu nhập theo Luật Thuế thu nhập cá nhân và quy định kê khai tài sản, thu nhập. Việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ cần được kiểm soát chặt chẽ, đúng mức; các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan quản lý cán bộ, công chức, viên chức có cơ chế giải trình, kiểm tra, xác minh để bảo đảm việc kê khai tài sản, thu nhập được tiến hành một cách công khai, minh bạch, trung thực. Ngoài việc kiểm soát thu nhập thông qua thuế thì cần thực hiện nghiêm túc việc giải trình nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm, gắn với việc xác minh tính hợp pháp của tài sản, thu nhập tăng thêm, trường hợp không chứng minh được sẽ bị thu hồi.

Thứ hai, theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng, nhiều cơ quan, tổ chức, bao gồm Thanh tra Chính phủ, thanh tra tỉnh, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan giúp Ủy ban Thường vụ Quốc hội về công tác đại biểu, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội, có trách nhiệm kiểm soát tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai. Để bảo đảm sự thống nhất, tránh tình trạng chồng chéo thẩm quyền, cần tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan có thẩm quyền của Đảng với cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập trong bộ máy nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.

Thứ ba, theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng thì trách nhiệm xây dựng, quản lý, khai thác và bảo vệ cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập thuộc về Thanh tra Chính phủ. Các cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập khác cũng có trách nhiệm xây dựng, quản lý, khai thác và bảo vệ cơ sở dữ liệu về kiểm soát tài sản, thu nhập trong phạm vi quản lý của mình. Vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu để có sự quản lý thống nhất đối với cơ sở dữ liệu về kiểm soát tài sản, thu nhập./.

------------------------

Xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy hệ thống chính trị Việt Nam “Tinh - Gọn - Mạnh - Hiệu năng - Hiệu lực - Hiệu quả” theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh PGS, TS Phạm Minh Tuấn

 TCCS - Để tiến vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, một trong những “nhiệm vụ đặc biệt quan trọng”, “rất cấp bách, bắt buộc phải làm” là thực hiện “cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị”(1). Việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng tổ chức bộ máy hệ thống chính trị có ý nghĩa quan trọng để thực hiện nhiệm vụ tinh gọn bộ máy “rất khó” nhưng “không thể chậm trễ hơn được nữa”.

Tổng Bí thư Tô Lâm xem giới thiệu các ứng dụng chuyển đổi số trong các cơ quan đảng khi dự Hội nghị tổng kết công tác năm 2024 và triển khai nhiệm vụ công tác 2025 của Văn phòng Trung ương Đảng_Ảnh: TTXVN

Bộ máy phải tinh gọn để “làm được nhiều việc ích lợi cho nhân dân”

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, lãnh đạo, rèn luyện và để lại dấu ấn sâu đậm trong quá trình hình thành và phát triển tổ chức bộ máy hệ thống chính trị Việt Nam. Bề dày thực tiễn kết tinh nên hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, trong đó nổi bật là những chỉ dẫn về “tinh gọn” để bộ máy mạnh mẽ và sáng suốt, “làm được nhiều việc ích lợi cho nhân dân”.

Tinh gọn bộ máy không phải là một sách lược chính trị, cách thức cải tiến tổ chức tạm thời mà là công việc thường xuyên, có tính quy luật để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể. Sự quan tâm liên tục của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho thấy ý nghĩa chiến lược của xây dựng bộ máy tinh gọn đối với hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị; qua đó, tác động to lớn đến tiến trình vận động và phát triển của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Bộ máy phải tinh gọn là yêu cầu có tính nguyên tắc được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhất quán nhấn mạnh trong toàn bộ quá trình hơn hai thập niên trực tiếp lãnh đạo xây dựng hệ thống chính trị của chế độ dân chủ cộng hòa. Ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, yêu cầu bộ máy phải tinh gọn thể hiện gián tiếp qua những đề cập rất chi tiết của Người về cách tổ chức, hoạt động của chính quyền trong một số bài viết(2). Trong thời gian dài sau đó, trên cương vị người đứng đầu Đảng và Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh yêu cầu: “Cần chỉnh đốn và kiện toàn bộ máy từ trên xuống dưới làm cho nó gọn gàng, hợp lý…”(3). Tư tưởng và thực tiễn đó khẳng định tính chất to lớn, quan trọng, lâu dài, có ý nghĩa chiến lược của việc tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị.

Nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của hoạt động tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị. “Nước ta là nước dân chủ,… Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên”; “Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch một nước đều là phân công làm đày tớ cho dân”(4). Do vậy, “Chính phủ và Đảng… bất kỳ việc gì cũng vì lợi ích của nhân dân mà làm…”(5). Tinh gọn bộ máy để nhân dân bớt gánh nặng “nuôi” hệ thống chính trị, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả để “làm được nhiều việc ích lợi cho nhân dân”. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “Thực hành chấn chỉnh biên chế, để bớt sự đóng góp cho dân và thêm lực lượng vào công việc tăng gia sản xuất”(6). Những nội dung này phản ánh quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò động lực của nhân dân. Tinh gọn bộ máy không phải từ nhu cầu lợi ích tự thân của riêng hệ thống chính trị, mà cội nguồn khởi phát và thúc đẩy hoạt động tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị là nhu cầu của nhân dân với tư cách là chủ và làm chủ; là sự tham gia vào xây dựng tổ chức bộ máy của chế độ mới; là sự giám sát và tiếng nói phản ánh, phê bình của nhân dân đối với các tổ chức, cá nhân trong hệ thống chính trị. Dựa vào dân là bài học thắng lợi của xây dựng tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.

