Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên trong cuộc làm việc với Nhật Bản về điện hạt nhân. (Ảnh: Bộ CT)
0:00/0:00
0:00
(PLVN) - Khởi động lại dự án điện hạt nhân Ninh Thuận là một nội dung nằm trong sự kiện đầu tiên trong Top 10 sự kiện nổi bật nhất của ngành Công Thương năm 2024; đây cũng đồng thời là sự kiện đứng thứ 1 trong Top 10 sự kiện của ngành Khoa học và Công nghệ. Điều này chứng tỏ vai trò quan trọng của điện hạt nhân với an ninh năng lượng của Việt Nam trong giai đoạn tới. Và các bước để thực hiện dự án này đang được các bên liên quan khẩn trương đẩy nhanh tiến độ.
Phát triển điện hạt nhân đảm bảo an ninh năng lượng
Điện hạt nhân là nguồn điện lớn, sản lượng điện sản xuất không bị ảnh hưởng bởi điều kiện thời tiết, là nguồn điện nền, đáp ứng nhu cầu điện ổn định. Vai trò của nguồn điện này trên thế giới cũng đã được khẳng định. Hội nghị Thượng đỉnh COP28 (2023) đã chính thức công nhận điện hạt nhân là một nguồn năng lượng sạch không phát thải khí nhà kính. Phát triển nguồn điện hạt nhân sẽ đa dạng nguồn cung, bảo đảm an ninh năng lượng và chuyển dịch năng lượng xanh, giúp Việt Nam đạt mục tiêu Net Zero vào năm 2050 theo cam kết tại COP26.
Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên cho biết, điện hạt nhân ngày càng được nhiều quốc gia quan tâm lựa chọn. Hiện có 32 quốc gia trên thế giới sử dụng nguồn năng lượng này để phát điện, tạo ra khoảng 9,1% lượng điện năng của thế giới vào năm 2023. Nguồn năng lượng hạt nhân được phát triển chủ yếu tại các quốc gia ở châu Âu, Bắc Mỹ và Đông Á. Hoa Kỳ là nước sản xuất lớn nhất, trong khi Pháp có thị phần điện năng được tạo ra lớn nhất. Đáng chú ý, nhiều quốc gia đã tái khởi động và phát triển rất mạnh nguồn điện này, kể cả những nước có ý định "đóng cửa" điện hạt nhân sau sự cố Nhà máy điện Fukushima ở Nhật Bản.
Bên cạnh đó, hiện công nghệ của nhiều nước đã phát triển ở mức an toàn rất cao, thậm chí còn an toàn hơn rất nhiều các nguồn điện truyền thống khác, quy mô linh hoạt nên rất phù hợp với đặc điểm, địa hình, nhu cầu của nhiều địa phương, nhiều quốc gia.
Theo đánh giá của hầu hết các chuyên gia về điện, việc bổ sung điện hạt nhân vừa để chạy nền trong biểu đồ phụ tải, vừa cung cấp thêm nguồn năng lượng sạch là cần thiết và sẽ giải quyết bài toán ổn định trong quá trình vận hành hệ thống điện. Đồng thời, việc thực hiện dự án này còn là cơ hội để đất nước phát triển nhân lực chất lượng cao, nâng cao tiềm lực khoa học công nghệ quốc gia, tham gia vào chuỗi cung ứng công nghiệp điện hạt nhân toàn cầu.
Nhiều thuận lợi để triển khai điện hạt nhân
Theo đánh giá, Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để triển khai điện hạt nhân. Trong đó, việc Việt Nam đã có thời gian chuẩn bị điện hạt nhân rất lâu được đánh giá là thuận lợi nhất. Chưa kể, Việt Nam cũng đã có cả địa điểm dự kiến xây dựng cho đến công nghệ, công suất ước tính bao nhiêu...
Bộ trưởng Bộ Công Thương cho biết, Việt Nam có điều kiện phát triển nguồn điện này, 15 năm trước qua khảo sát xác định, có đến 13 - 14 địa điểm có thể phát triển điện hạt nhân. Đặc biệt, Việt Nam có địa hình dài từ Bắc đến Nam nếu phát triển điện hạt nhân quy mô nhỏ thì càng phù hợp. Ở những nơi phụ tải thấp, nơi có tiềm năng khai thác phát triển năng lượng tái tạo, gió, mặt trời mà có thêm điện hạt nhân module nhỏ thì rất thuận lợi cho khai thác phát huy tiềm năng năng lượng tái tạo cùng với nguồn điện nền, điện sạch...
Ngoài ra, nguồn nhân lực về khoa học công nghệ cũng đã chuẩn bị khá bài bản khi đội ngũ chuyên gia, kỹ sư đã được đào tạo về điện hạt nhân từ 20 năm qua. Theo đó, đã có gần 500 sinh viên được tuyển chọn đào tạo tại Nhật, Nga và Pháp. Hàng trăm chuyên gia cũng được thực tập trao đổi tại Nhật Bản và Nga...
Hiện 32 quốc gia đã sử dụng điện hạt nhân. (Ảnh: ST)
PGS.TS Đinh Văn Châu - Hiệu trưởng Trường Đại học Điện lực cho biết, cách đây 15 năm, Thủ tướng đã có Quyết định phê duyệt Đề án "Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử". Trong đó, Trường Đại học Điện lực là một trong 6 cơ sở đào tạo được tham gia vào đề án và đã tổ chức triển khai các hoạt động đào tạo kỹ sư về điện hạt nhân. Đến năm 2018, đã phát triển trở thành ngành kỹ thuật hạt nhân riêng cho trường.
Theo thông lệ quốc tế, một nhà máy điện hạt nhân cỡ 1GW điện cần nguồn nhân lực cho 3 bộ phận: Nhân lực vận hành, cơ bản cần 600 - 650 nhân lực; nhân lực bảo hành, bảo trì; nhân lực phục vụ. Như vậy, một nhà máy điện hạt nhân về cơ bản sẽ cần khoảng từ 700 - 750 nhân lực, nếu có một tổ máy. Nếu số lượng tổ máy tăng lên mức từ 2 - 3, sẽ cần khoảng đến hàng nghìn nhân lực. Trong khi đó, ở bộ phận kỹ thuật, các trường của Bộ Công Thương có thể đảm nhận đào tạo được. Hiện nay, Trường Đại học Điện lực đã đào tạo được khoảng 188 kỹ sư về ngành điện hạt nhân. Tuy nhiên, nhiều học viên trong số đó đã chuyển sang ngành nghề khác, trong khi một số người vẫn ở lại nước ngoài học tập.
Đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã ký Quyết định số 72/QĐ-TTg thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng nhà máy điện hạt nhân để giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, chỉ đạo và phối hợp giải quyết những công việc quan trọng, liên ngành, liên quan đến công việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân, tiếp tục thực hiện chủ trương đầu tư Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận. Trong đó, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính làm Trưởng Ban Chỉ đạo. Phó Trưởng Ban Thường trực là Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn. Ông Nguyễn Hồng Diên, Bộ trưởng Bộ Công Thương làm Phó Trưởng Ban.
Chưa kể, Bộ trưởng Bộ Công Thương cũng đã có cuộc công du sang Nhật Bản để đề nghị phía Nhật Bản rà soát các cam kết theo thỏa thuận đã ký kết năm 2011, tiếp tục hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ và tài chính cho Việt Nam để triển khai dự án điện hạt nhân Ninh Thuận; Tái rà soát lại Hiệp định Liên Chính phủ Việt Nam - Nhật Bản về tài trợ vốn cho Dự án Nhà máy điện hạt nhân tại Ninh Thuận.
Dự án sẽ được trình Quốc hội vào quý II/2025
Ông Trịnh Minh Hoàng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận khẳng định, Ninh Thuận sẽ chuẩn bị tốt các điều kiện để khởi động lại Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận theo chủ trương của Trung ương, Quốc hội, nhất là chú trọng công tác tuyên truyền, quán triệt, tạo sự đồng thuận, thống nhất cao của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân trong quá trình triển khai thực hiện.
Tuy nhiên, tỉnh Ninh Thuận kiến nghị Bộ Công Thương sớm tham mưu Chính phủ điều chỉnh đồng bộ Quy hoạch tổng thể quốc gia, Quy hoạch điện VIII, các Quy hoạch ngành quốc gia về phát triển điện hạt nhân; Hoàn thiện hệ thống pháp luật về điện hạt nhân. Đồng thời, xác định cụ thể lộ trình triển khai các nhà máy để tỉnh có cơ sở điều chỉnh quy hoạch tỉnh, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng vùng phát triển cho loại hình năng lượng này.
Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên cho biết, để sớm tái khởi động dự án, Bộ Công Thương sẽ phải ngay lập tức thực hiện song song nhiều việc. Trong đó, việc đầu tiên là Bộ sẽ phối hợp với các địa phương, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) để rà soát và bổ sung 2 dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận vào Quy hoạch điện VIII.
Dự án này dự kiến được khởi động lại từ tháng 1/2025 và cần hoàn thành các công đoạn này trước tháng 3/2025. Sau đó, Chính phủ sẽ tiếp tục chỉ đạo, rà soát các công việc và triển khai để giao EVN làm chủ đầu tư các dự án ở Ninh Thuận. Việc này theo Bộ trưởng Diên, sẽ làm và phải hoàn thành xong trước ngày 1/2/2025 để trùng với thời điểm các quy định có hiệu lực.
