Thứ Ba, 4 tháng 2, 2025

Ngoại giao kinh tế đâu phải vì mục tiêu viển vông

Những năm gần đây, nhất là năm 2024, hợp tác kinh tế trở thành nội dung được quan tâm hàng đầu trong tất cả hoạt động đối ngoại của Việt Nam, đặc biệt là đối ngoại cấp cao. Những thành tựu đạt được trong lĩnh vực ngoại giao kinh tế là lời đáp trả mạnh mẽ trước luận điệu của một số phần tử chống đối, thù địch cho rằng các lãnh đạo chủ chốt của Việt Nam “đi nhiều nơi, đón nhiều người” nhưng chẳng đem lại lợi ích gì, nhằm làm suy giảm niềm tin của nhân dân với đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.

Có thể khẳng định rằng, năm 2024 là một năm khởi sắc của ngoại giao Việt Nam. Theo số liệu tổng hợp của Bộ Ngoại giao, chỉ riêng năm qua đã có gần 60 hoạt động đối ngoại của lãnh đạo chủ chốt Đảng, Nhà nước Việt Nam, trong đó có 21 chuyến thăm tới các nước và tham dự các hội nghị đa phương, đón 25 đoàn lãnh đạo các nước thăm Việt Nam; cùng với đó là các cuộc điện đàm, hội đàm trực tuyến, các hội nghị đa phương trực tuyến hoặc diễn ra tại Hà Nội.

Thông qua các hoạt động đối ngoại cấp cao, hơn 170 thỏa thuận hợp tác giữa Việt Nam và các đối tác đã được ký kết.

Dễ nhận thấy nội dung hợp tác kinh tế là trọng tâm của đối ngoại cấp cao Việt Nam trong những năm gần đây, cụ thể là đẩy mạnh hợp tác về thương mại, đầu tư, du lịch, lao động với các thị trường lớn, các đối tác đầu tư chủ chốt, quan trọng, nhất là khu vực Đông Bắc Á, châu Mỹ, Ấn Độ, Trung Đông...; thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác quốc tế về khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế xanh, ngoại giao công nghệ, ngoại giao bán dẫn... với các đối tác chủ chốt và các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới; đẩy mạnh đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa đối tác, tạo đột phá ở các thị trường mới và tiềm năng, trong đó có các thị trường còn nhiều dư địa như khu vực Mỹ Latin, Trung Đông - châu Phi, Trung-Đông Âu.

Năm 2024, Việt Nam cũng tích cực thúc đẩy ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) mới, nâng tổng số FTA ký kết và tham gia lên con số 17.

Hoạt động ngoại giao kinh tế còn được thể hiện qua việc chỉ trong vòng một năm, các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài đã triển khai hơn 700 hoạt động ngoại giao kinh tế xúc tiến thương mại, đầu tư, du lịch; hỗ trợ địa phương quảng bá giới thiệu, kết nối, thiết lập quan hệ với các đối tác nước ngoài, với hơn 400 hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư của các địa phương trong và ngoài nước, trong đó hỗ trợ các tỉnh, thành phố ký kết 130 thỏa thuận với các đối tác quốc tế.

Nhìn vào hàng loạt hoạt động ngoại giao kinh tế thông qua đối ngoại cấp cao của Việt Nam trong năm qua cũng có thể thấy rằng, ngoại giao kinh tế ngày càng được triển khai bài bản và có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành, địa phương.

Cơ hội để đất nước phát triển bứt phá

Những thành tựu của ngoại giao kinh tế được gói gọn trong đánh giá mà Thủ tướng Phạm Minh Chính đưa ra tại một hội nghị diễn ra ở Hà Nội hồi tháng 12-2024: Ngoại giao kinh tế ngày càng thực chất hơn và bài bản hơn, với “3 rõ”: Kết quả rõ, sản phẩm rõ, đóng góp rõ cho phát triển kinh tế-xã hội đất nước.

Hiệu quả của ngoại giao kinh tế năm 2024 trước hết được thể hiện qua những kết quả mà Việt Nam đạt được trong thúc đẩy hợp tác quốc tế về khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế xanh.

Điển hình là thông qua các hoạt động đối ngoại cấp cao, Việt Nam và Hàn Quốc đã ký kết 9 văn kiện cấp chính phủ về lĩnh vực năng lượng tái tạo, chất bán dẫn, điện tử công nghệ cao; Việt Nam và Ấn Độ thống nhất đề ra phương hướng hợp tác “5 hơn”, trong đó nhấn mạnh hợp tác khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo rộng mở hơn, và Thủ tướng Ấn Độ cam kết tăng đầu tư tại Việt Nam với tổng số vốn 10 tỷ USD.

Bên cạnh đó, Việt Nam và một số quốc gia ở khu vực Trung Đông cũng nhất trí coi đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số là trọng tâm hợp tác song phương trong thời gian tới, trong đó UAE sẵn sàng hợp tác với Việt Nam xây dựng trung tâm siêu dữ liệu.

Giới đầu tư trong nước, khu vực và quốc tế hẳn cũng chưa quên hình ảnh Thủ tướng Phạm Minh Chính cùng ông Jensen Huang, Nhà sáng lập kiêm Chủ tịch Tập đoàn NVIDIA - tập đoàn sản xuất chip đắt giá nhất thế giới với giá trị thị trường gần 1.200 tỷ USD - dạo quanh phố cổ, gặp gỡ người dân và thưởng thực các món ẩm thực đường phố Hà Nội hồi đầu tháng 12-2024.

Song điều khiến người ta chú ý hơn cả là trong chuyến thăm làm việc ấy của ông Jensen Huang, Chính phủ Việt Nam và Tập đoàn NVIDIA đã ký Thỏa thuận về hợp tác thành lập Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển về trí tuệ nhân tạo (AI) của NVIDIA và Trung tâm Dữ liệu AI tại Việt Nam.

Ngoài ra, Tập đoàn NVIDIA đã ký thỏa thuận trị giá 4-4,5 tỷ USD với một số đối tác về việc dịch chuyển chuỗi sản xuất từ các nước khác sang Việt Nam trong vòng 4 năm tới. Nên nhớ rằng, kết quả này có được chỉ sau hơn một năm kể từ khi Thủ tướng Phạm Minh Chính đến thăm trụ sở Tập đoàn NVIDIA nhân chuyến công tác tại Hoa Kỳ và đề nghị NVIDIA hợp tác với Việt Nam trong phát triển công nghệ.

Những thành quả nói trên chứng tỏ Việt Nam vẫn là điểm đến an toàn, hấp dẫn của đầu tư, kinh doanh quốc tế, và hoàn toàn trái ngược với luận điệu cho rằng, trong khi một số quốc gia liên tục thu về những hợp đồng giá trị thì lãnh đạo cấp cao Việt Nam chỉ công du, “tay bắt mặt mừng” khắp nơi để theo đuổi những mục tiêu, lợi ích viển vông.

Dĩ nhiên, các văn bản, thỏa thuận hợp tác “tỷ đô” không thể tạo ra thay đổi “mắt thấy tai nghe” chỉ trong vòng một đêm. Vẫn cần thời gian và nỗ lực nhằm cụ thể hóa, khai thác hiệu quả các thỏa thuận, khuôn khổ hợp tác đã ký kết, từ đó phục vụ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống cho mỗi người dân.

Những thành quả đạt được thông qua ngoại giao kinh tế rõ ràng đang mở ra cơ hội bứt phá cho Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học-công nghệ. Đó cũng là điều mà ngay cả những đối tượng thường xuyên chống phá, xuyên tạc đường lối đối ngoại của Việt Nam cũng phải thừa nhận.

Sưu tầm

95 mùa xuân có Đảng

Ngày 3-2-2025 kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam khi sắc xuân đang căng tràn.

Chúng ta càng thêm tự hào 95 mùa xuân có Đảng. Thời gian là thuốc thử kỳ diệu, minh chứng sức mạnh phi thường của đội tiên phong của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam.

Đảng ta đã kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam với đầy ắp niềm tin yêu của tình dân, nghĩa Đảng vượt qua ghềnh thác, tiến mạnh mẽ và vững chắc trên con đường độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, khẳng định vị thế của Việt Nam ngày càng nâng cao trong khu vực và trên thế giới.

Lịch sử ghi đậm dấu ấn, dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã làm nên thắng lợi vĩ đại Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mà đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, kết thúc vẻ vang là Đại thắng mùa Xuân năm 1975; thắng lợi của công cuộc đổi mới, tạo ra thế và lực mạnh mẽ cho đất nước đi tới tương lai rực rỡ, vững tin bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Năm 2024, dù chịu nhiều tác động từ những bất ổn của tình hình chính trị, kinh tế thế giới, trong nước thiên tai, bão, lũ gây hậu quả nặng nề nhưng đất nước luôn ổn định chính trị, độc lập, chủ quyền quốc gia được giữ vững, kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực và thế giới; công tác xây dựng Đảng đạt kết quả tích cực và toàn diện. Việc sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được triển khai quyết liệt, khẩn trương.

