Thứ Ba, 4 tháng 2, 2025

Vươn mình bước vào kỷ nguyên mới dưới sự lãnh đạo của Đảng

 

(TG) - Mọi luận điệu xuyên tạc nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; những “lý luận” rêu rao rằng Việt Nam muốn “vươn mình trong kỷ nguyên mới” thì cần phải thực hiện dân chủ đa nguyên, đa đảng đối lập... đều cần phải được nhận diện đúng để kịp thời đấu tranh, bác bỏ.

Gần đây các phần tử bất mãn, cơ hội, phản động lợi dụng phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Phiên khai mạc Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XV, ngày 21/10/2024: “Trong 3 điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thể chế, hạ tầng và nhân lực thì thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn” để xuyên tạc và “định hướng dư luận” là đã đến lúc phải xóa bỏ “điểm nghẽn” của điểm nghẽn đó.

Chúng ta không lạ gì chủ ý của những giọng điệu chống phá không ngoài nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, “kêu gọi” thực hiện dân chủ đa nguyên... Vì thế, chúng ta cũng cần khẳng lại một sự thật chắc chắn rằng, “điểm nghẽn của điểm nghẽn” ở Việt Nam không phải là Đảng Cộng sản, bởi “mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản” đã được ghi rõ trong Điều lệ Đảng.

KIÊN ĐỊNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

Gần 95 năm về trước, ngay từ khi mới ra đời, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên (2/1930), Đảng ta đã khẳng định rõ nhiệm vụ giải phóng dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội (CNXH). Theo đó cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn: Cách mạng tư sản dân quyền (giành độc lập dân tộc; mang lại ruộng đất cho dân cày) và cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) (xây dựng CNXH, chủ nghĩa cộng sản). Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH - Ý Đảng và khát vọng của lòng Dân gặp nhau đã bồi tụ nên nguồn sức mạnh vô song của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, góp phần làm nên thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc, khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2/9/1945).

Thực tế cho thấy, dù phải trải qua các cuộc chiến tranh nhân dân để bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc, song một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ, ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc đã và đang hiển hiện trên thực tế. Một Việt Nam kiên định độc lập dân tộc và CNXH “đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt cả về vật chất và tinh thần. Đất nước ta chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(1) là minh chứng sinh động cho thấy rằng: 1) Lý tưởng cộng sản, con đường cách mạng vô sản do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam lựa chọn và được triển khai ở Việt Nam dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là đúng đắn, phù hợp điều kiện cụ thể của Việt Nam; phù hợp xu thế phát triển tất yếu của nhân loại. 2) CNXH không “mất đi”, không bị “xóa bỏ”, dù mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu sụp đổ mà vẫn hiện diện trong đời sống đương đại. 3) Bài học kinh nghiệm về những sai lầm trong đường lối cải tổ (xóa bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ; xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản; phi chính trị hóa lực lượng vũ trang; sự thoái hóa, biến chất trong nội bộ; sai lầm trong công tác cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt cấp chiến lược…) của Liên Xô đã được Đảng Cộng sản Việt Nam rút kinh nghiệm để tiến hành thành công sự nghiệp đổi mới từ Đại hội VI (12/1986)...

Thực tế là, từ năm 1930 đến nay, ngoài Đảng Cộng sản - đội tiền phong của giai cấp và dân tộc thì không có đảng phái, tổ chức chính trị của các nhân sĩ, trí thức yêu nước hay của giai cấp tư sản dân tộc nào đủ năng lực, uy tín chính trị để lãnh đạo thành công sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Vị thế, vai trò lãnh đạo của Đảng không chỉ được ghi rõ trong các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định, chuyên đề của Đảng; không chỉ được khẳng định trong các công trình nghiên cứu, đánh giá, tổng kết về lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, mà còn được các tầng lớp nhân dân tin tưởng và các chính đảng khác (Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội, Việt Nam Quốc dân Đảng, Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội…) ghi nhận. Vì thế, những luận điệu bẻ cong sự thật, rằng: “Đảng độc tài tự phong mình là lực lượng lãnh đạo” và “tự quyết định” xây dựng CNXH mà không hỏi “xem người dân Việt Nam có muốn hay không” là xuyên tạc và phản động.

Thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội không phải bằng mệnh lệnh hành chính mà bằng Cương lĩnh, quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; bằng công tác cán bộ và hoạt động của các tổ chức Đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên theo đúng tinh thần “các tổ chức Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” như Hiến pháp năm 2013 quy định. Cho nên, cũng không có cái gọi là Đảng “tự đặt mình lên trên Hiến pháp” như các thế lực thù địch xuyên tạc để chống phá Đảng và chế độ.

Hơn nữa, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam có Hiến pháp và một hệ thống pháp luật được xây dựng, điều chỉnh, bổ sung, ngày càng hoàn thiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã hội… để không chỉ thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý đời sống xã hội hướng đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mà còn bảo đảm, bảo vệ, thực thi, thúc đẩy quyền con người, quyền công dân và chủ động hội nhập quốc tế khi tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022.

Thực tế là, kiên định con đường đi lên CNXH, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam thực sự là người chủ và đã, đang, tiếp tục làm chủ vận mệnh của mình, của dân tộc mình trên hành trình hướng đến tương lai. Nền dân chủ XHCN mà Việt Nam xây dựng và thực hiện là yêu cầu nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam; là mục tiêu, là động lực cho sự phát triển của đất nước, không chỉ thể hiện sinh động tư tưởng Hồ Chí Minh: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ./ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân./ Bao nhiêu quyền hạn đều của dân./ Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân./ Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân./ Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra./ Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên./ Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(2), mà còn tạo điều kiện để bảo đảm và phát huy quyền dân chủ của người dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Cần khẳng định rằng, một Việt Nam bứt phá, phát triển với diện mạo mới, tầm vóc và vị thế mới đã khác xa những ngày Đảng chưa ra đời; khác nhiều hơn so với trước khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công và đã “thay da đổi thịt” từ khi cả nước thống nhất cùng đi lên CNXH sau thắng lợi của cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Do đó, dù các phần tử bất mãn, cơ hội, phản động có “lập luận” và “lập lờ đánh lận con đen” dưới bất cứ hình thức cũng đều là sự xuyên tạc, cố tình bẻ cong sự thật hòng phủ nhận và đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

VƯƠN MÌNH TRONG KỶ NGUYÊN MỚI ĐỂ GIỮ VỮNG MỤC TIÊU ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Đảng ta vừa khẳng định đi lên CNXH là xu thế không thể đảo ngược (mặc dù tình hình khu vực, thế giới có nhiều thay đổi, diễn biến hết sức phức tạp) và cơ chế hoạt động chính trị luôn được củng cố, giữ vững là “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”, vừa tiến hành đổi mới tư duy trên cơ sở nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật từ Đại hội VI (12/1986). Việc đổi mới mạnh mẽ sự lãnh đạo của Đảng; sự quản lý của nhà nước; cơ chế nhân dân làm chủ không chỉ giữ vững sự ổn định về chính trị, mà còn góp phần để đất nước đạt được nhiều thành tựu về kinh tế, xã hội và tiếp tục tiến những bước hết sức ngoạn mục.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, với việc đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế, từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Việt Nam đã chuyển sang cơ chế thị trường, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Với việc lựa chọn con đường phát triển đúng trọng tâm, phù hợp quy luật, từ một nước nông nghiệp, lạc hậu, nghèo nàn, quy mô nền kinh tế nhỏ bé, Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ một nền kinh tế đóng cửa, khép kín, Việt Nam trở thành đối tác thương mại lớn thứ 22 toàn cầu…

Sau gần 40 năm tiến hành đổi mới, sự thay đổi trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đã mang đến cho Việt Nam cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín mới trong khu vực và cộng đồng quốc tế. Chính những thành tựu vĩ đại dưới sự lãnh đạo của Đảng đã “giúp Việt Nam tích lũy thế và lực cho sự phát triển bứt phá trong giai đoạn tiếp theo (...). Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; lợi ích quốc gia, dân tộc được bảo đảm. Quy mô nền kinh tế năm 2023 tăng gấp 96 lần so với năm 1986. Việt Nam trong nhóm 40 nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới và 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài; có quan hệ ngoại giao với 193 nước là thành viên Liên hợp quốc; xây dựng các mối quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với tất cả các cường quốc trên thế giới và khu vực...” như Tổng Bí thư Tô Lâm đã trao đổi với các học viên Lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng đối với cán bộ quy hoạch Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIV, ngày 31/10/2024.