Mô hình của Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận trước đây. (Ảnh: Tư liệu)
Cùng với đó, chủ đầu tư (EVN) phải khẩn trương thuê tư vấn để rà soát, cập nhật các thông tin, điều chỉnh dự án để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt lại chủ trương đầu tư hoàn chỉnh dự án. Theo quy định, các dự án đầu tư lớn 10 tỷ USD phải đưa ra Quốc hội phê chuẩn. Dự kiến, dự án này sẽ được trình lên Quốc hội muộn nhất là vào đầu quý II/2025.
Tiếp đó, sau khi có chủ trương đầu tư dự án mới theo quyết định của cấp có thẩm quyền, chủ đầu tư sẽ chọn tư vấn xây dựng dự án để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt báo cáo tiền khả thi (FS) ngay đầu quý III/2025. Và chủ đầu tư (EVN) rà soát lại nguồn nhân lực đã được đào tạo (nếu còn điều kiện và có nguyện vọng tiếp tục phối hợp với các đối tác đào tạo lại); Đồng thời lập kế hoạch đào tạo mới, chú trọng các đối tác có hỗ trợ về mặt kỹ thuật, công nghệ. Việc này hoàn thành trong quý II/2025 và dự kiến phát điện trước 2035.
Ngoài ra, EVN khẩn trương rà soát, điều chỉnh, bổ sung (nếu cần) và tiếp tục triển khai xây dựng các dự án hạ tầng điện, nước, khu quản lý vận hành, khu chuyên gia, nhà điều hành tại khu vực dự án... “Tất cả những gì chuẩn bị cho dự án này là phải triển khai ngay, không chần chừ, không chờ đợi, không có bất kỳ sự trì hoãn nào” - Bộ trưởng Diên nhấn mạnh.
Hơn 70 năm tuổi đời, gần 30 năm tuổi Đảng, hơn 20 năm làm Bí thư kiêm Trưởng ấp Định Nghĩa, xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre, bà Trần Thị Xem (sinh năm 1954) luôn nêu cao tinh thần “tuổi cao, gương sáng”, say sưa cống hiến, bám sát cơ sở, tiên phong trong các hoạt động, phát huy vai trò “cầu nối” giữa cấp ủy, chính quyền với nhân dân, nhất là trong công tác xây dựng Đảng, phong trào xây dựng nông thôn mới.
Tìm về ấp Định Nghĩa, xã Định Thủy – cái nôi phong trào Đồng Khởi năm 1960, chúng tôi ấn tượng với đường làng, ngõ xóm được bê tông hóa sạch đẹp, cây xanh tỏa bóng, những tuyến đường hoa trải dài dọc theo hai bên vệ đường và những cung đường rợp bóng cờ bay cùng nhiều ngôi nhà mới kiên cố, khang trang, mọc lên san sát. Hỏi thăm nhà về bà Trần Thị Xem, ai cũng tận tình hướng dẫn, bởi thường ngày, với mọi người bà là con người xông xáo việc làng, việc nước, hòa đồng, thân thiện, cởi mở…
Là Bí thư chi bộ kiêm Trưởng ấp, bà Xem nắm tường tận từng hộ gia đình. Từ đó, cùng với Chi ủy, Ban Công tác Mặt trận, các chi tổ hội và cán bộ, đảng viên thường xuyên đến từng hoàn cảnh gia đình, tìm hiểu đời sống của bà con, vận động họ vượt khó vươn lên phát triển kinh tế, xây dựng bộ mặt thôn ngày càng khởi sắc. Nhờ vậy, đến cuối năm 2024, thu nhập bình quân đầu người của ấp đạt 79 triệu đồng/người; hiện trong ấp chỉ còn 4 hộ nghèo, chiếm 1,08%.
Bà Xem phấn khởi nói, ấp Định Nghĩa là một trong 10 ấp của xã Định Thủy, hiện có 370 hộ với 1.325 nhân khẩu được phân thành 14 tổ Nhân dân tự quản. Từ một ấp trong vùng kháng chiến còn nhiều khó khăn, xe máy chưa về được tới xã… bây giờ diện mạo nông thôn nơi đây đã đổi mới, lộ giao thông nông thôn phát triển, xe chạy tới tận nhà vận chuyển nông sản rất thuận tiện, người dân làm ăn ngày càng khấm khá.
Trao đổi với chúng tôi, bà Xem chia sẻ “bí quyết”, Chi ủy ấp Định Nghĩa luôn nêu cao việc thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Trước mỗi nhiệm vụ khó, chi bộ họp bàn, thống nhất ban hành nghị quyết để tập trung chỉ đạo thực hiện. Mặt khác, xác định công tác tuyên truyền, vận động là nền tảng, chi bộ ấp Định Nghĩa đã vận dụng nhiều hình thức tuyên truyền. Trong đó, Đảng viên trong chi bộ ấp luôn là người đi đầu, gương mẫu trong thực hiện các phong trào, qua đó, khích lệ nhân dân hưởng ứng, đạt hiệu quả như mong muốn. Đồng thời, phân công đảng viên trong chi bộ phụ trách hộ, nhóm gia đình đến từng nhà lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, khéo léo vận động, nói cho bà con hiểu. Vì vậy mọi chủ trương chi bộ đưa ra đều được người dân quan tâm, đồng tình ủng hộ.
Chẳng hạn như trong quá trình vận động xây dựng hạ tầng nông thôn, nhiều đảng viên, người dân đã tự nguyện hiến đất, chặt bỏ cây cối, hoa màu, đóng góp tiền của, ngày công để mở rộng đường làng, ngõ xóm. Nhờ đó, ấp đã vận động xây dựng mới được 20 cầu bê thông đạt chuẩn rộng 2,5m, bê tông hóa 3,2 km (rộng từ 1,5 – 2m) với 1.500 ngày công lao động.
Khi đường sá khang trang, rộng rãi, bà Xem lại cùng Chi ủy ấp họp bàn về việc lắp hệ thống điện thắp sáng và trồng hoa tạo cảnh quan trên các tuyến đường. Quá trình thực hiện cũng gặp phải những khó khăn như thiếu sự đồng thuận, một số hộ dân không hợp tác, nhưng với phương châm “mưa dầm thấm lâu”, bà Xem không nản chí mà cùng đảng viên Chi bộ đến từng nhà phân tích về những lợi ích khi có điện thắp sáng vào ban đêm ở các tuyến đường như: Đi lại thuận tiện, giữ gìn an ninh, phòng chống các tệ nạn xã hội… Từ đó người dân đã hiểu, đồng thuận. Đến nay các tuyến đường vào từng tổ Nhân dân tự quản đã có đèn đường và mỗi hộ dân trước nhà có bóng đèn đạt trên 99%; xây dựng thành công 4 tuyến đường hoa dài hơn 2,5 km; duy trì phong trào “Ngày chủ nhật nông thôn mới” với hơn 5.000 lượt người tham gia.
Phó Chủ tịch UBND xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày Nam Võ Trung Tín cho biết, mặc dù lớn tuổi nhưng bà Trần Thị Xem luôn là Bí thư Chi bộ tận tụy, luôn tích cực và tâm huyết với công tác xây dựng Đảng, với phong trào xây dựng nông thôn mới, nhất là công tác xây dựng giao thông nông thôn, chỉnh trang diện mạo nông thôn xanh, sạch, đẹp. Cống hiến của bà Xem luôn được cấp ủy, chính quyền địa phương ghi nhận, đánh giá cao. Nhờ công sức của bà Xem và các đảng viên trong Chi bộ, nhiều năm liền tục chi bộ ấp Định Nghĩa đạt trong sạch vững mạnh tiêu biểu, riêng trong năm 2022 đạt chi bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện.
Phó Chủ tịch UBND xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày Nam nói thêm, “Không những là Bí thư Chi bộ có trách nhiệm, gương mẫu trong mọi phong trào, bà Xem còn luôn nhận được sự tin tưởng, tín nhiệm và ủng hộ cao của người dân địa phương, là “cầu nối” vững chắc đưa những chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với người dân, góp sức cùng với cấp ủy, chính quyền địa phương và nhân dân thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế – xã hội”.
Với đóng góp trong quá trình công tác, nhiều năm liền, bà Trần Thị Xem và tập thể Chi bộ ấp Định Nghĩa được cấp trên khen thưởng vì có thành tích xuất sắc trong thực hiện Chỉ thị số 01-CT/TU về phong trào thi đua “Đồng Khởi mới”; trong thực hiện phong trào xây dựng huyện Mỏ Cày Nam đạt chuẩn nông thôn mới. Cá nhân bà Xem được Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bến Tre tặng bằng khen Đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ 5 năm liền (2014 – 2018), bằng khen của Thủ tướng Chính phủ trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
Với tinh thần đổi mới, mang tính “cách mạng” về quản lý đầu tư công; trong đó, quy định đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; đáp ứng yêu cầu thực tiễn và bối cảnh phát triển mới, tạo sự chủ động, linh hoạt hơn cho các cấp, ngành, địa phương trong điều hành, quản lý đầu tư công, Dự án Luật Đầu tư công (sửa đổi) và dự án 1 Luật sửa 4 luật (Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư và Luật Đấu thầu) có hiệu lực từ năm 2025 đã quy định cụ thể, làm rõ các nội dung về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, từ đó khắc phục những khó khăn, vướng mắc, lúng túng trong thực hiện của các quy định trước đây.
Để hiểu rõ hơn tác động của đầu tư công đối với nền kinh tế trong bối cảnh đầy thách thức của giai đoạn 2021 – 2025, phóng viên đã có cuộc trao đổi với Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng xung quanh nội dung này.
PV: Trong bối cảnh đầy thách thức của giai đoạn 2021 – 2025, giải ngân vốn đầu tư công đã mang lại tác động như thế nào đối với nền kinh tế, thưa Bộ trưởng?
Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng: Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 – 2025 được triển khai trong bối cảnh thế giới, khu vực có nhiều biến động nhanh, phức tạp, khó lường, tác động sâu, rộng, nhiều diễn biến chưa từng có tiền lệ, đặc biệt là tác động của dịch bệnh COVID-19. Trong nước, thế và lực của đất nước sau 35 năm Đổi mới đã lớn mạnh hơn nhiều cả về quy mô và sức cạnh tranh của nền kinh tế, tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn những hạn chế, bất cập nội tại, quy mô nền kinh tế còn khiêm tốn, độ mở cao, khả năng thích ứng và sức chống chịu đối với các cú sốc bên ngoài còn hạn chế.
Trong bối cảnh nhiều thách thức đó, đầu tư công đã phát huy tốt vai trò là một động lực tăng trưởng kinh tế, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, cụ thể: nguồn lực đầu tư công đã được bố trí một cách có trọng tâm, trọng điểm để triển khai những nhiệm vụ lớn, tạo ra những đột phá trong hoàn thiện cơ sở hạ tầng theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII. Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 – 2025 đã dành 30% tổng vốn ngân sách trung ương để triển khai các dự án quan trọng quốc gia, dự án trọng điểm, quan trọng, đường cao tốc, dự án có tính chất lan tỏa, kết nối, liên kết vùng có ý nghĩa thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội nhanh, bền vững.
Đến nay, đã đạt được một số kết quả cụ thể như: đã hoàn thành trên 2.000 km đường cao tốc, phấn đấu đến hết năm 2025 sẽ đạt khoảng 3.000 km để đạt mục tiêu chiến lược đề ra; cơ bản hoàn thành cao tốc Bắc – Nam phía Đông, đưa vào khai thác tuyến đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông, Nhổn – Ga Hà Nội, Bến Thành – Suối Tiên; hoàn thành luồng vào cảng Cái Mép – Thị Vải; hoàn thành một số cảng hàng không quan trọng, triển khai dự án cảng hàng không quốc tế Long Thành…
Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 – 2025 đã góp phần thúc đẩy cơ cấu lại đầu tư và cơ cấu lại các ngành, vùng lãnh thổ; cơ bản bảo đảm tương quan hợp lý giữa phát triển kinh tế – xã hội và an sinh xã hội, giữa các ngành, lĩnh vực, các địa phương, vùng miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các vùng khó khăn khác, đồng thời vẫn đảm bảo bố trí vốn cho các vùng kinh tế động lực, cực tăng trưởng. Những dự án hoàn thành đã tạo sự chuyển biến rõ nét về hạ tầng giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, quốc phòng, an ninh, công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giai đoạn này.
Cùng với đó, quá trình điều hành Kế hoạch đầu tư công giai đoạn 2021 – 2025 đã có sự chuyển biến về nhận thức và phương pháp quản lý điều hành. Qua đó, đã khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán, (số lượng dự án đầu tư công đã giảm từ trên 11.000 dự án trong giai đoạn 2016 – 2020 xuống còn khoảng 4.700 dự án trong giai đoạn 2021 – 2025), xóa bỏ cơ chế “xin – cho”, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo thế chủ động cho các địa phương cùng với tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát “đầu ra”.
PV: Năm 2025 là năm cuối cùng thực hiện Kế hoạch Đầu tư công trung hạn 2021 – 2025. Chính phủ đã đề ra kế hoạch vốn đầu tư công năm 2025 là 790.727 tỷ đồng, tăng đáng kể so với kế hoạch 670.000 tỷ đồng của năm 2024. Thưa Bộ trưởng, cơ sở nào để chúng ta có thể hoàn thành giải ngân lượng vốn thế này?
Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng: Trong năm 2024 vừa qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã có nhiều chỉ đạo và giải pháp quyết liệt để tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công, đến nay đã cơ bản tháo gỡ được các nút thắt, đặc biệt là về thể chế thông qua việc trình Quốc hội ban hành nhiều văn bản pháp luật về lĩnh vực đầu tư công, ngân sách nhà nước, quản lý sử dụng đất, đấu thầu, quản lý về hợp tác công – tư… Đạt được kết quả trên là nhờ sự lãnh đạo chính xác của Trung ương Đảng, các giải pháp quyết liệt từ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự đồng hành của các cơ quan của Quốc hội.
Trong năm 2025, để đầu tư công tiếp tục phát huy tốt vai trò là động lực tạo đột phá trong tăng trưởng kinh tế, cần tập trung vào một số định hướng và giải pháp: cần triển khai quyết liệt ngay từ đầu năm các giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công: năm 2025, Quốc hội đã quyết nghị kế hoạch đầu tư công với số vốn 790.727 tỷ đồng, cao hơn so với năm 2024 khoảng hơn 100.000 tỷ đồng. Vì vậy, cần triển khai quyết liệt ngay từ đầu năm các giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, sớm đưa nguồn vốn vào nền kinh tế, thông qua một số giải pháp, cụ thể: phân công lãnh đạo chịu trách nhiệm theo dõi tiến độ thực hiện và giải ngân của từng nhiệm vụ, dự án theo kế hoạch đã đặt ra, đôn đốc, kịp thời tháo gỡ khó khăn cho từng dự án; đồng thời, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cá thể hóa trách nhiệm đi đôi với phối hợp, giám sát, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện và khen thưởng, kỷ luật kịp thời, nghiêm minh.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục nêu cao tinh thần trách nhiệm, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung trong toàn thể hệ thống chính trị; phát huy hiệu quả của các Tổ công tác của Chính phủ, tiếp tục thực hiện cơ chế Thành viên Chính phủ làm việc với các địa phương định kỳ để kiểm tra, đôn đốc, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc; tiếp tục rà soát, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực, tạo sự chủ động cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương.
Năm 2025 là năm bản lề chuẩn bị cho kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 – 2030, do đó, cần tập trung nâng cao chất lượng chuẩn bị đầu tư dự án, nhất là các dự án quan trọng, mang tính chiến lược, xoay chuyển tình thế, chuyển đổi trạng thái của đất nước, như: dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam, các dự án đường sắt kết nối quốc tế, đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, các cảng biển trung chuyển quốc tế (Nam Đồ Sơn – Hải Phòng, Liên Chiểu – Đà Nẵng, Cần Giờ – TP Hồ Chí Minh, Trần Đề – Sóc Trăng)… vì vậy, trên cơ sở nhiệm vụ được giao, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương cần chủ động, nâng cao hơn nữa chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư dự án, lường trước đầy đủ các vấn đề có thể phát sinh để làm tốt công tác chuẩn bị, tạo tiền để để khi triển khai thực hiện dự án được nhanh chóng, không phải điều chỉnh, bổ sung, đảm bảo hiệu quả đầu tư và sớm hoàn thành các công trình hạ tầng trọng điểm.
Năm 2025 là năm “về đích” của các dự án hạ tầng trọng điểm giai đoạn 2021 – 2025 như dự án Cao tốc Bắc – Nam phía Đông, dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành… vì vậy, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương cần chỉ đạo chủ đầu tư có phương án bảo đảm vật liệu xây dựng (đất, đá, cát…) đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu của các dự án, đặc biệt là các dự án giao thông quan trọng quốc gia, có tính liên vùng.
Cùng với đó, các bộ quản lý ngành, lĩnh vực theo phân công hướng dẫn các bộ, địa phương về quy trình cấp phép mỏ, khai thác nguyên vật liệu đá, cát, đất, sỏi, cát biển cho dự án đầu tư công bảo đảm nhanh, hiệu quả, đúng quy định của pháp luật. Thường xuyên theo dõi bám sát diễn biến thị trường vật liệu xây dựng, đặc biệt là vật liệu chủ yếu phục vụ dự án đầu tư công, đề xuất các giải pháp để bảo đảm cung cầu hàng hóa, giá cả vật liệu xây dựng.
Đồng thời, cần tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, truyền thông, nhất là truyền thông chính sách, góp phần phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố niềm tin, giữ vững tâm lý doanh nghiệp, nhà đầu tư, huy động hiệu quả nguồn lực xã hội cho đầu tư kết cấu hạ tầng xã hội.
Đặc biệt, trong bối cảnh phương thức sản xuất của nền kinh tế đang thay đổi, xu hướng chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý dự án nói riêng, quản lý nhà nước nói chung là xu hướng tất yếu, do đó, cần nghiên cứu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý thực hiện các dự án đầu tư công. Sử dụng hệ thống dữ liệu tập trung để đảm bảo tính minh bạch, đẩy nhanh tiến độ, rút ngắn thời gian, tăng hiệu quả trong quản lý nguồn vốn đầu tư.
Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng: Công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật nói chung và đầu tư công nói riêng được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, đột phá ngay từ đầu nhiệm kỳ 2021-2025. Theo đó, Luật Đầu tư công số 58/2024/QH15 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư và Luật Đấu thầu đã được Quốc hội thông qua, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2025.