Mừng Đảng ta tròn 95 tuổi, từng cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên với quyết tâm cao nhất phấn đấu hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ của nhiệm kỳ Đại hội XIII, lập nhiều thành tích chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước; tổ chức thành công đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng.

Quân đội nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh qua hơn 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành đã không ngừng lớn mạnh, cùng nhân dân làm nên những chiến công chói lọi. Dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, Quân đội quyết tâm phấn đấu vươn lên mạnh mẽ, thực hiện thắng lợi mục tiêu năm 2025 cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại; tạo tiền đề, động lực vững chắc xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Đảng soi đường, mở lối, dẫn dắt dân tộc ta đi tới bến bờ hạnh phúc, vinh quang. Hướng về Đảng, vững tin theo Đảng, mọi người dân Việt Nam tự hào phát huy truyền thống đoàn kết, anh dũng, tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi, đẩy lùi nguy cơ, thách thức, đưa đất nước bứt phá, tiến lên.

Sưu tầm

NÂNG CAO NHẬN THỨC VÀ CẢNH GIÁC TRƯỚC THÔNG TIN KHÔNG CHÍNH XÁC

 

Hiện nay, các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng internet và các trang mạng xã hội để đăng tải thông tin xấu, độc, sai sự thật nhằm bóp méo, xuyên tạc, làm lẫn lộn đúng - sai, thật - giả, gây hoang mang dư luận xã hội. Một trong những chiêu thức mà chúng triệt để lợi dụng là sử dụng internet để đăng tải, phát tán các bài viết, video clip, hình ảnh lắp ghép sai sự thật, gây nhiễu loạn thông tin; làm cho người tiếp nhận thông tin phân tâm, mơ hồ, mất cảnh giác; gieo rắc sự hoài nghi, bi quan, dẫn đến mất phương hướng chính trị, giảm sút lòng tin vào Đảng, vào chế độ, làm xuất hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nội dung mà các thế lực thù địch tập trung chống phá rất phong phú, đa dạng. Chúng thường phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh; chống phá quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực; phủ nhận những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của đất nước ta đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng… Ngoài ra, chúng thực hiện các âm mưu, thủ đoạn phủ nhận lịch sử truyền thống vẻ vang của dân tộc ta, của Đảng ta, chia rẽ mối đoàn kết Đảng với dân, xuyên tạc, phủ nhận mục tiêu con đường xã hội chủ nghĩa và xuyên tạc đời tư, bôi nhọ hình ảnh các lãnh đạo của đất nước…

Nhiều thế lực thù địch, phần tử phản động còn tập trung phát tán tin, bài xuyên tạc Đại hội XIII của Đảng, nhất là công tác nhân sự đại hội. Trong suốt 95 năm xây dựng, trưởng thành và lãnh đạo cách mạng Việt Nam, ở bất kỳ giai đoạn cách mạng nào, nhất là trước những bước ngoặt, những thời điểm khó khăn của cách mạng thì nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch luôn có tầm quan trọng hàng đầu, gắn với nhiệm vụ trọng yếu bảo vệ con đường cách mạng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ và bảo vệ đất nước, nhân dân ta. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cần kết hợp chặt chẽ tính Đảng, tính khoa học và tính nghệ thuật. Để nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên internet hiện nay cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền và hướng dẫn của cơ quan chức năng. Các cấp ủy Đảng giữ vai trò quyết định phương hướng, phương châm, tổ chức lực lượng, bảo đảm các điều kiện cần thiết cho công tác đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái thù địch trên không gian mạng đạt hiệu quả cao. Đồng thời, nâng cao nhận thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị. Xây dựng và phát huy vai trò của lực lượng nòng cốt, đội ngũ cán bộ tuyên giáo, các chuyên gia đầu ngành trong đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Thường xuyên quan tâm bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận, kỹ năng thiết lập, khai thác, sử dụng, chia sẻ thông tin trên các trang mạng xã hội, phương pháp đấu tranh trên internet cho các lực lượng tham gia đấu tranh. Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, xây dựng môi trường thuận lợi, bảo đảm cơ sở vật chất, tạo động lực cho lực lượng nòng cốt đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng internet. Thời đại bùng nổ công nghệ thông tin và truyền thông xã hội, nhất là mạng xã hội liên tục được hỗ trợ bởi những công nghệ mới ngày càng tiện ích hơn, mang lại nhiều giá trị tích cực, trở thành kênh thông tin quan trọng, thúc đẩy quá trình giao tiếp và kết nối xã hội.

Theo số liệu thống kê của Bộ TT-TT, Việt Nam có hơn 360 mạng xã hội được cấp phép và đang hoạt động, với khoảng 55 triệu người sử dụng (chiếm khoảng 57% dân số), chủ yếu sử dụng các mạng xã hội lớn như: Facebook, YouTube, Zalo, Tiktok… (trong đó, Việt Nam thuộc nhóm các nước có lượng người sử dụng Facebook, YouTube nhiều nhất thế giới). Ưu điểm của báo điện tử và mạng xã hội là thông tin nhanh, sức lan tỏa thông tin rộng; việc tiếp cận thông tin trên mạng xã hội khá thuận tiện; đối tượng tiếp cận mạng xã hội rất phong phú, đa dạng, nhiều thành phần (trong đó không ít người có trình độ, nhận thức chính trị còn tương đối hạn chế và có thói quen theo dõi các trang thông tin không chính thống trong nước và nước ngoài). Chính vì vậy, các thế lực thù địch đã lựa chọn mạng xã hội là một mũi tấn công, xuyên tạc, tuyên tuyền chống phá hệ tư tưởng, quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chống phá Đảng và Nhà nước ta nhằm mục đích làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Thời gian tới các thế lực thù địch, phản động sẽ tiếp tục đẩy mạnh hành vi lợi dụng internet và mạng xã hội để tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc với những phương thức thủ đoạn táo bạo hơn, tinh vi hơn. Vì vậy; khi tham gia tìm hiểu thông tin trên mạng xã hội, cần tỉnh táo nhận diện đâu là thông tin tốt, thông tin xấu, đâu là thông tin có cơ sở, thông tin xuyên tạc, bịa đặt; không tham gia bình luận, chia sẻ những thông tin chưa được kiểm chứng hoặc bị lôi cuốn theo những giọng điệu mỹ miều, xảo trá của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội mà dẫn tới tư tưởng hoài nghi, hoang mang.

Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 

Chi bộ là hạt nhân, là gốc rễ, đồn lũy của Đảng ở cơ sở. Chi bộ vững mạnh thì mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được thi hành tốt ở cơ sở. Tổ chức Đảng ở các đơn vị muốn mạnh trước hết phải có chi bộ mạnh và có đội ngũ đảng viên tiên phong, gương mẫu; trong  đó, tự phê bình và phê bình giữ vai trò rất quan trọng. Thực tế này đang đặt ra những yêu cầu về hoàn thiện, đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở.     

Mục đích của tự phê bình và phê bình là làm cho phần tốt của mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu dần bị mất đi. Mọi người học tập ưu điểm của nhau, sửa chữa những khuyết điểm, giúp nhau cùng tiến bộ. Nêu ưu điểm trước, vạch khuyết điểm sau và phải tiến hành đồng thời, không được coi nhẹ một mặt nào, “phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của đồng chí mình. Tự phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của bản thân mình. Tự phê bình và phê bình phải đi đôi với nhau”.

Người nhấn mạnh rằng, tự phê bình và phê bình phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết. Vì vậy, phải kiên trì, thường xuyên, liên tục, mạnh dạn thừa nhận khuyết điểm của mình để sửa chữa, khắc phục. Bác đã dạy: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” (2). Mỗi người cần phải có thái độ, phương pháp đúng, trên tình thương yêu giai cấp, tự phê bình mình cũng như phê bình người, phải triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt, đồng thời không dùng những lời mỉa mai, chua cay, thâm độc. Phê bình việc chứ không phê bình người, kiên quyết chống bệnh tự mãn, kiêu ngạo, ba hoa, phải thực hành khẩu hiệu “chí công vô tư”. Người được phê bình phải cầu thị, nghiêm túc tiếp thu ý kiến phê bình của đồng chí mình, phải có ý chí quyết tâm khắc phục sai lầm, khuyết điểm.

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình, thời gian qua, các cấp ủy trong Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương đã thường xuyên chăm lo xây dựng chi bộ trực thuộc trong sạch vững mạnh, trong đó có lãnh đạo, chỉ đạo và thường xuyên tiến hành bồi dưỡng chi ủy, chi bộ các nội dung liên quan đến tự phê bình và phê bình, nhất là việc quán triệt và thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Nhờ vậy, tự phê bình và phê bình trở thành hoạt động thường xuyên góp phần đấu tranh với những suy nghĩ và hành vi sai trái nhằm cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực.