 

Trước thềm Đại hội XIV của Đảng, Việt Nam đang đứng trước một ngã rẽ quan trọng trong lịch sử phát triển quốc gia, nhưng chắc chắn “mô hình chính trị hiện tại”- một Đảng Cộng sản lãnh đạo - không hề làm “cản trở sự phát triển bền vững và hội nhập sâu rộng với cộng đồng quốc tế” của Việt Nam. Mà trái lại, việc kiên định con đường đi lên CNXH dưới sự lãnh đạo của Đảng; kiên định thể chế chính trị nhất nguyên chứ không thực hiện dân chủ đa nguyên; kiên định xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng… đã mang đến cho Việt Nam độc lập, tự do, thống nhất, hòa bình và phát triển ổn định gần nửa thế kỷ qua. Đó chính là sự thật, chứ không phải mô hình một Đảng Cộng sản lãnh đạo và việc lựa chọn xây dựng CNXH dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là “giới hạn tiềm năng phát triển quốc gia và làm suy yếu vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế” như các thế lực chống phá vẫn thường rêu rao bịa đặt.

Sự thật là, việc “tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam”(3) và “bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, trên cơ sở nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi”(4) của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đã không chỉ mang lại sự tăng cường hợp tác chiến lược và sự tin tưởng lẫn nhau, mà còn gia tăng hiệu quả trong hợp tác quốc phòng và an ninh và tăng cường hợp tác kinh tế và hội nhập toàn cầu…

Những sự thật khách quan nêu trên đã chứng minh con đường mà Việt Nam đang đi là đúng đắn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, những thành tựu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đã đạt được là không thể phủ nhận. Những sự thật đó là bằng chứng phủ nhận hoàn toàn những giọng điệu “ngụy phản biện”, rằng: Việt Nam muốn vươn mình trong kỷ nguyên mới thì phải từ bỏ “chế độ chính trị độc đảng lãnh đạo” và lựa chọn chế độ “dân chủ đa nguyên”(!).

Đổi mới là bản chất của cách mạng, của phát triển, vì thế Việt Nam sẽ tiếp tục đổi mới để hướng đến tương lai tươi sáng, nhưng chắc chắn không “đổi màu”. Việc kiên định độc lập dân tộc và CNXH chính là để làm cho quá trình thực hiện đổi mới tiến bộ được thực hiện hiệu quả; để CNXH phát huy được bản chất ưu việt, tránh sự giáo điều, trì trệ, xơ cứng trong tư duy và tư tưởng; để làm sinh động những giá trị bền vững của một Việt Nam hòa bình, độc lập, tự do, tự chủ, giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH.

Việc “đổi mới thể chế chính trị”, thực hiện dân chủ đa nguyên, tổ chức xã hội dân sự không phải là “lối đi duy nhất”; càng không phải là Việt Nam đang đứng trước một cơ hội lớn “cần phải” thực hiện “chuyển đổi thể chế và trở thành một quốc gia tự do, dân chủ, phù hợp với các giá trị phương Tây” như các phần tử bất mãn, cơ hội, phản động cổ súy. Cho nên, một điều chắc chắn là, Việt Nam sẽ vươn mình trong kỷ nguyên mới nhưng không thay đổi chế độ chính trị; không từ bỏ con đường và mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH - sợi chỉ đỏ, xuyên suốt, nhất quán của con đường cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng; không khi nào từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng.

Đúng như Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định, Việt Nam tiếp tục đổi mới trong bối cảnh thế giới đang nhiều thay đổi có tính thời đại và đất nước cũng đang bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng để xây dựng một nước Việt Nam XHCN phồn vinh, hạnh phúc, song đó không phải là “con đường toàn trị”, “tiếp tục chính sách đàn áp các tiếng nói bất đồng” như các thế lực thù địch bôi đen. Mà đó là nhân nguồn sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và đảm bảo, bảo vệ, thực thi, thúc đẩy quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam... chứ không chấp nhận dân chủ đa nguyên, đa đảng đối lập, tổ chức xã hội dân sự và càng không đi theo con đường tư bản chủ nghĩa./.

    TS. VĂN THỊ THANH MAI, TS. NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

Thời điểm cho kỷ nguyên phát triển vươn mình

“Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” là khát vọng đã có từ rất sớm ở nhiều thế hệ cha ông. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, kỳ vọng trở thành nước công nghiệp mới tưởng như đã đến rất gần với Việt Nam nhưng vẫn không thành. Lúc đó, một vài quốc gia  ASEAN khác cũng được thế giới dự báo sẽ là các nước NICs thế hệ tiếp theo, nhưng rồi cũng tăng trưởng chậm lại, các vấn đề xã hội phát sinh gay gắt, khi bối cảnh thế giới đột nhiên bất lợi hơn kể từ sau khủng hoảng tài chính Đông Á.

Nghĩa là từ sau sự thần kỳ của mấy “con rồng châu Á”, không nhiều quốc gia thu nhập trung bình bứt phá thành công.

Đối với Việt Nam, “cơ sở định vị” cho giai đoạn phát triển mới là những thành tựu thực tế mà đất nước đã đạt được sau 40 năm đổi mới - thế và lực đã đủ để bứt phá, không còn mắc kẹt ở tình trạng “lực bất tòng tâm” như giai đoạn trước - Cách mạng công nghiệp 4.0, tiến bộ mới của AI, nền tảng công nghệ số… đã bắt rễ trong đời sống; xã hội ổn định nhưng khá năng động; trình độ phát triển con người cao (High Human Development: chỉ số HDI > 0,700 từ năm 2020); dân số trẻ, trình độ học vấn tốt và ngày càng tăng; tỷ lệ lao động nữ cao hàng đầu khu vực; một thế hệ lãnh đạo mới có tư duy kỹ trị, đủ thực tế và có tầm nhìn; vị thế địa chính trị cũng đã trở thành lợi thế của đất nước trong tranh thủ quan hệ quốc tế.

Nghĩa là, Việt Nam hôm nay đang được coi là ở vào thời điểm “có một không hai” cho một “kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.

Đi cùng nhịp tiến bộ của thời đại. Bây giờ hay chưa biết đến bao giờ…

Tổng Bí thư Tô Lâm dự chương trình nghệ thuật đặc biệt “95 năm thắp sáng niềm tin”.

 Tối 3-2, chương trình nghệ thuật đặc biệt mang tên “95 năm thắp sáng niềm tin” đã diễn ra tại Nhà hát Hồ Gươm (Hà Nội). Tổng Bí thư Tô Lâm dự chương trình.

Cùng dự có các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; đại diện lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương, TP Hà Nội, các đồng chí trong Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an, cùng đại diện các tướng lĩnh, gia đình tướng lĩnh và cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân.