Nhận diện và giải quyết tốt vấn đề lợi ích là yếu quyết để tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng lợi ích chung, song cũng quan tâm đến lợi ích riêng của mỗi cơ quan và cá nhân trong hệ thống chính trị. Người phát huy triệt để sự tương đồng, thống nhất; lợi ích của nội bộ hệ thống chính trị và lợi ích của nhân dân chẳng những không khác biệt, mâu thuẫn, mà còn hòa quyện thống nhất, bởi: “…không có cái lợi ích nào của Đảng mà không phải là lợi ích của nhân dân, hay ngược lại không có lợi ích nào của nhân dân mà không phải là lợi ích của Đảng”(7). Lợi ích của cơ quan, đơn vị trong bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn là “gọn gàng, hợp lý, ít tốn người tốn của”; “mọi người đều có công việc thiết thực”(8). Tinh gọn bộ máy là động lực thúc đẩy mỗi cán bộ nỗ lực vươn lên “thi đua nâng cao năng suất của mình”(9), đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển chung. Vươn lên phát triển là lợi ích to lớn mà hoạt động tinh gọn tổ chức bộ máy mang lại cho mỗi cơ quan, đơn vị và cá nhân trong hệ thống chính trị. Tinh gọn tổ chức bộ máy mang lại lợi ích chung cho đất nước và nhân dân thông qua mang lại lợi ích phát triển cho mỗi cá nhân và đơn vị trong hệ thống chính trị. 

Tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị là quá trình thực hiện đồng bộ giữa xây và chống. Chủ tịch Hồ Chí Minh xem tinh gọn bộ máy là quá trình “chỉnh đốn và kiện toàn”. Động lực chủ yếu của xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn là ngăn chặn, phòng trừ các nguy cơ, biểu hiện quan liêu, tiêu cực, xa dân gây ảnh hưởng đến bản chất quyền lực thuộc về nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc đến những biểu hiện tiêu cực này để khẳng định yêu cầu phải tinh gọn tổ chức bộ máy: “Từ các bộ, các ngành và các địa phương, bộ máy đều quá cồng kềnh và càng ngày càng phình ra. Vì vậy mà sinh ra quan liêu, lãng phí”(10); “bộ máy cồng kềnh, nhiều giấy tờ, hình thức... Từ cấp trên xuống cấp dưới, công việc chậm trễ, nhiều khi không ăn khớp. Chúng ta phải sửa chữa các khuyết điểm kể trên, coi trọng và thật sự kiện toàn chính quyền dân chủ nhân dân về các mặt công tác, tổ chức, cán bộ”(11). Kết quả của quá trình chỉnh đốn này là bộ máy được thiết kế và vận hành “gọn gàng, hợp lý, ít tốn người tốn của mà làm được nhiều việc ích lợi cho nhân dân”. Tóm lại, tinh gọn tổ chức bộ máy là “một cuộc sửa chữa, lau chùi, thêm dầu mỡ, thau nước… làm cho bộ máy ấy chạy nhanh hơn, đều hơn, để đi mau đến thắng lợi hoàn toàn”(12).

Việc bảo đảm tính hệ thống, tính kế thừa trong một chỉnh thể thống nhất vừa là yêu cầu, vừa là mục đích của tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh, bộ máy là một chỉnh thể với sự phân công và phối hợp thông suốt: “Một bộ máy là do nhiều thứ máy to nhỏ lắp lại. Các máy ấy đều ăn khớp với nhau, thì bộ máy tốt và sản xuất nhiều. Nếu chỉ một cái máy nhỏ không ăn khớp, thì cũng đã ảnh hưởng xấu đến toàn cả bộ máy”(13). Tinh gọn bộ máy không phải là phá vỡ hệ thống, không phải là “đập đi xây mới” hoàn toàn theo nghĩa phủ định sạch trơn. Người nhấn mạnh: “chỉnh đốn và kiện toàn” là càng để nâng cao tính thống nhất, bảo đảm cho “các máy ấy đều ăn khớp với nhau”. Theo Người, cách mạng là bỏ cái cũ tạo ra cái mới với điều kiện cái cũ lạc hậu, lỗi thời, không còn phù hợp và cái mới thì tiến bộ, phù hợp. Với tinh thần đó, phương châm thể hiện trong thực tiễn lãnh đạo xây dựng tổ chức máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là trên cơ sở cái đã có những gì tốt, phù hợp thì giữ và phát huy, bộ phận nào kềnh càng, không phù hợp, lãng phí thì sắp xếp.

Tính toàn diện được thể hiện rõ nét trong tư tưởng và thực tiễn Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, trên hai khía cạnh chủ yếu. Về nội dung, hệ thống chính trị phải được tinh gọn cả về bộ máy và nhân sự. Tiến hành sắp xếp, bố trí cơ quan, đơn vị trong hệ thống sao phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước. Trước câu hỏi “Sao bây giờ lại chỉ có 10 bộ?”, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời: “Vì nước mình nhỏ nên không cần nhiều bộ”(14). Nhận thấy “từ các bộ, các ngành và các địa phương, bộ máy đều quá cồng kềnh và càng ngày càng phình ra”, Người kiên quyết yêu cầu phải sắp xếp lại cho gọn gàng và hợp lý hơn. Về nhân sự, tiến hành sắp xếp và tinh giản. Căn cứ vào việc để sắp xếp, điều chuyển nhân sự sao “cho gọn gàng, hợp lý, mọi người đều có công việc thiết thực, những người thừa phải đưa đi chỗ thiếu”. Về nhân sự, “thực hành chấn chỉnh biên chế, để bớt sự đóng góp cho dân và thêm lực lượng vào công việc tăng gia sản xuất”(15). Theo Người, tinh giản là “nâng cao năng suất, giảm bớt số người”: “tinh là đưa năng suất lên cao, làm cho mau cho tốt, giản là vừa phải, không kềnh càng, tránh hình thức”. Mặt khác, tinh gọn tổ chức bộ máy phải được thực hiện cả từ trên xuống lẫn từ dưới lên với sự tham gia của toàn bộ hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chấn chỉnh bộ máy chính quyền từ dưới lên trên, bắt đầu từ xã; dưới làm lên trên, trên làm xuống dưới, tự nhiên mọi việc sẽ thành”(16); “các địa phương sẽ thi đua với nhau, Trung ương sẽ thi đua với địa phương, làm cho bộ máy ấy chạy nhanh hơn, đều hơn, để đi mau đến thắng lợi hoàn toàn”(17). Đó là tính toàn diện trong quan điểm về lực lượng và phương thức thực hiện tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị.