Tuy nhiên, việc tiến hành tự phê bình ở một số cấp ủy, chi bộ trong Khối vẫn còn những hạn chế, nhất là kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng chưa đạt yêu cầu đề ra. Tình trạng tự phê bình và phê bình nhiều nơi còn mang tính hình thức; còn nể nang, né tránh, ngại va chạm; một số cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình trong công việc được giao... Tính chiến đấu, tự phê bình và phê bình của một số tổ chức đảng và đảng viên ở các cấp, nhất là ở cơ sở trong hoạt động, sinh hoạt định kỳ, trong phân tích chất lượng đảng viên và tổ chức đảng hằng năm, trong xem xét thi hành kỷ luật đảng hoặc đề nghị thi hành kỷ luật bị giảm sút nghiêm trọng, không đảm bảo mục tiêu, yêu cầu. Do thực hiện không nghiêm túc tự phê bình và phê bình mà không ít tổ chức đảng và đảng viên thực chất bị “yếu kém, bị “sai lầm, khuyết điểm”, thậm chí có vi phạm vẫn được “bỏ qua”, chậm bị phát hiện.

Để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, nhất là ở cấp chi bộ đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ lãnh đạo của Đảng, đòi hỏi các chi bộ trong Đảng ủy Khối phải nâng cao hơn nữa chất lượng tự phê bình và phê bình theo tư tưởng Hồ Chí Minh bằng những giải pháp sau: 

Một là, nâng cao trách nhiệm bí thư chi bộ; mở rộng dân chủ; duy trì chặt chẽ chế độ tự phê bình và phê bình. Tự phê bình và phê bình là một quy định, nội dung quan trọng sinh hoạt của cấp ủy, tổ chức Đảng nói chung và chi bộ nói riêng. Bí thư, phó bí thư chi bộ nhất thiết phải duy trì có hiệu quả hoạt động này. Song song với tự phê bình và phê bình xoay quanh thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị, các chi bộ và từng đảng viên cần phải tự phê bình và phê bình gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng và Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

Nắm vững 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà Nghị quyết Trung ương 4 đã chỉ ra, người chủ trì sinh hoạt phải khéo léo gợi mở vấn đề, khuyến khích các đảng viên mạnh dạn thảo luận, trình bày ý kiến của bản thân, phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình. Các ý kiến phải được tôn trọng, tổng hợp, xem xét trước khi đưa ra quyết định. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh, dân chủ phải đặt trong tổ chức, có kỷ luật, kỷ cương. Tuyệt đối không được lợi dụng dân chủ trong sinh hoạt để đả kích, nói xấu nhau, hoặc dân chủ hình thức, mang tính chất xuôi chiều.

Hai là, tự phê bình và phê bình phải trung thực, thẳng thắn, khách quan gắn với xử lý kỷ luật nghiêm minh. Thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng, siết chặt kỷ luật, kỷ cương; cán bộ, đảng viên vi phạm phải có hình thức, biện pháp xử lý kịp thời, chính xác, bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng. Tự phê bình và phê bình phải gắn liền với xử lý nghiêm vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước. Tự phê bình và phê bình với thái độ nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, không nể nang, né tránh, không có vùng cấm.

Bốn là, kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện tự phê bình và phê bình. Công tác kiểm tra, giám sát thuộc chức năng lãnh đạo của Đảng, là nội dung quan trọng bảo đảm nghị quyết của Đảng thực hiện có hiệu quả trên thực tế. Để thực hiện tốt nội dung này, các cấp ủy, chi bộ cần có kế hoạch kiểm tra, giám sát cụ thể đối với từng chi bộ trong Đảng bộ mình. Nội dung cần gắn chặt kết quả thực hiện tự phê bình và phê bình với phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên trước tổ chức Đảng và quần chúng. Việc duy trì nền nếp chế độ, nguyên tắc, thủ tục, nội dung và thực hiện dân chủ trong tự phê bình và phê bình, nhận thức thái độ, động cơ trách nhiệm trong tự phê bình và phê bình, tính đấu tranh để xây dựng chi bộ… Qua kiểm tra cần chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm, kịp khắc phục những khâu yếu, mặt yếu và đề ra các giải pháp giúp cấp ủy, chi bộ và đảng viên tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, góp phần nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt và hoạt động của chi bộ.

Quán triệt và thực hiện tốt việc nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình ở chi bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và năng lực cầm quyền của Đảng ở cơ sở; giữ gìn phẩm chất, đạo đức, tư cách đảng viên, nâng cao uy tín của Đảng, đem lại niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.

 

CẢNH GIÁC VỚI VIỆC LỢI DỤNG MẠNG XÃ HỘI CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

Sự phát triển của công nghệ thông tin và các ứng dụng trên không gian mạng đã làm thay đổi bộ mặt của xã hội; chúng ta không khó bắt gặp những hình ảnh từ trẻ cho đến người lớn tuổi ở đâu, ngồi đâu, trên tay cũng cầm chiếc điện thoại thông minh lướt website, nắm tình hình trong nước và thế giới, nếu chúng ta không có sự lựa chọn để rồi có thể vào những trang website “đen” rồi phải thốt lên rằng chế độ này sao nhiều tiêu cực thế?… Internet và mạng xã hội có tầm ảnh hưởng lớn đến người dân Việt Nam, trong đó có cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Lợi dụng sự phát triển nhanh chóng này mà các thế lực thù địch đã tăng cường các hoạt động tuyên truyền, phát tán nhiều thông tin sai trái, xấu, độc trên mạng xã hội nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Vì thế, một trong những vấn đề quan trọng đặt ra với mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và Nhân dân hiện nay là cần phải tỉnh táo, nhận thức đúng trách nhiệm của mình trong việc chuyển tải thông tin. Hiện nay, internet và các trang mạng xã hội rất khó quản lý, giám sát và kiểm duyệt. Việt Nam đứng trong nhóm 20 quốc gia có số người sử dụng internet, đặc biệt là các trang mạng xã hội như: Facebook, Zalo,… lớn nhất thế giới. Vì vậy, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các công cụ này để đẩy mạnh các hoạt động chống phá từ bên ngoài, tạo dựng lực lượng chống đối từ bên trong, hòng gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội đối với nước ta. Tác hại của những thông tin xấu, độc trên mạng xã hội Facebook có tác động tiêu cực đến tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, tạo ra sự nghi ngờ, hoang mang, dao động dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Hệ lụy của nó ảnh hưởng rất lớn đến đạo đức, lối sống, nhân cách của cá nhân và cộng đồng xã hội. Các thế lực thù địch lợi dụng internet, website và mạng xã hội để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xuyên tạc, thổi phồng những hạn chế, yếu kém trong quản lý, những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật hoặc những vụ việc phức tạp nảy sinh trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo. Thông qua internet, mạng xã hội, chúng đẩy mạnh tấn công tư tưởng cán bộ, đảng viên và Nhân dân khi đất nước tổ chức các sự kiện chính trị quan trọng như: Đại hội, bầu cử ở các cấp; ban hành các luật, Việt Nam tham gia các hội nghị quan trọng của LHQ,... từ đó chúng kích động, lôi kéo Nhân dân tham gia biểu tình, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Trong thời gian qua, các thế lực phản động tăng cường sử dụng internet, mạng xã hội để móc nối, cấu kết với những cán bộ, đảng viên có biểu hiện tha hóa, biến chất nhằm lôi kéo, mua chuộc, tạo lực lượng chống phá từ bên trong. Trong đó, số bên ngoài chỉ đạo, hỗ trợ kinh phí hoạt động; các đối tượng trong nước tích cực tập hợp lực lượng, thu thập tin tức để cung cấp cho bên ngoài vu cáo, xuyên tạc tình hình đất nước. Đặc biệt, chúng lợi dụng internet, mạng xã hội để lan truyền các clip, tài liệu xuyên tạc, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo đất nước,... nhằm phá hoại nội bộ, tác động tiêu cực tới nhận thức, quan điểm, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và Nhân dân, dẫn đến hoang mang, hoài nghi, suy giảm lòng tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước.

Những năm qua, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách chỉ đạo công tác bảo vệ an ninh mạng và phòng, chống hoạt động lợi dụng internet, mạng xã hội chống phá nước ta, đặc biệt là Luật An toàn thông tin mạng năm 2016 và mới đây nhất là Luật An ninh mạng. Tuy nhiên, công tác này vẫn còn những hạn chế như: thông tin nội bộ của nhiều tổ chức và cá nhân chưa được bảo mật tốt; công tác tuyên truyền, định hướng và đấu tranh phản bác các thông tin xấu, độc, quan điểm sai trái, thù địch chưa kịp thời. Năng lực đội ngũ cán bộ còn hạn chế; trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật để phát hiện, thu thập chứng cứ và thực hiện công tác phòng ngừa, đấu tranh còn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, hơn bao giờ hết, mỗi đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức cần phải tỉnh táo, sáng suốt trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình; phải luôn xây dựng khối đại đoàn kết ngày càng vững mạnh. Mỗi đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức cần nhận thức đúng đắn về trách nhiệm của mình khi tham gia mạng xã hội, nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để ngăn chặn, đẩy lùi những thông tin sai lệch trên không gian mạng. Đặc biệt, cần tăng cường quán triệt và thực hiện nghiêm túc Quy định số 47 về những điều đảng viên không được làm; giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn, phải thể hiện chính kiến của mình trước những thông tin trái chiều. Đồng thời, giáo dục cho cán bộ nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, chủ động đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, phản động trên các trang mạng xã hội. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và tự sàng lọc thông tin, không sử dụng các trang mạng có nội dung xấu, độc.