Tổng Bí thư Tô Lâm dự chương trình nghệ thuật đặc biệt “95 năm thắp sáng niềm tin”
Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các đại biểu tham dự chương trình. Ảnh: cand.com.vn

Chương trình do Cục Công tác Đảng và công tác chính trị (Bộ Công an) chỉ đạo, Nhà hát Hồ Gươm phối hợp cùng Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam tổ chức, nhân kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Chương trình được truyền hình trực tiếp trên kênh VTV2, Đài Truyền hình Việt Nam.

Chương trình nghệ thuật “95 năm thắp sáng niềm tin” do Thiếu tướng, Nghệ sĩ nhân dân Nguyễn Công Bẩy chỉ đạo nội dung; chỉ đạo nghệ thuật gồm các Nghệ sĩ ưu tú: Trịnh Tùng Linh, Thượng tá Trần Thị Út Lan và ông Trần Hải Đăng.

Chương trình có sự góp mặt của Nghệ sĩ nhân dân Bùi Công Duy (violin), Nghệ sĩ ưu tú Khánh Ngọc; các ca sĩ: Phạm Thu Hà, Bảo Yến, Trọng Tấn, Kim Long, Viết Danh; Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam, Nhà hát Ca múa nhạc Công an nhân dân, Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam, dưới sự chỉ huy của Nhạc trưởng Honna Tetsuji.

Tổng Bí thư Tô Lâm dự chương trình nghệ thuật đặc biệt “95 năm thắp sáng niềm tin”
Đồng chí Nguyễn Hòa Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ và Thượng tướng Trần Quốc Tỏ, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an tặng hoa các nghệ sĩ. Ảnh: cand.com.vn

Chương trình nghệ thuật đặc biệt “95 năm thắp sáng niềm tin” giới thiệu tới công chúng yêu âm nhạc những tác phẩm đi cùng năm tháng, có chủ đề ca ngợi Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, ca ngợi quê hương, đất nước, như: Ca ngợi Hồ Chủ tịch, Đảng đã cho ta một mùa Xuân, Đất nước, Dáng đứng Việt Nam, Giai điệu Tổ quốc, Người là niềm tin tất thắng...

Bên cạnh những ca khúc thể hiện tình yêu Tổ quốc, chương trình còn giới thiệu tới công chúng những sáng tác về mùa Xuân với những khoảnh khắc vui tươi, lãng mạn, như: Hà Nội mùa Xuân, Mùa chim én bay, Mùa Xuân đầu tiên...

Trong chương trình, tác phẩm "Voice of Spring" của nhà soạn nhạc lừng danh J. Strauss mang đến cho khán giả yêu nhạc một bức tranh mùa Xuân tràn đầy sức sống.

Tổng Bí thư Tô Lâm dự chương trình nghệ thuật đặc biệt “95 năm thắp sáng niềm tin”
Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam biểu diễn dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Honna Tetsuji. Ảnh: cand.com.vn

Nghệ sĩ ưu tú Trịnh Tùng Linh, Giám đốc Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam cho biết: Trong chương trình này có những ca khúc đã đi cùng năm tháng, ca ngợi Đảng, quê hương, đất nước. Chương trình là một dấu ấn góp phần vào ngày lễ kỷ niệm rất trọng đại của dân tộc - Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và Chào Xuân năm 2025.

Bày tỏ niềm vui khi được tham gia biểu diễn trong chương trình, ca sĩ Trọng Tấn chia sẻ: "Chúng ta thấy một mùa Xuân mới với khí thế mới, chặng đường mới. Chúng ta cũng thấy được sự chuyển mình của đất nước và tin tưởng, trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ đưa đất nước ta đến những mùa Xuân vinh quang và thắng lợi".

Chia sẻ niềm tự hào khi được tham gia biểu diễn trong chương trình, ca sĩ trẻ Viết Danh bày tỏ: "Được tham gia vào chương trình nghệ thuật đặc biệt kỷ niệm 95 năm thành lập Đảng là điều may mắn và hạnh phúc đối với những nghệ sĩ trẻ như tôi. Đó là mong muốn được cống hiến, đồng thời cũng là niềm tự hào, tình cảm sâu sắc của tôi đối với quê hương, đất nước, với Đảng quang vinh".

Trong khuôn khổ chương trình, đan xen với các tiết mục âm nhạc là hoạt động giao lưu với các khách mời.

Tại đây, công chúng được nghe khách mời chia sẻ những cảm xúc đặc biệt về chương trình nghệ thuật; về giá trị của âm nhạc đồng hành cùng dân tộc; về kỳ vọng vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đưa nước ta tiến vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; về sự chung tay, đồng lòng của nhân dân để đưa đất nước ngày càng phát triển; về vai trò, sứ mệnh của lực lượng Công an nhân dân trong đảm bảo an ninh trật tự...

VOV.VN - Tổng thống Donald Trump ngày 4/2 đã ký sắc lệnh rút Mỹ khỏi Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc. Đồng thời, Mỹ cũng sẽ tiếp tục ngừng tài trợ cho Cơ quan Liên Hợp Quốc hỗ trợ người tị nạn Palestine.

 

Trong nhiệm kỳ đầu tiên, Tổng thống Trump đã rút Mỹ khỏi Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc. Sau đó, Tổng thống Joe Biden tái gia nhập cơ quan này trong nhiệm kỳ 2022-2024. Hiện Mỹ không phải là thành viên của cơ quan này.

Động thái của Tổng thống Donald Trump diễn ra trong bối cảnh Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu đang có chuyến thăm Mỹ. Ông Netanyahu từng chỉ trích Cơ quan Liên Hợp Quốc hỗ trợ người tị nạn Palestine kích động tâm lý chống Israel và cáo buộc một số nhân viên của cơ quan này tham gia các hoạt động khủng bố chống lại Israel.

Tổng thống Trump trong nhiệm kỳ đầu cũng đã cắt nguồn tài trợ cho Cơ quan Liên Hợp Quốc hỗ trợ người tị nạn Palestine và cho rằng người dân Palestine cần phải đồng ý nối lại các cuộc đàm phán hòa bình với Israel.

Tài trợ được nối lại cho Cơ quan Liên Hợp Quốc hỗ trợ người tị nạn Palestine dưới thời ông Biden. Tuy nhiên, vào tháng 1/2024, chính quyền Tổng thống Biden đã đình chỉ viện trợ của Mỹ cho Cơ quan Liên Hợp Quốc hỗ trợ người tị nạn Palestine này sau khi Israel cáo buộc rằng một số nhân viên của cơ quan này tham gia cuộc tấn công của Hamas vào Israel ngày 07/10 năm 2023.

Kể từ khi bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai, Tổng thống Trump đã rút Mỹ khỏi Tổ chức Y tế Thế giới và Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu như đã từng làm trong nhiệm kỳ đầu tiên.

                                                                                          PV/VOV-Washington

Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo xây dựng nhà máy điện hạt nhân.

 Sáng 4-2, tại Hà Nội, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo xây dựng nhà máy điện hạt nhân chủ trì Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo.

Cùng dự có Phó thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn, Phó trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo; Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên, Phó trưởng Ban Chỉ đạo; lãnh đạo các Bộ, ngành, địa phương là thành viên Ban Chỉ đạo.

Mở đầu phiên họp, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cho biết, phát triển xanh, bền vững là chủ trương của Đảng, Nhà nước. Biến đổi khí hậu đang diễn biến phức tạp mà Việt Nam là một trong những nước chịu tác động lớn, gây sụt lún, khô hạn, xâm nhập mặn; do vậy việc nỗ lực góp phần giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên.

Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo xây dựng nhà máy điện hạt nhân

Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo xây dựng nhà máy điện hạt nhân. 

Trong bối cảnh đó, Việt Nam phấn đấu đạt tăng trưởng kinh tế 8% trở lên trong năm 2025 và tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn tới. Do đó nhu cầu điện phải tăng từ 12-16%/năm. Việt Nam thúc đẩy phát triển kinh tế dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là các ngành mới nổi như trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, internet vạn vật, dữ liệu lớn… nên nhu cầu năng lượng điện là rất lớn.