Đạo đức cách mạng là “sức mạnh” để tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, gốc tích của bộ máy kềnh càng là do chủ nghĩa cá nhân: “Do chủ nghĩa cá nhân mà sinh ra bệnh quan liêu. Kềnh càng. Kiêu ngạo. Chậm chạp. Làm cho qua chuyện. Ham chuộng hình thức”(18). Bệnh bè phái, cục bộ địa phương, trưng diện hình thức, phô trương lãng phí cũng được nhắc đến như là nguyên nhân dẫn đến biên chế phình to quá mức so với yêu cầu thực tế: “Những cơ quan tổ chức kềnh càng không hợp lý, việc ít người nhiều, tốn kém cho công quỹ một cách vô ích. Hoặc ham chuộng hình thức, trưng diện cho sang, phô trương, lãng phí”(19). Trở lực lớn nhất ngăn cản tinh gọn tổ chức bộ máy là chủ nghĩa cá nhân. Sức mạnh nền tảng để “quét sạch chủ nghĩa cá nhân” là tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, nêu cao tinh thần chí công vô tư, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng. Chỉnh đốn và kiện toàn bộ máy “phải gột rửa sạch những bệnh quan liêu, mệnh lệnh, hình thức, phải luôn luôn đi sát với quần chúng, phải thực hành cần, kiệm, liêm, chính”(20). Xét cho cùng, tinh gọn tổ chức bộ máy cũng chính là quá trình tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng “dĩ công vi thượng” của đội ngũ cán bộ, đảng viên. 

Cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “không thể chậm trễ hơn được nữa”

Các thành tố của hệ thống chính trị Việt Nam được hình thành và phát triển gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Do vậy, trong giai đoạn đầu, tổ chức bộ máy mang những đặc điểm của hệ thống chính trị trong điều kiện vừa kháng chiến vừa kiến quốc, mang đậm nét của bộ máy “chuyên chính vô sản”. Trong thời kỳ đổi mới, hệ thống chính trị được đổi mới xây dựng gắn liền với sự vận động, phát triển của đất nước: “Hệ thống tổ chức của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội được đổi mới; chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của từng tổ chức được phân định, điều chỉnh hợp lý hơn, từng bước đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hệ thống chính trị cơ bản ổn định, phù hợp với Cương lĩnh và Hiến pháp; bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần quan trọng vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(21). Tuy nhiên sau gần 40 năm đổi mới, “tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ… gây lãng phí và kìm hãm sự phát triển, là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều chủ trương, chính sách của Đảng chậm đi vào thực tiễn cuộc sống hoặc một số chủ trương không được triển khai hoặc triển khai hình thức trên thực tế”(22)

Sự nghiệp đổi mới mang lại cho đất nước cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế chưa bao giờ có được như hiện nay. Đó là nền tảng để đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược hướng tới kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng (trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao) và 100 thành lập nước (trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao). Một trong bảy định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc được Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ là tinh gọn tổ chức bộ máy để hệ thống chính trị mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.

Nhận thấy tầm quan trọng của xây dựng, kiện toàn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị, Đảng ban hành nhiều nghị quyết, kết luận để lãnh đạo thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tuy nhiên, “So với những thay đổi to lớn của đất nước sau 40 năm đổi mới, sự phát triển của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và những thành tựu khoa học - công nghệ; tổ chức bộ máy hệ thống chính trị nước ta tuy đã được đổi mới ở một số bộ phận, nhưng cơ bản vẫn theo mô hình được thiết kế từ hàng chục năm trước, nhiều vấn đề không còn phù hợp với điều kiện mới là trái với quy luật phát triển”(23)

Đất nước đang đứng trước kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. “Những tồn tại, hạn chế, sự chậm chạp, thiếu quyết liệt trong thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị gây ra nhiều hệ luỵ nghiêm trọng”, dẫn đến cản trở, làm lỡ thời cơ phát triển của đất nước(24). Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Thời điểm 100 năm đất nước ta dưới sự lãnh đạo Đảng và 100 năm thành lập nước không còn xa, để đạt được các mục tiêu chiến lược, không chỉ đòi hỏi những nỗ lực phi thường, những cố gắng vượt bậc, mà còn không cho phép chúng ta chậm trễ, lơi lỏng, thiếu chính xác, thiếu đồng bộ, thiếu nhịp nhàng trên từng bước đi; muốn vậy cần khẩn trương thực hiện cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị”(25); càng làm sớm càng có lợi cho dân, cho nước, không thể chậm trễ hơn được nữa.

Đồng chí Lê Minh Hưng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương cùng các đồng chí lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh trao đổi với các cử tri xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh_Nguồn: baohatinh.vn

Những giải pháp từ chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tư tưởng và thực tiễn lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy hệ thống chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại những chỉ dẫn quan trọng, có giá trị nền tảng định hướng cho cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, bao gồm: 

Một là, nêu cao và phát huy sức mạnh của đạo đức cách mạng, giải quyết tốt vấn đề lợi ích.