 

ĐẤU TRANH VỚI LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỂ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 

Các thế lực thù địch, phản động thông qua mạng xã hội, các trang web, chúng tập trung lập các diễn đàn, tọa đàm, phản biện, mượn danh yêu nước, góp ý cho Đảng, nhưng thực chất là để truyền bá những quan điểm sai trái của mình dưới dạng “tâm thư”, “thư ngỏ”, “kiến nghị” để tạo ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, phục vụ cho âm mưu lâu dài hòng xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng nước ta. Đây là hành động không mới, nhưng hết sức nguy hiểm nếu chúng ta không tỉnh táo nhận diện, đấu tranh hiệu quả. Cụ thể, để tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta hiện nay, chúng sử dụng thủ đoạn đề cao, tuyệt đối hóa vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh và cho rằng, nước ta không cần Chủ nghĩa Mác-Lênin mà chỉ cần tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ. Đây là những luận điệu rất tinh vi của chúng.

Nhìn từ thực tiễn, lịch sử phát triển của cách mạng Việt Nam trong 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chứng minh rằng, nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Những thành tựu đạt được trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước, nhất là trong hơn 30 năm đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng chính là nhờ sự kiên định, nắm vững và vận dụng sáng tạo, đúng đắn chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng Việt Nam và phù hợp với quy luật phát triển của thời đại. Chủ nghĩa Mác-Lênin là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học để giải quyết những vấn đề do thực tiễn cách mạng Việt Nam đặt ra ở từng giai đoạn của lịch sử và thực tiễn đất nước. Đó là một học thuyết cách mạng bởi ở đó không chỉ giải thích thế giới, chỉ ra bản chất áp bức, bóc lột, bất công của xã hội tư bản chủ nghĩa, chỉ ra con đường giải phóng triệt để giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức, là con đường đấu tranh cách mạng vô sản, trong cuộc cách mạng vô sản đó, giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử là giai cấp lãnh đạo thông qua chính đảng của mình là Đảng Cộng sản; mà quan trọng hơn cả, đó còn là học thuyết giải phóng loài người. Tư tưởng Hồ Chí Minh là “một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, soi đường, bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta luôn giành thắng lợi”. Điều này đã được minh chứng bằng thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi hết từ thắng lợi này đến thắng lợi khác của Đảng. Như vậy, Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc chủ yếu nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh, là một bộ phận hữu cơ, cơ sở, nền tảng của tư tưởng Hồ Chí Minh. Không thể đặt tư tưởng Hồ Chí Minh ra ngoài hệ tư tưởng Mác-Lênin, hay nói cách khác, không thể tách tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi nền tảng là Chủ nghĩa Mác-Lênin. Trước tiên, chúng ta phải nhận thức đầy đủ, Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Điều này đã được ghi rõ tại Điều 4, Chương I, Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. Để làm được điều đó, chúng ta cần phải tiếp tục tập trung tuyên truyền làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nhất là thế hệ trẻ nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội. Vận dụng sáng tạo, không ngừng hoàn thiện, bổ sung và phát triển về lý luận làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có sức sống lâu bền trong dòng chảy cách mạng Việt Nam. Điều có ý nghĩa quyết định là trong bất kỳ tình huống nào, chúng ta phải luôn kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là quan điểm có tính nguyên tắc để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Từ đó, nâng cao phẩm chất, trình độ, năng lực của mỗi cán bộ, đảng viên, góp phần làm thất bại mọi mưu đồ chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch.

 

Quan điểm của Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Những quan điểm , vấn đề mà Hồ Chí Minh nêu lên rất phong phú, đa dạng, trong đó có vấn đề thực hành tiết kiệm và chống lãng phí.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nêu cao tinh thần gương mẫu, Người là tấm gương lớn về lối sống giản dị, thực hành tiết kiệm. Theo Người: “Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước… Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã. Đồng chí ta phải học lấy bốn đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính”. Chính vì vậy, lời kêu gọi tiết kiệm, chống lãng phí của Người có sức lan tỏa và ảnh hưởng tích cực đến toàn thể cán bộ, chiến sĩ và nhân dân.Năm 1927, trong cuốn Đường cách mệnh, phần mở đầu nói về tư cách của người cách mạng, Người viết: “Tự mình phải cần, kiệm”. Cần, kiệm phải là đức tính đầu tiên của người cách mạng, đối lập với nó là lãng phí. Người cho rằng, lãng phí là một căn bệnh, là tội lỗi với Đảng, với Nhà nước và nhân dân. Sự lãng phí gây ra rất nhiều tác hại trước mắt và hậu quả lâu dài. Hồ Chí Minh còn coi tiết kiệm là biện pháp quan trọng để tích lũy vốn, để sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Đặc biệt trong điều kiện còn nhiều khó khăn, chỉ có đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, thì đất nước mới phát triển ổn định, nhân dân mới có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Về thực hành tiết kiệm, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: tiết kiệm là “không xa xỉ, không hoang phí, không bữa bãi”. “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn, không phải là “xem đồng tiền to bằng cái nống”, “gặp việc đáng làm cũng không làm, đáng tiêu cũng không tiêu”. Theo Người: “Tất cả mọi người đều phải tiết kiệm. Trước nhất là các cơ quan, các bộ đội, các xí nghiệp”, bởi “nếu ta khéo tiết kiệm sức người, sức của và thời giờ, thì với sức lao động, tiền tài của nước ta hiện nay, ta có thể tăng gia sản xuất gấp bội mà lực lượng của ta về mọi mặt cùng tăng gấp bội. Đó là một sự thực chắc chắn, chứ không phải lý luận cao xa. Kinh nghiệm của các nước bạn đã tỏ rõ như vậy”.

Theo Hồ Chí Minh, tiết kiệm là sử dụng hợp lý và có hiệu quả tiền của, thời gian, công sức lao động, tích trữ thêm vốn cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, nhằm nâng cao mức sống của nhân dân. Người cho rằng: “Tiết kiệm không phải là ép bộ đội, cán bộ và nhân dân nhịn ăn, nhịn mặc. Trái lại, tiết kiệm cốt để giúp vào tăng gia sản xuất, mà tăng gia sản xuất là để dần dần nâng cao mức sống của bộ đội, cán bộ và nhân dân…”. Trong quan niệm của Người, tiết kiệm là chi tiêu, sử dụng có kế hoạch, có tính toán, xem xét đầy đủ nhằm giảm bớt hao phí trong sử dụng tiền của, thời gian, công sức nhưng vẫn đạt được mục tiêu xác định. Mục đích của tiết kiệm là để tích lũy tiền của, thời gian, công sức cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, nâng cao mức sống của nhân dân. Tiết kiệm được thực hiện thông qua những hành vi trong thực tế của cán bộ, bộ đội và toàn dân ta và kết quả tiết kiệm của mọi người sẽ góp phần tích cực cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.

Hồ Chí Minh đã chỉ ra 3 nội dung cơ bản của việc tiết kiệm, đó là: Tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thời giờ và tiết kiệm tiền của. Theo Người, mục đích của việc tiết kiệm để phục vụ cho kháng chiến và kiến quốc, để tăng thêm tiền vốn xây dựng đất nước. Điều này càng quan trọng hơn khi nước ta là nước dân chủ nhân dân, không thể tích lũy vốn bằng cách cướp bóc thuộc địa, bóc lột công nhân, nông dân, vay nợ nước ngoài…

Hồ Chí Minh đã đưa ra nhiều lời kêu gọi tinh thần tiết kiệm của mọi ngành, mọi cấp và được toàn thể cán bộ, nhân dân tích cực ủng hộ và làm theo. Bản thân Người luôn gương mẫu trong việc thực hành tiết kiệm. Người tiết kiệm tất cả mọi thứ, từ cái nhỏ như tờ giấy bởi: “Giấy bút, vật liệu, đều tốn tiền của Chính phủ, tức là của dân; ta cần phải tiết kiệm. Nếu một miếng giấy nhỏ đủ viết, thì chớ dùng một tờ to. Một cái phong bì có thể dùng hai ba lần”. Trong sinh hoạt thường ngày, Người ăn mặc rất giản dị, nơi ở cũng đơn sơ, Người quan niệm: tiết kiệm từ những việc nhỏ thì sẽ thành được điều to tát, nhờ tiết kiệm “mà lợi cho dân rất nhiều”.