Khẳng định, phát triển năng lượng xanh và bền vững là yêu cầu cấp bách, phát triển điện hạt nhân là một trong những biện pháp để đáp ứng yêu cầu và phù hợp với xu thế thế giới, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tại phiên họp thứ hai này các thành viên Ban Chỉ đạo rà soát lại các công việc đã được giao sau phiên họp thứ nhất của Ban Chỉ đạo, đồng thời thảo luận, góp ý xây dựng kế hoạch cụ thể triển khai xây dựng nhà máy điện hạt nhân.

Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo xây dựng nhà máy điện hạt nhân
 Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu.

Trong đó, xác định rõ mục tiêu, lộ trình; nhiệm vụ của các thành viên Ban Chỉ đạo, từng bộ, ngành, địa phương phải thực hiện phát triển hạ tầng; di dân tái định cư; vấn đề chuyển giao công nghệ; đào tạo nguồn nhân lực; chủ đầu tư; xác định nguồn vốn; các cơ chế chính sách; những vấn đề vướng mắc, khó khăn cần tháo gỡ, trên tinh thần vướng ở đâu, ai giải quyết, bao giờ hoàn thành, kết quả là gì, tránh tình trạng “lòng vòng, lo vo”.

Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo xây dựng nhà máy điện hạt nhân
 Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo xây dựng nhà máy điện hạt nhân. 

Cho biết, việc phát triển điện hạt nhân là vấn đề lớn, đại sự quốc gia, vấn đề khó, nhạy cảm nên cần có sự tập trung, đầu tư công sức, trí tuệ tương xứng, cần thiết thành lập Tổ công tác, tổ giúp việc chuyên trách giúp Ban Chỉ đạo, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu kế hoạch phải xác định rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ kết quả để việc triển khai xây dựng nhà máy điện hạt nhân đạt hiệu quả.

Kết luận phiên họp, hoan nghênh Bộ Công Thương và các bộ, ngành, địa phương đã vào cuộc khẩn trương triển khai xây dựng nhà máy điện hạt nhân, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính yêu cầu tiếp tục kiện toàn Ban Chỉ đạo, bổ sung thêm thành viên và các cơ quan giúp việc Ban Chỉ đạo, cụ thể là Tổ giúp việc Ban Chỉ đạo với các cán bộ, chuyên gia có năng lực, chuyên nghiệp, trách nhiệm, nhiệt huyết, đam mê trong lĩnh vực này.

Yêu cầu các bộ, ngành khẩn trương hoàn thiện thể chế pháp luật liên quan điện hạt nhân, trong đó, trình sửa đổi Luật Năng lượng nguyên tử, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh thời gian, trí tuệ và sự quyết đoán quyết định mọi thắng lợi; căn cứ bối cảnh tình hình trong nước, quốc tế, sửa đổi, bổ sung luật theo hướng những vấn đề đã rõ, đã chín, được thực tiễn chứng minh là đúng, thực hiện có hiệu quả, đa số đồng tình thì đưa vào Luật; đẩy mạnh phân cấp phân quyền, phân định rõ trách nhiệm, xóa bỏ cơ chế xin-cho, giảm thủ tục hành chính; những việc doanh nghiệp làm tốt thì giao cho doanh nghiệp…

Lưu ý phải vì nhiệm vụ chung, chống hình thức, tiêu cực, tham nhũng, Thủ tướng chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương đề xuất cơ chế chính sách đặc thù để triển khai dự án nhanh nhất, thuận lợi nhất, trên tinh thần “vừa chạy, vừa xếp hàng”, hoàn thành trước ngày 15-2-2025 để Bộ Công Thương tổng hợp báo cáo Chính phủ trình cấp có thẩm quyền; hoàn thành trình điều chỉnh Quy hoạch điện VIII xong trước 28-2-2025.

Nhất trí phấn đấu đến 31-12-2030, chậm nhất đến 31-12-2031 hoàn thành xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu xây dựng đường găng tiến độ theo mục tiêu này, phân công các việc cho các bộ, ngành, địa phương; tiến hành đàm phán với các đối tác đáp ứng tốt nhất yêu cầu đặt ra theo Kết luận, Nghị quyết của Trung ương, Bộ Chính trị, Quốc hội và chỉ đạo của đồng chí Tổng bí thư.

Trên cơ sở nội dung đã đàm phán trước đây, cập nhật các yếu tố mới, xác định quy mô, công suất, công nghệ, tổng đầu tư; rà soát nguồn nhân lực đã đào tạo trước đây, cũng như nhân lực các ngành nghề tương tự bổ sung kiến thức và có cơ chế chính sách thu hút nguồn nhân lực phát triển điện hạt nhân.

Trước mắt giao Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) đảm nhiệm nhiệm vụ chủ đầu tư Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2, Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh, dự án điện hạt nhân Ninh Thuận là công trình trọng điểm quốc gia, quy mô lớn nên cần huy động các nguồn lực, trước mắt sử dụng vốn dự phòng của năm 2025, sau đó nghiên cứu sẽ bổ sung nguồn vốn cho dự án.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tỉnh Ninh Thuận khẩn trương, làm ngay và hoàn thành việc giải phóng mặt bằng, tái định cư, ổn định đời sống, sản xuất, kinh doanh cho người dân trong vùng dự án trong năm 2025, sẵn sàng bàn giao 1.600 ha đất sạch để triển khai dự án; đồng thời phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan, doanh nghiệp nâng cấp sân bay Thành Sơn theo hướng lưỡng dụng để phục vụ và khai thác nhu cầu từ dự án Nhà máy điện hạt nhân và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Ninh Thuận và khu vực.

Giao các việc cụ thể cho các bộ, ngành, địa phương trong việc phối hợp với IAEA về các vấn đề liên quan điện hạt nhân; thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi; bố trí kinh phí dự phòng cho dự án theo quy định; tăng cường thông tin, truyền thông…, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Ban Chỉ đạo duy trì họp mỗi tháng 1 lần để rà soát, kiểm điểm, thúc đẩy việc triển khai xây dựng nhà máy điện hạt nhân.

Trò lố xuyên tạc phiên tòa xét xử bị cáo Lưu Bình Nhưỡng và Lê Thanh Vân

 

Ngay sau khi TAND tỉnh Thái Bình mở phiên tòa sơ thẩm xét xử bị cáo Lưu Bình Nhưỡng - cựu đại biểu Quốc hội, cựu Phó trưởng Ban Dân nguyện thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội; bị cáo Lê Thanh Vân - cựu đại biểu Quốc hội, cựu Ủy viên thường trực Ủy ban Ngân sách Quốc hội cùng 3 bị cáo, các thế lực thù địch, phản động đã lợi dụng vụ án trên để tung ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, chỉ trích cơ quan tiến hành tố tụng.

Tái diễn trò lố

Căn cứ hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, căn cứ tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các quy định của pháp luật, HĐXX tuyên phạt bị cáo Lưu Bình Nhuỡng 3 năm tù về tội "Cưỡng đoạt tài sản", 10 năm tù về tội "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi", tổng hợp hình phạt 13 năm tù giam; tuyên phạt bị cáo Lê Thanh Vân 7 năm tù về tội "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi".

Theo đánh giá của HĐXX, trong quá trình xét xử, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, thể hiện sự ăn năn, hối lỗi; đồng thời mong được hưởng sự khoan hồng của pháp luật. Tại phiên tòa, các cơ quan báo chí trong nước cũng đã đưa tin kịp thời, khách quan. Thế nhưng các thế lực thù địch, số đối tượng phản động ở hải ngoại lại ra sức lu loa, kêu thuê, khóc mướn, tìm cách “tung hoả mù” nhằm chính trị hóa bản án hình sự.

Chúng cố tình đánh tráo khái niệm, đánh tráo bản chất vụ án, chèo lái dư luận theo hướng tiêu cực. Các thế lực xấu đưa ra những bài viết tôn vinh ông Lưu Bình Nhưỡng, Lê Thanh Vân là “những đại biểu cuối cùng vì dân”, cổ xuý ông Nhưỡng, ông Vân là những “vị anh hùng”, “người đấu tranh cho công lý”, “những nhà bất đồng chính kiến tiêu biểu”…

Các đối tượng trích lại những phát biểu, ý kiến của các bị cáo khi đang làm đại biểu Quốc hội với lời lẽ ca ngợi, tôn sùng, cho rằng vì trách nhiệm trước dân, phát biểu thẳng thắn, đụng chạm nên nay phải vào tù! Có đối tượng khóc mướn rằng, sau khi hai ông này bị bắt, “giờ đây Việt Nam không còn đại biểu của nhân dân đấu tranh cho lẽ phải”. Từ đó vu cáo rằng việc phạt tù đối với các bị cáo “là việc làm sai trái xảy ra trong môi trường tư pháp không độc lập”!

Trước đó, vào thời điểm CQĐT khởi tố ông Lưu Bình Nhưỡng, ông Lê Thanh Vân, các đối tượng thù địch, phản động còn cố tình vẽ ra đủ thứ lý do để nguỵ biện việc ông Nhưỡng, ông Vân bị bắt, kiểu như“có ân oán với lực lượng thực thi pháp luật”, “dám phát biểu vượt qua lằn ranh đỏ”... Có đối tượng đưa ra thuyết âm mưu rằng “phải là một mưu đồ chính trị đằng sau vụ án”, cố tình bẻ lái dư luận theo hướng mị dân “các ông bị bắt đồng nghĩa với việc người dân yếu thế mất đi một chỗ dựa, mất đi một nơi gửi đơn kêu oan”…

Các thế lực thù địch, phản động suy diễn, biến một vụ án hình sự thành vụ “tấn công người bảo vệ công lý”; vu khống “Việt Nam lợi dụng pháp luật để áp tội tùy tiện, trù dập những đại biểu của dân”; rằng “xứ cộng sản không cho phép phản biện, tất cả những người phản biện đều bị xem là phản động”; “sống dưới chế độ độc tài thì người dân bị tước quyền tự do ngôn luận, không được hưởng dân chủ, nhân quyền”. Một số bài viết bẻ lái, áp đặt cho đó là “vi phạm nhân quyền”, “vi phạm dân chủ”, xuyên tạc “tranh giành quyền lực”, “thanh trừng phe nhóm”, “mâu thuẫn lợi ích”… Thậm chí, chúng giả vẻ lo lắng cho tương lai của đất nước, đưa ra những dấu hỏi “không biết Việt Nam rồi sẽ đi về đâu”!

Thực chất, các luận điệu trên vốn dĩ không phải là chiêu trò mới mà được biến tấu, nhào nặn, diễn đi diễn lại nhiều lần. Từ trước đến nay, lợi dụng các đối tượng phạm tội bị bắt, phải chấp hành án hình sự mà những người này trước đó có ảnh hưởng nhất định tới cộng đồng xã hội thì các tổ chức, hội nhóm phản động tận dụng khai thác, thổi phồng tạo điểm nóng, bóp méo sự thật, đưa ra nhiều bài viết, video, hình ảnh xuyên tạc, cố tình công kích Đảng, Nhà nước, chế độ. Thậm chí các thế lực thù địch, phản động còn tổ chức hội luận, livestream để thu hút dư luận, phục vụ cho mưu đồ chống phá.

Một số vụ án đơn lẻ bị chúng thổi phồng, suy diễn, lái vụ việc sang hướng khác rồi quy kết thành những vấn đề chính trị của đất nước. Qua sự nhào nặn của các thế lực thù địch, những tồn tại, hạn chế trong đời sống xã hội luôn bị khuếch đại, thổi phồng, còn những ưu việt thì bị ngó lơ. Trong đó nhiều vụ án hình sự bị các thế lực thù địch “chính trị hóa”, triệt để lợi dụng để chống phá Đảng, Nhà nước.

Đối với các vụ án liên quan cán bộ trong bộ máy Đảng, Nhà nước thì chúng thường quy chụp, đồng nhất sai phạm của bị can, bị cáo thành bản chất của Đảng, biến sự suy thoái của cá nhân thành lỗi của cả hệ thống chính trị rồi cho rằng nước ta mất ổn định chính trị, bôi nhọ Việt Nam trên trường quốc tế, kêu gọi sự can thiệp bên ngoài vào công việc nội bộ. Mục đích của các thế lực thù địch là hạ bệ, bôi lem nền tư pháp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam.

Bản án khách quan, hợp lý

Dư luận trong nước không xa lạ đối với ông Lưu Bình Nhưỡng, ông Lê Thanh Vân bởi trước khi bị truy tố, xét xử, hai ông được biết đến là đại biểu Quốc hội có nhiều phát biểu tranh luận tại nghị trường liên quan đến các vấn đề “nóng” của xã hội. Tuy nhiên, các ông thường có những phát ngôn gây sự chú ý, quan tâm theo dõi của mọi người không chỉ ở nội dung chất vấn mà cả thái độ chất vấn, thậm chí có những phát ngôn mang tính chỉ trích thiếu căn cứ, làm dư luận hiểu sai lệch nội dung sự việc và những phát ngôn đó bị các thế lực thù địch, phần tử cơ hội lợi dụng bình luận xuyên tạc, tạo cớ để để chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Về phiên toà xét xử đối với hai bị cáo Lưu Bình Nhưỡng, Lưu Thanh Vân, cáo trạng cho thấy, bị cáo Lưu Bình Nhưỡng đã 4 lần thực hiện hành vi phạm tội và nhiều lần nhận tiền, quà cảm ơn. Cụ thể, ông Nhưỡng đã nhận 210 triệu đồng và 300.000 USD, một lô đất ở huyện Đông Anh, Hà Nội; được hứa tặng một lô đất hơn 1.000m2 ở Quảng Ninh. Bị cáo Lê Thanh Vân đã 2 lần thực hiện hành vi phạm tội; nhận 60 triệu đồng, một lô đất ở huyện Đông Anh, Hà Nội và được hứa tặng một lô đất ở Quảng Ninh. Lấy danh nghĩa đại biểu Quốc hội, hai bị cáo đã nhiều lần gọi điện, tác động cơ quan chức năng theo hướng có lợi cho người quen, từ đó nhận nhiều vật chất bất hợp pháp, phục vụ cho lợi ích của bản thân.

Trong phần tự bào chữa tại tòa, bị cáo Lưu Bình Nhưỡng và Lê Thanh Vân bày tỏ sự ăn năn hối lỗi trước HĐXX về hành vi của mình. Bị cáo Lưu Bình Nhưỡng cho biết, trong hơn 1 năm bị tạm giam, ông đã nỗ lực cải tạo một cách quyết liệt để “gột rửa những việc mình đã phạm phải”. Ông Lưu Bình Nhưỡng cũng mong được “nhân dân cả nước lượng thứ” về những lỗi lầm của mình. Cả hai bị cáo đều mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật.