Trước sự khó khăn, phức tạp của cuộc đấu tranh cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(26). Cách mạng tinh gọn về tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “thực sự là vấn đề khó, thậm chí rất khó” bởi liên quan đến lợi ích của nhiều cơ quan, đơn vị và cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại chỉ dẫn rất quan trọng: Gốc rễ của bộ máy kềnh càng, biên chế phình to là chủ nghĩa cá nhân - “việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết... chỉ muốn “mọi người vì mình”(27). Trở lực chính của cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị hiện nay cũng là chủ nghĩa cá nhân. Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân sẽ triệt tiêu “điểm nghẽn” chính của cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy. “Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”(28). Vận dụng chỉ dẫn đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh phẩm chất đạo đức dĩ công vi thượng: “tất cả vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, sớm sánh vai với các cường quốc năm châu”(29)

Cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị nhất định phải gắn liền với quá trình tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Nêu cao tinh thần chí công vô tư, đặt lợi ích của đất nước và nhân dân lên trên lợi ích riêng của từng bộ phận, cá nhân với tinh thần khẩn trương “càng làm sớm càng có lợi cho dân, cho nước” như chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm. Tuy nhiên, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không có nghĩa là xóa bỏ lợi ích cá nhân chính đáng. Mỗi cơ quan, đơn vị phải thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động có thể bị ảnh hưởng do sắp xếp lại tổ chức, bộ máy theo tinh thần minh bạch, khách quan, kịp thời.

Hai là, huy động và tổ chức tốt lực lượng thực hiện.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “chúng ta tất cả mọi người, bất kỳ ở một chức vụ nào, cao hay thấp, to hay nhỏ, tất cả mọi người làm thành một bộ máy”(30); do vậy, xây dựng tổ chức bộ máy là việc chung của tất cả. Hồ Chí Minh yêu cầu “các địa phương sẽ thi đua với nhau, Trung ương sẽ thi đua với địa phương, làm cho bộ máy ấy chạy nhanh hơn, đều hơn, để đi mau đến thắng lợi hoàn toàn”(31). Sức mạnh tổng hợp của hệ thống là yếu tố quyết định đến thực hiện chấn chỉnh và kiện toàn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị “gọn gàng, hợp lý, ít tốn người tốn của mà làm được nhiều việc ích lợi cho nhân dân”.

Cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy hiện nay phải bảo đảm sự tham gia thực hiện của toàn hệ thống chính trị. Nêu cao tinh thần triệt để chấp hành, chỉ bàn làm, không bàn lùi; khẩn trương thực hiện, không trông chờ. Huy động được sức mạnh của toàn hệ thống, tổ chức phát động cao điểm thi đua giữa các cơ quan, đơn vị, giữa các địa phương, giữa Trung ương và địa phương. Tổng Bí thư Tô Lâm đưa ra yêu cầu: “đề nghị các cấp, các ngành từ Trung ương tới cơ sở phải xác định quyết tâm chính trị cao nhất trong thực hiện chủ trương này... Các đồng chí cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu cấp ủy, cơ quan cần gương mẫu, chủ động, quyết liệt trong thực hiện nhiệm vụ được giao theo tinh thần “vừa chạy vừa xếp hàng”; “Trung ương không chờ cấp tỉnh, cấp tỉnh không chờ cấp huyện, cấp huyện không chờ cơ sở”; “Trung ương làm gương, địa phương hưởng ứng”. Từng cấp, từng ngành bám sát kế hoạch để tổng kết và đề xuất mô hình cơ quan, đơn vị mình bảo đảm đúng tiến độ”(32).

Dựa vào nhân dân để tiến hành cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Toàn bộ hệ thống chính trị, nhất là các quan báo chí, truyền thông, phải đẩy mạnh tuyên truyền rõ mục tiêu tinh gọn bộ máy để nhận được sự đồng thuận, ủng hộ của nhân dân. Hiện nay, đông đảo nhân dân đang ủng hộ, hưởng ứng chủ trương của Đảng, tạo nên động lực tinh thần to lớn cổ vũ thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy. Bên cạnh đó, cần quan tâm chăm lo và phát huy vai trò của gia đình cán bộ, công chức chịu ảnh hưởng của công cuộc tinh gọn tổ chức bộ máy, sớm ổn định cuộc sống.  

Ba là, giải quyết tốt mối quan hệ giữa đổi mới với kế thừa, ổn định và phát triển, giữa sắp xếp bộ máy và tinh giản biên chế.

Cách mạng luôn là quá trình không ngừng đổi mới phát triển trên nền tảng kế thừa các giá trị đã được xác lập. Từ thực tiễn lãnh đạo xây dựng bộ máy tinh gọn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết: phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa đổi mới và kế thừa, nghĩa là giữa những cái đã có với cái mới. Tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị là một cuộc cách mạng, do vậy phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa đổi mới và kế thừa. Tinh thần được Tổng Bí thư Tô Lâm nêu cao là quyết liệt, mạnh mẽ phải gắn liền với thận trọng, chắc chắn, giữ vững nguyên tắc, vì vậy cần chú trọng: Chỉ kết thúc hoạt động, điều chuyển, sắp xếp những vị trí chồng chéo về chức năng nhiệm vụ, chia cắt về địa bàn, các tầng nấc trung gian; các vị trí đang phù hợp và phát huy tốt thì giữ và nâng chất; chỉ thành lập mới các cơ quan, đơn vị khi thật sự cần thiết; gắn chặt chẽ giữa sắp xếp bộ máy với tinh giản biên chế; thực hiện phương châm sắp xếp bộ máy trước, điều chỉnh biên chế gắn với sắp xếp. Tinh giản biên chế theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là giảm số lượng nhưng tăng năng suất. Thực hiện tốt việc đánh giá cán bộ để “giản” đúng đối tượng, từ đó giúp “giản” nhưng bộ máy phải tinh. Kiểm tra, giám sát chặt chẽ và xử lý nghiêm minh những biểu hiện bè phái, cánh hẩu, cục bộ loại trừ người có năng lực để giữ người kém dẫn đến biên chế bộ máy gọn nhưng không tinh. Ban chỉ đạo ở mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương phải chịu trách nhiệm trước các yếu kém, sai phạm, tiêu cực trong thực hiện tinh gọn bộ máy.