Đi đôi với thực hành tiết kiệm là chống lãng phí, xa xỉ. Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích: “Có tiết kiệm, không hoang phí xa xỉ, thì mới giữ được liệm khiết, trong sạch. Nếu hoang phí xa xỉ, thì ắt phải tìm cách xoay tiền. Do đó mà sinh ra hủ bại, nhũng lạm, giả dối”. Lãng phí được Người chỉ rõ, là tiêu dùng bữa bãi; lãng phí tập trung vào 3 loại: lãng phí lao động, lãng phí thời gian, lãng phí tiền của của nhân dân, đất nước. Người chỉ rõ tác hại của nạn lãng phí: “Tham ô có hại, nhưng lãng phí có khi còn hại nhiều hơn, nó tai hại hơn tham ô vì lãng phí rất phổ biến…”. Người nhiều lần nhấn mạnh: tham ô, lãng phí và quan liêu là một thứ “giặc nội xâm”, là kẻ thù của đạo đức cách mạng, của xã hội chủ nghĩa.  “Chúng ta phải kiên quyết chống nạn lãng phí ở các cơ quan và trong sinh hoạt của chúng ta. Chống cách tiêu dùng bừa bãi tiền của của nhân dân và vốn liếng của Chính phủ. Hiện nay có những cuộc khai hội, những lễ kỷ niệm, những đám yến tiệc tốn hàng vạn, hàng chục vạn cần phải chấm dứt nạn phô trương ấy, lãng phí ấy…”. Lãng phí không phải chỉ là tiêu tốn tiến của, mồ hôi nước mắt của nhân dân, mà nguy hiểm hơn, từ hoang phí xa xỉ sẽ dẫn đến tham ô, nhũng nhiễu, mất tư cách, đạo đức của người cán bộ, đảng viên, gây mất lòng tin trong nhân dân, từ đó sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Như vậy, tiết kiệm của Nhà nước nghĩa là tiết kiệm cho dân. Để có thể tiết kiệm, chống lãng phí, cán bộ, đảng viên cũng cấn rèn luyện phẩm chất đạo đức, tác phong làm việc từ đó tạo ra sự tin tưởng, đồng thuận trong dân, tạo ảnh hưởng tích cực đến công tác xây dựng và phát triển đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh tiết kiệm không chỉ xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của đất nước, mà còn từ tấm lòng yêu thương dân tha thiết. Điều này không chỉ cần thiết trong thời kỳ đất nước còn chiến tranh, mà còn có giá trị thực tế đối với giai đoạn hiện nay, khi kinh tế đã phát triển hơn, đời sống của nhân dân lao động dần được cải thiện. Những lời dạy của Người về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

ĐẬP TAN ÂM MƯU CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

Qua nắm bắt của các đơn vị chức năng, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh hoạt động "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa với những “chiêu trò” tinh vi và ác liệt hơn, do đó tiềm ẩn nguy cơ phức tạp đến kinh tế - an ninh - trật tự xã hội. Trước tình hình đó, để góp phần ngăn chặn, đập tan các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cấp ủy đảng, chính quyền và lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành phải không ngừng nâng cao nhận thức trong cuộc đấu tranh này, đặc biệt tuyên truyền để cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch; không ngừng chăm lo xây dựng Đảng, hệ thống chính trị vững mạnh; giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống. Đồng thời, chỉ đạo các cơ quan chức năng giải quyết, xử lý dứt điểm các vụ việc vi phạm pháp luật, đáp ứng tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, tập trung đấu tranh xử lý các hoạt động chống đối chế độ, gây phức tạp về an ninh trật tự. Nhiệm vụ đòi hỏi cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể thường xuyên, kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân, vận động quần chúng nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cùng đó, tăng cường công tác tuyên truyền, vận động cán bộ đoàn viên, hội viên, các tầng lớp nhân dân nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tạo thế trận lòng dân vững chắc. Cần tiếp tục đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin để đáp ứng yêu cầu theo dõi, ngăn chặn các thông tin xấu độc, triển khai tuyên truyền, thực hiện có hiệu quả Luật An ninh mạng 2018.

 

ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ CON ĐƯỜNG ĐÚNG ĐẮN

 

Khẳng định chủ nghĩa tư bản trước sau vẫn không phải là mẫu hình hướng tới của xã hội loài người. Cho dù tô vẽ đến mấy, "thế giới tự do" của chủ nghĩa tư bản vẫn bộc lộ đầy đủ những khuyết tật cố hữu không thể vượt qua như: tình trạng bất bình đẳng xã hội, phân hóa giàu nghèo ngày càng doãng ra đến cực độ; tình trạng mất dân chủ, các tệ nạn, tội ác ngày càng lan tràn trong xã hội… Ngay đối với Mỹ là nước giàu nhất thế giới, nhưng tỷ lệ người nghèo ở đây cũng cao nhất trong số các nước phát triển. Người Mỹ luôn quảng bá và mong muốn áp đặt "hình mẫu dân chủ" của mình đối với thế giới, nhưng trên thực tế "dân chủ" kiểu Mỹ luôn là dân chủ của kẻ giàu, là "cuộc chơi dành cho người giàu". Theo kết quả thăm dò dư luận trên toàn nước Mỹ, 73% người Mỹ cho rằng, người dân bình thường không có cách nào liên hệ với lãnh đạo; 64% số người Mỹ cảm thấy lãnh đạo của họ bị quyền lực tha hóa; 62% cho rằng, các lãnh đạo chỉ tìm cách tăng túi tiền của bản thân. Bình quân mỗi năm có gần 12.000 người Mỹ dùng súng giết người. Nếu nhìn rộng ra đối với thế giới tư bản chủ nghĩa, phải mất gần 200 năm xây dựng mới có được những nước G7 trong tổng số hơn 100 nước. Đó là chưa tính những nước nằm trong quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản, nhưng vẫn nghèo đói, nợ nần, kém phát triển, thậm chí nội bộ luôn mâu thuẫn gay gắt, xung đột dân tộc, sắc tộc diễn ra triền miên…

Từ sự phân tích bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế trên đây, cho phép chúng ta khẳng định đường lối kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng là hoàn toàn xuất phát từ thực tiễn, phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của thời đại. Chỉ có gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa mới là đảm bảo chắc chắn nhất cho lợi ích lâu dài của dân tộc và cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của toàn thể nhân dân Việt Nam. Niềm tin đó đã được thử thách trong cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trước đây và ngày nay nó càng phải được phát huy mạnh mẽ vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chính vì vậy, mọi ý kiến đòi hỏi Đảng phải từ bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa, từ bỏ mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đều trở thành tiếng nói lạc lõng, phi thực tiễn.

  

KHẲNG ĐỊNH SỰ SỤP ĐỔ CỦA LIÊN XÔ VÀ ĐÔNG ÂU KHÔNG PHẢI LÀ SỰ SỤP ĐỔ CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

 

Đối với chúng ta, sự đổ vỡ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là một sự thật đau đớn, một tổn thất lớn lao của phong trào cộng sản và các lực lượng yêu chuộng hòa bình, cách mạng và tiến bộ trên thế giới. Sự kiện đó buộc chúng ta phải nghiêm túc suy nghĩ, bình tĩnh, sáng suốt đánh giá đúng đắn đối với chủ nghĩa xã hội hiện thực với tất cả thành công lẫn sai lầm, khuyết điểm để rút ra những kết luận xác đáng. Sau khi Liên Xô tan rã, chúng ta càng có thêm những bằng chứng chứng tỏ nguyên nhân sâu xa của sự đổ vỡ đó là những sai lầm nghiêm trọng về đường lối và quá trình thực hiện đường lối cải tổ cùng với những thủ đoạn chống phá vô cùng tinh vi, thâm hiểm của các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội. Sự đổ vỡ của hệ thống xã hội chủ nghĩa  không phải xuất phát từ  bản chất chủ nghĩa xã hội, mà chính là việc từ bỏ lý tưởng, mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội để chuyển hướng, đổi màu chế độ theo chủ nghĩa tư bản.

Đúng là mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô có một số khiếm khuyết,  nhược điểm, làm hạn chế tiềm năng sáng tạo, làm suy yếu động lực của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng đất nước, nhất là cuối thập niên 70 của thế kỷ trước. Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể, không ai có thể phủ nhận những thành tựu vĩ đại thể hiện tính ưu việt nổi trội của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô. Trong chế độ xã hội đó, con người được giải phóng khỏi ách áp bức, nô dịch, nhanh chóng thoát khỏi đói nghèo, nâng cao trình độ văn hóa, dân trí, nhân dân có cuộc sống vật chất, tinh thần ngày càng phong phú, tốt đẹp. Chỉ trong một khoảng thời gian tương đối ngắn, từ một nước có trình độ phát triển trung bình, Liên Xô đã trở thành một cường quốc lớn mạnh cả về kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật và quân sự, làm chỗ dựa của cả hệ thống xã hội chủ nghĩa, tạo nên đối trọng với chủ nghĩa tư bản thế giới. Nhờ thực lực đó, Liên Xô đã đủ sức đi đầu và là lực lượng quyết định đánh bại chủ nghĩa phát xít trong chiến tranh thế giới thứ II, cứu loài người khỏi thảm họa phát xít, tạo điều kiện thúc đẩy phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào độc lập dân tộc và phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ xã hội diễn ra mạnh mẽ chưa từng thấy trên phạm vi toàn cầu.

Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu không phải là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội với tư cách là một học thuyết cách mạng và khoa học duy nhất có thể vạch đường cho sự giải phóng hoàn toàn và triệt để giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc trên thế giới. Đó cũng không phải là sự sụp đổ của phong trào xã hội chủ nghĩa thế giới, vì chủ nghĩa xã hội hiện vẫn tồn tại và phát triển ở Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba, Lào, Triều Tiên và nhiều biểu hiện ở các nước khác với số lượng dân cư trên 1 tỷ người. Ngay ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, các lực lượng xã hội chủ nghĩa đang từng bước được phục hồi, đông đảo người dân ngày càng nhận rõ hơn chân giá trị xã hội chủ nghĩa, tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội. Sự thất bại tạm thời của chủ nghĩa xã hội chỉ nói lên tính chất quanh co của lịch sử, không làm thay đổi tính chất, nội dung của thời đại. Loài người nhất định vẫn sẽ đi đến một xã hội tốt đẹp, văn minh, dân chủ, tiến bộ hơn chế độ tư bản chủ nghĩa, đó là chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

 

 

GIỮ VỮNG TRẬN ĐỊA TƯ TƯỞNG LÝ LUẬN CỦA ĐẢNG TRONG BỐI CẢNH MỚI

 

Trong kỷ nguyên số, không gian mạng ngày càng trở thành mặt trận chính trong cuộc đấu tranh ý thức hệ. Việc ngăn chặn, đẩy lùi những thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch là nhiệm vụ quan trọng trong tổng thể công tác đấu tranh tư tưởng. Với lực lượng, phương thức, thủ đoạn, phương tiện, công nghệ chống phá liên tục thay đổi, ngày càng tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch tấn công trực tiếp vào những vấn đề lý luận cốt lõi thuộc nền tảng tư tưởng của Đảng ta, đích cuối nhằm xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đưa các trào lưu tư tưởng phi vô sản thâm nhập vào đời sống xã hội. Trong các thông tin xấu độc trên không gian mạng, những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch tấn công trực diện vào những vấn đề lý luận cốt lõi thuộc nền tảng tư tưởng của Đảng ta đặc biệt nguy hiểm. Hiện nay, sự chống phá này không chỉ ở diện rộng bằng những bài viết dung tục, thù hận, cực đoan một chiều như trước đây, các thế lực thù địch đầu tư xây dựng và sử dụng ngày càng nhiều bài viết đa tầng thông tin, đa quan điểm, với nhiều chiêu trò đánh tráo khái niệm, ngụy tuyên truyền hết sức tinh vi, khiến công tác đấu tranh của ta càng thêm khó khăn, phức tạp. Các thế lực thù địch đòi Đảng ta từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Chúng bài bác chủ nghĩa Mác - Lênin, tập trung tấn công vào những vấn đề nguyên tắc then chốt, luận điểm cơ bản nhất, như phê phán quy luật giá trị thặng dư; bác bỏ chủ nghĩa duy vật lịch sử, mà nền tảng là bác bỏ bản chất cách mạng và khoa học của lý luận hình thái kinh tế - xã hội; phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và bản chất giai cấp công nhân của Đảng ta; phủ nhận lý luận về chủ nghĩa xã hội và xuyên tạc mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta… Chúng công kích, xuyên tạc nhằm “hạ bệ” tư tưởng Hồ Chí Minh bằng phủ nhận nội dung, giá trị tư tưởng của Người; cắt rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh để phủ nhận gián tiếp tư tưởng của Người, cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao tính dân tộc của Đảng. Nói xấu, bôi nhọ đời tư, hình ảnh lãnh tụ cộng sản, lãnh tụ Đảng ta. Chống phá, xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước hiện nay, nhất là đường lối đổi mới của Đảng ta. Chúng đồng nhất đổi mới chính trị với thay đổi chế độ chính trị. Phủ nhận, bôi đen những thành tựu; cường điệu, thổi phồng, khoét sâu vào những tiêu cực, khuyết tật, tạo cái nhìn đen tối, bi quan về tình hình đất nước. Các thế lực thù địch phát tán dầy đặc và với tần suất lớn những thông tin xấu, độc trên không gian mạng, thực hiện thủ đoạn “mưa dầm thấm lâu”, “tâm lý chiến” hết sức thâm độc. Mặt khác, chúng đan cài, trộn lẫn tinh vi thông tin thật - giả để dẫn dụ độc giả lạc vào ma trận thông tin, từ đó bị hướng lái theo luồng thông tin sai lệch; khoác áo “khách quan khoa học”, núp bóng “phản biện độc lập”, ngụy tạo sự khách quan để xuyên tạc nhiều vấn đề lý luận chính trị, từ “giả khoa học” chuyển hóa thành “giả chính trị” hết sức phức tạp, tinh vi. Chọn thời điểm có những sự kiện chính trị lớn của Đảng, của đất nước, những vấn đề dư luận xã hội quan tâm, những “điểm nóng” về an ninh, trật tự xã hội trong nước; những biến động lớn của thế giới, nhất là những vấn đề tại các nước đi theo con đường chủ nghĩa xã hội, có đảng cánh tả cầm quyền để thực hiện các “chiến dịch” cao điểm công kích, chống phá ta ở quy mô lớn. Có sự cấu kết chặt chẽ giữa các đối tượng phản động lưu vong, số đối tượng chống đối bên ngoài với những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị trong nước, được hậu thuẫn, “hà hơi tiếp sức” bằng nhiều nguồn lực bởi các tổ chức phản động, khủng bố, tổ chức phi chính phủ, chính phủ một số nước phương Tây…, hình thành mạng lưới chống đối rộng khắp, “nội công ngoại kích”, tạo thành nhiều mũi tấn công, trên nhiều lĩnh vực.

 

Phát huy truyền thống thanh niên quân đội quyết tâm bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới

 

Ngay từ khi mới thành lập ngày 22 tháng 12 năn 1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam với 34 chiến sĩ trẻ, tuổi đời mới mười tám, đôi mươi, dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng đã phát huy vai trò xung kích, sáng tạo, mưu trí, dũng cảm giành thắng lợi ngay trong trận đầu, trận Phai Khắt, Nà Ngần mở đầu truyền thống quyết chiến, quyết thắng, biết đánh, biết thắng của Quân đội ta.

Tháng 8 năm 1945, nhận thấy tình thế và thời cơ cách mạng đã đến, Bác Hồ và Trung ương Đảng phát động quân và dân ta đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Trong không khí khởi nghĩa sục sôi, tinh thần dũng cảm, ý chí chiến đấu kiên cường, bất khất không ngại khó khăn, hi sinh, gian khổ của của những chiến sĩ trẻ trong Quân đội đã góp phần tạo nên sức mạnh cùng với toàn dân chiến thắng kẻ thù, làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Tầm vóc và ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.

Thành quả vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám là động lực cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, nhất là thế hệ trẻ trong Quân đội chiến đấu để giành những thắng lợi quan trọng trong các chiến dịch, tạo ra thế và lực mới mở ra bước ngoặt có lợi cho ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, xâm lược như: chiến dịch Việt Bắc Thu Đông năm 1947; chiến dịch Biên Giới năm 1950… Đến năm 1951 Đảng ta tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II từ ngày 11 đến ngày 19 tháng 2 năm 1951 tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang để bổ sung, phát triển đường lối cách mạng đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi cuối cùng.

Thực hiện chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng, các lực lượng tham gia kháng chiến, nhất là Quân đội phải được chuẩn bị và củng cố tốt về mọi mặt để đáp ứng tính chất khó khăn, ác liệt trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Năm 1952, Trung đoàn 246 (Đoàn Tân Trào) được Quân ủy Trung ương, Tổng cục Chính trị chọn là nơi chỉ đạo thí điểm xây dựng, thành lập Đoàn Thanh niên cứu quốc trong Quân đội. Ngày 8 tháng 2 năm 1952 lễ ra mắt Chi đoàn Thanh niên cứu quốc đầu tiên trong Quân đội được tổ chức tại Đại đội 29, Tiểu đoàn 183, Trung đoàn 246 (nay là Đại đội 9, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 246, Sư đoàn 346, Quân khu 1) với 32 đoàn viên. Ngay sau đó, dưới sự chỉ đạo của Tổng cục Chính trị, trực tiếp là các cấp ủy, tổ chức đảng trong Quân đội, các Đoàn Thanh niên cứu quốc được thành lập rộng rãi trong toàn quân.