Với tinh thần đổi mới, mang tính “cách mạng” về quản lý đầu tư công, trong đó: quy định đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; đáp ứng yêu cầu thực tiễn và bối cảnh phát triển mới, tạo sự chủ động, linh hoạt hơn cho các cấp, ngành, địa phương trong điều hành, quản lý đầu tư công.
Đồng thời, quy định cụ thể, làm rõ các nội dung về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, từ đó khắc phục những khó khăn, vướng mắc, lúng túng trong thực hiện của các quy định trước đây.
Cùng với đó, thể chế hóa một số quan điểm, mục tiêu, định hướng của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ để góp phần phát huy hiệu quả của hoạt động đầu tư như: tăng cường công tác chuẩn bị đầu tư, phân cấp phân quyền việc điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm, đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài; quy định cụ thể, tăng tính hấp dẫn của đầu tư theo phương thức đối tác công – tư; tăng cường tính minh bạch, rút ngắn thời gian, quy trình trong tổ chức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư.
Với các Dự án Luật vừa được Quốc hội thông qua nêu trên sẽ góp phần tích cực trong nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công, giúp đẩy mạnh giải ngân đầu tư công năm 2025 và các năm tiếp theo.
Cuốn sách là tư liệu quý báu phản ánh sinh động thành tựu và bài học kinh nghiệm lịch sử của Đảng trong lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội nói riêng; đáp ứng đòi hỏi bức thiết của sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên phát triển mới – Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.
Chiều 3/2, tại Hà Nội, Bộ Công an chủ trì, phối hợp Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức Lễ giới thiệu, phát hành cuốn sách “Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân – Sáng ngời tư cách người Công an cách mạng” của Đồng chí Đại tướng, GS, TS Tô Lâm – Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đây là hoạt động thiết thực chào mừng kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 – 3/2/2025); hướng tới kỷ niệm 80 năm thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 – 2/9/2025), 80 năm ngày truyền thống của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam anh hùng (19/8/1945 – 19/8/2025); góp phần thúc đẩy triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội khóa XIII và các Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đồng chí Đại tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Công an chủ trì buổi lễ.
Các đồng chí: Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; GS, TS Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương; Lê Hoài Trung, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; Thượng tướng, TS Lê Quốc Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Công an đồng chủ trì.
Phát biểu tại buổi lễ, Đại tướng Lương Tam Quang cho rằng, cuốn sách không chỉ là một tư liệu quý mà còn thể hiện rõ nét những tư tưởng lớn, tầm nhìn sâu rộng, bổ sung và phát triển nhận thức, tư duy lý luận của Đảng về bảo vệ an ninh trật tự.
Theo Bộ trưởng Công an, trong mối quan hệ với chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng và đối ngoại của đất nước, cuốn sách là kim chỉ nam, định hướng cho toàn diện Công an nhân dân trong chiến đấu và xây dựng lực lượng những năm tiếp theo.
Đây cũng là nhiệm vụ cho cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp trong lãnh đạo, quản lý công tác bảo vệ an ninh, trật tự, động viên, khích lệ, khơi dậy tinh thần yêu nước, hướng dẫn quần chúng nhân dân tích cực tham gia vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc nói chung, sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự nói riêng.
Để lan tỏa sâu nội dung cuốn sách, Bộ trưởng Lương Tam Quang đề nghị cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy Công an các cấp quan tâm để tuyên truyền, phổ biến nội dung cuốn sách.
Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, các nhà lý luận có hình thức tuyên truyền, phổ biến về nội dung cuốn sách, lan tỏa mạnh mẽ trong hệ thống chính trị và toàn dân, phát huy cao nhất giá trị cuốn sách đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trước đó, Bộ Công an đã chủ trì, phối hợp Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức họp báo giới thiệu cuốn sách.
Theo đó, sách gồm 766 trang gồm 80 bài viết , bài phát biểu, bài trả lời phỏng vấn được chọn lựa từ hơn 500 bài viết cùng với 71 bức ảnh phản ánh sinh động các chuyến thăm và làm việc ở Công an các đơn vị, địa phương, địa bàn cơ sở trong thời gian đồng chí Tô Lâm giữ cương vị Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Công an.
Thứ trưởng Công an Lê Quốc Hùng khẳng định: Cuốn sách thể hiện tư duy nhất quán của tác giả trong vận dụng sáng tạo, phát triển, bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, xây dựng lực lượng Công an nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ quốc phòng, đối ngoại, phục vụ có hiệu quả sự nghiệp phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội của đất nước, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Cuốn sách còn góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giúp cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân nhận thức, hiểu biết sâu sắc hơn chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội.
Cung cấp nguồn tư liệu phong phú cùng hệ thống luận cứ khoa học chỉ dẫn cho công tác nghiên cứu, phát triển lý luận, tổng kết thực tiễn, giáo dục đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và giáo dục truyền thống anh hùng cách mạng vẻ vang của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam. Trên tất cả, là thể hiện trách nhiệm, sự tâm huyết, tấm lòng vì nước, vì dân của đồng chí Tô Lâm đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.
Trung tướng, PGS, TS Trần Vi Dân, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, Cục trưởng Cục Khoa học, Chiến lược và Lịch sử Công an thông tin: Kết cấu sách gồm 5 phần: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Công an nhân dân tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt; Công an nhân dân vì nước quên thân – Sáng ngời tư cách người Công an cách mạng; Công an nhân dân – Lực lượng nòng cốt, xung kích bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; Công an nhân dân – Lực lượng nòng cốt, xung kích bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; Phát huy truyền thống anh hùng cách mạng, xây dựng lực lượng Công an nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ vẫn luôn có tính thời sự và có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay, khi chúng ta đang đứng trước cơ hội lớn để thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy nhằm tạo sự thay đổi về chất trong hoạt động của hệ thống chính trị.
Là nhà cách mạng luôn gắn liền với hoạt động thực tiễn, với mục tiêu lớn nhất là độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm đặt câu hỏi “cách mạng trước hết phải có cái gì?”. Và Người xác định rằng trước hết phải có một đảng cách mạng gồm những con người tiêu biểu làm đầu tầu để dẫn dắt cách mạng đi đến thành công, rồi sau này sẽ là những người làm việc trong bộ máy nhà nước, trong hệ thống chính trị. Những con người đó chính là đội ngũ cán bộ.
Tư tưởng Hồ Chí Minh – Chỉ dẫn quan trọng đối với cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy
Vấn đề cán bộ đã hình thành rất sớm trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trở thành một trong những vấn đề cốt lõi trong tư tưởng của Người, không chỉ phát huy vai trò trong cách mạng giải phóng dân tộc mà còn để lại nhiều chỉ dẫn quan trọng đối với cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy nhà nước hiện nay.
Với quan điểm “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy”, “Cán bộ là gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”, “Bất cứ công việc gì thiếu cán bộ, khó thực hiện được”…, ở bất kỳ thời điểm lịch sử nào, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, củng cố bộ máy Nhà nước để có đủ sức mạnh hoàn thành sứ mệnh lịch sử cao quý mà Đảng và nhân dân giao phó.
Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, vừa phải xây dựng vừa phải đấu tranh giữ vững chính quyền Nhà nước mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh càng đặc biệt quan tâm đến vấn đề cán bộ, đặc biệt là cách thức, lề lối làm việc của bộ máy tổ chức.
Hơn 1 tháng sau khi chính quyền nhân dân được thành lập, Người đã chỉ ra một khuyết điểm lớn, phổ biến trong các ủy ban nhân dân đó là “bệnh lộn xộn, thiếu tổ chức” khiến cho đội ngũ cán bộ “nhiều khi có người rất rỗi rãi, cả ngày chỉ chạy ra chạy vào cho có chuyện, có người lại bù đầu rối óc vì một mình phải kiêm đến mấy việc: nào ngoại giao, nào tư pháp, nào tài chính” [1]. Người yêu cầu anh em viên chức “phải tận tâm làm việc, một người làm bằng hai, ba người. Và phải tôn trọng kỷ luật… phải theo nguyên tắc là có việc mới cần đến người, chứ không phải là có sẵn người nên phải tìm việc cho làm”[2].
Chú trọng vai trò của nhân tài trong công cuộc xây dựng đất nước theo quan điểm “Tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy”, ngày 31/12/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 78 về việc lập Uỷ ban nghiên cứu kế hoạch kiến thiết của Chính phủ. Ủy ban này tập hợp hơn 30 nhân sĩ, trí thức ở tất cả các ngành, lĩnh vực như: kinh tế, luật pháp, y tế, giáo dục, văn hóa xã hội… để cố vấn cho Chính phủ kế hoạch xây dựng đất nước. Trong hoàn cảnh kháng chiến chống Pháp trường kỳ, gian khổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn cho mở Trường Đại học Y Dược (Việt Bắc); lớp toán đại cương và các trường dự bị đại học, Trường Sư phạm Liên khu IV; các trường khoa học cơ bản và sư phạm cao cấp (Khu học xá Trung ương, Quảng Tây, Trung Quốc) nhằm tạo dựng một lớp người có đủ tài và đức phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân.
Đến thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, bên cạnh việc nhờ các chuyên gia nước ngoài đào tạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chủ trương cử người đi học ở Liên Xô, Trung Quốc và một số nước xã hội chủ nghĩa, góp phần hình thành nên đội ngũ các nhà khoa học đông đảo sau này. Vì vậy mà trong cuộc kháng chiến chống Mỹ chúng ta đã có nhiều nhân tài chỉ huy thao lược và cán bộ khoa học, kỹ thuật sử dụng thành thạo những vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại, góp phần đánh thắng được đội quân xâm lược mạnh, được trang thiết bị hiện đại thời điểm bấy giờ là Mỹ.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, trên cương vị là người đứng đầu Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều bài viết và tác phẩm về vấn đề cán bộ, thể hiện một cách sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ trên nhiều vấn đề, từ việc phát hiện, lựa chọn cán bộ đến đánh giá, cất nhắc, sử dụng cán bộ; từ huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đến việc kiểm soát, phê bình, khen thưởng cán bộ…
Cán bộ phải là công bộc của nhân dân
Khâu đầu tiên trong công tác cán bộ là phát hiện và lựa chọn cán bộ. Về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất tâm huyết với truyền thống tốt đẹp của dân tộc là trọng dụng nhân tài, như lời khắc ghi của cha ông ta vào bia đá ở Văn Miếu Quốc Tử Giám: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Cách lựa chọn cán bộ theo Hồ Chí Minh phải trên cơ sở những tiêu chí về chất lượng, chú trọng tiêu chuẩn phẩm chất đạo đức và năng lực của người được lựa chọn. Những tiêu chuẩn phẩm chất của người cán bộ cách mạng được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra hết sức cụ thể, đó là nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm; là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi người cán bộ phải giữ các phẩm chất đó để không trở nên hủ bại, không biến thành sâu mọt của nhân dân mà phải là công bộc của nhân dân, gánh vác công việc chung cho nhân dân.
Trong tiêu chuẩn xem xét, đánh giá cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập cụ thể về phong cách, tác phong công tác. Theo Người, phong cách của người cán bộ được thể hiện ở các yêu cầu như tác phong quần chúng, dân chủ, thẳng thắn, tính quyết đoán và tinh thần trách nhiệm cao, sâu sát, thận trọng, nhất quán giữa lời nói và việc làm, giữa lý luận và thực tiễn, thường xuyên nghiêm túc phê bình và tự phê bình… và đặc biệt là phong cách nêu gương. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định nghề nào cũng vinh quang và việc gì cũng phải cố gắng chuyên tâm, không chủ quan, đại khái. Vì thế, tất cả mọi người, ở mọi địa vị, vị trí công tác, trong mọi hoàn cảnh đều phải nêu cao tinh thần trách nhiệm. Mỗi cán bộ đều phải làm gương trong mọi công việc, từ nhỏ đến lớn, thể hiện thường xuyên về mọi mặt.
Bên cạnh việc chỉ ra những tiêu chí về phẩm chất của người cán bộ cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi người cán bộ phải thường xuyên nâng cao trình độ, năng lực tổ chức thực hành để hoàn thành các nhiệm vụ được giao. Cán bộ phải là những người tiên tiến, nếu bị tụt hậu thì không thể xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Làm nghề gì cũng phải học, vậy làm cách mạng cũng phải học”[3]. Vì vậy, trong công tác cán bộ, Người rất coi trọng việc huấn luyện cán bộ, coi đó là “công việc gốc”, là khâu có ý nghĩa quyết định đến trình độ và chất lượng của cán bộ.
Để sử dụng cán bộ sao cho hiệu quả, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra phương châm là “Hiểu biết cán bộ. Khéo dùng cán bộ. Cất nhắc cán bộ. Thương yêu cán bộ. Phê bình cán bộ”[4]. Hiểu và đánh giá cán bộ không phải chỉ một việc, chỉ bên ngoài, trong hiện tại, mà phải thông qua nhiều việc, cả quá khứ, hiện tại và hướng phát triển trong tương lai của cán bộ. Hiểu biết cán bộ để nhìn thấy và khơi dậy được những điểm tốt, điểm mạnh cũng như điểm yếu của cán bộ, qua đó tìm được cách sử dụng cán bộ cho thích hợp với khả năng của mỗi người.
Với cách nhìn nhân văn, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: Cán bộ cũng là con người, không phải thánh, có tốt, có xấu, nên vấn đề là khéo nâng cao chỗ tốt, sửa chữa chỗ xấu cho họ, “người đời ai cũng có chỗ hay chỗ dở. Ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người chữa chỗ dở. Dùng người cũng như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong, đều tuỳ chỗ mà dùng được”[5].
Chú trọng về con người, chú trọng về cán bộ cho nên Chủ tịch Hồ Chí Minh mới căn dặn phải phân biệt rõ khi rèn đạo đức cho cá nhân mình thì phải chấp nhận đau đớn như giã gạo (ở bài thơ Nghe tiếng giã gạo trong tập Nhật ký trong tù Bác đã viết: “Gạo đem vào giã bao đau đớn, Gạo giã xong rồi trắng tưạ bông; Sống ở trên đời người cũng vậy, Gian nan rèn luyện mới thành công“) nhưng khi dùng người, sử dụng cán bộ thì chớ có dùng theo lối giã gạo: Nghĩa là trước khi cất nhắc, sử dụng cán bộ không xem xét kỹ: “Khi cất nhắc rồi không giúp đỡ họ. Khi họ sai lầm thì đẩy xuống. Chờ lúc họ làm khá lại cất nhắc lên. “Nếu cán bộ bị nhấc lên thả xuống ba lần như thế là hỏng cả đời”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn lưu ý, trong dùng cán bộ cần phải tránh: “1. Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, cho họ là chắc chắn hơn người ngoài. 2. Ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mình, mà chán ghét những người chính trực. 3. Ham dùng những người tính tình hợp với mình, mà tránh những người tính tình không hợp với mình”[6]. Tuyệt đối không được sử dụng loại cán bộ “gió chiều nào che chiều đó”, không có khí khái, không có chính kiến, bản lĩnh, xu nịnh, a dua, không dám chịu trách nhiệm, không dám phụ trách.
Đội ngũ cán bộ chính là công cụ đắc lực, chủ thể trực tiếp thực thi các hoạt động quản lý của Nhà nước đối với xã hội, là mối dây liên hệ giữa Nhà nước với công dân, là cầu nối chuyền tải giữa chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước với xã hội và ngược lại, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân với Đảng, Nhà nước. Để bảo đảm sự vận hành đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi trọng công tác kiểm tra, kiểm soát đối với cán bộ. Người đòi hỏi kiểm tra cán bộ phải trở thành nền nếp và thực hiện một cách có hệ thống, qua đó chống được các bệnh quan liêu, bàn giấy, biết được các nghị quyết có được thực thi không, có đúng không và đúng tới mức nào.
Cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy cần sự nêu gương, tinh thần trách nhiệm và hy sinh
Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ vẫn luôn có tính thời sự và có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay, khi chúng ta đang thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy nhằm tạo sự thay đổi về chất trong hoạt động của hệ thống chính trị. Để quá trình này thành công, cần chuẩn bị thật tốt đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng được yêu cầu phát triển mới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung”[7]. Trong bài phát biểu tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, Tổng Bí thư Tô Lâm cũng nhấn mạnh: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự học hỏi để “nâng mình lên” để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới của đất nước, nếu không đáp ứng được thì tự nguyện đứng sang một bên để người khác làm”.
Hơn lúc nào hết, cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy cần có sự nêu gương, tinh thần trách nhiệm và hy sinh từ từng cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những người đứng đầu. Bởi đây là công việc rất khó khăn, phức tạp và nhạy cảm, sẽ động chạm đến lợi ích của mỗi người và rất nhiều người. Người đứng đầu của mỗi cơ quan, đơn vị trước tiên phải làm tốt công tác tư tưởng, tạo sự thống nhất cao về tư tưởng, nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên; phải dũng cảm nhìn thẳng vào thực tiễn tổ chức mình, rà soát những tồn tại, chấp nhận thay đổi, sẵn sàng điều chỉnh cơ cấu tổ chức, bộ máy, giảm số lượng cán bộ hoặc tự điều chỉnh cơ chế làm việc để phù hợp với tinh thần cải cách.
Song song với việc đẩy mạnh sắp xếp lại, tinh gọn bộ máy, người đứng đầu mỗi cơ quan, đơn vị cần hết sức lưu tâm tới việc giữ người tài, người có khả năng, trình độ, năng lực và có khát vọng cống hiến. Hay nói cách khác, phải làm sao hạn chế tình trạng “giảm” nhưng không “tinh” trong tinh giản biên chế, góp phần mang lại hiệu quả thiết thực trong thực hiện chủ trương này. Khi đánh giá đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người đứng đầu phải có cách nhìn công tâm, khách quan để đánh giá những người làm được việc và người không làm được việc và phải chịu trách nhiệm về đánh giá của mình. Trên cơ sở đó mới có thể đưa ra khỏi đội ngũ những người không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, không đáp ứng được yêu cầu công việc; thực hiện chính sách đối với những người không tiếp tục ở lại làm việc sau khi tinh giản biên chế, đồng thời bố trí được những người xứng đáng vào các vị trí của bộ máy mới.