Bốn là, tinh gọn tổ chức bộ máy gắn liền với hoàn thiện thể chế hệ thống chính trị.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc đến sự phân công và phối hợp như là nền tảng hình thành bộ máy, là điều kiện để xây dựng tổ chức bộ máy tinh gọn. Việc tiến hành cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị phải gắn liền với hoàn thiện thể chế tương ứng. Phát huy trí tuệ của toàn hệ thống chính trị và nhân dân để sớm xây dựng được khung thể chế mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị Việt Nam, đáp ứng được những yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới. Rà soát lại toàn bộ các quy định hiện có để ban hành mới, điều chỉnh, bổ sung các quy định phù hợp với mô hình sắp xếp mới. “Tập trung hoàn thiện pháp luật về tổ chức, hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị, gắn với tinh thần đẩy mạnh phân cấp, phân quyền với phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, Trung ương, Chính phủ, Quốc hội tăng cường hoàn thiện thể chế, giữ vai trò kiến tạo và tăng cường kiểm tra, giám sát và cải cách tối đa thủ tục hành chính, giảm chi phí, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân và doanh nghiệp. Quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong bộ máy nhà nước, bảo đảm sự phân biệt rõ cấp ban hành chủ trương, chính sách, pháp luật với cấp tổ chức thực hiện”(33).

Thời cơ vươn mình của dân tộc đòi hỏi phải khẩn trương thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, không chỉ phải chủ động, quyết liệt theo tinh thần “vừa chạy vừa xếp hàng”, mà còn phải chắc chắn và hiệu quả. Càng đứng trước “vấn đề khó, thậm chí rất khó” càng phải thấm nhuần những bài học sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này./.

--------------------------------

Tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong bối cảnh mới

 TCCS - Tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là một trong những nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, luôn được Đảng ta coi trọng và xác định là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của Đảng, là trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên. Đây là quan điểm, chủ trương cần được quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện có hiệu quả trong thực tiễn, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ cách mạng; giữ vững và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Tổng Bí thư Tô Lâm với nhân dân tỉnh Bắc Ninh_Ảnh: TTXVN 

Nhận thức chung về vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên

Sự cần thiết xây dựng tổ chức cơ sở đảng

Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: “Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở”(1). Quan điểm về vị trí, vai trò của tổ chức đảng cơ sở, được C. Mác và Ph. Ăng-ghen đưa vào điều 5 Điều lệ “Liên đoàn những người cộng sản” năm 1847 - Đảng cộng sản đầu tiên trên thế giới. Hai ông nêu rõ, để thực hiện sứ mệnh, mục tiêu của mình, Đảng cần đến một hệ thống tổ chức rộng khắp, chặt chẽ, đủ sức mạnh để tập hợp, dẫn dắt phong trào cách mạng. C. Mác viết: “Về cơ cấu, Liên đoàn gồm chi bộ, khu bộ, tổng khu bộ, Ban Chấp hành Trung ương và đại hội”(2). Theo đó, hệ thống tổ chức của Đảng được thiết lập từ Trung ương đến địa phương với thứ bậc và thẩm quyền rõ ràng. Chi bộ (tổ chức cơ sở nền tảng của Liên đoàn): Được lập ở các địa phương, các thành phố, khu vực có đông công nhân; quy định chặt chẽ về hệ thống tổ chức của Đảng, là cơ sở bảo đảm cho Đảng tồn tại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả.

Trên cơ sở những luận điểm cơ bản C. Mác, Ph. Ăng-ghen về Đảng và xây dựng tổ chức đảng được tổng kết từ thực tiễn của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trước sự tấn công liên tục của kẻ thù, V.I. Lê-nin đã tiếp tục đấu tranh bảo vệ tư tưởng của C. Mác, Ph. Ăng-ghen và phát triển hoàn thiện, xây dựng thành học thuyết về đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. Theo V.I. Lê-nin, việc xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng trở thành hạt nhân chính trị lãnh đạo thực hiện đường lối của Đảng ở cơ sở; nơi trực tiếp giáo dục, rèn luyện, quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên; liên hệ chặt chẽ với quần chúng và lãnh đạo quần chúng thực hiện lý tưởng của Đảng, là công việc thường xuyên, liên tục. Trong tác phẩm Làm gì? V.I. Lê-nin dạy rằng, để sự nghiệp cách mạng thành công “đòi hỏi phải có cho toàn nước Nga một tổ chức thống nhất gồm những người cách mạng, một tổ chức có khả năng đảm nhiệm việc lãnh đạo các tổ chức nghiệp đoàn của công nhân trong phạm vi toàn Nga”(3). Đặc biệt, khi đề cập đến việc thành lập tổ chức đảng ở các công xưởng, nhà máy, các địa phương, V.I. Lê-nin chỉ rõ: “Ở tất cả các tổ chức, các hội, các hiệp hội, không trừ một loại nào... phải tổ chức những tiểu tổ hay những chi bộ Cộng sản... những chi bộ ấy liên hệ chặt chẽ với nhau và với Trung ương Đảng”(4). Người yêu cầu, sau khi thành lập, các chi bộ phải thực hiện cổ động, tuyên truyền,... thích nghi với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, với mọi tầng lớp quần chúng lao động; giáo dục đội tiên phong của giai cấp vô sản đủ sức nắm chính quyền và dẫn dắt toàn dân tiến lên chủ nghĩa xã hội; qua thực tiễn ở cơ sở để kiểm nghiệm chủ trương, đường lối và bổ sung, phát triển đường lối của Đảng, nhiệm vụ chính trị của các tổ chức đảng.

Vận dụng sáng tạo quan điểm, tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về xây dựng Đảng và trong thực tiễn sáng lập, rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh. Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”(5). Qua thực tiễn lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy rằng: “Chi bộ là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt”(6); Người viết: “Muốn làm nhà cho tốt thì phải xây dựng nền cho vững, muốn thực hiện kế hoạch tốt phải chăm lo củng cố chi bộ”(7). Các chi bộ, đảng bộ cơ sở là “tổ chức cơ bản của Đảng”; là hạt nhân chính trị ở cơ sở; là “dây chuyền” để Đảng liên hệ với nhân dân. Tổ chức cơ sở đảng là nơi tiến hành các hoạt động giáo dục, rèn luyện đảng viên, phân công công việc cho đảng viên, kiểm tra và quản lý đảng viên; là nơi đào tạo, rèn luyện cán bộ của Đảng. Điều đó cho thấy, chi bộ, đảng bộ cơ sở có vai trò rất quan trọng là nơi trực tiếp nắm bắt tâm tư nguyện vọng của nhân dân phản ánh với Đảng, để Đảng đề ra đường lối, chính sách đúng đắn, hợp lòng dân, định hướng hoạt động và uốn nắn những lệch lạc của các tổ chức, đoàn thể ở cơ sở.

Hoạt động của chi bộ, đảng bộ cơ sở có ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín, thanh danh của Đảng trong nhân dân. Người chỉ rõ, chi bộ tốt thì “kinh qua chi bộ mà Đảng càng được dân tin, dân phục, dân yêu”(8). Tổ chức cơ sở đảng thực hiện đưa đường lối, chính sách của Đảng vào nhân dân, tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân hiểu và lãnh đạo nhân dân thực hiện. Tổ chức cơ sở đảng còn là nơi kiểm nghiệm, khẳng định sự đúng đắn của đường lối, chính sách của Đảng, đóng góp cho Đảng những sáng kiến, kinh nghiệm để Đảng bổ sung, hoàn chỉnh đường lối, chính sách và đề ra chủ trương, chính sách mới. Chất lượng của chi bộ, đảng bộ cơ sở là một trong những yếu tố quyết định năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Thực tế cho thấy, chỗ nào chi bộ tốt công việc trôi chảy, chỗ nào chi bộ kém, công việc xộc xệch”(9); như vậy, muốn thực hiện tốt đường lối của Đảng phải chăm lo củng cố chi bộ. Chi bộ tốt thì mọi chủ trương, chính sách của Đảng mới được thi hành tốt, mọi công việc sẽ tiến bộ không ngừng; nếu chi bộ yếu kém thì các chủ trương, đường lối của Đảng không đi được vào cuộc sống.

Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của tổ chức cơ sở đảng trong quá trình xây dựng Đảng và lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã bổ sung, phát triển những điểm mới, nhất quán khẳng định trong các văn kiện của Đảng qua các kỳ đại hội: Sự vững mạnh của các tổ chức cơ sở đảng là điều kiện bảo đảm cho sự vững mạnh của toàn Đảng. Đảng ta chỉ rõ nhiệm vụ, xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Trong công cuộc đổi mới, Đảng tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò to lớn của tổ chức cơ sở đảng: “Những thành tựu đã đạt được, những tiềm năng được khai thác, những kinh nghiệm có giá trị đều bắt nguồn từ sự nỗ lực phấn đấu của quần chúng ở cơ sở mà hạt nhân là tổ chức đảng. Nhưng mặt khác sự yếu kém của nhiều tổ chức cơ sở đảng đã hạn chế những thành tựu của cách mạng”(10).

Sự cần thiết xây dựng đội ngũ đảng viên

Cùng với công tác xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng, việc nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là một trong những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng đối với tổ chức cơ sở đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng. Ngay từ khi chính đảng của giai cấp vô sản ra đời, khi nói về con người của tổ chức đảng, di sản lý luận về Đảng và xây dựng Đảng của C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã chỉ ra rằng, do yêu cầu lãnh đạo, tổ chức phong trào của đảng cộng sản, mà việc xây dựng tổ chức đảng phải chọn được những người tiên phong để xứng đáng với vai trò tiên phong của Đảng. Các ông yêu cầu, họ phải tiên phong trong hành động và tiên phong về lý luận. C. Mác viết: “Về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên; về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản”(11). Điều này cho thấy, năng lực, tính tiên phong của đảng viên là điều kiện bảo đảm tính tiên phong của Đảng; muốn vậy thì khâu kết nạp người vào Đảng phải được đặc biệt chú trọng.

C. Mác, Ph. Ăng-ghen chỉ rõ, muốn trở thành hội viên của Liên đoàn, những người cộng sản phải có: “a. Lối sống và hoạt động phù hợp với mục đích ấy; b. Nghị lực cách mạng và nhiệt tình trong công tác tuyên truyền; c. Thừa nhận chủ nghĩa cộng sản; d. Không tham gia vào mọi tổ chức - tổ chức chính trị hoặc tổ chức dân tộc - chống cộng sản và có nghĩa vụ báo cáo với cơ quan lãnh đạo hữu quan về việc mình tham gia một tổ chức nào đó; e. Phục tùng các nghị quyết của Liên đoàn; f. Giữ bí mật mọi công việc của Liên đoàn; g. Được một chi bộ nhất trí kết nạp. Ai không còn đủ những điều kiện ấy sẽ bị khai trừ”(12).

Kế thừa, phát triển tư tưởng của C. Mác, Ph. Ăng-ghen về xây dựng đội ngũ đảng viên của Đảng và hoàn thiện học thuyết về đảng kiểu mới của giai cấp công nhân trong điều kiện mới, V.I. Lê-nin đã chỉ ra rằng, chất lượng đội ngũ đảng viên là nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh của Đảng. Trong tác phẩm “Nhà nước của công nhân và Tuần lễ Đảng”, lãnh tụ V.I. Lê-nin yêu cầu cần “quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đảng viên, đến việc thanh trừ “bọn luồn lọt vào Đảng” ra khỏi hàng ngũ mình, chứ không phải là quan tâm làm tăng thêm số lượng đảng viên”(13); các chi bộ phải giáo dục đội tiên phong của giai cấp vô sản để họ đủ sức làm thầy, làm người dẫn đường, làm lãnh tụ của tất cả những người lao động.

Quán triệt, phát triển sáng tạo những luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về chất lượng đội ngũ đảng viên của tổ chức cơ sở đảng, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ tầm quan trọng của đảng viên. Người viết: “Mỗi đảng viên tốt, mỗi chi bộ tốt là Đảng được mạnh thêm một phần; đảng viên kém, chi bộ kém là những khâu yếu của Đảng”(14); “Đảng mạnh là do các chi bộ mạnh. Chi bộ mạnh là do các đảng viên hăng hái và gương mẫu”(15). Đảng viên là người đóng góp trí tuệ, sáng kiến góp phần xây dựng, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nhiệm vụ chính trị của tổ chức cơ sở đảng và trực tiếp thực hiện. Trong quá trình thực hiện, đảng viên là người trực tiếp góp phần quyết định đưa đường đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng vào cuộc sống.

Đồng thời, đội ngũ đảng viên còn góp phần kiểm nghiệm, khẳng định tính đúng đắn, phát hiện những điều chưa hợp lý trong đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nhiệm vụ chính trị của tổ chức cơ sở đảng để cấp có thẩm quyền bổ sung, làm cho đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng đúng đắn hơn, để cấp ủy cơ sở sửa chữa, điều chỉnh nhiệm vụ chính trị của cơ sở hoàn chỉnh hơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Mọi công việc đều do đảng viên làm. Mọi nghị quyết Đảng đều do đảng viên chấp hành… Mọi khẩu hiệu, mọi kế hoạch của Đảng đều do đảng viên cố gắng thực hiện”(15). Người dạy rằng, nếu không có đảng viên thì lý tưởng cộng sản cao đẹp, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nhiệm vụ chính trị đúng đắn của tổ chức cơ sở đảng sẽ không trở thành hiện thực. Mặt khác, đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng, nhiệm vụ chính trị đúng đắn của tổ chức cơ sở đảng là yếu tố rất quan trọng để đảng viên thực hiện đạt kết quả tốt, đảng viên trưởng thành, tiến bộ.

Đảng viên là “cầu nối” giữa Đảng với nhân dân, điều này được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đảng viên là “sợi dây chuyền để liên hệ Đảng với quần chúng”(17). Đảng viên là người đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng vào quần chúng, trực tiếp tổ chức, giáo dục và lãnh đạo quần chúng thực hiện. Họ là người duy trì và tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng. Người viết: “Mọi chính sách của Đảng đều do đảng viên mà thấu đến quần chúng”(18); “Mỗi đảng viên là một người thay mặt cho Đảng trước quần chúng, để giải thích chính sách của Đảng và của Chính phủ cho quần chúng hiểu rõ và vui lòng thi hành”(19)Một mặt, được Đảng tổ chức, giáo dục và đưa vào phong trào cách mạng, quần chúng sẽ trưởng thành, mối quan hệ giữa đảng viên và quần chúng ngày càng được tăng cường. Mặt khác, phong trào cách mạng của quần chúng là môi trường tốt nhất để giáo dục, rèn luyện đảng viên và sàng lọc đội ngũ đảng viên. Qua phong trào cách mạng của quần chúng, những đảng viên suy thoái, không đủ tư cách đảng viên, không đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị của tổ chức cơ sở đảng và yêu cầu của cách mạng sẽ bị đưa ra khỏi Đảng.

Nhận thức sâu sắc và bổ sung, phát triển quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của đảng viên, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên của tổ chức cơ sở đảng. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI đã khẳng định: "Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam(20). Điều quy định này cho thấy, Đảng là một cơ thể thống nhất, có tổ chức chặt chẽ, mỗi đảng viên là những “tế bào” tạo thành các tổ chức cơ sở đảng và tạo nên Đảng; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của từng tổ chức cơ sở đảng được quyết định chủ yếu bởi chất lượng của đội ngũ đảng viên của tổ chức cơ sở đảng; chất lượng của từng đảng viên và đội ngũ đảng viên là nhân tố quyết định đến năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và uy tín, thanh danh của Đảng trước nhân dân.

Công tác xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên hiện nay

Xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên có đủ phẩm chất và năng lực, đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong từng giai đoạn là nhiệm vụ thường xuyên của Đảng. Trong những năm qua, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo việc rà soát sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ công tác của các loại hình tổ chức cơ sở đảng, bảo đảm phù hợp với tiến trình đổi mới, sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên; phát huy tính tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân của cán bộ, đảng viên; tăng cường hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, củng cố và không ngừng nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng là nhiệm vụ cơ bản của công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, góp phần năng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.

Thực hiện các nghị quyết, kết luận, chỉ thị của Trung ương, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đã tập trung chỉ đạo cụ thể hóa, tổ chức thực hiện đạt kết quả nổi bật: Tổ chức cơ sở đảng tiếp tục được củng cố, kiện toàn và bổ sung chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở và gắn với xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cấp ủy viên, bí thư cấp ủy cơ sở được quan tâm; chất lượng sinh hoạt đảng, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, quản lý đảng viên, đánh giá, xếp loại tổ chức cơ sở đảng được coi trọng, bảo đảm khách quan, toàn diện. Nhiều tổ chức cơ sở đảng đã giữ vững và phát huy vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở; lãnh đạo cán bộ, đảng viên, nhân dân thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và sự chỉ đạo của cấp ủy cấp trên; thực hiện có kết quả nhiệm vụ chính trị và công tác chuyên môn của từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng được nâng lên, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Đội ngũ đảng viên tăng thêm về số lượng và chất lượng, trình độ, kiến thức các mặt được nâng lên, thể hiện rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định lý tưởng cách mạng trước những diễn biến phức tạp của tình hình trong nước và thế giới. Nhiều cấp ủy viên, cán bộ, đảng viên được rèn luyện, thử thách, trưởng thành qua thực tiễn công tác; thực hiện tốt vai trò, vị trí, nhiệm vụ của người đảng viên, gương mẫu thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chấp hành nghiêm túc các nguyên tắc trong tổ chức và sinh hoạt đảng; hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, trong đó nhiều đảng viên trẻ được đào tạo cơ bản, có đủ phẩm chất và năng lực, từng bước thích ứng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, “chất lượng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng còn hạn chế, chậm đổi mới phương thức lãnh đạo; chưa kịp thời sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc; thực hiện chưa nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; chất lượng sinh hoạt chi bộ, đảng bộ cơ sở, sinh hoạt cấp ủy, tinh thần tự phê bình và phê bình, công tác đánh giá, xếp loại còn hạn chế; chưa thể hiện rõ vai trò lãnh đạo của Đảng trong giải quyết những khó khăn, bức xúc của nhân dân ở cơ sở”(21); không ít tổ chức cơ sở đảng chưa thực sự phát huy hết vai trò là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, cầu nối giữa Ðảng với nhân dân, cũng như bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở. Mô hình tổ chức ở một số loại hình tổ chức cơ sở đảng còn bất cập, chậm được kiện toàn, sắp xếp. Xây dựng tổ chức cơ sở đảng khu vực ngoài nhà nước, nhất là doanh nghiệp tư nhân còn hạn chế, tỷ lệ có tổ chức đảng, đảng viên thấp, vai trò lãnh đạo mờ nhạt, lúng túng cả về nội dung và phương thức hoạt động. Một bộ phận đảng viên năng lực, trình độ, trách nhiệm chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, chưa làm tròn trách nhiệm của mình trước Đảng, Tổ quốc và nhân dân; một số đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu bản lĩnh chính trị; suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, vi phạm nguyên tắc, kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Hiện nay, trước những khó khăn, thách thức do tình hình chính trị, an ninh thế giới và khu vực có những biến đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường; mặt trái của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; sự chống phá quyết liệt, ngày càng tinh vi của các thế lực thù địch đối với Đảng, Nhà nước; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, đã ảnh hưởng tiêu cực đến các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong bối cảnh đó, chúng ta cần tiếp tục khẳng định vai trò, ý nghĩa quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nhất là các cấp ủy, tổ chức đảng phải thường xuyên tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh; nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên của tổ chức cơ sở đảng để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng mới, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng.

Ngoài việc duy trì nghiêm nền nếp chế độ sinh hoạt định kỳ, Chi bộ Tàu Trường Sa 16, Hải đội 1, Lữ đoàn 125, Vùng 2 Hải quân thực hiện tốt chế độ sinh hoạt chuyên đề theo đúng quy định, hướng dẫn_Ảnh: TTXVN

Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao hơn nữa chất lượng đội ngũ đảng viên trong tình hình mới

Để khắc phục những hạn chế, yếu kém nêu trên, “Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng”(22); trong thời gian tới, các cấp ủy, tổ chức đảng và cả hệ thống chính trị cần thực hiện tốt một số nội dung chủ yếu sau:

Một là, củng cố, kiện toàn mô hình tổ chức cơ sở đảng gắn với việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp của Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII, về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Tiếp tục rà soát, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của các loại hình tổ chức cơ sở đảng; sửa đổi, bổ sung và thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc của cấp ủy.

Hai là, đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ đảng viên. Chủ động nắm tình hình, diễn biến tư tưởng, kịp thời định hướng cho đảng viên trước những vấn đề phát sinh; tăng cường trách nhiệm của đảng viên trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch. Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, “tự soi”, “tự sửa”, đề cao danh dự, lòng tự trọng của đảng viên. Phát huy vai trò của cơ quan thông tấn, báo chí trong công tác thông tin, tuyên truyền, giới thiệu tấm gương đảng viên tiêu biểu, xuất sắc.

Ba là, đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng. Đây là giải pháp rất quan trọng, bảo đảm việc tổ chức thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của cấp trên và của đảng bộ, cấp ủy cơ sở. Tập trung vào việc nâng cao chất lượng ban hành, tổ chức thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, kế hoạch công tác hằng năm của cấp ủy, coi đây là một trọng tâm của đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng.

Bốn là, tập trung củng cố, nâng cao chất lượng đội ngũ cấp ủy viên, bí thư cấp ủy ở cơ sở. Đây là nhân tố then chốt nhất của việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị của tổ chức cơ sở đảng trong những năm tới. Chú trọng việc rà soát, bổ sung quy hoạch, chuẩn bị tốt nhân sự cấp ủy cơ sở nhiệm kỳ tiếp theo. Xây dựng và thực hiện chương trình, kế hoạch bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, quản lý, nghiệp vụ công tác đảng cho cấp ủy viên, bí thư cấp ủy.

Năm là, tăng cường công tác quản lý đảng viên; kịp thời rà soát, sàng lọc, đưa ra khỏi Đảng những đảng viên không còn đủ tư cách. Tiếp tục đổi mới công tác đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên; sửa đổi, bổ sung, quy định chặt chẽ việc sinh hoạt đảng.

Sáu là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, hướng dẫn các doanh nghiệp trong việc thực hiện các văn bản của Trung ương về phát triển tổ chức đảng, đoàn thể trong doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước. Kịp thời sơ kết, tổng kết để rút kinh nghiệm từ những mô hình hay, cách làm sáng tạo, những điển hình tiên tiến, hiệu quả và nhân rộng mô hình “chi bộ bốn tốt”.

Quán triệt, thực hiện tốt các nội dung, giải pháp nêu trên có ý nghĩa quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới, là điều kiện tiên quyết để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, bảo đảm cho mọi hoạt động ở cơ sở tuân thủ và thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa./.

----------------------------------