Ngay từ những ngày đầu thành lập, các tổ chức đoàn, cán bộ, đoàn viên trong Quân đội đã phát huy bản lĩnh, ý trí, nghị lực của những người chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi, là lực lượng nòng cốt, xung kích, sáng tạo, dũng cảm chiến đấu, hăng hái đi đầu trong thực hiện các nhiệm vụ. Sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Quân ủy Trung ương, các doàn viên, thanh niên Quân đội đã phấn đấu nỗ lực không ngừng góp phần cùng với quân và dân cả nước tiếp tục giành thắng lợi trong chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” kết thúc 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp; thắng lợi trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc  21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vô cùng hào hùng và oanh liệt; thắng lợi trong cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước và có những đóng góp quan trọng vào “những thành tựu to lớncó ý nghĩa lịch sử” qua 39 năm đổi mới, mở ra những chặng đường và tương lai tươi sáng cho dân tộc Việt Nam.

Trải qua quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, các thế hệ Thanh niên Quân đội đã có những đóng góp xứng đáng cho sự phát triển của Quân đội, của Dân tộc, luôn là lực lượng xung kích đị đầu trong nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong những năm tới tình hình thế giới và khu vực còn nhiều diễn biến phức tạp, tác động trực tiếp đến nước ta, tạo ra cả thời cơ và thách thức.

Đối với nước ta, thế và lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên, uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức.

Là lực lượng trẻ, khỏe đại diện cho trí tuệ, tinh thần xung kích, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám vượt qua khó khăn gian khổ, hi sinh, hơn ai hết thế hệ trẻ Quân đội phải tiếp tục giữ vững và phát huy truyền thống vẻ vang đầy tự hào của Thanh niên Quân đội, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Để làm được điều đó thế hệ trẻ Quân đội cần:

Một là, luôn luôn rèn luyện để có bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, nhân dân bảo đảm Thanh niên Quân đội luôn là lực lượng, chủ yếu trực tiếp bảo vệ, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa... và bảo vệ thành quả cách mạng mà thế hệ cha anh đã phải đổ biết bao mồ hôi, xương máu mới giành được.

Hai là,Thanh niên Quân đội cần thường xuyên nâng cao cảnh giác cách mạng trước những âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù. Hiện nay, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh các hoạt động chống phá, nhất là chống phá về mặt chính trị tư tưởng trong Quân đội. Mục đích của chúng là làm cho cán bộ, chiến sĩ, nhất là các chiến sĩ trẻ ngả nghiêng, giao động về chính trị, mất niềm tin vào vai trò lãnh đạo của Đảng, từ đó dẫn đến thoái thác nhiệm vụ, hạ thấp quyết tâm, ngại khó, ngại khổ, sợ vất vả hy sinh... Do vậy, thế hệ trẻ Quân đội phải luôn luôn tỉnh táo, nhận dạng chính xác thủ đoạn thâm độc của chúng, từ đó có biện pháp chủ động, kiên quyết đấu tranh không để bị động, bất ngờ.

Ba là, thế hệ trẻ Quân đội cần thường xuyên học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ mọi mặt. Những chiến sĩ trẻ chỉ có thể hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ khi chủ động, tích cực học tập, rèn luện. Bởi vì, chỉ có như vậy, các chiến sĩ mới xây dựng cho mình một thế giới quan, phương pháp luận khoa học khi xem xét, đánh giá tình hình; nâng cao bản lĩnh chính trị; thành thạo tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ; làm chủ vũ khí trang bị kỹ thuật; nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao trong mọi điều kiện hoàn cảnh, mọi tình huống.

Bốn là, tự giác, chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội và quy định của đơn vị. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm”[3].Kỷ luật là sức mạnh của Quân đội. Đây là một thực tế đã được chứng minh trong hơn 72 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng  thành của Quân đội ta. Bởi vậy, mỗi chiến sĩ trẻ không chỉ chấp hành nghiêm mà phải tự giác chấp hành kỷ luật của Quân đội, quy định của đơn vị. Tự giác, sẽ tạo động lực từ bên trong giúp các chiến sĩ trẻ thoải mái nhất, tự do nhất để tự khép mình vào tổ chức, tự giác chấp hành các chế độ, nền nếp mà không bị gò ép từ bất kỳ một quy định nào. Tự giác là sức mạnh tinh thần, và khi sức mạnh tinh thần được phát huy nó sẽ biến thành sức mạnh vật chất thúc đẩy các chiến sĩ trẻ thực hiện có hiệu quả mọi nhiệm vụ được giao, kể cả nhiệm vụ đó có khó khăn, vất vả đến đâu, thậm chí là nếu phải hi sinh, đó chính là sức mạnh thực sự của việc tự giác chấp hành kỷ luật.

Năm là, xây dựng tinh thần đoàn kết, tinh thần đồng chí, đồng đội, tương thân, tương ái giúp đỡ nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Các chiến sĩ trẻ là những người trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ với cường độ cao, trong điều kiện rất khó khăn, vất vả, nhất là ở các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển đảo. Do vậy, bên cạnh sự nỗ lực, cố gắng quyết tâm của từng chiến sĩ, phải có một tinh thần đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, có như vậy mới hoàn thành tốt được nhiệm vụ. Các chiến sĩ trẻ cần biến khẩu hiệu “đơn vị là nhà, đồng chí, đồng đội đều là anh em” thành tình cảm, thành sức mạnh thôi thúc từ sâu trong tâm khảm, để hướng vào nâng cao chất lượng hiêu quả trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ.

Sáu là, thế hệ trẻ Quân đội với các hoạt động của mình cần làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân trên địa bàn đóng quân, chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia có hiệu quả vào các phong trào hành động cách mạng ở các địa phương. Trên cơ sở đó thiết thực góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc, nhất là trên các hướng chiến lược, địa bàn trọng điểm, biên giới, hải đảo.

Những đoàn viên thanh niên trong Quân đội hôm nay, vinh dự và tự hào được là những người viết tiếp lịch sử vẻ vang 65 năn của Thanh niên Quân đội trong thời đại mới. Truyền thống vẻ vang ấy chắc chắn là động lực to lớn tạo nên sức mạnh để Thanh niên Quân đội tiếp tục cống hiến hết mình trong lao động, học tập và công tác xứng đáng là lực lượng nòng cốt để xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho.

ĐẢNG MÃI TRONG LÒNG DÂN

 

Trong lịch sử xây dựng và phát triển của mình, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng luôn gắn bó với Nhân Dân. Tôn chỉ, mục tiêu tối thượng của Đảng là vì độc lập dân tộc, vì tự do và hạnh phúc của Nhân Dân.

Sự vĩ đại của Đảng không phải ở số lượng đảng viên và tổ chức cơ sở đảng, mà ở chỗ Đảng hóa thân trong khát vọng tự chủ, tự cường, trường tồn dân tộc. Dưới ánh dương rực rỡ của Đảng, mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân không có đất sinh tồn. Nhưng chủ nghĩa cá nhân không tự nó tiêu vong mà Đảng phải có phương thức đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi, kiên quyết đấu tranh xử lý nghiêm minh.

Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thời gian qua của Đảng đã minh chứng cho tinh thần cách mạng “làm trong sạch Đảng” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh lúc sinh thời là phải “quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Chủ nghĩa cá nhân là căn nguyên của mọi biểu hiện tha hóa quyền lực “làm quan cộng sản”, “kiêu ngạo cộng sản”.

Mặt trái của cơ chế thị trường đã và đang xuất lộ nhiều thứ “dịch bệnh”, nguy hại nhất là bệnh “coi khinh lý luận”, hoặc chỉ miễn cưỡng học lý luận chính trị nhằm có đủ tiêu chuẩn vào quy hoạch, được bổ nhiệm. Những phần tử cơ hội chính trị, những cán bộ, đảng viên hám chức vụ, mau chóng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống sẽ làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, và khi dân không tin, thì làm sao dân yêu quý, giúp đỡ và bảo vệ Đảng?

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã đưa “tiêu cực” vào đối tượng “giặc nội xâm” là hết sức xác đáng; mở rộng phạm vi không chỉ trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà còn bao gồm cả xây dựng hệ thống chính trị. Kế thừa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần khẳng định: “Phải biết dựa vào dân, lắng nghe dân, cái gì mà quần chúng nhân dân hoan nghênh, ủng hộ thì chúng ta phải quyết tâm làm và làm cho bằng được; ngược lại, cái gì dân không đồng tình, thậm chí căm ghét, phản đối thì chúng ta phải cương quyết ngăn ngừa, uốn nắn và xử lý nghiêm các sai phạm”. Vậy nên trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng phải dựa vào dân để làm cho Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch vững mạnh, xứng tầm với yêu cầu và nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Đây chính là sự nhận thức sâu sắc hơn, trở về với giá trị cốt lõi của lý luận cũng như thực tiễn cách mạng Việt Nam “Dân là gốc”, đồng thời thể hiện sự tuyệt đối trung thành của Đảng “vì nước, vì dân”.