Tấm gương hành động của người đứng đầu sẽ tạo động lực, truyền cảm hứng tới cả bộ máy. Mỗi cán bộ ở từng vị trí công việc phải tiếp tục làm tốt hơn nữa vai trò cá nhân mình, góp phần cho tập thể, phát huy tinh thần trách nhiệm, vì lợi ích chung, hy sinh lợi ích cá nhân (nếu có) để thực hiện sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy. Chắc chắn rằng, sau khi thực hiện tinh gọn bộ máy, số lượng công chức, viên chức sẽ giảm đáng kể. Những người tiếp tục công tác có thể phải gánh vác khối lượng công việc gấp đôi, gấp ba trước đó. Áp lực công việc lớn hơn nên cần phải nỗ lực hơn trước, “tận tâm làm việc, một người làm bằng hai, ba người”. Sẽ không còn tình trạng làm việc “cầm chừng”, đối phó để vừa đủ “lên lương”. Sẽ phải có tinh thần cầu tiến và sự tận tâm, mạnh dạn cải tiến phương pháp làm việc, tận dụng lợi thế công nghệ để tăng hiệu quả công việc… Tất cả những thay đổi nhỏ này của mỗi cá nhân, khi cộng hưởng, sẽ tạo ra chuyển biến lớn cho tập thể, cho toàn hệ thống. Bởi mỗi vị trí không còn cần thiết, được tinh giản sẽ giải phóng nguồn lực cho các lĩnh vực trọng yếu của đơn vị, tổ chức, và rộng ra là của đất nước. Hơn thế, sự hy sinh vì tập thể cũng góp phần xây dựng niềm tin trong nhân dân về một hệ thống chính trị thực sự vì lợi ích chung, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dạy: “Cách mạng phải vì lợi ích của dân tộc chứ không phải của một cá nhân”.
Từ tháng 12/1958, trong tác phẩm Đạo đức cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Cách mạng tiến lên mãi, Đảng tiến lên mãi. Cho nên người cách mạng cũng phải tiến lên mãi”. Đất nước ta đang đứng trước cánh cửa lịch sử bước vào kỷ nguyên vươn mình. Những công việc chúng ta làm hôm nay sẽ quyết định tương lai, tạo dựng được bộ máy nhà nước thực sự hiệu quả, phục vụ tốt nhất cho sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Cải cách, hoàn thiện thể chế sẽ giúp nền kinh tế Việt Nam đạt được mục tiêu đặt ra năm 2025 mở rộng hơn. Và khi khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số được xác định là động lực cho tăng trưởng kinh tế trong dài hạn, bước đi đầu tiên cũng bắt đầu từ việc cải cách, hoàn thiện thể chế.
Chính phủ tiên phong trong cải cách, hoàn thiện thể chế
“Việt Nam đang có một cơ hội chưa từng có để cải cách, hoàn thiện thể chế”, TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế Trung ương đưa ra nhận định này tại một cuộc hội thảo tổ chức vào những ngày đầu năm 2025, và vị chuyên gia cũng ngay lập tức giải thích lý do. Đó là vì những quan điểm mang tính nền tảng “trong 3 điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thể chế, hạ tầng và nhân lực, thì thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn” (phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 8 Quốc hội khoá XV ngày 21/10/2025), “hoàn thiện thể chế, pháp lý để thực hiện đột phá, phát triển trong khoa học công nghệ” (phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, ngày 13/1/2025), “đột phá về thể chế vì đó là ‘đột phá của đột phá'” (phát biểu bế mạc của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII, ngày 24/1/2025) đã được nghiêm túc lắng nghe, quán triệt và sắp xếp thực hiện.
Tại Hội nghị quán triệt, triển khai thi hành các luật, nghị quyết được thông qua tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khoá XV ngày 13/1/2025, Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định: “Thể chế là nguồn lực, động lực phát triển; đầu tư cho thể chế là đầu tư cho sự phát triển. Thể chế phù hợp sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển, hoàn thiện thể chế sẽ góp phần đắc lực thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Trong Hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia tổ chức sáng cùng ngày, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đóng vai trò then chốt, là động lực mạnh mẽ để Việt Nam phát triển tăng tốc, bứt phá, bền vững, hiện thực hoá khát vọng về một Việt Nam phồn vinh, thịnh vượng, hiện đại, sớm gia nhập nhóm nước phát triển có thu nhập cao.
Hoàn thiện thể chế, đưa thể chế thành một lợi thế cạnh tranh trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu. Tinh thần này cũng được truyền đạt lại trong cuộc họp lần thứ 2 của Ban Chỉ đạo xây dựng dự án Luật Khoa học và Công nghệ (sửa đổi), diễn ra chiều 13/1/2025.
Nhìn trong về mục tiêu ngắn hạn, tại Nghị quyết 01/NQ-CP về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2025, Chính phủ khẳng định, đột phá về thể chế là “đột phá của đột phá”, phải đi sớm, đi trước mở đường cho phát triển. Đáng lưu ý, tinh thần vừa quản lý vừa kiến tạo và phát triển đã được xác định, tư duy “không quản được thì cấm” bị từ bỏ.
Cùng với đó, việc quản lý theo kết quả cùng với yêu cầu minh bạch sẽ tạo cơ hội, động lực phấn đấu cho các chủ thể trong nền kinh tế và tạo áp lực cho các nhà quản lý Trung ương và địa phương nỗ lực tháo gỡ các điểm nghẽn, cải thiện môi trường kinh doanh, thực hiện chỉ đạo trong Nghị quyết số 02/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2025.
Như phát biểu của TS. Nguyễn Đình Cung trong cuộc hội thảo đã đề cập ở trên, đột phá về thể chế có thể khơi dậy, tạo ra một động lực cực kỳ lớn trong huy động nguồn lực, giải phóng, đánh thức tiềm năng, tạo ra không gian phát triển cực kỳ lớn, là cơ sở hướng tới tăng trưởng kinh tế 8% trong năm 2025, phấn đấu mức tăng trưởng cao hơn trong các năm tiếp theo.
“Với quyết tâm và cả áp lực, tôi hy vọng chúng ta sẽ làm được. Và người tiên phong trong cải cách, hoàn thiện thể chế là Chính phủ”, vị chuyên gia kinh tế khẳng định.
Để khoa học công nghệ thành động lực tăng trưởng mới
Mở rộng các động lực tăng trưởng cũ và tạo dựng động lực tăng trưởng mới đều khả thi nếu đạt được những tiến bộ về khoa học công nghệ, áp dụng đổi mới sáng tạo. Và để nhiệm vụ này dễ dàng hơn, câu chuyện lại quay trở về vấn đề hoàn thiện, cải cách thể chế.
Nhìn nhận vấn đề này, TS. Huỳnh Thanh Điền (Trường Đại học Nguyễn Tất Thành) cho rằng, đầu tiên phải tháo gỡ khó khăn, xác định mục tiêu đúng và đổi mới cách thức hỗ trợ, tài trợ cho hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ. Cả 3 vướng mắc này cần phải giải quyết đồng thời, từ đó, điều hướng lại đích đến của hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ, để biến nó thành động lực của tăng trưởng kinh tế dài hạn và bền vững.
Thứ nhất, hoạt động nghiên cứu khoa học cơ bản là tạo ra những nền tảng cho các nghiên cứu ứng dụng có thể thương mại hoá hoặc ứng dụng rộng rãi trong đời sống. Đối với nghiên cứu cơ bản, nguồn tài trợ chính phải đến từ ngân sách Nhà nước và ngân sách Nhà nước cần ưu tiên tài trợ cho những nghiên cứu đạt được mục tiêu này.
Đối với nghiên cứu khoa học ứng dụng, mục tiêu quan trọng phải là thương mại hoá. Các nghiên cứu hướng đến công bố quốc tế, làm đẹp hồ sơ của nhà khoa học hay mang tính chất quảng bá cho các viện, trường đại học… sẽ phải dựa vào nguồn ngân sách của chính cá nhân đó hay các tổ chức giáo dục đã nêu. Nguồn tiền từ các quỹ khoa học công nghệ được rót ngân sách không nên tài trợ cho các nghiên cứu dạng này.
Ngay cả các nghiên cứu khoa học ứng dụng cũng phải dựa vào tính chất thương mại hoá để tìm nguồn tài trợ, giảm bớt phụ thuộc vào ngân sách Nhà nước. Nhà nước tạo ra không gian và thể chế để hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm đến thương mại hoá có thể được thực hiện ngay tại các doanh nghiệp, thông qua sự hợp tác giữa cá nhân nhà nghiên cứu với doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp với các viện, trường, tổ chức khoa học…
“Từ khi các viện, trường đại học… nhắm đến việc công bố bài báo quốc, số lượng công bố quốc tế của Việt Nam tăng mạnh, gấp khoảng 8 lần trong giai đoạn 2011-2020. Nếu có chính sách khuyến khích nghiên cứu khoa học hướng tới thương mại hoá, có thể trông chờ vào một sự bùng nổ tương tự”, TS. Nguyễn Thanh Điền so sánh.
Vấn đề thứ hai, theo vị chuyên gia, là phải hình thành được thị trường khoa học công nghệ, khuyến khích sự tham gia của mọi chủ thể trong xã hội vào việc đề xuất ý tưởng nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, để người có ý tưởng có thể tham gia vào các nhóm nghiên cứu chuyên nghiệp, tạo cầu nối giữa người nghiên cứu và doanh nghiệp, biến các chúng thành các quy trình, phương pháp sản xuất hay sản phẩm trong thực tế.
Để thị trường này hoạt động trơn tru, hiệu quả, phải có quy định bảo vệ quyền sở hữu của người bán, bảo vệ quyền và lợi ích của người mua ý tưởng cũng như tính hợp pháp của các giao dịch khoa học công nghệ.