Đại diện Viện Kiểm sát đánh giá, là đại biểu Quốc hội được cử tri bầu ra, đáng lẽ phải thượng tôn, gương mẫu trong chấp hành quy định pháp luật, có đạo đức liêm chính, lối sống lành mạnh song hai ông Nhưỡng, ông Vân đã không đại diện cho tiếng nói nhân dân một cách công tâm, khách quan, phản bội lại niềm tin mà nhân dân và cử tri cả nước gửi gắm. Xét thấy các bị cáo có trình độ học vấn, am hiểu pháp luật nhưng vì lợi ích vật chất đã thực hiện hành vi phạm tội để trục lợi, cần xử lý nghiêm. Song khi luận tội, đại diện Viện Kiểm sát cho hay đã xem xét các yếu tố giảm nhẹ, việc khắc phục hậu quả, những cống hiến, đóng góp của ông Nhưỡng, ông Vân trong các khóa làm đại biểu Quốc hội để đề nghị mức án phù hợp.

Như vậy, hành vi phạm tội của hai bị cáo đã được cáo trạng nêu rõ và thể hiện đầy đủ qua quá trình xét xử, không hề liên quan gì đến dân chủ, nhân quyền, không liên quan “phát ngôn nghị trường” như luận điệu của các thế lực xấu. Sự thật, mọi luận điệu cổ xúy, tán dương cho những người vi phạm pháp luật, phạm tội là những vở kịch gượng gạo, lố bịch. Do vậy, mọi người cần hết sức cẩn trọng với các thông tin sai lệch trên Internet, mạng xã hội, không để rơi vào cái bẫy do các thế lực giăng ra, không chia sẻ thông tin sai trái, độc hại.

Đại Thắng – Quốc Việt

Cần thống nhất nhận thức về kỷ nguyên mới, phản bác các quan điểm sai lệch

 

Vừa qua, trong nhiều bài phát biểu, bài viết quan trọng, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ việc xác lập tư duy, lý luận mới về kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị lập tức tung ra các quan điểm sai trái, xuyên tạc chống phá.

Do đó, cần nhận diện, đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái, thù địch nhằm nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Nhận thức rõ nội hàm về kỷ nguyên mới

Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 10, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Với thế và lực đã tích luỹ được sau 40 năm đổi mới, với sự đồng lòng, chung sức của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, với những thời cơ, thuận lợi mới, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, chúng ta đã hội tụ đủ những điều kiện cần thiết và văn kiện Đại hội XIV phải đề ra được định hướng chiến lược, nhiệm vụ, giải pháp quan trọng để giải phóng toàn bộ sức sản xuất, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, lấy nguồn lực nội sinh, nguồn lực con người là nền tảng, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là đột phá để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam”. Cùng với đó, trong nhiều bài viết, bài phát biểu quan trọng, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định sự thống nhất của Trung ương khi đánh giá về thế và lực của đất nước sau 40 năm đổi mới; xác lập tư duy, lý luận mới về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

Thời gian qua, nhân cơ hội này, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị lập tức tung ra các quan điểm sai trái, thù địch nhằm bôi nhọ, xuyên tạc các khái niệm, nội hàm cũng như mục đích, ý nghĩa vấn đề trên. Tinh vi hơn, dưới chiêu bài “hội luận”, đóng góp ý kiến, chúng tung ra quan điểm khác biệt, trái chiều, giả danh “dân chủ”, “khoa học” để gây nhiễu… Từ đó, các thế lực xấu nhằm hướng lái, tạo ra nhận thức sai trái, lệch lạc về kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam cũng như xuyên tạc, đả phá những định hướng chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương và của đồng chí Tổng Bí thư.

Những quan điểm của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị luôn có tư tưởng chống phá, chúng đưa ra những quan điểm trái ngược, có tính ngụy biện nhằm tạo sự mơ hồ, dao động về lập trường tư tưởng, nhận thức của người dân về kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Đồng thời, chúng hướng lái, tác động hòng làm suy giảm niềm tin, ý chí của cán bộ, đảng viên và nhân dân về những định hướng chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, của người đứng đầu Đảng ta. Đây là âm mưu nguy hiểm trong bối cảnh đất nước ta bước sang năm 2025 - năm cuối cùng trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, giai đoạn “tăng tốc về đích” cần tập trung mọi nguồn lực, phát huy mọi động lực để hoàn thành những mục tiêu đề ra. Những quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch nếu không được ngăn ngừa sẽ tác động đến nhận thức, tư tưởng, ý chí, niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân nên cần phải nhận diện và có những luận cứ đấu tranh xác đáng, thuyết phục.

Hội tụ đủ điều kiện để bước vào kỷ nguyên mới

Kỷ nguyên là một khái niệm mang tính phân kỳ lịch sử, dựa trên những sự kiện, dấu mốc có tính bước ngoặt. Đây là một thời kỳ phát triển mới, khác biệt về chất so với thời kỳ trước đó; tạo ra những thay đổi căn bản, toàn diện mọi mặt của đời sống xã hội. Kỷ nguyên mới của dân tộc là thời kỳ phát triển mới trong tiến trình lịch sử mà ở đó, những mục tiêu, nhiệm vụ đã được thực hiện, đã hoàn thành, tạo ra bước ngoặt cho tiến trình phát triển để dân tộc bước vào một thời kỳ phát triển mới. Nội hàm của “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” mà Tổng Bí thư Tô Lâm và Đảng ta đã xác lập không phải là nhận định mang tính chủ quan, nóng vội mà dựa trên cơ sở nhận định, đánh giá những điều kiện, tiền đề khách quan, chủ quan, đảm bảo tính khoa học để định vị mục tiêu đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Về điều kiện khách quan, mặc dù thế giới vẫn xảy ra các cuộc xung đột, tranh chấp căng thẳng, kéo dài nhưng về cơ bản, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn. Các cường quốc tiếp tục đóng vai trò chính trong việc thiết lập các mối quan hệ quốc tế. Việt Nam có nhiều cơ hội hơn để tham gia vào các diễn đàn khu vực, quốc tế và tham gia vào giải quyết các vấn đề toàn cầu, là thời cơ để Việt Nam khẳng định và chứng tỏ tiềm lực, vị thế, uy tín của mình. Xu hướng liên kết quốc tế, nhất là liên kết về kinh tế tiếp tục được thúc đẩy, hình thành nên các chu trình sản xuất, cung ứng, mở ra cơ hội để Việt Nam tham gia vào các chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng toàn cầu. Việt Nam có  nhiều cơ hội mở rộng thị trường, gia tăng vốn đầu tư, đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ để phục vụ mục tiêu phát triển bền vững. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư với tốc độ phát triển nhanh chóng dựa trên nền tảng của trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), cơ sở dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây (Cloud computing)… sẽ tạo động lực và sức bật cho nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới vào phát triển sản xuất cũng như hiện đại hóa xã hội…Những điều đó cho thấy, thế giới đang trong thời kỳ thay đổi có tính thời đại. Từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng nhất để định hình trật tự thế giới mới. Đây là giai đoạn quan trọng nhất để Việt Nam xác lập vị thế của mình và hoàn thành mục tiêu chiến lược nhân 100 năm thành lập Đảng. Sự biến chuyển có tính thời đại này là cơ hội to lớn đối với Việt Nam.

Về điều kiện chủ quan, sau 40 năm tiến hành đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự đồng lòng, đồng thuận và nỗ lực của nhân dân, Việt Nam đã khai thác được tiềm năng, khơi thông được các nguồn lực, tích lũy được thế và lực cho sự phát triển bứt phá trong giai đoạn tiếp theo. Những thành tựu to lớn đó được thể hiện trên tất cả các phương diện: (1).Về kinh tế, sau 40 năm đổi mới, quy mô nền kinh tế năm 2023 tăng gấp 96 lần so với năm 1986. Việt Nam trong nhóm 40 nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới và 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. (2) Về chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định được vai trò to lớn cũng như uy tín của mình trong việc lãnh đạo trực tiếp, toàn diện mọi mặt của đời sống xã hội. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị tiếp tục đã mang lại những kết quả to lớn, đặc biệt là công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí đã góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh.

(3) Về xã hội, cùng với việc đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, các lĩnh vực của đời sống xã hội tiếp tục được coi trọng, tạo điều kiện cho con người Việt Nam phát triển toàn diện, quyền con người ngày càng được đảm bảo. (4).Về an ninh, quốc phòng và đối ngoại, mặc dù cục diện thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, nhiều quốc gia vừa và nhỏ phải gia tăng sự phục thuộc vào các cường quốc trên thế giới nhưng Việt Nam vẫn kiên trì và giữ vững phương châm: Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên hàng đầu. Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 194 nước là thành viên Liên hợp quốc, đồng thời xây dựng các mối quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với tất cả các cường quốc trên thế giới và khu vực.

Với những thời cơ mà bối cảnh quốc tế, khu vực mang lại cùng những kết quả to lớn, có ý nghĩa lịch sử đã tích lũy được qua 40 đổi mới, hoàn toàn có cơ sở để khẳng định Việt Nam đã và đang hội tụ những điều kiện, tiền đề để chuẩn bị bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc - một kỷ nguyên phát triển bứt phá với những mục tiêu mới lớn hơn. Quan điểm về kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam không phải là nhận định mang tính chủ quan, ảo tưởng, thể hiện ý chí cá nhân của người đứng đầu Đảng ta mà nó là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn, phát triển tư duy, nhận thức lý luận. Đây cũng không phải là “thông điệp mang tính cá nhân” hay “ý chí cá nhân hóa” của người đứng đầu Đảng ta mà là sự hội tụ giữa ý Đảng và lòng dân, giữa mục tiêu, quyết tâm của toàn Đảng và ý nguyện, khát vọng của cả trăm triệu người dân Việt Nam bởi với những kết quả đã đạt được cùng những thời cơ mà cục diện thế giới, khu vực mang lại, đã đến lúc nhân dân Việt Nam hiện thực hóa khát vọng về một Việt Nam hùng cường, phồn thịnh.

Chuẩn bị bước vào kỷ nguyên mới với niềm tin và khát vọng, quết tâm lớn lao nhưng đồng chí Tổng Bí thư cũng luôn nhắc nhở, bên cạnh thời cơ, thuận lợi cũng có nhiều khó khăn, thách thức đan xen. Một trong những khó khăn, thách thức phải kể đến là các nguồn lực trong và ngoài nước không được khơi thông và phát huy một cách tối đa. Sự mơ hồ về nhận thức, không vững vàng về lập trường tư tưởng, dao động về niềm tin và ý chí của một bộ phận cán bộ, đảng viên cũng là một lực cản lớn để Việt Nam tiến vào kỷ nguyên vươn mình dân tộc; sự chống phá ngày càng tinh vi, quyết liệt của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước. Do đó, một mặt cần phải đẩy mạnh tuyên truyền, lan tỏa cho cán bộ, đảng viên, nhân dân về nội hàm cũng như mục tiêu, nhiệm vụ của kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; song mặt khác cũng cần kiên trì, kiên quyết đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch. Điều này góp phần tạo ra sự thống nhất về nhận thức, đồng thuận về tư tưởng, tập trung về hành động để phát huy tối đa sức mạnh vật chất, tinh thần của cả dân tộc; đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên vươn mình.

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam chính là góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo ra sự thống nhất về nhận thức, đồng thuận, đồng sức, đồng lòng vượt qua những khó khăn, thách thức, đưa đất nước vững bước tiến vào một giai đoạn phát triển mới, bứt phá của dân tộc Việt Nam.

TS Lê Thế Cương

Minh chứng sinh động phản bác mọi luận điệu sai trái, xuyên tạc về vai trò lãnh đạo của Đảng


Đã trở thành thông lệ, lợi dụng những sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, trong dịp kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2025), hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, chống đối, cơ hội chính trị lại diễn ra dưới nhiều hình thức tinh vi, nguy hiểm.

Âm mưu và những luận điệu xuyên tạc trên không gian mạng

Thời gian qua, lợi dụng tình hình thế giới có những diễn biến phức tạp, khó lường cùng những khó khăn của đất nước, các thế lực thù địch gia tăng hoạt động chống phá cách mạng nước ta trên nhiều hướng, đặc biệt trên môi trường mạng xã hội hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực thù địch coi đây là con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất để xóa bỏ mọi thành quả của cách mạng Việt Nam mà Đảng và nhân dân ta đã dày công vun đắp, tạo dựng.

Qua đó, chúng xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi Đảng ta phải thoái lui, thực hiện đa nguyên, đa đảng; cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam tuy đã thành công trong việc lãnh đạo giành lại độc lập dân tộc và xây dựng đất nước nhưng hiện nhiều cán bộ cao cấp của Đảng thoái hóa, biến chất, tham nhũng, tiêu cực cho nên Đảng không còn là đội ngũ tiên phong để lãnh đạo đất nước nữa…

Các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị tung ra các tài liệu chính danh, mạo danh hoặc nặc danh, được ngụy biện dưới dạng thư kiến nghị, thư trao đổi, tâm thư, bản góp ý… nhằm xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận thành tựu phát triển của đất nước; thổi phồng những khuyết điểm, hạn chế trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Từ đó, chúng quy kết, đổ lỗi nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém là do thể chế chính trị, do Đảng, tạo cớ gây sức ép đòi đổi mới thể chế chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng… Mặt khác, chúng ra sức xuyên tạc, bịa đặt đời tư cá nhân, bôi nhọ thanh danh, uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước trên không gian mạng.

Đồng thời, các thế lực thù địch, tổ chức phản động còn đưa ra những luận điệu đơm đặt, xuyên tạc về việc Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin làm nền tảng tư tưởng là sự lỗi thời, lạc hậu; từ đó gây tâm lý hoài nghi, dao động, giảm sút niềm tin trong nhân dân, đặc biệt là niềm tin vào vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Từ đó, chúng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước, cho rằng Đảng không có vai trò lãnh đạo Nhà nước, Đảng lãnh đạo Nhà nước là “Đảng đứng trên Nhà nước”, “bao biện, làm thay, lấn quyền Nhà nước”; “Đảng đứng trên Hiến pháp và pháp luật”…

Khi không đạt được mục đích, chúng lại quay sang hoạt động tuyên truyền các quan điểm sai trái, xuyên tạc, phủ nhận vai trò quản lý của Nhà nước, phủ nhận Nhà nước pháp quyền XHCN, phủ nhận vai trò làm chủ của nhân dân, cho rằng nhân dân không thể làm chủ vì “Đảng độc đoán, chuyên quyền, phi dân chủ”...

Những quan điểm, luận điểm nêu trên là hết sức phi lý, phản khoa học, hoàn toàn không có cơ sở cả về lý luận và thực tiễn, chứa đựng mâu thuẫn trong phân tích, đánh giá. Những luận điệu trên là sai trái, thù địch, tạo nguy cơ dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, đòi hỏi phải nhận diện và đấu tranh ngăn chặn.

Thành quả to lớn khẳng định vai trò lãnh đạo đối với cách mạng Việt Nam

Trong dòng chảy lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc từ khi ra đời tới nay là lịch sử dựng nước và giữ nước. Dựng nước luôn luôn gắn chặt với giữ nước, trong đó dựng nước là yếu tố cơ bản. Phải xây dựng được đất nước hùng mạnh về mọi mặt mới có điều kiện, khả năng chiến thắng các thế lực thù địch và phải giữ được nước mới có điều kiện để xây dựng đất nước. Vì vậy, ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược, nhân dân ta liên tiếp đứng lên chống lại chúng.

Từ năm 1858 đến trước năm 1930, hàng trăm cuộc khởi nghĩa, phong trào chống Pháp đã nổ ra theo nhiều khuynh hướng khác nhau như khởi nghĩa của Trương Công Định, Thủ Khoa Huân, phong trào Cần Vương, phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, Duy Tân; các cuộc khởi nghĩa do Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học... lãnh đạo. Các cuộc khởi nghĩa, phong trào đấu tranh đó vô cùng anh dũng, nhưng đã bị thực dân Pháp đàn áp tàn bạo và đều thất bại.

Việc tìm một con đường cứu nước đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc và thời đại là nhu cầu bức thiết nhất của dân tộc ta lúc bấy giờ. Sự đô hộ của thực dân Pháp gần một thế kỷ đã chứng tỏ cả giai cấp phong kiến và đại diện cho các thế lực tư sản đã hết vai trò lịch sử, vận mệnh của dân tộc và đất nước lâm vào tình thế bế tắc, không có đường ra. Vấn đề bức thiết đặt ra lúc đó là bằng con đường nào, cách thức nào, tổ chức lực lượng thế nào để đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại độc lập dân tộc.

Vấn đề vô cùng bức thiết này đã được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) đưa ra lời giải đáp. Chính nhờ kế thừa và phát huy truyền thống yêu nước trên cơ sở tiếp thu và vận dụng sáng tạo những tinh hoa của triết học và văn hóa phương Đông và phương Tây mà Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã ra đi tìm đường cứu nước (1911) và đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin (1920). Con đường cứu nước đúng đắn đã được xác định, đó là con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

Trong suốt 30 năm đi tìm đường cứu nước, Người đã nhận rõ con đường giành độc lập dân tộc phải là con đường cách mạng vô sản. Nguyễn Ái Quốc đã gieo hạt, gây mầm và tạo dựng sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Với kỳ công của Người, đã kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam chuyển hóa thành một sự kiện trọng đại: năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời.

Từ khi xuất hiện trên vũ đài chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tỏ rõ là một đảng cách mạng chân chính nhất, có sức hội tụ lớn nhất mọi sức mạnh của dân tộc, của giai cấp, sớm trở thành đội tiên phong của giai cấp và của dân tộc trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, phong kiến.

Qua đó, Đảng ta đã lãnh đạo Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, đánh đuổi đế quốc, thực dân, lật đổ chế độ phong kiến, lập ra nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập, tự do và CNXH. Khi thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, cả dân tộc Việt Nam đã nghe theo lời kêu gọi của Đảng, của Bác Hồ, lên đường kháng chiến và cuối cùng đã giành được thắng lợi to lớn, đánh thắng đế quốc xâm lược và lập lại hoà bình ở miền Bắc Việt Nam.

Trong hoàn cảnh đất nước tạm bị chia làm hai miền, Đảng đã lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng: Cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Khi Mỹ đưa quân vào xâm lược miền Nam, tiến hành chiến tranh cục bộ đánh phá các căn cứ cách mạng ở miền Nam và mở rộng chiến tranh xâm lược ra miền Bắc (1964), Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân hai miền "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào", giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc (1975), Đảng ta còn tiếp tục lãnh đạo nhân dân chiến thắng hai cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Tây Nam và biên giới phía Bắc (1979), bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, đưa cả nước đi lên CNXH.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, với việc đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế, từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Việt Nam đã chuyển sang cơ chế thị trường, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Với việc lựa chọn con đường phát triển đúng trọng tâm, phù hợp quy luật, từ một nước nông nghiệp, lạc hậu, nghèo nàn, quy mô nền kinh tế nhỏ bé, Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008.

Năm 2024, tăng trưởng kinh tế của cả nước đạt 7,09% GDP (vượt mức mục tiêu đề ra là 6 - 6,5% GDP), thuộc nhóm số ít các nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực và thế giới. Việt Nam đã có quy mô nền kinh tế gần 500 tỉ USD, tăng gần 100 lần so với năm 1986, đứng thứ tư Đông Nam Á và thứ 34 thế giới; giá trị thương hiệu quốc gia Việt Nam năm 2024 đạt 507 tỉ USD, xếp thứ 32/193, tăng 1 bậc so với năm 2023.

Theo báo cáo "Kinh tế số Đông Nam Á năm 2024" do Google - Temasek công bố, năm 2024, quy mô nền kinh tế internet Việt Nam đạt 36 tỉ USD, tăng 16% so với năm 2023. Thương mại điện tử bán lẻ tiếp tục là trụ cột với 22 tỉ USD, tăng 18% và chiếm 61% tổng quy mô nền kinh tế internet. Dự kiến, thương mại điện tử sẽ đạt 45 tỉ USD năm 2025. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện ước đạt 25,35 tỉ USD, tăng 9,4% so với năm 2023, đạt mức cao nhất từ trước tới nay.

Theo Báo cáo Chỉ số đổi mới sáng tạo (GII) 2024 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): Chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam được xếp hạng 44/133 quốc gia, nền kinh tế, tăng 2 bậc so với năm 2023. Trong đó, đầu vào đổi mới sáng tạo tăng 4 bậc so với năm 2023, từ vị trí 57 lên 53; đầu ra đổi mới sáng tạo tăng 4 bậc so với năm 2023, từ vị trí 40 lên 36.

Theo Báo cáo khảo sát Chính phủ điện tử năm 2024 của Liên hợp quốc, Việt Nam vươn lên vị trí thứ 71/193 quốc gia, tăng 15 bậc so với năm 2022, đây là lần đầu tiên Việt Nam được xếp vào nhóm Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử (EGDI) ở mức rất cao và vươn lên vị trí xếp hạng cao nhất kể từ khi bắt đầu tham gia đánh giá EGDI của Liên hợp quốc.

Dịp kỷ niệm Ngày thành lập Đảng hằng năm luôn nhận được sự quan tâm, chúc mừng từ các chính đảng, tổ chức, bạn bè quốc tế. Đây là minh chứng sinh động cho uy tín của Đảng ta và sự cảm phục đặc biệt mà các quốc gia, chính đảng, nguyên thủ quốc gia trên thế giới dành cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thiết lập quan hệ với 247 chính đảng ở 111 quốc gia; trong đó 96 đảng Cộng sản, 63 đảng cầm quyền, 28 đảng tham gia liên minh cầm quyền, tham chính. Đây là con số ấn tượng, riêng có mà một chính đảng cầm quyền trên thế giới thiết lập nên.

Nhân dịp kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia Hun Sen, Bí thư Thứ nhất Đảng Cộng sản Cuba, Chủ tịch nước Cộng hòa Cuba Miguel Díaz-Canel Bermúdez và Đại tướng Raúl Castro Ruz, Tổng Bí thư Đảng Lao động Triều Tiên Kim Jong Un… đã gửi thư, điện chúc mừng tới Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam…

Trong bài trả lời phỏng vấn nhân dịp năm mới Ất Tỵ 2025, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc là kỷ nguyên phát triển bứt phá, tăng tốc dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng thành công nước Việt Nam XHCN giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc; đuổi kịp, tiến cùng, sánh vai với các cường quốc năm châu. Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước XHCN phát triển, có thu nhập cao; mọi người dân đều được phát triển toàn diện, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, văn minh.

Nhờ sự quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt của cả hệ thống chính trị, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng tiếp tục đóng góp quan trọng vào củng cố vững chắc môi trường hòa bình, ổn định và cục diện đối ngoại rộng mở, thuận lợi cho phát triển kinh tế-xã hội, đời sống người dân được ấm no. Độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ được đảm bảo, đồng thời tiếp tục nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước. Đó là thực tiễn sống động về một Việt Nam vững mạnh và phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hướng đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động.

Liêm Chính - Bình Nguyên