Những điểm mới trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII được lòng dân đồng thuận. Cơ đồ của đất nước đàng hoàng, bề thế, tươi sáng như ngày hôm nay là thành quả của bao thế hệ đảng viên ưu tú từ Nhân Dân mà ra, gắn bó máu thịt với Nhân Dân mà trưởng thành. Chìa khóa thành công của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng những năm qua, cũng như mãi mãi về sau này là phải không ngừng làm cho Đảng “là đạo đức, là văn minh” mãi trong lòng Dân.

"Tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong cán bộ, đảng viên và giải pháp phòng, chống

 

Nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” do tác động của “diễn biến hòa bình” đối với sự tồn vong của Đảng và chế độ XHCN, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhấn mạnh: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy Nhà nước… Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn "tự diễn biến", "tự chuyển hóa”.

Nhận diện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay được đề cập ở đây là quá trình “tự diễn biến” theo chiều hướng suy thoái. Và từ “tự diễn biến” đến một mức độ nào đó sẽ chuyển sang “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên, có thể từng người đến đội ngũ. Nguy hiểm hơn là từ “tự chuyển hóa” con người, đội ngũ cán bộ, đảng viên có thể dẫn đến “tự chuyển hóa” của cả một tổ chức, nhất là tổ chức đảng và hệ thống chính trị, nếu chúng ta không có những biện pháp phòng, chống hữu hiệu.

“Tự diễn biến” trong cán bộ, đảng viên hiện nay có thể được biểu hiện ở cả trong nhận thức chính trị, đạo đức, lối sống, tư tưởng, niềm tin và ý chí quyết tâm hành động với các biểu hiện cụ thể, chẳng hạn: Suy giảm về nhận thức, về tư tưởng chính trị, ngày càng xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, xa rời lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xa rời Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xa rời đường lối của Đảng. Suy giảm niềm tin vào thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt. Suy giảm về phẩm chất đạo đức, lối sống, ngày càng xa rời những phẩm chất, chuẩn mực đạo đức, lối sống XHCN, trượt dần sang đạo đức, lối sống tư sản, quay về với những thói hư, tật xấu của đạo đức, lối sống phong kiến…

“Tự diễn biến” trong cán bộ, đảng viên có thể diễn ra trước hết trong mỗi con người cán bộ, đảng viên với các mức độ và biểu hiện cụ thể khác nhau về phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống. Và nếu không được phát hiện, phòng, chống kịp thời sẽ dần dần lan rộng theo nhiều chiều hướng: Từ cán bộ cấp thấp đến cán bộ cấp cao; từ cán bộ cấp cao xuống cán bộ cấp thấp; từ một số ít cán bộ, đảng viên đến số đông, cán bộ, đảng viên; từ cá nhân mỗi cán bộ, đảng viên đến tổ chức mà cá nhân cán bộ, đảng viên đó công tác, sinh hoạt.

Tác hại của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên

Tác hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên cũng rất lớn. Tác hại đó không chỉ đối với vai trò của cán bộ, đảng viên mà còn đối với vai trò và sự lãnh đạo của Đảng; vai trò và sự quản lý, điều hành của bộ máy Nhà nước, của chính quyền các cấp; vai trò của các tổ chức chính trị-xã hội và đối với sự tồn vong của chế độ XHCN ở nước ta.

Tác hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong con người cán bộ được biểu hiện ở chỗ: Cán bộ sẽ dần dần bị suy giảm về bản chất cách mạng, dần dần xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng, xa rời hệ tư tưởng của giai cấp công nhân - Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sa sút về phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, phương pháp, tác phong công tác, không còn khả năng tổ chức, tập hợp quần chúng quán triệt và thực hiện thắng lợi mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không còn giữ được vai trò là “gốc của mọi công việc”, cuối cùng sẽ dẫn đến sự biến chất, sự chuyển hóa của cán bộ.

Tác hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong con người đảng viên được biểu hiện ở chỗ: Đảng viên sẽ dần dần bị suy giảm về bản chất cách mạng, dần dần xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng, xa rời hệ tư tưởng của giai cấp công nhân - Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sa sút về phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, phương pháp, tác phong công tác, không còn khả năng tổ chức, tập hợp quần chúng quán triệt và thực hiện thắng lợi mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không còn giữ được vai trò là chiến sĩ tiên phong của Đảng, cuối cùng sẽ dẫn đến sự biến chất, sự chuyển hóa của đảng viên.

Tác hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên còn biểu hiện ở chỗ: Từ những hạn chế, yếu kém của cán bộ, đảng viên sẽ làm cho nhân dân suy giảm và mất dần niềm tin vào cán bộ, đảng viên, từ đó mà dẫn đến suy giảm và mất dần niềm tin vào vai trò và sự lãnh đạo của Đảng, vai trò và sự quản lý, điều hành của Nhà nước đối với xã hội, vào tính ưu việt của chế độ XHCN. Từ đó, nhân dân sẽ không tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không quyết tâm phấn đấu để thực hiện thắng lợi mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Điều đó sẽ hạn chế việc phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Một số giải pháp phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên

Một là, thường xuyên tăng cường giáo dục Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; về tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội và những hạn chế không thể tránh khỏi trên con đường phát triển. Giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Nhận thức rõ những hạn chế, bất cập không thể tránh khỏi trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế. Đồng thời, nhận thức đúng đắn, có cơ sở lý luận và thực tiễn về bản chất của chủ nghĩa tư bản. “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội” như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định.

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên. Tổ chức quán triệt triển khai thực hiện tốt trong thực tế công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Quan tâm đến nội dung giáo dục chính trị, tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là giáo dục Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Lựa chọn các hình thức, biện pháp giáo dục chính trị, tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên phù hợp với nội dung giáo dục chính trị, tư tưởng và đối tượng giáo dục trong từng hoàn cảnh, từng nhiệm vụ. Chăm lo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nhất là đội ngũ cán bộ nòng cốt, chuyên trách về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng về cả số lượng, chất lượng và cơ cấu; về phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phương pháp, tác phong công tác; về thực hiện tốt các chế độ, chính sách. Không ngừng nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nhất là tính sắc bén, tính thuyết phục cao trong đấu tranh phòng, chống các luận điệu sai trái, thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Quan tâm bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, thông tin, tài liệu cho hoạt động nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng trong cán bộ, đảng viên phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ, khả năng, điều kiện cụ thể.

Ba là, phải từng bước thông qua đường lối, chủ trương, chính sách và công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực tiễn để từng bước hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng, tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là ở vùng sâu, vùng cao, vùng xa, những căn cứ cách mạng trước đây và những gia đình, những cán bộ, đảng viên, những người có nhiều công lao đóng góp cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc với những chế độ, chính sách phù hợp.

Bốn là, chăm lo xây dựng nhân tố con người cán bộ, đảng viên, tăng cường “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch bằng “diến biến hòa bình”. Nâng cao sức “đề kháng” cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trước sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập, nhất là trước sự cám dỗ của đồng tiền, của lối sống sa đọa. Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục, rèn luyện với tự giáo dục, tự rèn luyện, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên cả về phẩm chất và năng lực, phương pháp, tác phong công tác, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, vừa “hồng” vừa “chuyên” như Bác Hồ đã dạy.

Năm là, cần phải tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn góp phần phát triển một cách sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền kịp thời, có định hướng đúng đắn nhằm cung cấp thông tin chính thống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bảo đảm cho việc tuyên truyền, giáo dục Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước một cách có cơ sở khoa học, thuyết phục.

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG NƯỚC TA

 

Trên những trang mạng các đối tượng, phần tử xấu có tư tưởng thù địch đã lợi dụng triệt để thông tin một vài vụ án tham nhũng có liên quan đến cán bộ, đảng viên đã bị đưa ra ánh sáng pháp luật nhằm suy diễn, xuyên tạc, bóp méo quan điểm rồi cho rằng tham nhũng là bản chất, là hệ quả của chế độ xã hội chủ nghĩa, của cơ chế lãnh đạo tuyệt đối của Đảng. Nếu ai đã từng đọc những thông tin nhảm nhí, xuyên tạc thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay trên các trang mạng xã hội do các thế lực thù địch ngụy tạo ra, sẽ không khó để nhận ra những âm mưu thâm hiểm đi kèm. Đó chính là sự xúi giục, âm mưu kích động nhân dân ta đứng lên đòi thay đổi cương lĩnh, thể chế chính trị, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, chuyển xã hội ta sang một xã hội “Đa nguyên, đa đảng”.

          Trong những năm qua các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình” với cấp độ ngày càng quyết liệt. Trong chiến lược này, chúng tấn công trên mặt trận tư tưởng, văn hóa được chúng coi là “Mũi đột phá”, hòng làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về tư tưởng, tạo ra “Những khoảng trống” để dần đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên và Nhân dân, từng bước chuyển hóa, xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Chúng tập trung triệt để sử dụng các phương tiên truyền thông hiện đại, đặc biệt là Internet, sử dụng các trang mạng xã hội, các blog truyền bá các quan điểm sai trái, tung tin xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vu cáo, bịa đặt, bôi nhọ hình ảnh các đồng chí lãnh đạo cấp cao, nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước. Nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch.