Thứ Ba, 4 tháng 2, 2025

Nhận diện và phản bác một số quan điểm sai trái, thù địch về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay

 

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị không ngừng ra sức chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng nhằm thực hiện mưu đồ “chuyển hóa” về nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. Một trong những nội dung mà các thế lực này xuyên tạc, suy diễn, bôi nhọ nhiều nhất là những vấn đề liên quan đến xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hòng “hướng lái” hệ thống chính trị của nước ta theo hướng phát triển của các nước tư bản chủ nghĩa. Do đó, cần nhận diện rõ luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị để có những luận cứ đấu tranh phản bác xác đáng, thuyết phục.

Nhận diện những quan điểm sai trái, thù địch về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Các quan điểm sai trái, thù địch về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tập trung vào những khía cạnh chủ yếu sau:

Một là, xuyên tạc, phủ nhận bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thời gian qua, trên nhiều diễn đàn khác nhau, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị xuyên tạc rằng bản chất Nhà nước ta là “độc tài”, “toàn trị” trên cơ sở các luận điệu xuyên tạc, suy diễn, bôi nhọ hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta, như “chế độ một đảng của Việt Nam là trái với nguyên tắc pháp quyền, không thể phát huy được dân chủ mà chỉ mang tính độc tài, áp đặt”(!?); “Trước tình trạng cai trị độc tài, vô hiệu quả của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân không thể chịu đựng được nữa, đang đứng lên để chống đối những sai lầm đó, đứng lên đòi nhân phẩm, nhân quyền, dân chủ. Càng ngày càng có nhiều người đấu tranh, người trước, kẻ sau, càng ngày càng đông”(!?); “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội tức là theo chế độ đảng trị - đảng chủ”(!?) và cáo buộc rằng thể chế chính trị của Việt Nam hiện nay là “không phù hợp với chuẩn mực quốc tế”, “trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền” hay “Hiến pháp Việt Nam là không chính danh, chỉ là điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam độc tài, toàn trị”(!?)...

Hai là, lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền, các thế lực thù địch, phản động không ngừng bôi nhọ, bóp méo, xuyên tạc việc thực hiện dân chủ ở nước ta, cho rằng ở Việt Nam không có dân chủ. Các thế lực thù địch còn ra sức xuyên tạc, kích động tư tưởng hoài nghi về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng, xuyên tạc công tác bầu cử ở nước ta chỉ là “màn kịch dân chủ” do Đảng Cộng sản đạo diễn. Các thế lực phản động nước ngoài đã câu dẫn, kích động các phần tử cơ hội chính trị trong nước thực hiện chiêu trò “tự ứng cử”, hô hào các hội nhóm dân chủ trên mạng xã hội ủng hộ cho các “nhà dân chủ” hòng gây rối, phá hoại bầu cử; đồng thời, rêu rao Đảng Cộng sản cố tình “cản trở” người ngoài Đảng tự ứng cử. Ngoài ra, chúng còn lan truyền kịch bản “xếp ghế” cho nhân sự Quốc hội trên mạng xã hội, rêu rao rằng bầu cử chỉ là hình thức, quyền lực trong Quốc hội đã được các “phe nhóm” của Đảng “an bài”, “thỏa hiệp”, “phân chia”... Đây hoàn toàn là những luận điệu phản động, xảo trá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước và việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.

Ba là, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn đưa ra nhiều luận điệu sai trái hòng xuyên tạc, phủ nhận bản chất pháp quyền của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chẳng hạn như “nhà nước pháp quyền là giá trị của các nước tư bản, việc Việt Nam đặt lại vấn đề xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền là có hướng đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”(!?) và “chỉ có nhà nước pháp quyền tư sản, không có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”(!?), từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và cho rằng chế độ dân chủ tư sản như nó đang tồn tại ở phương Tây là chế độ dân chủ cao nhất, là “thiên đường vĩnh hằng”; và “không có đa nguyên, đa đảng thì không bao giờ có dân chủ”, “đa đảng, đa nguyên là thành tố quan trọng nhất để xây dựng nên một quốc gia dân chủ” và “đa đảng sẽ bảo đảm quyền làm chủ đất nước của nhân dân”(!?). Theo đó, những “nhà dân chủ” đòi Việt Nam sửa đổi Hiến pháp năm 2013, sửa đổi thể chế Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo mô hình “tam quyền phân lập”.

Qua các luận điệu trơ trẽn đó, có thể thấy rõ mưu đồ của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị là xuyên tạc, phủ nhận sự tồn tại và bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, mưu toan “hướng lái” con đường phát triển của Việt Nam theo các nước tư bản chủ nghĩa. Đó là xây dựng nhà nước theo mô hình của các nước tư bản, thực hiện “tam quyền phân lập”. Đây là âm mưu rất thâm độc hòng chống phá những vấn đề căn cốt của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Luận cứ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa  Việt Nam

Việc các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tìm mọi cách xuyên tạc, suy diễn, bôi nhọ trên cơ sở các luận điệu phi lý, thiếu căn cứ hòng phủ nhận Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là điều không thể chấp nhận, thể hiện thông qua các vấn đề sau:

Một là, dân chủ là xu hướng phát triển tiến bộ của lịch sử loài người, nhưng nó không được quyết định bởi chế độ một đảng hay nhiều đảng mà tùy thuộc vào việc đảng cầm quyền đại diện cho lợi ích của giai cấp nào và hướng đến mục tiêu gì.

Quan điểm một đảng thì mất dân chủ, còn đa đảng đồng nghĩa với dân chủ mang tính phiến diện. Thực tiễn cho thấy, đất nước có dân chủ không phụ thuộc vào chế độ một đảng hay đa đảng mà phụ thuộc vào đảng cầm quyền đó có bảo vệ quyền và lợi ích cho đa số nhân dân lao động hay chỉ cho một bộ phận thiểu số người trong xã hội đó. Nếu một đảng chỉ phục vụ cho lợi ích riêng của đảng mình, giai cấp mình thì hoạt động của đảng đó sẽ mang tính cục bộ và khó có thể được các giai tầng khác chấp thuận để trở thành lực lượng lãnh đạo cho toàn xã hội. Ngược lại, nếu một đảng vừa đại diện cho lợi ích của đảng mình, giai cấp mình, vừa đại diện cho lợi ích của toàn xã hội thì chắc chắn đảng đó sẽ được nhân dân tin tưởng, ủy thác làm lãnh đạo xã hội. Điều đó là minh chứng xác thực để khẳng định rằng không phải đa đảng là dân chủ và một đảng là mất dân chủ.

Vấn đề một đảng hay nhiều đảng chính trị một mặt phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước, mặt khác phụ thuộc tương quan so sánh lực lượng giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội. Trong các nước tư bản chủ nghĩa, có nhiều đảng chính trị, nhưng chỉ có những đảng của giai cấp tư sản là cầm quyền. Những đảng đó có thể khác nhau về hình thức tổ chức, phương thức hoạt động và những mục tiêu cụ thể, nhưng về bản chất đều đại diện cho các nhóm khác nhau trong giai cấp tư sản và đều có mục tiêu duy trì, phát triển chế độ tư bản chủ nghĩa. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân, của dân tộc, của đất nước. Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền vừa là sự lựa chọn của lịch sử, vừa là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, cho quyền làm chủ của nhân dân. Do vậy, luận điệu cho rằng việc Việt Nam duy trì chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo là mất dân chủ là cố tình lờ đi hoặc không hiểu bản chất chính trị của đảng hoặc cố tình quy chụp một cách thiếu thiện chí cho Việt Nam.

Thực tiễn ở nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy, trình độ dân chủ không tỷ lệ thuận với số lượng đảng phái chính trị. “Điển hình như ở Mỹ hiện nay có khoảng 40 đảng, Hà Lan có 25 đảng, Na Uy có 23 đảng... nhưng chúng ta không thể kết luận rằng ở Mỹ dân chủ hơn ở Hà Lan hay Na Uy”(1). Trên thế giới hiện nay có hơn 30 quốc gia, vùng lãnh thổ theo chế độ một đảng. Điều đó cho thấy chế độ chính trị do một đảng cầm quyền không phải là điều chỉ có ở các nước xã hội chủ nghĩa do đảng cộng sản lãnh đạo và không phải các nước theo chế độ một đảng không bảo đảm dân chủ. Vì thế, Việt Nam lựa chọn chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo, cầm quyền cũng không phải là cá biệt, đi ngược lại xu thế chung của nhân loại như các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị vẫn rêu rao và cáo buộc!