Thứ ba, trong việc thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ dùng nguồn ngân sách Nhà nước, phải cởi bỏ các thủ tục hành chính, tạo môi trường thông thoáng, công nhận thông qua sản phẩm nghiên cứu để khuyến khích các nhà khoa học. Nghĩa là, cần phải xây dựng tiêu chí đối với các nghiên cứu khoa học cơ bản và ứng dụng, những đề tài nào phù hợp tiêu chí thì được nghiên cứu, nhà khoa học chủ động trong quá trình nghiên cứu và được đánh giá thông qua kết quả cuối cùng.
Cơ chế chi trả cho các nghiên cứu cũng phải được điều chỉnh, tránh biến nhà khoa học, nhà nghiên cứu thành cán bộ hành chính hay kế toán viên, chẳng hạn, có thể ứng trước một phần (nếu nhà khoa học không hoàn thành nghiên cứu thì trả lại tạm ứng, nếu không trả lại có thể bị hạn chế tham gia các đề tài, dự án khác…), hoặc chi trả toàn bộ sau khi nhận kết quả nghiên cứu.
Cùng với đó, cần có chính sách vừa khuyến khích vừa ràng buộc các viện trường hướng tới nghiên cứu khoa học có thể thương mại hoá, thay vì chăm chăm vào mục tiêu công bố quốc tế, xây dựng hình ảnh của cơ sở đào tạo, nghiên cứu. Theo đó, có thể quy định một phần trong quỹ nghiên cứu khoa học công nghệ của từng viện, trường phải được thể hiện bằng các sản phẩm thực tế.
Cuối cùng, phải kích hoạt được mạnh mẽ hơn các nguồn đầu tư tư nhân cho hoạt động nghiên cứu khoa học và sử dụng các thành quả nghiên cứu khoa học.
Theo quy định của pháp luật hiện tại, doanh nghiệp tư nhân được trích tối đa 10% thu nhập tính thuế hàng năm để lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp. Tuy nhiên, muốn vận hành quỹ này, doanh nghiệp cũng phải tuân thủ nhiều thủ tục hành chính, tương tự như hoạt động nghiên cứu khoa học dùng ngân sách hiện tại.
Vậy nên, các doanh nghiệp hoặc là không mặn mà với việc thành lập quỹ, hoặc thành lập quỹ thiên về chi tiêu cho mua sắm thiết bị, giải pháp công nghệ, chi cho nhân sự… thay vì tập trung vào những nghiên cứu khoa học có thể ứng dụng chính tại doanh nghiệp. Thay vì cách đánh giá dựa trên quy trình, có thể đánh giá dựa trên kết quả, khuyến khích doanh nghiệp nghiên cứu, nộp kết quả và được xét giảm trừ thuế thu nhập trên kết quả này.
Bên cạnh đó, khuyến khích hình thành các quỹ bảo trợ tư nhân cho nghiên cứu khoa học công nghệ. Đây sẽ là nơi để người có ý tưởng tìm đến, hội đồng quản lý quỹ sẽ thẩm định, nếu đạt sẽ hỗ trợ để khởi nghiệp, ươm tạo một thời gian cho tới khi sáng kiến đó biến thành sản phẩm thương mại hoá mang lại lợi nhuận.
Nguồn lực duy trì các quỹ này sẽ đến từ đóng góp của các mạnh thường quân và nguồn thu lại từ các dự án mà họ đã đầu tư. Nhà nước tạo cơ chế để thành lập và vận hành các quỹ này, đồng thời, đề ra các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp lớn, mạnh thường quân đóng góp nhân lực và vật lực cho các quỹ như vậy.
TCCS - Hiện thực hóa hệ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” chính là khẳng định mục tiêu phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc của Đảng ta trên thực tế; sự đúng đắn của đường lối chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của mọi thắng lợi cách mạng, của mọi sự phát triển đất nước; tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội trên thực tế. Đồng thời, hiện thực hóa hệ mục tiêu này còn góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, nâng cao uy tín, vị thế của Đảng và đất nước ta trên trường quốc tế; thực hiện thành công Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ.
Tổng Bí thư Tô Lâm thăm phòng thực hành giáo dục STEM tại Trường Trung học phổ thông Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp_Ảnh: TTXVN
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển 2011) đã bổ sung đặc trưng “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” vừa như là hệ mục tiêu, vừa như là đặc trưng bản chất đầu tiên của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Hệ mục tiêu này bao gồm các thành tố dân giàu về vật chất, tinh thần; nước mạnh về kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự, ngoại giao; xã hội dân chủ, ở đó người dân là chủ thể, vị trí trung tâm; mọi người dân có cuộc sống công bằng, văn minh. Các thành tố trong hệ mục tiêu này có quan hệ, tác động, bổ sung cho nhau, phản ánh khá đầy đủ các mặt đời sống của xã hội mà chúng ta vươn tới. Do vậy, hiện thực hóa hệ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” trong thời kỳ quá độ, đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn, được thể hiện qua những nội dung sau:
Một là, khẳng định mục tiêu phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc của Đảng ta trên thực tế.
Đảng ta không có mục đích nào khác là phục vụ sự nghiệp giải phóng nhân dân Việt Nam khỏi mọi hình thức nô dịch, áp bức, bóc lột, lầm than, đói khổ, bất công; phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc. Nhưng giải phóng con người, giải phóng dân tộc không chỉ dừng lại ở giải phóng, mà còn phải thực hiện “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Chỉ trên cơ sở thực hiện được hệ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” thì con người và dân tộc mới được giải phóng thực sự, triệt để trên thực tế. Nếu dân tộc được giải phóng nhưng người dân vẫn đói, vẫn rét, vẫn thất học, ốm đau, bệnh tật không được chữa thì độc lập dân tộc cũng vô nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(1). Chính vì vậy, Người căn dặn cán bộ, đảng viên phải “làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xóa bỏ... Tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”(2). Đồng thời, giành được độc lập, tự do rồi thì phải xây dựng một xã hội công bằng, hợp lý: “Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng. Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ chăm nom”(3). Nghĩa là thực hiện phương châm “Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất nhiên là trừ những người già cả, đau yếu và trẻ con”(4). Thực hiện được những nguyên tắc này là góp phần thực hiện được hệ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Nghĩa là khẳng định được mục tiêu phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc của Đảng ta trên thực tế.
Hai là, khẳng định sự đúng đắn của đường lối chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của của Đảng.
Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Thành công hay thất bại là phụ thuộc trước hết vào sự đúng đắn của đường lối, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng”(5). Do vậy, khi hiện thực hóa được hệ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” trên thực tế sẽ chứng tỏ Cương lĩnh chính trị, đường lối chính trị, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ta là đúng đắn. Khác với các tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng và các tư tưởng tôn giáo cũng mong cho con người có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, một nghĩa nào đó là cũng mong cho “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Song các tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng và các tư tưởng tôn giáo vẫn chỉ là mong ước, khát vọng. Đảng Cộng sản Việt Nam bằng chủ trương, đường lối lãnh đạo Nhà nước và xã hội, lãnh đạo toàn thể dân tộc bằng các chương trình, chiến lược, kế hoạch, giải pháp để hiện thực hóa hệ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” trên thực tế. Hiện thực được hệ mục tiêu này là vì Cương lĩnh chính trị, đường lối chính trị, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ta là đúng đắn. Nghĩa là, Cương lĩnh chính trị, đường lối chính trị, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ta xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, thực tiễn khu vực, quốc tế và có cơ sở khoa học, phản ánh đúng quy luật vận động khách quan của thực tiễn đất nước, khu vực và thời đại, phản ánh đúng nhu cầu thực tiễn của quần chúng nhân dân. Cũng chính vì vậy, bản thân hệ mục tiêu này cũng như các giải pháp, con đường, cách thức hiện thực hóa hệ mục tiêu này luôn có sự thống nhất, gắn bó mật thiết giữa cơ sở thực tiễn và cơ sở khoa học. Khách quan mà nói, có những lúc, chúng ta có sai lầm, khuyết điểm, nhưng với tinh thần thẳng thắn, khách quan, trung thực, Đảng ta đã sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, giữ vững bản lĩnh cách mạng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Vì vậy, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; trong đó, có sự lãnh đạo thực hiện hệ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Qua đó, khẳng định sự đúng đắn của đường lối chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của của Đảng.
Ba là, khẳng định sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của mọi thắng lợi cách mạng, của mọi sự phát triển đất nước.
Việc hiện thực hóa hệ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” thêm khẳng định sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của mọi thắng lợi, của mọi sự phát triển của đất nước. Đảng ta nhận thức rõ vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc, trong đó có hiện thực hóa hệ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Không phải ngẫu nhiên mà Đại hội XIII của Đảng lại rút ra bài học “trong mọi công việc của Đảng phải luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”(6). Do vậy, Đảng ta đã phát huy, lôi cuốn được đông đảo nhân dân tham gia hiện thực hóa hệ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Chính vì vậy, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định đúng đắn rằng: “Bên cạnh việc xác định chủ trương, đường lối đúng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Nhân dân tiếp nhận, ủng hộ và nhiệt tình tham gia thực hiện đường lối của Đảng vì thấy đường lối đó đáp ứng đúng yêu cầu, nguyện vọng của mình. Sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của thắng lợi, của phát triển”(7). Bởi lẽ, nhân dân ta nhận thấy hệ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phản ánh đúng nhu cầu, nguyện vọng chính đáng, đúng đắn, hợp lý của nhân dân. Do vậy, nhân dân tích cực tham gia hiện thực hóa hệ mục tiêu này. Qua đó, khẳng định sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của mọi thắng lợi cách mạng, của mọi sự phát triển đất nước.