Hai là, dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất tốt đẹp của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta, được Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng bổ sung, hoàn thiện. Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đặt mục tiêu mang lại độc lập cho dân tộc, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, giúp nhân dân có quyền làm chủ thực sự. Do đó, khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cao mục tiêu xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân nhằm thực hiện quyền lực của nhân dân với phương châm “Bao nhiêu lợi ích đều vì nhân dân”.

Kế thừa và phát triển quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã không ngừng hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa để xây dựng một nền dân chủ thực sự, được thực hiện trên tất cả lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…, thông qua hoạt động của Nhà nước do nhân dân bầu ra bằng các hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Dân chủ gắn liền với kỷ cương, kỷ luật và được thể chế hóa bằng pháp luật, bảo đảm bằng pháp luật.

Quan điểm về dân chủ xã hội chủ nghĩa được thể hiện đậm nét trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011): “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống, ở mỗi cấp, trên tất cả lĩnh vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm”(2). Như vậy, không thể tùy tiện quy chụp rằng Việt Nam không chú trọng đến dân chủ hoặc mất dân chủ bởi điều đó phản ánh không đúng bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta xác định: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước. Xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững”(3).

Với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, Đại hội XIII của Đảng đã tiến hành điều chỉnh, bổ sung một số điểm mới về tư duy xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân được thực thi trên thực tế. Đồng thời, xác định rõ hơn vai trò “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt” để nhân dân làm chủ. Đảng và Nhà nước ban hành đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật tạo nền tảng chính trị, pháp lý, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân.

Đại hội XIII của Đảng trên cơ sở tổng kết lý luận, thực tiễn đã bổ sung, phát triển tư duy về phát triển Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Những bổ sung, phát triển ấy một lần nữa khẳng định, mặc dù, trong mỗi giai đoạn lịch sử có những thay đổi về mô hình bộ máy nhà nước, nhưng sợi chỉ đỏ xuyên suốt chính là nhận thức và hành động nhất quán về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thật sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trong điều kiện mới.

Ba là, mô hình “tam quyền phân lập” có thể phù hợp ở các mức độ khác nhau với một số nước trên thế giới, nhưng không phù hợp với điều kiện và thể chế chính trị của Việt Nam. Việt Nam lựa chọn cách thức tổ chức quyền lực là “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”, không “tam quyền phân lập” mà kiên định nguyên tắc “quyền lực nhà nước thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”(4) và “thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ”(5). Đây là sự lựa chọn phù hợp với bối cảnh Việt Nam cũng như xu thế khách quan của thời đại, đúc rút từ thực tiễn hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới cũng như việc học hỏi, tham khảo kinh nghiệm của các nước trong tiến trình hội nhập quốc tế.

Chúng ta không phủ nhận những giá trị phổ quát của nhà nước pháp quyền, đó là tinh hoa trí tuệ nhân loại, mang tính quy luật, chứ không phải sản phẩm riêng có, độc quyền của chủ nghĩa tư bản. Việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là vấn đề lý luận và thực tiễn hết sức mới mẻ, chưa có tiền lệ, đòi hỏi có sự nhận thức lý luận khoa học, sự vận dụng sáng tạo, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đây chính là sự kế thừa và vận dụng sáng tạo các giá trị phổ quát về nhà nước pháp quyền, song cũng gắn với định hướng xã hội chủ nghĩa trong xây dựng nhà nước vô sản ở Việt Nam. Quan điểm về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đánh dấu một bước tiến trong quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta thời kỳ đổi mới.

Trong tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ sự khác biệt về chất của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền tư sản. Đó là: “pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”(13). Do đó, dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam.

Như vậy, không thể lập luận rằng “xây dựng Nhà nước pháp quyền là đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”, không thể xuyên tạc ở Việt Nam “chỉ có đảng trị, không có pháp quyền”... Mô hình nhà nước “tam quyền phân lập” cũng không phải là khuôn mẫu, tiến bộ về tự do, dân chủ, nhân quyền. Đây là luận điệu hết sức nguy hiểm bởi khi đưa ra luận điệu này, các đối tượng nhằm cố tình xuyên tạc, phủ nhận thể chế chính trị của Việt Nam cũng như phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; ca ngợi, cổ xúy và thúc đẩy mô hình nhà nước “tam quyền phân lập”, ca ngợi cái gọi là giá trị “tự do, dân chủ, nhân quyền” phương Tây; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ, thể chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Mặt khác, việc tung ra luận điệu trên hòng làm méo mó bản chất, tính ưu việt của chế độ xã hội, làm giảm uy tín, vị thế Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên trường quốc tế. Do đó, không thể coi thường hoặc xem nhẹ các luận điệu sai trái đó.

Có thể khẳng định, các quan điểm sai trái, thù địch về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là rất nguy hiểm vì nó liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng. Do đó, cần nhận diện rõ các quan điểm này và có luận cứ đấu tranh xác đáng, thuyết phục để củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam; đồng thời, nâng cao nhận thức, bồi đắp niềm tin của nhân dân vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng./.

NÂNG CAO NHẬN THỨC TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN CHỦ ĐỘNG-GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN INTERNET, MẠNG XÃ HỘI TRONG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

 

Cùng sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ (4.0) hiện nay, các trang mạng xã hội nói riêng, nhất là Internet phát triển mạnh, có tác động ảnh hưởng rất lớn đến người dân Việt Nam nói chung, cán bộ, chiến sĩ trong quân đội nói riêng. Chúnglợi dụng sức mạnh lan truyền của Internet, mạng xã hội để đăng tải thông tin xấu độc, thông tin bịa đặt...có tính chất chính trị chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ, quân đội, công an, đe dọa an ninh quốc gia. Việc nhận diện và đấu tranh có hiệu quả là rất khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải có hệ thống các giải pháp đồng bộ. Trong đó thực hiện giải pháp nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tinh thần chủ động của đội ngũ cán bộ, đảng viên, lực lượng chuyên trách là giải pháp quan trọng hàng đầu bảo đảm việc nhận diện và đấu tranh được thực hiện có hiệu quả, thực chất và có chiều sâu.

Một là, Phát huy vai trò của các cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy, cơ quan chính trị, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp

          Tập trung thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục, quán triệt sâu sắc chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương và quân đội có liên quan đến nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực thù địch làm cho mỗi người thống nhất nhận thức: nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên và cấp thiết của mọi cá nhân, tổ chức, lực lượng trong toàn quân và không một cá nhân, tổ chức, lực lượng nào được xem nhẹ mặt trận đấu tranh này, khắc phục mọi biểu hiện né tránh đấu tranh hoặc dung hòa, thỏa hiệp về tư tưởng, văn hóa.

Tạo nhận thức đúng đắn, nhận diện đầy đủ, khoa học, khách quan về tính hai mặt của Internet và mạng xã hội; âm mưu, thủ đoạn, phương thức hoạt động chống phá trên Internet, mạng xã hội của các thế lực thù địch.

Thường xuyên nêu cao ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện, khắc phục các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Đảng, kỷ luật quân đội; thực hiện nghiêm các văn bản pháp luật của Chính phủ, bộ, ban, ngành quân đội về quản lý, cung cấp, sử dụng Internet và thông tin trên mạng. Quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên và Những điều đảng viên không được làm, không để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc làm ảnh hưởng đến hình ảnh, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.

Cần coi trọng nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nhằm trang bị cho cán bộ, đảng viên, quần chúng những kiến thức cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trọng tâm là những vấn để cơ bản về nền tảng tư tương, lý luận của Đảng; về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, bản chất, truyền thống, chức năng, nhiệm vụ của quân đội; về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng Quân đội nhân dân trong tình hình mới.

    Thông qua giáo dục chính trị, làm cho cán bộ, đảng viên, quần chúng nhận thức sâu sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng Quân đội nhân dân: cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; nắm vững thời cơ và thách thức, phân biệt rõ “đối tượng” và "đối tác"; không mơ hồ, mất cánh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; chủ động trước mọi diễn biến của tình hình, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.

Hai là, Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”; từng cán bộ, đảng viên, quần chúng phải có cam kết việc tu dưỡng rèn luyện giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, không có biểu hiện suy thoái về tư tương chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biên", "tự chuyển hóa", tạo sự chuyển biến rõ nét về nhân cách quân nhân theo các chuẩn mực “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới.    

Ba là, Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn các quan điểm, chủ trương của Đảng, nhất là trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; tích cực tham gia tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, góp phần bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng. Các cơ quan nghiên cứu, học viện, nhà trường trong quân đội cần tiếp tục nghiên cứu, luận giải sâu sắc những vấn đề đang đặt ra trong thực tiễn của sự nghiệp đổi mới hiện nay. Tiếp tục nghiên cứu, phát triển lý luận xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay; xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân theo Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về “Chiến lược bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới", Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đáng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI.

Một số giải pháp chính trị góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc trong tình hình mới

 

Trước tình hình có nước lớn muốn độc quyền kiểm soát Biển Đông, đẩy mạnh các hoạt động xây dựng, cải tạo bồi đắp đảo trái phép, đưa tàu chiến, phương tiện, vũ khí quân sự ra Hoàng Sa, Trường Sa; tổ chức diễn tập trên Biển Đông đã và đang làm phức tạp tình hình, đe dọa đến độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Quán triệt, thực hiện quan điểm của Đảng ta: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước” đòi hỏi chúng ta phải có những giải pháp đấu tranh đồng bộ cả trên thực địa, cả trong lĩnh vực chính trị, pháp lý, ngoại giao để tránh xung đột vũ trang hoặc chiến tranh. Đấu tranh trên lĩnh vực chính trị là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng nhưng cũng không kém phần khó khăn, phức tạp. Để tiếp tục đấu tranh chính trị có hiệu quả thiết thực, xin đề xuất một số giải pháp về chính trị góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo trong tình hình hiện nay.

Một là, tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức trách nhiệm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Đây là giải pháp có vị trí quan trọng hàng đầu, bởi vì nó định hướng nhận thức, tư tưởng, trau dồi tình cảm của cán bộ, đảng viên, nhân dân và toàn bộ hệ thống chính trị về vị trí, vai trò, sức mạnh của biển, ý thức trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Thực hiện giải pháp này sẽ làm cho mọi người nhận thức rõ biển đảo là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng, bất khả xâm phạm của Tổ quốc, có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của dân tộc. Mặt khác, thời gian qua, vấn đề nhận thức về vị trí, tầm quan trọng của biển, đảo và hành động của một bộ phận nhân dân chưa thống nhất, thậm chí sai lệch, bị lợi dụng, kích động. Vì vậy, phải tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho các cấp, các ngành, lực lượng vũ trang và toàn dân. Đây cũng là từng bước xây dựng thế trận lòng dân bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Trước hết cần lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, chặt chẽ từ Trung ương tới các địa phương và phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ban, ngành, các địa phương trong nước cũng như quốc tế để tiến hành. Tập trung giáo dục chủ trương, quan điểm của Đảng về Chiến lược Biển, Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc, Luật Biển; các chính sách, pháp luật của Nhà nước về biển, đảo, đi sâu chính sách trong đấu tranh xử lý vấn đề Biển Đông sau khi Tòa Trọng tài quốc tế (PCA) có phán quyết về “đường 9 đoạn”. Quán triệt và thực hiện tốt phương châm, tư tưởng chỉ đạo “4 Tránh”, “3 Không” và “9 K”. Chỉ đạo các đài phát thanh, truyền hình TW, địa phương và sử dụng các trang mạng mở nhiều chuyên mục về biển, đảo, tăng thời lượng phát sóng chuyên đề biển đảo quê hương. Tổ chức, xây dựng lực lượng đấu tranh chuyên sâu trên lĩnh vực chính trị, pháp lý. Tổ chức các hội thảo, diễn đàn, mít tinh, tuần hành… hướng về biển, đảo. Trên cơ sở nâng cao nhận thức cho toàn dân, chú trọng tuyên truyền cho nhân dân ven biển, các ngư dân, lực lượng làm nhiệm vụ quản lý, thực thi pháp luật, bảo vệ chủ quyền và khai thác kinh tế biển, đảo để họ nhận thức sâu sắc quan điểm của Đảng, Nhà nước về sự nghiệp bảo vệ biển, đảo.

Mặt khác, kiên quyết đấu tranh với những phần tử cơ hội chính trị lợi dụng vấn đề Biển Đông để kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xuyên tạc chính sách của Đảng và Nhà nước; gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đồng thời chia rẽ Cộng đồng ASEAN và 3 nước Đông Dương. Quản lý chặt chẽ các trang mạng xã hội, định hướng tư tưởng cho nhân dân không vì yêu nước mà bị lợi dụng, lôi kéo vào hoạt động chống đối như biểu tình bất hợp pháp, đập phá nhà máy, công ty của người nước ngoài làm ăn, kinh doanh tại Việt Nam. Phát huy các cơ quan thông tin đối ngoại, đại diện của Việt Nam ở nước ngoài… kiên quyết đấu tranh phản bác những thông tin, luận điệu phản động, vu cáo, bịa đặt của các thế lực thù địch và xuyên tạc, cực đoan trên báo chí Trung Quốc và một số tờ báo nước ngoài.

Description: http://canhsatbien.vn/upload/files/Thong%20tin%20-%20tu%20lieu/Nghien%20cuu%20trao%20doi/L-c-lu-ng-ch-c-nang-tuy%C3%AAn-truy-n-ph%C3%A1p-lu-t-cho-b%C3%A0-con-ngu-d%C3%A2n-khu-v-c-B-n-Xam--qu-n-%C3%90--Son.jpg?1496979028680

Lực lượng Cảnh sát biển và Bộ đội Biên phòng tuyên truyền phổ biến pháp luật cho ngư dân.

Hai là, phát huy vai trò, trách nhiệm của hệ thống chính trị nhằm huy động sức mạnh toàn dân cho sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Hệ thống chính trị nước ta có vai trò ảnh hưởng to lớn đối với cách mạng nước ta. Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị. Để thực hiện giải pháp này, trước hết cần tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Đảng là người lãnh đạo sự nghiệp QPAN, do đó Đảng cần có chủ trương sát, đúng cho công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Trước hết phải có thái độ dứt khoát, kiên quyết, kiên trì mục tiêu bảo vệ lợi ích dân tộc, chủ quyền quốc gia. Đảng phải luôn giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, quyền tự quyết của một quốc gia có chủ quyền và vì lợi ích, nguyện vọng tha thiết ngàn đời của dân tộc để xây dựng quan điểm, hoạch định chủ trương đấu tranh khôn khéo nhằm bảo vệ bằng được chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với LLVT, thực hiện nghiêm nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và cơ chế thực hiện nhiệm vụ QPAN, quân sự: “Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý, điều hành, cơ quan quân sự, công an và các cơ quan ban ngành làm tham mưu; người chỉ huy quân sự chỉ huy thống nhất các LLVT thuộc quyền” đối với các hoạt động khu vực phòng thủ, đặc biệt trên hướng biển, đảo. Để phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng đòi hỏi mọi tổ chức đảng, từ chi bộ đến BCHTW, từ Tổng Bí thư đến từng cán bộ, đảng viên phải là những người trung thành, tận tụy, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, luôn tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, có trách nhiệm với dân, xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ của nhân dân; biết hướng dân tộc vào những vấn đề trọng đại. Đảng phải luôn xác định và làm tốt vai trò người “cầm lái” con thuyền cách mạng Việt Nam, do đó phải luôn giữ vững bản lĩnh cách mạng, thường xuyên củng cố tổ chức, bộ máy vững mạnh; tích cực, kiên quyết đấu tranh phòng chống tham nhũng lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm; tăng cường đoàn kết, nâng cao trí tuệ, năng lực lãnh đạo ngang tầm đòi hỏi của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong bối cảnh việc đấu tranh xử lý vấn đề Biển Đông đang phức tạp như hiện nay.
Cùng với đó, cần nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị, là công cụ tổ chức thực hiện ý chí và quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân để quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội. Nhà nước cần chỉ đạo các địa phương phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trên biển, bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trên biển. Xây dựng và phát triển kinh tế biển, đảo phải gắn chặt với đảm bảo QPAN. Thực hiện dân sự hoá trên biển, khuyến khích nhân dân ra định cư trên các đảo, bộ đội hết nghĩa vụ đăng ký sinh sống lâu dài trên đảo. Cần nghiên cứu, tổ chức thí điểm một số khu kinh tế, quốc phòng trên biển. Có đầu tư thích đáng về cơ sở vật chất, tài chính cho việc đóng mới, nâng cấp tàu, thuyền, các trang bị cần thiết cho lực lượng chuyên trách bảo vệ chủ quyền biển đảo. Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về biển, đảo. Mặt khác tiếp tục triển khai có hiệu quả các chiến lược, quy hoạch, đề án, nghị định, chỉ thị của Chính phủ về phát triển hỗ trợ cho ngư dân vay vốn đóng tàu hiện đại, sản xuất đánh bắt hải sản xa bờ; xây dựng các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ, đội đánh bắt khai thác hải sản vững mạnh, để vừa phát triển kinh tế biển, vừa góp phần tạo ra sức mạnh giữ vững chủ quyền biển, đảo. Quan tâm phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trên các đảo như điện, đường, trường, trạm, thông tin liên lạc, văn hóa nhằm cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và cán bộ chiến sĩ làm nhiệm vụ trên biển, đảo. Tăng cường liên kết, hợp tác với các nước lớn để thăm dò khai thác các tài nguyên trên biển, phát triển du lịch biển, thực hiện việc đan cài lợi ích giữa các nước lớn với Việt Nam, từ đó lôi kéo, tạo sự ủng hộ của các nước lớn trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo của nước ta.

Ngoài ra, cũng cần phát huy tốt chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQ) và các tổ chức chính trị, đoàn thể xã hội; huy động sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc hướng về sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Hiện nay, trước âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch đang ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, kích động nhân dân, biểu tình, tạo sự mất ổn định trong nước, phá hoại mối quan hệ nội bộ và giữa các nước tuyên bố có tranh chấp, chồng lấn biển, đảo với nước ta… Trước tình hình đó, đòi hỏi, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân phải không ngừng tăng cường công tác giáo dục hội viên, đoàn viên, thành viên của từng tổ chức nâng cao trách nhiệm công dân, động viên con em tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ chủ quyền biển, đảo; tăng cường đoàn kết dân tộc, tôn giáo, miền xuôi cũng như miền ngược… làm cho đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với mọi tầng lớp nhân dân, biến những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước thành hiện thực, tạo trận địa tư tưởng vững chắc, tạo sức mạnh của cả dân tộc bảo vệ chủ quyền trên biển, đảo của Tổ quốc. Khi nhân dân được giác ngộ, thế hệ trẻ thấu suốt mục tiêu, nhiệm vụ và trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ biển, đảo; ý thức về biển, đảo của cả dân tộc được thức tỉnh, nuôi dưỡng, bồi đắp, phát huy, nhân rộng sẽ tạo thành sức mạnh vô địch trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc nhất là bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay.

Ba là, xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh, làm nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Lực lượng vũ trang (LLVT) có vai trò to lớn trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, là công cụ bạo lực của Đảng, Nhà nước để bảo vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ, giữ vững an ninh quốc gia, trật tư an toàn xã hội. Xây dựng LLVT vững mạnh có ý nghĩa quan trọng để củng cố sức mạnh tổng hợp, kết hợp đấu tranh chính trị với răn đe quân sự, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu và hành động chống phá của kẻ thù, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc. Xây dựng LLVT vững mạnh, cần làm tốt một số nội dung sau:

Cần đặt lên hàng đầu việc xây dựng sự tinh nhuệ vững mạnh về chính trị cho LLVT; coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì và cơ quan, nhất là cơ quan tham mưu chiến lược. Đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả của CTĐ, CTCT, mở rộng dân chủ, chăm lo xây dựng môi trường văn hóa, đáp ứng yêu cầu đấu tranh trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hoá, phù hợp trong thời bình cũng như khi có chiến sự. Thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức, làm cho toàn dân và LLVT nắm chắc, nhất trí cao với chủ trương “4 tránh”, “3 không” và “9K” của Đảng, không nôn nóng, giao động trong cuộc đấu tranh biển, đảo. Đồng thời làm cho LLVT nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch muốn độc chiếm Biển Đông, lợi dụng vấn đề Biển Đông và “Diễn biến hòa bình” để kích động, chia rẽ đoàn kết trong nước, đoàn kết quốc tế, phân hóa nội bộ ASEAN… từ đó giúp LLVT xây dựng niềm tin, động cơ, thái độ trách nhiệm, rèn luyện ý chí vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, yên tâm bám đảo, bám biển, gắn bó với đơn vị, trên tinh thần “đơn vị là nhà, biển đảo là quê hương”, chắc tay súng bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển.

Không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện bộ đội, công an, dân quân tự vệ, dự bị động viên. Tập trung nâng cao chất lượng huấn luyện Hải quân, Cảnh sát biển, Biên phòng, Phòng không, Không quân, Pháo binh… trên biển, các hạm đội tàu ngầm và máy bay săn ngầm, dân quân tự vệ các địa phương ven biển và trên các đảo; coi trọng huấn luyện bay biển, đi biển, di chuyển lực lượng, phương tiện trong mọi điều kiện thời tiết, môi trường địch sử dụng vũ khí công nghệ cao... Tăng cường kết hợp giữa huấn luyện với rèn luyện thể lực, nâng cao sức khỏe cho bộ đội, đủ điều kiện hoạt động dài ngày trên biển.

Tiếp tục xây dựng quân đội nhân dân, công an nhân dân theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Củng cố tổ chức lực lượng thường trực theo hướng “tinh, gọn, mạnh, linh hoạt”; lực lượng dự bị động viên hùng hậu; dân quân tự vệ rộng khắp, đủ sức là lực lượng nòng cốt cùng toàn dân bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, phát triển nghệ thuật quân sự, an ninh; ứng dụng KHCN tiên tiến, xây dựng nền CNQP vững mạnh, từng bước đáp ứng nhu cầu nội địa về sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật cho quân đội, công an và một số lực lượng tham gia hoạt động trên biển. Tổ chức các doanh nghiệp quân đội, công an tham gia phát triển sản xuất, kinh doanh trên hướng biển, đảo, góp phần xây dựng nền QPTD trên biển.

Tăng cường diễn tập, tuần tra chung của LLVT trong nước và quốc tế với nhiều quy mô, hình thức khác nhau, theo hướng sát phương án, nhiệm vụ và thực tế diễn biến trên biển; phù hợp với vũ khí, trang bị hiện có và nghệ thuật quân sự Việt Nam, cũng như cam kết trong Cộng đồng ASEAN và các hiệp định mà Việt Nam đã ký. Tăng cường giao lưu, diễn tập Hải quân, Cảnh sát biển, Biên phòng… giữa các nước trong khu vực để tăng thêm hiểu biết, chia sẻ kinh nghiệm, thắt chặt đoàn kết, tạo môi trường hòa bình trong khu vực.

Bốn là, tăng cường đấu tranh ngoại giao và pháp lý để góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Đây là giải pháp giữ vị trí, vai trò chủ yếu, là một mặt trận quan trọng góp phần tạo ra môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đây cũng là giải pháp kết hợp sức mạnh bên trong với sức mạnh bên ngoài để bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn lịch sử cha ông ta đều đã sử dụng giải pháp này như một công cụ để giữ vững môi trường hòa bình, liên kết bang giao hữu hảo bảo vệ chủ quyền quốc gia. Đảng ta cũng luôn quan tâm kế thừa, phát huy truyền thống, thực hiện tốt chủ trương vừa hợp tác, vừa đấu tranh, nhằm phát huy nội và ngoại lực bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Để hiện thực giải pháp này, cần quán triệt sâu sắc đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại. Thực hiện phương châm vừa hợp tác vừa đấu tranh, lấy hợp tác là chủ yếu, không để đối đầu với các nước, nhất là nước lớn, không để bị cô lập; tích cực, chủ động tham gia các cơ chế hợp tác khu vực và thế giới. Đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại, đấu tranh thông qua các phương tiện truyền thông, mặt trận báo chí, lý luận; đa dạng hóa, coi trọng công tác thông tin bằng tiếng Trung, tiếng Anh làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ, chính xác, đầy đủ hơn về đất nước, con người Việt Nam và những bằng chứng lịch sử, cơ sở pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Tăng cường công tác đối ngoại quốc phòng, tham gia có hiệu quả các cơ chế hợp tác trong khuôn khổ diễn đàn ARF, ADMM, ADMM+, đối thoại cấp cao Đông Á (EAS)… nhằm tăng cường xây dựng lòng tin chiến lược, sự tin cậy về chính trị, hạn chế xung đột nhằm tạo ra môi trường hòa bình trong khu vực. Chú trọng quan hệ hợp tác quốc phòng song phương, đa phương với các nước đối tác, đặc biệt là với các nước láng giềng, các nước bạn bè truyền thống, Cộng đồng ASEAN, các nước lớn, các nước có tiềm lực kinh tế, có nền khoa học công nghệ quốc phòng mạnh, trên tinh thần giữ vững quan điểm, đường lối, nguyên tắc chiến lược, nhưng cần linh hoạt, sáng tạo, mềm dẻo trong sách lược.

Tích cực, chủ động tìm kiếm, sưu tầm tài liệu, chứng cứ pháp lý, lịch sử; hoàn thiện hệ thống luật pháp về biển, đảo, nhất là sau khi có phán quyết của Tòa trong tài quốc tế (PCA), tạo điều kiện để đấu tranh pháp lý thuận lợi. Tổ chức và tham gia các cuộc hội thảo khoa học; diễn đàn, điều tra, khảo sát khoa học chung về biển, đảo với các nước trong khu vực và quốc tế… tranh thủ sự ủng hộ của dư luận, của các nhà khoa học, lịch sử, địa lý và các nước trong khu vực như Cộng đồng ASEAN, cộng đồng quốc tế để lên tiếng ủng hộ ta về tính pháp lý, lịch sử của quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, chống sự áp đặt của nước lớn.

Giữ vững khối đoàn kết toàn dân, người Việt Nam ở trong và ngoài nước, đẩy mạnh hoạt động giao lưu văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao và các hoạt động từ thiện, bảo trợ, du lịch… phát huy các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài như tham tán, tùy viên quân sự, quốc phòng, thương mại… và các cơ quan, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, văn hóa, khoa học kỹ thuật nước ngoài tại Việt Nam trong việc đấu tranh bảo vệ biển, đảo của nước ta. Tiếp tục tổ chức cho các nhà báo, lực lượng chính trị của một số nước, tổ chức quốc tế đến tham quan tại Hoàng Sa, Trường Sa của ta, giúp họ hiểu thực trạng tình hình và thiện chí hòa bình của Việt Nam, làm cơ sở đưa tin chính xác, khách quan trên diễn đàn quốc tế. Đây cũng là kết hợp sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế để bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Tiếp tục chủ động đàm phán, ký kết hiệp định với các nước có liên quan nhằm giải quyết những vấn đề mâu thuẫn, những vùng biển chồng lấn, tranh chấp chủ quyền, tạo môi trường, cơ sở pháp lý trong đấu tranh, đồng thời không để phát sinh các điểm nóng. Đàm phán với các nước láng giềng, các nước có tranh chấp thềm lục địa, vùng chồng lấn với quan điểm những vấn đề còn bất đồng, tranh chấp song phương thì đàm phán theo hướng song phương; những vấn đề tranh chấp liên quan đến nhiều bên thì giải quyết đa phương và phải công khai, minh bạch giữa các nước liên quan. Nếu các bên không giải quyết được bằng cơ chế đàm phán thì giải quyết theo phương thức khác như trung gian, hòa giải bằng cơ chế tài phán quốc tế như Tòa án Công lý quốc tế, Toà án quốc tế về Luật Biển và các toà trọng tài./.

Đảng là người lãnh đạo đồng thời là người đày tớ trung thành của nhân dân

 Trước yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới, trước sức cám dỗ của quyền lực, trước sự tác động của văn hóa thực dụng… một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, xa rời chức trách “người đày tớ nhân dân”. Thực trạng này trực tiếp đe dọa vai trò lãnh đạo của Đảng. Do đó,  mỗi cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần chỉ dẫn của Người, Đảng phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn, cho Đảng thực sự “là đạo đức, là văn minh”, là người lãnh đạo xứng đáng, là người đày tớ thật sự trung thành của nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng ta là một đảng cách mạng… Đảng ta là một đảng lãnh đạo”. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo nhân dân là vì dân. Vì dân là điểm xuất phát và cũng là nội dung, là mục tiêu phấn đấu của Đảng. Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh: Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc; Đảng không có mục đích nào khác là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân…Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Người căn dặn: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. Đây là một luận điểm cách mạng, khoa học của Hồ Chí Minh, là một đóng góp quan trọng vào lý luận xây dựng đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. Luận điểm này đã chỉ rõ vấn đề bản chất nhất trong mối quan hệ giữa một đảng cộng sản cầm quyền với quần chúng nhân dân.

Hồ Chí Minh khẳng định, Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ của nhân dân không hề có sự mâu thuẫn, mà đó là hai mặt gắn bó, thống nhất chặt chẽ, không thể tách rời của một vấn đề, mặt này làm điều kiện, làm tiền đề của mặt kia và chỉ có làm tốt cả hai chức trách tưởng chừng như đầy mâu thuẫn này thì một đảng cộng sản mới có thể hoàn thành tốt sứ mệnh của mình.

Người chỉ rõ, đảng viên, cán bộ muốn xứng đáng là người lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam muốn là người “lãnh đạo đúng nghĩa” thì:

"1. Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng. Mà muốn thế thì nhất định phải so sánh kinh nghiệm của dân chúng. Vì dân chúng chính là những người chịu đựng cái kết quả của sự lãnh đạo của ta.

2. Phải tổ chức sự thi hành cho đúng. Mà muốn vậy, không có dân chúng giúp sức thì không xong.

3. Phải tổ chức sự kiểm soát, mà muốn kiểm soát đúng thì cũng phải có quần chúng giúp mới được”.

Qua chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về cách “lãnh đạo đúng” có thể thấy được trong đó, hai mặt lãnh đạo và đầy tớ thống nhất với nhau một cách hết sức tự nhiên, tất yếu, hòa hợp trong một chủ thể duy nhất là Đảng. Vì Đảng lãnh đạo mọi công việc của Nhà nước, của xã hội trước hết bằng nghị quyết, chủ trương, đường lối. Muốn có chủ trương, đường lối đúng thì đường lối đó phải lấy mục tiêu dân giàu, nước mạnh làm hệ quy chiếu nền tảng để xây dựng; lấy lợi ích của quốc gia, dân tộc làm nguyên tắc bất biến. Đường lối đó phải lấy nhân dân làm trung tâm, đáp ứng đúng nhu cầu của cuộc sống, những nguyện vọng chân chính của nhân dân, được nhân dân tin theo và ủng hộ; “ý Đảng” phải chính là “lòng dân”.

Muốn thực hiện được chủ trương, đường lối đã xác định, Đảng phải học hỏi kinh nghiệm của nhân dân, phải nhờ đến sức người, sức của từ nhân dân để thực hiện, phải cần nhân dân kiểm soát. Như vậy, Đảng lãnh đạo là “vì dân”, đường lối của Đảng thực hiện được là “nhờ dân”, và cũng do vậy “người lãnh đạo” cũng thực sự là “người đầy tớ” một cách hết sức tự nhiên, hài hòa.

Để có đường lối đúng và đường lối đó nhanh chóng đi vào cuộc sống, theo Hồ Chí Minh, mọi cán bộ, đảng viên của Đảng phải là những người có trí tuệ, có bản lĩnh, dày dạn kinh nghiệm thực tiễn và đặc biệt phải hết sức gương mẫu, phải là những người dám hy sinh quyền lợi cá nhân vì lợi ích của tập thể, vì lợi ích của dân tộc và trong đó còn vì lợi ích của người khác. Đó phải là những người luôn luôn vững vàng “đi trước” trong gian khó, để quần chúng tin tưởng “theo sau”; phải là những người thật sự “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, “khổ trước thiên hạ, hưởng sau thiên hạ”.

Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng sớm nhìn thấy và cảnh báo về những “mặt trái”, những căn bệnh trong thực tiễn lãnh đạo của một Đảng cầm quyền. Theo Người, Đảng có quyền lực chính trị, có quyền lãnh đạo đất nước, lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội thì cán bộ, đảng viên dù ít, dù nhiều đều có quyền hành, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Có chức quyền, cán bộ, đảng viên rất dễ sa vào quan liêu, tham nhũng, xa hoa, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, xa rời nhân dân, đứng trên nhân dân, ức hiếp nhân dân. Người phê phán nghiêm khắc các biểu hiện suy thoái “Miệng thì nói dân chủ, nhưng việc làm thì theo lối “quan” chủ. Miệng thì nói “phụng sự quần chúng”, nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng…”. Tất cả những căn bệnh trên được Hồ Chí Minh coi là “giặc nội xâm”, là một trong những nguyên nhân chính làm suy yếu sức mạnh tổ chức của Đảng, trực tiếp đe dọa vai trò cầm quyền của Đảng.

Để khắc phục vấn đề này, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh: Cán bộ, đảng viên không những là người lãnh đạo quần chúng mà còn phải luôn xác định mình là đày tớ, là công bộc, là người phục vụ lợi ích của nhân dân. Đây là một yêu cầu bắt buộc đối với mọi cán bộ, đảng viên, mọi cơ quan, tổ chức của Đảng và Nhà nước. Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, trở thành Đảng cầm quyền, trong Thư gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, Hồ Chí Minh đã đặc biệt lưu ý cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính quyền các cấp: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”. Đây chính là sự khác biệt về bản chất của nhà nước của dân, do dân, vì dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân là chủ thì chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, ủy viên này khác làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân chứ không phải làm quan cách mạng”.

Đày tớ của nhân dân, cũng có nghĩa là “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”. Cán bộ, đảng viên không những phải “yêu dân”, “kính dân”, mà còn phải biết ơn nhân dân vì chúng ta (cán bộ, đảng viên) phải biết rằng: “cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra”. Đày tớ của nhân dân, đó là những người “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”.

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng nói chung, mỗi cán bộ, đảng viên nói riêng, bên cạnh địa vị, trí tuệ  là một “nhà lãnh đạo” đều phải có tinh thần làm việc của một “người đày tớ”. Đó là một chỉnh thể thống nhất, biện chứng, không thể tách rời trong phương pháp và phong cách làm việc của Đảng. Điều này là không hề mâu thuẫn vì cái chung của “người lãnh đạo xứng đáng” và “người đày tớ trung thành” là vì dân, phục vụ lợi ích nhân dân. Vì để là người lãnh đạo xứng đáng thì phải có đường lối, chủ trương hợp lòng dân, vì lợi ích của quần chúng nhân dân…mà muốn vậy thì người lãnh đạo phải thật sự gần dân, hiểu dân, phải thật sự ngày đêm trăn trở với lợi ích của dân, phải thật sự vì dân phục vụ - đó cũng là người đày tớ của nhân dân.

Lịch sử quá trình xây dựng, phát triển và lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam đã cho thấy tính thống nhất giữa hai vai trò vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ là một hiện thực. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ xâm lược, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới đã minh chứng rất rõ luận điểm đó. Trong những thắng lợi vĩ đại này, Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của mình đã vừa là những người hoạch định đường lối, lãnh đạo nhân dân đấu tranh một cách đúng đắn, khoa học, trí tuệ, vừa là những người trực tiếp đấu tranh hăng hái nhất, anh dũng nhất, hy sinh nhất cho lợi ích của dân tộc, vì lợi ích của nhân dân, thực sự vừa là “người lãnh đạo xứng đáng”, vừa là “người đày tớ trung thành” của nhân dân.

Trước yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới, trước sức cám dỗ của quyền lực, trước sự tác động của văn hóa thực dụng…một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức  lối sống, xa rời chức trách “người đày tớ nhân dân”. Thực trạng này trực tiếp đe dọa vai trò lãnh đạo của Đảng. Do đó,  mỗi cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần chỉ dẫn của Người, Đảng phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn, cho Đảng thực sự “là đạo đức, là văn minh”, là người lãnh đạo xứng đáng, là người đày tớ thật sự trung thành của nhân dân.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội

 

Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội, những năm qua, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân luôn coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, làm cho cán bộ, chiến sĩ luôn kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Hiện nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội, nhiệm vụ này càng phải được coi trọng, lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, hiệu quả.

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức và rèn luyện, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động. Chính vì vậy, hơn 70 năm qua, Quân đội luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thể hiện rõ bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, xứng đáng là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là học thuyết khoa học và cách mạng, vũ khí sắc bén của giai cấp công nhân và nhân loại để đấu tranh chống giai cấp bóc lột, giải phóng mình, thực hiện sứ mệnh lịch sử là đánh đổ chủ nghĩa tư bản, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, mang lại cuộc sống tốt đẹp cho nhân dân lao động. Vì vậy, từ khi ra đời, chủ nghĩa Mác - Lê-nin luôn bị chủ nghĩa đế quốc, các phần tử phản động ra sức chống phá, phủ nhận. Đối với nước ta, các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị lợi dụng những hạn chế trong quản lý, điều hành đất nước, cùng các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên, tăng cường chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng bằng nhiều hình thức, thủ đoạn ngày càng trắng trợn, tinh vi, thâm độc hơn, nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Họ rêu rao rằng, chủ nghĩa Mác – Lê-nin chỉ có giá trị ở cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, đến nay không còn phù hợp nữa; sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu là minh chứng cho sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, v.v. Từ đó, họ ngụy biện rằng chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, với mục đích đối lập chủ nghĩa Mác – Lê-nin với tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là một luận điệu rất nguy hiểm, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tiến tới phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, v.v.

Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, sự chống phá của các thế lực phản động, thù địch cũng không nằm ngoài sự chống phá của chúng đối với cách mạng Việt Nam, nhằm thực hiện “phi chính trị hóa” Quân đội, tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Để thực hiện được mục tiêu đó, các thế lực thù địch tập trung tuyên truyền, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, Cương lĩnh của Đảng,… làm cho cán bộ, chiến sĩ từng bước phai nhạt, dẫn đến xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thiếu niềm tin, phủ nhận sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội, v.v. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội đang là yêu cầu cấp thiết, đòi hỏi các cấp, các ngành, tổ chức, lực lượng phải quán triệt, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả.

Những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai đồng bộ các giải pháp, cả về tổ chức, lực lượng, nội dung, hình thức, phương tiện để nâng cao hiệu quả đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Trong đó, công tác giáo dục chính trị được đặt lên hàng đầu, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, chiến sĩ về chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính trị, quân sự, quốc phòng của Đảng; những kiến thức cơ bản về văn hóa - xã hội, nhiệm vụ của Quân đội, đơn vị. Đồng thời, nhận diện rõ các quan điểm sai trái, âm mưu, thủ đoạn chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng của các thế lực thù địch; luận giải, làm rõ những giá trị bền vững, tính đúng đắn, khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu lý tưởng: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Các cơ quan, đơn vị tổ chức được nhiều hoạt động, thu hút được đông đảo lực lượng tham gia đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực phản động, thù địch. Nhiều webside, blog của tổ chức, cá nhân phục vụ tốt cho công tác thông tin, tuyên truyền, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch. Báo chí Quân đội đã tích cực mở các chuyên trang, chuyên mục, với nhiều bài viết sắc sảo, tính chiến đấu cao, có cơ sở lý luận và thực tiễn thuyết phục, được dư luận đồng tình, ủng hộ. Quán triệt, thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị (khóa XII), Chỉ thị 87-CT/QUTW, ngày 08-7-2016 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về “Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm túc với nhiều cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả. Các cơ quan thông tấn, báo chí Quân đội mở chuyên trang, chuyên mục riêng về nội dung này, với nhiều bài viết chuyên sâu về tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người. Đặc biệt, chuyên mục “Lời Bác Hồ dạy ngày này năm xưa” đã góp phần làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc trong Quân đội và xã hội, v.v. Công tác thông tin tuyên truyền, văn hóa - văn nghệ có nhiều đổi mới, giữ vững định hướng, bám sát và phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính trị của đất nước, Quân đội, đáp ứng ngày càng tốt hơn đời sống văn hóa, tinh thần của bộ đội. Qua đó, góp phần bồi đắp lý tưởng cách mạng, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; ngăn chặn, hạn chế sự tác động của quan điểm sai trái, thông tin xấu độc đến bộ đội, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Thời gian tới, các thế lực phản động, thù địch, phần tử cơ hội chính trị trong và ngoài nước tiếp tục triệt để tận dụng mạng xã hội, internet để tán phát tài liệu chống phá quyết liệt nền tảng tư tưởng, đường lối, Cương lĩnh, nhân sự của Đảng; nói xấu lãnh tụ, cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Quân đội; thổi phồng những hạn chế, tồn tại trong phát triển kinh tế, quản lý xã hội, tiêu cực; lợi dụng những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và những vấn đề liên quan đến bảo vệ chủ quyền lãnh thổ để công kích Đảng, chế độ, v.v. Qua đó, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” Quân đội, nhằm từng bước chuyển hóa bản chất cách mạng của Quân đội ta. Do vậy, để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần quán triệt, triển khai hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về nhiệm vụ này1; tập trung thực hiện tốt một số vấn đề sau:

Một lànâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, làm cho cán bộ, đảng viên và bộ đội nhận thức sâu sắc những nguyên lý cơ bản, giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của Quân đội; bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tình đoàn kết quân dân; âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, thù địch nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Các cơ quan, đơn vị cần quán triệt, triển khai nghiêm Chỉ thị 23-CT/TW, ngày 09-02-2018 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XII) “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”. Theo đó, đối với các cơ sở giáo dục, đào tạo, tiếp tục nghiên cứu đổi mới chương trình, nội dung giáo dục chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Trước hết là, đổi mới hệ thống chương trình, giáo trình, đào tạo, bồi dưỡng giảng viên các môn khoa học xã hội và nhân văn, bảo đảm đội ngũ này thực sự kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có phương pháp giảng dạy hiện đại; gắn lý luận với thực tiễn, cập nhật kiến thức mới, khắc phục sự trùng lắp, khép kín, thiếu liên thông giữa các chương trình, các cấp học, bậc học. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị ở đơn vị cơ sở trong tình hình mới”; duy trì nghiêm chương trình, kế hoạch giáo dục chính trị hằng năm của các đối tượng, các chế độ đọc báo, nghe đài, xem thời sự, Ngày Đảng, Ngày Chính trị và văn hóa tinh thần, v.v. Phát huy vai trò của các nhà khoa học, các cơ quan, viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục, đào tạo, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, góp phần làm sáng tỏ, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đồng thời, làm cơ sở khoa học đấu tranh bác bỏ những quan điểm sai trái, luận điệu tuyên truyền chống phá của các thế lực thù địch.

Hai làgắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm chính trong công tác tư tưởng, lý luận, tạo ra sức đề kháng trước những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của các thế lực thù địch. Các cơ quan, đơn vị chủ động tuyên truyền nhân rộng gương “người tốt, việc tốt”, các điển hình tiên tiến về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; lấy tuyên truyền về những thành tựu kinh tế - xã hội, chăm lo đời sống cho nhân dân làm chủ đạo, đảm bảo tính khách quan, toàn diện cả những mặt tích cực và những mặt còn hạn chế trong xã hội. Đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực phải trên tinh thần xây dựng, lấy “xây” làm chính và lấy “xây” để “chống”, lấy mặt tích cực đẩy lùi tiêu cực. Trong tuyên truyền cần chỉ rõ sự đổ vỡ của nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu là do đảng cộng sản của những nước đó đã vận dụng học thuyết Mác – Lê-nin một cách cứng nhắc, giáo điều, duy ý chí nên dẫn đến sai lầm, chứ không phải do chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã lỗi thời, lạc hậu. Đặc biệt, trước những khó khăn, khủng hoảng kinh tế thế giới gần đây, thì chủ nghĩa Mác, nhất là học thuyết kinh tế của C. Mác được nhiều quốc gia nghiên cứu, vận dụng; khẳng định, tư tưởng của C. Mác vẫn còn nguyên giá trị và sức sống bền vững trong thế kỷ XXI.

Cùng với đó, cần đẩy mạnh phong trào Thi đua Quyết thắng, Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” gắn với thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị (khóa XII), Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; kết hợp chặt chẽ phong trào “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong Quân đội” với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, v.v. Từ đó, bồi dưỡng tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, lòng tin với Đảng, với chế độ và các giá trị chân, thiện, mỹ, làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ luôn hướng tới cái đúng, cái đẹp, đẩy lùi cái sai trái, cái xấu; giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Nhiệm vụ quan trọng hiện nay là, kiên quyết đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực phản động, thù địch; chủ động khắc phục, ngăn ngừa những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, không để lộ, lọt thông tin, các ấn phẩm xấu độc xâm nhập vào đơn vị, bảo đảm cho Quân đội luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức.

Ba làđa dạng hóa hình thức thông tin tuyên truyền, tạo sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Trước hết, các cơ quan báo chí, xuất bản, nhất là các báo, tạp chí điện tử, trang điện tử tổng hợp phải tích cực, chủ động đi trước trong cuộc đấu tranh này. Bám sát các sự kiện, nắm bắt thủ đoạn chống phá của các thế lực địch để có bài viết cung cấp thông tin chính xác, định hướng dư luận. Tăng cường xây dựng chuyên trang, chuyên mục, chương trình, thời lượng đăng tải các tin, bài đấu tranh phản bác, vạch rõ tính chất phản động, phản khoa học của những quan điểm, luận điệu sai trái, xuyên tạc, nhằm chia rẽ Đảng, Nhà nước và nhân dân với Quân đội của các thế lực thù địch. Các đơn vị văn học, nghệ thuật tập trung xây dựng, tuyên truyền những hình mẫu lý tưởng cách mạng, nhân văn, ca ngợi, xây đắp những chuẩn mực, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, cổ vũ cho xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc,… làm cho những phẩm chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” ngày càng tỏa sáng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đồng thời, phát huy vai trò đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền miệng, cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, chính thống tới mọi cán bộ, chiến sĩ; hình thành các trang web cá nhân của lực lượng nòng cốt, mở rộng, phát triển các bloger để phối hợp đấu tranh trực diện với luận điệu tuyên truyền sai trái trên không gian mạng. Nghiên cứu, ứng dụng có hiệu quả công nghệ thông tin để cải tiến, nâng cao hiệu quả đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa; chủ động áp dụng các biện pháp kỹ thuật để chặn lọc thông tin mạng, không để các thế lực thù địch lợi dụng internet chống phá.

Bốn làtăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng đối với công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng gắn với đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Nhiệm vụ này phải đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy đảng, quản lý, điều hành trực tiếp của bí thư cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp. Để đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo trong toàn quân, Quân ủy Trung ương đã ban hành Chỉ thị 823-CT/QUTW, ngày 10-9-2017 về “Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong Quân đội”. Trên cơ sở đó, đồng thời bám sát sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo 94 Quân ủy Trung ương, hướng dẫn của cơ quan chức năng thuộc Tổng cục Chính trị, cấp ủy các cấp đề ra chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh sát, đúng, hiệu quả. Cơ quan chính trị các cấp nêu cao tinh thần trách nhiệm trong tham mưu, hướng dẫn, chỉ đạo tổ chức thực hiện; chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch, vận dụng sáng tạo các hình thức, phương pháp trong đấu tranh tư tưởng, tránh hình thức, đơn giản; phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, thu hút đông đảo các đối tượng tham gia; chấp hành nghiêm quy chế phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí; quy chế sử dụng internet, thông tin tuyên truyền, v.v.

Năm làthường xuyên coi trọng xây dựng lực lượng nòng cốt; bảo đảm tốt phương tiện kỹ thuật, công nghệ cho công tác thông tin tuyên truyền, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Thời gian qua, việc tổ chức, hoạt động của lực lượng nòng cốt trong đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận được các đơn vị, nhất là ở các nhà trường, cơ quan báo chí quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, bước đầu đạt hiệu quả tốt. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, các đơn vị tập trung xây dựng, bồi dưỡng, nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả hoạt động của lực lượng này. Đó là những cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ lý luận cao, khả năng diễn đạt, luận chiến thuyết phục, có nhiệt huyết, dũng khí, quyết tâm đấu tranh để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Chú trọng nâng tầm lý luận sắc sảo, kinh nghiệm tổ chức lực lượng,... cho đội ngũ những nhà khoa học, cán bộ chủ trì, chủ chốt ở các viện nghiên cứu, các học viện, nhà trường, các cơ quan, đơn vị, đội ngũ phóng viên, biên tập viên của các cơ quan thông tấn, báo chí, xuất bản. Đồng thời, quan tâm đầu tư, trang bị phương tiện kỹ thuật, công nghệ đấu tranh trên không gian mạng, bảo đảm kinh phí, chế độ chính sách phù hợp đối với lực lượng này, v.v.

Đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội là cuộc chiến đấu lâu dài, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, các cấp, các ngành, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội; làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống xã hội.

ÐỨNG LÊN - ÐI TỚI - VƯƠN MÌNH!

Ở thời điểm lịch sử này cả dân tộc đã tiến gần đến cái đích 40 năm đổi mới. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử là nền tảng và là lực đẩy để dân tộc vươn mình. Nếu không có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế ấy thì làm sao có thể đi đến quyết định chinh phục những đỉnh cao mới.

vuon minh
Chương trình nghệ thuật mừng Đảng, mừng xuân. Ảnh | TRẦN HẢI

Xuân Ất Tỵ, 2025, chúng ta kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Dịp này, gần một thế kỷ trước, Tết Canh Ngọ năm 1930, giữa rừng hoa Dương tử kinh tràn ngập sắc hồng, trên đất Hương Cảng (Hồng Kông-Trung Quốc) Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức. Theo quan niệm của người Hồng Kông, loài hoa này biểu hiện sức sống kiên cường, ý chí mạnh mẽ của con người trước mọi thách thức của cuộc sống. Hôm ấy là ngày 6 tháng Giêng. Về sau, Đảng ta vẫn lấy ngày này làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng. Đảng còn có chủ trương phát triển đảng viên lớp “Sáu tháng Giêng” và nhiều đảng viên đã vinh dự gia nhập Đảng dịp này. Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9/1960), mới quyết định đổi từ ngày âm lịch sang ngày dương lịch; lấy ngày Hội nghị khai mạc, mồng 5 tháng giêng Canh Ngọ, tức ngày 3/2/1930 dương lịch, là ngày thành lập Đảng ta.

Lịch sử không chỉ là ký ức, là câu chuyện của ngày hôm qua. Hơn thế, lịch sử là câu chuyện của ngày hôm nay và ngày hôm nay chuẩn bị cho ngày mai. Chẳng bao lâu nữa Đảng ta tròn 100 tuổi. Một thế kỷ trong dòng chảy đất nước mấy nghìn năm lịch sử. Một thế kỷ trong thế kỷ XX toàn dân tộc kiên cường đấu tranh giành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đi lên chủ nghĩa xã hội. Một thế kỷ tiếp nối những chặng đường vẻ vang, Đảng lãnh đạo toàn dân tiến hành công cuộc đổi mới gần 40 năm qua và nay đang bước vào kỷ nguyên mới. Theo con đường Đảng ta và Bác Hồ đã lựa chọn, có thể hình dung, dân tộc ta đã Đứng lên - Đi tới - Vươn mình.

Có được cơ đồ đất nước như hôm nay là nhờ ở truyền thống anh hùng, bất khuất, thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ. Tinh thần bất khuất, kiên trung, hy sinh cao cả ấy kết tinh trong những người cộng sản, từ buổi Đảng mới ra đời “như đứa trẻ sinh nằm trên cỏ”, cho đến “Ba cao trào cách mạng”, khởi nghĩa giành chính quyền, kháng chiến và kiến quốc, đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, cho đến công cuộc xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Trong bất kỳ giai đoạn cách mạng nào, bằng uy tín chính trị của mình, Đảng ta đã tập hợp được đông đảo các tầng lớp nhân dân thông qua đường lối, chủ trương đúng đắn, đáp ứng được khát vọng cháy bỏng của nhân dân. Muôn người như một thì sẽ tạo thành biển cả, còn tách ra riêng rẽ, mỗi người chỉ là giọt nước.

Trong bài thơ dài Ba mươi năm đời ta có Đảng, nhà thơ Tố Hữu viết: Đứng lên, thân cỏ, thân rơm/ Búa liềm không sợ súng gươm bạo tàn! Còn khi viết bài Ta đi tới, ông lại truyền đến mọi người niềm kiêu hãnh, sức mạnh tinh thần của buổi dựng xây đất nước: Ta đi tới, trên đường ta bước tiếp,/ Rắn như thép, vững như đồng/ Đội ngũ ta trùng trùng điệp điệp...

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Chiến thắng Điện Biên Phủ là những mốc son chói lọi trên hành trình cứu nước và dựng xây đất nước. Nhưng trong quá trình tổng kết, đúc kết những bài học kinh nghiệm quý giá qua các cuộc kháng chiến, các nhà nghiên cứu đánh giá, trong thế kỷ XX, dân tộc ta, đất nước ta đã kiến tạo nên hai kỷ nguyên vĩ đại nhất đó là “Kỷ nguyên Đứng dậy” Độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội (1930-1975); “Kỷ nguyên Đi tới” Thống nhất đất nước, đổi mới (1975-2025). Từmùa xuân này là chặng nước rút để chúng ta bước vào “Kỷ nguyên Vươn mình”.

Vậy là câu hỏi Kỷ nguyên vươn mình mạnh mẽ của đất nước ta, dân tộc ta bắt đầu từ bao giờ đã được trả lời. Một sự ngẫu nhiên hay và đẹp như lời hẹn của mùa xuân đất trời, ba kỷ nguyên với ba dấu mốc 1930-1975-2025. Để rồi bước vào mùa xuân năm 2026, Đại hội lần thứ XIV của Đảng sẽ làm sáng tỏ hơn nữa, xác định rõ hơn con đường bước đi, trên chặng đường tiến tới kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Đảng (2030) và 100 năm Ngày nước Việt Nam mới ra đời (2045), trở thành nước phát triển, có thu nhập cao.

Nhưng không phải chờ đến khi trở thành nước đang phát triển, rồi phát triển, mới “vươn mình”. Cả thế giới đang thay đổi, thay đổi từng ngày, chuyển mình chậm là lạc hậu với thế giới. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển nhưng không phải một con đường thẳng mà luôn phải đối mặt với sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc. Cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, nhất là công nghệ số hóa ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) phát triển vô cùng nhanh chóng và mạnh mẽ, giục giã mỗi người, mỗi quốc gia, dân tộc. Chậm một bước là lỡ một nhịp. Chậm một nhịp là vuột mất thời cơ.

Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm trong nhiều bài viết, bài nói, đã nhấn mạnh rằng, ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược trở thành một nước phát triển có thu nhập cao, khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân tộc tinh thần tự chủ, tự lực, tự cường, tự tin, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước bền vững. Nguồn lực động lực quan trọng để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới là ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất mới, thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, phát huy sức mạnh văn hóa con người.

Thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử bốn thập niên qua là nền tảng và là lực đẩy để dân tộc vươn mình. Nếu không có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế ấy thì làm sao có thể đi đến quyết định chinh phục những đỉnh cao mới. Khi tổng kết 10 năm tiến hành công cuộc đổi mới (1986-1996), điểm sáng nhất trong bức tranh kinh tế-xã hội là đất nước đã khắc phục được khủng hoảng, giữ vững chế độ xã hội chủ nghĩa và bước vào thời kỳ phát triển mới, trong bối cảnh không còn Liên Xô, hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã. Đến năm 2010, mức thu nhập bình quân đầu người đã vượt mốc 1.000 USD/năm. Lúc này chúng ta đã ra khỏi tình trạng chậm phát triển, đứng vào danh sách các nước có thu nhập trung bình trên thế giới.

Và trước mùa Xuân Ất Tỵ này, Việt Nam đã trở thành một trong 40 nền kinh tế có quy mô GDP hàng đầu thế giới, một trong 20 thị trường ngoại thương lớn nhất toàn cầu, quốc gia hàng đầu về Chỉ số phát triển con người (HDI). Hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng đạt nhiều thành tựu. Cái tên Việt Nam được bạn bè quốc tế nhắc tới với tình cảm và sự tôn trọng bởi chúng ta tiếp tục có nhiều đóng góp có trách nhiệm vào các cơ chế hợp tác đa phương, biết cách “lựa gió thả diều”, góp sức giải quyết những vấn đề chung thách thức toàn cầu. Đến nay nước ta đã có quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với tám nước lớn: Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Australia và Pháp.

Không chỉ dành cho nhau những lời ưu ái, tháng 10/2024, trong ngày vui trở thành bạn lớn, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron, cam kết, hai bên sẽ tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực có tiềm năng và Pháp có thế mạnh như cơ sở hạ tầng, hàng không vũ trụ, khoa học công nghệ, năng lượng tái tạo, năng lượng hydrogen… Thật là những bước tiến diệu kỳ trong một thế giới hiện đại, văn minh. Danh ngôn Pháp có câu:“Kinh nghiệm, đó không phải cái gì xảy ra với chúng ta, mà là chúng ta làm gì khi điều đó đến”. Khép lại quá khứ, hướng đến tương lai, đó là đáp án của câu hỏi “làm gì”.

Những thành tựu Đổi mới là vô cùng to lớn, quyết định sự thay đổi của đất nước, của cả trăm triệu dân ta, như dòng sông lớn không ngừng thay đổi. Nhưng ta vẫn biết, cùng với dòng trong là dòng đục. Còn lắm sóng ngầm, còn nhiều trở ngại, yếu kém trong quá trình đi tới. Đó là lý do của mọi cố gắng, mọi hy vọng. Phải mạnh tay hơn nữa trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong công tác cán bộ - cái gốc của mọi công việc. Sắp bước vào “Năm đại hội”, chớ để lặp lại tình trạng “đầu nhiệm kỳ nghe ngóng, cuối nhiệm kỳ bất chấp”. Phải kiên trì, quyết liệt hơn trong đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Xử lý một vụ cảnh tỉnh cả vùng, cả lĩnh vực. Không dập khói mà dập từ lửa. Đặc biệt là chống lãng phí cần được chú trọng, đặt ngang với chống tham nhũng. Lãng phí tiền của, lãng phí nhân lực, lãng phí thời gian là những chuyện thường ngày, ta vẫn gặp trong xã hội và trong mỗi gia đình, trong chính mỗi con người. Cứ để tình trạng công trình nghìn tỷ phơi mưa phơi nắng cả chục năm chưa thể đưa vào sử dụng thì điều đó còn nặng hơn hai chữ “khuyết điểm”, có người bảo đó là tội ác cũng không quá! Một viên sỏi nhỏ, một tờ giấy khai sinh mà phải ba, bốn bộ quản, thì khổ dân quá rồi, phải sửa ngay thôi. Cái gì có hại cho Dân thì phải hết sức tránh. Người lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước đã lưu ý chuyện này.

Chuyện Kỷ nguyên mới là chuyện đại sự của dân tộc. Nhưng đại sự ấy bắt đầu từ cơ man nào là những chuyện tiểu sự trong đời sống, trong thái độ sống của mỗi người, nhất là những người được Dân tin yêu, giao nhiệm vụ. Chức vụ càng cao, trọng trách, danh dự càng lớn. Trong mùa Xuân thứ 95 có Đảng, nghĩ về Đảng, xin bắt đầu từ chỗ đứng của Dân - quyền hành và lực lượng đều ở nơi Dân./.