Bốn là, khẳng định tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội trên thực tế.
Hiện thực hóa được hệ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” sẽ khẳng định được tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội trên thực tế. Hệ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” đã thể hiện được những giá trị cốt lõi của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta hướng tới. Hệ mục tiêu này thể hiện một xã hội “thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người”(8); “con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”(9); “sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội”(10); “một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé” vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm”(11)... Rõ ràng, hiện thực hóa được hệ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” cho thấy chủ nghĩa xã hội là xã hội ưu việt hơn tất cả các xã hội trước đó và đương thời. Chủ nghĩa tư bản cũng đề ra các giá trị mà nó hướng tới và phải khách quan thừa nhận rằng, “chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học và công nghệ. Nhiều nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều kiện kinh tế cao và do kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đã có những biện pháp điều chỉnh, hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước”(12). Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó. Bởi lẽ: “Đó là hậu quả của một quá trình phát triển kinh tế - xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội. Đó cũng chính là những đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng tư bản chủ nghĩa. Các cuộc khủng hoảng đang diễn ra một lần nữa chứng minh tính không bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái của nó”(13). Do vậy, việc hiện thực hóa hệ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” sẽ khẳng định được tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội so với các xã hội khác, nhất là chủ nghĩa tư bản trên thực tế.
Năm là, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
Hiện thực được hệ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” là chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, bảo đảm xã hội công bằng, dân chủ cho nhân dân trên thực tế. Trên cơ sở đó, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Niềm tin là sự tin tưởng, hy vọng vào điều có căn cứ, cơ sở khoa học, thực tiễn. Nhân dân chỉ tin tưởng vào Đảng khi Đảng mang lại cuộc sống thực sự ấm no, tự do, hạnh phúc, dân chủ, công bằng cho nhân dân. Không phải ngẫu nhiên mà Đảng ta đã rút ra bài học kinh nghiệm quý báu: “Sự nghiệp cách mạng là của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Chính Nhân dân là người làm nên thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chân chính của Nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với Nhân dân. Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời Nhân dân sẽ đưa đến những tổn thất không lường được đối với vận mệnh của đất nước”(14). Hiện thực hóa hệ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” chính là xuất phát từ nhu cầu, lợi ích, nguyện vọng chân chính, đúng đắn, hợp lý của nhân dân và thực hiện mục tiêu phục vụ nhân dân. Sở dĩ, nhân dân ta một lòng, một dạ đi theo Đảng, bảo vệ Đảng khi có khó khăn, chia sẻ với Đảng khi cần là bởi lẽ, nhân dân thấy Đảng luôn chăm lo cho nhân dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Ngược lại, nếu làm trái lòng dân thì sẽ mất tất cả, dân sẽ không tin, không theo và không ủng hộ. Niềm tin của nhân dân chỉ có thể được củng cố trên cơ sở nhiều yếu tố, nhiều điều kiện, nhưng trước hết và trên hết phụ thuộc vào chính hiệu quả hiện thực hóa hệ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Vì hiện thực hóa hệ mục tiêu này là trực tiếp hiện thực hóa những nhu cầu, lợi ích, mong muốn chính đáng, hợp lý, thiết thực của nhân dân. Rõ ràng là niềm tin của nhân dân đối với Đảng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng yếu tố trực tiếp, hiện thực là Đảng làm gì cho nhân dân trên thực tế, thể hiện rõ hơn cả khi hiện thực hóa được hệ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Lung linh Lễ hội sông nước Thành phố Hồ Chí Minh_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn
Sáu là, nâng cao uy tín, vị thế của Đảng và đất nước trên trường quốc tế.
Hiện thực hóa được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, về thực chất, là làm cho đời sống của nhân dân được giàu lên về vật chất, về tinh thần, văn hóa, có sức khỏe thể chất đáp ứng yêu cầu thực tiễn, có cuộc sống công bằng, dân chủ, văn minh. Từ một nước nửa thuộc địa, nửa phong kiến, nhân dân đói khổ, đến nay, thu nhập của nhân dân ta đã tăng lên trên 4.000 USD/người/năm. Sau gần 40 năm đổi mới, thực hiện hệ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu, gồm: “Kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố”(15). Đồng chí cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khái quát: Trong suốt 35 năm qua (tính đến tháng 5-2021) với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỷ USD, trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD/năm. Tỷ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều.Việt Nam tập trung hoàn thành xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2010; số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gần 17 lần trong 35 năm qua. Hiện nay, Việt Nam có 95% người lớn biết đọc, biết viết. Tuổi thọ trung bình của dân cư tăng từ 62 tuổi năm 1990 lên 73,7 tuổi năm 2020. Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ. Năm 2019, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704 thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển(16). Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Có thể nói: “Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(17).
Đối với Đảng ta, bạn bè quốc tế đánh giá rất cao. Ông Philip Fernandez, đảng viên Đảng Cộng sản Canada, trong Hội thảo kỷ niệm 90 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Uy tín và vị thế cao của Việt Nam trên trường quốc tế đã phản ánh sức mạnh chính trị và ý thức hệ của Đảng, cũng như khả năng tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam khi tìm ra phương hướng trong tình hình quốc tế phức tạp hiện nay, và cùng với sự tham gia của nhân dân để đưa ra chương trình nghị sự nhằm xây dựng một nước Việt Nam hiện đại. Một ưu điểm nổi bật của Đảng Cộng sản Việt Nam đó là khả năng ứng dụng một cách sáng tạo các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện của Việt Nam để đạt được các mục tiêu ở quy mô quốc gia và quốc tế. Điều này cũng phản ánh niềm tin của người dân Việt Nam vào sự lãnh đạo của Đảng. Niềm tin của cộng đồng quốc tế đối với Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện khi Việt Nam mới đây đã trúng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 với số phiếu gần như tuyệt đối”(18). Tương tự, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Argentina, Victor Kot, GS. Carl Thayer của Đại học New South Wales (Australia), nhà Việt Nam học kỳ cựu Evghenhi Kobelev, chuyên gia nghiên cứu hàng đầu của Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và ASEAN thuộc Viện Viễn Đông, Viện Hàn lâm khoa học Nga (RAN),... đã đánh giá cao vai trò, uy tín, vị thế của Đảng Cộng sản Việt Nam. Giáo sư Kolotov (Đại học Tổng hợp quốc gia Sant Peterburg Nga) nhấn mạnh, Việt Nam chưa bao giờ có được vị thế cao như hiện nay, điều này đạt được là nhờ Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và phát triển đất nước, với tốc độ tăng trưởng kinh tế hơn 7% và đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao liên tục trong nhiều năm(19). Rõ ràng là, hiện thực hóa hệ mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” đã nâng cao uy tín, vị thế quốc tế của Đảng và đất nước ta trên trường quốc tế.
Bảy là, góp phần thực hiện thành công Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ.
Trong tác phẩm Di chúc, Hồ Chủ tịch căn dặn: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(20). Chúng ta đều rõ, Di chúc được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta chưa kết thúc. Do vậy, Bác đã nhấn mạnh tới thành tố hòa bình, thống nhất, độc lập, nhưng Bác vẫn mong muốn đất nước ta phải dân chủ, giàu mạnh. Đất nước có dân chủ, giàu mạnh thì chúng ta mới góp phần xứng đáng được vào sự nghiệp cách mạng thế giới. Bởi lẽ, theo nghĩa thông thường chung nhất, giàu mạnh là giàu có và vững mạnh, còn dân chủ là dân là chủ, dân làm chủ; là quyền lực nhà nước thuộc nhân dân, của nhân dân; ngoài ra, dân chủ còn được hiểu là chế độ dân chủ - một hình thức tổ chức thiết chế chính trị - xã hội mà ở đó toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân, do nhân dân thực hiện hoặc thông qua người đại diện do nhân dân bầu ra, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng, tự do và quyền con người. Nếu đất nước không giàu có, không vững mạnh, không có dân chủ thì khó mà xây dựng được đất nước hòa bình, thống nhất, độc lập, cũng như không thể góp phần xứng đáng và sự nghiệp cách mạng thế giới. Điều này cho thấy, hiện thực hóa hệ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” là góp phần trực tiếp vào thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ. Việt Nam cũng đóng góp ngày càng trách nhiệm và hiệu quả trong các vấn đề toàn cầu, hoạt động quốc tế, như cử được 5 bệnh viện dã chiến cấp 2 và 2 đội công binh làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Phái bộ Nam Sudan và Abyei; cử 2 đoàn công tác, gồm lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam và lực lượng Công an nhân dân Việt Nam tham gia hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ và Syria vào tháng 2-2023... Đây là biểu hiện rõ của việc thực hiện cam kết chính trị của Việt Nam với vai trò là một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, sẵn sàng chung tay giải quyết các khó khăn, thách thức và duy trì môi trường hòa bình, ổn định, vì sự hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới. Điều đó góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới của Đảng và nhân dân ta theo Di chúc của Bác Hồ vĩ đại. Như vậy, hiện thực hóa hệ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” là trực tiếp góp phần thực hiện thành công Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ.
Bảy ý nghĩa trên của việc hiện thực hóa hệ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” liên hệ, bổ sung cho nhau, cùng nhau thống nhất tạo nên ý nghĩa lý luận, thực tiễn, lịch sử to lớn của công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam./.